Kết quả xác định thành phần nấm gây hại trên 30 mẫu lúa bằng phương pháp Blotter, tại Tiền Giang trong v Hè Thu 2011 ghi nhận có 17 loài nấm gây hại trên hạt là Curvularia lunata, Altern
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Ngành BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
GIÁM ĐỊNH BỆNH DO NẤM TRÊN HẠT LÚA TẠI TỈNH TIỀN GIANG TRONG VỤ HÈ THU 2011
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3083820
Lớp: TT0873A1
Cần Thơ, 2012
Trang 3i
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:
Do sinh viên Lâm Chí Tâm thực hiện
Kính trình Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
PGs.Ts Trần Thị Thu Thủy
Trang 4ii
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật với đề tài:
“GIÁM ĐỊNH BỆNH DO NẤM TRÊN HẠT LÚA TẠI
TIỀN GIANG TRONG VỤ HÈ THU 2011 ”
Do sinh viên Lâm Chí Tâm thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng, ngày 14
tháng 06 năm 2012
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:……….điểm
Ý KIẾN HỘI ĐỒNG ………
………
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỦỌC ƯD CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 5iii
Ngày sinh: 15/01/1990 Dân tộc: Kinh
Nơi sinh: Mỹ An, Tháp Mười, Đồng Tháp
Quá trình học tập:
Năm 1996-2001: học tại trường Tiểu Học Mỹ An
Năm 2001-2005: học tại trường Trung Học Cơ Sở Mỹ An
Năm 2005-2008: học tại trường Trung Học Phổ Thông Tháp Mười
Năm 2008-2012: học tại trường Đại Học Cần Thơ, chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật khóa 34, khoa Nông Nghiệp Sinh Học ng D ng, trường Đại học Cần Thơ
Trang 6iv
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Lâm Chí Tâm
Trang 7v
Kính dâng lên Cha Mẹ, người đã hết lòng nuôi con khôn lớn nên người
Chân thành biết ơn:
Cô Trần Thị Thu Thủy và thầy Lê Thanh Toàn đã tận tình hướng dẫn, giúp tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Thầy cố vấn học tập, quý thầy cô Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học ng D ng đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm bổ ích cho em
Chị Nguyễn Thị Hàn Ni và các bạn trong phòng thí nghiệm Nedo đã giúp đỡ trong suốt quá trình làm luận văn
Cám ơn bạn Nguyễn Thị Ngọc Vẹn, Nguyễn Thanh Nam và Nguyễn Thị Nhường
đã giúp đỡ trong quá trình thu mẫu
Chân thành cảm ơn
Các bạn lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 34 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Trang 8vi
TIỂU SỬ CÁ NHÂN iii
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
TÓM LƯỢC xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Thiệt hại do bệnh lem lép hạt 2
1.2 Kết quả nghiên cứu trên thế giới về bệnh trên hạt lúa 3
1.3 Kết quả nghiên cứu trong nước về bệnh trên hạt lúa 5
1.4 Sơ lược các tác nhân nấm gây lem lép hạt lúa 6
1.4.1 Nấm Pyricularia oryzae 6
1.4.2 Nấm Bipolaris oryzae 6
1.4.3 Nấm Alternaria pacwickii 8
1.4.4 Nấm Fusarium spp 9
1.4.5 Nấm Ustilaginoidea virens 10
1.4.6 Nấm Tilletia barclayana 11
1.4.7 Nấm Curvularia spp 12
1.4.8 Nấm Nigrospora spp 12
1.4.9 Nấm Trichothecium sp 13
1.4.10 Nấm Pinatubo oryzae 13
1.5 Sơ lược về các giống lúa trong thí nghiệm 13
1.5.1 Giống IR50404 13
1.5.2 Giống OM1490 14
Trang 9vii
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16
2.1 Phương tiện 16
2.1.1 Thời gian và địa điểm 16
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 16
2.1.3 Phương tiện thí nghiệm 16
2.2 Phương pháp giám định 16
2.2.1 Giám định thành phần nấm gây bệnh trên hạt 16
2.2.2 Xác định tần số xuất hiện của nấm gây bệnh 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Ghi nhận tổng quát 20
3.2 Thành phần nấm trên hạt 21
3.3 Tần số xuất hiện của các thành phần nấm gây bệnh trên hạt lúa 25
3.4 Mô tả đặc điểm của các tác nhân gây hại trên hạt 29
3.4.1 Curvularia lunata 29
3.4.3 Pinatubo oryzae 34
3.4.4 Fusarium spp 36
3.4.6 Trichothecium sp 40
3.4.7 Aspergillus sp 42
3.4.8 Tilletia barclayana 43
3.4.9 Penicillium sp 44
3.4.10 Tetraploa aristata 46
3.4.11 Ustilaginoidea virens 46
3.4.12 Chaetomium globosus 47
3.4.13 Pithomyces sp 49
3.4.14 Nigrospora oryzae 51
3.4.16 Pyricularia oryzae 55
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
4.1 Kết luận 56
Trang 10viii PHỤ CHƯƠNG
Trang 11ix
3.1 Danh sách 30 mẫu lúa bệnh lem lép hạt thu thập tại tỉnh Tiền Giang trong v
Hè Thu 2011
20
3.2 Các loài nấm gây hại hạt lúa trên các giống lúa ở ba huyện Cái Bè, Cai Lậy,
Châu Thành tỉnh Tiền Giang trong v Hè Thu năm 2011
Trang 12x
3.6 Khuẩn lạc của nấm Fusarium spp và triệu chứng trên hạt 37
3.12 Bào tử nấm Tetraploa aristata quan sát dưới kính hiển vi (40X) 46
Trang 13Kết quả xác định thành phần nấm gây hại trên 30 mẫu lúa bằng phương pháp Blotter, tại Tiền Giang trong v Hè Thu 2011 ghi nhận có 17 loài nấm gây hại trên
hạt là Curvularia lunata, Alternaira padwickii, Pinatubo oryzae, Fusarium spp., Bipolaris oryzae, Trichothecium sp., Aspergillus sp., Tilletia barclayana, Penicillium sp., Tetraploa aristata, Chaetomium globosus, Ustilaginoidae virens, Pithomyces sp., Alternaria sp., Rhizopus sp., Nigrospora oryzae và Pyricularia oryzae Trong các loài nấm trên thì Curvularia lunata có tần số xuất hiện cao trong
v Hè Thu 2011
Tần số xuất hiện của các loài nấm trên các giống khác nhau có sự khác biệt
lớn Trong đó, nấm Curvularia lunata và Alternaria padwickii có tần số xuất hiện cao trong tất cả các giống (>30%) Các nấm Bipolaris oryzae, Fusarium spp., Pinatubo oryzae có tần số xuất hiện <30%
Trang 141
MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là vựa lúa lớn nhất của cả nước Với việc ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong canh tác, nhiều giống lúa ngắn ngày có năng suất cao và trình độ thâm canh ngày càng cao (3 vụ lúa/năm) đã làm gia tăng sản lượng lúa một cách đáng kể ở ĐBSCL Sự phát triển đó đã giúp Việt Nam trở thành một nước có tầm cỡ trong việc xuất khẩu gạo hiện nay
Với điều kiện khí hậu nóng, ẩm ở ĐBSCL và việc thâm canh lúa ngày càng cao, sạ với mật độ dầy, sử dụng nhiều phân bón, nhất là phân bón lá, đã tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển bệnh quanh năm như đạo ôn (Pyricularia oryzae), đốm vằn (Rhizoctonia solani), đốm nâu (Bipolaris oryzae)… Đặc biệt là bệnh lem
lép hạt đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng hạt và là trở ngại chính trong việc xuất khẩu gạo Do đó, để đảm bảo việc xuất khẩu được ổn định thì bên cạnh việc nâng cao sản lượng lúa, chất lượng gạo cũng là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
Với sự gây hại của nhiều loài nấm cùng một lúc, nên việc phòng trị bệnh gặp nhiều khó khăn Để giúp việc phòng trị bệnh đạt hiệu quả, việc xác định lại các thành phần nấm gây bệnh trên hạt lúa hiện nay ở ĐBSCL là rất cần thiết Do đó, đề
