TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN ANH TUẤN NGUYỄN QUỐC TUẤN Eoeurysa flavocapitata Muir; HIỆU LỰC CÁC CHẾ PHẨM NẤM KÝ SINH TRÊN RẦY ĐẦU VÀNG HẠI MÍA
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN ANH TUẤN NGUYỄN QUỐC TUẤN
(Eoeurysa flavocapitata Muir); HIỆU LỰC CÁC CHẾ
PHẨM NẤM KÝ SINH TRÊN RẦY ĐẦU VÀNG HẠI MÍA VÀ BỌ ĐUÔI KÌM; KHẢ NĂNG ĂN RẦY ĐẦU
VÀNG CỦA BỌ ĐUÔI KÌM
Luận văn tốt nghiệp Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
(Eoeurysa flavocapitata Muir); HIỆU LỰC CÁC CHẾ
PHẨM NẤM KÝ SINH TRÊN RẦY ĐẦU VÀNG HẠI MÍA VÀ BỌ ĐUÔI KÌM; KHẢ NĂNG ĂN RẦY ĐẦU
VÀNG CỦA BỌ ĐUÔI KÌM
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS.TS Trần Văn Hai Nguyễn Anh Tuấn
KS Bùi Xuân Hùng Nguyễn Quốc Tuấn
KS Trịnh Thị Xuân Lớp: BVTV K32 MSSV: 3064992
3064990
Cần Thơ, 2010
Trang 3Ma: Metarhizium anisopliae
NSKP: ngày sau khi phun
NSKT: ngày sau khi thả
WHO: The World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
WG: Thuốc dạng hạt tan trong nước
Trang 4Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Quốc Tuấn, 2010 “Khảo sát đặc điểm hình thái
rầy đầu vàng (Eoeurysa flavocapitata Muir); Hiệu lực các chế phẩm nấm ký
sinh trên rầy đầu vàng hại mía và bọ đuôi kìm; Khả năng ăn rầy đầu vàng của
bọ đuôi kìm” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ
TÓM LƯỢC
Đề tài nhằm khảo sát một số đặc điểm hình thái của RĐV, hiệu lực của một
số chế phẩm nấm kí sinh trong phòng trừ RĐV, khảo sát khả năng ăn rầy đầu vàng
và ảnh hưởng của các chế phẩm nấm kí sinh lên BĐK trong điều kiện PTN và NL
Từ đó tìm ra cách phòng trừ rầy đầu vàng có hiệu quả theo hướng bền vững
Kết quả đạt được như sau:
Khảo sát đặc điểm hình thái của rầy đầu vàng trong PTN
Giữa các tuổi của ấu trùng RĐV tuổi 1, 2 và tuổi 3, 4, 5 không khác nhau về hình dạng và màu sắc cơ thể Kích thước trung bình: trứng 0,72 x 0,21 mm, ấu trùng tuổi 1: 1,29 x 0,33 mm, tuổi 2: 1,71 x 0,42 mm, tuổi 3: 2,07 x 0,49 mm, tuổi 4: 2,62
x 0,69 mm, tuổi 5: 3,27 x 0,84 mm và thành trùng cái 4,2 x 1,5 mm, sải cánh 6,8
mm, thành trùng đực 3,5 x 1,1 mm và sải cánh 6,3 mm
Khảo sát hiệu lực của các nồng độ chế phẩm nấm xanh Ma-ĐHCT lên RĐV trong điều kiện ngoài đồng
Nồng độ 106, 108 và 109 bào tử/g chế phẩm của nấm xanh Ma-ĐHCT có hiệu
quả với RĐV tương đối cao đạt ĐHH lần luợt là 44,2% và 68,0% ở 15 NSKP
Khả năng ăn RĐV của BĐK trong điều kiện PTN
Khả năng ăn của một cặp đực và một cặp cái đạt 100% sau 5 ngày thả, một cặp (đực-cái) đạt 100% sau 7 ngày thả ở các nghiệm thức thả 5, 10, 15 và 20 RĐV
Ảnh hưởng của các chế phẩm nấm xanh Ma-ĐHCT, nấm trắng ĐHCT, nấm tím Pae-ĐHCT và thuốc Chess 50WG lên BĐK trong điều kiện PTN
Bb-Thuốc Chess 50WG có ảnh hưởng đến BĐK với độ hữu hiệu là 23,5%, nấm Ma-ĐHCT là 17,7%, nấm Bb-ĐHCT là 8,8% và nấm Pae-ĐHCT là 5,1%
Ảnh hưởng của các chế phẩm Ma-ĐHCT, Bb-ĐHCT, Pae-ĐHCT và thuốc Chess 50WG lên BĐK trong điều kiện NL
Nấm Pae-ĐHCT và thuốc Chess 50WG có ảnh hưởng đến BĐK với độ hữu
hiệu là 14,5% và 14,6%, nấm Ma-ĐHCT và nấm Bb-ĐHCT là 6,7% ở 12 NSKP
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT i
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.1 Cây mía 3
1.2 Các loài sâu hại chính trên mía 4
1.2.1 Sâu đục thân 4
1.2.2 Bọ hung hại mía 5
1.2.3 Rệp bông trắng hại mía 5
1.2.4 Rầy đầu vàng 5
1.2.4.1 Phân bố và ký chủ 6
1.2.4.2 Đặc điểm hình thái và sinh học 6
1.2.4.3 Tập quán sinh sống và cách gây hại 6
1.2.4.4 Biện pháp phòng trị 7
1.3 Bọ đuôi kìm 8
1.3.1 Thành phần loài và sự phân bố của bọ đuôi kìm 8
1.3.2 Một số đặc điểm hình thái của bọ đuôi kìm 9
Trang 6Bọ đuôi kìm vàng: Chelisoches variegates 9
1.3.3 Đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm 10
1.3.4 Thiên địch tự nhiên của bọ đuôi kìm 11
1.3.5 Khả năng sử dụng bọ đuôi kìm trong phòng trừ sinh học 12
1.4 Đặc tính của một số loài nấm ký sinh côn trùng và thuốc hóa học sử dụng trong thí nghiệm 12
1.4.1 Nấm xanh Metarhizium anisopliae Sorokin 12
1.4.2 Nấm trắng Beauveria bassiana Vuillemin 15
1.4.3 Nấm tím Paecilomyces sp 16
1.4.4 Thuốc hóa học Chess 50WG 18
CHƯƠNG 2 20
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 20
2.1 Khảo sát đặc điểm hình thái rẩy đầu vàng trong điều kiện PTN 20
2.1.1 Phương tiện 20
2.1.2 Phương pháp 20
2.2 Thử hiệu lực các nồng độ của chế phấm nấm xanh Ma-ĐHCT lên rầy đầu vàng trong điều kiện ngoài đồng 20
2.2.1 Phương tiện 21
2.2.2 Phương pháp 21
2.3 Khảo sát khả năng ăn rầy đầu vàng (RĐV) của bọ đuôi kìm (BĐK) trong điều kiện phòng thí nghiệm (PTN) 22
2.3.1 Phương tiện 22
2.3.2 Phương pháp 22
Trang 7Thí nghiệm 1: khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (đực-cái) trong PTN 22
Thí nghiệm 2: khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (cái) trong PTN 23
Thí nghiệm 3: khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (đực) trong PTN 23
2.4 Khảo sát ảnh hưởng của một số loài nấm ký sinh trên BĐK trong điều kiện phòng thí nghiệm (PTN) và nhà lưới 23
2.4.1 Phương tiện 24
2.4.2 Phương pháp 24
Thí nghiệm 1: ảnh hưởng của ba loại nấm Ma-ĐHCT, Bb-ĐHCT và Pae-ĐHCT lên bọ đuôi kìm trong điều kiện PTN 24
Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của ba loại nấm Ma-ĐHCT, Bb-ĐHCT và Pae-ĐHCT lên bọ đuôi kìm trong điều kiện nhà lưới 25
CHƯƠNG 3 27
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái rầy đầu vàng trong điều kiện PTN 27
3.2 Thử hiệu lực các nồng độ của chế phấm nấm xanh Ma-ĐHCT lên rầy đầu vàng trong điều kiện ngoài đồng 29
3.3 Khảo sát khả năng ăn rầy đầu vàng (RĐV) của bọ đuôi kìm (BĐK) trong điều kiện phòng thí nghiệm (PTN) 30
