1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH tác GỪNG và KHẢO sát QUY LUẬT PHÁT SINH PHÁT TRIỂN của BỆNH THỐI củ GỪNG DO VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM tại HUYỆN CHỢ mới AN GIANG

99 258 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢC Đề tài: “Điều tra hiện trạng canh tác gừng và khảo sát quy luật phát sinh phát triển của bệnh thối củ gừng do vi khuẩn Ralstonia solanacearum tại huyện Chợ Mới- An Giang”- đư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN NGỌC THIÊN NHI

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC GỪNG VÀ

CỦA BỆNH THỐI CỦ GỪNG DO VI KHUẨN

RALSTONIA SOLANACEARUM TẠI

HUYỆN CHỢ MỚI - AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT

Cần Thơ, 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT

Tên đề tài:

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC GỪNG VÀ

KHẢO SÁT QUY LUẬT PHÁT SINH PHÁT TRIỂN

CỦA BỆNH THỐI CỦ GỪNG DO VI KHUẨN

RALSTONIA SOLANACEARUM TẠI

HUYỆN CHỢ MỚI- AN GIANG

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS Trần Vũ Phến Nguyễn Ngọc Thiên Nhi

MSSV: 3083811

Lớp: BVTV K34

Cần Thơ, 2012

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Chứng nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo vệ Thực vật với đề tài:

“ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC GỪNG VÀ KHẢO SÁT QUY LUẬT PHÁT SINH PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH THỐI CỦ GỪNG

TẠI HUYỆN CHỢ MỚI- AN GIANG”

Do sinh viên Nguyễn Ngọc Thiên Nhi thực hiện

Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày tháng 05 năm 2012 Cán bộ hướng dẫn

TS Trần Vũ Phến

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với tên:

“ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC GỪNG VÀ KHẢO SÁT QUY LUẬT PHÁT SINH PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH THỐI CỦ GỪNG DO

VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM

TẠI HUYỆN CHỢ MỚI- AN GIANG”

Do sinh viên Nguyễn Ngọc Thiên Nhi thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp hội đồng đánh giá ở mức:

Chủ tịch Hội Đồng

Trang 5

LƯỢC SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Thiên Nhi

Năm sinh: 10/10/1990

Nơi sinh: Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang

Họ và tên cha: Nguyễn Đông Phương

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc Dung

Quê quán: Xã Long Điền, Huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang

Quá trình học tập:

1996 - 2001: học tiểu học tại trường tiểu học Quang Trung, Chợ Mới, Tỉnh An Giang

2001 - 2005: học THCS tại trường THCS Long Giang, Chợ Mới, An Giang

2005 - 2008: học THPT tại trường THPT Châu Văn Liêm, Chợ Mới, An Giang

2008 - 2012: học Đại học tại trường Đại học Cần Thơ, ngành Bảo vệ thực vật khóa

34, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân và thầy hướng dẫn, các số liệu kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào trước đây

Người thực hiện

Nguyễn Ngọc Thiên Nhi

Trang 7

Anh Trần Văn Nhã, chị Trần Thị Thúy Ái và các anh chị trong bộ môn Bảo

vệ Thực vật đã đóng góp những ý kiến quý báu và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt thí nghiệm

Thành thật cảm ơn,

Các bạn Thịnh, Vân, Quốc, Châu, Chúng, Vinh, Nghi, Giang, Tâm, Nhàn cùng các bạn lớp Bảo vệ Thực vật K34 đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Trân trọng!

