Kết quả quan sát 42 mẫu hạt giống lúa bằng phương pháp Blotter, ghi nhận có 17 loài nấm hiện diện trên hạt, bao gồm: Fusarium moniliforme, Curvularia spp., Bipolaris oryzae, Trichotheciu
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THANH NAM
Trang 2KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGs.Ts Trần Thị Thu Thủy Nguyễn Thanh Nam MSSV: 3083808
Lớp: TT0873A1
Cần Thơ, 2012
Trang 3BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“GIÁM ĐỊNH BỆNH DO NẤM TRÊN HẠT LÚA TẠI TỈNH HẬU GIANG TRONG VỤ HÈ THU 2011
VÀ ĐÔNG XUÂN 2011-2012”
Do sinh viên Nguyễn Thanh Nam thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày 12 tháng 6 năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
PGs Ts Trần Thị Thu Thủy
Trang 4Cần Thơ, ngày 14 tháng 6 năm 2012
CHỦ NHIỆM KHOA
Trang 5Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thanh Nam Giới tính: Nam
Nơi sinh: TP Long Xuyên – An Giang
Quê quán: Ấp Mỹ Khánh I, Xã Mỹ Hòa Hưng, Thành phố Long Xuyên, An Giang Quá trình học tập:
Năm 1996-2001: học tại trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm
Năm 2001-2002: học tại trường Trung Học Cơ Sở Ngô Gia Tự
Năm 2002-2005: học tại trường Trung Học Cơ Sở An Châu
Năm 2005-2008: học tại trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Bỉnh Khiêm Năm 2008-2012: học tại trường Đại Học Cần Thơ Chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật, khóa 34, khoa Nông Nghiệp Sinh học ng ng, trường Đại học Cần
Thơ
Trang 6Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích ẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Cần thơ, ngày 12 tháng 6 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Nam
Trang 7Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới PGs.Ts Trần Thị Thu Thủy và Th.S Lê Thanh Toàn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy cố vấn học tập, quý thầy cô trong Khoa Nông nghiệp & Sinh học ng d ng – những người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học đại học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến chị Nguyễn Thị Hàn Ni và các bạn trong phòng thí nghiệm Ne o đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn Các bạn thuộc lớp Bảo vệ Thực vật khóa 34 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
NGUYỄN THANH NAM
Trang 82011-2012” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp
& Sinh học ng d ng Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGs
Ts Trần Thị Thu Thủy
TÓM LƯỢC
Đề tài “Giám định bệnh do nấm trên hạt lúa tại tỉnh Hậu Giang trong v Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012” được thực hiện từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012 tại phòng thí nghiệm Nedo, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học ng d ng, Trường Đại học Cần Thơ nhằm m c tiêu: (1) Xác định thành phần và tần số xuất hiện trung bình của các loài nấm gây hại trên hạt lúa tại tỉnh Hậu Giang trong v Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012 (2) Xác định tần số xuất hiện của các loài nấm trên một số giống lúa trong hai mùa v
Kết quả quan sát 42 mẫu hạt giống lúa bằng phương pháp Blotter, ghi nhận
có 17 loài nấm hiện diện trên hạt, bao gồm: Fusarium moniliforme, Curvularia spp., Bipolaris oryzae, Trichothecium sp., Alternaria padwickii, Pinatubo oryzae, Chaetomium globosus, Nigrospora sp., Tilletia barclayana, Ustilaginoidae virens, Sarocladium oryzae, Penicilium sp., Aspergillus sp., Rhizopus sp., Tetraploa aristata, Pithomyces sp và Pyricularia oryzae Trong đó, nấm Curvularia spp và Fusarium spp có tần số xuất hiện trung bình cao trong cả hai v , nấm Bipolaris oryzae và Trichothecium sp có tần số xuất hiện khá cao và các loài còn lại có tần số
xuất hiện thấp Ngoài ra, v Hè Thu còn ghi nhận có nhiều loài nấm hiện diện hơn
và tần số xuất hiện của các loài nấm cũng cao hơn v Đông Xuân
Tần số xuất hiện của các loài nấm có sự khác biệt rất lớn trên các giống lúa
khác nhau, nấm Curvularia spp và Fusarium moniliforme đều có tần số xuất hiện cao hơn các loài nấm khác trên mỗi giống lúa khác nhau (>40%), các nấm Bipolaris oryzae, Trichothecium sp và Alternaria padwickii,… có tần số xuất hiện <40%
Trang 9Trang ph bìa……….… i
Tiểu sử cá nhân……… ……iii
Lời cam đoan……….…………iv
Lời cảm ơn……….……….v
Tóm lược……….……… vi
M c l c……….vii
Danh m c từ viết tắt……… ……….xi
Danh sách bảng……….………xii
Danh sách hình………xiii
MỞ ĐẦU………1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……….…3
1.1 Cấu tạo hạt lúa 3
1.1.1 Vỏ lúa 3
1.1.2 Hạt gạo 3
1.2 Sơ lược về hiện tượng lem lép hạt lúa (Grain Discoloration) 3
1.2.1 Lem lép hạt o côn trùng và động vật gây hại 4
1.2.2 Lem lép hạt do tuyến trùng 4
1.2.3 Lem lép hạt do virus 4
1.2.4 Lem lép hạt do vi khuẩn 4
1.2.5 Lem lép hạt do nấm 4
1.3 Sơ lược nghiên cứu thành phần nấm gây hại hạt lúa 7
1.3.1 Những nghiên cứu ngoài nước 7
1.3.2 Những nghiên cứu trong nước 11
1.4 Sơ lược một số loài nấm gây hại trên hạt lúa 14
1.4.1 Nấm Pyricularia oryzae 14
1.4.2 Nấm Fusarium moniliforme 15
1.4.3 Nấm Bipolaris oryzae 17
Trang 101.4.6 Nấm Trichothecium sp 21
1.4.7 Nấm Pinatubo oryzae 21
1.4.8 Nấm Sarocladium oryzae 22
1.4.9 Nấm Ustilaginoidea virens 22
1.4.10 Nấm Tilletia barclayana 23
1.4.11 Nấm Nigrospora sp 24
1.4.12 Nấm Aspergillus sp 24
1.4.13 Nấm Penicillium sp 25
1.4.14 Nấm Rhizopus sp 25
1.5 Nguồn gốc và đặc tính của một số giống lúa đã được thu mẫu 25
1.5.1 Giống OM6976 25
1.5.2 Giống IR50404 25
1.5.3 Giống OM576 (Hàm Châu) 26
1.5.4 Giống Jasmine 85 26
1.5.5 Giống MTL392 26
1.5.6 Giống OM6161 (HG2) 26
1.5.7 Giống OM6073 26
1.5.8 Giống OM4900 27
1.5.9 Giống OM6600 27
1.5.10 Giống HT6 27
1.5.11 Giống OM5451 27
1.5.12 Giống OM4218 28
1.5.13 Giống OM6162 28
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN - PHƯƠNG PHÁP……….29
2.1 Phương tiện thí nghiệm 29
2.1.1 D ng c thí nghiệm 29
2.1.2 Thiết bị thí nghiệm 29
2.1.3 Vật liệu thí nghiệm 29
Trang 112.2 Phương pháp thí nghiệm 30
2.2.1 Thu thập mẫu bệnh 30
2.2.2 Phương pháp xác định thành phần nấm gây hại trên hạt lúa 30
2.2.3 Xác định tần số xuất hiện của từng loại nấm gây bệnh trên hạt lúa 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN………33
3.1 Kết quả xác định thành phần nấm và tần số xuất hiện trung bình của các loài nấm gây hại trên hạt lúa tại tỉnh Hậu Giang trong v Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012 33
3.1.1 Thu thập mẫu bệnh 33
3.1.2 Thành phấn nấm gây hại trên hạt lúa 35
3.1.3 Tần số xuất hiện trung bình của các loài nấm gây hại trên hạt lúa tại tỉnh Hậu Giang trong v Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012 40
3.2 Tần số xuất hiện các loài nấm trên một số giống lúa trong hai mùa v 43
3.3 Mô tả đặc điểm của các loài nấm gây hại trên hạt lúa và kết quả lây bệnh nhân tạo trên bông lúa (hạt lúa) khỏe 48
3.3.1 Nấm Fusarium moniliforme 48
3.3.2 Nấm Curvularia 51
3.3.3 Nấm Bipolaris oryzae 54
3.3.4 Nấm Trichothecium sp 56
3.3.5 Nấm Alternaria padwickii 58
3.3.6 Nấm Pinatubo oryzae 60
3.3.7 Nấm Chaetomium globosus 62
3.3.8 Nấm Nigrospora sp 64
3.3.9 Nấm Tilletia barclayana 66
