1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁM ĐỊNH BỆNH SAU THU HOẠCH DO nấm TRÊN TRÁI THANH LONG

58 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢC Đề tài “Giám định bệnh sau thu hoạch do nấm trên trái thanh long” được thực hiện từ tháng 06 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012 tại phòng thí nghiệm Phòng trừ Sinh học, Bộ môn Bảo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THỊ TUYỀN

GIÁM ĐỊNH BỆNH SAU THU HOẠCH DO NẤM

TRÊN TRÁI THANH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

Cần Thơ, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

Tên đề tài:

GIÁM ĐỊNH BỆNH SAU THU HOẠCH DO NẤM

TRÊN TRÁI THANH LONG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

PGs Ts Trần Thị Thu Thủy Nguyễn Thị Tuyền MSSV: 3093419 Lớp: TT0973A1

Cần Thơ, 2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:

“GIÁM ĐỊNH BỆNH SAU THU HOẠCH DO NẤM

TRÊN TRÁI THANH LONG”

Do sinh viên Nguyễn Thị Tuyền thực hiện và đề nạp

Kính trình Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày 6 tháng 3 năm 2013

Cán bộ hướng dẫn

PGs Ts Trần Thị Thu Thủy

ThS Lê Thanh Toàn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo vệ Thực vật với đề tài:

“GIÁM ĐỊNH BỆNH SAU THU HOẠCH DO NẤM

TRÊN TRÁI THANH LONG”

Do sinh viên Nguyễn Thị Tuyền thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng

Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:………điểm

Ý KIẾN HỘI ĐỒNG ………

………

Cần Thơ, ngày 6 tháng 3 năm 2013 DUYỆT KHOA NN & SHƯD CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

CHỦ NHIỆM KHOA

Trang 5

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Tuyền Giới tính: Nữ

Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp

Quê quán: Ấp Mỹ Thạnh, Xã Thanh Mỹ, Huyện Tháp Mười, Đồng Tháp

Quá trình học tập:

Năm 1997-2002: học tại trường Tiểu học Thanh Mỹ I

Năm 2002-2006: học tại trường Trung Học Cơ Sở Nguyễn Văn Che

Năm 2006-2009: học tại trường Trung Học Phổ Thông Phú Điền

Năm 2009-2013: học tại trường Đại Học Cần Thơ Chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật, khóa 35, khoa Nông Nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần

Thơ

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Cần thơ, ngày 6 tháng 3 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tuyền

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới PGs.Ts Trần Thị Thu Thủy và Th.S Lê Thanh Toàn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy cố vấn học tập, quý thầy cô trong Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng – những người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học đại học

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến chị Nguyễn Thị Hàn Ni, anh Nguyễn Thanh Nam, bạn Võ Hoàng Nghiệm và các bạn trong phòng thí nghiệm Nedo đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn Các bạn thuộc lớp Bảo vệ Thực vật khóa 35 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

NGUYỄN THỊ TUYỀN

Trang 8

NGUYỄN THỊ TUYỀN, 2012 “GIÁM ĐỊNH BỆNH SAU THU HOẠCH DO NẤM TRÊN TRÁI THANH LONG” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ Cán

bộ hướng dẫn khoa học: PGs Ts Trần Thị Thu Thủy

TÓM LƯỢC

Đề tài “Giám định bệnh sau thu hoạch do nấm trên trái thanh long” được thực hiện từ tháng 06 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012 tại phòng thí nghiệm Phòng trừ Sinh học, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ nhằm mục tiêu là xác định tác nhân gây bệnh và phân biệt triệu chứng do từng loại tác nhân gây hại trên trái thanh long sau thu hoạch

Kết quả quan sát giám định ghi nhận có 9 loài nấm hiện diện và gây bệnh

trên trái thanh long, bao gồm: Colletotrichum spp., Fusarium sp., Curvularia sp., Alternaria sp., Penicilium spp., Aspergillus spp., Rhizopus sp., Mucor sp., và Helminthoporium sp

Qua quá trình quan sát 9 tác nhân gây bệnh sau thu hoạch trên trái thanh

long, nhận thấy các tác nhân Aspergillus spp., Rhizopus sp., mucor sp và Fusarium

sp là nhóm tác nhân gây ra triệu chứng thối mềm, mô trái bị thối có quầng nhũn

nước và có thể bị biến màu Các tác nhân còn lại gây bệnh trên trái nhưng không làm mô trái bị nhũn, mô bệnh bị biến màu nhưng vẫn khô ráo như nấm

Colletotrichum spp., Curvularia spp., Alternaria sp Penicillium sp và Helminthosporium sp