Nguyễn Ngọc Thiên Nhi

Trang 8

Nguyễn Ngọc Thiên Nhi 2011 “Điều tra hiện trạng canh tác gừng và khảo sát

quy luật phát sinh phát triển của bệnh thối củ gừng do vi khuẩn Ralstonia

solanacearum tại huyện Chợ Mới- An Giang” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo

vệ Thực vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng, Đại học Cần Thơ Cán

bộ hướng dẫn Ts Trần Vũ Phến

TÓM LƯỢC

Đề tài: “Điều tra hiện trạng canh tác gừng và khảo sát quy luật phát sinh

phát triển của bệnh thối củ gừng do vi khuẩn Ralstonia solanacearum tại huyện Chợ Mới- An Giang”- được tiến hành trong 2 vụ trồng gừng năm 2010 đến 2011 ở

huyện Chợ Mới- An Giang và phòng thí nghiệm tại Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng nhằm điều tra hiện trạng canh tác gừng và tìm hiểu được quy luật phát sinh phát triển của bệnh thối củ gừng trong điều kiện ngoài đồng ở huyện Chợ Mới- An Giang để làm cơ sở tìm ra hướng quản lý bệnh

Kết quả điều tra 30 hộ nông dân trồng gừng thuộc huyện Chợ Mới - An Giang theo phiếu điều tra in sẵn trong vụ gừng năm 2010 cho thấy : gừng thường được trồng với quy mô từ 1.000-2.000 m2, nguồn giống không đảm bảo độ sạch bệnh và chủ yếu cung cấp bởi thương lái, thời điểm xuống giống tập trung vào tháng 1-2 và thu hoạch vào tháng 6-8 dương lịch, lượng giống trung bình sử dụng là 360,93 kg/1.000m2, phần lớn nông dân không sử dụng phân hữu cơ do chưa hiểu được lợi ích của nó; loại sâu, bệnh phổ biến và gây hại nghiêm trọng cho gừng là sâu đục thân , xuất hiện nhiều nhất trong khoảng 30-60 ngày sau khi trồng và bệnh

héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum thường xuất hiện vào giai đoạn cây

được 90-120 ngày tuổi; lợi nhuận từ trồng gừng thường khá cao (hiệu quả đầu tư thông qua tỉ suất lợi nhuận/ chi phí là 2,74)

Qua điều tra hệ thống cây trồng luân canh trên ruộng trồng gừng và khảo sát

diễn biến tình hình bệnh thối củ do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra (vụ

gừng 2011); trên 3 ruộng, kết hợp thu mẫu đất tại các điểm để đánh giá sự lưu tồn

và diễn biến mật số của vi khuẩn Ralstonia solanacearum trong đất bằng phương

pháp pha loãng huyền phù ghi nhận được bệnh thối củ gây hại ở huyện Chợ Mới -

An Giang chủ yếu là do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra Bệnh phát sinh

và gây hại là do nguồn giống nông dân sử dụng chưa đủ độ tuổi và không sạch bệnh, mầm bệnh hiện diện sẵn trong đất; luân canh với cây trồng thuộc họ Cà, ớt và

họ Đậu trước vụ trồng gừng thì bệnh thối củ gây hại nặng; mật số vi khuẩn

Ralstonia solanacearum trong đất gia tăng khi có sự hiện diện của cây kí chủ trên

ruộng và mật số vi khuẩn trong đất nơi có cây nhiễm bệnh luôn cao hơn trong đất có cây chưa nhiễm bệnh; bệnh thối củ gây hại nặng, nhất là vào các tháng mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 về sau và cũng tăng dần theo tuổi của cây gừng