3.3.10 Nấm Ustilaginoidae virens 67
3.3.11 Nấm Sarocladium oryzae 67
3.3.12 Nấm Penicilium sp 69
3.3.13 Nấm Aspergillus sp 71
Trang 123.3.16 Nấm Tetraploa aristata 77
3.3.17 Nấm Pyricularia oryzae 78
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ……….79
4.1 Kết luận 79
4.2 Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO………80
Trang 13ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 14Bảng Tựa bảng Trang
Bảng 3.1 Danh sách 42 mẫu hạt lúa thu thập tại 3 huyện Châu Thành, Ph ng
Hiệp và Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang trong v Hè Thu 2011 và Đông
Xuân 2011-2012
34
Bảng 3.2 Sự hiện diện của các loài nấm trong các mẫu hạt lúa được thu thập
tại 3 huyện Châu Thành, Ph ng Hiệp và Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
trong v Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012
37
Bảng 3.3 Tần số xuất hiện trên tổng số mẫu và tần số xuất hiện trung bình của
các loài nấm trong v Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012
42
Bảng 3.4 Tần số xuất hiện của các loài nấm trên các giống lúa khác nhau
trong v Hè Thu năm 2011
46
Bảng 3.5 Tần số xuất hiện của các loài nấm trên các giống lúa khác nhau
trong v Đông Xuân 2011-2012
47
Trang 15Hình Tên hình Trang
Hình 3.2 Đặc điểm tản nấm và triệu chứng bông lúa bị nhiễm nấm Fusarium
moniliforme
50
Hình 3.4 Đặc điểm tản nấm và triệu chứng bông lúa bị nhiễm nấm Curvularia 53 Hình 3.5 Đặc điểm của nấm Bipolaris oryzae và kết quả lây bệnh nhân tạo 55 Hình 3.6 Đặc điểm của nấm Trichothecium sp và kết quả lây bệnh nhân tạo 57 Hình 3.7 Đặc điểm của nấm Alternaria padwickii và kết quả lây bệnh nhân tạo 59 Hình 3.8 Đặc điểm của nấm Pinatubo oryzae và kết quả lây bệnh nhân tạo 61 Hình 3.9 Đặc điểm của nấm Chaetomium globosus và kết quả lây bệnh nhân tạo 63
Hình 4.10 Đặc điểm của nấm Nigrospora sp và kết quả lây bệnh nhân tạo 65
Hình 4.13 Đặc điểm của nấm Sarocladium oryzae và kết quả lây bệnh nhân tạo 68
Hình 4.14 Đặc điểm của nấm Penicilium sp và kết quả lây bệnh nhân tạo 70
Hình 4.15 Đặc điểm của nấm Aspergillus sp và kết quả lây bệnh nhân tạo 72
Hình 4.17 Đặc điểm của nấm Pithomyces sp và kết quả lây bệnh nhân tạo 76
Trang 16MỞ ĐẦU
Lúa (Oryza sativa L.) là một trong các loại lương thực chính của con người,
được trồng ở tất cả các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất của cả nước, hàng năm đóng góp trên 50% sản lượng lúa và trên 90% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của nước ta Cây lúa hiện nay và trong vài thập niên tới vẫn là cây trồng chủ lực ở ĐBSCL (Mai Thành Phụng, 2010) Tuy nhiên, năng suất và chất lượng lúa trong điều kiện thâm canh tăng vụ tại ĐBSCL lại tỉ lệ nghịch với nhau (Phạm Văn Dư và ctv., 2010) Thực vậy, việc sản xuất lúa gạo luôn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bất lợi như sự thay đổi khí hậu toàn cầu, các thiên tai, dịch hại, Trong đó, theo tài liệu của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) cho thấy các loài dịch hại là yếu tố hạn chế lớn nhất đối với lúa gạo, làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng lúa hàng hóa Đặc biệt là các loài nấm gây bệnh thường làm giảm năng suất một cách rõ rệt
Mặt khác, trong sản xuất nông nghiệp nói chung, canh tác cây lúa nói riêng, chất lượng của hạt giống và mức độ sạch bệnh luôn giữ một vai trò rất quan trọng Hạt giống bị nhiễm bệnh không chỉ làm mất năng suất và phẩm chất mà còn liên quan mật thiết với tình hình bệnh hại sau này trên cây lúa Những bệnh được truyền qua hạt giống như bệnh lem lép hạt do nhiều tác nhân, bệnh lúa von (do nấm
Fusarium moniliforme), bệnh thối bẹ (do nấm Sarocladium oryzae), bệnh đốm nâu (do nấm Bipolaris oryzae), bệnh đốm vòng (do nấm Alternaria padwickii),… Trong
đó, bệnh lem lép hạt là một trong những bệnh quan trọng, xuất phát từ khâu hạt giống, hiện nay bệnh gây thất thu qua việc làm giảm sản lượng lúa từ 15-20% và phẩm chất hạt giống lúa, giảm sức nảy mầm từ 15-60% và gây chết cây con (Phạm Văn Dư, 2004)
Trong những thập niên gần đây, nhiều nghiên cứu về nấm gây hại trên hạt lúa và các biện pháp về kiểm tra sức khỏe hạt giống đã được tiến hành Tuy nhiên, với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở ĐBSCL và việc sản xuất lúa ngày càng phát triển, vấn đề thâm canh tăng vụ được đẩy mạnh, cây lúa có mặt ở khắp nơi và hầu như quanh năm là điều kiện hết sức thuận lợi cho nhiều loài nấm phát triển và gây hại
Trang 17trên hạt Do đó, đề tài “Giám định bệnh do nấm trên hạt lúa tại tỉnh Hậu Giang
trong vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012” được thực hiện để:
- Xác định thành phần và tần số xuất hiện trung bình của các loài nấm gây hại trên hạt lúa tại tỉnh Hậu Giang trong vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012
- Xác định tần số xuất hiện của các loài nấm trên một số giống lúa trong hai mùa vụ
Trang 18CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Cấu tạo hạt lúa
Hạt lúa (đúng hơn là trái lúa) gồm có: phần vỏ lúa và hạt gạo (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2008)
1.1.1 Vỏ lúa
Vỏ lúa gồm hai vỏ trấu khép lại (trấu lớn và trấu nhỏ) Ở gốc hai vỏ trấu chổ gắn vào đế hoa có mang hai tiểu dĩnh Phần vỏ chiếm khoảng 20% trọng lượng hạt lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Vỏ trấu ngoài thường lớn hơn vỏ trấu trong và bao bọc khoảng 2/3 diện tích bề mặt hạt gạo đã chín Mép ngoài của vỏ trấu trong khớp chặt với mép trong của vỏ trấu ngoài làm cho vỏ trấu rất kín (Yoshida, 1981)
Hình 1.1 Cấu tạo một hạt lúa (Vũ Văn Liết và Vũ Văn Hoan, 2007)
1.1.2 Hạt gạo
Bên trong vỏ lúa là hạt gạo Hạt gạo gồm hai phần (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008):
- Phần phôi hay mầm: nằm ở góc dưới hạt gạo, chổ đính vào đế hoa, ở về phía trấu lớn
- Phôi nhũ: chiếm phần lớn hạt gạo chứa chất dự trữ, chủ yếu là tinh bột Bên ngoài hạt gạo được bao bọc bởi một lớp vỏ lụa mỏng chứa nhiều vitamin, nhất là vitamin nhóm B Khi xay xát (giai đoạn chà trắng) lớp này tróc ra thành cám mịn
1.2 Sơ lược về hiện tượng lem lép hạt lúa (Grain Discoloration)
Lem lép hạt lúa có thể do nhiều loài sinh vật gây ra, hạt có thể bị nhiễm trước hay sau thu hoạch, mức độ thay đổi tùy mùa và tùy nơi (Ou, 1983) Ngoài ra, lem lép hạt có thể do côn trùng, nhện,… (Phạm Văn Kim, 2006)
Trang 191.2.1 Lem lép hạt do côn trùng và động vật gây hại
Nhiều loài côn trùng và động vật có khả năng làm hạt lúa bị lem lép như: hai
loài bọ xít đen Scotinophara coarctata và Scotinophara lurida; nhiều loài bọ xít hôi thuộc giống Leptocorisa; bọ trĩ Baliothrips biformis; năm loài sâu đục thân Chilo suppressalis, Chilo polycrysus, Scirpophaga incertulas, Scirpophaga innotata và Sesamia inferens; sâu cắn gié Mythimna separala; rệp trắng Brevennia rehi; nhện gié Steneotarsonemus spinki,… (Mueller, 1983; Reissig và ctv., 1993)
1.2.4 Lem lép hạt do vi khuẩn
Võ Thị Thu Ngân và ctv (2012), cho biết: ở châu Á loài vi khuẩn được ghi nhận gây lem lép hạt là Burkholderia glumae; ở châu Mỹ La Tinh, ghi nhận được vi khuẩn Pseudomonas fuscovaginae; ở Phillippin, ghi nhận vi khuẩn Pseudomonas fuscovaginae, Acidovorax avenae và Burkholderia glumae gây hại hạt lúa
