Đa số các loài nấm xuất hiện ở vụ Hè Thu phổ biến hơn vụ Đông Xuân và tần số xuất hiện của các loài nấm không giống nhau trên các giống lúa và ở từng mùa vụ.. 1.1.3 Phương pháp phát hiện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN PHẠM THANH NGUYÊN
GIÁM ĐỊNH BỆNH DO NẤM TRÊN HẠT LÚA TẠI ĐỒNG THÁP TRONG VỤ HÈ THU 2011
VÀ ĐÔNG XUÂN 2011-2012
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN PHẠM THANH NGUYÊN
GIÁM ĐỊNH BỆNH DO NẤM TRÊN HẠT LÚA TẠI ĐỒNG THÁP TRONG VỤ HÈ THU 2011
VÀ ĐÔNG XUÂN 2011-2012
Luận văn Kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật
MSSV: 3087766
Cần Thơ, 2012
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ƯNG DỤNG
…
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“GIÁM ĐỊNH BỆNH DO NẤM TRÊN HẠT LÚA TẠI ĐỒNG THÁP TRONG VỤ HÈ THU 2011 VÀ ĐÔNG XUÂN 2011 – 2012”
Do sinh viên Nguyễn Phạm Thanh Nguyên thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ƯNG DỤNG
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012
DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD CHỦ TỊCH HÔI ĐỒNG CHỦ NHIỆM KHOA
Trang 5TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Phạm Thanh Nguyên Giới tính: Nữ
Năm 1996 - 2000: học tại trường Tiểu học Long Thuận 1
Năm 2000 - 2001: học tại trường Tiểu học B Long Sơn
Năm 2001 - 2005: học tại trường THCS Long Sơn
Năm 2005 – 2008: học tại trường THPT Tân Châu
Tốt nghiệp tú tài năm 2008 tại trường THPT Tân Châu
Trúng tuyển ngành Bảo vệ Thực vật Khóa 34 – Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ năm 2008 Tốt nghiệp Kỹ sư chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật năm 2012
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Phạm Thanh Nguyên
Trang 7Tỏ lòng biết ơn sâu sắc!
Thầy cố vấn học tập Trần Vũ Phến cùng toàn thể thầy cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức và tâm huyết
vô cùng quý báu cho em trong suốt thời gian em học tại trường Đặc biệt là quý thầy cô thuộc bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn!
Các bạn sinh viên lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 34 đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian học tập Đặc biệt là các bạn Duy Khánh, Nhường, Ngọc Vẹn, Mai Trinh, Thanh Nam, Chí Tâm… và các anh chị cũng như các em sinh viên K35 trong phòng thí nghiệm
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Thân gửi về
Các bạn lớp Bảo vệ Thực Vật K34, chúc các bạn luôn thành công và hạnh phúc trong tương lai
Trân trọng!
Tác giả luận văn
Nguyễn Phạm Thanh Nguyên
Trang 8NGUYỄN PHẠM THANH NGUYÊN, 2012 “Giám định bệnh do nấm trên hạt
lúa tại Đồng Tháp trong vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011–2012” Luận văn
tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: ThS Lê Thanh Toàn
TÓM LƯỢC
Đề tài “Giám định bệnh do nấm trên hạt lúa tại Đồng Tháp trong vụ Hè Thu
2011 và Đông Xuân 2011- 2012” được thực hiện từ tháng07 năm 2011 đến tháng
04 năm 2012 tại Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ nhằm mục tiêu: (1) Xác định thành phần nấm gây hại trên hạt lúa tại Đồng Tháptrong hai vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012 (2) So sánh tần số xuất hiện của các loại nấm này trên các giống lúa trong hai vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012
Kết quả ghi nhận được 15 tác nhân gây bệnh trên hạt của 30 mẫu lúa thu thập
tại Đồng Tháp là Bipolaris oryzae, Curvularia spp., Fusarium spp., Trichoconis padwickii, Pinatubo oryzae, Penicillium sp., Ustilaginoidae virens, Tilletia barclayana, Nigrospora oryzae, Acremonium spp., Pithomyces sp., Trichothecium sp., Aternaria spp., Aspergillus spp và Mucor sp Trong đó, 5 loại nấm mới gây hại trên hạt lúa được ghi nhận thêm tại Đồng Tháp là Pinatubo oryzae, Ustilaginoidae virens, Penicillium sp., Acremonium spp và Pithomyces sp
Đa số các loài nấm xuất hiện ở vụ Hè Thu phổ biến hơn vụ Đông Xuân
và tần số xuất hiện của các loài nấm không giống nhau trên các giống lúa và ở từng mùa vụ Giống IR50404 xuất hiện nhiều loài nấm nhất và tần số cũng tương đối cao
Từ khóa: hạt lúa, bệnh lem lép hạt, nấm gây hại hạt lúa
Trang 9MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Sơ lược về bệnh lem lép hạt 2
1.1.1 Triệu chứng 2
1.1.2 Tác nhân 2
1.1.3 Phương pháp phát hiện 3
1.1.4 Tác hại 3
1.1.5 Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh 4
1.1.6 Sơ lược biện pháp phòng trừ 4
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh lem lép hạt trong nước và trên thế giới 5
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 6
1.3 Sơ lược đặc điểm các tác nhân gây hại trên hạt 7
1.3.1 Fusarium spp .7
1.3.2 Curvularia spp .9
1.3.3 Alternari padwickii 10
1.3.4 Bipolaris oryzae 11
Trang 101.3.5 Nigospora oryzae 12
1.3.6 Tilletia barclayana 13
1.3.7 Ustilaginoidea virens 14
1.3.8 Pinatubo oryzae 14
1.3.9 Trichothecium sp 15
1.3.10 Alternaria spp 15
1.3.11 Penicillium spp 16
1.3.12 Aspergillus spp 16
1.3.13 Mucor sp .17
1.3.14 Pithomyces sp 17
1.3.15 Acremonium sp 17
1.4 Đặc tính của các giống lúa 17
1.4.1 Giống lúa OM 6976 17
1.4.2 Giống OM 4218 18
1.4.3 Giống IR 50404 18
1.4.4 Giống OM 4900 18
CHƯƠNG II 19
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 19
2.1 Phương tiện 19
2.1.1 Thời gian và địa điểm 19
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 19
2.1.3 Dụng cụ thí nghiệm 19
2.2 Phương pháp 19
2.2.1 Cách thu thập mẫu 19
Trang 112.2.2 Phương pháp xác định thành phần nấm gây bệnh trên hạt và tần số xuất
hiện của từng loại nấm 20
CHƯƠNG III 23
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Mô tả đặc điểm của các tác nhân gây bệnh trên hạt lúa 23
3.6.1 Fusarium spp 23
3.6.2 Curvularia spp 25
3.6.3 Trichoconis padwicki 27
3.6.4 Pinatubo oryzae 1
3.6.5 Bipolaris oryzae 31
3.6.6 Penicillium spp 33
3.6.7 Acremonium spp 35
3.6.8 Ustilaginoidae virens 1
3.6.9 Tilletia barclayana 38
3.6.10 Nirospora oryzae 40
3.6.11 Trichothecium sp 1
3.6.12 Pithomyces sp 43
3.6.13 Alternaria sp 45
3.6.14 Aspergillus spp 46
3.6.15 Mucor sp .47
3.2 Ghi nhận tổng quát về cách thu mẫu lúa 48
3.3 Thành phần nấm trên các giống lúa 48
3.4 Tần số xuất hiện của các loại nấm ở vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011 – 2012 53
Trang 123.5 Tần số xuất hiện của các loại nấm trên các giống lúa thu thập tại Đồng Tháp
trong vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011 – 2012 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
4.1 Kết luận 56
4.2 Đề nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ CHƯƠNG
Trang 13DANH SÁCH BẢNG
3.1 Danh sách 30 mẫu hạt lúa bệnh thu thập tại Đồng Tháp trong vụ Hè
3.2 Sự hiện diện của các loại nấm có trong các mẫu hạt lúa thu thập tại Đồng
3.3 Sự hiện diện của các loại nấm có trong các mẫu hạt lúa thu thập tại Đồng
3.4 Tần số xuất hiện của 17 loài nấm hiện diện trên hạt trong vụ Hè Thu
2011 và Đông Xuân 2011 – 2012 ở các ruộng lúa tại tỉnh Đồng Tháp 54
3.5 Tần số xuất hiện của các loại nấm trên các giống lúa tại tỉnh Đồng
Tháp trong vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011 – 2012 55
Trang 14DANH SÁCH HÌNH
3.1 Đặc điểm hình thái nấm Fusarium spp gây bệnh trên hạt lúa 24
3.2 Triệu chứng và khuẩn ty nấm Fusarium spp gây bệnh trên hạt 25
3.3 Đặc điểm hình thái nấm Curvularia spp gây bệnh trên hạt 28 26
3.4 Triệu chứng và khuẩn ty nấm Curvularia spp gây bệnh trên hạt 29 27
3.5 Hình nấm Trichoconis padwickii trên hạt lúa quan sát dưới kính KHV soi
nổi 30
28
3.6 Tác nhân Trichoconis padwicki gây bệnh trên hạt 29
3.9 Triệu chứng và khuẩn ty nấm Bipolaris oryzae 33 3.10 Triệu chứng và tác nhân Penicillium spp gây bệnh trên hạt lúa 34
3.11 Tác nhân Acremonium spp và triệu chứng trên hạt (dạng 1) 35
3.12 Tác nhân Acremonium spp và triệu chứng trên hạt (dạng 2) 36
3.13 Tác nhân Acremonium spp và triệu chứng trên hạt (dạng 3) 37
3.14 Nấm Ustilaginoidae virens trên hạt khi quan sát trên KHV và KHV soi
nổi
38
3.15 Nấm Tilletia barclayana gây bệnh trên hạt lúa 39
3.16 Tác nhân Nigrospora spp gây bệnh trên hạt lúa 41
3.17 Nấm Trichothecium sp gây bệnh trên hạt lúa 43
3.18 Nấm Pithomycetes sp trên hạt khi quan sát trên KHV và KHV soi nổi 44
