Cỏ lồng vực nước Echinochloa crus-galli trên ruộng lúa và phát hoa của cỏ lồng vực nước Tỷ lệ % ảnh hưởng phèn của nguồn nước tưới tại địa bàn điều tra tỉnh Long An, 2012 Tỷ lệ % nông dâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ QUỐC CHIẾN
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ SỬ DỤNG THUỐC THUỐC TRỪ CỎ TRÊN RUỘNG LÚA TẠI
TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ SỬ DỤNG THUỐC THUỐC TRỪ CỎ TRÊN RUỘNG LÚA TẠI TỈNH
LONG AN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
MSSV: 3083785
Lớp: BVTV K34
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận đã chấp nhận Luận văn tốt nghiệp với tên đề tài: “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ SỬ DỤNG THUỐC THUỐC TRỪ CỎ TRÊN RUỘNG LÚA TẠI TỈNH LONG AN”
Do sinh viên Lê Quốc Chiến thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Ths Nguyễn Chí Cương
Trang 4LÝ LỊCH CÁ NHÂN
1 LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Nguyên quán: Ấp Bình Phú I, xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Họ và tên cha: Lê Văn Dấm
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thu Lan
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Lê Quốc Chiến
Trang 6Thầy Nguyễn Chí Cương đã dành nhiều thời gian quý báu hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Thầy Lăng Cảnh Phú, thầy Vũ Anh Pháp đã tạo điều kiện để tôi thực hiện đề tài này
Thầy cố vấn học tập Trần Vũ Phến, thầy Phạm Kim Sơn, cô Nguyễn Thị Thu Nga cùng tất cả các thầy cô trong bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báo trong suốt quá trình thực hiện đề tài và trong những ngày ở giảng đường đại học
Trang 7LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu sơ lược về điều kiện tự nhiên tỉnh Long An
1.2.3.4 Có nhiều hình thức phát tán, lan truyền
1.2.3.5 Sức chống chịu và khả năng tồn tại cao
1.2.3.6 Thời gian mọc mầm không đều
1.2.3.7 Yêu cầu những điều kiện nhất định để nảy mầm và
sinh sống
1.2.4 Phân loại cỏ dại
1.2.4.1 Theo hệ thống phân loại thực vật
1.2.4.2 Dựa vào số lá mầm của cỏ
1.2.4.3 Phân loại dựa vào chu kỳ sống của cỏ
1.2.4.4 Phân loại dựa trên đặc điểm hình thái chung
1.2.5 Các loài cỏ dại thường gặp trên ruộng lúa
Trang 81.3.9 Clincher 10EC, Bangbang 10EC, Koler 10EC, Linhtrơ
100EC, Topco 200EC
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra hiện trạng canh tác lúa tại tỉnh Long An
Trang 93.1.7 Thời gian phun xịt và quản lý nước
3.1.8 Liều lượng và lượng nước phun lần thứ nhất
3.1.9 Đánh giá của nông dân
3.1.10 Cỏ khó trị và cỏ có chiều hướng gia tăng hiện nay
3.2 Thảo luận chung
Trang 10Cỏ lồng vực nước (Echinochloa crus-galli) trên ruộng lúa và
phát hoa của cỏ lồng vực nước
Tỷ lệ (%) ảnh hưởng phèn của nguồn nước tưới tại địa bàn
điều tra tỉnh Long An, 2012
Tỷ lệ (%) nông dân sử dụng thuốc trừ cỏ lần hai
Tỷ lệ (%) loại cỏ dại khó trị nhất hiện nay tại địa bàn điều tra
tỉnh Long An, 2012
Tỷ lệ (%) loại cỏ dại có chiều hướng gia tăng hiện nay tại địa
bàn điều tra tỉnh Long An, 2012
Trang 11Tỷ lệ (%) trình độ học vấn và kinh nghiệm sản xuất của nông
dân tại địa bàn điều tra tỉnh Long An
Tỷ lệ (%) phương pháp gieo sạ và mật độ sạ lang tại địa bàn điều
tra tỉnh Long An, 2012
Tỷ lệ (%) các loại thuốc trừ cỏ nông dân sử dụng lần thứ nhất
Tỷ lệ (%) các loại thuốc trừ cỏ nông dân sử dụng lần thứ hai
Thời gian phun xịt và quản lý nước của thuốc trừ cỏ sử dụng lần
thứ nhất
Tỷ lệ (%) liều lượng thuốc cỏ và lượng nước nông dân sử dụng
trong lần phun thứ nhất
Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về các loại thuốc trừ cỏ
đã từng sử dụng trên cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli)
Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về các loại thuốc trừ cỏ
đã từng sử dụng trên cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis)
Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về các loại thuốc trừ cỏ
đã từng sử dụng trên cỏ cháo (Cyperus difformis L.)
Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về các loại thuốc trừ cỏ
đã từng sử dụng trên cỏ chác (Fimbristylis miliacea)
Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về các loại thuốc trừ cỏ
đã từng sử dụng trên cỏ lác rận (Cyperus iria)
Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về các loại thuốc trừ cỏ
đã từng sử dụng trên cỏ mác bao (Monochoria vaginalis)
Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về các loại thuốc trừ cỏ
đã từng sử dụng trên cỏ rau mương (Ludwigia octovalvis)
Trang 123.14 Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về các loại thuốc trừ cỏ
đã từng sử dụng trên cỏ xà bông (Sphaenoclea zeylanica) 42
Trang 13Lê Quốc Chiến, 2012 “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ SỬ DỤNG THUỐC THUỐC TRỪ CỎ TRÊN RUỘNG LÚA TẠI TỈNH LONG AN”
Luận văn tốt nghiệp Đại học, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Chí Cương
TÓM LƯỢC
Đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác và sử dụng thuốc trừ cỏ trên ruộng lúa tại tỉnh Long An” đươc thực hiện từ tháng 4/2012-6/2012 bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 80 nông dân tại 4 huyện: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh tỉnh Long An nhằm (1) đánh giá hiện trạng canh tác, (2) tình hình sử dụng thuốc cỏ hiện nay trên ruộng lúa, (3) điều tra loại cỏ nào có chiều hướng gia tăng hiện nay cũng như khó diệt trừ
(1) Qua kết quả điều tra cho thấy rằng, đa số nông dân sản xuât lúa của 4 huyện điều tra ở tỉnh Long An canh tác 2 vụ/năm (74%) Trình độ học vấn của người nông dân còn thấp, số người hoc cấp 3 chỉ chiếm có 22,5% Kinh nghiệm sản xuất lúa trên 10 năm chiếm tỷ lệ cao (66,25%) Giống chủ yếu được nông dân sử dụng là: IR50404 (37,5%), OM4900 (17,5%), OM6976 (16,25%) Nông dân sử dụng giống xác nhận là đa số (77%) Áp dụng biện pháp sạ lan là chính (95%) Mật độ sạ trung bình từ 100 - 150 kg/ha (57,5%) Nguồn nước tưới trông ruộng lúa hoàn toàn là nước sông, nguồn nước tưới không bị ảnh hưởng phèn là 52%
(2) Thuốc cỏ sử dụng chủ yếu trong lần thứ nhất là Sofit (60%), lần thứ hai là Topshot (27,5%) Phun trong điều kiện đất đủ ẩm là đa số (92,5%) Thời gian bơm nước vào sau khi phun thuốc là 3 - 6 ngày (53,3%) Thời gian giữ nước trong ruộng
là 1 - 10 ngày (50,9%) Số nông dân sử dụng liều lượng đúng với khuyến cáo chỉ chiếm tỷ lệ 35% Lượng nước phun trung bình 300 - 400 lit/ha (53,8%) Đánh giá của nông dân về hiệu quả của một số loại thuốc: Sofit có hiệu quả trừ cỏ tiền nảy mầm cao với hầu hết cái loại cỏ phổ biến trên ruộng lúa, Topshot có hiệu quả trừ cỏ hậu nảy mầm cao đối với hầu hết các nhóm cỏ, Facet chỉ có hiệu quả trừ cỏ hậu nảy mầm với cỏ lồng vực, Clincher chỉ có hiệu quả trừ cỏ hậu nảy mầm với cỏ đuôi
Trang 14phụng, Nominee có hiệu quả trừ cỏ hậu nảy mầm đối các loại cỏ phổ biến là tương đương nhau nhưng hiệu quả chỉ khá cao
(3) Theo nông dân cỏ khó trị nhất hiện nay là cỏ chác (44%), cỏ có chiều hướng gia tăng cao nhất là cỏ đuôi phụng (37%)
Trang 15MỞ ĐẦU
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của nước ta và đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Trồng lúa là một nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam từ rất xa xưa, có lẽ khi người Việt cổ xưa bắt đầu công việc trồng trọt thì cây lúa đã được quan tâm đầu tiên Kinh nghiệm sản xuất lúa đã hình thành, tích lũy và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc ta Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới trên lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh mẽ ngành trồng lúa nước ta vươn lên bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Theo dự phóng của cơ quan FAO, mặc dù nhu cầu gạo của mỗi đầu người trong tương lai có phần suy giảm do cải tiến kinh tế của nhiều nước, nhu cầu tổng thể của toàn cầu vẫn sẽ tiếp tục bành trướng vì dân số gia tăng lên 8 tỉ trong 2030 và 9 tỉ người trong 2050 và mức tiêu thụ tăng nhanh của châu Phi và các vùng khác (Trần Văn Đạt, 2005)