tài “Giám định bệnh do nấm trên hạt lúa tại Tiền Giang trong vụ Hè Thu 2011” sẽ được thực hiện nhằm mục tiêu: (1) Xác định thành phần và tần số xuất
hiện của các loài nấm ở tỉnh Tiền Giang trong vụ Hè Thu 2011; (2) Xác định thành phần và tần số xuất hiện của các loài nấm trên từng giống lúa thu thập được tại Tiền Giang trong vụ Hè Thu 2011
Trang 152
CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Thiệt hại do bệnh lem lép hạt
Trên thế giới bệnh xuất hiện ở nhiều nơi như Hoa Kỳ, Ý, Ấn Độ, Colombia, Brazil, Indonesia,… (Ou, 1983) Vaid (1994) cho biết bệnh lem hạt nguyên nhân là
do nhiều loài nấm bệnh gây ra như Alternaria, Curvularia, Fusarium, Helminthosporium, Nigrospora, Pestalotia, Phyllosticta và Sclerotium (trích dẫn từ
Lê Hữu Hải và ctv., 2009)
Nấm Bipolaris oryzae có thể làm chết mạ 10-58% ở Philippines năm 1918
nếu gieo từ hạt giống bị bệnh (Võ Thanh Hoàng, 1993; Reissig và ctv., 1993) và hạt
bị bệnh làm phẩm chất và trọng lượng bị giảm 4,58-29,1% (Ou, 1983) Nấm Tilletia barclayana gây thất thu 2-5% ở Malaysia, 3-4% ở Nam Caroline; trung bình 20- 40% gié bị nhiễm ở Ấn Độ (Võ Thanh Hoàng, 1993) Nấm Gibberella fujikuroi là
nguyên nhân gây mất năng suất, ở Nhật tại tỉnh Hokkaido bệnh làm mất 20% năng suất và tỉnh Kinki-Chugoku là 40-50%; ở Ấn Độ là 15%; ở Thái Lan là 3,7-14,7%;
Các loại nấm Curvularia làm hạt bị đen chiếm khoảng 60% ở Ấn Độ (Ou, 1983)
Tại Việt Nam, ở các tỉnh miền Trung từ năm 1991 đến 1996 bệnh lem lép hạt
đã phát sinh và gây hại phổ biến trên diện rộng Bệnh xuất hiện trên cả 3 vụ lúa trong năm và có xu hướng ngày càng gia tăng về diện tích lẫn mức độ thiệt hại Bệnh gây hại hàng năm với diện tích trên 12.000ha vào giai đoạn lúa trổ đến vào chắc, bệnh gây lép, lửng, thối đen hạt, giảm năng suất từ 20-30% (Cục Bảo Vệ Thực Vật – Trung tâm Bảo Vệ Thực Vật miền Trung, 1996; trích dẫn từ Trần Văn Hai, 1999)
Bệnh xuất hiện khá phổ biến ở ĐBSCL Bệnh gây hại đáng kể cho vụ Hè Thu và Thu Đông, tỉ lệ hạt nhiễm trên gié khoảng 5-20%, trung bình khoảng 10% (Võ Thanh Hoàng, 1993) Trong báo cáo tình hình sâu bệnh, cỏ dại tại Ô Môn và Thốt Nốt của Lương Minh Châu và ctv (1998) đã ghi nhận tỉ lệ hạt bị lem màu chiếm khoảng 80%
Ở ĐBSCL, nấm Fusarium moniliforme tấn công cây lúa ở giai đoạn phân
hóa đòng làm cho bông bị lép hoàn toàn, nấm có thể xâm nhiễm vào bông lúa lúc trổ bông làm lép và lem hạt (Phạm Văn Kim và ctv., 2008; trích dẫn từ Lý Văn
Chính, 2010) Nấm Bipolaris oryzae có thể gây đốm nâu hạt cho khoảng 50% hạt trong vụ Hè Thu và Thu Đông; Nấm Alternaria padwickii làm 20% tổng số hạt bị lem lép trong vụ Hè Thu và Thu Đông; Nấm Tilletia barclayana từng xảy ra ở
Đồng Tháp vào năm 1984 làm hạt gạo bị nhiễm đen khi xay xát (Võ Thanh Hoàng,
1993) Nấm Curvularia làm tăng số hạt lép, giảm khối lượng hạt, ảnh hưởng tới
Trang 163
năng suất, hạt bị bệnh có tỉ lệ lép lên tới 60-70% (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề,
1998) Nấm Pyricularia oryzae gây thất thu đến 50% tại những nơi dịch bệnh xảy ra
nghiêm trọng (Reissig và ctv., 1993); Bên cạnh đó, nấm còn làm hạt lép, giảm trọng lượng hạt, ước tính 10% gié bị nhiễm bệnh thì thất thu năng suất 6%, tỉ lệ hạt kém phẩm chất gia tăng 5% (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Bệnh gây hại trên vỏ trấu, trong hạt gạo hay cả vỏ và hạt gạo (Ou, 1983; Võ Thanh Hoàng, 1993) Triệu chứng của bệnh là những vết nhỏ màu nâu đen, hay những tản màu nâu đen bao phủ phần lớn hay cả vỏ hạt; Tâm vết bệnh có màu nâu nhạt hay xám, viền nâu sậm; Hạt gạo bên trong bị đổi sang màu đen, đỏ, cam, xanh, tùy loài nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Bệnh lem lép hạt có thể do nhiều tác nhân gây ra:
+ Trần Thị Thu Thủy (2011b) đã xác định nấm gây bệnh lem lép hạt lúa tại các tỉnh ĐBSCL Kết quả ghi nhận có 11 loài nấm hiện diện được xác định là
Fusarium spp., Helminthosporium oryzae, Curvularia lunata, Diplodina sp., Trichoconis padwickii, Trichothecium sp., Nigrospora oryzae, Cercospora oryzae, Tilletia barclayana, Pyricularia oryzae và Alternaria sp
+ Võ Thị Thu Ngân và ctv (2012) đã ghi nhận thành phần vi khuẩn trên hạt
lúa ở ĐBSCL có 4 nhóm là Xanthomonas oryzae pv oryzae, Burkholderia glumae,
Acidovorax avenae và Pseudomonas fuscovaginae
+ Reissig và ctv (1993) cho biết hạt lúa cũng có thể bị gây hại bởi các tác
nhân côn trùng như bọ xít đen, bọ xít hôi, nhện gié và sâu đục thân
+ Tuyến trùng Aphalenchoides besseyi và Ditylenchus angustus gây hại trên
hạt lúa làm hạt bị lép, biến dạng (Reissig và ctv., 1993)
+ Lê Thanh Toàn (2011) cho biết có nhiều loài virus gây hại lúa dẫn đến hiện tượng lem lép hạt lúa là Rice grassy stunt virus (bệnh vàng lùn), Rice ragged stunt
virus (bệnh lùn xoắn lá), Rice black streak dwarf virus (bệnh lùn sọc đen),
1.2 Kết quả nghiên cứu trên thế giới về bệnh trên hạt lúa
IRRI (1984-1986) đã phát hiện các nấm xuất hiện trên hạt lúa chiếm tỉ lệ cao,
gồm Trichoconis padwickii (96,6%), Curvularia spp (87,8%), Sarocladium oryzae (55,6%), Phoma spp (40,0%), Nigrospora oryzae (38,3%), Gerlachia oryzae (28,7%), Drechslera oryzae (24,4%), Fusarium moniliforme (21,8%), Tilletia barclayana (8,3%), Phyllosticta glumarum (4,5%), Cercospora oryzae (3,9%), Nakataea sigmoidea (1,3%) và Pyricularia oryzae (0,5%) (trích dẫn từ Hồ Văn
Thơ, 2007)
Nhóm mầm bệnh sinh ra từ hạt gây bệnh trên thân và lá lúa bao gồm
Drechslera oryzae, Cercospora janseana, Alternaria padwickii, Magnaporthe salvinii, Fusarium moniliforme và Sarocladium oryzae Nhóm mầm bệnh khác gây
Trang 174
ra những chứng bệnh cho hạt gồm có Ustilaginoidea virens, Tilletia barclayana, Curvularia spp., Nigrospora oryzae, Phoma sorghina và Fusarium graminearum (Mew và ctv., 1988)
Kato và ctv (1988) đã chia thành phần nấm bệnh trên hạt lúa thành 4 nhóm:
• Nhóm 1: Nấm xâm nhập cả phần vỏ trấu, hạt gạo làm giảm phẩm chất hạt và gây
bệnh cho cây mạ, gồm Pyricularia oryzae, Drechslera oryzae, Fusarium moniliforme, Alternaria padwickii và Ephelis oryzae
• Nhóm 2: Nấm xâm nhập cả vỏ trấu, hạt gạo làm cho hạt lúa bị biến màu và giảm
phẩm chất, gồm Curvularia lunata, C intermedia, C clavata, Alternaria padwickii
• Nhóm 4: Nấm chỉ xâm nhập phần vỏ trấu, gây lem lép và làm giảm phẩm chất hạt
lúa, gồm các loài nấm như Nigrospora spp., Phyllosticta spp., Fusarium spp., Septoria spp., Trematosphaerella spp., Metasphaeria spp., Melanomma spp., Sphaeropsis spp., Phaeoseptoria spp., Diplodia oryzae, Diplodiella oryzae và Oospora oryzae
Agarwal và ctv (1989) cho biết có 12 loài nấm gây bệnh trên hạt gồm