3.19 Nấm Alternaria sp trên hạt khi quan sát trên KHV và KHV soi nổi 45 3.20 Triệu chứng và tác nhân Aspergillus spp gây bệnh trên hạt 46
3.21 Tác nhân Mucor sp gây bệnh trên hạt lúa 47
Trang 15TSTB Tần số xuất hiện trung bình
Tri-pad Trichoconis padwickii
Trang 16MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với quá trình thâm canh, tăng vụ thì tình hình bệnh hại trên cây lúa diễn biến ngày càng phức tạp hơn Trong đó, bệnh lem lép hạt luôn được coi
là một trong các bệnh hại quan trọng Bệnh do rất nhiều tác nhân gây ra, nhưng nấm
là tác nhân phổ biến và gây hại quan trọng hơn cả Thành phần nấm cũng rất khác nhau tùy theo địa phương và mùa vụ
Trần Văn Hai (1998) đã ghi nhận được 4 loại nấm gây hại hạt lúa tại Đồng
Tháp trong vụ Hè Thu 1997, bao gồm các loài: Curvularia spp., Aspergillus spp., Mucor sp., Helminthosporium spp Đến 2007, Hồ Văn Thơ đã báo cáo có đến 11 loại nấm gây hại trên hạt gồm Fusarium spp., Bipolaris spp., Curvularia sp., Trichoconis padwickii, Cercospora oryzae, Trichothecium sp., Diplodina sp., Alternaria sp., Nigrospora sp., Tilletitia barclayana và Pyricularia oryzae Như
vậy, thành phần nấm gây hại trên hạt đã tăng theo thời gian thu mẫu làm thí nghiệm Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, lượng mưa nhiều hơn và thời tiết diễn biến bất thường nên tình hình bệnh hại trên lúa ngày càng nghiêm trọng hơn và lem lem lép hạt là một trong các bệnh có mức độ bệnh
tăng nhanh Vì vậy, đề tài “Giám định bệnh do nấm trên hạt lúa tại Đồng Tháp
trong vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011–2012” đã được thực hiện nhằm mục
đích: (1) Xác định thành phần nấm gây hại trên hạt lúa tại Đồng Tháp trong hai vụ
Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011–2012 (2) So sánh tần số xuất hiện của các loại nấm này trên các giống lúa trong hai vụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011–2012
Trang 17CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về bệnh lem lép hạt
Bệnh lem lép hạt hay còn gọi là bệnh biến màu hạt (Trần Thị Thu Thủy, 2005) hay lem hạt (Phạm Văn Kim, 2006) Bệnh thường xảy ra trong vụ Hè Thu và Thu Đông trong điều kiện mưa nhiều và ẩm độ cao (Phạm Văn Kim, 2006)
1.1.1 Triệu chứng
Hiện tượng biến màu có khi chỉ xuất hiện trên vỏ trấu hoặc trên hạt gạo, đôi khi trên vỏ và hạt đều bị biến màu Biểu hiện trên vỏ hạt thay đổi tùy theo loại nấm gây bệnh và mức độ bị bệnh Đó là những đốm nhỏ màu nâu, đen hoặc đen nhạt, đôi khi là những đốm lớn hoặc phủ kín toàn bộ vỏ hạt Thông thường, các vết bệnh có viền nâu đậm và có màu vàng nhạt hoặc xám nhạt ở trung tâm Hạt gạo bị bệnh có thể có nhiều màu sắc khác nhau (Ou, 1972)
Ou (1972) đã liệt kê một số nghiên cứu của các nhà khoa học về khả năng
làm biến màu hạt của một số loài nấm Volkia decolorans làm hạt biến vàng (Van der Wolk, 1913) Penicillium puberulum Bain làm hạt có màu da cam (Schroeder, 1963) Xanthomonas itoana (Tochinai) Dowson làm đen hạt Nấm Fusarium có thể làm hạt biến màu hồng, còn Aspergillus và Penicillium spp làm hạt xanh, xanh da trời và vàng, còn Erwinia herbicola là nguyên nhân gây thối đen hạt Theo Duraiswamy và Mariappan (1983) quan sát thấy phần lớn Bipolaris oryzae làm hạt
có màu tía và màu nâu
1.1.2 Tác nhân
Có nhiều tác nhân gây bệnh lem lép hạt:
- Do nhện gié (Reissig và ctv.,1993), bọ xít hôi (IRRI, 1983)
- Do vi khuẩn: Pseudomanas seritae (Pseudomonas avenae hay Acidovorax avenae, gây bệnh sọc lá), Pseudomonas glumae (Burkholderia glumea, gây bệnh thối hạt), Pseudomanas oryzicola (P syringae pv Syringae, gây bệnh thối bẹ), Xanthomonas oryzae pv oryzae (Xanthomonas campestris pv oryzae, gây bệnh cháy bìa lá), Xanthomonas oryzae pv oryzicola (bệnh sọc trong), Erwinia herbicola (Trần Thị Thu Thủy, 2011), Pseudomonas fuscovaginea (Mew and Misra, 1994)
- Siêu vi khuẩn gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cũng làm hạt lép (Reissig và ctv., 1993)
- Theo IRRI (1993), thiếu lân cũng làm hạt lép nhiều
- Tuyến trùng Aphelenchoides beseyi Christie cũng được tìm thấy trên hạt (Mew and Misra, 1994) Theo Ou (1972), tuyến trùng Ditylenchus angustus có thể làm hạt bị lép
- Do nấm, có rất nhiều loài nấm gây bệnh trên hạt theo ghi nhận của nhiều tác giả (Agarwal, 1989; Mew and Misra, 1994; Trần Văn Hai, 1999; Mew and Gonzales, 2002; Hồ Văn Thơ, 2007)
Trang 18Trong số các tác nhân trên, nấm gây bệnh quan trọng và phổ biến nhất Hai nhóm nấm gây bệnh lem lép hạt: nhóm nấm gây bệnh ngoài ruộng trước khi thu hoạch và nhóm nấm mốc trong quá trình tồn trữ (Ou, 1972; Agarwal, 1989;
Võ Thanh Hoàng, 1993; Trần Văn Hai, 1999)
+ Nhóm trước thu hoạch gồm: Bipolaris oryzae, Alternaria padwickii, Fusarium moniliforme, Fusarium graminearum, Pyricularia oryzae, Nigrospora oryzae, Epicocum nigrum, Curvularia spp., Phoma sorghina, Dichotomophthoropsis nymphacearum, Heterosporium echinulatum, Sarocladium oryzae, (Agarwal,
1989) Theo kết quả của nhiều nhà nghiên cứu, thành phần nấm này thay đổi tùy theo các địa phương được lấy mẫu hạt về làm thí nghiệm (Tullis, 1936; Baldacci và Picco, 1948; Padmanabhan, 1949; Teunisso, 1954; Rao và Salam, 1954; Chevaugeon và Ravisés, 1957; Baldaci và Corbetta, 1964; trích dẫn bởi Ou, 1972) + Nấm mốc trong kho phổ biến hơn cả là Aspergillus và Penicillium, rồi đến
Absidia, Mucor và Rhizopus spp Đôi khi còn gặp cả các loài Chaetomium,
Demotium, Monilia, Ooidium, Streptomyces, Syncephalastrum và Verticillum Thành phần nấm mốc gây bệnh cho hạt thường biến động tùy theo từng nước (Ou, 1972)
Các tác nhân chỉ làm giảm giá trị của hạt lúa là Pyricularia oryzae, Curvularia lunata, Nigrospora oryzae Các loại nấm gây hại quan trọng cho vụ sau, gồm có Alternaria padwickii, Sarocladium oryzae, Fusarium moniliforme, Helminthosporium oryzae, Pseudomonas fuscovaginae, Xanthomonas campestris
pv oryzae (Phạm Văn Kim, 2006)
1.1.3 Phương pháp phát hiện
Việc phát hiện và giám định các loại vi sinh vật gây biến màu hạt thường gặp những khó khăn sau đây: một số nấm không thích hợp với điều kiện nuôi cấy, có nhiều loại mọc nhanh và sinh trưởng mạnh cạnh tranh các loại khác; khử trùng bề mặt có khi không đạt kết quả mong muốn, nhiều nấm không sản sinh bào tử trong nuôi cấy; không giám định được các vi khuẩn gây bệnh cho hạt Neergaard và Saad (1962) đã xây dựng hai phương pháp phát hiện nấm gây bệnh trên hạt Phương pháp thứ nhất là gieo hạt trong hộp Petri ẩm giữ ở nhiệt độ 22oC trong 6 ngày Phương pháp thứ hai gieo hạt trên mặt thạch agar giữ ở nhiệt độ 28oC trong 8 ngày Tiêm 0,1% 2,4D kìm hãm hạt nảy mầm nhưng không ảnh hưởng đến sinh trưởng của nấm
(trích dẫn bởi Ou, 1972).
1.1.4 Tác hại
Vi sinh vật gây bệnh hại hạt thể hiện nhiều tác động khác nhau Các nấm ký sinh ngoài đồng làm hạt kém phẩm chất và nảy mầm kém, làm mạ bị cháy và dễ nhiễm nhiều bệnh khác Các nấm mốc trong kho ngoài tác hại làm giảm tỷ lệ nảy mầm và phẩm chất hạt còn sản sinh ra độc tố Theo Ureguchi (1942) nấm
Penicillium sp vừa làm hạt biến vàng vừa sinh ra độc tố (trích dẫn bởi Ou, 1972)
Trang 191.1.5 Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh
Mia (1979) cho biết ở Bangladesh, lem lép hạt là do trồng lúa cao sản và bón phân đạm cao (Trần Văn Hai, 1999 trích dẫn)
Bệnh do nấm ký sinh ngoài đồng chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, nhất
là độ ẩm trước lúc lúa chín và trước lúc bảo quản (Ou, 1972) Lúa bị đổ rạp xuống
đất thường bị bệnh đốm đỏ hạt do Epicoccum (Ito và Iwadare, 1931; Ou, 1972 trích
dẫn)
Ẩm độ không khí tương đối và nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nấm mốc phụ sinh trong kho Theo Ghosh (1951), sự phát triển của nấm mốc phụ thuộc vào ẩm độ không khí hơn là ẩm độ hạt Ở ẩm độ không khí 65–100% nấm mốc phát triển khá nhanh Nhiệt độ thích hợp cho nấm Aspergillus là 30–350C, Penicillium là 250C, Mucor là 300C, Fusarium là 350C; Cladosporium và Alternaria
là 22–250C Theo Naito (1953), ở nhiệt độ 200C và ẩm độ hạt 18-20%, Penicillium, Aspergillus và các nấm khác gây bệnh nặng hơn so với nhiệt độ 100C hoặc 300C (Ou, 1972)