Phạm Văn Kim (2006) báo cáo rằng có 4 loài vi khuẩn gây lem lép hạt là
Xanthomonas campestris pv oryzae, Pseudomonas fuscovaginea, Burkholderia glumea và Acidovorax avenae Qua kết quả quan sát 300 mẫu hạt giống lúa thu thập tại 5 tỉnh ĐBSCL trong năm 2011-2012, Võ Thị Thu Ngân và ctv (2012) cũng đã
Trang 20(Ou, 1985) Tuy nhiên, sự tồn tại của nấm trên hạt đến giữa thế kỷ 19 mới được nghiên cứu kỹ, cuối thế kỷ 19 đã có nhiều công bố về bệnh trên hạt của Richarson (1981), Ou (1985),
Theo CMI Distribution maps of plant diseases No92 (1973), nấm truyền qua hạt giống đã được xác định rõ rằng chu kỳ sống của chúng có nhiều giai đoạn tồn tại trên hạt giống và hầu hết các nấm gây bệnh trên cây lúa đã được ghi nhận có truyền qua hạt giống Phạm vi hạt giống bị nhiễm các loài nấm là rất rộng Tuy nhiên, hiểu biết về vai trò và sự quan trọng của nấm bệnh truyền qua hạt giống còn chưa nhiều
Phân bố và thiệt hại
Pham Van Du và ctv (2001) cho biết bệnh lem lép hạt được phát hiện ở miền Trung Việt Nam từ năm 1991 (PPD-MPPC, 1996), đến năm 1992, dịch bệnh
đã được tìm thấy ở Đồng bằng sông Hồng, trung du, vùng duyên hải miền Trung Bệnh đã trở nên nghiêm trọng trong những năm gần đây, thiệt hại về sản lượng và chất lượng rất đáng kể, có nơi ước tính từ 20-50% hạt bị lép, lửng (Trần Văn Hai, 1999)
Theo Trung tâm Bảo vệ Thực vật miền Trung (1996, trích dẫn từ Trần Văn Hai, 1999), nấm gây bệnh trên cả 3 vụ lúa trong năm, bệnh có xu hướng ngày càng tăng cả về diện tích lẫn mức độ gây hại
Ở ĐBSCL, bệnh cũng khá phổ biến, gây hại đáng kể cho vụ Hè Thu và Thu Đông, ở một số nơi tỉ lệ hạt nhiễm trên gié khoảng 5-20%, trung bình khoảng 10% (Võ Thanh Hoàng, 1993) Bệnh có thể làm cho 100% số hạt bị lem, hạt lúa không thể làm giống được (Phạm Văn Kim, 2006)
Tác hại của bệnh do nấm gây hại trên hạt lúa
Nấm gây hại trên hạt thể hiện nhiều tác hại khác nhau Nhóm nấm nhiễm vào hạt trước khi thu hoạch thường làm giảm phẩm chất và giảm sức nảy mầm của hạt, khi gieo, mạ có thể bị nhiễm bệnh (Ou, 1983) Một số loài nấm mốc trong bảo quản
như Aspergillus, Penicillium,… không những làm biến màu hạt mà còn sản sinh ra độc tố (Lizuka và ctv., 1958)
Hầu hết các loài nấm bệnh gây hại nặng và nghiêm trọng trên đồng ruộng đều có khả năng tồn tại cũng như truyền qua hạt giống (Khanam và Khanzada,
Trang 211989) và sự thiệt hại do chúng gây ra là rất lớn như nấm Fusarium moniliforme, Pyricularia oryzae, Bipolaris oryzae, Alternaria padwickii (Phạm Văn Kim, 2006) Ngoài ra, các nấm Curvularia spp., Alternaria spp., Sarocladium oryzae, Bipolaris oryzae,… còn làm cho hạt lúa bị biến màu và làm giảm giá trị thương phẩm
(Danquah và Mathur, 1976; Kato và ctv., 1998)
Khanzada và ctv (2002), cho biết nấm có thể gây hoại tử mô hạt giống Giảm hoặc ngăn cản khả năng nảy mầm cũng như làm thiệt hại cây con (Huynh Van Nghiep và ctv., 2001) Imolehin (1983, trích dẫn từ Seshu và ctv., 1998) cũng
đã nói rằng các loài nấm như Helminthosporium oryzae, Fusarium moniliforme, Penicillium sp., Curvularia lunata, Aspergillus sp., Rhizopus arrhizus, Geotrichum
sp và Alternaria sp ảnh hưởng tiêu cực đến sự nảy mầm của hạt giống trong phòng
lý Gieo hạt giống sạch bệnh cũng làm tăng năng suất 1,3 tấn/ha (41,9%) so với hạt nhiễm bệnh Kết quả này cũng phù hợp với Mew và Misra (1994) đã ghi nhận mức thất thoát năng suất vào khoảng 5-15% do chất lượng hạt giống không đảm bảo
Trang 22thể nâu nhạt hay xám, viền nâu sậm Hạt gạo bên trong bị đổi sang màu đen, đỏ, cam, xanh,… (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Tác nhân
Theo thống kê của IRRI có khoảng 43 loài nấm được xác định là có truyền qua hạt giống (Mew và Misra, 1994) Nấm gây bệnh truyền qua hạt giống có ý nghĩa đặc biệt với cây lúa sau này, gồm nhiều loài khác nhau, thay đổi tuỳ theo từng vùng và từng thời kỳ sinh trưởng của lúa (Suzuki, 1976) Có thể chia nấm gây hại trên hạt làm hai nhóm chính: nhóm nhiễm vào hạt trước khi thu hoạch và nhóm mốc phát triển trên hạt trong quá trình tồn trữ sau thu hoạch (Võ Thanh Hoàng, 1993):
- Nhóm nhiễm vào hạt trước khi thu hoạch bao gồm các loài khá phổ biến như
Bipolaris oryzae cùng các loài Drechslera và Helminthosporium khác; Pyricularia oryzae, Alternaria padwickii, Gibberella fujikuroi, Nigrospora spp., Epicocum spp., Curvularia spp., Phoma sorghina, Alternaria spp và Helicoceras spp
- Nhóm nấm mốc nhiễm vào hạt sau thu hoạch, trong quá trình tồn trữ cũng
gồm nhiều loài, phổ biến nhất là Aspergillus spp., Penicilium spp., Mucor spp và Rhizopus spp
Phạm Văn Kim (2006) cho biết có 13 loài nấm gây hại trên hạt lúa bao gồm:
Fusarium moniliforms (Gibberella fujikuroi), Alternaria padwickii, Sarocladium oryzae, Helminthosporium opryzae (Bipolaris oryzae), Curvularia lunata, Nigrospora oryzae, Pyricularia oryzae (P grisea), Cercospora oryzae, Pinatubo oryzae, Fusarium equiseti, Phoma shorghina và Trichothecium roseum
1.3 Sơ lược nghiên cứu thành phần nấm gây hại hạt lúa
1.3.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu về thành phần nấm gây hại hạt lúa đã được tiến hành từ năm
1959 với rất nhiều nghiên cứu trên các giống lúa từ các nước khác nhau (Xiaolan và Kuan, 1998)
Noble và Mary (1965) đã tìm thấy có 6 loài nấm truyền qua hạt giống:
Drechslera oryzae, Trichoconis padwickii, Pyricularia oryzae, Curvularia lunata, Nigrospora oryzae và Epicoccum sp Tiếp theo đó, Paul Neergaard (1970) ghi nhận
có 14 loài nấm: Alternaria longissima, A tenuis, Cercospora oryzae, Curvularia
Trang 23geniculate, C lunata, Drechslera halodes, D oryzae, Epicoccum sp., Fusarium dimerum, F graminearum, F moniliforme, Nigrospora oryzae, Pyricularia oryzae
và Trichoconis padwickii
Aluko (1988) cho biết giai đoạn từ năm 1975-1981, Warda đã tìm thấy có 6
loài nấm hiện diện khi quan sát 2.959 mẫu hạt giống lúa: Drechslera oryzae, Fusarium moniliforme, F graminearum, Trichoconis padwickii, Aphelenchoides besseyi, Phoma glumarum Năm 1981, Richardson cũng tìm được 41 loài nấm truyền qua hạt giống, bao gồm một số loài điển hình như Alternaria padwickii, Ascochyta oryzae, Brachysporium spp., Curvularia spp., Drechslera australiense, Fusarium moniliforme, F graminearum, Pyricularia oryzae, Sarocladium oryzae, Sclerotium rolfsii, Tilletia barclayana, Ustilaginoidea virens,… Giai đoạn 1975-
1982, Aluko (1988) ghi nhận tại Nigeria có 10 loài nấm khi quan sát 29.888 mẫu
hạt giống, bao gồm các loài như Pyricularia oryzae, Drechslera oryzae, Cercospora oryzae, Sclerotium oryzae, Fusarium moniliforme, Colletotrichum sp., Phoma sp., Tilletia barclayana, Ephelis oryzae và Sclerospora oryzae
Roy (1983) đã liệt kê 19 loài nấm kết hợp với sự đổi màu của hạt Trong đó
nấm Curvularia lunata là phổ biến nhất, chiếm tần số 37%, tiếp theo là Fusarium spp (13%), Chaetomium (6%),… Mew và Misra (1994) cho biết trong những năm