Cỏ dại xuất hiện ở mọi nơi và đã gây ra cho nông nghiệp những tổn thất rất lớn Theo tài liệu của cơ quan lương thực của Liên hợp quốc FAO, thì thiệt hại do cỏ dại gây ra hàng năm trên thế giới có thể nuôi sống 1000 triệu người (Hà Thị Hiến, 2003)
Cỏ dại đã trở thành vấn đề bức xúc cần được giải quyết trong sản xuất nông nghiệp nói chung và nghề trồng lúa ở tỉnh Long An nói riêng Để biết rõ hiện trạng canh tác, tình hình cỏ dại trong ruộng lúa của nông dân ở tỉnh Long An hiện nay như thế nào, đề tài: “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ SỬ DỤNG THUỐC THUỐC TRỪ CỎ TRÊN RUỘNG LÚA TẠI TỈNH LONG AN” được thực hiện
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu sơ lược về điều kiện tự nhiên tỉnh Long An
tự nhiên của toàn tỉnh là 4.491,87 km2 Trên địa bàn tỉnh có 1 thị xã và 13 huyện, trong đó có 6 huyện nằm trong khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình trũng bao gồm Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Thạnh Hoá và Đức Huệ với diện tích đất tự nhiên là 298.243 ha Các huyện còn lại là khu vực phát triển khá ổn định và
đa dạng (Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2008)
Trang 17(chiếm 1,26% diện tích), đất phèn (chiếm 55,47% diện tích) và đất than bùn (chiếm 0,05% diện tích) Phần lớn đất đai Long An được tạo thành ở dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ nên đất có dạng cấu tạo bời rời, tính chất cơ lý rất kém, các vùng thấp, trũng tích tụ độc tố làm đất trở nên chua phèn, bất lợi trong tổ chức sản xuất nông nghiệp (Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2008)
1.2 Sơ lược về cỏ dại
1.2.1 Định nghĩa cỏ dại
Cỏ dại là những loại thực vật mọc ở một nơi ngoài ý muốn của con người và làm ngăn trở hoạt động của con người (Trần Vũ Phến, 2005)
1.2.2 Nguồn gốc cỏ dại
Trong sản xuất nông nghiệp, cỏ dại có thể có nguồn gốc từ:
- Những loài thực vật mọc hoang, trong tự nhiên và đã thích ứng lâu đời đối với những tác động quấy nhiểu tự nhiên
- Những loài thực vật hay các dạng hình mới của chúng được hình thành trong quá trình đồng tiến hóa với cây trồng của chúng (Trần Vũ Phến, 2005 trích dẫn từ Muzik, 1970)
1.2.3 Một số đặc điểm của cỏ dại trên ruộng lúa
1.2.3.1 Có nhiều hình thức sinh sản
Các loại cỏ trong ruộng lúa đều sinh sản chủ yếu bằng hạt giống Ngoài ra có nhiều loại cỏ nhất là cỏ đa niên, còn có thể sinh sản bằng cơ quan dinh dưỡng như thân, rễ Ở các đốt thân và rễ, kể cả khi đã bị cắt thành từng đoạn rời, vẫn có thể nẩy mầm sinh cây cỏ mới Điển hình trong kiểu sinh sản này là các loài cỏ chỉ, cỏ ống,
cỏ bợ, rau nghể, rau cần, rau trai, cỏ cú… (Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 2004)
Trang 181.2.3.2 Khả năng sinh sản nhanh và nhiều
Từ một hạt cỏ lồng vực mọc thành cây chỉ sau 3 tháng có thể sinh ra từ
200-300 hạt cỏ mới Một cây rau dền có thể sinh ra hàng triệu hạt (Nguyễn Mạnh Chinh
và Mai Thành Phụng, 2004)
1.2.3.3 Có nhiều hình thức tồn tại
Hạt cỏ sau khi hình thành phần lớn rơi xuống đất Tích tụ nhiều nhất ở lớp đất mặt 1 - 2 cm, càng xuống sâu mật độ hạt cỏ giảm dần, ở mức sâu trên 20 cm hầu như không còn hạt cỏ
Một số hạt cỏ lẫn trong hạt giống lúa, sau đó cùng với hạt giống được gieo xuống ruộng, từ đó tiếp tục phát triển Trong hạt giống lúa thường lẫn nhiều nhất là hạt cỏ lồng vực, thường chín chung với lúa và được cắt về cùng với thu hoạch lúa Các hạt cỏ khác như cỏ đuôi phụng, cỏ cháo, cỏ chác ít lẫn trong hạt giống hơn do hạt cỏ thường chín rụng xuống đất trước khi lúa chín và hạt nhỏ dễ bị loại trừ khi quạt sảy lúa
Nhiều loại cỏ tồn tại bằng đốt thân hoặc củ có mầm ở trong đất như cỏ chỉ,
cỏ ống, cỏ bợ, cỏ năn, mác bao… (Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 2004)