3.3.1 Khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (đực-cái) trong PTN 30
3.3.2 Khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (cái) trong PTN 31
3.3.3 Khả năng ăn RĐV của một cặp BĐK (đực) trong PTN 32
3.4 Khảo sát ảnh hưởng của một số loài nấm ký sinh trên BĐK trong điều kiện phòng thí nghiệm (PTN) và nhà lưới 33
3.4.1 Ảnh hưởng của ba loại nấm Ma-ĐHCT, Bb-ĐHCT và Pae-ĐHCT lên bọ đuôi kìm trong điều kiện PTN 33
Trang 83.4.2 Ảnh hưởng của ba loại nấm Ma-ĐHCT, Bb-ĐHCT và Pae-ĐHCT lên bọ
đuôi kìm trong điều kiện nhà lưới 35
CHƯƠNG 4 41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
4.1 Kết luận 41
4.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
3.1 Kích thước của các giai đoạn sinh trưởng của rầy đầu vàng
Eoeurysa flavocapitata Muir trong điều kiện phòng thí nghiệm,
bộ môn BVTV (29-310C, 54-71%)
28
3.2 Độ hữu hiệu các nồng độ của nấm xanh Ma-ĐHCT trên RĐV
trong điều kiện ngoài đồng, Bộ môn BVTV, tháng 10/2009
3.6 Độ hữu hiệu của các chế phẩm nấm ký sinh đối với BĐK trong
điều kiện phòng thí nghiệm, Bộ môn BVTV, tháng 03/2010
34
3.7 Độ hữu hiệu của các chế phẩm nấm ký sinh trên BĐK trong điều
kiện nhà lưới, Bộ môn BVTV, tháng 04/2010
35
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
3.1 Trứng sắp nở (A) và ấu trùng tuổi 1 mới nở (B) của RĐV 37 3.2 Ấu trùng tuổi 1 (C) và ấu trùng tuổi 2 (D) của rầy đầu vàng 37
3.4 Thí nghiệm khả năng ăn RĐV của BĐK trong phòng thí nghiệm 38 3.5 Thí nghiệm khả năng ăn RĐV của BĐK trong phòng thí nghiệm 38 3.6 Thí nghiệm ảnh hưởng của các chế phẩm nấm xanh Ma-ĐHCT,
trắng Bb-ĐHCT, tím Pae-ĐHCT và thuốc Chess 50WG lên
BĐK
38
3.7 BĐK bị nhiễm nấm trắng Bb-ĐHCT trong phòng thí nghiệm 39 3.8 Thí nghiệm khảo sát đặc điểm hình thái RĐV trong PTN 39 3.9 BĐK được nhân nuôi trong phòng thí nghiệm và nhà lưới 39 3.10 Mía phát triển bình thường tại huyện Cù Lao Dung, Sóc Trăng 40 3.11 Triệu chứng mía bị RĐV gây hại trên lá tại huyện Cù Lao Dung,
Sóc Trăng
40
Trang 11MỞ ĐẦU
Mía là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao và là nguồn nguyên liệu quan trọng trong ngành công nghiệp đường của Việt Nam cũng như của Thế giới Trong tương lai, mía còn là nguyên liệu quý của ngành năng lượng, ngành giấy
và sợi nhân tạo,… Cây mía ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (Trần văn Sỏi, 2001)
Ở nước ta, các vùng trồng mía nhiều nhất trong cả nước là: Bắc trung bộ, duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên Đồng bằng sông
Cửu Long hiện nay có tổng diện tích trồng mía khoảng 65.300 ha Trong đó, Sóc
Trăng là tỉnh có truyền thống trồng mía lâu đời, với tổng diện tích canh tác khoảng 15.800 ha.Đặc biệt, cây mía được trồng nhiều nhất ở huyện Cù Lao Dung với 7.500
ha, đây được xem là những vùng mía trọng điểm của miền Tây (Niên giám thống
kê, 2008)
Tuy nhiên, cây mía thường bị dịch hại tấn công làm ảnh hưởng đến năng suất
và chất lượng đường của mía… Đặc biệt gần đây nhất là rầy đầu vàng một loài côn
trùng mới gây hại trên mía Rầy đầu vàng (Eoeurysa flavocapitata Muir) còn được
gọi là rầy đen gây hại trên mía, cũng thấy xuất hiện trên mía ở các nước lân cận như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan,… Đây là đối tượng gây hại mạnh, chúng chích hút nhựa lá mía tạo những chấm màu vàng, có chất dịch nhầy trong suốt làm mía không phát triển được và chết dần ở mía dưới 3 tháng tuổi, đồng thời làm giảm năng suất và chất lượng ở mía trên 7 tháng tuổi Rầy đầu vàng chỉ mới xuất hiện vài năm gần đây, ở nước ta vẫn chưa có nghiên cứu sâu về loại côn trùng này Hiện nay, có khoảng 7.000 ha mía ở các tỉnh bị nhiễm rầy đầu vàng gây thiệt hại nặng
Để đối phó với loài côn trùng gây hại này, nông dân chủ yếu sử dụng thuốc trừ sâu hóa học với mức độ và liều lượng ngày càng cao, phun xịt trực tiếp lên cây mía để bảo vệ thân cây đến cận ngày thu hoạch Điều này không những làm cho chi phí sản xuất tăng mà còn ảnh hưởng tới nhiều loài thiên địch trên rẫy mía, môi trường và sức khỏe người phun thuốc Mặt khác, dưới áp lực chọn lọc mạnh của thuốc trừ sâu đã gây ra sự bộc phát tính kháng thuốc của các loại dịch hại (Trần Văn
Hai và ctv., 1997) Vì vậy, việc khảo sát đặc điểm hình thái và đánh giá hiệu quả
của một số chế phẩm nấm ký sinh lên rầy đầu vàng hại mía để phòng trừ bằng biện pháp sinh học là cần thiết, nhằm hạn chế tối đa mức độ thiệt hại do rầy đầu vàng trên mía gây ra, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho người sản xuất và người tiêu dùng Việc ứng dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trừ rầy đầu vàng gây hại trên
Trang 12mía và việc khảo sát ảnh hưởng của các loại chế phẩm này đối với thiên địch thì
chưa được nghiên cứu nhiều Chính vì vậy, đề tài: “Khảo sát đặc điểm hình thái
rầy đầu vàng (Eoeurysa flavocapitata Muir); Hiệu lực các chế phẩm nấm ký
sinh trên rầy đầu vàng hại mía và bọ đuôi kìm; Khả năng ăn rầy đầu vàng của
bọ đuôi kìm” được tiến hành nhằm mục đích:
- Khảo sát đặc điểm hình thái của rầy đầu vàng
- Khảo sát khả năng ăn rầy đầu vàng của Bọ đuôi kìm
- Khảo sát ảnh hưởng của một số chế phẩm nấm ký sinh đối với các loài thiên địch (Bọ đuôi kìm) trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới
- Đánh giá hiệu lực của các nồng độ của số chế phẩm nấm xanh Metarhizium
anisopliae trên rầy đầu vàng ở điều kiện ngoài đồng
Từ đó, có thể làm cơ sở để ứng dụng rộng rãi vào thực tế đồng ruộng
Trang 13CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 CÂY MÍA
Cây mía có tên khoa học là Saccharum spp.