Trang 9

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa……….… i

Tiểu sử cá nhân……… ……iii

Lời cam đoan……….…………iv

Lời cảm ơn……….……….v

Tóm lược……….……… vi

Mục lục……….vii

Danh sách hình………ix

MỞ ĐẦU………1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……….…2

1.1 Sơ lược về cây thanh long(Hylocereus undatus Haw) 2

1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố 2

1.1.2 Đặc điểm thực vật 2

1.2 Giá trị dinh dưỡng của cây thanh long 3

1.3 Những biến đổi của trái sau thu hoạch 3

1.3.1 Quá trình chín tiếp sau thu hoạch 3

1.3.2 Những thay đổi về chất lượng bên ngoài 4

1.3.3 Những thay đổi về chất lượng bên trong 4

1.4 Dịch hại trên cây thanh long 6

1.5 Sơ lược một số loài nấm hại gây bệnh sau thu hoạch trên trái thanh long 6

1.5.1 Nấm Alternaria sp .7

1.5.2 Nấm Aspergilluss spp .7

1.5.3 Nấm Colletotrichum spp .8

1.5.4 Nấm Curvularia sp 10

1.5.5 Nấm Fusarium sp 10

1.5.6 Nấm Helminthoporium sp .11

1.5.7 Nấm Mucor sp 12

1.5.8 Nấm Penicillium spp 12

Trang 10

1.5.9 Nấm Rhizopus sp 13

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN - PHƯƠNG PHÁP……….14

2.1 Phương tiện thí nghiệm 14

2.1.1 Địa điểm thí nghiệm 14

2.1.2 Dụng cụ thí nghiệm 14

2.1.3 Thiết bị thí nghiệm 14

2.1.4 Vật liệu thí nghiệm 14

2.1.5 Các loại môi trường được sử dụng trong thí nghiệm 14

2.2 Phương pháp thí nghiệm 15

2.2.1 Thu thập mẫu bệnh 15

2.2.2 Phương pháp giám định tác nhân nấm gây hại trên trái thanh long 15

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN………18

3.1 Mô tả đặc điểm của các loài nấm gây hại trên trái thanh long và kết quả lây bệnh nhân tạo 18

3.1.1 Nấm Alternaria sp 18

3.1.2 Nấm Aspergilluss spp .21

3.1.3 Nấm Colletotrichum spp .25

3.1.4 Nấm Curvularia sp 29

3.1.5 Nấm Fusarium sp 31

3.1.6 Nấm Helminthoporium sp .35

3.1.7 Nấm Mucor sp 36

3.1.8 Nấm Penicillium spp 39

3.1.9 Nấm Rhizopus sp 41

3.2 Phân biệt triệu chứng vết bệnh trên trái thanh long 43

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ……….44

4.1 Kết luận 44

4.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO………45

Trang 11

Hình 3.12 Đặc điểm của nấm Helminthosporium sp 36

Hình 3.14 Đặc điểm của nấm Nấm Penicillium spp 40

Trang 12

MỞ ĐẦU

Thanh long là một trong các loại cây ăn trái có giá trị xuất khẩu cao của Việt Nam và trên thế giới Trái thanh long có màu sắc hấp dẫn, giá trị dinh dưỡng cao được người tiêu dùng ưa chuộng nên hiện nay các vùng trồng thanh long đang được đầu tư mở rộng và tiến tới sản xuất chuyên canh theo tiêu chuẩn GAP Thanh long được trồng tập trung ở các tỉnh Bình Thuận, Tiền Giang, Long An, Tây Ninh với diện tích là 12.837 hecta Trong đó, Bình Thuận dẫn đầu cả nước với diện tích là 9.773 hecta (76,13%), kế đến là Tiền Giang 1.666 hecta (12,98%), Long An 1.288 hecta (10,03%) Một số địa phương khác như ở miền Đông, miền Trung và miền Bắc cũng trồng thanh long rãi rác nhưng diện tích không đáng kể (Tổng cục thống

kê, 2007)

Thanh long là loại cây trồng có lợi thế cạnh tranh đứng đầu trong 11 loại trái cây mà Bộ Nông Nghiệp & PTNT đã xác định trong Hội nghị trái cây có lợi thế cạnh tranh tại Tp Hồ Chí Minh ngày 07/06/2004 Thanh long được xuất khẩu nhiều sang Trung Quốc và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á Gần đây, thanh long cũng được xuất sang cả Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và NewZealand Thanh long đem lại hiệu quả kinh tế cao và nâng cao thu nhập đáng kể cho nông dân, đặc biệt loại trái này còn góp phần lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp và chương trình xóa đói giảm nghèo (Tổng cục thống kê, 2007)

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây việc bảo quản và tồn trữ sau thu hoạch xuất hiện một số bệnh gây thiệt hại đáng kể đến năng suất và phẩm chất của trái thanh long khi đưa ra thị trường tiêu dùng cũng như xuất khẩu Xuất phát từ yêu cầu

thực tiễn trên, do đó đề tài “GIÁM ĐỊNH NẤM GÂY BỆNH SAU THU HOẠCH

TRÊN TRÁI THANH LONG (Hylocereus undatus Haw)” được thực hiện nhằm

xác định các tác nhân gây bệnh và phân biệt triệu chứng do từng loại tác nhân gây

ra trên trái thanh long sau thu hoạch

Trang 13

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY THANH LONG (Hylocereus undatus Haw)

1.1.2 Đặc điểm thực vật

Thanh long phát triển phù hợp ở vùng có khí hậu nóng ẩm, phát triển tốt trên đất hữu cơ Tuy nhiên, lại không thích hợp với những vùng có khí hậu quá nóng trên 390C, nhiệt độ thích hợp cho thanh long phát triển vào khoảng 25-300C Thanh long có thể chịu đựng được lạnh trong một thời gian ngắn, thích hợp ở nơi có cường

độ ánh sáng mạnh, nếu bị che nắng thân cành sẽ bị ốm yếu, lâu cho trái, trái nhỏ và chất lượng kém (Zee, 2004; Nguyễn Danh Vàn, 2008) Lượng mưa trung bình thuận lợi cho sự phát triển của thanh long là từ 635-1.270 mm, mưa quá mức có thể làm cho hoa và trái thanh long bị thối (Zee, 2004)

Thân cây hình tam giác với một mặt bám trên cây trụ và hai mặt còn lại nối với mặt trước dạng hình chữ T, đường kính thân trong khoảng từ 2,6-8,5 cm, hoa mọc đơn, có hình phễu, không có cuống hoa, hoa hình phiểu thường nở vào ban đêm Cây thanh long có hai loại rễ, rễ địa sinh và rễ khí sinh (Zee, 2004) Rễ địa sinh được xuất phát từ phần lõi của góc hom Rễ địa sinh tập trung ở gốc để bám xuống đất dung để hút nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây Rễ địa sinh phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt từ 0-30 cm, do đó khả năng hút nước ở tầng đất sâu kém

Trang 14

(Nguyễn Danh Vàn, 2008) Rễ khí sinh mọc ra từ thân cây, có tác dụng chủ yếu là bám chắc chắn vào trụ trồng hoặc các giá thể khác, giữ cho cây vững chắc khó bị đổ ngã, ngoài ra chúng cũng có tác dụng hút nước và chất dinh dưỡng (Zee, 2004; Nguyễn Danh Vàn, 2008) Thân thanh long thuộc loại thân leo, nếu để phát triển tự

do có thể dài tới 10-12 m Thanh long ra hoa thành từng bông riêng lẻ trên cành, sau khi thụ phấn hoa sẽ phát triển thành trái, trái từ 22-35 ngày sau thụ phấn sẽ thu hoạch được (Trần Thế Tục, 1998; Nguyễn Danh Vàn, 2008) Theo Zee (2004), trái thanh long có thể thu hoạch được sau khoảng 30 ngày nhưng có thể kéo dài thời gian trái trên cây đến 50 ngày sau trổ hoa Trong 10 ngày đầu, tốc độ phát triển của trái tương đối chậm, sau đó tăng rất nhanh về kích thước và trọng lượng (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Trái thanh long có hình bầu dục, chiều dài trái từ 13-16 cm, đường kính trái từ 10-13 cm, trọng lượng trái phổ biến đạt 200-700 gam (Vũ Công Hậu, 2000; Nguyễn Danh Vàn, 2008)

Trái thanh long phát triển nhanh nhất về kích thước và trọng lượng sau 5-25 ngày sau trổ hoa và trái tiếp tục phát triển kích thước cho đến khi thu hoạch (Nerd, 1999; Zee, 2004) Vỏ trái bắt đầu chuyển màu vào khoảng 25 ngày sau khi trổ hoa

1.2 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA TRÁI THANH LONG

Quả thanh long có tác dụng giải nhiệt, lợi tiểu và nhuận tràng Phần ăn được của quả chứa 82-83% nước, giàu vitamin C và các vitamin nhóm B (Morton, 1987) Theo Perez (2005), thì nhiều bộ phận của cây thanh long còn có tác dụng làm lành vết thương ở người bị bệnh tiểu đường Trong hạt thanh long có chứa các Proteinase

và các chất ức chế Tripxin, Kimotripxin dùng trong y học (Hoàng Thu Hà và Phạm Thị Trân Châu, 2007)