1.2.3.4 Có nhiều hình thức phát tán, lan truyền
Hạt cỏ có thể phát tán, lan truyền qua nhiều con đường như qua gió, nước và sinh vật, kể cả con người
Trên ruộng lúa các hạt cỏ nhỏ như cỏ đuôi phụng, cỏ túc, sau khi chín được gió đẩy đi xa khắp ruộng hoặc cánh đồng
Nước là tác nhân lan truyền cỏ dại trên ruộng lúa quan trọng nhất Nước mang hạt cỏ từ kênh mương vào ruộng và từ ruộng này sang ruộng khác Ở Đồng bằng sông Cửu Long hàng năm bị lũ lụt tràn ngập, có hiện tượng ở những nơi, những ruộng nước rút muộn thì sau đó vụ Đông Xuân mật độ cỏ thường cao, do hạt
Trang 19Hạt cỏ cũng được người và súc vật mang đi phát tán một cách vô tình từ nơi này sang nơi khác Các hạt cỏ nhỏ hoặc có lông có gai dính vào quần áo người hoặc lông trâu bò, chim, gà, vịt ăn vào trong ống tiêu hóa vẫn còn khả năng nảy mầm sau khi được thải ra theo phân Trong phân chuồng bón vào ruộng nếu chưa ủ hoai kỹ thường mang theo hạt cỏ Theo Harmon và Keim, tỷ lệ hạt cỏ còn khả năng nảy mầm trong phân bò là 9,6%, trong phân ngựa là 8,7% (Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 2004)
1.2.3.5 Sức chống chịu và khả năng tồn tại cao
Cây cỏ có khả năng chịu dựng và thích ứng cao với các điều kiện ngoại cảnh bất lợi do đã qua hàng triệu năm trong điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên Trong ruộng thiếu phân bón và nước, cây cỏ vẫn sống tốt hơn hẳn so với cây lúa Phạm vi nhiệt độ thích hợp của cây cỏ cũng rộng hơn cây lúa (Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 2004)
1.2.3.6 Thời gian mọc mầm không đều
Sau khi làm đất gieo cấy, gặp điều kiện ánh sáng và nước đầy đủ, một số hạt
cỏ bắt đầu mọc và thường sau 7 - 10 ngày phần lớn mới mọc hết, còn lại tiếp tục mọc về sau, chậm nhất khoảng 15 ngày
Thời gian cỏ mọc nảy mầm đều do một số nguyên nhân:
- Do hạt chín không đều, hạt chín trước sẽ nảy mầm trước
- Thời gian ngủ nghỉ (miên trạng) của các hạt cỏ khác nhau Có hạt nảy mầm sớm, có hạt sau khi chín bắt buộc phải có thêm một thời gian ngủ nghỉ mới nảy mầm được
- Độ sâu chôn vùi của hạt cỏ: Các hạt cỏ ở phía trên mặt đất thường nảy mầm sớm hơn các hạt cỏ bị vùi sâu, do có điều kiện nảy mầm thuận lợi hơn (ánh sáng, nhiệt độ…)
Do đặc điểm canh tác ruộng lúa nước (khi làm đất thường có nước hạt cỏ nổi lên trên mặt đất hoặc sạ chay không làm đất thì hạt cỏ không bị chôn vùi sâu), thành
Trang 20phần cỏ dại trên một ruộng lại thường không đa dạng phức tạp lắm, cho nên thời gian hạt cỏ mọc mầm tuy không đều nhưng cũng tương đối tập trung, thường nảy mầm 3 - 5 ngày, mọc thành cây nhiều nhất trong vòng 7 - 10 ngày sau gieo Đây cũng là một thuận lợi cho việc phòng trừ (Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 2004)
1.2.3.7 Yêu cầu những điều kiện nhất định để nảy mầm và sinh sống
Mặc dầu có khả năng thích ứng cao các hạt cỏ cũng cần những điều kiện nhất định để nảy mầm và sinh trưởng phát triển
- Nước là yếu tố quan trọng nhất đối với sự nảy mầm của hạt cỏ Ruộng khô
hạn quá hạt cỏ không nảy mầm Ngược lại, nếu bị ngập nước thường xuyên cỏ cũng không nảy mầm được, mật độ cỏ trong ruộng cũng giảm
Trong ruộng lúa, khả năng thích ứng với điều kiện nước của các loại cỏ cũng khác nhau Một số cỏ phát triển nhiều trong điều kiện ngập nước như cỏ bợ, mác bao, rau nghể, dừa nước, một số năn lác, các loại bèo và rong Một số cỏ phát triển mạnh trong điều kiện đất đủ ẩm nhưng không bị ngập nước như cỏ cú, rau má, thài lài, rau đắng, u du… Phần lớn các loại cỏ quan trọng như lồng vực, đuôi phụng, cháo, chác… thích hợp trong điều kiện ruộng có mức nước nông thường xuyên Điều kiện nước ruộng là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự khác biệt trong thành phần cỏ dại ở từng ruộng từng vùng
- Ánh sáng cũng có ảnh hưởng khá rõ đến sự nảy mầm và phát triển của cỏ