Ngành có hạt Spermatophyta
Lớp đơn tử diệp Monocotyledneae
Họ hòa bản Graminaea
Giống Saccharum
Loài Oficinarum, Sinense, Barberi,
Cây mía thuộc nhóm cây C4 là loại cây ưa ánh sáng, thời gian chiếu sáng tối
ưu cho sự phát triển là khoảng 1500 – 2000 giờ Nhiệt độ thích hợp là khoảng 25 –
350C, độ ẩm tối ưu khoảng 50 – 80% Đất trồng mía có pH thích hợp từ 6 – 8 (Trần
Thị Ba và ctv., 2008)
Mía có cấu tạo cơ bản gồm rễ, thân, lá Theo Trần Thị Kim Ba và ctv
(2008) thì mía thuộc loại rễ chùm, mọc từ các điểm trên đai rễ của hom hoặc ở chân mầm nơi tiếp giáp giữa mầm và hạt Mía trồng bằng hom khi mọc mầm có hai loại rễ: rễ hom và rễ chồi Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), thân mía làm nhiệm vụ mang lá, vận chuyển nước và thức ăn từ rễ tới lá Thân là đối tượng thu hoạch và nơi dự trữ đường (trích dẫn Nguyễn Hoàng Ân và Đỗ Quang Phúc, 2009) Thân mía gồm nhiều đốt và lóng hợp thành, cao trung bình 2–3 m, một số giống có thể cao 4–5 m Lá mía mọc thành 2 hàng so le, đối nhau hoặc theo đường vòng trên thân mía tùy giống, mỗi đốt có một lá Lá mía dính vào thân ở phía dưới đai rễ, khi lá rụng tạo thành sẹo lá hay vết lá (Trần Văn Sỏi, 2001) Ngoài ra, cây mía còn có các bộ phận khác như: lóng, hoa mía, hạt mía…
Do quá trình sinh truởng của cây mía từ 10 – 14 tháng, nên trồng mía còn tùy
vào khí hậu của mỗi địa phương Theo Trần Thị Kim Ba và ctv (2008) thời vụ
trồng mía chịu ảnh hưởng của khí hậu Để đảm bảo năng suất cao, nguyên tắc thời
vụ là làm thế nào cho thời kỳ lóng dài gặp lúc mưa nhiều, nhiệt độ cao Thời kỳ chín thì mưa ít hay không mưa, nhiệt độ thấp
Trang 14Theo Trần Văn Sỏi (2001) mía là cây cao sản, mỗi hecta một năm có thể cho
từ 150–200 tấn năng suất sinh khối Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng của cây mía rất lớn Ngoài các chất đa lượng NPK, cây mía rất cần canxi (Ca) và các chất vi lượng khác
Theo Trần Thị Kim Ba và ctv (2008) thì trung bình khi đạt 100 tấn/ha, cây
mía đã lấy đi khoảng 120 kg N, 70 kg P2O5, 200 kg K2O Theo Viện PK quốc tế với năng suất 224 tấn/ha cây mía đã hút 403 P2O5, 683 K2O, 112 Mg, 96 S (kg/ha) (trích dẫn Đỗ Quang Phúc và Nguyễn Hoàng Ân, 2009)
Cách bón: bón đầy đủ, bón thúc nhiều lần phù hợp với nhu cầu sinh trưởng của cây mía Chủ yếu là bón thúc, nâng cao năng suất mía Kết hợp N, P, K thích hợp, lượng phân bón tùy theo điều kiện đất đai, khí hậu, giống
Bón 500–1000 kg vôi trên mặt liếp trước khi đào rãnh 5–10 ngày
Bón lót: toàn bộ phân hữu cơ và Super lân 100% trước khi trồng, xử lý đất với thuốc Basudin 10H 10–20 kg/ha
Bón thúc: theo Trần Thị Kim Ba và ctv (2008) chia làm các lần bón như sau:
Lần 1: 20% N bón lúc mía được 1 tháng sau khi trồng
Lần 2: 30% N + 50% K bón lúc mía được 3 tháng sau khi trồng
Lần 3: 50% N bón lúc mía được 5 tháng sau khi trồng
Nên kết hợp bón phân với làm cỏ xới xáo, vun luống cao để vùi lấp phân
Một số giống đã được trồng phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: Comus, F
156, MY – 5514, ROC 16, VĐ 86-368, VN 84.4137, QĐ 17, K 84.200, VN
85.1859, ROC 22,… (Trần Thị Kim Ba và ctv., 2008)
1.2 CÁC LOÀI SÂU HẠI TRÊN MÍA
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) trên thế giới đã phát hiện được 125 loài sâu hại mía, trong đó có khoảng 22 loài gây hại chủ yếu Ở nước ta, thành phần sâu hại mía khá phong phú, miền Bắc có 29 loài, miền Nam có 61 loài Ở Việt nam, có một
số loài sâu hại mía gây thiệt hại nhiều và quan trọng như: rệp bông trắng, sâu đục thân, bọ hung đen, rệp sáp, mối…và đặc biệt gần đây nhất là rầy đầu vàng gây hại trên mía (trích dẫn Nguyễn Hoàng Ân và Đỗ Quang Phúc, 2009)
1.2.1 Sâu đục thân
Trang 15Sâu đục thân là một trong những loại sâu hại chính phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho các vùng trồng mía, ước tính làm giảm 10% sản lượng mía thế giới (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)
Sâu đục thân mía ở nước ta thường gặp gồm 5 loài gây hại phổ biến thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera
- Sâu đục thân mình vàng: Argyrpploce schistaceana Snellen
- Sâu đục thân 4 vạch: Proceras venosatus Walker
- Sâu đục thân 5 vạch: Chilo infuscatellus Snellen
- Sâu đục thân mình hồng: Sesamia inferens Walker
1.2.2 Bọ hung hại mía: Alissonotum impressicolle Arrow
Theo Trần Văn Sỏi (2001) thì bọ hung và ấu trùng của chúng là một trong những loài sâu gây hại đáng kể đến nghề trồng mía Bọ hung và ấu trùng của chúng đục rỗng các gốc mía làm mía mất khả năng tái sinh, chúng ăn mất phần gốc của các mầm còn bé, từ 3–5 lá thật làm cho mầm bị chết khô
1.2.3 Rệp bông trắng hại mía: Ceratovacuna lanigera Zehntner
Theo Trương Quốc Tùng và Lê Văn Thuyết (2005) thì rệp non và trưởng thành sống thành bầy ở mặt dưới lá chích hút nhựa làm lá đỏ, khô chết, làm giảm năng suất và giảm độ đường Có hai loại rệp: có cánh và không cánh
Rệp có cánh màu đen, bụng và chân vàng, toàn thân được phủ lớp bông trắng, xuất hiện quanh năm, thời tiết thích hợp 20–290C và ẩm độ > 75%