1984-1986, IRRI đã phân lập được 20 loài nấm từ 4.744 mẫu hạt giống lúa bằng phương pháp Blotter, trong đó có những loài nấm xuất hiện phổ biến trong các mẫu
kiểm tra với tỉ lệ cao bao gồm: Trichoniella padwickii (96,9%), Curvularia spp (87,8%), Sarocladium oryzae (55,6%), Phoma spp (39,8%), Nigrospora oryzae (38,3%), Gerlachia oryzae (28,7%), Drechslera oryzae (24,4%), Fusarium moliniforme (21,8%),…; năm 1986 cũng tại IRRI khi tiến hành kiểm tra 372 mẫu hạt giống lúa đã phát hiện 17 loài nấm truyền qua hạt; trong đó nấm Curvularia spp xuất hiện với tỉ lệ cao nhất (82,8%), tiếp theo là Trichoconiella padwickii, Phoma spp., Nigrospora oryzae, Epicoccum purpurascens, Leptosphaeria spp., Phyllosticta glumarum, Sarocladium oryzae, Fusarium moniliforme, Pyricularia oryzae, Cercospora oryzae,…
Trang 24Imolehin (1987, trích dẫn từ Utobo và ctv., 2011) quan sát trên 22 mẫu hạt ở
miền Tây Nam Nigeria, kết quả có 10 loài nấm hiện diện: Drechslera oryzae, Curvularia lunata, Fusarium moniliforme và Rhynchosporium oryzae, các loài nấm hoại sinh là Aspergillus spp., Penicillium spp., Rhizopus spp., Chaetomium spp., Trichoderma spp và Cladosporum spp Trong đó, F moniliforme và D oryzae là hai tác nhân gây bệnh chủ yếu (D oryzae 12%, F moniliforme 40%) Năm 1988,
Sevilla và Mamicpic cho biết tại Philippin có 70 loài nấm được tìm thấy trên hạt,
một số loài điển hình là Alternaria sp., Aspergillus sp., Chaetomium sp., Curvularia sp., Drechslera sp., Fusarium sp., Nigrospora oryzae, Penicillium sp., Pyricularia oryzae, Sacrocladium oryzae, Tilletia barclayana, Ustilagitloidea virens,… Trong
đó, các loài A padwickii, F graminearum, Nigrospora oryzae, Pyricularia oryzae
và Sarocladium oryzae gây thiệt hại có ý nghĩa kinh tế
Mew và ctv (1988) chia nấm gây bệnh trên hạt thành hai nhóm:
- Mầm bệnh trên hạt gây hại cho thân và lá lúa: Pyricularia oryzae, Drechslera oryzae, Cercospora janseana, Alternaria padwickii, Magnaporthe salvinii, Fusarium moniliforme và Sarocladium oryzae
- Một nhóm các tác nhân gây bệnh trên hạt bao gồm: Ustilaginoidea virens, Tilletia barclayana, Curvularia spp., Nigrospora spp., Phoma sorghina và Fusarium graminearum
Kato và ctv (1988) lại phân nấm bệnh liên kết với hạt giống thành 4 nhóm:
- Các bệnh do nấm xâm nhập vào cả trên vỏ và bên trong phôi hạt, làm cho cây con bị bệnh Ngoài ra, nấm còn có thể làm giảm giá trị thương phẩm Các loài
nấm phổ biến gồm Pyricularia oryzae, Drechslera oryzae, Fusarium moniliforme, Alternaria padwickii và Ephelis oryzae
- Các bệnh do nấm xâm nhập vào cả vỏ và bên trong phôi hạt, làm cho hạt lúa
bị biến màu và giảm giá trị thương phẩm, các loài phổ biến: Curvularia lunata, C intermedia, và C clavata; Alternaria padwickii và Bipolaris sorokiniana
- Các loài nấm sản sinh ra rất nhiều bào tử, tập hợp thành cụm trên gié lúa, chúng ngăn chặn quá trình vào chắc hạt và gây ảnh hưởng rất lớn trong quá trình
thu hoạch và bảo quản sau này như: Ustilaginoidea virens và Tilletia barclayana
Trang 25- Các loài nấm chỉ xâm nhiễm vào bề mặt ngoài hoặc vỏ trấu, gây ra sự biến
màu hạt và làm giảm giá trị thương phẩm, gồm các loài nấm: Nigrospora spp., Phyllosticta spp., Fusarium spp., Septoria spp., Trematosphaerella spp., Metasphaeria spp., Melanomma spp., Sphaeropsis spp., Phaeoseptoria spp., Diplodia oryzae, Diplodiella oryzae và Oospora oryzae
Odebunmi và Osikanlu (1989, trích dẫn từ Ibiam và ctv., 2008) tìm thấy nấm
Rhynchosporium oryzae từ 6 mẫu hạt giống lúa Khanam và Khanzada (1989) khi
quan sát 30 mẫu của 10 giống lúa được thu thập từ Pakistan thấy có 22 loài nấm
như Alternaria alternaria, Aspergillus flavus, Curvularia lunata, C clavata, Drechslara halodes, D oryzae, Fusarium moniliforme, Penicillium sp., Nigrosspora oryzae,…
Ibiam và ctv (2008) cho biết: Bora và Gogoi (1993) đã phân lập Fusarium moniliforme và Bipolaris oryzae từ hạt bị biến màu; Riaz Ahmed (1995) phân lập Helminthosporum spp., Curvularia, Fusarium và Aspergillus từ các hạt giống tại
các tỉnh miền Nam Pakistan
Nafula (1997) đã phát hiện có 8 loài nấm trên hạt từ 6 mẫu hạt giống tại miền
Tây Kenya, loài chiếm tần số cao là nấm Acremonium sp (34,10%), kế đến là Pyricularia oryzae (20,00%), Bipolaris oryzae (27,00%), Fusarium moniliforme (8,20%), Fusarium pallidoroseum (2,40%), Nigrospora oryzae (4,70%), Phoma sp (2,35%) và Alternaria padwickii (1,25%)
Năm 1998, Xiaolan và Kuan ghi nhận tại Hồ Nam, Trung Quốc có 5 loài
nấm gây hại trên hạt: Alternaria padwickii, Curvularia spp., Tilletia barclayana, Fusarium spp., Aspergillus spp và Cladosporium spp
Islam và ctv (2000) ghi nhận có 7 loài nấm trên hạt: Alternaria padwickii, Curvulariasp, Fusarium moniliforme, Sarocladium oryzae, Pyricularia oryzae, Bipolaris oryzae, Microdochium oryzae Khan và ctv (2000) cũng đã ghi nhận có các loài nấm: Trichoconis padwickii, Helminthosporium oryzae, Curvularia lunata, Cochlobolus lunatus, Alternaria tenuis và Epicoccum sp
Trang 26Mew và Gonzales (2002) kiểm tra 500.000 lô hạt giống và phát hiện hơn 80
loài nấm hiện diện, trong đó nấm Alternaria padwickii có tỉ lệ xuất hiện rất cao 90%), kế đến là nấm Bipolaris oryzae, Curvularia lunata, Fusarium semitectum, F moniliforme, Microdochium oryzae, Sarocladium oryzae, Pinatubo oryzae, Pithomyces maydicus, Chaetomium globosum,…
(80-Butt và ctv (2007) đã ghi nhận có hơn 20 loài nấm hiện diện trên hạt của các
giống lúa khác nhau: Pyricularia oryzae, Alternaria alternata, A padwickii, Curvulariam oryzae, C lunata, Drchslera oryzae, Aspergillus niger, Fusarium miniliforme, F oxysporum, F solani, Chaetomium, Sclerotium, Pecicillium,…
Ibiam (2008) cho biết trên hạt có các loài nấm: Fusarium moniliforme, Bipolaris oryzae, Fusarium oxysporum, Chaetomium globosum, Curvularia lunata, Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Aspergillus terreus, Alternaria tenuis, Penicillium sp và Trichoderma harzianum
Utobo và ctv (2011) đã xác định có tổng cộng 9 loài nấm được phân lập từ các mẫu hạt giống lúa được thu thập tại Đông Nam Nigeria Nấm xuất hiện thường
xuyên nhất được phân lập là Trichoconis padwickii với tần số xuất hiện là 37,14%, tiếp theo là Helminthosporium oryzae (17,14%), Fusarium moniliforme (14,29%), Aspergillus niger (9,71%), Rhizopus oryzae (6,29%), Curvularia lunata (5,71%), Penicillium sp (5,71), Alternaria oryzae (3,43%) và Pyricularia oryzae (0,57%)
Islam và ctv (2012) đã tìm thấy 9 loài nấm, trong đó nấm Aspergillus flavus
có tần số xuất hiện cao (14,00%), kế đến là Alternaria padwickii (12,00%), Curvularia lunata (8,25%), Fusarium moniliforme (6,00%), Bipolaris oryzae (2,50%), Rhizopus sp (1,50%), Aspergillus niger (0,50%), Aspergillus clavatus (0,25%) và Chaetomium sp (0,25%)
1.3.2 Những nghiên cứu trong nước
Võ Thanh Hoàng (1993) cho biết trong vụ Hè Thu và Thu Đông năm 1991 tại huyện Cai Lậy (Tiền Giang) ghi nhận có 9 loài nấm hiện diện, trong đó phổ biến
nhất là Helminthosporium oryzae, kế đến là các loài Fusarium moniliforme, Trichoconis padwickii, Curvularia lunata,…
Trang 27Kết quả nghiên cứu của Trần Đình Nhật Dũng (1996) bước đầu đã xác định