Phần lớn hạt cỏ không nảy mầm được ở dưới lớp đất sâu chủ yếu do thiếu ánh sáng Khi đưa lên lớp đất mặt chúng dễ dàng nảy mầm Sau khi nảy mầm, nếu cây cỏ bị cây lúa phát triển che bớt ánh sáng, cây cỏ có thể chết hoặc sinh trưởng yếu khả năng cạnh tranh với lúa kém đi (Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 2004)
Trang 21Bảng 1.1 Thành phần cỏ dại chủ yếu trong ruộng lúa có điều kiện nước khác nhau
Cỏ mực, xà bông, mác bao, bìm bìm, cỏ chân vịt
Nước ngập
Lác voi, đưng, u du thưa
Cỏ bợ, dừa nước, nghể, lục bình, cần nước, đồng tiền, bèo cám, rong, rau muống
(Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng, 2004)
1.2.4 Phân loại cỏ dại
1.2.4.1 Theo hệ thống phân loại thực vật
Thường được áp dụng trong nghiên cứu cơ bản
Phương pháp và mục đích nhằm xác định và sắp xếp các thực vật khác nhau thành những nhóm, dựa trên những đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng Những thực vật càng giống nhau thì sẽ nằm gần nhau hơn trong hệ thống phân loại (Trần Vũ Phến, 2005)
1.2.4.2 Dựa vào số lá mầm của cỏ
- Cỏ một lá mầm: Hạt có một tử diệp
+ Dạng lá hẹp, gân lá song hành, dày, có lông, thường mọc xiên + Rễ thường là rễ chùm, điểm sinh trưởng bọc kín trong bẹ lá
Như cỏ lồng vực (Echinochloa spp.), đuôi phụng (Leptochloa chinensis)
- Cỏ hai lá mầm: Cây có hai tử diệp
Trang 22+ Dạng lá thường rộng, gân lá thường hình lông chim hay chân vịt, mỏng và mềm, ít lông
+ Rễ thường là rễ cọc, ăn sâu, điểm sinh trưởng để lộ ra, hoa 4 - 5 phân Không phải mọi cỏ lá rộng đều là song tử diệp
Như rau mương đứng (Ludwigia octovalvis), Xà bông (Sphenoclea zeylanica) (Trần Vũ Phến, 2005)
1.2.4.3 Phân loại dựa vào chu kỳ sống của cỏ
Chu kỳ sống được tính từ lúc cỏ nảy mầm đến khi tạo ra thế hệ mới và chết Việc phân nhóm cỏ dựa theo chu kỳ sống có ý nghĩa trong các biện pháp kiểm soát
cỏ bằng hóa chất hoặc bằng thủ công
- Cỏ hằng niên hay nhất niên:
+ Hoàn tất chu kỳ sống trong vòng một năm hay ngắn hơn
+ Sinh sản và phát tán chủ yếu bằng hạt giống
- Cỏ nhị niên: Cỏ nhị niên hoàn tất chu kỳ sống trong vòng hai năm
+ Năm thứ 1: Tương ứng với giai đoạn tăng trưởng, tạo rễ củ
+ Năm thứ 2: Cây phát triển trở lại rồi tạo hoa Khi hạt giống được thành lập thì cây chết
- Cỏ đa niên: Cỏ đa niên thường có chu kỳ sống thường kéo dài trong hơn hai năm, hoặc vô hạn và trong một bụi cỏ, có thể cùng gặp nhiều thế hệ nối tiếp nhau
+ Cỏ đa niên có thể sinh sản bằng hình thức hữu thính hoặc vô tính
Có loài sinh sản chủ yếu bằng cơ quan sinh dưỡng, bằng hạt ít quan trọng
như cỏ cú (Cyperus rotundus)
+ Hầu hết cỏ đa niên có khả năng cạnh tranh mạnh và nhất là những
cỏ có cơ quan sinh sản nằm trong đất thường rất khó kiểm soát (Trần Vũ Phến, 2005)
Trang 231.2.4.4 Phân loại dựa trên đặc điểm hình thái chung
Trên cơ sở khảo sát các đặc điểm hình thái, chủ yếu là dạng lá, thân, phát hoa, rễ,… cỏ có thể được chia thành 3 nhóm chính:
- Cỏ lá hẹp (Grass, đa số thuộc họ hòa bản: Poaceae, Monocotyledoneae): + Thân: Thường dạng thân thảo, có thể uốn, thẳng hay bò,… thường nhỏ Hình trụ tròn, thường rỗng, mang đốt và lóng
+ Lá: Lá các loài cỏ lá hẹp thường song đính, đứng, mọc luân phiên hai hàng từ đốt thân Lá thường gồm 2 - 3 phần: Bẹ lá bao thân với mép lá phủ lên nhau tạo thành dạng ống Phiến lá hẹp, dài, mỏng và thẳng, gân lá song song Cổ lá, nối giữa bẹ và phiến lá, nhiều loài còn có lá thìa
+ Phát hoa thường là chùm tụ tán, mang gié
+ Dĩnh quả có thể có lông gai hay không
+ Có thể là cỏ hằng niên hoặc đa niên
- Cỏ lác (Sedges, thuộc họ Cyperaceae, Monocotyledoneae):
Nhóm cỏ lác có thể phân biệt với cỏ lá hẹp qua:
+ Thân thường cứng và có 3 cạnh Có thể cô độc hay mọc thành bụi thưa
+ Lá tam đính, mọc thành 3 hàng dọc theo thân, không kết hợp thành dạng ống bao quanh thân Không phân biệt giữa bẹ lá và phiến lá