Pyricularia oryzae, Bipolaris oryzae, Cercospora janseana, Alternaria padwickii, Microdochium oryzae, Fusarium moniliforme, Rhizoctonia solani, Sarocladium oryzae, Ustilaginoidea virens, Tilletia barclayana, Ephelis oryzae và Fusarium graminearum
Wu và Dow (1993) đã ghi nhận được 25 loài nấm từ 50 mẫu lúa thu thập từ
các vựa lúa lớn ở Đài Loan Các tác nhân gồm Ascochyta oryzae, Acremoniella atra, Alternaria tenuis, Curvularia affinis, C brachyspora, C clavata, C pallescens, Diplodia oryzae, Drechslera halodes, D poae, D rostrata, Fusarium lateritium, F.semiteetum, Rhynchosporium oryzae và Trichoconis padwickii
Mew và Misra (1994) ghi nhận có 13 loài nấm gây bệnh trên hạt, gồm
Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Cercospora janseana, Curvularia spp., Ephelis oryzae, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae, Nakataea sigmoidea, Pyricularia oryzae, Rhizoctonia solani, Sarocladium oryzae, Ustilaginoidea virens
và Tilletia barclayana
Mew và Gonzales (2002) đã ghi nhận hơn 80 loài nấm hiện diện từ 500.000
lô hạt giống, trong đó nấm Alternaria padwickii có tỉ lệ xuất hiện cao (80-90%), kế đến là Bipolaris oryzae, Curvularia lunata, Fusarium semitectum, F moniliforme,
Trang 185
Microdochium oryzae, Sarocladium oryzae, Pinatubo oryzae, Pithomyces maydicus, Chaetomium globosum,…Xác định tần số xuất hiện trung bình của một số loài nấm trên hạt như sau: Curvularia sp (70,6%), Biopolaris oryzae (56,7%), Alternaria padwickii (67,1%), Nigrospora oryzae (33,4%), Fusarium moniliforme (28,1%), Pinatubo oryzae (25,2%) và Pyricularia oryzae (9,9%)
1.3 Kết quả nghiên cứu trong nước về bệnh trên hạt lúa
Lương Minh Châu và ctv (1998) xác định có 7 loài nấm gây bệnh trên hạt ở
Cần Thơ là Fusarium moniliforme, Tilletia barclayana, Curvularia spp., Nigrospora oryzae, Helminthosporium oryzae, Phoma spp và Sarocladium oryzae
Huynh Van Nghiep và ctv (2001) khảo sát bước đầu về bệnh trên hạt lúa
giống ở ĐBSCL đã ghi nhận nhiều loại nấm tấn công trên hạt như Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae và Sarocladium oryzae Các loài nấm này không chỉ gây ra bệnh trên cây lúa mà còn
làm giảm tỉ lệ nảy mầm lúa
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Dư (2004) có 13 loài nấm trên hạt (gồm
cả hạt bị lem và không bị lem) phổ biến ở ĐBSCL là Alternaria padwickii, Tilletia barclayana, Curvularia sp., Bipolaris oryzae, Menoniella sp., Pinatubo oryzae, Rhizopus sp., Fusarium sp., Phoma shorghina, Aspergillus sp., Trichothechium roseum, Verticilium sp và Botrytis sp
Kết quả phân lập 2.000 hạt lúa ở huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang trong vụ Hè Thu và Thu Đông 1991, Võ Thanh Hoàng và ctv., (1993) cho biết có 9 loài nấm gây
bệnh trên hạt, gồm Helminthosporium oryzae, Fusarium moniliforme, Trichoconis padwickii, Curvularia lunata, Tilletia barclayana, Garlachia oryzae, Cercospora oryzae, Ustilaginoidea virens và Alternaria spp Phổ biến nhất là Helminthosporium oryzae, kế đến là Fusarium moniliforme, Trichoconis padwickii và Curvularia lunata
Trần Văn Hai (1999) ghi nhận tại Tiền Giang đã xác định trong 20 mẫu lúa
có 6 loài nấm hiện diện với tần số xuất hiện là Curvularia lunata (30,0%), Aspergillus spp (65,0%), Alternaria sp (30,0%), Mucor sp (30,0%), Rhizopus sp (30,0%) và Pyricularia oryzae (30,0%)
Kết quả giám định 20 mẫu lúa của Lê Thị Cẩm Tú (2007) thu thập tại tỉnh Tiền Giang và Long An trong vụ Đông Xuân 2005-2006 và Hè Thu 2006, ghi nhận
có 8 loài nấm gây hại trên hạt là Fusarium spp., Helminthosporium sp., Trichoconis sp., Curvularia sp., Nigrospora sp., Trichothecium, Tilletia sp và Diplodina sp Kết quả của Lê Thị Cẩm Tú (2007) cho biết trên giống IR50404 có 6 loài nấm xuất hiện là: Fusarium spp., Trichoconis sp., Curvularia sp., Nigrospora sp., Trichothecium và Tilletia sp Còn trên giống OM1490 có 6 loài nấm là
Trang 19Nấm Pyricularia oryzae gây bệnh đạo ôn có thể phát sinh từ thời kỳ mạ đến
lúa chín và có thể gây hại ở bẹ lá, lá, lóng thân, cổ bông, gié, hạt (Vũ Triệu Mân và
Đính bào đài mọc thành cụm từ 3-5 chiếc (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Đính bào đài mọc thành cụm, gốc hơi to, đỉnh nhọn, đỉnh cành hơi khúc khuỷu dạng đầu gốc, đính bào đài có 2-8 đốt, không màu hay hơi có màu, kích thước 2,9-5,0µm x 29,5-109µm (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
Bào tử phân sinh hình quả lê hoặc hình nụ sen, thường có từ 2-3 ngăn ngang, bào tử không màu, kích thước trung bình của bào tử nấm 19-23µm x 10-12µm (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Nấm Pyricularia oryzae cạnh tranh yếu hơn các nấm khác, gieo từ hạt trong ruộng bị bệnh đạo ôn nặng cũng không phân lập được P oryzae mà chỉ phân lập
được các nấm khác (Ou, 1983)
Nấm lưu tồn chủ yếu trong rơm lúa và hạt bị nhiễm bệnh (Ou, 1983) Hạt giống bị bệnh là nguồn bệnh truyền từ vụ này qua vụ khác (Nguyễn Phú Dũng, 2004-2005) Ở hạt, nấm lưu tồn trong phôi, phôi nhũ, vỏ hạt; có khi ở lớp giữa vỏ
và hạt (Võ Thanh Hoàng, 1993; Nguyễn Phú Dũng, 2004-2005) Ngoài ra, nấm ký sinh ở vỏ trấu, bên trong hạt, một số cây cỏ dại; Trong điều kiện khô ráo, bào tử có thể sống hơn một năm và sợi nấm sống được gần ba năm nhưng trong điều kiện ẩm ướt, chúng không sống sót được sang vụ sau (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
1.4.2 Nấm Bipolaris oryzae
Bipolaris oryzae (Helminthosporium oryzae) là tác nhân gây bệnh đốm nâu
Bredade Haan (1990) là người đầu tiên mô tả và đặt tên nấm gây bệnh là
Helminthosporium oryzae Đến năm 1927, Ito và Kuribayashi đã phát hiện được giai đoạn hữu tính của nấm trong khi nuôi cấy và đặt tên là Ophiobolus miyabeanus
Trang 20Nấm Bipolaris oryzae có thể gây hại trên lá, vỏ hạt, thân, lá mầm, bẹ lá, các
nhánh bông, ít gặp trên rễ các cây mạ non và trên thân (Ou, 1983; Võ Thanh Hoàng, 1993) Trên vỏ hạt lúa xuất hiện các vết đen hoặc nâu đậm Trong trường hợp bệnh nặng, phần lớn hoặc toàn bộ bề mặt vỏ hạt bị nâu (Võ Thanh Hoàng, 1993; Hồ Văn Thơ, 2007; Lê Thị Cẩm Tú, 2007) Trong điều kiện khí hậu ẩm ướt, trên vết bệnh phát triển những đính bào đài và bào tử nâu đậm giống như một lớp nhung mịn (Ou, 1983) Võ Thanh Hoàng (1993) cho biết nấm có thể xâm nhập vào bên trong, làm cho phôi nhũ có những đốm đen Khi gieo mạ từ các hạt bị bệnh thì các lá mầm có thể bị nhiễm bệnh, vết bệnh nhỏ, màu nâu hình tròn hoặc bầu dục (Reissig và ctv., 1993)
Drechles (1934) đã mô tả sợi nấm Bipolaris oryzae phát triển phân nhánh,
màu nâu đậm hoặc ôliu (trích dẫn từ Ou, 1983) Sợi nấm có màu xám đến xám sậm hơi xanh, có vách ngăn (Mew và Gonzales, 2002)