Quả thanh long có vị ngọt, mềm hơi chua dùng để giải khát Thịt quả thanh long có tác dụng chữa bệnh thiếu máu, trợ tim chữa bệnh cao huyết áp, xuất huyết não, ho (Trần Thế Tục, 1998), trị viêm cuống phổi, khó thở (Phạm Hoàng Hộ, 1999) Phần ăn được trong quả thanh long chiếm 70%, vỏ chiếm 26%, hạt chiếm 4% trong tổng trọng lượng quả tươi (Trần Thế Tục, 1998)

1.3 NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA TRÁI SAU THU HOẠCH

1.3.1 Quá trình chín sau thu hoạch

Sự chín của trái sẽ trải qua nhiều thay đổi sinh lý và sinh hoá sau thu hoạch Trái chín sẽ có nhiều sự thay đổi về màu sắc, thành phần carbonhydrate, cường độ

hô hấp, tốc độ sinh ethylene, thay đổi về tính thấm của mô, sự mềm của trái, thay đổi các acid hữu cơ, protein và sản sinh các chất bay hơi (Lê Văn Hoà, 2002) Chín sau thu hoạch là quá trình tự nhiên do enzyme nội tại của trái tiến hành, trong quá trình này sự hô hấp nghiên về phần yếm khí, quá trình thuỷ phân tăng lên, các tinh

Trang 15

bột và protopectin bị thuỷ phân, lượng acid và chất chát đều giảm xuống, protein tăng lên (Trần Minh Tâm, 2002) Khi trái chín, protopectin giảm do chuyển hoá thành pectin làm cho khả năng liên kết giữa tế bào và mô yếu và trái mềm Vitamin giảm do quá trình khử trong các mô bị phá huỷ do không khí xâm nhập, các chất màu chlorophyll giảm và carotene tăng (Nguyễn Minh Thuỷ, 2003)

1.3.2 Những thay đổi về chất lượng bên ngoài

 Sự thay đổi màu sắc vỏ trái

Khi trái chín có sự giảm tỷ lệ hàm lượng diệp lục tố a làm cho màu lục biến mất và sự tổng hợp các sắc tố mới như: carotenoid, lycopene, anthocyanin… với quá trình hô hấp và trao đổi chất bên trong trái xuất hiện những hợp chất phenol thực hiện những phản ứng tạo màu nhờ xúc tác của enzyme polyphenoloxylase, quy định màu cho từng loại trái cây khi chín (Nguyễn Văn Phong, 2000; Nguyễn Thị

Tuyết Mai, 2005)

 Sự bốc thoát hơi nước và giảm khối lượng tự nhiên

Khi còn trên cây, lượng nước bốc hơi được bù đắp thường xuyên nhờ sự hấp thu nước của rễ cây và vận chuyển nước đến các bộ phận trong cây, nhưng sau khi thu hoạch lượng nước mất đi không được bù đắp lại Theo Quách Đĩnh và ctv (1996), thì sự giảm khối lượng tự nhiên là sự giảm khối lượng của trái do quá trình bốc thoát hơi nước và tổn hao các chất hữu cơ trong quá trình hô hấp Theo Trần Minh Tâm (2002) và Phan Thị Anh Đào (2003), khoảng 75-85% sự giảm trọng lượng là do bốc thoát hơi nước, 15-25% là tiêu hao chất khô trong quá trình hô hấp

 Độ cứng của vỏ và thịt trái

Sau khi thu hoạch, độ cứng của trái bị giảm do khí ethylene sinh ra trực tiếp kích thích hoạt động của một số enzyme thủy phân, nhất là pectinase làm phân hủy hợp chất pectin ở vách tế bào Sự phân hủy đó làm giảm sự kết dính giữa các tế bào với nhau dẫn đến các tế bào rời rạc làm quả mềm ra (Rodov và ctv., 1997)

 Sự thay đổi mùi vị đặc trưng

Mỗi loại rau quả chứa thành phần tinh dầu khác nhau Tinh dầu là chất dễ bay hơi và do khi trái chín vách tế bào trở nên dễ thấm hơn, do đó mùi hương thoát

ra ngoài làm cho trái có mùi thơm ngon, có hương vị đặc trưng cho mỗi loại trái (Looney, 1970)

1.3.3 Những biến đổi về chất lượng bên trong

 Hô hấp

Sự phát triển của trái luôn thông qua các quá trình trao đổi chất, đó là quá trình đồng hoá và dị hoá Khi trái còn ở trên cây thì chủ yếu là quá trình đồng hoá (quá

Trang 16

trình tổng hợp các chất) xảy ra nhiều hơn Sau khi trái đã hái khỏi cây thì chủ yếu là quá trình phân giải các chất tích lũy được (quá trình dị hóa) Như vậy, hô hấp là quá trình sinh học cơ bản xảy ra trong trái cây khi bảo quản (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2002)

Trong quá trình chín của trái thì hô hấp được xem như là trung tâm của sự biến dưỡng và quá trình chín phụ thuộc vào cường độ hô hấp của trái (Trần Thị Kim Ba, 1998)

Cường độ hô hấp ở mỗi loại trái rất khác nhau và có thể chia làm hai nhóm trái: nhóm có bộc phát hô hấp (xoài, chuối, cà chua ) có sự gia tăng đột ngột CO2đồng thời sản sinh ra ethylene vào giai đoạn chín và nhóm không có bộc phát hô hấp (thuộc nhóm họ cây có múi và dâu tây) không có biểu hiện gia tăng hoạt tính hô hấp cũng như việc sản sinh khí ethylene ở điều kiện tự nhiên sau thu hoạch (Bùi Trang Việt, 2000; Mai Trần Ngọc Tiếng, 2001)

 Vitamin

Hàm lượng vitamin thay đổi tuỳ theo độ chín chủ yếu gồm đủ các loại vitamin

A, B, PP, E Vitamin là chất dễ bị oxy hoá và chuyển thành dạng dehydroascobic, ở dạng này dễ bị phân huỷ dưới tác dụng của nhiệt độ và nhiệt độ càng cao thì sự tổn thất càng lớn do đó bảo quản lạnh sẽ hạn chế được sự tổn thất này (Quách Đĩnh và ctv, 1996; Trần Minh Tâm, 2002)

 Sự thay đổi về hàm lượng acid hữu cơ

Trong quá trình bảo quản, acid hữu cơ bị giảm xuống và thường tổn thất nhiều hơn đường Hàm lượng acid hữu cơ giảm do cung cấp cho quá trình hô hấp, còn do

tác dụng với rượu sinh ra trong trái để tạo thành các este (Trần Minh Tâm, 2002)