+ Phát hoa có thể dạng hoa đầu (bạc đầu ngắn Cyperus brevifolius), chùm tụ tán (đưng Scleria poneformis) hay có tia, mang nhiều tia phụ (Cyperus difformis), với lá hoa Gié có thể gắn khích nhau thành chùm
Trang 24+ Lá thường rộng, mở hoàn toàn, đa dạng, gân lá sắp xếp theo nhiều
cách khác nhau, nhưng không song song: rau mác bao (Monochoria vaginalis), cây Xà bông (Sphenoclea zeylanica), rau dền (Amaranthus
spp.),…
+ Không phải mọi cỏ lá rộng đều là song tử diệp
Dựa trên những đặc tính định tính đối với mỗi nhóm ta có thể mô tả một loài
cỏ như: cỏ bèo tai tượng Pistia stratiotes: Cỏ lá rộng, đa niên, thủy sinh
Hình 1.2 Cỏ lồng vực nước trên ruộng lúa và phát hoa của cỏ lồng vực nước
(Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
Trang 25Là thực vật thuộc nhóm C4, cỏ lồng vực có khả năng quang hóa tốt hơn, hiệu quả sử dụng nước và nitơ cũng cao hơn cây lúa, do đó nó có thể cạnh tranh dinh dưỡng và gây tổn thất lớn đối với năng suất lúa Thiệt hại về năng suất lúa chỉ riêng
do cỏ lồng vực gây ra còn cao hơn cả cỏ lá rộng và các thực vật thủy sinh khác Thông qua các hoạt động dinh dưỡng, cỏ lồng vực có thể làm giảm khả năng đẻ nhánh của lúa tới 50% và năng suất lúa có thể giảm 70 - 90%
Cỏ trông rất giống cây lúa khi chưa trổ bông Có sức sống cao, mọc khỏe và rất “phàm ăn” nên dễ dàng mọc lấn át cây lúa nếu không có biện pháp kiểm soát kịp thời và được dân gian ví là “quân ăn cướp” bởi chúng mọc lẫn lúa, “cướp màu, cướp ánh sáng” của lúa, làm giảm năng suất lúa từ 25 - 50% Chúng mọc lẫn với mạ
và lúa nhưng thường vượt cao hơn và có bông chín sớm hơn Cỏ lồng vực nước có màu xanh sẫm, với bộ rễ và lá giống hệt cây lúa, thân cây mập mạp nhưng lại mềm hơn lúa Loài cỏ này Hạt cỏ lẫn vào thóc sẽ làm giảm giá trị thương mại, đồng thời
là nguồn tồn lưu, lây lan cỏ dại từ vụ này sang vụ khác
Cỏ nhất niên, mọc thẳng, cao 1 - 2 m Thân thẳng đứng, nhẵn, mập và rỗng, phân nhánh tại gốc, lá hẹp, hình ngọn giáo dài tới 40 cm rộng 5 - 15 mm, không có
lá thìa (đây là đặc điểm để phân biệt cỏ lồng vực và lúa ở giai đoạn cây con) Lá cuộn dẹt trong có chồi non Màng bao màu xanh nhạt, dẹt, úp và tách ra, với mép trong suốt Gân chính nổi rõ
Cụm hoa dạng bông, có màu xanh hoặc hơi đỏ tía Nhánh thấp của chùy hoa thưa trong khi nhánh cao tập hợp thành khối
Bông con tập trung dày đặc thành 2 - 4 hàng trên mỗi bên của thân Bông con có hình bầu dục dài 6 mm, với các mày nhọn không đều nhau Hạt hình đa giác cứng chắc trên một bề mặt, phẳng trên bề mặt còn lại, có màu cam tới vàng sáng dài 2,5 – 3,5mm
Cây trưởng thành có rễ chùm hoặc có rễ khí Rễ đầu tiên mọc từ mesocotyl (đoạn thân giữa vẩy nhỏ và lá bao mầm) trồi ra trong thời gian hạt giống nẩy mầm (Đỗ Thị Kiều An, 2010)
Trang 261.2.5.2 Cỏ Đuôi phụng (mảnh hòa Trung Quốc, cỏ lông công)
Tên khoa học: Leptochloa chinensis (L.) Nees
7 hoa màu xanh nhạt hoặc hơi đỏ Bông hoa dài 2,5 – 3 cm Tái sinh sản bằng hạt (Đỗ Thị Kiều An, 2010)
Trang 27Cỏ nhất niên hoặc bán đa niên, cao 80 cm Cả cây màu xanh nhạt Thân yếu, mềm, láng, 3 cạnh nhọn và dày 0,7 – 3 mm Lá hẹp, mềm, rũ, hơi có rãnh, bìa lá hình ống, tụ lại, màu xanh đến nâu đỏ, không có phiến lá ở gốc Rễ có dạng sợi và màu đỏ Hoa tụ tán, hình tán bất định, đơn hoặc lưỡng tính, đường kính dài 5 - 15
mm có 10 - 60 bông con xòe như hình sao Bông con dẹp đến dạng hình thon, tập trung nhưng hơi nhú lên (Đỗ Thị Kiều An, 2010)
1.2.5.4 Cỏ Chác
Tên khoa học: Fimbristylis miliacea
Họ thực vật: Cyperaceae
Cỏ nhất niên, mọc xèo, cao 20 – 70 cm Thân dẹp ở phần dưới, chẻ gốc 4 – 5
ở phần ngọn Lá mảnh, dài 3,5 cm, rộng 1 - 2,5 mm Lá trên thân có phiến lá rất ngắn Phát hoa màu nâu hay vàng rơm Quả màu ngà hoặc nâu, bế quả 3 góc Tái sinh sản bằng hạt Thích hợp nơi đất lúa nước (Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
Hình 1.4 Cỏ cháo
(Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