Ngoài ra, còn một số sâu hại mía khác như: rệp sáp, sâu đục ngọn, bọ trĩ, chuột, mối đất, dế dũi, cào cào, châu chấu…
1.2.4 Rầy đầu vàng
Tên khoa học : Eoeurysa flavocapitata Muir 1913
Tên tiếng Anh: Black Leafhopper, Yellow Headed Planthopper
Họ: Rầy thân (Delphacidae)
Bộ: Cánh đều (HOMOPTERA)
1.2.4.1 Phân bố và ký chủ
Trang 16Rầy đầu vàng (RĐV) còn được gọi là rầy đen gây hại chủ yếu trên mía RĐV cũng xuất hiện trên mía ở các nước lịch sử trồng mía lâu đời như Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan…
(http://www.congtyhai.com/htmls/technology_science_vn.php?id=16&curPa=4)
1.2.4.2 Đặc điểm hình thái
* Trứng
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003) thì trứng nhỏ, dài khoảng 0,7 x 0,18
mm, hình kiếm, hai đầu tù, bề mặt trơn nhẵn, mới đẻ màu trắng sữa, sau chuyển sang màu vàng nhạt đến vàng sẫm, thấy rõ hai điểm mắt màu đỏ nhạt
* Ấu trùng
Rầy non có 5 tuổi, mới nở màu vàng nhạt, tuổi 2–3 có màu sẫm hơn, tuổi 4
đã thấy mầm cánh rõ ràng Tuổi 5 rầy non có màu vàng đậm, đầu tù, mắt kép màu nâu nhạt, mầm cánh sau dài đến đốt bụng thứ 4, mầm cánh trước đã che kín cánh sau
* Thành trùng
Rầy trưởng thành dài 4-5 mm, toàn thân màu nâu sẫm, đầu và lưng ngực trước màu vàng, mắt kép hình bầu dục, màu nâu đen, chung quanh có đường viền nhỏ màu đỏ Râu hình côn, đốt đều màu đen, đốt có lông dài màu nhạt hơn Miệng kiểu chích hút Cánh trước hình gần chữ nhật, màu đen, đoạn cuối chỗ 1/4 cánh có vệt ngang màu vàng nhạt rất rõ Gân cánh đơn giản, trên cánh có lông ngắn và chấm tròn đen Cánh sau nhỏ, không màu, trong suốt Chân trước và chân sau to nhỏ khác nhau, đốt đùi và đốt ống chân dài bằng nhau, đốt bàn chân đều màu vàng sẫm, đốt đùi chân sau giống như đốt đùi chân trước và chân giữa, đốt ống chân phát triển hơn .Đoạn mép ngoài và giữa có một đoạn gai nhô ra màu nâu đỏ Rầy cái có kích thước 4,05 x 1,11 mm, rầy đực nhỏ hơn
1.2.4.3 Tập quán sinh sống và cách gây hại
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003) thì rầy thường xuất hiện ở các ruộng mía
trồng lẻ tẻ, diện tích nhỏ, tháo nước không tốt hoặc gần làng mạc, trồng dày Chủ yếu gây hại trên mía non ở các lá chưa mở hoặc lá non mới xòe, thường xuất hiện trên mía Hè Thu từ đẻ nhánh đến 4–6 lóng
Trang 17Rầy trưởng thành hoạt động nhanh nhẹn, có tính hướng sáng, ban đêm vào đèn nhiều Rầy cái đẻ trứng vào hai mép gân lá, rầy non mới nở bò men theo mép gân lá đến đọt Rầy non và rầy trưởng thành tập trung ở lá đọt hay lá mới xòe ra chích hút nhựa lá Lá mía bị hại có những chấm vàng về sau liên kết nhau tạo thành vết vàng lớn, trên đó có lớp bọt trắng hoặc lớp dịch trong suốt Lớp dịch này thu hút, kiến, ong,…đến, sau thời gian biến thành những chấm tròn màu đen và có mùi hôi Cây mía bị nặng lá đọt bị thối, lá xanh giảm và biến dạng, ngắn, ảnh hưởng đến sinh trưởng và tích lũy đường của cây mía
Mật độ rầy thường cao vào các tháng 4–5, 7–8 và 11-12 Hằng năm ở các tỉnh phía Bắc, rầy phát sinh 6–7 lứa, thời gian một lứa khoảng 40–50 ngày, trong đó thời gian trứng 8-12 ngày, rầy non 25–30 ngày, rầy trưởng thành đẻ trứng 5–19 ngày và có thể sống đến 1 tháng Ở miền Đông, rầy xuất hiện từ tháng 7–10, sau đó
Theo Trần Văn Hai, về lâu dài cần chọn những loại giống mía có thân cứng,
lá cứng thì rầy đầu vàng ít tấn công Cần áp dụng phân bón cân đối giữa phân đạm, lân và kali, không nên bón phân đạm nhiều quá Cây mía thừa đạm sẽ làm lá mía rất non, mềm thì rầy đầu vàng dễ chích hút gây bệnh Nếu kiểm soát chúng không đúng
kỹ thuật, sẽ làm bộc phát mật số rầy
(http://muivi.com/muivi/index.php?option=com_content&task=view&id=4589&Itemid=431)
* Biện pháp sinh học
Theo Trần Văn Hai, trong trường hợp mật số rầy đầu vàng dưới 5 con/1 đọt mía, mật số thiên địch như kiến ba khoang, bọ rùa, bọ đuôi kìm,…có số lượng cao hơn thì không cần can thiệp, vì các loại côn trùng có ích sẽ tự diệt được rầy đầu vàng Tuy nhiên, khi mật số rầy đầu vàng trên 5 con/đọt mía, mật số thiên địch ít hơn thì phải tiến hành phun thuốc
(http://www.vian.com.vn/Default.asp?th=news&CatID=134&ID=825)
Trang 18Có thể phối hợp dầu khoáng để tăng hiệu lực trừ rầy Phun vào sáng sớm hay chiều mát, phun kỹ vào đọt non, loa kèn
Trong điều kiện hộ nông dân không có máy phun: Có thể tự chế dụng cụ phun lên cao bằng bình phun nén hơi loại 8 lít, tháo rời chuôi điều chỉnh và cần phun, nối vào 2 đầu ống dẫn nước bằng nhựa dẻo dài đến ngọn mía, khi phun chấp cây sào dài đến ngọn mía để phun
(http://xttm.agroviet.gov.vn/tapchi/baonnvn/2006/So183-06.asp)
1.3 BỌ ĐUÔI KÌM
1.3.1 Thành phần loài và sự phân bố của bọ đuôi kìm
Bọ đuôi kìm phân bố khắp nơi trên thế giới ngoại trừ vùng cực Tuy nhiên, chúng phân bố đa dạng chủ yếu ở các vùng nhiệt đới (Habian Haas, 1996, trích dẫn
Hà Thanh Liêm, 2006)
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1800 loài được tìm thấy (D C F Rentz và
D K McE Kevan, 1991; Fiban Haas, 1996)
Trang 191.3.2 Một số đặc điểm hình thái của bọ đuôi kìm