Trang 17

1.4 DỊCH HẠI TRÊN CÂY THANH LONG

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Văn Hòa (2006) thành phần bệnh hại trên thanh

long gồm: bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gloeosporioides, bệnh thối trái do nấm Fusarium sp., thối bẹ do nấm Alternaria sp., Fusarium sp và bacteria, rám cành do nấm Macssonia agaves, Sphaceloma sp., đốm cành do Glocosporium avages, đốm nâu do Ascochyta sp và đốm đen do Capnodium sp Bên cạnh đó, còn

bệnh ghẻ và nấm bồ hóng chưa xác định tác nhân

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về những bệnh ảnh hưởng trên cây thanh long như thối thân, thối trái và cây bị ảnh hưởng bởi virus X ở Đài Loan và Nhật Bản, đốm thân ở Mexico, bệnh loét ở Nhật Bản và Mỹ Bệnh loét cũng gây hại trên thanh long ở Brazil, tác giả cho rằng bệnh loét là do nấm

Colletotrichum gloeosporioides gây ra (Masyahit, 2009)

Trên thanh long có một số bệnh chủ yếu quan trọng như thối nhũn thân do vi

khuẩn Xanthomonas campestris Bệnh này do nguyên nhân tưới nước quá nhiều và

ẩm độ cao đã được báo cáo ở Mỹ và Úc Bệnh đốm nâu do nấm Dothiorella và loét cũng xuất hiện ở vùng Florida và Nicarague, bệnh thối thân do nấm Botryosphaeria dothidea ở Mexico, bệnh thối nhũn trái thanh long do vi khuẩn Erwinia sp và nấm Rhizopus sp ở Long An và Tiền Giang (Nguyễn Văn Thanh, 2010) Theo tài liệu đã

báo cáo ở các vùng trồng thanh long trên thế giới và VietGAP thanh long Bình

Thuận thì bệnh thán thư do nấm Colletotrichum spp là phổ biến nhất trên trái thanh

long và cả trên cây Ở Colombia, hầu hết những vùng trồng thanh long đều bị nhiễm bệnh do nấm vùng rễ (Gunasena, 2006)

Một số nghiên cứu trước đó đã thành công và ghi nhận một số loài nấm gây bệnh

khác nhau, chẳng hạn như Alternaria sp., Ascochyta sp., Aspergillus sp., Bipolaris cactivora Botryosphacria doth ulea, Capnodium sp., Colletotrichum gloeosporioides, Dothiorella sp., Fusarium sp., Gloeosporium agavts, Macssonina agaves, Phytophthora sp và Sphaceloma sp (FAO, 2004; Sijam và ctv, 2008; Ie

Bellec và ctv 2006; Palmateer và ctv, 2007; Pauli, 2007; Taba và ctv, 2006, 2007; Valencia-Botin và ctv, 2003; Wang và Lin, 2005) Trong bán đảo Malaysia, một số

nấm trên cây trồng này, chẳng hạn như Bipolaris sp., Botryosphaeria sp., C gloeosporoides và Monilinia sp Thối hoa và thân, bệnh đốm nâu, bệnh thán thư và

trái cây màu nâu thối được tìm thấy trên cây trồng này, tương ứng (Masyahit và ctv, 2009)

Trang 18

Britt và Rose đã quan sát ở tỉnh Okinawa vào năm có một loài

Colletotrichum được phân lập từ các loại thân, trái thanh long bị bệnh và xác định được tác nhân là Colletotrichum gloeosporioides (Taba Satoshi và ctv, 2006, 2007)

1.5 SƠ LƯỢC VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ LOẠI NẤM GÂY BỆNH

1.5.1 Nấm Alternaria sp

Nấm Alternaria sp thuộc ngành Deuteromycotina, lớp Hyphomycetes, bộ

Moniliales, họ Demathiaceae (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Sợi nấm của Alternaria sp có màu nâu xám, mãnh, có vách ngăn và có kích

thước trong khoảng 17-40 x 3,0-3,9 μm Chúng sinh các cành bào đài ngang, mọc đơn và thẳng, cành bào đài có màu nâu, sinh ra các chuỗi bào tử đơn hoặc phân nhánh, trong một chuỗi thường có khoảng 9 bào tử Bào tử màu nâu, có nhiều vách ngăn ngang và vách ngăn dọc, thường có từ 3-4 vách ngăn ngang và 1-2 vách ngăn dọc; có kích thước biến động trong khoảng 18-45 x 6,5-15,5 μm, hình dạng thay đổi

từ hình trụ đến hình elip hoặc hình trứng hoặc hình quả lê Bào tử được đính ở phần gốc, phần còn lại được gọi là phần phụ, phần này phát triển đơn lẻ hoặc phân nhánh (nếu có), bào tử dễ dàng rụng bởi gió Nấm ký sinh hoặc hoại sinh thực vật (Barnett

và Hunter, 1998; Agrios, 2005)

Tản nấm trên môi trường PDA trong điều kiện 12 giờ xen kẻ sáng, tối dưới ánh sáng cận cực tím có màu xám nhạt, mặt sau có màu hồng sẫm hoặc màu tím (Agarvval, 1989)

và có màng bao quanh, có đường kính 20-50 µm (Kirk và ctv., 2001; Pitt và Hocking, 2009)

Trang 19

Cành bào tử thẳng đứng, đơn bào, cuối cành bào tử là túi (bọng) có hình cầu hoặc hình chùy, mang thể bình ở đỉnh hoặc toàn bộ bề mặt Bào tử đơn bào, hình cầu hoặc hình chùy, màu sắc thường khác nhau tuỳ theo loài, bào tử được sinh ra trực tiếp từ đỉnh của thể bình hoặc nhiều bào tử nối liền nhau thành dạng chuổi mọc trên thể bình (Banett và Hunter, 1998)

Burgess và ctv (2009) cho rằng tản nấm của Aspergillus flavus có màu xanh

và có đài không màu, tản nấm của A niger có màu đen và có đài màu nâu

Nấm gây hại làm thối trái, ban đầu là những chấm nhỏ 1-2 mm, bệnh phát triển rất nhanh và lan ra theo vòng tròn Vết bệnh nhũn nước và có màu nâu nhạt Viền vết bệnh có màu nâu sậm, bào tử nấm xuất hiện dầy đặc trên mô bệnh (Weber,

1973) Nấm Aspergillus spp hiện diện phổ biến trong đất và không khí, ngoài ra

nấm còn có khả năng tồn tại trên hạt giống (CABI, 2001)

Theo Ruiqian và ctv (2004), Aspergillus flavus thuộc chi Aspergillus và là loài phổ biến thứ hai sau A fumigatus Khuẩn lạc A flavus phát triển nhanh chóng