Đính bào đài có màu nâu nhạt ở gốc và gần như không màu ở đỉnh, kích thước trung bình 150-600µm x 4-8µm (Ou, 1983) Đính bào đài không phân nhánh, phần đỉnh hơi cong như đầu gối, cành mọc thành cụm 2-3 chiếc, cành có 4-10 vách ngăn, cành màu nâu tối, phía đỉnh cành màu sáng hơn, kích thước 8-11µm x 280-507µm (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
Bào tử có kích thước 35-170µm x 11-17µm, tối đa có 13 vách ngăn (Ou, 1983) Bào tử có dạng hình thuyền, hơi cong, hơi phình ngang ở giữa, hai đầu thon nhọn thành đỉnh hình bán cầu, có màu nâu nhạt đến nâu đậm (Hồ Văn Thơ, 2007) Bào tử có 5-11 vách ngăn, kích thước 59,80-106,03m x 10,12-16,33m (Mew và Gonzales, 2002) Bào tử hình thoi dài, có 2-7 vách ngăn, màu nâu, kích thước bào
tử 11,3-118µm x 11,3-28,2µm (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
Nấm sinh sản hữu tính bằng nang, trong quả nang bầu 560–950µm x 368–77µm, vách ngoài của vỏ nang cấu trúc già mô, có màu nâu váng sậm Nang có hình trụ hay hình liềm dài, kích thước 235µm x 21–36µm Nang bào tử có hình sợi hay trụ dài, trong suốt hay có màu xanh nhạt, các nang bào tử xếp xoắn nhau, có 6-15 vách ngăn, kích thước 250-469µm x 6-9µm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Trên môi trường nuôi cấy PDA, tản nấm phát triễn chậm (đường kính đạt 3,38cm trong 5 ngày) Tản nấm là các khoanh với rìa nhăn nheo, mịn ở tâm, mọc tơi như bông ra rìa, màu vàng xám ở tâm và màu vàng ở mép Ở mặt sau của đĩa petri,
Trang 218
tản nấm là các khoanh đen (Mew và Gonzales, 2002) Tản nấm có màu xám hơi xanh; mặt sau của đĩa petri, tản nấm có màu xám đen, rìa có màu xám trắng (Hồ Văn Thơ, 2007; Lê Thị Cẩm Tú, 2007)
Nấm lưu tồn chủ yếu trên xác bã cây bệnh và hạt (Võ Thanh Hoàng, 1993) Bào tử có thể lưu tồn 2-3 năm và sợi nấm tới 3 năm trong điều kiện khô ráo (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998; Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.4.3 Nấm Alternaria pacwickii
Nấm có thể xâm nhập vào bên trong hạt gạo làm biến màu hạt, hạt biến dạng, giòn, dễ vỡ khi xay; Ngoài ra, bệnh còn gây hại cả lá, rễ và lá mầm của các hạt đang nẩy mầm hoặc cây con (Võ Thanh Hoàng, 1993) Trên hạt, nấm gây những vết bệnh màu nâu nhạt đến trắng nhạt, rìa vết bệnh có màu nâu sậm, kích thước khá lớn, tâm
có đốm đen nhỏ (Ou, 1983; Võ Thanh Hoàng, 1993) Hạt lúa bị nhiễm nấm thường lem, lép, có thể bị mất màu chuyển sang nâu hoặc đen; Vỏ trấu xuất hiện những đốm màu nâu, giữa đốm có màu trắng, bệnh nặng làm cho cả hạt bị nâu đen (Hồ Văn Thơ, 2007; Lê Thị Cẩm Tú, 2007)
Hạt lúa nhiễm A padwickii sau khi ủ hạt, sẽ hiện diện sợi nấm khí sinh, mịn,
phân nhánh, có màu xám nhạt hoặc không màu khi còn non, trở thành màu vàng kem khi trưởng thành, bào tử nằm riêng rẽ trên từng đính bào đài, có màu sậm hơn màu bào tử (Mew và Gonzales, 2002)
Sợi nấm có vách ngăn phát triển phân nhánh, không màu khi còn non, khi trưởng thành có màu vàng kem; Hạch nấm màu đen, đa số hình cầu, một phần nằm chìm trong mô ký chủ, vỏ dạng mắt lưới và nối với những sợi nấm, kích thước từ 52-195µm (Ou, 1983) Sợi nấm trong suốt khi còn non, có màu kem vàng khi già, đường kính 3,4-5,7µm, phân vách ở những khoảng cách đều đặn 20-25µm (Võ Thanh Hoàng, 1993) Sợi nấm có vách ngăn, phân nhánh, không màu khi còn non, chuyển sang vàng cam khi trưởng thành, sợi nấm phân nhánh vuông góc (Mew và Gonzales, 2002)
Đính bào đài phân nhánh, không có vách ngăn ngang, kích thước trung bình 130-135µm x 2,5-3µm Mỗi đỉnh của nhánh đính bào đài chỉ mang một đính bào tử (Võ Thanh Hoàng, 1993) Đính bào đài không màu hay vàng nhạt, kích thước 3-5,5µm x 95-102µm (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
Bào tử hình thoi dài với phụ bộ trong suốt dài ở đỉnh, có màu kem vàng, có vách dày, 3-5 vách ngăn, tế bào thứ hai hay thứ ba tính từ gốc hơi to hơn các tế bào còn lại, kích thước thân bào tử từ 103,2-172,7µm (kể cả phụ bộ) x 8,5-19,2µm (Ou, 1983) Bào tử có kích thước 83,95-203,78µm tính cả phần đuôi, bề ngang rộng nhất
là 9,66-17,48µm (Mew và Goanzales, 2002) Bào tử có dạng hình thoi, có một đuôi
Trang 229
dài, 3-4 vách ngăn, chổ vách ngăn hơi thắt lại, kích thước bào tử 10,3-20,6µm x 76,7µm (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
8,3-Trên môi trường PDA, ở nhiệt độ phòng tản nấm A padwickii phát triễn khá
nhanh (đạt 4,32 cm đường kính sau 5 ngày) Ở mặt trên đĩa petri, tản nấm là các khoang màu nâu nhạt, sợi nấm bện chặt Ở mặt sau đĩa petri, tản nấm là các khoanh đen, rìa sáng (Mew và Gonzales, 2002)
Nấm lưu tồn ở rơm rạ lúa và gây bệnh cho lúa trong vụ sau (Ou, 1983)
1.4.4 Nấm Fusarium spp
F moniliforme thuộc lớp nấm bất toàn Deuteromycetes, bộ Moniliales, họ Tuberculariaceae, loài F moniliforme Giai đoạn sinh sản hữu tính bằng nang G fujikuroi thuộc lớp nấm nang Ascomycetes, bộ Hypocreales, họ Nectriaceae (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Nấm F moniliforme có giai đoạn sinh sản hữu tính thuộc lớp nấm nang, nên còn được gọi là Gibberella fujikuroi (Ito và Kimura,
1931; trích dẫn từ Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Năm 1924, Winel đã mô
tả G moniliformis và đề nghị dùng tên đó để đặt cho giai đoạn sinh sản hữu tính của nấm F moniliforme (Ou, 1983)
Nấm F moniliforme làm hạt bị biến màu đỏ nhạt (Ou, 1983) Theo CABI
(2004) (trích dẫn từ Lý Văn Chính, 2010), khi nấm xâm nhiễm vào hạt giống, tấn công cả vỏ trấu, phôi và phôi nhũ làm hạt bị mất màu, đôi khi có màu hồng của khối bào tử Hạt bị bệnh có thể không mọc mầm, hoặc mọc mầm rồi chết
Sợi nấm F moniliforme phát triển phân nhánh, không màu khi còn non, khi
trưởng thành có màu vàng kem, dày 3,4-5,7µm (Ganuly, 1947 trích dẫn từ Nguyễn Đức Cương, 1998) Bào tử đính hình thoi, thon dài với một bộ phận phụ dài ở đỉnh,
có 3-5 vách ngăn, màu vàng kem, hơi thắt lại ở vách ngăn (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) cho biết giai đoạn hữu tính nấm tạo quả thể bầu màu xanh đen hoặc tím đen, dạng hạt chấm đen nhỏ li ti trên bộ phận bị bệnh Bào tử túi không màu, có một vách ngăn ngang, hình bầu dục, kích thước 9-22µm x 5-13µm, nấm không tạo ra bào tử hậu
Nấm Fusarium graminearum gây nâu đen hạt lúa (Agarwal và ctv., 1989) Nấm F graminearum làm hạt bị biến màu, lúc đầu có màu trắng về sau có màu
vàng, màu hồng hoặc đỏ son Đôi khi toàn bộ hạt bị bệnh Các vết bệnh đó sinh ra những lớp nấm và bào tử Hạt bị bệnh trở nên nhẹ, co hẹp, dễ vỡ nát, thường không nảy mầm và các hạt có sức nảy mầm sẽ mọc ra những cây con bị bệnh Nấm cũng
có thể gây hại ở các đốt thân làm chúng bị đen và hủy hoại, thân cây bị héo và gãy (Kasai, 1923 trích dẫn từ Ou, 1983)
Trang 2310