Qua kết quả điều tra và thu thập mẫu lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Phạm Văn Dư cho rằng bón phân đạm với liều lượng cao (100-200 kg/ha) và mật độ sạ dầy (200 kg/ha) có ảnh hưởng rất nhiều đến bệnh lem lép hạt (trích dẫn bởi Võ Thị Thu Ngân, 2011) Võ Thị Thu Ngân còn cho biết thêm việc sạ thưa (100 ka/ha) và bón phân đạm thấp (90-40-30 tương đương N2-P2O5-K2O
kg/ha) làm giảm tỷ lệ các loài nấm Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme, Fusarium sp và tăng số hạt chắc trên bông
Bệnh lem lép hạt thường do nhiễm sau khi trổ, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết thích hợp với ẩm độ cao Tính gây bệnh lưu dẫn của vài loài nấm cũng đã được chứng minh như từ hạt giống qua thân và hạt sau thu hoạch, tuy nhiên phần lớn là bị nhiễm bệnh trở lại sau trổ (Phạm Văn Dư, 2005, trích dẫn bởi Lê Cẩm Loan, 2009)
1.1.6 Sơ lược biện pháp phòng trừ
Biện pháp canh tác: đảm bảo các yêu cầu về làm đất, sử dụng nước, làm cỏ, bón phân hợp lý, cân đối, không bón đạm trên 120 kg/ha và phòng trừ dịch hại trong suốt giai đoạn sinh trưởng của cây lúa (Trần Văn Hai, 1999 và Trần Thị Thu Thủy, 2005)
Xử lý hạt sau khi thu hoạch và trước khi gieo:
+ Đối với hạt sau thu hoạch: phơi khô hạt thóc (các vi sinh vật bị tiêu diệt) và làm sạch các tạp chất lẫn trong hạt (rơm, rác, trấu, hạt cỏ, xác sâu mọt, đất…) làm tăng khả năng bền vững của thóc khi bảo quản (Trần Văn Hai, 1999)
+ Đối với hạt giống trước khi gieo: theo Nguyễn Văn Tuất và ctv (1997) thì sử
dụng Staner 20WP nồng độ 0,2% để ngâm hạt giống trong 24 giờ sau đó rửa sạch
và ngâm ủ sẽ làm giảm 50% bệnh thối hạt so với đối chứng Ngoài ra, ta có thể ngâm hạt giống trong nước nóng 15-30 phút hoặc dùng Rovral 0,1% cũng làm hạn chế nấm bệnh trên hạt Hoặc ngâm hạt giống với nước muối 15% để loại những hạt
Trang 20lép lửng, đó là những hạt mang mầm bệnh (Phạm Văn Kim, 2006) Xử lý nước nóng 54% để diệt tuyến trùng trên hạt (Trần Thị Thu Thủy, 2005)
Phun thuốc hóa học: phun thuốc ngừa (Rovral, Tilt, Tilt super, Anvil…) vào
7 ngày trước và 7-10 ngày sau khi lúa trổ bông (Phạm Văn Kim, 2006) Theo Lê Hữu Hải (2009), phun Tilt super, Rovral làm cho vỏ trấu sáng đẹp hơn so với đối chứng không phun thuốc
Biện pháp sinh học: xử lý chế phẩm từ cây neem và nước trích từ một số loài thực vật như cây bọ chét, cúc vạn thọ, tỏi, nghệ, thiên tuế, trác bá diệp (Trần Thị Thu Thủy, 2005)
Cải tiến điều kiện tồn trữ: ẩm độ hạt giống phải dưới 13% (Douglass, 1977), kho chứa phải đảm bảo (cách nhiệt tốt, kín, khi cần thiết phải có khả năng thoát nhiệt tốt) Kiểm tra chất lượng hạt trong quá trình bảo quả và chủ động vệ sinh nhà kho (Trần Văn Hai, 1999) Các chất trừ nấm Benomyl, Thiabendazole và Iprodione
có hiệu quả giảm sự phát triển của nấm Penicillium trong quá trình tồn trữ (White et al., 1993; White and Toman, 1994; trích dẫn từ CPC, 2003)
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh lem lép hạt trong nước và trên thế giới
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Vidhyasekaran et al (1984) đã báo cáo tác nhân gây bệnh thối bẹ là Sacrocladium oryzae cũng gây lem lép hạt Zeigler et al (1987) đã phân lập được tác nhân Pseudomonas spp từ các hạt lúa bị biến màu Khí hậu ẩm ướt ở vùng nhiệt
đới Bắc Brazil gây ra vấn đề nghiêm trọng bởi sự xuất hiện của vi khuẩn
Pseudomonas và các loài nấm phổ biến như Bipolaris oryzae, Phoma sorghina, Nigrospora oryzae và Curvularia spp (Prabhu, 1989) (Agarwal, 1989 trích dẫn)
Thu thập 55 mẫu hạt giống từ các khu vực trồng lúa lớn ở Đài Loan Kết quả
đã tìm được 25 loài nấm bằng phương pháp Blotter Đó là các loài: Ascochyta oryzae, Acremoniella atra, Alternaria tenuis, Curvularia afinis, C brachyspora, C clavata, C pallescens, Diplodia oryzae và Trichoconis padwickii (Wu và Dow, 1993)
Mew and Misra (1994) đã ghi nhận được 13 loài nấm gây bệnh trên hạt, gồm
Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Cercospora janseana, Curvularia spp., Ephelis oryzae, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae, Nakataea sigmoidea, Pyricularia oryzae, Rhizoctonia solani, Sarocladium oryzae, Ustilaginoidea virens, Tilletia barclayana Ngoài ra, hai chi vi khuẩn (Xanthomonas và Pseudomonas); tuyến trùng Aphelenchoides beseyi cũng được tìm thấy trên hạt lúa
Ở Bangladesh, các nhà khoa học đã ghi nhận được 16 loài nấm gây bệnh trên
hạt lúa ngoài đồng như Aspergillus heteromoplus, Aspergillus niger, Cladosporium cladosporiodes, Curvularia lunata, Drechslera oryzae, Fusarium moniliforme, Fusarium oxysporium, Nigrospora oryzae, Alternaria (Trichoconis) padwickii và nấm trong kho vựa như: Aspergillus candidus, A clavatonanica, A flavosoryzae, A
nidulans, A ruber, A sulphurens, Alternaria padwickii, Penicillium, Rhizopus
arrhizus, Geotrichum sp (trích dẫn bởi Trần Thị Thu Thủy, 2005)
Trang 21Theo ISTA (1985) có tổng cộng hơn 80 loài nấm được phát hiện trên các giống lúa, trong đó có 20 loài xuất hiện rất phổ biến (trích dẫn từ Mew and Gonzales, 2002)
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Kết quả phân lập 2000 hạt lúa phân lập ở Cai Lậy, Tiền Giang trong vụ Hè Thu và Thu Đông 1991, 9 loài nấm đã được ghi nhận; trong đó phổ biến nhất là
nấm Helminthosporium oryzae (Drechslera oryzae), kế đó là Fusariu moniliforme, Trichoconis padwickii, Curvularia lunata (trích dẫn bởi Trần Văn Hai, 1999)
Nghiên cứu của Nguyễn Danh Thạch (1998) ghi nhận được 16 loài nấm:
Alternaria (Trichoconis) padwickii, Bipolaris oryzae (Helminthosporium oryzae), Cephalosporium oryzae, Curvularia eragrostidis, Curvularia lunata, Diplodia oryzae, Drechslera spp., Fusarium moniliforme, Fusarium graminum, Nigrospora oryzae, Pestalotia sp., Phoma sorghina, Sarocladium oryzae, Tilletia barclayana, Trichothecium roseum, Ustilaginoidea virens (trích dẫn bởi Trần Thị Thu Thủy, 2005)
Qua phân tích giám định các loài nấm gây bệnh trên hạt lúa của 18 tỉnh phía Nam (12 tỉnh ĐBSCL, TP HCM, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh) trong vụ Hè Thu 1997 cho thấy có 11 loài, các tỉnh Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Phước và Kiên Giang có rất nhiều nấm hiện diện trên hạt Trong
đó Curvularia lunata, Aspergillus spp và Alternaria sp có tần số xuất hiện cao (lần
lượt là 55,4; 51,9; 36,9%) Các loại nấm này xâm nhiễm ngoài đồng trước khi thu hoạch hoặc sau thu hoạch, lúc tồn trữ Trong điều kiện sản xuất tự nhiên, đặc biệt là điều kiện vụ Hè Thu rất thuận lợi cho nấm phát triển gây bệnh (Trần Văn Hai, 1999)
Những năm gần đây, diện tích trồng các giống lúa Trung Quốc ở các tỉnh miền Bắc nước ta chiếm tỉ lệ cao (70-80%) Các giống này nhiễm bệnh thối hạt do
vi khuẩn Psuedomonas glumae nặng và nhiễm nấm Alternaria cao hơn các giống khác (Nguyễn Văn Tuất và ctv., 2000)
Kết quả phân lập và giám định trong phòng thí nghiệm các mẫu được thu thập ở một số vùng trọng điểm trồng lúa ở miền Bắc Việt Nam (Bắc Ninh, Hà Tây,
Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tỉnh) năm 1998-1999 ghi nhận được
các loài nấm là Bipolaris oryzae, Alternaria padwickii, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae, Rhizoctonia solani (Nguyễn Văn Tuất và ctv., 2000)
Qua kết quả điều tra bệnh hoa cúc trên tập đoàn các giống lúa Trung Quốc giai đoạn 1993-1997, bệnh hoa cúc xuất hiện vào lúc lúa chắc xanh đến khi thu hoạch Bệnh gây hại cả hai vụ lúa xuân và mùa Vụ mùa 1997 nhìn chung bệnh không gây hại rộng và nặng như năm 1995-1996 do không cấy giống nhiễm bệnh và phòng trừ bệnh bằng thuốc hóa học (Hà Bích Thu và ctv., 2000)
Phạm Văn Dư (2001) đã ghi nhận 9 loài nấm trên 60 mẫu của 12 giống trong
tỉnh Long An bằng phương pháp blotter Các loài nấm đó là Cuvurlaria spp (13,40%), Alternaria padwickii (12,00%), Bipolaris oryzae (4,90%), Sarocladium oryzae (1,90%), Fusarium graminum (1,50%), Tilletia barclayana (0,16%), Phoma sorghina (0,10%), Cephalosporium oryzae (0,34%), Ustilaginoidea virens (0,05%)
Trang 22Còn tại Cần Thơ, trong số các mẫu hạt của 2 giống được thu thập từ 10 nông dân thì
xác định được 9 loài nấm là Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme, Fusarium pallidoroseum, Fusarium subglutinans, Microdochium oryzae, Nigrospora oryzae, Phoma sp và Sarocladium oryzae