đạt đường kính 6-7 cm trong 10-14 ngày Khuẩn lạc ban đầu có màu vàng, chuyển dần sang màu xanh vàng hoặc xanh oliu và để lâu ngày sẽ có màu xanh đậm Hình dạng phẳng, có một vài nếp nhô lên hình tia Mặt sau đĩa Petri, không màu hoặc có màu nâu pha vàng hay hồng rất lợt Dạng môi trường phân biệt được gọi là

Aspergillus flavus and parasiticus agar (AFPA) dùng để nhận dạng Aspergillus flavus Bởi vì trong môi trường này bào tử A flavus có màu đặc trưng từ vàng xanh

đến vàng oliu Mặt sau đĩa Petri, có màu cam tươi Ngoài ra còn nhiều đặc điểm khác ghi nhận được khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử như chiều dài cành bào đài 400-800 µm, đường kính đài (bọng) 25-45 µm, có thể có từ một hoặc hai thể

bình mọc thành đường tròn xung quanh cuống, bào tử nấm A flavus trơn láng còn

A parasiticus nhăn, xù xì Cả 2 loài đều có khả năng hình thành hạch (sclerotia)

 Loài Colletotrichum capsici: sợi nấm có dạng phân nhánh, có vách ngăn

Đĩa đài có dạng bán cầu, có đường kính từ 70-120 µm với nhiều gai cứng Các gai cứng nằm rải rác, màu nâu đen có vách ngăn và dài trên 150 µm Tản nấm có màu

từ trắng đến xám, tại tâm đĩa sợi nấm có màu xám xanh và thường bong lên Bào tử

Trang 20

có dạng hình liềm, hơi cong, kích thước bào tử trung bình 26,0-31,5 x 6,5-6,9 µm Kích thước đĩa áp trung bình là 9,5 x 6,5 µm Tốc độ phát triển của tản nấm trên môi trường PDA là 7,1 mm/ngày (Sharma và ctv., 2005; Than và ctv., 2008)

Sawant và ctv (2012) mô tả khuẩn lạc Colletotrichum capsici phát triển

chậm với tốc độ 3,86mm/ngày trên môi trường Czapek Dox Agar ở nhiệt độ 30oC Khuẩn lạc màu nâu trắng nhạt và sau đó chuyển sang xám hoặc màu xanh rêu Đĩa đài xuất hiện rãi rác hoặc trong vòng đồng tâm Bào tử hình liềm với kích thước 21,7 x 5,1 µm

Hartman và Wang (1989) mô tả màu sắc khuẩn lạc của C capsici ban đầu là

màu trắng rồi chuyển sang màu xám tro, sau đó phát triển nhanh chóng Sợi nấm khí sinh có màu xám nhạt cho đến màu xám đậm và hình thành trên bề mặt khuẩn lạc, đôi khi thấy sự phát triển dày đặc ở một vài chỗ trong đĩa Petri Bào tử xuất hiện rất nhiều trong khối bào tử có màu nâu sẫm đến màu hồng da cam

Shenoy và ctv (2007) đã mô tả và ghi nhận các đặc điểm nấm gây hại trên

mô trái ớt bệnh và trên môi trường nuôi cấy như sau:

+ Trên môi trường PDA, sợi nấm ban đầu có màu trắng và chuyển sang xám xanh Mặt sau đĩa Petri, tản nấm có màu xám xanh Tản nấm đạt kích thước 85 mm đường kính trong 10 ngày Sợi nấm khí sinh có màu từ trắng đến xám Đĩa đài màu nâu đen đến đen, có gai cứng Cành bào đài đơn lẻ, trong suốt, có vách ngăn, đôi lúc phân nhánh với đỉnh có dạng hình nón Bào tử đơn bào, vách nhẵn, trong suốt, hình liềm và 2 đỉnh bào tử có dạng hình nón với kích thước từ 16-22 x 4 µm Đĩa áp nuôi cấy trên lam có màu nâu đậm, hình cầu hoặc hình oval, vách nhẵn với kích thước khoảng 8-30 x 5-10 µm Sợi nấm không màu, phân nhánh, có vách ngăn, thỉnh thoảng phát triển thành cấu trúc lưu tồn phức tạp

+ Vết bệnh trên mô trái ớt hình elip đến hình tròn với kích thước 0,75-1,5 cm Đĩa đài trên bề mặt mô trái có đường kính 85-200 µm, trung bình 122,7µm, màu nâu đến đen, xếp thành vòng đồng tâm trên vết bệnh, nó còn phá vỡ vách tế bào cây

ký chủ ngoài ra còn xuất hiện nhiều gai cứng với vô số bào tử Gai nấm có kích thước 90-140 x 4-7µm, trung bình 109 x 5,2µm, màu nâu, có từ 1-5 vách ngăn, vách nhẵn, cứng, phía cuối của gai cứng hơi phình ra và hẹp dần lên phía trên, đỉnh của gai thì sắc nhọn có dạng hình nón Cành bào đài có kích thước từ 16-26 x 3-4

µm, trung bình 19x 3,8µm, trong suốt cho đến màu nâu nhạt, phân nhánh và dạng hình nón ở phía đỉnh sợi nấm Bào tử có kích thước 16-25 x 3-4 µm, trung bình 21,5x 3,74µm, đơn bào, vách nhẵn, trong suốt, có dạng hình liềm, nhọn ở hai đầu

 Loài Colletotrichum gloeosporioides: trên môi trường PDA, tản nấm có

màu xám nhạt đến đen, tốc độ phát triển của tản nấm là 11,2 mm/ngày, khối bào tử

có màu hồng cam hoặc cam Đĩa đài có hoặc không có gai cứng, đường kính đĩa đài

Trang 21

trong khoảng 500 µm Bào tử nấm không màu, hình trụ Kích thước 9,0-24,0 x

3,0-4,5 µm Nấm Colletotrichum gloeosporioides có đĩa áp dạng trứng ngược hoặc

trứng không đều, đôi khi trở nên phức tạp, có kích thước biến động từ 6,0-20 x

4-12 µm (Sutton, 1980; Swart, 1999, trích dẫn bởi Lê Hoàng Lệ Thủy, 2004) Phổ ký

chủ rộng (đa ký chủ) phân bố khắp nơi trên thế giới (Agrios, 2005)

 Cơ chế gây hại của nấm Colletotrichum spp.: thông thường bào tử Colletotrichum spp nẩy mầm cần có nước và đủ độ ẩm sau 4 giờ và sau đó tiến

hành xâm nhiễm bằng cách tấn công len lỏi giữa hai vách tế bào ký chủ, trong quá trình đó chúng tiết ra enzyme và độc tố phân hủy vách tế bào, màng nguyên sinh chất của ký chủ để hấp thu dưỡng chất cần thiết (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998; Phạm Văn Kim, 2000)

Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003), nấm Colletotrichum spp phát triển

thích hợp nhất ở nhiệt độ 23-250C, chết ở 450C trong 10 phút Nhiệt độ dưới 30C thì nấm sẽ ngừng phát triển, bệnh xuất hiện và thường phát triển nặng vào mùa mưa và vào cuối thời kỳ bảo quản (Weber, 1973; Hà Văn Thuyết & Trần Quang Bình,