Trang 28Hình 1.5 Cỏ chác
(Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
Hình 1.6 Cỏ lác rận
Trang 30Cỏ đa niên, có chồi cao 80 – 100 cm, có căn hành ngắn bò hoặc không Thân mềm, thon đến dạng bụi, có 3 cạnh nhọn, láng, đường kính 2 – 3 mm, lá dưới ngắn hơn lá trên Lá ngắn hơn hoặc dài bằng thân, cứng đến rũ, bằng dần dần nhọn, bìa bén, rộng 5 – 8 mm, bẹ lá dưới dài, màu tím Hoa tụ tán, kép hoặc xẻ kép, hình thành một tán bất định rời, thường to Mọc ở đất ẩm hoặc nơi ẩm ướt, đầm lầy, dọc mương, ruộng lúa (Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
Hình 1.8 Cỏ rau mác bao
(Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
Trang 31gân theo chiều dọc dài khoảng 1 mm Tái sinh sản bằng hạt và thân ngầm Là loại
cỏ chủ yếu trên ruộng lúa nước (Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
cm, rộng 1,2 cm, hoa nhỏ, thân hoa dài đến 8 cm; hoa đính trực tiếp mọc thành cụm, trắng đến xanh lá cây và rộng khoảng 2,5 mm Quả dẹp dạng nang, đường kính 4 –
5 mm vỡ theo đường ngang Hạt nhiều, màu vàng nâu, dài 0,5 mm Tái sinh sản bằng hạt là loài cỏ chính của vùng trồng lúa nhiệt đới, mọc trên tất cả các loại đất
ẩm ướt, ven sông, đê, đầm lầy, ao hồ (Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
Hình 1.9 Cỏ xà bông
(Nguyễn Hữu Trúc, 2009)
Trang 33+ Đối với cỏ đuôi phụng, cỏ ức chế 20-40% sinh khối Trường hợp sử dụng thuốc sớm kết hợp quản lý nước ruộng tốt, hiệu quả đối với cỏ đuôi phụng có thể đạt 80%
+ Sau khi phun 1-2 giờ gặp mưa không bị giảm hiệu lực trừ cỏ
+ Thuốc có thể trộn với thuốc trừ ốc bươu vàng để rải, trừ loại thuốc
có tính kiềm
- Liều lượng:
+ Trộn với phân bón để rải: 0,5 L/ha (50 ml/1000 m2)
+ Phun lên lá: 0,5 lít/ha Pha 25 ml/bình 16 lít, phun 2 bình/1000 m2
- Thời gian sử dụng:
+ Kết hợp với bón phân lần 1: Khoảng 4-12 ngày sau sạ
+ 4 – 18 ngày sau sạ (khi cỏ từ 1-6 lá)
- Nhà phân phối: Công ty cổ phần nông dược HAI
1.3.2 Nominee 10SC
- Hoạt chất: Bispyribac-sodium
- Công thức hóa học: C19H17N4NaO8
- Cấu trúc hóa học:
Trang 34- Công dụng: Nominee 10SC là thuốc trừ cỏ hậu nẩy mầm, có tính an toàn cao, diệt hầu hết các loại cỏ phổ biến trong ruộng lúa như: cỏ đuôi phụng, cỏ lồng vực, cỏ cháo, cỏ chác, cỏ u du, rau mác, rau bợ Thuốc có công hiệu ở giai đoạn các loại cỏ đã mọc được từ 1 - 7 lá Tức khoảng 7 - 20 ngày sau khi sạ, cấy
- Thời gian sử dụng: Thời gian sử dụng kéo dài từ 7 – 20 ngày sau sạ
- Nhà phân phối: Công ty cổ phần khử trùng Việt Nam
+ Cỏ cói lác: cỏ cháo, cỏ chác, cỏ năn, lác mỡ, lác phẳng,
+ Cỏ lá rộng: cỏ bợ, rau mác, rau mương, cỏ xà bông, rau sam,
- Liều lượng:
+ Cỏ lá hẹp, cỏ lá rộng: 200-250 g/ha + Cỏ lá rộng, năn lác: 80-120 g/ha
- Thời gian sử dụng:
+ Phun thuốc sau khi sạ, cấy 3 - 7 ngày
Trang 35- Công ty phân phối: Công ty cổ phần nông dược HAI
- Công dụng: Diệt cỏ hòa bản, năn lác và lá rộng như lồng vực, đuôi phụng trên lúa
- Thời gian sử dụng: từ 8-20 ngày sau sạ hoặc cấy, tốt nhất là dùng từ 8-12 ngày sau sạ (cỏ mọc 2-3 lá), trừ cỏ đuôi phụng thì liều lượng cao hơn, phun sớm hơn
- Nhà phân phối: Công ty cổ phần bảo vệ thực vật Sài Gòn
1.3.5 Topshot 60OD
- Hoạt chất: Cyhalofop-butyl 50g/l + Penoxsulam 10g/l
Trang 36- Công dụng: Có thể trừ hiệu quả các loại cỏ chính trong ruộng lúa, đặc biệt
là cỏ đuôi phụng, thời gian phun xịt có thể kéo dài từ 4 đến 18 ngày sau khi sạ lúa, hiệu quả rộng cả 3 nhóm cỏ, thời gian phun xịt rộng và tuyệt đối an toàn đối với lúa
- Nhà phân phối: Công ty Dow AgroSciences Việt Nam
1.3.6 Turbo 89OD
- Hoạt chất: Ethoxysulfuron 20g/l + Fenoxaprop-P-Ethyl 69g/l
- Công dụng: Là lọai thuốc cỏ phổ rộng, diệt sạch cùng lúc 3 nhóm cỏ trên ruộng lúa: cỏ hòa bản (cỏ đuôi phụng,cỏ gạo, cỏ chỉ…), cỏ lác chác (cháo, u du, lác rận… ) và cỏ lá rộng (rau mác, rau mương, cỏ vảy ốc, rau bợ…)
- Liều lượng:
+ Pha 20ml/bình 16 lít, phun 2 bình/ công (1000m2):