được 7 loài nấm được phân lập trên hạt bao gồm: Pyricularia oryzae, Rhizoctonia solani, Bipolaris oryzae, Fusarium moliniforme, Alternaria padwidkii, Sarocladium oryzae, Microdochium oryzae (trích dẫn từ Trần Đình Nhật Dũng và ctv., 1999)
Ngô Bích Hảo và ctv (2005) cho biết trong giai đoạn 1998-1999 đã kiểm tra các mẫu hạt giống thu thập tại các tỉnh phía Bắc cũng đã giám định được các loài
nấm: Fusarium moliniforme, Microdochium oryzae, Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Ustilaginoides virens, Fusarium palidoroseum, Tilletia barclayana, Pyricularia oryzae, Curvularia lunata Trong đó, số mẫu nhiễm nấm Alternaria padwickii là 90%, kế đến là Microdochium oryzae (65%), Bipolaris oryzae (61%),
còn lại dưới 10% là nhiễm các loài nấm khác
Tại Cần Thơ, Lương Minh Châu và ctv (1998) tìm thấy 10 loài nấm trên hạt
Trong đó, Fusarium moniliforme là loài nấm có tỉ lệ xuất xuất hiện cao từ 50-99%,
kế đến là nấm Tilletia barclayana, Curvularia spp và Nigospora oryzae với tỉ lệ nhiễm 1-93% Các loài Helminthosporium oryzae, Phoma spp và Sacrocladium oryzae hiện diện với tỉ lệ thấp <20%; 3 loài nấm kho vựa được ghi nhận là Penicillium sp., Aspergillus sp và Rhizopus sp
Trần Văn Hai (1999) cho biết trong vụ Hè Thu 1997 tại 18 tỉnh phía Nam có
tổng cộng 11 loài nấm: Curvularia lunata, Aspergillus spp., Alternaria sp., Mucor sp., Tilletia barclayana, Rhizopus sp., Penicillium sp., Helminthosporium oryzae, Pyricularia oryzae, Fusarium moniliforme và Ustilago sp Trong đó có 3 loài có tần
số xuất hiện cao là Curvularia lunata (55,4%), Aspergillus spp (51,9%) và Alternaria sp (36,9%)
Kết quả điều tra 60 mẫu hạt giống lúa thu thập tại Long An và 20 mẫu hạt
giống lúa thu thập tại Cần Thơ, Pham Van Du và ctv (2001) ghi nhận:
- Tại Long An có 9 loài nấm, bao gồm Curvularia spp có tần số xuất hiện cao (13,44%), kế đến là Alternaria padwickii (12%), Bipolaris oryzae (4,9%), Sarocladium oryzae (1,9%), Fusarium graminum (1,5%), Cephalosporium oryzae (0,34%), Tilletia barclayana (0,16%), Phoma sorghina (0,1%) và Ustilaginoidea virens (0,05%)
Trang 28- Tại Cần Thơ có 8 loài nấm, bao gồm Alternaria padwickii có tần số xuất hiện cao, kế đến là Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme, F pallidoroseum, F subglutinans, Microdochium oryzae, Phoma sp và Sarocladium oryzae
Huynh Van Nghiep và ctv (2001) khảo sát trên 10 mẫu hạt giống ở 4 tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp và An Giang thấy có 5 loài nấm hiện diện phổ
biến là Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae và Sarocladium oryzae
Lý Đại Khoa (2003) đã thu thập 90 mẫu hạt giống lúa tại tỉnh Hậu Giang, kết
quả có 6 loài nấm được ghi nhận Trong đó, nấm Alternaria padwickii xuất hiện trên cả 90 mẫu hạt với tỉ lệ nhiễm 15,89-24,00%, nấm Bipolaris oryzae với tỉ lệ nhiễm 7,87-10,12%, nấm Curvularia lunata với tỉ lệ nhiễm 5,47-8,33%, nấm Fusarium moniliforme cũng xuất hiện trên 90 mẫu hạt với tỉ lệ nhiễm 0,87-3,93% Các loài nấm hoại sinh kho vựa cũng phát hiện nhiễm trên mẫu hạt như Rhizopus sp., Aspergillus sp., nhưng với tần số thấp
Năm 2004, qua kết quả điều tra các mẫu hạt giống lúa thu thập tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, Nguyễn Kim Vân và ctv (2006) đã tìm thấy có 18 loài nấm Đặc biệt một số loài nấm tìm thấy trên hạt cũng là những loài nấm gây bệnh trên cây lúa ngoài đồng ruộng đã gây nhiều tổn thất trong sản xuất như nấm
Pyricularia oryzae, Rhizoctonia solani, Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme,…
Phan Quốc Hoàn (2004) cũng đã phát hiện 8 loài nấm từ các mẫu hạt giống thu thập ở 3 tỉnh Đồng Tháp, Hậu Giang và Cần Thơ Trong đó hai loài phổ biến
nhất là nấm Alternaria padwickii với tỉ lệ nhiễm 7,0-91% và nấm Bipolaris oryzae với tỉ lệ 1-74% Nấm Fusarium moniliforme chỉ nhiễm 5,2%, các nấm khác với tỉ lệ nhiễm ở hạt là Tilletia barclayana (53,8%), Curvularia sp (22,8%), Memnoniella
Trang 29quả còn ghi nhận điều kiện ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tần số xuất hiện của một
số loài nấm như Fusarium spp có tần số xuất hiện cao ở ánh sáng đèn néon
Huỳnh Thị Diễm (2011) khảo sát hạt giống của 12 giống lúa (VĐ20, Jasmine
85, IR50404, OM4900, OM576, OM6561, OM3536, OM2514, Nếp 46 chùm,
OM5472, OM4218, OM1490) và cho biết có 7 loài nấm hiện diện: Alternaria padwickii, Curvularia lunata, Aspergillus sp., Rhizopus sp., Penicillium sp., Fusarium sp., Mucor sp Nấm Alternaria padwickii, Curvularia lunata, Aspergillus
sp và Rhizopus sp xuất hiện phổ biến trên tất cả các giống
1.4 Sơ lược một số loài nấm gây hại trên hạt lúa
1.4.1 Nấm Pyricularia oryzae
Nấm Pyricularia oryzae có thể xâm nhiễm vào bất kỳ giai đoạn tăng trưởng
nào của cây lúa mặc dù nó thường xuyên xuất hiện trên giai đoạn lúa nhỏ và giai đoạn trổ bông (Mew và Gonzales, 2002) Các vị trí khác nhau của bông lúa đều có thể bị nấm tấn công với triệu chứng là các vết màu nâu xám hơi teo thắt lại Vết bệnh ở hạt không định hình, màu nâu xám hoặc nâu đen (Vũ Triệu Mân, 2007) Triệu chứng trầm trọng nhất là bông lúa bị bạc trắng, toàn gié lúa bị lép, bệnh nhẹ hơn thì bông lúa bị lép một số hạt, số còn lại bị lửng (Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993) Khi gặp điều kiện ẩm độ cao thì trên vết bệnh thường nổi lên một lớp phấn mịn, xám tro, đó là các bào tử nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Theo Mathur (1981), bào tử của nấm P oryzae có thể tồn tại trên bề mặt hạt
và sợi nấm phát triển vào bên trong phôi, nội nhũ, bào tử nấm có thể tồn tại trong phôi, giữa lớp vỏ trấu và hạt gạo, kẹt giữa mày hạt gạo và vỏ trấu Aulakh và ctv (1974) cho biết những mẫu hạt được thu nhập từ cánh đồng nhiễm bệnh đạo ôn nặng đem kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho thấy có 65% bào tử nằm trên vỏ trấu, 4% nằm trong phôi, 25% nằm ở vỏ cám Những hạt lúa trong cùng lô này khi kiểm tra bằng cách gieo trên môi trường water agar (môi trường thạch nước cất), kết quả cho thấy 7-8% cây mạ có triệu chứng bệnh, còn khoảng 90% cây mạ không có biểu hiện rõ ràng triệu chứng bệnh Một nghiên cứu khác ở Mỹ của Lamey năm
1970 (trích dẫn từ Aulakh và ctv., 1974), cho thấy những hạt giống lúa với 40% bề mặt bị nấm gây hại đem gieo trồng thì có 7-13% cây mạ biểu hiện triệu chứng bệnh
Trang 30Nấm P oryzae có thể được quan sát trên hạt lúa vào thời điểm 3-4 ngày sau
khi ủ dưới ánh sáng cận cực tím ở 21oC Trên hạt sợi nấm khí sinh ít xuất hiện Nếu
có, sợi nấm phân nhánh, không màu đến vàng ôliu Nếu không có sợi nấm khí sinh, đính bào đài sẽ mọc trực tiếp từ bề mặt hạt một cách riêng lẻ hoặc thành cụm, chúng mọc thẳng đứng và có màu hơi nâu Bào tử có thể không màu, ôliu nhạt hoặc xám nhạt (Mew và Gonzales, 2002)
Sợi nấm có vách ngăn, phân nhánh và không màu (Mew và Gonzales, 2002) Cành bào tử phân sinh hình trụ, không phân nhánh, có 2-4 vách ngăn, đầu cành thon
và hơi gấp khúc, có màu xanh hơi vàng hay màu xám nâu, nhạt màu dần về phía ngọn mang 1-20 bào tử Bào tử đính có hình quả lê, 2 vách ngăn, có khi có 1-3 vách ngăn, không màu hoặc màu xanh nhạt, kích thước trung bình là 19-23μm x 7-9μm,