2000; Nguyễn Văn Kê, 2001) Một số chủng nấm Colletotrichum spp có thể lưu tồn

trên các cây ký chủ phụ, cây hoang dại, tàn dư thực vật và trên các mô trái bị bệnh bào tử có thể lưu tồn trong mô bệnh khoảng 10 tháng, trong một số trường hợp khi gặp điều kiện bất lợi, nấm hình thành cấu trúc dạng hạch để lưu tồn (Phạm Văn

Biên và ctv., 2003; Sharma, 2006)

1.5.4 Nấm Curvularia spp

Nấm thuộc bộ nấm bông (Moniliales), lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes) (Barnett và Hunter, 1998)

Vũ Triệu Mân (2007), cho biết có khoảng 14 loài gây hại trên nhưng phổ biến

nhất là Curvularia lunata và Curvularia geniculata Giai đoạn hữu tính là Cochliobolus lunatus và Cochliobolus geniculata

Barnett và Hunter (1998) đã mô tả nấm có bào tử màu sậm, tế bào ở hai đầu có màu nhạt hơn, có từ 3-5 tế bào, xu hướng đặc trưng là tế bào ở giữa thường lớn

1.5.5 Nấm Fusarium spp.

Nấm Fusarium spp thuộc ngành Deuteromycotina, lớp Hyphomycetes bộ Tuberculariales, họ Tuberculariaceae, thuộc chi Fusarium (Vũ Triệu Mân, 2007)

Trong các loại bệnh trong đất, Fusarium là một trong những chi nấm gây

nhiều thiệt hại trên diện rộng và ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây trồng Chi này

Trang 22

đã được Leslie và Summerell (2006) phân loại đến 70 loài, gây nhiều tổn thất lớn

cho ngành rau màu và hoa kiểng trên thế giới

Nấm Fusarium là chi lớn nhất trong họ Tuberculariaceae, chúng hoại sinh

hoặc ký sinh trên nhiều loại cây trồng, trong đó nấm là nguyên nhân chính làm héo

rủ cây rau và cây ăn trái Việc phân loại, giám định các loài nấm Fusarium spp có

thể dựa vào các chỉ tiêu cơ bản như: màu sắc tản nấm, sự thay đổi của môi trường, hình thái sợi nấm, thể bình, hình dạng đại bào tử, tiểu bào tử, bào tử áo… Giai đoạn

hữu tính hầu hết đều thuộc chi Gibberella, một số loài thuộc chi Nectria Tản nấm của Fusarium thường có dạng sợi mịn, sợi nấm màu cam, vàng kem hay trắng,

nhầy và có vách ngăn Sợi nấm tiết ra enzyme để phân giải chất hữu cơ từ bên ngoài thành hợp chất dễ hòa tan để thẩm thấu qua màng tế bào (Nelson và ctv., 1981)

Barnett và Hunter (1998) mô tả nấm Fusarium có bào tử trong suốt, đơn

hoặc đa bào, bào tử hơi cong nhọn ở đầu, dạng hình liềm Có hai dạng bào tử: một

là bào tử nhỏ, đơn bào, hình trứng hay hình chữ nhật Dạng hai là đại bào tử, hình liềm có từ 2 đến 3 tế bào Sợi nấm có thể có màu vàng, tím, hồng khi nuôi cấy trên môi trường Nấm có thể sống kí sinh trên thực vật hoặc hoại sinh Cành bào đài phân sinh, nhỏ, có thể phân nhánh hoặc uốn thành đường xoắn ốc

Trên môi trường PDA, tản nấm xốp, màu hồng nhạt, sau khi cấy 4-5 ngày hình thành sắc tố màu đỏ tím Trên môi trường CLA, bào tử được hình thành rất nhiều, sản sinh các loại bào tử gồm tiểu bào tử (khi gặp điều kiện thoáng khí), đại bào tử (hình thuyền) và bào tử áo (hiện diện tùy loài và môi trường Đại bào tử hơi cong hình lưỡi liềm, có 3-5 vách ngăn, kích thước từ 27- 46 x 3-5 µm, không màu hoặc màu vàng nhạt Tiểu bào tử hình ô van hoặc elíp, kích thước từ 5-12 x 2,2-3,5 µm, không có vách ngăn, bào tử được hình thành trong bọc giả Trên môi trường PDA, sau khi cấy 3-5 tuần nấm hình thành hậu bào tử Hệ sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn, sợi nấm thường không màu, chuyển màu nâu khi già

(Weber, 1973; Vũ Triệu Mân, 2007) Còn theo Malathi và Mohan (2012) kích

thước đại bào tử dao động từ 20,25-27,43 x 2,36-3,16 µm Kích thước của tiểu bào

tử từ 7,1-8,43 x 2,14-2,67µm

Nấm Fusarium là nấm đa thực, phạm vi ký chủ ngày càng mở rộng trên

nhiều loại cây trồng khác nhau như lúa, bắp, cà, chuối, táo, mía, đậu,… (Agrios, 2005)

1.5.6 Nấm Helminthosporium sp

Nấm Helminthosporium thuộc lớp nấm bất toàn Deuteromycetes, bộ

Moniliales(Barnett và Hunter, 1989)

Trang 23

Bào tử thon dài, có 2-7 vách ngăn, màu nâu, kích thước bào tử 11,3-28,2 μm

x 11,3-118 μm (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)

Đính bào đài không phân nhánh, phần đỉnh cong như đầu gối, cành mọc thành cụm 2-3 chiếc, cành có 4-10 vách ngăn, cành màu nâu tối, phía đỉnh cành màu sáng hơn, kích thước 8-11 μm x 280-507 μm (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)

Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) mô tả Helminthosporium oryzae là sợi

nấm đa bào, phân nhánh, đường kính 4-5µm, màu nâu vàng Cành thường mọc thành cụm từ 2-5 bào tử, cành đa bào, gốc hơi lớn hom phía đầu cành, hơi gãy khúc, màu nâu nhạt Bào từ hình con nhộng, thon dài, hai đầu hơi tròn có từ 3-11 màng ngăn, màu vàng nâu Kích thước của bào từ 25,8-184,9μm x 15,05-23,6μm Trên môi trường PDA khuẩn lạc có màu trắng xốp rồi xám nâu đen