Theo Phạm Văn Dư (2005), lem lép hạt là một bệnh quan trọng trên lúa chỉ sau cháy lá và khô vằn Bệnh xuất hiện trong cả mùa khô và mưa bão Tỷ lệ nhiễm
bệnh của các loại nấm trên mẫu hạt giống thu thập ở ĐBSCL như sau Alternaria pawickii (30%), Tilletia barclayana (29%), Curvularia sp (14%), Bipolaris oryzae (9%), Menoniela sp (5,5%), Pinatubo oryzae (5,3%), Rhizopus sp (4%), Fusarium
sp (2,5%) Một số các loài nấm khác cũng xuất hiện trên hạt: Phoma sorghina, Aspergillus sp., Trichothechium roseum, Verticillium sp., Botrytis sp (Lê Hữu Hải,
2009 trích dẫn)
Phạm Văn Kim (2006) báo cáo rằng bệnh lem lép hạt do một tập đòan gồm
nhiều nhóm tác nhân gây ra (13 lòai nấm): Fusarium moniliforms (Gibberella fujikuroi), Alternaria padwickii, Sarocladium oryzae, Helminthosporium opryzae (Bipolaris oryzae, Dreslera oryzae), Curvularia lunata, Nigrospora oryzae, Pyricularia oryzae (P grisea, Magnaporth grisea), Cercospora oryzae, Pinatubo oryzae, Fusarium equiseti, Phoma shorghina, Trichothecium roseum, Tilletia barclayana (Phạm Văn Kim, 2006)
Theo kết quả giám định thành phần nấm gây bệnh trên hạt ở An Giang và Đồng Tháp trong vụ Đông Xuân 2005- 2006 và vụ Hè Thu năm 2006, 11 loại nấm
được ghi nhận là Fusarium spp., Helminthosporium spp., Curvularia spp., Trichoconis padwickii, Nigrospora spp., Cercospora oryzae, Trichothecium sp., Tilletia barclayana, Diplodina sp., Alternaria sp và Pyricularia oryzae (Hồ Văn
Thơ, 2007)
Theo Lê Đình Hường (2010) thì tình hình nhiễm bệnh trên hạt giống lúa ở
miền Trung nước ta khá cao: tần suất nhiễm cao nhất (100%) là Altrenaria padwickii, tiếp theo là Rhizoctonia solani (63%), Bipolaris oryzae (57%), Curvularia sp (55%), Microdochium oryzae (42%) và Phoma sp (37%) Tỷ lệ hạt nhiễm từ 1-32%, trong đó Curvularia sp có tỷ lệ nhiễm cao nhất (32%), theo sau là Bipolaris oryzae (29%), Rizoctonia solani (25%), Alternaria padwickii (18%), Phoma sp (14%)
1.3 Sơ lược đặc điểm các tác nhân gây hại trên hạt
1.3.1 Fusarium spp
Chi Fusarium thuộc họ Tuberculariaceae, bộ Moniliales, lớp Deuteromycetes Trên môi trường, sợi nấm phát triển tốt và tơi như bông; có màu hồng, màu tím hoặc màu vàng Cành bào tử biến đổi, mảnh và đơn giản hoặc chắc, ngắn và phân nhánh không đều hoặc sinh ra thể bình Bào tử không màu, biến đổi Đại bào tử đa bào, hơi cong hoặc có xu hướng nhọn hai đầu, thường có hình thuyền Tiểu bào tử đơn bào, hình trứng hoặc hình thuôn, mọc đơn hoặc mọc thành chuỗi Nấm có thể sống ký sinh hoặc hoại sinh (Barnett và Hunter, 1998)
Trang 23Fusarium moniliforme
Fusarium moniliforme Sheld hay Fusarium heterosporum Nees hay Fusarium verticillioides (Sacc.) Nirenberg hay Lisea fujikuroi Sawada Giai đoạn sinh sản hữu tính là Gibberella fujikuroi (Sawada) S Ito hay Gibberella moniliformis Wineland hay Gibberella moniliforme (Mew and Gonzales, 2002);
thuộc nhóm quả thể bầu (Pyrenomycetes), lớp Ascomycetes (Vũ Triệu Mân và Lê
Lương Tề, 1998)
Nấm gây bệnh lúa von, là bệnh rất phổ biến ở nước ta Năm 1956, bệnh gây hại trên diện rộng ở Đồng bằng sông Hồng Đến 1970, bệnh xuất hiện và phá hại nặng ở một số tỉnh như Hải Hưng, Thái Bình, Nam Hà (Vũ Triệu Mân và Lê Lương
Tề, 1998) Vụ Đông Xuân 2003–2004, bệnh gây hại nặng ở Ninh Bình (Viện Bảo
vệ Thực vật, 2005, trích dẫn từ Phùng Thị Diễm Châu, 2007).Bệnh phát triển trên diện rộng ở Đồng Tháp vào năm 1980 (Võ Thanh Hoàng, 1993) Trong vụ đông xuân 2005–2006, bệnh đã phát triển mạnh ở đều khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nhất là những vùng canh tác ba vụ (Phạm Văn Kim, 2006) Trong
vụ Đông Xuân 2006-2007 có 6 tỉnh trong vùng đồng Đằng sông Cửu Long có diện tích nhiễm bệnh là 11.046 ha, trong đó Cần Thơ có diện tích nhiễm bệnh cao nhất, bệnh nặng trên các giống lúa đặc sản
Tần số xuất hiện của nấm khoảng 28,1% trên các giống lúa đến từ các vùng
khác nhau F moniliforme phần lớn có thể quan sát thấy trên toàn bộ bề mặt hạt lúa
(khoảng 57%) (Mew and Gonzales, 2002)
Hạt nhiễm nặng sẽ có màu đỏ và mạ mọc lên sẽ bị lùn, đôi khi có những hạt nhiễm bệnh nhưng không lộ triệu chứng (Võ Thanh Hoàng, 1993) Cây lúa bị bệnh
có thể có một trong 5 triệu chứng sau: vươn dài, vươn dài rồi sau đó phát triển bình thường, vươn dài rồi sau đó bị lùn, cây bị lùn hoặc cây không phát triển Trong đó, triệu chứng vươn dài là điển hình và dễ xác định nhất Cây con bị nhiễm bệnh có màu hơi vàng, cây nhỏ, yếu ớt và cao vượt hẳn so với cây lúa bình thường, đa số chúng sẽ chết Cây lúa bệnh thường không tập trung mà phân bố rãi rác khắp ruộng Những cây còn sống sót sẽ không phát triển bình thường mà chúng sẽ có màu vàng, cao vượt lên và rất nhỏ, lá bị khô dần và chuyển sang màu nâu (bắt đầu từ lá già trước) Bên ngoài của bẹ lá, xuất hiện lớp phấn màu trắng hoặc màu hồng, sau đó lan lên phía trên tạo thành lớp khô cứng Hệ rễ thường không bị nhiễm bệnh nên khi
ta nhổ cây bệnh lên sẽ bị đứt ngay ở đoạn cổ rễ Rễ cây bệnh cũng có thể mọc ở
những đốt phía trên mực nước (Hồ Văn Chiến và ctv., 2008)
Dưới kính soi nổi, hạt nhiễm bệnh trên giấy thấm có tốc độ tăng trưởng trung bình, có màu trắng, sợi nấm mịn, thường phủ toàn hạt Trên giấy thấm quanh hạt đôi khi biến màu tím Sau đó, trên hạt xuất hiện như dạng bột do sự hình thành của
các tiểu bào tử (Mew and Misra, 1994)
Mew and Gonzales (2002) đã mô tả Fusarium moniliforme như sau: Sợi
nấm: không màu, có vách ngăn Đính bào đài tạo tiểu bào tử: đơn bào, hình giùi, thon dần về phía đỉnh Đính bào đài tạo đại bào tử: gồm một tế bào sinh ra 2-3 thể bình Tiểu bào tử: trong suốt, hình thoi, hình trứng hoặc hình chùy, hơi dẹt ở hai đầu; một hoặc hai tế bào; có thể phát triển đơn hoặc thành chuổi Kích thước: 2,53-16,33μm × 2,30-5,75μm (PDA) Đại bào tử: không màu; cong như hình lưỡi liềm
Trang 24hoặc gần như thẳng; vách mỏng; hai đầu nhọn, 3-5 vách ngăn, thường là 3 vách ngăn, hiếm khi có 6-7 vách ngăn Kích thước: 18,86-40,71μm × 2,76-4,60μm (PDA) Khuẩn lạc trên PDA ở nhiệt độ phòng (28-30°C) phát triển tương đối nhanh
và có đường kính là 5,20 cm sau 5 ngày Chúng là các khoanh màu trắng với tâm màu hồng, sợi nấm hơi bện chặt Mặt sau đĩa Petri, chúng là các khoanh màu trắng với tâm tím nhạt Theo Phạm Văn Kim (2006) nấm còn sinh ra hạch nấm, nhỏ, màu
nâu, không có hình dạng nhất định
Ký chủ: Lúa, chuối, bắp, bông, đậu đủa, thông, lúa miến, mía đường, cà chua, keo (leucaena) (CPC, 2003)
1.3.2 Curvularia spp
Là tác nhân gây bệnh đen hạt hay bệnh đốm lá trên lúa (Ou, 1972; Mew and
Gonzales, 2002) Chi Curvularia thuộc bộ Moniliales, lớp Deuteromycetes (Vũ
Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Nấm làm hạt lúa bị đổi màu đen
Curvularia spp là một trong những chi nấm phổ biến nhất gặp trên hạt
Chúng có thể gây nhiễm đến 80% số hạt bị biến màu (Mew and Misra, 1994) Tần
số xuất hiện là khoảng 70,60% trên các giống đến từ các khu vực khác nhau (Mew and Gonzales, 2002) Trong các mẫu hạt giống lúa Nigeria có tổng cộng mười loài
Curvularia, và tỉ lệ nhiễm 37% (Cochliobolus geniculatus) Trong các mẫu ở Thái
Lan, cũng mười loài đã báo cáo nhưng tỷ lệ khá thấp (tối đa 7%) Ở Philipines có bảy loài Curvularia với tỷ lệ cũng thấp (9%) (Benoit and Mathur, 1970) Tại Ấn Độ,
Rao và Salam (1954) báo cáo có 60% hạt giống bị đổi màu do Curvularia spp Một
cuộc khảo sát 4744 mẫu hạt của IRRI, phát hiện 87,80% số mẫu nhiễm (Mew và
ctv., 1988) (trích dẫn từ CPC, 2003)
Barnett và Hunter (1998) đã mô tả bào tử của nấm như sau: bào tử màu tối,
tế bào ở hai đầu có màu nhạt hơn, có từ 3–5 tế bào, xu hướng đặc trưng là tế bào ở
giữa thường lớn
Trên thế giới, ở các vùng khác nhau, có hơn 10 loài Curvularia Trong đó,
hai loài phổ biến nhất là C lunata và C geniculata Boedijn (trích dẫn từ Ou, 1972) Tuy nhiên, loài phổ biến nhất là Curvularia lunata; ngoài ra C affinis, C geniculata, C oryzae và C pallescens cũng có thể gây bệnh (Mew and Misra,
1994)
Đặc điểm khuẩn ty trên môi trường nuôi cấy: khuẩn ty Curvularia lunata
(Walker) Boedijn trên môi trường PDA ở nhiệt độ 30oC đạt đường kính 7,20 cm Khuẩn ty có màu nâu đen với rìa không màu Dưới kính soi nổi, hạt lúa được ủ trên giấy thấm có cành bào tử mọc thẳng, nằm rãi rác hoặc thành nhóm, có màu nâu