F graminearum có bào tử hình con thoi hoặc lưỡi liềm, thon nhọn ở hai đầu,
với một đỉnh nhọn hình nón hoặc hình khía V và tế bào gốc dạng chân, 3-5 vách ngăn, đôi khi 1-2 hoặc 6-9 vách ngăn (Ou, 1983)
Ou (1983) ghi nhận bào tử vô tính của nấm F graminearum có 2 dạng: tiểu
bào tử có hình dẹt, không có hay có một vách ngăn, thường xếp thành chuỗi, sau đó rời nhau và phân tán thành lớp bột trắng trên nền khuẩn ty trắng vàng hay trắng hồng; đại bào tử có hình liềm hay thẳng, hai đầu hẹp, có khi uốn cong như hình móc câu, có thể tạo hạch nấm hình cầu màu xanh đậm, kích thước 80µm x 100µm Số vách ngăn của bào tử, việc thành lập tiểu hay đại bào tử và hạch nấm của nấm gây bệnh cũng rất thay đổi
Quả nang nấm F graminearum có màu xanh đen, hình trái xoan hoặc tròn,
có hoặc không có lỗ miệng hình nón, đỉnh được bao tròn bởi nhiều lớp tế bào lớn mọc vươn ra từ vỏ tử nang Tử nang có kích thước 37-84µm x 8-15µm, tử nang bào
tử xếp thành hàng một hoặc hàng đôi không rõ ràng, hình con thoi, hơi cong hoặc thẳng, hai đầu tù hoặc hình chóp nón, 3 vách ngăn, kích thước 22,7µm x 4,0µm; đa
số 19,0µm x 3,5µm (Ou, 1983)
Phạm Văn Kim (2000) cho biết nấm Fusarium có khả năng hình thành bào
tử áo để lưu tồn Nấm sống được trong hạt và cây bị bệnh sau 4-10 tháng ở nhiệt độ
phòng (Ou, 1983) Nấm Fusarium không những tồn tại trong đất mà còn có khả
năng sinh sản và phát triển trong đất, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ xâm nhập và gây bệnh cho cây (Đường Hồng Dật, 1979)
1.4.5 Nấm Ustilaginoidea virens
Nấm Ustilaginoidea virens thuộc bộ nấm Than đen Ustilaginales, lớp Nấm
Đảm Basidiomycetes (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Trên gié lúa thường chỉ vài hạt bị nhiễm và những hạt còn lại thì bình thường, hạt bị nhiễm bệnh biến thành một khối có kích thước lớn hơn hạt (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008; Reissig và ctv., 1993) Bướu lúc đầu nhỏ, hơi tròn, bên ngoài có màng bao nhẳn, có màu vàng, nằm giữa hai vỏ trấu, sau đó lớn dần và bao phủ cả hạt Khi bướu lớn dần, màng bao bị vỡ, bướu chuyển sang màu cam, gồm khuẩn ty
và bào tử nấm, bì bào tử rất khó tách rời khỏi khối than vàng vì có chất kết dính Lớp ngoài cũng có màu xanh, gồm các bào tử già và một số khuẩn ty còn tồn tại Bề mặt bướu là lớp phấn bào tử có màu xanh đậm (Võ Thanh Hoàng, 1993; IRRI, 1983)
Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) ghi nhận được 2 kiểu gây bệnh trên hạt: (1) Hạt bị nhiễm bệnh sớm, ngay từ lúc lúa mới bắt đầu phơi màu, cả bầu hoa
bị phá hủy, nhưng các cuống nhụy, đầu nhụy và các thùy bao phấn vẫn còn nguyên vẹn; (2) Hạt bị bệnh khi chín, khi đó các bào tử tích tụ lại trên nhân hạt, phình to ra
Trang 2411
và ép vỏ hạt sang 1 phía, cuối cùng nấm tiếp xúc với nội nhũ và sinh trưởng của nấm được đẩy nhanh, nấm choán chổ và bao bọc toàn bộ hạt
Lây bệnh nhân tạo bằng cách tiêm huyền phù bào tử vào bẹ lá cờ còn bao các
lá non bên trong Khảo sát các bướu cũng thấy có đến 99,6% bướu có chứa các bao phấn chưa khai (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Bào tử trong bướu là bì bào tử Các bì bào tử có hình cầu hay hình bầu dục, kích thước 3-5µm x 4-6µm, có màu xanh tối, được sinh ra trên những mấu nhọn nhỏ trên các khuẩn ty đang phát triển Bì bào tử non có kích thước nhỏ hơn, nhạt màu hơn và có bề mặt trơn (Võ Thanh Hoàng, 1993) Vũ Triệu Mân và Lê Lương
Tề (1998) bào tử có dạng hình tròn đến bầu dục, màu ôliu, khi còn non chúng có kích thước nhỏ hơn, màu nhạt và trơn nhẵn Bào tử vỏ dày, hình cầu, hay gần cầu,
vỏ nhiều gai nhỏ màu xanh vàng, đường kính 4,4-7,4µm; Túi bào tử hình ống dài không màu; Bào tử túi hình sợi đơn bào, không màu, kích thước bào tử 0,5-1µm x 120-180µm (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
Nang bào tử phòng là một khối cầu, phát triển từ ngọn của một cuống phát triển từ hạch nấm Trong nang bào tử phòng, có các quả nang bầu xếp ở vòng bìa Quả nang bầu có hình tam giác đáy bầu, chứa khoảng 300 nang Nang có hình trụ dài, 180-220µm x 4µm chứa 8 nang bào tử Nang bào tử trong suốt, hình sợi, không vách ngăn 120-180µm x 0,5-1,0µm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Nấm có thể lưu tồn bằng hạch nấm và bì bào tử (Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.4.6 Nấm Tilletia barclayana
Khi hạt lúa bị nhiễm bệnh nhẹ thì hình dạng hạt trông vẫn bình thường, nhìn
kỹ sẽ thấy bên trong hạt có màu tối hay hơi đen, khi gieo vẫn nảy mầm được nhưng cây mạ sẽ bị lùn; Khi hạt lúa bị nhiễm nặng, bột bào tử đen của nấm bên trong hạt
sẽ trào ra dọc theo mép của hai vỏ trấu, vỏ trấu của hạt sẽ bị hở, để nhô ra các khối bào tử nấm đen trông như hình cựa gà, hạt gạo bên trong có thể nhiễm một phần hay toàn hạt bên trong chỉ còn là khối bột bào tử đen của nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Bào tử có hình khối cầu, đường kính 18,5-23,0µm hoặc hình hơi bầu dục, 22,5-26µm x 18-22µm Vách dày, màu nâu sậm, phủ nhiều gai dễ thấy Gai trong suốt hay có màu nhạt, đầu nhọn, hơi cong, dài 2,5 – 4,0µm (Võ Thanh Hoàng, 1993) Lê Thị Cẩm Tú (2007) ghi nhận bào tử có dạng hình cầu, tròn không đều, màu nâu, vỏ dày bên ngoài được bao bọc bởi một lớp gai, gai dài 2,5µm, hai gai cách nhau 1,5µm, có kích thước 20-25µm, đường kính trung bình 22,5µm có màu nâu sậm; Bào tử còn non trong suốt, trơn bóng, đường kính trung bình là 20µm
Bào tử sống được một năm hoặc lâu hơn trong điều kiện bình thường và sống sau 3 năm trong hạt được bảo quản (Ou, 1983)
Trang 2512
1.4.7 Nấm Curvularia spp
Hạt lúa bị nhiễm bệnh thường bị biến màu hạt, nấm mọc thành lớp mốc xám đến nâu xám (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Hồ Văn Thơ (2007) ghi nhận hạt lúa nhiễm bệnh bị đen, nâu và lép; vết bệnh ban đầu là những chấm màu nâu đỏ sau lan ra làm cả hạt có màu nâu hoặc đen
Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) cho biết có khoảng 14 loài Curvularia
là tác nhân gây bệnh, phổ biến nhất là C lunata và C geniculata
Curvularia lunata: bào tử hơi cong, mọc ở đỉnh thành vòng, thường có 3
vách ngăn, tế bào thứ hai thường lớn và màu nâu sậm hơn so với các tế bào khác, kích thước 19-30µm x 8-16µm (Ou, 1983) Đính bào đài mọc thành cụm hay đơn
lẽ, không phân nhánh, đỉnh cành hơi cong, có màu nâu (Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
Curvularia geniculata: sợi nấm phân nhiều nhánh, có màu nâu Bào tử cong,
có 4 vách ngăn, tế bào thứ ba lớn hơn và sậm màu hơn các tế bào khác Kích thước 28-36µm x 11-14µm (Ou, 1983)
Trên môi trường nuôi cấy PDA ở nhiệt độ phòng (28-30°C) nấm Curvularia lunata phát triển nhanh và đạt được đường kính 8,40cm sau 5 ngày Tản nấm là các