có một phụ bộ dài 1,6-2,4μm (Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triệu Mân, 2007)
Tản nấm trên môi trường Potato Dextrose Agar (PDA) ở nhiệt độ phòng
(28-30oC) phát triển rất chậm và có đường kính 3,04cm sau 5 ngày nuôi cấy Chúng là các khoanh, sợi nấm hơi bện chặt, sợi nấm khí sinh màu trắng, mép đều Mặt sau đĩa petri là các khoanh màu đen (Mew và Gonzales, 2002)
Nấm P oryzae lưu tồn chủ yếu là trong rơm lúa, hạt nhiễm bệnh và cỏ dại
(Ou, 1985) Ngoài gây hại cho lúa, nấm còn được tìm thấy trên một số cỏ dại trong ruộng như cỏ đuôi phụng, cỏ lồng vực nước, cỏ túc hình,… (Phạm Văn Kim và Lê
Thị Sen, 1993); cỏ bắc (Leersia hexandra), cỏ ống (Panicum repens), (Trần Thị
Thu Thủy, 2011a)
Nấm F moniliforme được tìm thấy chủ yếu ở phôi hạt Ngoài ra, nấm cũng
tồn tại trên mày hạt, vỏ trấu trên và vỏ trấu dưới, nấm tồn tại trên hạt có thể làm mất màu tự nhiên của hạt, có những hạt nhìn rất khoẻ nhưng thực tế đã bị nhiễm nấm
Trang 31(Vidhyasekaran và Govindaswani, 1968) Nấm có thể quan sát thấy trên vỏ hạt lúa (khoảng 57%) (Mew và Gonzales, 2002)
Ibiam và ctv (2008) cho biết: Yu và Sun (1976) báo cáo ở Đài Loan trên cánh đồng có nấm xuất hiện và đang phát triển mạnh thì 100% hạt đều mang bào tử nấm, trong số đó 30% sẽ biểu hiện bệnh lúa von khi gieo trồng và 1,0-31,2% cây
mạ nhiễm bệnh từ những hạt lúa không mang vết bệnh nào được thu hoạch từ cánh đồng bị nhiễm và đem gieo; Bora và Gogoi (1993), cho biết nấm còn làm giảm khả năng nảy mầm hạt giống
Theo Mew và Gonzales (2002), nấm F moniliforme có thể được quan sát
trên hạt lúa ở thời điểm 5 ngày sau khi ủ hạt lúa dưới ánh sáng cận cực tím ở 21°C Trên hạt sợi nấm màu trắng mịn, thường bao phủ toàn bộ bề mặt hạt, giấy thấm bên dưới hạt đôi khi biến thành màu tím (Mew và Misra, 1994)
Sợi nấm không màu, có vách ngăn Đính bào đài mọc đơn, ở bên hông các sợi nấm khí sinh, hình dùi, thon dần về phía đỉnh Tiểu bào tử trong suốt, hình thoi, hình trứng hoặc hình chùy, có một hoặc hai tế bào, có thể phát triển đơn hoặc thành chuổi, kích thước từ 2,53-16,33μm x 2,30-5,75μm Đại bào tử không màu, cong như hình lưỡi liềm hoặc gần như thẳng, tế bào có vách mỏng, hai đầu nhọn, 3-5 vách ngăn, thường là 3 vách ngăn, hiếm khi có 6-7 vách ngăn, kích thước từ 18,86-40,71μm x 2,76-4,60μm (Mew và Gonzales, 2002)
Tản nấm trên môi trường PDA ở nhiệt độ phòng (28-30°C) phát triển tương đối nhanh và có đường kính là 5,20cm sau 5 ngày nuôi cấy Chúng là các khoanh màu trắng với tâm màu hồng, sợi nấm hơi bện chặt Mặt sau đĩa petri, chúng là các
khoanh màu trắng với tâm tím nhạt (Mew và Gonzales, 2002)
Nấm lưu tồn trên xác bả thực vật, trong đất và hạt giống (Ou, 1983) Nấm có
khả năng sống đến 26 tháng trên hạt lúa và 28 tháng trên gốc rạ khô (CABI, 2003) Hạch nấm tồn tại khá lâu trong đất, có thể hơn 2 năm (Phạm Văn Kim, 2000)
Nấm F moniliforme là nấm đa thực, phạm vi ký chủ ngày càng mở rộng trên
nhiều loại cây trồng khác nhau như lúa, bắp, cà, chuối, táo, mía, đậu,… (Agrios, 2005)
Trang 321.4.3 Nấm Bipolaris oryzae
Triệu chứng do nấm Bipolaris oryzae trên vỏ trấu của hạt là những đốm màu
đen hay nâu sậm, nếu nhiễm nặng thì phần lớn hay toàn bộ bề mặt vỏ hạt bị nâu Trong điều kiện ẩm ướt trên vết bệnh xuất hiện những cành bào tử và bào tử nâu đậm giống như một lớp nhung mịn Nấm có thể xâm nhập vào bên trong làm nội nhũ có những đốm đen (Ou, 1983)
Mew và Gonzales (2002) báo cáo rằng nấm được quan sát thấy trên toàn bộ
bề mặt hạt giống Trong đó cuống hạt với tỉ lệ cao nhất (82%), kế đến là mày hạt (61%), phôi (14%) và nội nhũ (9%) (Vu Van Ba và Somsiri Sangchote, 2006)
Nấm có ảnh hưởng đáng kể gây ra những cây mạ bất bình thường Hạt giống lúa có tỉ lệ hạt lem và nhiễm nấm cao có khả năng truyền bệnh sang vụ sau và gây ảnh hưởng đến năng suất (Lý Đại Khoa, 2003; Phan Quốc Hoàn, 2004) Ngoài ra,
Bora và Gogoi (1993, trích dẫn từ Ibiam và ctv., 2008), cũng đã báo cáo rằng B oryzae làm giảm khả năng nảy mầm của hạt giống Vu Van Ba và Somsiri
Sangchote (2006) cũng cho biết Bedi và Gill (1960) ước tính rằng tỉ lệ nảy mầm giảm từ 11,0-37,3%
Ou (1985) đã báo cáo nấm bệnh lây nhiễm qua hạt giống là chủ yếu, những hạt nhiễm bệnh sơ cấp thường truyền bệnh sang cho cây con Bệnh có thể làm chết
mạ nếu gieo từ hạt giống bị nhiễm Những hạt có biểu hiện khoẻ mạnh cũng không loại trừ khả năng mang nấm bệnh này Suzuki (1930) cho rằng cây con từ hạt giống nhiễm nấm sau khi nảy mầm triệu chứng đầu tiên là trên lá mầm và lây lan sang các vùng mô khỏe Tại Nigeria, Aluko (1988) đã quan sát thấy mẫu lúa có 81,9% số hạt nhiễm bệnh khi đem gieo sẽ có 90% cây con bị chết Mẫu này nếu đem gieo ra ngoài đồng sẽ có 45% hạt nảy mầm và 6 tuần sau những cây mạ đã nhiễm bệnh sẽ tiếp tục bị chết Padmanabhan và Ganguly (1954) cho rằng hạt lúa dễ bị nhiễm nấm
B oryzae ở giai đoạn trổ hơn là giai đoạn vào chắc hạt
Nấm B oryzae dễ dàng quan sát được trên hạt lúa sau 5 ngày ủ trên giấy
thấm và đặt dưới đèn cận cực tím ở 22oC Có hai dạng nấm được phát triển trên hạt: Dạng thứ nhất cho ít bào tử và sợi nấm khí sinh mọc nhiều, mịn, màu xám, xám xanh đến đen, đính bào đài thường mảnh và khó phân biệt với sợi nấm, bào tử sậm
Trang 33màu hơn sợi nấm, được sinh ra đơn lẻ ở phần rìa khuẩn ty Dạng thứ hai cho nhiều bào tử và sợi nấm khí sinh ít hơn Đính bào đài thường thẳng hoặc hơi cong, hơi dài, mọc đơn, màu nâu đến nâu sậm, mọc thẳng đứng riêng lẻ hoặc thành từng đám trên bề mặt hạt, mang các bào tử ở đỉnh Thường có 3-5 bào tử trên một đính bào đài (Mew và Gonzales, 2002)
Theo Ou (1985), nấm B oryzae thuộc bộ Moniliales, nhóm Hyphomycetes, lớp nấm bất toàn, giai đoạn sinh sản hữu tính là Cochliobolus miyabeanus
Drechles (1934) mô tả sợi nấm phát triển phân nhánh, màu nâu đậm hoặc ôliu, đường kính 4-5µm (trích dẫn từ Vũ Triệu Mân, 2007) Đính bào đài có vách ngăn, mọc đơn hoặc thành từng cụm, thẳng hoặc hơi cong, thỉnh thoảng cong quặp, màu nâu nhạt đến nâu, mang bào tử ở đỉnh Bào tử có màu nâu sậm đến màu nâu ô liu, thẳng hoặc hơi cong Bào tử lớn nhất có đến 13 vách ngăn Đối với bào tử có 5-9 vách ngăn: kích thước 39,56-101,89m x 11,96-16,10m, bào tử có 4-11 vách ngăn: kích thước 43,47-101,43m x 12,19-16,10m (Mew và Gonzales, 2002).
Sau 5 ngày ở 30oC trên môi trường PDA tản nấm đạt đường kính 8,1cm (Mew và Misra, 1994) Chúng là các khoanh với rìa nhăn, mịn ở tâm, mọc tơi như bông ra rìa, màu vàng xám ở tâm và màu vàng ở mép Mặt sau của đĩa petri là các khoanh màu đen (Mew và Gonzales, 2002)
Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) cho biết nấm lưu tồn trong xác bả thực vật, trên hạt giống và các ký chủ dại là nguồn bệnh cho các vụ sau Suzuki (1930) cho rằng nấm bệnh tồn tại trên hạt sau 4 năm
Nấm còn được tìm thấy trên một số loài cỏ dại như: Leersia hexandra, Echinochlaa colona, Pennisetum lacphoides và Setoria italic (Mew và Misra, 1994); cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis) (Trần Thị Thu Thủy, 2011a).