Trứng mới đẻ có màu trắng sữa, đường kính trứng khoảng 0,75 mm và có hình hơi tròn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của phôi thì trứng hơi vàng và bóng hơn, cho đến khi gần nở thì trứng có màu vàng sậm và hơi nâu Đồng thời thì kích thước trứng cũng tăng lên và dài khoảng 1,25 mm và có hình oval (John L Capinera, 1999)
Theo John L Capinera (1999) thì ấu trùng có hình dạng rất giống thành trùng Tuy nhiên, chúng cũng có một số điểm khác với thành trùng như, ấu trùng có kích thước ngắn và nhỏ hơn thành trùng Bên cạnh đó thì màu sắc của ấu trùng nhạt và đuôi kìm ít cong hơn thành trùng Ngoài ra ấu trùng chưa có xuất hiện cánh chúng chỉ mới xuất hiện mầm cánh trên lưng Cuối cùng là số đốt râu giữa các tuổi ấu trùng và thành trùng luôn khác nhau nhưng chúng có số đốt bụng bằng nhau Đây là những điểm giúp ta phân biệt giữa thành trùng và ấu trùng bọ đuôi kìm (trích dẫn Đặng Tiến Dũng và Phạm Kim Ngọc, 2005)
Bọ đuôi kìm có cơ thể thon dài, dẹp Tùy theo loài mà chúng có chiều dài
khác nhau: Forficulidae auricularia Linnaens dài 13-19mm, loài Euborellia
annalipes Lucas dài 13-16 mm Màu sắc biến đổi từ màu đỏ nâu cho tới màu đen
Thông thường thì con cái có màu nhạt hơn con đực và có kích thước lớn hơn con đực, đồng thời có sự khác biệt giữa số đốt bụng giữa con đực và con cái Con cái có
8 đốt bụng còn con đực có 10 đốt (John Capinera, 1999, trích dẫn Đặng Tiến Dũng
và Phạm Kim Ngọc, 2005)
Điểm nổi bật dễ nhận thấy ở bọ đuôi kìm là có kìm ở đốt bụng cuối cùng Đây là đặc điểm để phân biệt đực cái một cách dễ dàng, con cái có kìm nhỏ hơn và thẳng hơn con đực, con đực có kìm to hơn đồng thời cong nhiều hơn con cái (William F Lyon, 1991, trích dẫn Hà Thanh Liêm, 2006) Bọ đuôi kìm có râu hình sợi chỉ, miệng nhai gặm và nhô ra phía trước
Bọ đuôi kìm vàng: Chelisoches variegatus
Con cái: cơ thể có màu nâu đỏ, chân và cánh trước có màu vàng, tươi sáng, chiều dài cơ thể biến động từ 16 - 22 mm (không kể phần đuôi kìm) (trung bình: 18,80 ± 0,51 mm), rộng 3,55 ± 0,13 mm Râu hình sợi chỉ có 23 đốt râu, dài 16 - 17
mm, đốt thứ nhất và đốt thứ hai có màu vàng, các đốt còn lại có màu nâu đen, trên đốt thứ nhất có một vài gai nhỏ Miệng thuộc loại miệng nhai gặm, phát triển về phía trước Ba đôi chân ngực phát triển, cánh trước ngắn, hình chữ “U”, màu vàng với đường viền đen, có cấu tạo bằng chất sừng, tương đối cứng Cánh trước chỉ che
Trang 201 - 2 đốt lưng Cánh sau thuộc loại cánh màng, hình quạt , rộng hơn so với cánh trước và gấp lại bên dưới cánh trước tạo thành hai đốm trắng phía sau cánh trước
Con đực: cơ thể có màu tương tự như con cái, nhưng thường có kích thước nhỏ hơn, dài từ 16 - 21 mm, trung bình 17,95 ± 0,57 mm (không kể phần đuôi kìm), rộng 3,15 ± 0,07 mm Râu cũng có 23 đốt, màu sắc và cách sắp xếp của các đốt râu cũng tương tự như con cái Bụng có 9 đốt Đuôi kìm có hai dạng: dạng đuôi kìm ngắn và dạng đuôi kìm dài, có màu nâu hoặc màu nâu đậm, cả hai kìm đều rất cong, mạnh mẽ và có nhiều gai lớn trên bề mặt trong của kìm (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)
1.3.3 Đặc điểm sinh học của bọ đuôi kìm
Vòng đời của bọ đuôi kìm bao gồm các giai đoạn: trứng, ấu trùng và thành trùng Thời gian trứng kéo dài khoảng một tuần nhưng tùy theo nhiệt độ mà thời gian trứng có thể kéo dài 10 ngày cho đến 3 tháng Ấu trùng trải qua 3-4 lần lột xác trước khi thành trùng (William F Lyon, 1991) Thành trùng bọ đuôi kìm có đời sống dài khoảng 1 năm Tuy nhiên con đực có thời gian sống ngắn hơn so với con cái
Trứng được sự chăm sóc của con cái, con cái dời trứng và thường xuyên liếm trứng để loại bỏ nấm và các vật chất trên vỏ trứng Tuy nhiên, theo Lamb (1976) thì việc liếm trứng sẽ cung cấp một chất lỏng trên bề mặt trứng để cho trứng
có thể nở tốt Trứng cần có sự chăm sóc của con mẹ, nếu chúng không có được sự chăm sóc thì tỷ lệ sống sót rất thấp so với trứng có sự chăm sóc của con mẹ (Louise Kulzer, 1996, trích dẫn Đặng Tiến Dũng và Phạm Kim Ngọc, 2005)
Theo Steve Jacobs (2003), bọ đuôi kìm là loài biến thái không hoàn toàn vì thế ấu trùng có hình dạng giống thành trùng Tùy theo loài mà chúng sẽ trãi qua 4-5 lần lột xác trước khi thành trùng Tuy nhiên khi gặp điều kiện thuận lợi thì có thể tới
6 tuổi
Theo D.C.F.Rentz và D K McE Kevan (1991) thì tùy theo loài mà thời gian
ấu trùng cũng khác nhau: Labidura riparia: 100 ngày, Marava arachidis: 40-44 ngày, Anisolabis littorea: 165 ngày… Ấu trùng tuổi 1 được sự chăm sóc của con
cái, con cái mang thức ăn về tổ và ợ trở ra cho ấu trùng ăn Nhưng bắt đầu sang tuổi
2 thì con cái mất bản năng làm mẹ, nó không còn chăm sóc con và có thể tấn công con của chúng như con mồi (Lamb, 1976)
Trang 21Khi bắt đầu từ tuổi 2 thì ấu trùng rời tổ và tự đi kiếm thức ăn và chúng cần nhiều ẩm độ, ấu trùng có tính ăn tạp giống như thành trùng Bắt đầu từ tuổi 3 thì chúng có thể tấn công và ăn lẫn nhau (Donald Lewis, 1996)
Kìm là điểm đặc trưng của bộ bọ đuôi kìm Chúng được dùng để giữ con mồi, tấn công con mồi và còn dùng để tự vệ Ở một số loài kìm còn được dùng để