khoanh màu xanh xám, sợi nấm mịn, bện chặt Ở mặt sau đĩa Petri, chúng là các khoanh màu xám (Mew và Goanzales, 2002)
Nấm lưu tồn chủ yếu trên bề mặt hạt giống hoặc dưới lớp vỏ trấu dưới dạng sợi nấm và bào tử phân sinh (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
1.4.8 Nấm Nigrospora spp
Hạt bị bệnh, khi ủ trên giấy thấm ẩm, nấm sẽ phát triển tạo thành những chấm li ti màu đen bao quanh hạt Nếu ủ trên môi trường WA, nấm mọc lẫn vào môi trường, làm đen môi trường (Lê Thị Cẩm Tú, 2007)
Sợi nấm có màu nâu sáng, không phân nhánh, có vách ngăn (Mew và Gonzales, 2002)
Đính bào đài ngắn, đơn độc, phía dưới đỉnh bị bẹt, đỉnh mang các bào tử đơn
lẻ (Ou, 1983) Đính bào đài mọc thành từng cụm trên sợi nấm, chỉ mang một bào tử đính phía trên (Hồ Văn Thơ, 2007)
Trên lúa, Ou (1983) đã phát hiện thấy 4 loại: N oryzae, N sphaerica, N panici và N padwickii; chúng phân biệt với nhau chủ yếu do kích thước và hình dạng bào tử: N oryzae bào tử hình cầu, kích thước 12-17µm x 13-18µm; N sphaerica bào tử hình cầu, nhẵn, đường kính 16-18µm; N panici bào tử hình cầu hơi bẹt, kích thước 25-30µm x 22-25µm; N padwickii bào tử có đường kính lớn
37,9 x 34,8µm Bào tử đơn bào, hình cầu, trơn nhẵn, có màu nâu đen hay màu đen (Lê Thị Cẩm Tú, 2007; Hồ Văn Thơ, 2007)
Trang 2613
Trên môi trường PDA, ở nhiệt độ phòng (28-30°C) tản nấm phát triển tương đối nhanh và đạt đường kính 5,58 cm sau 5 ngày (Mew và Gonzales, 2002)
1.4.9 Nấm Trichothecium sp
Lê Thị Cẩm Tú (2007) cho rằng nấm Trichothecium sp là loại nấm hoại sinh
hay ký sinh yếu
Hạt lúa bị nhiễm nấm Trichothecium sp thường bị lép, vỏ hạt màu nâu hoặc
đen Đôi khi vết bệnh có viền nâu đậm, tâm có màu trắng (Hồ Văn Thơ, 2007) Lê Thị Cẩm Tú (2007) đã ghi nhận trên hạt lây bệnh nhân tạo, bệnh nhẹ vết bệnh có màu nâu nhạt trên hạt, không có hình dạng rõ ràng Bệnh nặng, vết bệnh có màu đen, rìa vết bệnh có màu đậm hơn, tâm vết bệnh có màu nhạt hơn và vết bệnh có thể lan ra làm đen toàn hạt
Sợi nấm không màu, phân nhánh và có vách ngăn; Đính bào đài dài, mảnh có vách ngăn, không phân nhánh, mang một hoặc nhiều bào tử (Hồ Văn Thơ, 2007)
Bào tử dạng trứng hoặc bầu dục, viền nâu đậm, không màu, có hai tế bào và hơi thắt eo ở vách ngăn, một đầu to tròn còn đầu kia thì hơi thắt lại như dạng hạt dưa Kích thước trung bình là 7,05µm x 4,03µm (Hồ Văn Thơ, 2007)
Khuẩn lạc nấm trên môi trường PDA có màu cam nhạt, phát triển tạo ra những vòng tròn đồng tâm có màu cam nhạt dần từ tâm đĩa ra ngoài mép đĩa (Lê Thị Cẩm Tú, 2007)
1.4.10 Nấm Pinatubo oryzae
Hạt nhiễm nấm Pinatubo oryzae sau khi ủ thấy sợi nấm khí sinh xuất hiện từ
ít đến nhiều, màu trắng và phân nhánh (Mew và Gonzales, 2002)
Sợi nấm có màu trong suốt, có vách ngăn Đính bào đài đơn hoặc phân nhánh, ngắn và phân nhánh với mấu dạng răng nhỏ ở phần tận cùng (Mew và Gonzales, 2002)
Bào tử đính ở đỉnh của đính bào đài và sắp xếp như một bông hoa, có hình bầu dục, nhọn ở phần gốc và tròn ở đỉnh, không màu, một đến 2 tế bào, rất ít 3 tế bào Kích thước bào tử 5,75-12,88µm x 2,70-6,21µm (Mew và Gonzales, 2002)
Tản nấm trên PDA ở nhiệt độ phòng (28-30oC) sinh trưởng nhanh, đạt được đường kính 5,02cm trong 5 ngày Tản nấm là những khoanh với rìa đều, mọc thành khóm và màu đỏ nhạt, cam với cam Ở mặt sau của đĩa petri, tản nấm là các khoanh màu sáng Màu từ cam đến vàng cam nhạt hướng về rìa (Mew và Gonzales, 2002)
1.5 Sơ lược về các giống lúa trong thí nghiệm
1.5.1 Giống IR50404
Giống lúa IR50404 có nguồn gốc từ Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) được nhập vào Việt Nam đầu năm 1990 Giống IR50404 có thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 90 ngày trong điều kiện sạ thẳng; chiều cao cây thấp (85-90 cm), đẻ
Trang 272 vụ Đông Xuân và Hè Thu, đặc biệt thích hợp ở vùng đất nhiễm phèn nhẹ đến trung bình, và những vùng cần giống cực ngắn ngày để tránh mặn trong vụ Đông Xuân và né lũ trong vụ Hè Thu Tuy nhiên, giống IR50404 có chất lượng gạo thấp, không nên bố trí sản xuất ở những vùng lúa cao sản chất lượng cao cho xuất khẩu (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2006)
1.5.2 Giống OM1490
Giống OM1490 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm A0 (85-90 ngày) nếu canh tác lúa sạ và 90-95 ngày nếu canh tác lúa cấy Chiều cao cây thấp hơn 90cm Tán lá trung bình, đẻ nhánh khá, chiều dài bông 24,3cm Số hạt chắc trên bông 78,3 hạt Tỉ lệ hạt lép trong 14,2% trong vụ Đông Xuân và 17-18% trong vụ Hè Thu Trọng lượng 1.000 hạt trung bình là 27,2 gram Năng suất trung bình 6,69 tấn/ha, có nơi đạt năng suất 8,62 tấn/ha tại Long Mỹ (Cần Thơ) (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2006)
Nông dân có xu hướng sử dụng những giống cực sớm như OM1490 phục vụ cho những vùng thâm canh 3 vụ lúa trong năm Giống này có khả năng thích nghi ở vùng đất bị ảnh hưởng phèn nhẹ Đặc điểm trổ bông của giống OM1490 không đồng loạt, dễ bị ngộ nhận lẫn giống Giống OM1490 chịu đuợc điều kiện khắc nghiệt do phèn tương đối khá Giống OM1490 có khả năng chống chịu khô hạn đầu
vụ hè thu, chống chịu tương đối với mặn (EC = 2-4dS/m) (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2006)
Giống OM1490 là giống lúa có phẩm chất tốt, tỉ lệ gạo lứt 78,96%, tỉ lệ gạo trắng 68,34% và tỉ lệ gạo nguyên 50,92% Chiều dài hạt của giống OM1490 là 7,10mm, Dài/rộng 3,40 Hạt gạo trong suốt, ít bạc bụng Hàm lượng amylose 22,51% thuộc nhóm cơm mềm, hàm lượng protein 8,2% Phản ứng sâu bệnh cho thấy giống lúa OM1490 có khả năng kháng được bệnh đạo ôn (cấp 1) và chống chịu trung bình đối với rầy nâu (cấp 5) (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2006)
Trang 2815
đối cứng cây, khả năng đẻ nhánh khá, bông đóng hạt dầy, tỉ lệ lép thấp, trọng lượng 1.000 hạt trung bình 25-26g, hạt gạo dài, ít bạc bụng, cơm mềm Giống OM5451 có khả năng chống chịu rầy nâu, bệnh đạo ôn khá, chống chịu bệnh vàng lùn-lùn xoắn
lá khá Năng suất của giống lúa này khá cao và ổn định đạt từ 5 đến 8 tấn/ha (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2006)
1.5.4 Giống OM5472
Được chọn từ tổ hợp lai OM 2718/Jasmine85 và mới được được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là giống lúa sản xuất thử tại các tỉnh ĐBSCL và miền Trung trong năm 2009 Giống OM5472 thích nghi rộng và đã được canh tác nhiều tại các vùng trồng lúa ĐBSCL Giống OM5472 có thời gian sinh trưởng của lúa sạ khoảng 90-93 ngày trong vụ Đông Xuân, 93-95 ngày trong
vụ Hè Thu, trổ tập trung, chiều cao cây 95-105cm Đây là giống lúa có dạng hình đẹp, tương đối cứng cây, khả năng đẻ nhánh khá, tỉ lệ lép thấp, trọng lượng 1.000 hạt từ 26-27g, gạo có mùi thơm nhẹ, hạt dài, trong, ít bạc bụng, cơm mềm (www.festivalluagao.vn, 2012)