1.4.4 Nấm Alternaria padwickii
Triệu chứng trên vỏ hạt có đốm màu nâu nhạt hay trắng bạc, rìa có màu nâu sậm, tâm có đốm đen nhỏ Nấm có thể xâm nhập vào hạt gạo bên trong làm biến màu hạt, hạt biến dạng, giòn, dễ vỡ khi xay (Võ Thanh Hoàng, 1993) Điều kiện ẩm
Trang 34ướt, trên bề mặt vết bệnh có những lớp nấm màu nâu đen xuất hiện (Đặng Vũ thị Thanh, 2008)
Cheeran và Raj (1966, trích dẫn từ Ou, 1985) cho rằng bào tử A padwickii có thể
tồn tại trên bề mặt hạt, tản nấm có thể phát triển trong tế bào nội nhũ, phôi, mày hạt
và vỏ cám Những quan sát theo phương pháp giấy thấm cho thấy nấm đã làm ảnh hưởng tới sự phát triển của mầm, dễ làm hạt bị chết hoặc rất khó phát triển thành cây mầm bình thường (Marthur và Kongsdal, 2000; Utobo và ctv., 2011)
Nấm A padwickii dễ dàng quan sát được trên hạt lúa sau 5 ngày ủ trên giấy
thấm và đặt dưới đèn cận cực tím ở 21oC Hạt lúa nhiễm nấm sau khi ủ sẽ hiện diện nhiều sợi nấm khí sinh, mịn, phân nhánh, màu xám nhạt hoặc không màu khi còn non, trở thành màu vàng kem khi trưởng thành, bào tử nằm riêng lẻ trên từng đính bào đài, màu sậm hơn màu sợi nấm (Mew và Gonzales, 2002) Đôi khi có màu hồng nhạt đến màu nâu được quan sát thấy trên giấy thấm xung quanh hạt (Mew và Misra, 1994)
Sợi nấm trong suốt khi còn non, có màu kem vàng khi già, đường kính 5,7μm và cứ 20-25μm phân nhánh một lần, phân nhánh hầu như thẳng góc và vách ngăn sớm thành lập nơi gốc nhánh (Võ Thanh Hoàng, 1993)
3,4-Ellis (1971, trích dẫn từ Đặng Vũ Thị Thanh, 2008) mô tả cành bào tử không màu hay vàng nhạt, kích thước 3-5,5µm x 95-120µm
Bào tử có dạng thẳng, hình dạng thay đổi với phần roi phụ dài, phần đầu có 3-5 vách ngăn, vách dày, tế bào thứ 2 tính từ gốc có kích thước lớn hơn các tế bào còn lại Kích thước khoảng 81,42-225,40m tính cả phần đuôi, bề ngang rộng nhất
là 11,96-23,46m và bề rộng nhất của phần đuôi là 2,99-5,52m (Mew và Gonzales, 2002)
Tản nấm mọc trên môi trường PDA ở nhiệt độ phòng (28-30oC) mọc với tốc
độ khá nhanh (đạt 4,32cm đường kính sau 5 ngày) Chúng là các khoanh màu nâu nhạt, sợi nấm bện chặt Ở mặt sau đĩa petri, là các khoanh đen, rìa sáng (Mew và Gonzales, 2002)
Padwick (1950, trích dẫn từ Mew và Misra, 1994) cho biết nấm tồn tại trong đất, rơm rạ Nấm cũng gây bệnh trên một số loài cỏ dại và là nguồn lây bệnh
Trang 351.4.5 Nấm Curvularia spp
Trên hạt vết bệnh tròn nhỏ màu nâu Hạt bị bệnh thường biến màu, trên hạt nấm mọc thành lớp mốc màu xám đến nâu xám (Vũ Triệu Mân, 2007)
Nấm Curvularia spp hiện diện chủ yếu trên bề mặt hạt hoặc dưới lớp vỏ trấu
dưới dạng sợi nấm và bào tử phân sinh (Vũ Triệu Mân, 2007) Đây là loài phổ biến nhất hiện diện trên hạt lúa (Mew và Misra, 1994)
Ủ trên giấy thấm dưới ánh sáng cận cực tím ở 21o
C, nấm có thể được quan sát trên hạt giống sau 7 ngày Sợi nấm rất ít mọc khí sinh Nếu có, chúng có màu nâu, phân nhánh nhiều Đính bào đài mọc đơn hay thành cụm, màu nâu đậm, dạng thẳng, đôi khi hơi cong và được sinh ra trực tiếp từ bề mặt hạt lúa (Mew và Gonzales, 2002)
Vũ Triệu Mân (2007) cho biết có khoảng 14 loài Curvularia nhưng phổ biến nhất là C lunata và C geniculata Nấm thuộc lớp nấm bất toàn, giai đoạn hữu tính
là Cochliobolus lunatus và Cochliobolus geniculata
Ou (1983) đã mô tả loài C lunata như sau: sợi nấm có vách ngăn, phân
nhiều nhánh, màu nhạt đến nâu sáng, đường kính sợi nấm 2-5µm Cành bào tử màu nâu đậm, không phân nhánh, có vách ngăn, gần đỉnh đôi khi cong xuống và có màu, kích thước 70-270µm x 2-4µm Bào tử mọc trên đỉnh từ một đến nhiều bào tử sắp xếp thành vòng xoắn ốc, bào tử hình thuyền, đỉnh tròn, đại bộ phận hơi thắt lại ở gốc, có 3 vách ngăn, tế bào thứ hai lớn và màu đậm hơn so với tế bào khác, bào tử hơi cong ở tế bào này, kích thước 19-30µm x 8-16µm
Tản nấm C lunata trên PDA ở nhiệt độ phòng (28-30°C) phát triển nhanh và
đạt được đường kính 8,40cm sau 5 ngày Chúng là các khoanh màu xanh xám, sợi nấm mịn, bện chặt Ở mặt sau đĩa petri, chúng là các khoanh màu xám (Mew và Gonzales, 2002)
Nấm tồn tại chủ yếu trên các hạt giống và rơm rạ của các cây bị nhiễm bệnh
(Vũ Triệu Mân, 2007) Nấm C lunata gây hại trên quả cà chua, chuối và ớt C
geniculata gây hại cho cải bắp, đậu Hà Lan,…(Ou, 1983; Vũ Triệu Mân, 2007)
Trang 361.4.6 Nấm Trichothecium sp
Trên hạt sợi nấm phân nhánh, không màu Cành bào tử dài phân sinh mọc trực tiếp từ bề mặt hạt thành từng cụm hoặc đơn lẻ, không phân nhánh, trong suốt Đôi khi phát triển bao phủ một phần hoặc cả bề mặt hạt, màu hồng nhạt hoặc trong suốt, mang một hoặc nhiều bào tử đính phía trên đỉnh Bào tử dạng gần tròn, trong suốt, đính trên cành bào đài như những giọt nước (Hồ Văn Thơ, 2007)
Sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn ngang, không màu, bắt màu xanh khi nhuộm với cotton blue Đính bào đài dài, mảnh, có vách ngăn, không phân nhánh, mang một hoặc nhiều bào tử Bào tử dạng trứng hoặc bầu dục, viền nâu đậm, không màu, có hai tế bào và hơi thắt eo ở chổ vách ngăn Một đầu to tròn còn đầu kia thì hơi thắt lại như dạng hạt dưa Kích thước trung bình là 7,05µm x 4,03µm (Hồ Văn Thơ, 2007)
Tản nấm phát triển tương đối nhanh, bằng phẳng, lúc đầu có màu trắng về sau có màu hồng hay da cam (www.mycology.adelaide.edu.au, 2012)
Nấm tồn tại trong xác bả thực vật, trong đất, hạt giống bắp,… (www.mycology.adelaide.edu.au, 2012)
Nấm còn gây hại trên táo, xoài, cà chua, các cây họ bầu bí,… (CABI, 2003)
1.4.7 Nấm Pinatubo oryzae
Trên hạt vết bệnh có màu xám (Mew và Gonzales, 2002)
Nấm P oryzae có thể được quan sát trên hạt lúa sau 5 ngày ủ bệnh dưới ánh
sáng đèn cận cực tím ở 21o
C Sợi nấm khí sinh xuất hiện từ ít đến nhiều, màu trắng
và phân nhánh Bào tử đính sinh ra ở đỉnh và sắp xếp như một bông hoa (Mew và
Gonzales, 2002)
Mew và Gonzales (2002) mô tả sợi nấm trong suốt, có vách ngăn Đính bào đài mọc đơn, ngắn, phân nhánh với mấu dạng răng nhỏ ở phần tận cùng Bào tử có hình bầu dục kéo dài, một đến 2 tế bào, nhọn ở phần gốc và tròn ở đỉnh, không màu, kích thước 5,75-12,88µm x 2,70-6,21µm
Tản nấm trên PDA ở nhiệt độ phòng (28-30oC) sinh trưởng nhanh và đạt được đường kính 5,02cm sau 5 ngày Chúng là những khoanh với mép rìa đều, mọc
Trang 37thành khóm và màu đỏ nhạt Mặt sau đĩa petri là các khoanh sáng, màu từ cam đến vàng cam nhạt hướng về rìa (Mew và Gonzales, 2002)
Theo Mew và Gonzales (2002), nấm S oryzae có thể được quan sát trên toàn
bộ hạt lúa (46%) và ở phần vỏ hạt (31%) Milagrosa (1987) đã phân lập được nấm trên hai loại hạt biến màu và không biến màu thu từ cây lúa bị bệnh thối bẹ cho thấy mức độ nhiễm bệnh của hạt không biến màu thấp hơn so với loại hạt biến màu
Nấm S oryzae có thể được quan sát thấy trên hạt lúa 7 ngày sau khi ủ dưới
điều kiện ánh sáng cận cực tím ở 21°C Sợi nấm màu trắng, phân nhánh, có vách ngăn, mọc sát bề mặt hạt lúa, ít khi mọc khí sinh Đính bào đài hơi dày hơn so với sợi nấm dinh dưỡng, mọc đơn, hoặc phân nhánh một lần hoặc hai lần, đỉnh cuối nhánh thon nhọn Bào tử không màu, nhẵn, đơn bào, hình trụ với đầu tròn, dạng thẳng, đôi khi hơi cong, hình thành đơn lẻ, kích thước khoảng 2,07-8,74μm x 1,15-3,68μm (Mew và Gonzales, 2002)