1.5.7 Nấm Mucor sp

Martin (1961) phân chia bộ Mucorales gồm có 9 họ nhưng theo Hesseltine

và Ellis (1973) chia bộ này thành 14 họ khác nhau, trong đó họ Mucoraceae là quan trọng nhất và trong họ này được chia thành 20 giống, hai chi chiếm ưu thế quan

trọng hàng đầu là chi Rhizopus và chi Mucor

Nấm Mucor sp thuộc ngành Zygomycota, lớp Zygomycetes, bộ Mucorales,

họ Mucoraceae, chi Mucor (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Sợi nấm không có vách ngăn Nấm có thể chiếm hết đĩa petri với sợi nấm mọc lỏng lẻo chỉ nuôi cấy trong vòng 2 ngày sẽ được bào tử trưởng thành Cuống bào tử có thể đơn lẻ, có thể được phân nhánh hoặc không phân nhánh Túi bào tử

có màu nâu khi già và dễ dàng vỡ ra để phóng thích bào tử theo gió Quan sát được túi bào tử nguyên vẹn là rất hiếm, các cấu trúc chủ yếu nhìn thấy là lõi trên thân nấm còn lại nguyên vẹn Cách thức mà các lõi sụp đổ sau khi tan rã túi bào

tử, cung cấp thông tin phân loại hữu ích (trích dẫn từ Pitt và Hocking, 2009)

Trang 24

1.5.9 Nấm Rhizopus sp

Nấm Rhizopus thuộc ngành Zygomycota, lớp Zygomycetes, bộ Mucorales,

họ Mucoraceae (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Theo Nguyễn Văn Bá và ctv (2005), sợi nấm có màu trắng, phân nhánh, đa nhân và không có vách ngăn ngang Hầu hết các sợi nấm có dạng như sợi bông gòn khi còn non, sau đó phát triển sâu vào cơ chất thì phân chia thành 3 dạng khuẩn ty:

khuẩn căn (rhizoids), khuẩn ngang (stolon) và cọng mang túi bào tử (sporangiophores)

Theo Zheng và ctv (2007), điểm đáng chú ý và dễ thấy của chi Rhizopus là

cuống túi bào tử và sự hình thành rễ giả, tùy theo độ tuổi mà lõi thường sụp xuống thành hình dạng chiếc ô, bào tử túi thường khô ráo có những vằn, sọc bên ngoài Đây là đặc điểm phân loại đầy đủ gần đây nhất và theo phương pháp này 10 loài

Rhizopus đã được phân loại chấp nhận Khuẩn lạc khi nuôi cấy trên môi trường

MEA có màu nâu nhạt, phát triển đầy toàn bộ đĩa petri, sợi nấm màu trắng mang túi bào tử phía trên và phía dưới có khuẩn căn (rễ giả) rất dễ thấy Lúc đầu túi bào tử còn non có màu trắng, với sự trưởng thành nhanh chóng sau đó trở thành màu đen Kích thước túi bào tử đạt đường kính từ 100-350 µm, thường hình cầu, mọc lởm chởm chiếm hết khoảng trống của đĩa petri Từ một cụm khuẩn căn có thể sinh ra từ 3-5 cuống túi bào tử, cuống không phân nhánh

Hầu hết những loài Rhizopus là những loài hoại sinh như trên: bánh mì, nấm

hiện diện trong đất, trong trái cây hư, củ ký sinh trong rễ khoai tây, táo, dâu, cà

chua Nhiều loại rau cũng dễ bị hư hỏng bởi Rhizopus stolonifer (Snowdon, 1991),

lúa mì và lúa mạch (Lugauskas và ctv., 2006), đậu nành (Tariq và ctv., 2005), đậu

phộng (Gachomo và ctv., 2004), Rhizopus stolonifer là một loại nấm có tính phổ

biến, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, hầu như tất cả các loại thực phẩm tươi, ẩm ướt hoặc khô đều bị gây hại (Pitt và Hocking, 2009)

Tuy nhiên chưa tìm thấy tài liệu nghiên cứu nào về bệnh hại, cũng như mô tả triệu chứng các bệnh hại trên trái thanh long sau khi thu hoạch

Trang 25

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM

2.1.1 Địa điểm thí nghiệm

Công tác xác định thành phần nấm bệnh gây hại trên trái thanh long sau khi thu hoạch được thực hiện tại phòng thí nghiệm Phòng trừ Sinh học và khu vực nhà lưới của Bộ môn Bảo vệ Thực vật - Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng - Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 06 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012

2.1.2 Dụng cụ thí nghiệm

Đĩa petri, bình tam giác, chai thủy tinh, micropipet, bọc nylon, đèn cồn, đũa cấy, kim mũi giáo, ống đục tròn, kéo, kẹp, giấy thấm, hóa chất…

2.1.3 Thiết bị thí nghiệm

Tủ thanh trùng khô, tủ thanh trùng ướt, tủ úm, tủ cấy, cân điện tử, máy đo

pH, kính soi nổi, kính hiển vi, lame, lamelle, đèn néon, nồi chưng cách thủy…

2.1.4 Vật liệu thí nghiệm

Mẫu bệnh trái thanh long là giống thanh long ruột trắng phổ biến trên thị trường Các mẫu bệnh được thu thập trực tiếp tại các chợ trái cây trên địa bàn quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ

2.1.5 Các loại môi trường được sử dụng trong thí nghiệm

 Môi trường Water Agar (Atlas, 2004)

Trang 26

2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

2.2.1 Thu thập mẫu bệnh

Các mẫu bệnh sau thu hoạch trên trái thanh long được thu về từ các chợ sau

đó cho vào bọc nylon và tồn trữ trong tủ lạnh 50C cho đến khi quan sát

Cách thu mẫu từ các chợ: mỗi chợ thu ngẫu nhiên các trái có vết bệnh và các trái chưa có triệu chứng bệnh

2.2.2 Phương pháp giám định tác nhân nấm gây hại trên trái thanh long

 Phương pháp nuôi cấy trên lame

Phương pháp này dùng để quan sát bào tử nấm và cách đính của bào tử trên cành bào đài Các vật liệu cần chuẩn bị thí nghiệm gồm 1 đĩa petri có lót giấy thấm + 1 lame + 2 lamelle, thanh trùng khô; đổ môi trường Water Agar vào đĩa petri (dầy 3mm) Cắt hai miếng môi trường (khoảng 1 cm2) đặt lên 2 đầu của lame, sau đó vít sợi nấm cấy một điểm ngay giữa môi trường, đậy lamelle lại; dùng pipet nhỏ vài giọt nước cất vô trùng lên giấy thấm để giữ ẩm; đậy nắp đĩa petri và quan sát sau 2 hoặc 3 ngày (Phan Thúy Hiền, 2009)

Nguyên tắc giám định

Nấm được định danh dựa vào các đặc điểm tản nấm, đính bào đài và bào tử

và được giám định theo 4 bước của quy tắc Koch (Agrios, 2005)

 Xác định nấm gây hại theo quy tắc Koch, gồm bốn bước

Bước 1: Mô tả triệu chứng và tìm mầm bệnh trong mô bệnh trên trái bằng phương pháp ủ trái trong bọc nylon để tránh tiếp xúc và lây nhiễm từ bên ngoài, ở nhiệt độ phòng để tác nhân gây bệnh phát triển, nhiệt độ khoảng 300C, ẩm độ >95% khoảng 2-3 ngày