hổ trợ cho việc đóng, mở cặp cánh trong (D C F Rentz và D K McE Kevan, 1991) Hơn nữa, theo Louise Kulzer (1996) thì kìm còn có vai trò trong việc giao phối
Theo D C F Rentz và D K McE Kevan (1991) thì bọ đuôi kìm có tính ăn tạp, chúng ăn động vật, thực vật và cả chất đang phân hủy, chất thối rửa Theo John
L Capinera (1999) thì bọ đuôi kìm còn là con vật ăn mồi quan trọng Chúng có thể
ăn sâu với kích thước nhỏ hơn hoặc lớn hơn cơ thể chúng, ấu trùng bọ cánh cứng , rầy lá và mọt Ngoài ra, bọ đuôi kìm còn có thể ăn rệp, nhện, trứng của côn trùng,
ve bét (William F Lyon, 1991) Đặc biệt là khi đói chúng có thể ăn lẫn nhau (Keith
L Smith, 1991, trích dẫn Hà Thanh Liêm, 2006)
Tổ được đào bởi con cái, con đực không tham gia đào tổ, nó chỉ sống chung với con cái trong thời gian ngắn và bị đuổi đi khi trứng vừa được đẻ ra vì con đực không có chăm sóc trứng thậm chí chúng còn ăn cả trứng (Fulton, 1924, trích dẫn
Hà Thanh Liêm, 2006)
Theo Louise Kulzer (1996) thì trứng được đẻ dưới đáy ổ Con cái chăm sóc trứng một cách cẩn thận và bảo vệ trứng một cách mãnh liệt cho đến khi trứng nở Con mẹ thường xuyên xoay trứng, lau trứng và tái gom đống trứng
Mặc dù con cái bảo vệ trứng chúng một cách liên tục thậm chí không ăn trong thời gian chăm sóc trứng nhưng nếu bị quấy rầy liên tục thì chì con mẹ sẽ ăn hết trứng hoặc bỏ tổ đi (Louise Kulzer, 1996 và William F Lyon, 1991, trích dẫn Đặng Tiến Dũng và Phạm Kim Ngọc, 2005)
1.3.4 Thiên địch tự nhiên của bọ đuôi kìm
Theo John L Capinera (1999) thì thiên địch ngoài tự nhiên của bọ đuôi kìm
là ruồi ký sinh và nấm Nhưng tỉ lệ ký sinh không cao chỉ ở khoảng 1/264 ở các vườn cây dừa ở đảo Phú Quốc và không bị ký sinh trong môi trường đất (trích dẫn Đặng Tiến Dũng và Phạm Kim Ngọc, 2005) Đặc biệt là còn có sự ăn lẫn nhau giữa
ấu trùng các tuổi và việc ăn trứng và ấu trùng của thành trùng Ngoài ra, theo D C
F Rentz và D K McE Kevan (1991) thì thiên địch ngoài tự nhiên của bọ đuôi kìm
Trang 22còn có chim, Mermis (Nematoda), Hymemolepis (Cestoda) nhưng tỷ lệ ký sinh
không cao, thấp hơn 10%
1.3.5 Khả năng sử dụng bọ đuôi kìm trong phòng trừ sinh học
Theo Risbec (1993) thì bọ đuôi kìm có khả năng ăn bọ cánh cứng hại dừa tại Vannuatu Tại Thái Lan, bọ đuôi kìm được nông dân nuôi nhân tại nhà để phục vụ cho việc phòng trừ côn trùng gây hại trên đồng Đồng thời trên cánh đồng họ tạo những đống rơm, rạ và tưới nước để cung cấp ẩm độ, tạo nơi ẩn nấp cho chúng vào ban ngày, còn ban đêm thì chúng đi bắt mồi
Ngoài ra bọ đuôi kìm còn được coi là thiên địch quan trọng trên lúa, chúng chui vào rãnh sâu đục thân để tìm sâu non và đôi khi chúng còn bò lên lá để ăn sâu cuốn lá
Tại Bến Cát (Bình Dương), bọ đuôi kìm được thả để phòng trừ sâu đục thân
mía mình hồng Sesamia sp trong điều kiện nhà lưới và kết quả đạt được là tỷ lệ
lóng bị hại giảm trung bình từ 1,18-1,45%, đồng thời trọng lượng trung bình của cây tăng lên từ 0,074 – 0,122 kg (Đỗ Ngọc Điệp, 2003)
Theo Nguyễn Công Thuật (1996) thì ấu trùng và thành trùng của bọ đuôi kìm
có thể tìm ăn trứng và sâu đục thân mía trên ruộng mía và sâu đục thân bắp trên ruộng bắp Ngoài ra, chúng còn ăn các côn trùng gây hại trên bắp cải, đậu tương và đậu rau
1.4 ĐẶC TÍNH CỦA MỘT SỐ LOẠI NẤM KÝ SINH CÔN TRÙNG VÀ THUỐC HOÁ HỌC ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG THÍ NGHIỆM
1.4.1 Nấm Mertarhizium anisopliae Sorokin
1.4.1.1 Nguồn gốc, phân loại và phân bố
Năm 1878, khi nghiên cứu về một số loài sâu non bộ cánh cứng hại lúa mì
Anisoplia austriaca, nhà khoa học người Nga I I Metchnikov đã phát hiện thấy một
loài nấm bào tử lục có thể gây chết hàng loạt loại sâu này Ông đã xác định loài nấm
này có tên khoa học là Entomophthora anisopliae Về sau, Sorokin kiểm tra lại và
thấy loài nấm này không thuộc giống Entomophthora mà thuộc về giống Metarhizium (Nguyễn Lân Dũng, 1981, trích dẫn Lâm Tố Oanh, 2005)
Trang 23Vào những năm 1890-1897, nhà khoa học Koben (Đức) đã thu thập được
nấm Metarhizium ký sinh trên sâu hại từ Hawaii mang về Đức để nghiên cứu (Phạm
Thị Thùy, 2004)
Xếp theo hệ thống phân loại nấm của G.C.Anisworth, 1966, 1970, 1971
(trích dẫn Phạm Thị Thùy, 2004) thì cho rằng nấm Metarhizium anisopliae (M
anisopliae) thuộc ngành phụ lớp nấm bất toàn Deuteromycetes, giống Metarhizium
Một tác giả khác lại cho rằng nấm M anisopliae thuộc ngành phụ lớp nấm túi
Ascomycotia, lớp nấm Plectomyces và giống Metarhizium
1.4.1.2 Đặc điểm hình thái
Nấm M anisopliae Sorokin còn gọi là nấm lục cương, được tìm thấy trên
200 loài côn trùng khác nhau Nấm có dạng sợi màu trắng hoặc trắng hồng phân nhánh, có vách ngăn ngang, đường kính 3 - 4 µm (Trần Thị Thanh, 2004, trích dẫn Trịnh Thị Xuân, 2006)
Bào tử trần dạng hình que có kích thước 3,5 x 6,4 x 7,2 µm có màu từ vàng xanh đến xanh đậm, bào tử xếp thành chuỗi khá chặt chẽ và nhìn bằng mắt thường
có thể thấy bào tử được tạo ra trên bề mặt cơ thể côn trùng một lớp phấn khá rõ màu xanh lục (Phạm Thị Thuỳ, 2004)