Giống OM5472 chống chịu rầy nâu và bệnh đạo ôn trung bình Trong vụ Hè Thu 2009 giống OM5472 bị nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn ở đầu vụ, chống chịu bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá khá Năng suất của giống lúa này khá cao và ổn định đạt từ 5 đến 8 tấn/ha (www.festivalluagao.vn, 2012)
Trang 2916
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian thực hiện: từ 4/2011 đến 03/2012
Địa điểm: tại Phòng thí nghiệm Nedo, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp
& Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
Mẫu lúa
Các mẫu lúa giám định được thu thập tại Tiền Giang trong vụ Hè Thu năm
2011 Sau khi thu mẫu về để khô tự nhiên trong không khí và trữ trong giấy báo
Nguồn nấm
Các nguồn nấm được phân lập từ các mẫu lúa bệnh ở tỉnh Tiền Giang trong
vụ Hè Thu 2011
Môi trường sử dụng trong thí nghiệm
Môi trường potato dextrose agar (PDA) (Shurtleff và Averre, 1999)
Giống lúa để lây bệnh nhân tạo: IR50404
2.1.3 Phương tiện thí nghiệm
Tủ thanh trùng ướt, tủ thanh trùng khô, tủ cấy, tủ úm, kính soi nổi, kính hiển
vi, lame, lamelle
Trang 3017
Phương pháp xác định thành phần nấm gây bệnh trên hạt
Khi giám định tùy từng trường mà áp dụng một số bước hoặc tất cả các bước của quy tắc Koch (Burgess và ctv., 2009) Đối với bệnh mới hoặc bệnh chưa xác định thì áp dụng cả 4 bước của quy tắc Koch
Nguyên tắc giám định bệnh theo quy trình Koch gồm 4 bước:
Bước 1: mô tả triệu chứng và tìm mầm bệnh trong mô bệnh
Bước 2: phân lập, tách ròng và định danh mầm bệnh
Bước 3: tiêm chủng mầm bệnh đã phân lập vào cây khỏe Quan sát lại triệu chứng bệnh xuất hiện
Bước 4: tái phân lập mầm bệnh từ vết bệnh được tiêm chủng và so sánh với mầm bệnh ban đầu
Đối với bệnh đã được báo cáo nhiều lần trong nước và trên thế giới chỉ áp dụng bước 1 và 2 của quy tắc Koch
Đối với bệnh chưa xác định rõ tác nhân được đánh dấu (?)
Các bước tiến hành:
Ủ hạt lúa cho nấm phát triển
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, gồm 30 nghiệm thức cho vụ Hè Thu và 10 nghiệm thức cho vụ Đông Xuân, ủ hạt theo phương pháp Blotter (ISTA, 1985)
Cách ủ hạt: mỗi đĩa petri chứa 3-4 lớp giấy thấm đã thanh trùng rồi nhỏ nước cất vừa đủ ẩm Đặt 25 hạt/đĩa với khoảng cách đều nhau (Hình 2.1) Cho vào tủ úm giữ ở nhiệt độ 30oC trong 3 ngày đầu, sau đó để ở nhiệt độ phòng dưới ánh sáng đèn huỳnh quang xen kẽ 12 giờ chiếu sáng và 12 giờ tối Thời gian ủ khoảng 7 ngày
H nh 2.1 Hạt lúa ủ trong đĩa petri theo phương pháp Blotter
Trang 3118
Nuôi cấy và tách ròng nấm
Phân lập các tác nhân gây hại quan trọng trên hạt lúa, tách ròng, làm thuần bằng phương pháp cấy đơn bào tử hay đỉnh sinh trưởng sợi nấm theo phương pháp của Burgess và ctv (2009) và lưu trữ nguồn nấm để thực hiện các thí nghiệm kế tiếp Quan sát sự phát triển của nấm trên môi trường PDA, ghi nhận các chỉ tiêu về màu sắc, cách mọc trên môi trường, đo đường kính của tản nấm trên môi trường PDA ở thời điểm 5 ngày sau khi cấy
Quan sát và mô tả đặc điểm của nấm
Hạt ủ sau 5 ngày đem quan sát dưới kính soi nổi để nhận biết màu sắc cách mọc của sợi nấm trên hạt
Hạt ủ được 7 ngày thì đem quan sát dưới kính hiển vi để xác định tác nhân gây bệnh trên hạt, ghi nhận chỉ tiêu và quan sát đặc điểm, màu sắc của sợi nấm và bào tử nấm Đo kích thước trung bình của bào tử (mỗi loài nấm tiến hành đo ngẫu nhiên kích thước của 10 bào tử nấm, sau đó lấy trung bình)
Xác định tên nấm dựa vào khoá phân loại nấm của Barnett và Hunter (1998), tài liệu “Seed-borne disease and seed health testing of rice” của Agarwal và ctv (1989), tài liệu “A Manual of Rice Seed Health Testing” của Mew và Misra (1994)
và tài liệu “A handbook of Rice seedborne fungi” của Mew và Gonzales (2002); So sánh hình dạng nấm, kích thước, màu sắc của đính bào đài, đính bào tử và ổ nấm
Lây bệnh nhân tạo và tái phân lập mầm bệnh
Chuẩn bị những cây lúa khỏe, sạch bệnh, trồng chúng cho đến khi gần trổ thì tiến hành lây bệnh nhân tạo
Phương pháp trồng cây để lây bệnh: sử dụng chậu có đường kính là 25cm, sau đó cho đất vào 2/3 chậu, cho nước vào và tiến hành cây lúa, mạ lúa cấy được 17 ngày tuổi Mỗi chậu cấy ba khóm, mỗi khóm ba tép mạ Sau khi cấy được 10 ngày tiến hành bón phân DAP (10g/chậu), khi bông lúa gần trổ bắt đầu lây bệnh
Phương pháp lây bệnh nhân tạo: nuôi cấy nguồn nấm lây bệnh trong đĩa petri trước khi lây bệnh Các bông lúa gần trổ được thanh trùng bề ngoài bằng cồn 70o, dùng kim mũi giáo rạch một đường có đường kính 1,5cm, rồi lấy kim mũi giáo khác vạch bông lúa ra rồi đặt các khoanh khuẩn ty nấm vào, phun sương giữ ẩm rồi trùm bông lúa lại bằng bọc nilon Sau khi lây bệnh 5-7 ngày thì quan sát và ghi nhận triệu chứng trên hạt
Sau khi lây bệnh 5-7 ngày thì đem bông lúa đã lây bệnh, ủ trong đĩa petri có lót giấy thấm được làm ẩm, để 1-2 ngày thì quan sát và so sánh với mầm bệnh ban đầu
Trang 3219
2.2.2 Xác định tần số xuất hiện của nấm gây bệnh
Xác định tần số xuất hiện của nấm trên từng mẫu lúa trong từng vụ được tính theo công thức:
Số hạt lúa xuất hiện một loại nấm
Tổng số hạt lúa quan sát trong vụ
Trang 3320
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ghi nhận tổng quát
Trong vụ Hè Thu 2011 đã thu được 30 mẫu lúa bệnh lem lép hạt tại tại Tiền Giang Trong đó 30 mẫu vụ Hè Thu ở 3 huyện Cái Bè, Cai Lậy và Châu Thành tỉnh Tiền Giang Các mẫu được thu thập trên 5 giống lúa là IR50404, OM1490, OM5451, OM5472 và OM5932 Trong đó, giống IR50404 được thu nhiều nhất
Đặc điểm mẫu được thu: mẫu lúa được thu vào buổi trưa đến chiều trong ngày, thời tiết khi thu mẫu Hè Thu 2011 có mây nhiều, trời âm u, đôi lúc có mưa vào buổi chiều Bắt đầu thu lúa từ lúc lúa cong trái me đến lúa chín rộ trên đồng Mẫu lúa thu đa số khô ráo, trữ trong giấy báo ngay sau khi thu xong
Bảng 3.1 Danh sách 30 mẫu lúa bệnh lem lép hạt thu thập tại tỉnh Tiền Giang trong
vụ Hè Thu 2011
1 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG1
2 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG2
3 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG3
4 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG4
5 IR50404 Hậu Thành Châu Thành Hè Thu HTG5
6 IR50404 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG6
7 IR50404 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG7
8 OM1490 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG8
9 OM5451 Hậu Thành Cái Bè Hè Thu HTG9
10 OM5472 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG10
11 OM1490 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG11
12 IR50404 An Cư Cái Bè Hè Thu HTG12
13 IR50404 An Cư Cái Bè Hè Thu HTG13