sáng đến nâu tối hoặc hơi đen (Mew and Misra, 1994)
Ký chủ: Turfgrass, lúa miến, agave, dứa, dừa, cải bắp, lúa mạch, lúa mì, mía đường (CPC, 2003)
Trang 251.3.3 Alternari padwickii
Là tác nhân gây bệnh đốm vòng Bệnh do Gofrey (1916) mô tả lần đầu tiên ở
Hoa Kỳ Tullis (1930) phát hiện thấy nấm gây bệnh và đặt tên là Trichoconis caudate Ganguly (1947) gọi là Trichoconis padwickii Về sau, Ellis (1971) đổi tên thành Alternaria padwickii (trích dẫn từ bởi Trần Văn Hai, 1999) Alternaria padwickii thuộc bộ Moniliales, lớp Deuteromycetes (Vũ Triệu Mân và Lê Lương
Tề, 1998)
Triệu chứng: Trên hạt, đốm màu nâu nhạt đến hơi trắng với tâm là những chấm đen và viền màu nâu sẫm Nấm có thể xâm nhập vào sâu bên trong mày, làm hạt gạo teo và giòn (Mew and Misra, 1994; Mew and Gonzales, 2002) Nấm còn gây bệnh trên lá, rễ và lá mầm (trên lá, đó là những đốm hình bầu dục hoặc tròn với tâm màu nâu nhạt và viền nâu đậm, sau đó tâm vết bệnh sẽ chuyển sang màu trắng với những chấm đen li ti) (Mew and Misra, 1994; Mew and Gonzales, 2002)
Đây là loài nấm rất phổ biến trên hạt lúa, các nhà nghiên cứu về bệnh trên hạt hầu như đều ghi nhận thấy sự hiện diện của loài nấm này: Mew and Misra (1994)
thì có 1-100% Alternaria padwickii trong các lô hạt được gửi đến để kiểm tra; Mew
and Gonzales (2002) thì ghi nhận tần số xuất hiện trung bình trên các hạt giống của
Alternaria padwickii ở những vùng khác nhau khoảng 67,1% Phạm Văn Dư (2001,
trích dẫn bởi Lê Cẩm Loan, 2009) thì tỷ lệ này là 12% ở Long An nói riêng và 30%
ở các tỉnh ĐBSCL Hồ Văn Thơ (2007) đã thu mẫu lúa ở Đồng Tháp và ghi nhận được loài nấm này trên tất cả các mẫu lúa
Khi quan sát kính soi nổi sau khi ủ trên giấy thấm thì nấm Alternaria padwickii thường được quan sát trên toàn bộ bề mặt vỏ hạt (Mew and Gonzales,
2002)
+ Sợi nấm: có vách ngăn, phân nhánh, không màu khi còn non, chuyển thành vàng
kem khi trưởng thành, sợi nấm phân nhánh vuông góc phát triển tốt, mọc thưa thớt, dày 3-6m (Mew and Misra,1994; Mew and Gonzales, 2002) Và theo Ganguly (1947, trích dẫn bởi Trần Văn Hai, 1999) thì sợi nấm dày 3,4–5,7m, phân nhánh ở những khoảng cách đều đặn từ 20–25m, các nhánh mọc ở gốc phải so với trục chính và hơi thắt lại ở điểm xuất phát
+ Hạch nấm màu đen: đa số hình cầu, một phần nằm chìm trong mô ký chủ với vỏ
dạng mắt lưới và nối với những sợi nấm, kích thước trung bình 124m (trích dẫn bởi Trần Văn Hai, 1999)
+ Đính bào đài: mọc đơn, hình dạng không khác biệt rõ so với sợi nấm trưởng
thành, thường phồng to ở đỉnh, không màu khi còn non và trở nên vàng kem khi trưởng thành (Mew and Gonzales, 2002) Theo Ganguly (1947, trích dẫn từ Trần Văn Hai, 1999), cành bào tử dài 100-175m và rộng 3,4-5,7m
+ Bào tử: thẳng, hình dạng thay đổi với phần roi phụ dài, phần đầu có 3-5 vách
ngăn, vách dầy, tế bào thứ 2 tính từ gốc có kích thước lớn hơn các tế bào còn lại Kích thước 81,42-225,40m x 11,96-23,46m (kể cả phần phụ bộ) và bề rộng nhất của phần phụ bộ khoảng 2,99–5,52 m trên môi trường PSA (Mew and Gonzales, 2002) Theo Ganguly (1947) thì kích thước 103,2–172,7m (kể cả phụ bộ) x 8,5–19,2m (trích dẫn từ Trần Văn Hai, 1999) Còn theo Agarwal (1989) thì bào tử có
Trang 26chiều dài trung bình là 130 x 15,7m (tính cả phần phụ bộ), rộng trung bình của phụ
bộ là 2,7m
+ Khuẩn ty: khuẩn ty nấm mọc trên môi trường PDA ở nhiệt độ phòng (28-30oC) mọc với tốc độ khá nhanh (đạt 4,32 cm đường kính sau 5 ngày) Chúng là các khoang màu nâu nhạt, sợi nấm bện chặt Ở mặt sau đĩa petri, khuẩn ty là các khoanh đen, rìa sáng (Mew and Gonzales, 2002) Còn theo Agarwal (19890 thì khuẩn ty trên môi trường PDA trong điều kiện 12 giờ dưới ánh sáng cận cực tím và 12 giờ tối
có màu xám nhạt, mặt sau có màu hồng sẫm hoặc màu tím
Ký chủ: Kê, lúa miến, bạch đàn (CPC, 2003)
1.3.4 Bipolaris oryzae
Bipolaris oryzae (Breda de Haan) Shoem, tên gọi khác là Drechslera oryzae
(Breda de Haan) Subram & Jain hay Helminsthosporium oryzae Giai đoạn sinh sản hữu tính với tên gọi là Cochliobolus miyabeanus (Ito & Kurib) Đây là tác nhân gây
bệnh đốm nâu (Mew and Gonzales, 2002) hay bệnh tiêm lửa hại lúa (Vũ Triệu Mân
và Lê Lương Tề, 1998) Chi Bipolaris thuộc bộ Moniliales, lớp Deuteromycetes
(Barnett và Hunter, 1998) Sinh sản hữu tính thuộc lớp Ascomycestes (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Theo Ou (1972) thì nấm gây bệnh phổ biến trên lá và hạt Đôi khi bệnh còn
xuất hiện trên lá mầm, bẹ lá và nhánh bông, hiếm khi gặp trên rễ và thân Trên vỏ
hạt xuất hiện những đốm màu nâu hoặc đen, nếu bệnh nặng toàn bộ hạt sẽ có màu nâu đen Trong môi trường thuận lợi, đính bào đài và bào tử có thể mọc một lớp mịn như nhung ngay trên bề mặt vết bệnh (Mew and Gonzales, 2002)
Bệnh do loại nấm này gây ra có phạm vi phân bố rất rộng, phổ biến ở tất cả các nước trồng lúa trên thế giới (Ou, 1972) Ở ĐBSCL, bệnh gây hại nặng ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang vào năm 1979 (Võ Thanh Hoàng, 1979) và nhiều tỉnh như Long An và Tiền Giang vào năm 1980 (Trần Thị Thu Thủy, 1980) (Trần Thị Thu Thủy, 2002 trích dẫn)
Mew & Misra (1994) cho biết có 1-65% Bipolaris oryzae trong các hạt được
kiểm tra; Mew and Gonzales (2002) lại ghi nhận tần số xuất hiện trung bình trên các
hạt giống của Bipolaris oryzae ở những vùng khác nhau khoảng 56,7%; Phạm Văn
Dư (2001, trích dẫn bởi Lê Cẩm Loan, 2009) là 4,9% ở Long An và là 9% ở các tỉnh ĐBSCL; Hồ Văn Thơ (2007) ghi nhận ở Đồng Tháp là 100% trên các mẫu lúa
B oryzae được phát hiện trên toàn bộ bề mặt hạt (khoảng 32%) hoặc trên vỏ
trấu lớn (29%) (Mew and Gonzales, 2002) Còn theo Ocfemia (1924); Nisikado và Nakayama (1943); Fazli và Schroeder (1966) thì sợi nấm có thể hiện diện trên vỏ và mày của hạt lúa, thỉnh thoảng còn xuất hiện trong hạt gạo (trích dẫn bởi Agarwal, 1989)
Hạt giống bị nhiễm bệnh khi ủ trên giấy thấm có màu nâu sẩm đến màu đen, sợi nấm phát triển dồi dào có thể nhìn thấy bằng mắt thường (Mew and Misra, 1994)
Có hai dạng nấm được phát hiện trên hạt (Mew and Gonzales, 2002, Hồ Văn Thơ, 2007): Dạng thứ nhất cho ít bào tử và sợi nấm khí sinh mọc nhiều, mịn, màu xám, xám xanh đến đen, đính bào đài thường mảnh và khó phân biệt với sợi nấm,
Trang 27bào tử sậm màu hơn sợi nấm, được sinh ra đơn lẻ ở phần rìa khuẩn lạc Dạng thứ hai cho nhiều bào tử và sợi nấm khí sinh ít hơn Đính bào đài thường thẳng hoặc hơi cong, hơi dài; mọc đơn, màu nâu đến nâu sậm, mọc thẳng đứng riêng rẽ hoặc thành từng đám trên bề mặt hạt, mang các bào tử ở đỉnh Thường có 3-5 bào tử trên một đính bào đài
Đặc điểm hình thái: Sợi nấm đa bào, phân nhánh, màu nâu đên màu xám nhạt (Vũ Triệu Mân, 2007), màu xám đến xám sậm hơi xanh (Mew and Gonzales, 2002) Đính bào đài: có vách ngăn, mọc đơn hoặc thành từng cụm, thẳng hoặc hơi cong, thỉnh thoảng cong quặp, màu nâu nhạt đến nâu (Mew and Gonzales, 2002), gần như không màu ở đỉnh (Ou, 1972) Bào tử phân sinh hình con nhộng, thon dài hoặc hơi cong, hai đầu tròn có từ 3 – 11 vách ngăn ngang, kích thước biến động từ
15 – 170m x 7 – 26m (Vũ Triệu Mân, 2007), bào tử lớn nhất có đến 13 vách ngăn, màu nâu sậm đến màu nâu ô liu (Mew and Gonzales, 2002) Đặc điểm khuẩn lạc trên môi trường nuôi cấy: khuẩn ty nấm trên môi trường PDA ở nhiệt độ phòng (28-
30oC) mọc chậm (đường kính đạt 3,38cm trong 5 ngày) Chúng là các khoanh với rìa nhăn nheo, mịn ở tâm, mọc tơi như bông ra rìa, màu vàng xám ở tâm và màu vàng ở mép Ở mặt sau của đĩa Petri, khuẩn ty nấm là các khoanh đen (Mew and Gonzales, 2002) Còn theo Mew and Misra (1994) thì ở 25oC, sau 5 ngày, trên môi trường PDA, khuẩn ty nấm phát triển khá nhanh đạt đường kính 8,1cm Sợi nấm thưa thớt, màu nâu đen đến màu đen với màu hơi đen ở mặt sau
Ký chủ phụ: Cỏ đuôi phụng (Trần Thị Thu Thủy, 2009), Leersia hexandra, Echinochlaa colona (lồng vực cạn), Pennisetum typhoides, và Setoria italica (Mew and Misra, 1994) Leersia hexandra (cỏ bắc), Setaria italica (German millet) (CPC,
Triệu chứng: Trên vết bệnh có rất nhiều mụn đen (nhỏ hơn 0,5 mm) (Mew
and Gonzales, 2002) Ngoài gây bệnh trên hạt, nấm còn gây hại lá, thân và các bộ phận khác của cây lúa (Ou, 1972)
Tần số xuất hiện trên hạt là khoảng 33,40% đến từ các khu vực khác nhau