Nấm phát triển bên trong cơ thể côn trùng ký chủ và ăn chất dinh dưỡng của
cơ thể côn trùng Khi côn trùng chết, lúc đầu nấm bắt đầu xuất hiện một lớp trắng ở những chỗ nối giữa các đốt cơ thể côn trùng và sẽ chuyển dần sang màu xanh lục
đậm nếu là nấm M anisopliae hoặc màu xanh lục nhạt nếu là nấm M flavoviride
khi nấm hình thành bào tử (B.M Shepard, A.T Barrion và J.A Litsinger, 1989, người dịch Cù Huy Phan Táo)
Loài M anisopliae có hai dạng bào tử: nhỏ và lớn, dạng bào tử nhỏ M
anisopliae var anisopliae có kích thước 3,5- 5,0 x 2,5 - 4,5 µm, dạng bào tử lớn là
M anisopliae var major có kích thước bào tử 10-14 µm Để phân biệt hai loài trên,
tác giả Tsai và ctv đã nghiên cứu đặc tính huyết thanh khác nhau của hai loài này
và xác định rằng loài M anisopliae là chủng gây bệnh mạnh nhất trên côn trùng
thuộc bộ cánh cứng Coleoptera Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và tìm thấy có khoảng 204 loài côn trùng thuộc họ Elaridae và Curculionidae dễ bị nhiễm bệnh bởi
nấm M anisopliae
1.4.1.3 Khả năng sinh độc tố
Trang 24Nấm M anisopliae có một số ngoại độc tố như Deustruxin A, B, C, D Các
ngoại độc tố này là những sản phẩm thứ cấp vòng peptid, L – prolyne, L – leucine anhydride, L – prolyne, L – valine anhydride và Desmethyl Destruxin B Năm
1961, 1962, Y Kodaira đã tách được độc tố Deustruxin A và Deustruxin B từ dịch
nuôi cấy nấm lục cương M anisopliae
Theo Trần Thị Thanh (2000) thì người ta đã tổng hợp nhân tạo được
Deustruxin B và có khoảng 70 loài côn trùng bị tiêu diệt bởi nấm M anisopliae,
trong đó có 34 loài côn trùng cánh cứng và 5 loài côn trùng cánh vẩy
1.4.1.4 Sự xâm nhiễm và cơ chế gây bệnh của nấm ký sinh côn trùng
Nấm xanh M anisopliae gây nhiễm trùng cho côn trùng thông qua việc tiếp xúc Chỉ cần một bào tử của nấm xanh M anisopliae gắn chặt lên bề mặt ngoài của
côn trùng (da), bào tử sẽ nhanh chóng nảy nầm và bắt đầu phát triển Sau khi xâm nhập qua lớp da côn trùng, chúng nhanh chóng phát triển vào bên trong cơ thể và là
nguyên nhân làm cho côn trùng chết Theo tác giả, nấm M anisopliae có thể gây nhiễm cho ấu trùng và trưởng thành của nhiều loại côn trùng Tuy nhiên, nấm M
anisopliae chỉ có thể gây nhiễm trùng cho côn trùng trong bộ cánh cứng ở giai đoạn
ấu trùng vì ở giai đoạn trưởng thành, côn trùng có vỏ rất cứng
1.4.1.5 Thành tựu và ứng dụng
Cho đến nay các nhà khoa học trên thế giới vẫn chưa xác định được một loại
vi nấm nào có hiệu lực cao và phổ tác dụng rộng rãi như chủng M anisopliae Tại
Úc năm 1955, Richard Miller đã tách được vài trăm chủng nấm M anisopliae từ
một nhóm côn trùng sống trong đất dưới gốc mía Trong số 95 chủng thử nghiệm
trực tiếp, tác giả chỉ chọn được hai chủng có khả năng diệt sâu là Lepidota frenchi
và L consobrina hại rễ mía và một chủng diệt sâu Antitrogus parvulus với LD50 là 1-5 x 104 bào tử/g Henel đã chọn từ 22 chủng vi nấm, chỉ có 1 chủng M anisopliae
là phù hợp cho phương pháp phòng trừ sinh học đối với loài mối Masutiesrmes
exitiosus (Hill, trích dẫn bởi Phạm Thị Thuỳ, 2004)
Braxin đã sử dụng chế phẩm nấm M anisopliae trên quy mô rộng để chống
lại sâu hại đồng cỏ và sâu hại củ cải đường Hiện nay, nấm này đang được dùng để
xử lý trên diện tích vài triệu hecta (Nguyễn Ngọc Tú và Nguyễn Cửu Thị Hương Giang, 1997, trích dẫn Phạm Thanh Hùng, 2007)
Ở Đắc Lắc, nấm M anisopliae sử dụng dưới dạng dịch bào tử ở nồng độ 108
bào tử/ml để phòng trừ rệp sáp giả hại rễ cà phê trong điều kiện phòng thí nghiệm
Trang 25đạt hiệu quả 70-100% sau 7 ngày phun, trong khi đó sử dụng chế phẩm M
anisopliae đạt 75% sau 4 ngày phun và 100% sau 7 ngày phun cũng trong điều
kiện phòng thí nghiệm (Nguyễn Xuân Thanh và Phạm Thị Thuỳ, 2005)
1.4.2 Nấm Beauveria bassiana Vuillemin
1.4.2.1 Nguồn gốc, phân loại và phân bố
Trong suốt 5 năm liền từ năm 1885-1890, tại trung tâm nuôi tằm ở Pháp, nhà
bác học Louis Paster đã phát hiện ra vi sinh vật gây bệnh tằm vôi là nấm Beauveria
basiana (Bb) (Phạm Thị Thuỳ, 2004, trích dẫn Phạm Xuân Hùng, 2007)
Xếp theo hệ thống phân loại chung của G.C.Anisworth, 1966, 1970, 1971 (trích dẫn Phạm Thị Thuỳ, 2004) thì nấm Bb thuộc ngành phụ lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes) và giống Beauveria Theo Macleod (1954), loài Bb là loại điển hình trong chi nấm bạch cương Beauveria
Hiện nay, nấm Bb có trên 120 loài thuộc 45 họ 7 bộ côn trùng, nếu kể cả sâu hại công nghiệp, chúng có thể ký sinh gần 200 loài (Trần Thế Nhã và Trần Công Lanh, 2002)
1.4.2.2 Đặc điểm hình thái
Nấm Bb có sợi từ màu trắng đến màu kem có pha một ít màu đỏ, da cam, đôi khi pha một ít màu lục, có thể tiết vào môi trường sắc tố màu vàng, màu đỏ nhạt hoặc màu xanh da trời Sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn ngang, có chiều dài khoảng 3- 5 µm phát triển dày đặc trên môi trường, về sau xuất hiện chi chít các cuống sinh bào tử Đặc điểm của loại nấm này là sợi xốp, cuống bào tử trần đứng riêng rẽ hay tụ lại thành từng đám, không phân nhánh hoặc phân nhánh, hình ống hoặc hình bình với chiều dài không đều nhau Trên cuống có những nhánh nhỏ mang bào tử trần (Phạm Thị Thuỳ, 2004, trích dẫn Trần Quốc Thắng, 2008)