14 OM5451 Hậu Thành Cái Bè Hè Thu HTG14
15 IR50404 An Cư Cái Bè Hè Thu HTG15
16 OM5451 Hậu Thành Cái Bè Hè Thu HTG16
17 IR50404 An Cư Cái Bè Hè Thu HTG17
18 IR50404 Hậu Thành Cái Bè Hè Thu HTG18
19 IR50404 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG19
20 IR50404 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG20
21 IR50404 Hậu Thành Cái Bè Hè Thu HTG21
Trang 3421
3.2 Thành phần nấm trên hạt
Kết quả giám định 30 mẫu lúa tại Tiền Giang trong vụ Hè Thu 2011 có 17
loài nấm hiện diện trên hạt gồm Aspergillus sp., Alternaria padwickii, Alternaria sp., Bipolaris oryzae, Chaetomium globosus, Curvularia lunata, Fusarium spp., Nigrospora oryzae, Penicilium sp., Pinatubo oryzae, Pithomyces sp., Pyricularia oryzae, Rhizopus sp., Tetraploa aristata, Tilletia barclayana, Trichothecium sp và Ustilaginoidae virens (Bảng 3.2)
Kết quả giám định đã ghi nhận thêm 5 loại nấm hiện diện và gây hại trên hạt lúa so với kết quả nghiên cứu tại Tiền Giang của Võ Thanh Hoàng và ctv (1993), Trần Văn Hai (1999) và Lê Thị Cẩm Tú (2007) Các loài nấm được ghi nhận thêm
bao gồm Chaetomium globosus, Penicillium sp., Pinatubo oryzae, Pithomyces sp
và Tetraploa aristata Theo Ou (1983), nấm Aspergillus, Penicillium, Rhizopus spp
và Chaetomium spp là các nấm mốc phổ biến
Kết quả giám định đã ghi nhận thêm 4 loại nấm hiện diện và gây hại trên hạt lúa so với kết quả nghiên cứu tại ĐBSCL của Lương Minh Châu và ctv., (1998), Huynh Van Nghiep và ctv (2001) và Phạm Văn Dư (2004) Các loài nấm được ghi
nhận thêm gồm: Chaetomium globosus, Penicillium sp., Pithomyces sp và Tetraploa aristat Tuy nhiên, qua kết quả lây bệnh nhân tạo của các loài nấm này
trên bông lúa cho thấy có thể hiện triệu chứng nấm gây hại và sau khi tái phân lập mầm bệnh từ các hạt được lây bệnh thì thấy nấm gây bệnh giống với triệu chứng ban đầu Điều này đã góp phần khẳng định 4 loài nấm ghi nhận thêm thực sự gây
hại trên hạt lúa mà các nghiên cứu trước đây chưa ghi nhận Riêng nấm Tetraploa aristata và Pyricularia oryzae không nuôi cấy và lây bệnh nhân tạo được nhưng các
22 IR50404 Hậu Thành Cái Bè Hè Thu HTG22
23 IR50404 Hậu Thành Cái Bè Hè Thu HTG23
24 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG24
25 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG25
26 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG26
27 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG27
28 IR50404 Nhị Bình Châu Thành Hè Thu HTG28
29 IR50404 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG29
30 OM5932 Nhị Mỹ Cai Lậy Hè Thu HTG30
Trang 3522
nghiên cứu của Trần Văn hai (1999), Mew và Gonzales (2002) cho rằng nấm gây hại trên hạt Bên cạnh đó, các nghiên cứu tại ĐBSCL của Lương Minh Châu và ctv (1998), Huynh Van Nghiep (2001), Phạm Văn Dư (2004) và trên thế giới IRRI (1984-1986), Mew và ctv (1988), Agarwal và ctv (1989), Mew và Gonzales (2002),…cũng ghi nhận sự hiện diện của 17 loài nấm này trên hạt lúa
Trang 36
23
Thu 2011
Fusa Alpad Trithe Alter Pina Bipo Chae Cur Pitho Asper Peni Tille Usti Piry Nigro Rhizo Tetra
Trang 3724
Ghi chú: +: có sự hiện diện -: không có sự hiện diện
Fusa: Fusarium spp Bipo: Bipolaris oryzae Alpad: Alternaria padwickii Chae: Chaetomium globosus Trithe: Trichothecium sp
Peni: Penicillium sp Tille: Tilletia barclayana Usti: Ustilaginoidae virens Piry: Pirycularia oryzae Nigro: Nigrospora spp
Rhizo: Rhizopus spp Tetra: Tetraploa aristata
Fusa Alpad Trithe Alter Pina Bipo Chae Cur Pitho Asper Peni Tille Usti Piry Nigro Rhizo Tetra
Trang 3825
Qua kết bảng 3.3 cho thấy các loài nấm như Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Curvularia lunata, Fusarium spp., Pinatubo oryzae và Trichothecium sp
đều hiện diện trên tất cả các giống lúa quan sát trong vụ Hè Thu 2011 Các loài nấm
Alternaria sp., Chaetomium globosus, Pithomyces sp., Pyricularia oryzae, Rhizopus
sp và Ustilaginoidae virens chỉ thấy hiện diện trên giống IR50404
Bảng 3.3 Các loài nấm gây hại hạt lúa trên các giống lúa Tiền Giang trong vụ Hè Thu 2011
Chú thích: +: có sự hiện diện -: không có sự hiện diện
3.3 Tần số xuất hiện của các thành phần nấm gây bệnh trên hạt lúa
Qua kết quả bảng 3.4 trong vụ Hè Thu 2011 ghi nhận 17 loài nấm gây hại
trên hạt Trong đó, Curvularia lunata (44,00%) có tần số xuất hiện cao nhất, kế đến
là Alternaria padwickii (40,57%), Pinatubo oryzae (24,17%), Fusarium spp (22,40%) và Bipolaris oryzae (21,80%)
Tần số xuất hiện của Aspergillus sp., Rhizopus sp và Pyricularia oryzae
trong vụ Hè Thu 2011 thấp hơn nhiều so với kết quả của Trần Văn Hai (1999) và Lê
Thị Cẩm Tú (2007) Riêng nấm Curvularia lunata có tần số xuất hiện trong vụ Hè
Thu cao hơn kết quả của Trần Văn Hai (1999) và Lê Thị Cẩm Tú (2007) Kết quả
nấm Nigrospora oryzae của Lê Thị Cẩm Tú (2007) cao hơn kết quả vụ Hè Thu Kết
Trang 3926
quả Lê Thị Cẩm Tú (2007) tương tự tần số xuất hiện nấm Tilletia barclayana trong
vụ Hè Thu Kết quả nấm Trichothecium sp Lê Thị Cẩm Tú (2007) thấp hơn kết quả
vụ Hè Thu 2011
Kết quả của Mew và Gonzales (2002) thấy tần số xuất hiện của Pinatubo oryzae vụ Hè Thu 2011 tương đương kết quả tần số xuất hiện trung bình của Mew
và Gonzales (2002) Riêng Alternaria padwickii, Biopolaris oryzae, Curvularia sp.,
ic i ig s sp thì kết quả tần số xuất hiện của Mew và
Gonzales (2002) cao hơn hẳn so với kết quả vụ Hè Thu 2011 Còn tần số xuất hiện
Fusarium moniliforme theo kết quả của Mew và Gonzales (2002) thì tương đương
kết quả của vụ Hè Thu 2011
Vụ Hè Thu 2011 có 6 loài nấm xuất hiện cao trên các mẫu lúa từ 93,3-100%
là Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Curvularia lunata, Fusarium spp., Pinatubo oryzae và Trichothecium sp Trong đó, Curvularia lunata hiện diện 30/30 mẫu, chiếm tỉ lệ 100% Các loài nấm Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae và Fusarium spp có tỉ lệ xuất hiện cao trong tất cả các mẫu quan sát và có tần số xuất
hiện tương đối cao trong cả hai vụ Đây là những loài nấm quan trọng có khả năng truyền qua hạt giống (Trần Thị Thu Thủy, 2011a) Ngoài ra, Mew và ctv (1988),
Kato và ctv (1988) ghi nhận các nấm như Drechslera oryzae (Bipolaris oryzae), Alternaria padwickii, Fusarium moniliforme và Pyricularia oryzae có khả năng
xâm nhập cả phần vỏ trấu, hạt gạo làm giảm phẩm chất hạt và gây bệnh cho cây
mạ Bên cạnh đó, Huynh Van Nghiep và ctv (2001) cho biết các loài nấm như
Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae và Fusarium moniliforme không chỉ gây ra
bệnh trên cây lúa mà còn làm giảm tỉ lệ nảy mầm lúa Do đó, cần áp dụng các biện pháp quản lí các nấm này ngay từ khâu hạt giống, nhằm hạn chế mức thấp nhất khả năng gây hại của các nấm này cho vụ sau