(Mew and Gonzales, 2002) N oryzae đã được phát hiện trên lúa với tỷ lệ 22,70% (Ribeiro, 1980); ngoài ra theo Pendleton et al (1949); Melchers (1956); Handoo
and Aulakh (1979), tác nhân còn được tìm thấy trên hạt ngô với tỷ lệ 13,00% (trích dẫn bởi CPC, 2003)
Nigrospora sp có thể tìm thấy hầu hết trên mày của hạt lúa (khoảng 65%)
Nấm rất ít có sợi nấm khí sinh hoặc không có Nếu không có sợi nấm khí sinh, bào
tử xuất hiện rải rác trên bề mặt hạt (Mew and Gonzales, 2002)
Ou (1972) cho rằng có 4 loài Nigrospora trên lúa, nhưng phổ biến nhất là N oryzae và N sphaerica N oryzae (Berk và Br) Petch: bào tử có xu thế gần hình
cầu, kích thước trung bình là 13μm x 15μm Hudson (1963) đã mô tả giai đoạn hữu
Trang 28tính của N oryzae và đặt tên là Khuskia oryzae N sphaerica (Sacc) Mason: bào tử
hoàn toàn hình cầu, rất nhẳn, kích thước 16-18μm
Mew and Gonzales (2002) đã mô tả Nigrospora sp như sau: Sợi nấm màu
nâu sáng, không phân nhánh, có vách ngăn Đính bào đài: ngắn, mọc đơn Bào tử: màu đen, hình cầu, nhẵn, bóng, 1 tế bào, được tạo ra riêng rẻ ở đỉnh đính bào đài Kích thước: 10,35 - 13,80μm × 12,19 - 15,64μm (PDA) Khuẩn ty nấm trên môi trường PDA ở nhiệt độ phòng (28-30°C) phát triển tương đối nhanh và đạt đường kính 5,58 cm sau 5 ngày Chúng là những khoanh màu nâu, viền gợn sóng màu sáng Nh́n từ mặt đáy đĩa, khuẩn ty nấm màu xám
Ký chủ: Súp lơ, cam quýt, đay, cọ dừa, bơ, tiêu, lúa mạch đen, ngô, gừng, hướng dương, lúa, bông (CPC, 2003)
1.3.6 Tilletia barclayana
Đầu tiên, Takahashi (1896) gọi loài nấm gây bệnh là Tilletia horrida Padwick và Khan (1944) đặt nó vào chi Neovossia, tên là N horrida (Tak.) Padwick and Azmat Khan Sau đó, Tullis và Johnson (1952) đổi tên là N barclayana Duran và Fischer (1961) đặt nó vào chi Tilletia với tên là Tilletia barclayana (Bref.) Sacc and Sycl Đó là tác nhân gây bệnh than đen hay phấn đen hạt (Ou, 1972, Võ Thanh Hoàng 1993; Mew and Misra, 1994) Tilletia barclayana
thuộc họ Ustilaginales, bộ Tilletiaceae, lớp Basidiomycetes (Vũ Triệu Mân và Lê
Lương Tề, 1998)
Bệnh do nấm này gây ra đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới (Mew and Gonzales, 2002) Ở ĐBSCL, dịch bệnh đã xảy ra ở Đồng Tháp vào năm 1984 (Võ Thanh Hoàng, 1993) Mew and Gonzales (2002) cho biết tần số xuất hiện trung
bình trên các hạt giống của Tilletia barclayana ở những vùng khác nhau khoảng
67,1%; Phạm Văn Dư (2001, trích dẫn từ Lê Cẩm Loan, 2009) là 0,16% ở Long An
và 29% ở các tỉnh ĐBSCL; Hồ Văn Thơ (2007) ghi nhận ở Đồng Tháp là 47,80% trên các mẫu lúa
Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn lúa chín Hạt bị nhiễm bệnh có các mụn đen hoặc các vết nứt ở vỏ hạt Trong trường hợp bệnh nặng, vỏ hạt bị nứt ra tạo thành chồi giống như mỏ chim hay cựa gà Đôi khi toàn bộ hạt biến thành một khối bào tử dạng bột màu đen Theo Reyes (1933) thì nếu hạt không bệnh nặng thì
chúng vẫn có thể nảy mầm nhưng mạ còi cọc (Ou, 1972, trích dẫn)
Sự nhiễm bệnh trên hạt có thể quan sát trực tiếp bằng kính lúp Sợi nấm khí sinh không được hình thành Các bào tử hình cầu, màu đen rác trên bề mặt hạt và lá mầm (Mew and Gonzales, 2002)
Takahashi (1896) đã mô tả nấm như sau: bào tử hình cầu tròn không đều (đường kính 18,5–23µm), đôi khi hình bầu dục rộng (kích thước 22,5-26,0µm x 18,0-22,0µm) Vách bào tử màu nâu đậm, mờ đục, được phủ một lớp gai nổi và dày Gai không màu hoặc hơi có màu, đỉnh nhọn, cong ít hoặc nhiều, cao 2,5-4,0µm và 1,5-2,0µm về phía các đầu tự do (trích dẫn từ Ou, 1972)
Trang 29Ký chủ: Bệnh còn gặp trên hai loại lúa dại Oryza barthii và O minula và các cây Brachiria, Digitaria, Eriochloa, Pahicum và Pennisetam (trích dẫn từ Ou,
Bệnh được ghi nhận rất sớm ở Ấn Độ, Trung Quốc và ngày nay, bệnh cũng
đã được biết ở hầu hết các khu vực trồng lúa trên thế giới Ở ĐBSCL, bệnh xuất hiện nhiều nơi, nhất là trong vụ Đông Xuân nhưng thiệt hại không đáng kể (Võ Thanh Hoàng, 1993) Theo Mew and Misra (1994) tần số xuất hiện của nấm khoảng 0,1–7% trong các lô hạt được kiểm tra
Bệnh chỉ xãy ra ở bông lúa trưởng thành Mỗi bông thường có vài hạt bị nhiễm bệnh Hạt nhiễm bệnh bị bao phủ bởi một khối bào tử màu xanh nhạt ở bên ngoài, bên trong có màu cam hơi vàng và sau biến thành màu đen Khối bào tử có thể có đường kính 1 cm hoặc lớn hơn (Agarwal, 1989) Cắt đôi khối bào tử, ta thấy
có 3 lớp bên ngoài và ở giữa màu trắng hợp bởi những sợi nấm đan chặt lại với vỏ hạt và các mô khác của hạt lúa Lớp trong cùng màu vàng nhạt với các sợi nấm dạng tia và các bào tử trong quá trình hình thành Lớp tiếp theo màu vàng da cam và hợp bởi các sợi nấm và bào tử Lớp ngoài cùng màu xanh và hợp bởi các bào tử chín cùng với các mảnh sợi nấm còn lại (Ou, 1972)
Bào tử trong bướu là những bì bào tử Các bì bào tử này có hình cầu hay hình bầu dục, 3-5m x 4-6m, có màu xanh tối, được sinh ra trên những mấu nhọn nhỏ trên các khuẩn ty đang phát triển Bì bào tử non có kích thước nhỏ hơn, nhạt màu hơn và có bề mặt trơn (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Ở một số bướu màu xanh, nấm có thể thành lập bên trong tâm của bướu 1-4 hạch khuẩn Các hạch này có thể phát triển thành nang bào tử phòng Trong nang bào tử phòng có các quả nang bầu xếp ở vòng bìa Quả nang bầu có hình tam giác đáy bầu, chứa khoảng 300 nang Nang có hình trụ dài, 180–220m x 4m chứa 8 nang bào tử Nang bào tử trong suốt, hình trụ, không vách ngăn, 120–180m x 0,5-1m (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Ký chủ: Ngoài lúa, nấm còn lây bệnh cho ngô (Haskell và Diehl, 1929) và một loại lúa dại khác (Veeraghaval, 1962) (trích dẫn từ Ou, 1972)
Ẩm độ cao là nhân tố thuận lợi cho sự phát triển bệnh hoa cúc Theo Ikegami (1960) và các tác giả ở Nhật Bản đều cho rằng các cây bón nhiều phân, sinh trưởng thân lá tốt đều mẫn cảm hơn với bệnh (trích dẫn từ Ou, 1972)
1.3.8 Pinatubo oryzae
Pinatubo oryzae Manandhar & Mew Nấm Pinatubo oryzae trước đây được đặt tên là Verticillium cinnabarinum và đã được định danh lại là Pinatubo oryzae
vào năm 1996 (Mew and Gonzales, 2000)
Mew and Gonzales, 2000 cho rằng vết bệnh màu xám ở chồi mầm
Trang 30Nấm thường phát hiện trong hạt lúa ở Phillipin và nhiều quốc gia khác ở châu Á, châu Phi Tần số xuất hiện của nấm khoảng 25,20% trên hạt lúa ở các vùng khác nhau (Mew and Gonzales, 2002)
Mew and Gonzales (2002) đã mô tả nấm như sau: Sợi nấm khí sinh xuất hiện
ít hoặc nhiều, màu trắng và phân nhánh Sợi nấm trong suốt, có vách ngăn Bào tử đính sinh ra ở đỉnh và sắp xếp như một bông hoa Tần suất xuất hiện trung bình thường là 25.2% trên hạt lúa lấy từ những vùng khác nhau Đính bào đài: đơn hoặc phân nhánh, ngắn, phân nhánh với mấu dạng răng nhỏ ở phần tận cùng Bào tử: hình bầu dục kéo dài, một đến 2 tế bào, rất ít 3 tế bào, nhọn ở phần gốc và tròn ở đỉnh, không màu Kích thước: 5,75 – 12,88µm x 2,70 – 6,21µm (PDA) Khuẩn ty trên PDA ở nhiệt độ phòng (28 - 300C) sinh trưởng nhanh và đạt được đường kính 5,02 cm trong 5 ngày Chúng là những khoanh với rìa đều, mọc thành khóm và màu
đỏ nhạt, cam với cam Ở mặt sau của đĩa petri, khuẩn ty là các khoanh sáng Màu từ cam đến vàng cam nhạt dần hướng về rìa
1.3.9 Trichothecium sp
Loài nấm gây hại Việt Nam là Trichothecium roseum (Nguyễn Danh Thạch,
1998; trích dẫn bởi Trần Thị Thuy Thủy và Phạm Văn Dư, 2005; trích dẫn bởi Lê Hữu Hải, 2009)
Lê Thị Cẩm Tú (2007) đã lây bệnh trên hạt và nhận thấy nếu bệnh nhẹ, vết bệnh sẽ có màu nâu nhạt lan trên hạt, không có hình dạng rõ ràng Nếu bệnh nặng, vết bệnh sẽ có màu đen, rìa màu đậm, tâm màu nhạt hơn và vết bệnh có thể lan ra làm đen toàn hạt
Trên hạt, nấm đôi khi phát triển thành từng mảng lớn bao phủ một phần hoặc
cả bề mặt hạt, màu hồng nhạt hoặc trong suốt, mang một hoặc nhiều bào tử đính
phía trên đỉnh Bào tử dạng gần tròn, nhỏ như bào tử Curvularia spp., trong suốt,
đính trên cành bào đài như những giọt nước Khuẩn ty phân nhánh, có vách ngăn ngang, không màu Đính bào đài dài, mảnh, có vách ngăn, không phân nhánh, mang một hoặc nhiều bào tử Bào tử dạng trứng hoặc bầu dục, viền nâu đậm, không màu,
có hai tế bào và hơi thắt eo ở chổ vách ngăn Một đầu to tròn còn đầu kia thì hơi thắt lại như dạng hạt dưa (Hồ Văn Thơ, 2007)