Nấm Bb sinh ra những bào tử trần đơn bào, không màu, trong suốt không vách từ hình cầu (đường kính 1-4 µm) đến hình trứng (kích thước 1,5-5,5 µm) Cuống sinh bào tử mọc hướng gốc và tụ lại thành từng đám dày đặc trên những sợi nấm vươn ra khỏi lớp khuẩn ty Cuống sinh bào tử có phần gốc hình cầu, kích thước
2-3 x 3-4 µm gắn trên các cành bào tử hình zic zắc dài tới 20 µm (Rombach và ctv.,
1994 trích dẫn Phạm Đức Lộc, 2007)
1.4.2.3 Khả năng sinh độc tố
Trang 26Năm 1969, R.L Hamil và ctv đã xác định bản chất của Beauvericin là vòng
peptid có sắc tố màu vàng (tenelin và basianin), những sắc tố này có thể là do hydroxylat progesterone và những phần tách nhỏ ra từ testosterone (C19H28O2) sinh
ra
1.4.2.4 Sự xâm nhiễm và cơ chế gây bệnh
Những bào tử nấm Bb thường bay trong không khí khi dính vào côn trùng, gặp điều kiện thích hợp sẽ nẩy mầm và mọc thành sợi nấm đâm xuyên qua vỏ kitin Chúng phát triển ngay trong cơ thể côn trùng cho đến khi xuất hiện các tế bào nấm đầu tiên (có dạng chuỗi ngắn như nấm men), côn trùng đã phải huy động hết các tế bào bạch huyết (lympho-cyte) để chống đỡ, nhưng nấm Bb đã sử dụng những độc tố Bverixin, proteaza và một số chất khác làm cho tế bào bạch huyết của sâu không chống đỡ nổi nên lần lượt bị huỷ diệt Khi độc tố nấm đã tiêu diệt các tế bào bạch huyết cũng là lúc côn trùng bị chết, cơ thể côn trùng bị cứng lại là do các sợi nấm đan xen lại với nhau (Phạm Thị Thuỳ, 2004)
1.4.2.5 Thành tựu và ứng dụng
Năm 1988, tại Nhật Bản một số nhà khoa học đã phòng từ dòi hại rễ củ cải đường bằng nấm Bb, ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm từ nấm Bb Lobo Lima đã tiến hành thử nghiệm sinh học của nấm Bb
phòng trừ dạng trưởng thành của bọ hà khoai tây (Cylas puncticolis) Ở Trung
Quốc, các tác giả Am và Wu đã sử dụng chủng nấm Bb để phòng trừ sâu róm thông
(Dendrrolinmmus tabulaformis) (D tabulaformis) qua đông đạt hiệu quả cao
Thuốc vi nấm Bb được ứng dụng rất nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Canada, Anh, Úc, Philippin và Trung Quốc… ứng dụng trên nhiều loại cây trồng để phòng trừ nhiều đối tượng sâu hại cây trồng thuộc bộ cánh vẩy Lepidoptera, bộ cánh cứng Coleoptera, bộ cánh thẳng Orthoptera, bộ cánh bằng Isoptera… đạt kết
quả tốt, đặc biệt là những loại sâu hại cây rừng như sâu róm thông (D
tabulaformis), bọ hại dừa, châu chấu (Melanoplus sanguinipes)… (Rombach và
Agudu, 1988, Milner, 1991 được trích dẫn Phạm Thị Thuỳ, 2004)
Theo Rao P.S (1975) tỷ lệ chết của rầy Nephotetix vereccesn là 100% qua 3
ngày Họ thấy rằng nấm Bb có nhiều triển vọng trong đấu tranh sinh học chống lại các loại rầy hại lúa, khi tiểu khí hậu trên đồng ruộng thuận lợi cho sự phát triển của nấm Bb (Nguyễn Ngọc Tú và Nguyễn Thị Cửu Hương Giang, 1997)
1.4.3 Nấm Paecilomyces sp
Trang 271.4.3.1 Nguồn gốc, phân loại và phân bố
Nấm Paecilomyces sp (Pae) phân lập trên côn trùng ngủ nghỉ trong đất Trên
thế giới có rất nhiều loài, phân bố rộng Nấm Pae tựa như nấm mốc xanh (Penicillin) và nấm chồi (Gliocladium) (Trần Văn Mão, 2002)
Xếp theo phân loại nấm của G C Anisworth (1966, 1970, 1971) cho rằng Pae thuộc ngành phụ lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes), giống Paecilomyces (Phạm Thị Thuỳ, 2004)
Nấm Pae có phổ ký sinh côn trùng rộng, cả vùng nhiệt đới Loài nấm này được thu thập từ đất Nam Phi, Nepal, Nhật Bản, Brazil và Mỹ
1.4.3.2 Đặc điểm hình thái
Nấm Pae có khuẩn lạc dạng thảm nhung, bó sợi, có màu trắng, hồng nhạt đến tím đinh hương, có khi màu nâu vàng và màu xám, thỉnh thoảng có màu lục nhạt Cuống bào tử phân sinh phân nhánh, mức độ phân nhánh lớn, gốc cuống dạng phình
to, phía trên nhỏ và uốn cong Cuống hình bình sắp xếp dạng vòng hoặc không đồng đều Bào tử phân sinh đơn bào tử, không màu, mọc thành chuỗi, hình bầu dục, bề mặt nhẵn hoặc có gai (Trần Văn Mão, 2002)
1.4.3.3 Khả năng sinh độc tố
Theo Osborrne et al (1990) cho rằng Paecilomyces fumosoroseus có khả năng gây chết loài Bemisia tabaci (B tabaci) và Bemisia argentifolii trong vòng 24-
48 giờ nhờ tiết ra các độc tố gây hại Dipicolinic acid (DPA) là chất dẫn xuất của
pyridine, được tiết ra bởi hầu hết các loại nấm ký sinh côn trùng như B bassiana,
P farinosus, P fumosoroseus và Verticillium lacanii (Shima, 1955) DPA có vai trò
quan trọng như là một nhân tố độc cho côn trùng nhất là đối với nhộng của rầy phấn
trắng Theo Fornelli et al (2004) thì liều gây chết của DPA đối với Spodoptera
frugiperda là LC50 > 16,7 mg/l ở phạm vi tế bào (Nguyễn Phước Vĩnh, 2008)
1.4.3.4 Thành tựu và ứng dụng
Năm 1981, Liang đã phân lập được nấm Pae nấm này có thể ký sinh nhiều loại thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh nửa cứng (Hemiptera), bộ cánh màng (Hymenoptera), bộ cánh vẩy (Lepidoptera) và bộ hai cánh (Diptera) Người ta sử
dụng nấm Pae để phòng trừ ngài đục quả táo và sâu róm thông (D tabulaformis)
(Trần Văn Mão, 2006)