Tản nấm trên PDA ở nhiệt độ phòng (28-30°C) mọc chậm và đạt đường kính 4,33cm sau 15 ngày Chúng là các khoanh màu cam nhạt, mịn, mép đều Mặt sau đĩa petri là các khoanh màu vàng nâu (Mew và Gonzales, 2002)
Nấm chủ yếu là lưu tồn trong hạt (Võ Thanh Hoàng, 1993) Nấm còn gây hại
trên nhiều loại cây trồng như: ngô, kê lương, một số loài cỏ dại như: Cyperus iria,
C tenneriffae, C difformis, Echinochloa crus-galli, Eleusine indica, Monochoria vaginalis,… (CABI, 2003)
1.4.9 Nấm Ustilaginoidea virens
Nấm xâm nhiễm vào hạt, biến từng hạt riêng lẻ thành khối bào tử hình tròn dạng nhung mịn Khối bào tử lúc đầu nhỏ, sau đó to dần và đạt tới đường kính 1cm, khối bào tử này được bao phủ bởi màng mỏng, trơn nhẵn màu vàng, sau đó biến
Trang 38thành màu xanh nâu hoặc xanh đen nhạt Thông thường chỉ một vài hạt trên bông lúa bị bệnh, khi bệnh nặng có nhiều hạt trên bông bị bệnh (Vũ Triệu Mân, 2007)
Hashioka và ctv (1951) quan sát thấy 99,6% hạt bị bệnh có những bao phấn
còn nguyên vẹn, chứng tỏ đa số bệnh xảy ra trước khi lúa phơi màu (trích dẫn từ
Ou, 1983)
Bào tử trong bướu là những bì bào tử, có hình cầu hay hình bầu dục, kích thước 3-5μm x 4-6μm, có màu xanh tối, được sinh ra trên những mấu nhọn nhỏ trên các sợi nấm đang phát triển Bì bào tử non có kích thước nhỏ hơn, nhạt màu hơn và
có bề mặt trơn (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Nấm lưu tồn bằng hạch và bì bào tử, bì bào tử đóng vai trò quan trọng trong đợt lây lan thứ hai (Ou, 1983; Võ Thanh Hoàng, 1993)
1.4.10 Nấm Tilletia barclayana
Trên hạt bệnh có các mụn đen hoặc các vết nứt qua vỏ hạt Trường hợp bị nặng vỏ hạt bị nứt ra Hiện tượng đó xảy ra vì chỉ một phần hạt bị bệnh, phần còn lại khỏe mạnh làm hạt gạo bị lòi ra Đôi khi toàn bộ hạt biến thành một khối bào tử phấn đen dạng bột màu đen (Ou, 1983)
Reyes (1933) đã trồng các hạt bị nhiễm nấm và phát hiện thấy nhiều cây con
bị bệnh (trích dẫn từ Ou, 1983)
Sự nhiễm bệnh trên hạt có thể khảo sát trực tiếp bằng kính lúp Sợi nấm khí sinh không được hình thành Các bào tử hình cầu, màu đen nằm rải rác trên bề mặt hạt (Mew và Gonzales, 2002)
Takashashi (1896, trích dẫn từ Ou, 1983) mô tả nấm như sau: các đám bào tử
dễ vụn thành bụi, màu đen Bào tử hình cầu tròn không đều, đôi khi hình bầu dục rộng, các bào tử tròn có đường kính 18,5-23,0µm, bào tử thon dài có kích thước 22,5-26,0µm x 18,0-22,0µm Vách bào tử màu nâu ôliu đậm, mờ đục, được phủ một lớp gai nổi và dày, ít hoặc nhiều, cong, cao 2,5-4,0µm Bào tử nhỏ (sporidia) hình sợi chỉ hoặc hình kim
Bào tử vách dày sống được một năm hoặc lâu hơn và còn phát hiện thấy chúng vẫn có khả năng sống sau 3 năm trong hạt được bảo quản (Ou, 1983; Mew và Misra, 1994)
Trang 39Nấm còn được tìm thấy trên hai loài lúa dại Oryza barthij và O minuta; các cây Brachiaria, Digitaria, Eriochloa, Pahicum và Penaisetum (Ou, 1983)
1.4.11 Nấm Nigrospora sp
Trên hạt có rất nhiều mụn nhỏ màu đen, đường kính bé hơn 0,5mm (Ou,
1983) Nấm Nigrospora sp có thể quan sát trên hạt sau khi ủ hạt dưới ánh sáng đèn
cận cực tím ở 21°C sau 7 ngày Sợi nấm khí sinh rất ít hoặc không có Nếu không
có sợi nấm khí sinh, bào tử xuất hiện rải rác trên bề mặt hạt Bào tử hình cầu, bóng
và có màu đen Nếu có sợi nấm khí sinh, sợi nấm mịn, không phân nhánh, màu xám trắng đến nâu nhạt (Mew và Gonzales, 2002)
Ou (1983) mô tả sợi nấm có màu nâu sáng, không phân nhánh, có vách ngăn; cành bào tử ngắn, đơn giản, phía dưới đỉnh bị dẹt, đỉnh mang các bào tử đơn lẻ, đơn bào, hình cầu hoặc hình gần cầu, trơn nhẵn, màu đen
Bào tử có hình cầu, nhẵn bóng, 1 tế bào, được tạo ra riêng lẻ ở đỉnh đính bào đài Kích thước từ 10,35-13,80μm x 12,19-15,64μm (Mew và Gonzales, 2002)
Tản nấm trên môi trường PDA ở nhiệt độ phòng (28-30°C) phát triển tương đối nhanh và đạt đường kính 5,58cm sau 5 ngày Chúng là những khoanh màu nâu, viền gợn sóng màu sáng Nhìn từ mặt sau đĩa petri, tàn nấm là các khoanh màu xám (Mew và Gonzales, 2002)
Nấm còn được tìm thấy trên súp lơ, tiêu, bắp, hướng dương,… (CABI, 2003)
1.4.12 Nấm Aspergillus sp
Sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn, từ sợi nấm sẽ hình thành một cọng mang túi bào tử (conidiophore) và bào tử đính (conidia), cọng mang túi bào tử không vách ngăn Túi hay bọng (vesicle) là tế bào đa nhân, bề mặt gắn liền với thể bình (phialide hay sterigmata) Thể bình với bậc 1 hay bậc 2, mỗi thể bình là cấu trúc đa nhân và trên đầu thể bình tạo thành một chuỗi bào tử đính Sinh sản hữu tính chỉ được phát hiện ở một vài loài, chúng thành lập những bộ phận sinh dục là túi đực (hùng khí) (antheridia) và túi noãn (ascogonia) (Nguyễn Văn Bá và ctv., 2005)
Nấm gây hại phổ biến trên hạt giống lúa, bắp, đậu, đậu phộng, (Nguyễn
Kim Vân và ctv., 2006)
Trang 401.4.13 Nấm Penicillium sp
Sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn ngang Nấm sinh sản vô tính với cọng bào tử và đính bào tử, cọng bào tử có thể không phân nhánh, phân nhánh bậc 1, 2 hay 3, tận cùng của cọng bào tử là các thể bình và các chuổi đính bào tử giống như cây cọ vẽ nên còn gọi là thể bình vẽ (metulae) Bào tử đính có dạng tròn có vách
láng hay gồ ghề, có màu xanh Chỉ có một vài loài sinh sản hữu tính như P vermiculatum, P stipitatum (Nguyễn Văn Bá và ctv., 2005)
1.4.14 Nấm Rhizopus sp
Nấm hiện diện trong đất, trong trái cây hư, củ, ký sinh trong rễ khoai tây, táo, dâu, cà chua Sợi nấm có màu trắng, phân nhánh, đa nhân và không có vách ngăn ngang Hầu hết các sợi nấm có dạng như sợi bông gòn khi còn non, sau đó phát triển sâu vào cơ chất thì phân chia thành 3 dạng khuẩn ty: khuẩn căn (rhizoids), khuẩn ngang (stolon) và cọng mang túi bào tử (sporangiophores) (Nguyễn Văn Bá
và ctv., 2005)
1.5 Nguồn gốc và đặc tính của một số giống lúa đã được thu mẫu
1.5.1 Giống OM6976
Giống OM6976 được chọn lọc từ tổ hợp lai IR68144/OM997/OM2718 Đây
là giống có thời gian sinh trưởng khá ngắn khoảng 95-97 ngày, chiều cao cây trung bình 100-110cm, số bông/m2 360-390 bông, số hạt chắc/bông 150-250 hạt Năng suất trung bình 9 tấn/ha, ổn định qua nhiều vụ Giống có khả năng chống chịu rầy nâu ngoài đồng tốt (cấp 3-5), kháng đạo ôn cấp 3-5, chống chịu bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá ở mức trung bình, khả năng chịu mặn 3-40/00, chịu phèn khá tốt, thích nghi rộng trên nhiều loại đất từ phù sa ngọt đến phèn mặn (Trần Thị Cúc Hòa, 2010) 1.5.2 Giống IR50404
Giống IR50404 có nguồn gốc từ IRRI, có thời gian sinh trưởng ngắn khoảng
90 ngày, chiều cao cây thấp khoảng 85-90cm, số hạt trên bông trung bình khoảng 60-75 hạt, tỉ lệ hạt chắc cao Ở thời điểm công nhận thì giống này kháng rầy nâu cao và nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn và khô vằn Năng suất vụ Đông Xuân 6-8 tấn/ha,
vụ Hè Thu 5-6 tấn/ha, có khả năng chịu phèn, mặn khá Giống IR50404 vẫn được gieo trồng trên diện tích rất rộng ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL (Bùi Chí Bửu, 2005)