Barnett và Hunter (1998) thì cho biết rằng cành bào tử thon dài, mọc đơn, có vách ngăn, sinh bào tử ở đỉnh, mọc đơn hoặc mọc liên tiếp nhau ở đỉnh của cành bào tử
Ký chủ Trichothecium roseum: Mãng cầu, lạc, củ cải đường, dưa hấu, cẩm
chướng, bông, cà chua, bơ, nho, ngô, chuối, đậu kidney, hạnh, lê, táo (CPC, 2003)
Domsch và ctv (1980) đã báo cáo rằng nhiệt độ thích hợp cho Trichothecium
phát triển là 250C, nhiệt độ tối thiểu là 15oC, tối đa là 35oC (trích dẫn bởi Pitt và Hocking, 2009)
1.3.10 Alternaria spp
Alternaria gây bệnh trên nhiều loại cây trồng trên khắp thế giới Bào tử có trong đất và phát triển hoại sinh (phát triển thứ cấp) trong phòng thí nghiệm Trên
Trang 31thực vật chết hoặc các mô đang phân hủy, và nhiều nhất là trên các mô đã già như cánh hoa, lá và trái chín Nhiều loài Alternaria còn sinh ra chất độc Có loài đa ký chủ, cũng có loài chỉ gây bệnh trên một loài ký chủ nhất định (Agrios, 2005) Mew
and Gonzales, 2000 đã phát hiện thấy Alternaria longissim, A tenuissima là các tác
nhân gây hại trên hạt lúa
Sợi nấm Alternaria spp có màu tối Chúng sinh các cành bào đài ngắn, mọc
đơn và thẳng Cành bào đài sinh ra các chuổi bào tử đơn hoặc phân nhánh Bào tử lớn, màu sẫm, dài hoặc hình quả lê và đa bào với cả vách ngăn ngang và vách ngăn dọc Bào tử dễ dàng rụng bởi gió (Agrios, 2005)
Ký chủ: A tenuissima còn gây bệnh trên lạc, súp lơ, dừa, đậu nành, lúa, đậu,
hoa xô đỏ (Scarlet sage), lúa mì, hướng dương, lúa mạch, Chinese lantern, Berseem clover, chickpea, Egyptian privet, khoai mì, mung bean, đậu kidney, blueberries (CPC, 2003)
Bào tử được sản xuất nhiều, đặc biệt là trong điều kiện sương mù nhiều và mưa thường xuyên Bào tử nảy mầm xâm nhập trực tiếp hoặc qua vết thương và mau chóng tạo bào tử để tiếp tục lan truyền nhờ gió, mưa bắn tung tóe (Agrios, 2005)
1.3.11 Penicillium spp
Họ Eurotiaceae, bộ Eurotiales, lớp Plectomycetes (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành, 2010)
Triệu chứng: Khối bột màu xanh lá cây phát triển ở trên bông lúa hoặc giữa
hạt (CPC, 2003) Chi Penicillium có hơn 100 loài Chúng đặc trưng cho giống mốc
xanh (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành, 2010)
Khuẩn ty phân nhánh, nhiều khuẩn ty có vách ngăn ngang và hấp thụ dinh dưỡng tạo ra cọng bào tử và đính bào tử Cọng bào tử có thể phân nhánh (bậc 1, 2 hay 3,…) và tận cùng cọng bào tử là các thể bình Nếu cọng bào tử không phân nhánh thì tận cùng là các thể bình và các chuỗi đính bào tử giống như cây cọ vẽ nên còn gọi là thể bình vẽ (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành, 2010) Bào tử đơn bào, hình cầu hay hình trứng và có màu sáng (CPC, 2003)
Penicillium là chi có phổ ký chủ rất rộng Chúng có thể được tìm thấy trên hạt và trái của hầu hết tất cả các loài cây, Penicillium là tác nhân gây ra thối và mốc trong quá trình tồn trữ Nấm phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, trong đất, trong tàn
dư thực vật và trong không khí (CPC, 2003) Mức độ nhiễm bệnh của Penicillium lên đến 100% trên hạt bắp (Handoo and Aulakh, 1979, trích dẫn bởi CPC, 2003)
Trang 32bào chân Túi hay bọng là tế bào đa nhân và phát triển gắn liền với thể bình Thể bình là cấu trúc đa nhân và trên đầu thể bình tạo thành một chuổi bào tử đính, những bào tử non ở trong và càng xa càng già Bào tử nảy mầm sẽ phóng thích vào không khí và nẩy mầm Sinh sản hữu tính chỉ phát hiện ở vài loài, chúng thành lập những túi đực và noãn phòng (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành, 2010)
Ký chủ chính: Lạc, ngô, hành tây, tỏi, hạt điều, khoai môn, xoài, đậu nành,
cà chua, date-palm, citron, cam (lime, mandarin) Ký chủ phụ: ớt, đu đủ, lúa, lê, mận lựu, củ cải, dưa leo, thì là, khoai tây, ổi, rau diếp, cà phê, gừng, thuốc lá, mía đường, nghệ, súp lơ, ca cao, cam quýt, cà rốt, chuối…
1.3.13 Mucor sp
Chi Mucor thuộc họ Mucoraceae, bộ Mucorales, lớp Zygomycetes (Cao
Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành, 2010)
Nấm sinh sản vô tính bằng cách thành lập thể mang bọc bào tử và bào tử vách dày Thể mang bọc bào tử với những bào tử bất động hình thành trong cái bao hay bọc bào tử; mỗi bọc bào tử phát triển tận ngọn, không phân nhánh và có thể mang bọc bào tử phát triển riêng biệt Bọc bào tử đổi sang màu nâu khi bào tử trưởng thành và dễ dàng vỡ ra để phóng thích bào tử theo gió (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành, 2010)
Ký chủ: có loài đơn ký chủ: M ambiguous và M circinelloides (nho), M hiemalis (lạc), M racemosus (gừng) Có loài đa ký chủ: M piriformis (mận, táo, lê,
cherry, đào)
1.3.14 Pithomyces sp
Theo Barnett và Hunter (1998) thì chi Pithomyces có cành bào tử ngắn, đơn giản, sinh ra từ sợi nấm, màu đục Bào tử mọc đơn, sinh ra từ đỉnh của đính bào đài, thường là hình elip, hình chữ nhật đến hình quả lê hoặc không đều, ít khi nào như mụn cóc hoặc có gai nhỏ, thường tách rời với cành bào tử
1.3.15 Acremonium sp
Chi Acremonium thường được gọi là Cephalosporium trong các tài liệu trước
1970 Đó là một chi lớn và đa dạng; đặc trưng bởi tạo ra những bào tử đơn lẻ, nhỏ, không màu, đơn bào; bào tử thường được quan sát thấy ở dạng chuỗi, từ những thể bình đơn lẻ (Pitt và Hocking, 2009)
Cephalosporium oryzae cũng đã được Nguyễn Danh Thạch, 1998 phát hiện ở
Việt Nam (trích dẫn bởi Trần Thị Thu Thủy, 2005)
1.4 Đặc tính của các giống lúa
1.4.1 Giống lúa OM 6976
Đây là giống lúa triển vọng mới được giới thiệu trong vụ HT 2009
Thời gian sinh trưởng: 95-100 ngày Chiều cao cây: 95-100cm, dạng hình
đẹp, rất cứng cây, đẻ nhánh ít, bông to chùm, đóng hạt dầy Chống chịu Rầy nâu và
Trang 33vụ Đông Xuân: 7-9 tấn/ ha, Hè Thu: 5-6 tấn/ ha Trọng lượng 1000 hạt: 25-26g Hạt gạo dài trung bình, trong, ít bạc bụng, cơm vẫn còn hơi mềm khi nguội Thích nghi rộng trên nhiều loại đất, từ phù sa ngọt đến phèn nặng Tiềm năng năng suất OM
6976 cao và ổn định trong cả 2 vụ ĐX và HT Nông dân canh tác giống OM 6976 cần có biện pháp bón phân hoặc phun thuốc nuôi hạt để tăng tỷ lệ hạt chắc (Trung tâm giống nông nghiệp Đồng Tháp, 2012)
1.4.2 Giống OM 4218
Thời gian sinh trưởng: 90-95 ngày.Chiều cao cây: 85-90 cm, đẻ nhánh khá, dạng hình còn phân ly; bông dài, khoe, lá cờ nhỏ, ngắn Hơi nhiễm bệnh cháy lá (cấp 3), nhiễm rầy nâu (cấp 5-7) Năng suất bình quân: 6-8 tấn/ha; thích nghi cả 2
vụ ĐX và HT Trọng lượng 1.000 hạt: 25,1 gram Hạt gạo dài, trong, vỏ trấu mỏng Chú ý: bón nhẹ phân, cần bón cấn đối N, P, K; theo dõi phòng, trừ rầy nâu và bệnh đạo ôn (Trung tâm giống nông nghiệp Đồng Tháp, 2012)
1.4.3 Giống IR 50404
Được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 126 QĐ/BNN-KHCN, ngày 21 tháng 5 năm 1992 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT
Thời gian sinh trưởng 85-90 ngày Chiều cao cây: 85-90cm Khả năng chống
đổ kém Thích nghi rộng trên nhiều vùng đất phù sa đến phèn trung bình, Canh tác được cả 3 vụ trong năm Hơi nhiễm rầy nâu và đạo ôn Nhiễm nhẹ với bệnh vàng lá Nhiễm vừa với bệnh khô vằn Năng suất: vụ Đông Xuân 6-8 tấn/ha, vụ Hè Thu 5-6 tấn/ha Hạt gạo bầu, bạc bụng Khô cơm Hàm lượng amylose (%): 26,0 Trọng lượng 1000 hạt 22-23 g Chiều dài hạt trung bình: 6,74 mm (Trung tâm giống nông nghiệp Đồng Tháp, 2012)
1.4.4 Giống OM 4900
Được công nhận giống chính thức năm 2009 theo Quyết định số 198 QĐ/BNN-KHCN ngày 18/06/2009 của Bộ Nông Nghiệp và PTNT
Thời gian sinh trưởng 100-105 ngày Chiều cao cây: 105-110cm Cứng cây,
đẻ nhánh khỏe Phản ứng với rầy nâu cấp 3, đạo ôn cấp 3 Năng suất trung bình: Vụ Đông xuân: 6-8 tấn/ha, vụ Hè Thu : 5-6 tấn/ha Khối lượng 1.000 hạt 28,3g Chiều dài hạt 7,8 mm, tỷ lệ amylose 16,2% Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, cơm dẻo, thơm Giống OM4900 gieo trồng thích hợp cho cả vụ Đông Xuân
và Hè Thu Giống được chấp nhận cao ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, và nhiều địa phương khác ở ĐBSCL Giống phát huy tốt ở các vùng đất phù
sa ngọt sản xuất giống lúa chất lượng cao cho xuất khẩu (Trung tâm giống nông nghiệp Đồng Tháp, 2012)
Trang 34CHƯƠNG II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.1 Phương tiện