Bước 2: Phân lập và tách ròng mầm bệnh

 Quan sát tác nhân gây bệnh dưới kính soi nổi

Mẫu trái bệnh khi ủ 2-3 ngày, đem quan sát dưới kính soi nổi để ghi nhận màu sắc và cách mọc của từng loài nấm, tiến hành chụp hình lại vết bệnh trên trái bệnh

 Quan sát dưới kính hiển vi và xác định tên nấm gây bệnh:

Trái bệnh sau khi ủ 2-3 ngày, tiến hành làm tiêu bản và quan sát dưới kính hiển vi để mô tả hình dạng, màu sắc của sợi nấm, bào tử, đính bào đài và ghi nhận kích thước của bào tử (mỗi loài nấm tiến hành đo ngẫu nhiên kích thước của 20 bào

tử dưới kính hiển vi quang học ở vật kính X40) Thực hiện phương pháp nuôi cấy trên lame để quan sát thêm một số đặc điểm của nấm và chụp hình

Trang 27

 Phân lập tách ròng:

Phân lập các tác nhân gây hại trên trái thanh long bị bệnh, tách ròng làm thuần bằng phương pháp cấy đơn bào tử hay đỉnh sinh trưởng sợi nấm theo phương pháp của Burgess và ctv (2009) và cất trữ nguồn nấm để thực hiện các thí nghiệm

kế tiếp Quan sát sự phát triển của tản nấm trên môi trường PDA, ghi nhận các chỉ tiêu như màu sắc, cách mọc trên môi trường, tiến hành đo đường kính của tản nấm trên môi trường PDA ở thời điểm 7 ngày sau khi nuôi cấy

Bước 3: Lây nhiễm mầm bệnh đã phân lập vào trái thanh long khỏe Quan sát lại triệu chứng bệnh xuất hiện, mô tả kích thước, hình dạng, màu sắc vết bệnh

 Chuẩn bị những trái khỏe sạch bệnh, rửa sạch bằng nước, sau đó lau qua cồn

700 và để trong tủ thanh trùng cực tím trong 5 phút để loại các mầm bệnh còn bám lại trên trái sau đó tiến hành lây bệnh nhân tạo

 Phương pháp lây bệnh nhân tạo:

Nuôi cấy nguồn nấm cần lây bệnh trong đĩa Petri trên môi trường PDA, các dụng cụ sử dụng để lây bệnh như kim tạo vết thương bó lại thành cụm 5 kim, ống hút, kim chích, nắp nhựa, nắp đĩa petri giữ cho trái cố định, đều được thanh trùng

Dùng pipet hút 10-15 ml nước cất thanh trùng cho vào đĩa và dùng lam đã thanh trùng phân tán bào tử trên đĩa để tạo huyền phù bào tử nấm Sau đó, tiến hành đếm mật số bào tử của huyền phù bằng lame đếm, mật số bào tử dùng để sử dụng lây bệnh nhân tạo là 106 bào tử/ml Các trái khỏe được tạo vết thương bằng bó kim rồi dùng kim tiêm hút dung dịch huyền phù nấm bơm lên trên vết thương Tiếp đó cho trái vào bọc nylon, dùng mẫu giấy thấm nước cất thanh trùng để tạo ẩm độ, buộc bọc tạo độ phì để tránh tiếp xúc giữa mô trái và bọc nylon Đặt các mẫu đã được lây bệnh ở nhiệt độ 250C Sau khi lây bệnh tiến hành theo dõi thường xuyên

để ghi nhận biểu hiện bệnh trên trái và chụp hình lại ở thời điểm 7 ngày sau khi lây bệnh (Hình 2.1)

Trang 28

Bước 4: Tái phân lập mầm bệnh từ vết bệnh được lây bệnh nhân tạo sang môi trường PDA và so sánh với mầm bệnh ban đầu

Trang 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Trong tất cả các mẫu bệnh trên trái thanh long, hầu hết các mẫu đều biểu hiện triệu chứng thối, phần mô bệnh chuyển sang màu nâu nhạt đôi khi bị lõm xuống Mô bệnh thay đổi từ hơi khô đến nhũn Bên trên vết bệnh có sợi nấm và bào

tử phát triển Nấm có thể gây hại cả trên thân và trên cuống trái Qua quá trình phân lập, tách ròng, định danh và lây bệnh nhân tạo, xác định được 9 tác nhân gây bệnh

trên trái thanh long gồm Alternaria sp., Aspergillus spp., Colletotrichum spp., Curvularia spp., Fusarium spp., Helminthosporium sp., Mucor sp., Penicillium sp

và Rhizopus sp Những đặc điểm của vết bệnh và tác nhân gây hại sẽ được mô tả chi

tiết trong phần bên dưới

3.1 MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC LOÀI NẤM GÂY HẠI TRÊN TRÁI THANH LONG VÀ KẾT QUẢ LÂY BỆNH NHÂN TẠO

3.1.1 Nấm Alternaria sp

 Triệu chứng bệnh

Sau 4 ngày lây bệnh, trên mô xuất hiện vết lõm ở vị trí lây bệnh, vết bệnh có hình tròn, phần mô bệnh chuyển sang màu vàng nhạt và không nhũn nước Sau 7 ngày lây bệnh, phần mô bệnh lan rộng ra xung quanh, ở vị trí tạo vết thương trên

mô trái có một lớp nấm màu trắng xám phát triển, vết bệnh phát triển chậm và đạt đường kính 3,8 cm (Hình 3.1A)

 Đặc điểm phát triển của tản nấm

Trong quá trình nuôi cấy, nhận thấy tản nấm có hình tròn, sợi nấm mảnh, có màu xám lông chuột và phát triển khá nhanh trên môi trường Tuy nhiên có sự khác biệt đôi chút về hình dạng của tản nấm khi nuôi cấy trên môi trường PDA sau 7 ngày nuôi cấy

Dạng tản nấm ở Hình 3.1B & C đạt đường kính 7,8 cm Ở mặt trên tản nấm, phần tâm có màu xám nhạt, có nhiều sợi nấm mọc khí sinh trên mặt môi trường, vòng ngoài cùng có màu trắng với phần rìa phát triển đều mọc sát môi trường và thưa Mặt dưới tản nấm là một khối màu xanh đen với rìa màu trắng phát triển dạng tỏa tròn

Dạng tản nấm ở Hình 3.1D & E đạt đường kính 7 cm Ở mặt trên tản nấm có màu xám đậm với một đường viền màu trắng đục, sợi nấm phát triển bện chặt, phần tâm sợi nấm phát triển nhô cao Mặt dưới tản nấm là một khối màu xanh đen với rìa màu trắng đục

Ngày đăng: 08/04/2018, 23:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w