*Vụ Hè Thu: 08-10 ngày sau sạ
*Vụ Đông Xuân: 10-12 ngày sau sạ + Pha 25ml/ bình 16 lít, phun 2 bình/ công (1000m2)
*Vụ Hè Thu:11-12 ngày sau sạ
*Vụ Đông Xuân: 13-15 ngày sau sạ (không phun thuốc trước thời điểm 10 ngày sau sạ)
- Nhà phân phối: Công ty Bayer Việt Nam
Trang 37- Liều lượng: 1 lit/ha Pha 25 - 30 ml/bình 8 lít Phun 40-50 bình/ha
- Thời gian sử dụng: Thời gian phun 0 - 3 ngày sau khi gieo (sạ)
- Nhà phân phối: Công ty Syngentar Việt Nam
1.3.8 Facet 25SC
- Hoạt chất: Quinclorac
- Tính Chất: Thuốc kỹ thuật ở dạng rắn, tan ít trong nước (62mg/l ở 20oC), tan trong Cyclohexanol và Xylene (10g/l) Độc tính: nhóm độc IV, LD50 qua miệng 4120mg/kg, qua da>2000mg/kg, ít độc với cá (LD50>100mg/l trong 96 giờ), không độc với ong
- Công dụng: Là thuốc trừ cỏ chọn lọc, nội hấp, thuốc có tính lưu dẫn cả hai chiều lên và xuống Thuốc được hấp thụ vào bên trong cây cỏ qua lá và rễ Có tác động hậu nảy mầm, có thể dùng để trừ cỏ tới cuối thời kỳ lúa đẻ nhánh Được sử dụng để trừ cỏ cho ruộng lúa sạ khô có bừa lấp, sạ ướt, sạ ngầm, sạ chay và lúa cấy Trừ được các loại cỏ như: cỏ lồng vực, cỏ điên điển, cỏ loa kèn, rau muống dại, bìm bìm…
- Nhà phân phối: Công ty BASF (CHLB Đức)
1.3.9 Clincher 10EC, Bangbang 10EC, Koler 10EC, Linhtrơ 100EC, Topco 200EC
- Hoạt chất: Cyhalofop-butyl
- Công thức hoa học: C20H20FNO4
- Cấu trúc hóa học:
- Độ độc: Nhóm độc IV
Trang 38- Cơ chết tác động: Thuốc được cỏ hấp thụ rất nhanh qua lá Do đó, sau khi phun thuốc 1 giờ gặp mưa vẫn không giảm hiệu lực trừ cỏ
- Liều lượng và thời gian sử dụng:
+ Phun 0,6 lít/ha (15ml/bình 8 lít), lúa từ 7-14 ngày sau sạ (Cỏ 2-3 lá) + Phun 0,8 lít/ha (20ml/bình 8 lít), lúa từ 15-20 ngày sau sạ (Cỏ 4-5 lá)
+ Phun 25-30ml/bình 8 lít: Phun dặm, phun những điểm còn sót cỏ trên ruộng đã phun các loại thuốc khác
- Nhà phân phối: Công ty cổ phần nông dược HAI
1.3.10 Cantanil 550EC
- Hoạt chất: Butachlor 27,5% + Propanil 27,5%
- Đặc tính: Là thuốc trừ cỏ chọn lọc, có thể xâm nhập vào cây cỏ qua rễ, mầm và lá, có tác dụng diệt cỏ ở giai đoạn nảy mầm và cả khi cỏ đã mọc còn nhỏ (hậu nảy mầm sớm) Diệt được nhiều loại cỏ một và hai lá mầm phổ biến trong ruộng lúa như cỏ lồng vực, cỏ đuôi phụng, cỏ chác, cỏ lác, mác bao, xà bông, cỏ bợ Có thể dùng trừ cỏ cho ruộng lúa cấy và lúa sạ (gieo thẳng) Thuộc nhóm độc
IV, LD50 qua miệng > 3000 mg/kg Ít độc với người, gia súc và cá, không lưu tồn lâu trong đất và môi trường, không hại thiên dịch
Trang 39- Liều lượng và thời gian sử dụng:
+ Thời gian phun thuốc sau khi cấy hoặc sau khi sạ từ 7 đến 12 ngày (khi lúa gieo được 2- 4 lá)
+ Lượng thuốc sử dụng: 2 - 2,5 l/ha Phun thuốc sau sạ hoặc cấy 7 - 9 ngày pha 60ml/bình 8 lít nước, sau sạ 10 - 12 ngày pha 60 ml/bình 8 lít nước, phun 4 bình cho 1000m2 (Hà Thị Hiến, 2001)
- Nhà phân phối: Công ty Thanh Sơn Hóa Nông
1.3.11 Dibuta 60EC, Vibuta 62ND, Michelle 62EC, BL.Tachlor 60EC
- Hoạt chất: Butachlor
- Đặc tính: Là thuốc trừ cỏ chọn lọc, xâm nhập vào cỏ qua rễ và thân mầm, tác động với cỏ ở giai đoạn sắp nảy mầm và khi cỏ đã mọc còn nhỏ dưới 2 lá (tác động tiền nảy mầm và hậu nảy mầm sớm) Diệt được nhiều loại cỏ một và hai lá mầm phổ biến trong ruộng lúa như cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ chác, cỏ lác, cỏ xà bông, cỏ mực (nhọ nồi), cỏ bợ Có thể dùng cho lúa cấy và lúa sạ, kể cả trước và sau khi cấy, sạ
- Thuộc nhóm độc IV, LD50 qua miệng = 3300 mg/kg Ít độc với người, gia súc và cá Không lưu tồn lâu trong đất và môi trường, không hại thiên địch
- Cách sử dụng:
+ Thời gian phun thuốc:
*Với lúa cấy: 3-4 ngày trước hoặc sau khi cấy
*Với lúa sạ: 3 ngày trước sạ hoặc 4 - 7 ngày sau sạ
+ Lượng thuốc sử dụng: 1- 1,2 l/ha Pha 25 ml/bình 8 lít nước (phun sau sạ 4 - 5 ngày) hoặc 30 ml/bình 8 lít nước (phun sau sạ 6 - 7 ngày) phun 4 bình cho 1000m2 (Hà Thị Hiến, 2001)