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian tiến hành thí nghiệm: từ tháng 7/2011 đến tháng 3/2012
Địa điểm: phòng thí nghiệm và nhà lưới bộ môn Bảo vệ Thực vật, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
- Các mẫu lúa được thu ở các huyện của tỉnh Đồng Tháp ở vụ Hè Thu 2011
và Đông Xuân 2011-2012
- Các giống sạch bệnh để lây bệnh nhân tạo: IR50404, OM6976, Jasmine85
- Các nguồn nấm phân lập từ các hạt lúa bệnh ở tỉnh Đồng Tháp
- Môi trường nuôi cấy nấm là môi trường PDA (Shurtleff, 1999), gồm có: + Khoai tây 200 g
- Kính hiển vi (KHV), KHV soi nổi, lame, lamella, đèn huỳnh quang
- Đĩa Petri, chai thủy tinh, beaker thủy tinh, ống đục tròn, đèn cồn, đũa cấy, bao giấy, kim mũi giáo, giấy thấm, băng keo, bọc nilon
2.2 Phương pháp
2.2.1 Cách thu thập mẫu
- Địa điểm thu mẫu: các huyện của tỉnh Đồng Tháp
- Thời gian thu mẫu: Hè Thu năm 2011 (HT) và vụ Đông Xuân 2011 – 2012 (ĐX)
- Cách thu mẫu:
+ Thu tổng cộng 30 mẫu ở các huyện trong tỉnh Đồng Tháp (Hồng Ngự, Thanh Bình, Tam Nông, Tháp Mười, Lai Vung, Lấp Vò)
Trang 35+ Trên mỗi ruộng thu được một mẫu (tương ứng với kỹ thuật canh tác của một nông dân), trong mỗi ruộng phải thu ngẫu nhiên ở nhiều vị trí khác nhau
+ Trên mỗi mẫu thu thập từ 15-30 bông lúa bệnh và cho vào bao giấy
+ Để mẫu ở những nơi thoáng tới khi khô và bảo quản trong túi giấy
2.2.2 Phương pháp xác định thành phần nấm gây bệnh trên hạt và tần số xuất hiện của từng loại nấm
Bước 1: Mô tả triệu chứng và tìm mầm bệnh
theo phương pháp Blotter (Neergard, 1988
trích dẫn bởi Trần Văn Hai, 1999)
+ Cách ủ: lấy ngẫu nhiên 25 hạt lúa bệnh,
nhúng vào cồn 75% trong 1-2 phút, rữa 2 lần
bằng nước cất thanh trùng và xếp thành vòng
tròn vào đĩa petri đã lót giấy thấm đủ ẩm với
khoảng cách đều nhau (Hình 2.1); cho vào tủ
úm 300C trong 3 ngày đầu, sau đó để ở nhiệt
độ phòng dưới ánh sáng đèn huỳnh quang xen
kẽ 12 giờ sáng và 12 giờ tối tạo điều kiện
thuận lợi cho nấm phát triển.Đ
Bước 2: Phân lập tách ròng và định danh
mầm bệnh
+ Quan sát dưới KHV soi nổi: Sau khi ủ khoảng 3-5 ngày, đem hạt đã ủ quan sát để nhận biết màu sắc và cách phát triển của từng loại nấm, cách mọc của sợi nấm trên hạt dưới KHV soi nổi
+ Quan sát dưới KHV: Sau khi ủ khoảng 7 ngày, cạo nấm bằng kim mũi giáo hoặc dán bằng băng keo rồi quan sát dưới KHV, mô tả màu sắc, hình dạng của sợi nấm, bào tử, đính bào đài Đo chiều dài và chiều rộng của bào tử, đo khoảng 10 bào tử dưới KHV ở vật kính 40X rồi lấy trung bình
+ Định danh nấm: Dựa vào tài liệu của Ou (1972), Agarwal (1989), Barnett and Hunter (1998), cẩm nang nấm gây hại hạt lúa của Mew an d Go n zal e s (2 0 0 2 ), Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành (2010) và các tài liệu đã báo cáo khác + Phân lập nguồn nấm bệnh, làm thuần dòng nấm và nuôi cấy Quan sát sự phát triển của nấm trên môi trường PDA, mô tả đặc điểm và đo đường kính của tản nấm sau 5 ngày nuôi cấy
Bước 3: Lây nhiễm mầm bệnh đã phân lập vào cây lúa khỏe và quan sát triệu chứng
bệnh
Hình 2.1 Cách ủ hạt trên đĩa Petri
Trang 36+ Chuẩn bị cây lúa khỏe, sạch bệnh; khi lúa gần trổ thì tiến hành lây bệnh
+ Phương pháp lây bệnh: Nuôi cấy nguồn nấm lây bệnh trong các đĩa petri trước khi chủng Khi cây lúa ở giai đoạn đòng đòng, dùng kim mũi giáo cạo lấy nấm và nhét vào bông lúa, phun sương để giữ ẩm rồi trùm bông lúa lại bằng bọc nilon Sau 7-10 ngày, quan sát triệu chứng, chụp hình, đem ủ lại và so sánh với các đặc điểm hình
thái ban đầu
Bước 4: Tái phân lập mầm bệnh đã lây bệnh và so sách với mầm bệnh ban đầu
Xác định tần số xuất hiện của nấm
Ghi nhận thành phần nấm gây bệnh trên hạt (qua sự quan sát hạt lúa được ủ trong điều kiện ánh sáng đèn huỳnh quang)
+ Tần số xuất hiện của một loại nấm trên mẫu quan sát: Số mẫu xuất hiện loại nấm
đó trên tổng số mẫu quan sát, dựa theo công thức:
A Tần số trong vụ HT = X 100 Tổng số mẫu ở vụ HT
B
Tần số trong vụ ĐX = X 100 Tổng số mẫu ở vụ ĐX
Trong đó: A và B là số mẫu lúa bị nhiễm ở một loại nấm
+ Tần số xuất hiện của một loại nấm trên hạt : Số lần xuất hiện của loại nấm đó trên
Trang 37* TSTB của một loại nấm trên một giống ở một vụ nào đó (En), được tính
theo công thức sau:
Số hạt xuất hiện loại nấm E trên 1 giống ở 1 vụ trong lần lập lại thứ 1
Trang 38CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Mô tả đặc điểm của các tác nhân gây bệnh trên hạt lúa
3.6.1 Fusarium spp
Triệu chứng trên hạt: hạt xuất hiện những vết nâu ở một phần hoặc lan khắp hạt, cũng có khi cả hạt có màu đen
Vị trí xuất hiện trên hạt: Thông thường, nấm mọc trên toàn hạt lúa
Quan sát dưới KHV soi nổi: Toàn hạt được phủ bởi những sợi nấm màu trắng hoặc màu vàng (Hình 3.1 A và B), ít khi có màu hồng nhạt và cũng có trường hợp chúng làm tím giấy thấm Sợi nấm hơi thô, màu trắng lấp lánh; có lúc là những
sợi rất mịn và đó là tiểu bào tử Fusarium spp.(Hình 3.1 C và D)
Quan sát trên KHV: Sợi nấm phân nhánh, không màu, có vách ngăn (Hình 3.2 A và B) Đại bào tử không màu, hình liềm nhọn hai đầu, thẳng hoặc hơi cong, từ 3-6 vách ngăn, kích thước rất biến đổi từ 25,00–48,00m x 2,50–3,75m, trung bình 37,00m x 3,00m (Hình 3.2 C) Tiểu bào tử đơn bào, không màu, hình trứng hoặc hình elip, thường mọc thành chuổi, kích thước trung bình từ 3,40m x 2,50m (Hình 3.1 D và E)
Đặc điểm khuẩn lạc trên môi trường nuôi cấy: có 3 dạng Dạng thứ nhất, mặt trên khuẩn lạc có màu trắng phớt hồng nhạt, tâm màu vàng; sợi nấm mọc nhô và thưa thớt, rìa mịn và không đều Mặt dưới khuẩn lạc có màu vàng nâu, mép hồng nhạt Sau 5 ngày nuôi cấy, khuẩn lạc đạt đường kính 5,10cm (Hình 3.2 A và B) Dạng thứ hai, khuẩn lạc có màu trắng phớt tím, rìa màu trắng, mọc nhô dần về phía tâm; rìa mịn và không tròn đều Sợi nấm thưa thớt Mặt sau, khuẩn lạc có nhiều vòng đồng tâm (màu tím nhạt dần về phía rìa) xen kẻ với các vòng màu trắng (Hình 3.2 C và D) Sau 5 ngày nuôi cấy, khuẩn lạc đạt đường kính là 5,40cm Dạng thứ
ba, sau 5 ngày nuôi cấy, khuẩn lạc đạt đường kính 5,60cm Khoanh nấm có màu trắng phớt tím nhạt; sợi nấm bện chặt và hơi nhô; rìa mịn và tròn đều Mặt dưới khuẩn lạc có màu tím nhạt (Hình 3.2 E và F)
Các đặc điểm quan sát được ở trên tương tự như mô tả của Barnett and
Hunter (1998) về chi Fusarium Chi này có nhiều loài gây hại trên hạt lúa nên được xác định là Fusarium spp
Triệu chứng hạt sau khi lây bệnh: hạt bị lem màu nâu đến nâu đen ở một phần hoặc toàn hạt, ở những hạt nhiễm nặng tòan hạt bị phủ bởi những sợi nấm màu trắng (Hình 3.2 G) Hạt lúa sau khi lây bệnh khoảng 7 ngày đem quan sát trên KHV
và KHV soi nổi quan sát thấy giống với các đặc điểm ban đầu của nấm
Trang 39Hình 3.1 Đặc điểm hình thái nấm Fusarium spp gây bệnh trên hạt lúa
Ghi chú: A và B Hình chụp cả hạt lúa bị nhiễm nấm Fusarium spp trên kính hiển vi (KHV) soi nổi
C Đại bào tử nấm Fusarium spp trên KHV soi nổi
D Tiểu bào tử nấm Fusarium spp trên KHV soi nổi
E và G Đại bào tử nấm Fusarium spp được nhuộm cotton blue trên KHV
F, H và I Tiểu bào tử nấm Fusarium spp được nhuộm cotton blue trên KHV
Trang 403.6.2 Curvularia spp
Triệu chứng trên hạt: hạt lúa có màu nâu, nâu đen đến đen
Vị trí xuất hiện trên hạt: nấm thường mọc rãi rác trên các phần vỏ hạt xen kẻ cùng các loài nấm khác; cũng có những trường hợp, chúng mọc trên toàn bộ vỏ hạt Quan sát dưới KHV soi nổi: cành bào tử phân nhánh hoặc không phân nhánh, mọc thành từng cụm hoặc rãi rác, bào tử nhỏ màu đen đính trên đính bào đài (Hình 3.3 A, C và D) Cũng có ít trường hợp, có rất nhiều sợi nấm dễ nhầm lẫn với
Helminthosporium spp., chỉ khi quan sát thật kỹ ta mới thấy được bào tử của nấm
nhưng chúng rất nhỏ và số lượng cũng rất ít Có lúc, các bào tử nấm cuộn lại với nhau thành những hạch hơi tròn, mà khi quan sát KHV soi nổi ta thấy đó là các hạch màu đen, bất dạng (Hình 3.3 B)
Quan sát trên KHV: sợi nấm màu nâu nhạt, có vách ngăn, gần Đính bào đài
có vách ngăn, nhạt màu ở đỉnh Bào tử mọc thành cụm ở đỉnh sợi nấm hoặc mọc
Hình 3.2 Triệu chứng và khuẩn ty nấm Fusarium spp gây bệnh trên hạt
Chú thích: A, C, E Khuẩn ty nấm Fusarium spp trên môi trường PDA (mặt trên)
B, D, F Khuẩn ty nấm Fusarium spp trên môi trường PDA (mặt dưới)
G Triệu chứng bông lúa bị nấm Fusarium spp gây hại sau khi lây bệnh nhân tạo
G