Trang 9

MỤC LỤC

Lược sử cá nhân i

Lời cam đoan ii

Lời cảm tạ iii

Tóm lược iv

Mục lục v

Danh sách bảng ix

Danh sách hình xi

Danh sách từ viết tắt xii

Mở đầu 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 CÂY GỪNG 2

1.1.1 Đặc điểm cây gừng 2

1.1.2 Giá trị dinh dưỡng và công dụng 2

1.2 KỸ THUẬT TRỒNG 3

1.2.1 Thời vụ trồng 3

1.2.2 Chuẩn bị đất và bón lót 3

1.2.3 Cách trồng 3

1.2.4 Làm cỏ, bón phân và vun gốc 4

1.2.5 Thu hoạch 4

1.3 MỘT SỐ BỆNH HẠI TRÊN GỪNG 5

1.3.1 Bệnh héo vàng, thối khô củ do nấm Fusarium oxysporum f sp zingiberi 5

1.3.1.1 Triệu chứng 5

1.3.1.2 Tác nhân 5

Trang 10

1.3.2 Bệnh thối xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum 9

1.3.2.1 Triệu chứng 9

1.3.2.2 Tác nhân 9

1.3.3 Thối mềm củ do Pythium spp 14

1.3.3.1 Triệu chứng 14

1.3.3.2 Tác nhân 14

1.3.4 Bệnh thối nhũn do vi khuẩn Erwinia caratovora 15

1.3.5 Bệnh thối củ do nấm Rhizoctonia solani 16

1.3.6 Đốm lá gừng do nấm Phyllosticta zingiberi 16

1.3.7 Bệnh bướu rễ do tuyến trùng 17

1.3.8 Bệnh do virus 17

1.3.9 Bệnh chồi lớn do Phytoplasma 18

1.4 MỘT SỐ CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRÊN GỪNG 18

1.4.1 Sâu đục thân 18

1.4.2 Cào cào ăn lá 19

1.4.3 Bọ hung nhỏ đục củ 20

1.4.4 Sâu cuốn lá 20

1.4.5 Dòi đục củ 21

1.4.6 Rệp dính hại củ 22

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 23

2.1 Phương tiện 23

2.1.1 Thời gian và địa điểm 23

2.1.2 Vật liệu và thiết bị 23

2.2 Phương pháp 24

2.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây gừng (vụ trồng gừng 2010) 24

Trang 11

2.2.2 Khảo sát quy luật phát sinh phát triển của bệnh thối củ gừng do vi khuẩn

Ralstonia solanacearum (vụ gừng 2011) 26

2.2.2.1 Điều tra, khảo sát sự ảnh hưởng của cây trồng luân canh lên sự gây hại của bệnh thối củ gừng 26

2.2.2.2 Khảo sát quy luật phát sinh phát triển của bệnh thối củ theo sự phát triển của tuổi cây gừng 28

2.2.3 Xử lý số liệu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 30

3.1 HIỆN TRẠNG CANH TÁC GỪNG TẠI XÃ KIẾN AN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG 30

3.1.1 Khái quát chung 30

3.1.2 Đặc điểm nông hộ sản xuât 31

3.1.2.1 Thông tin về chủ hộ 31

3.1.2.2 Hiện trạng canh tác của nông hộ điều tra 34

3.1.2.2.1Giống và kỹ thuật xuống giống 35

3.1.2.2.2Lượng phân bón được nông hộ sử dụng trong vụ Gừng 2010 40

3.1.2.2.3 Thông tin về kỹ thuật chăm sóc và kiểm soát dịch hại 42

3.1.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế tài chính của nông hộ trong vụ Gừng 2010 53

3.2 QUY LUẬT PHÁT SINH PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH THỐI CỦ GỪNG TRONG ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG (CHỢ MỚI-AN GIANG) 55

3.2.1 Ảnh hưởng của cây trồng luân canh và biện pháp canh tác lên mức độ gây hại của bệnh thối củ gừng 55

3.2.2 Diễn biến mật số vi khuẩn Ralstonia solanacearum và tình hình bệnh thối củ theo thời gian phát triển của cây gừng 58

3.2.2.1 Đánh giá chung về mật số vi khuẩn Ralstonia solanacearum ở ô bệnh và ô khỏe 58

3.2.2.2 Diễn biến mật số vi khuẩn Ralstonia solanacearum qua các giai đoạn phát triển của cây gừng và tình hình phát triển bệnh thối củ trên gừng 59

3.2.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện thời tiết qua các tháng trong năm lên sự phát triển của bệnh do Ralstonia solanacearum gây ra 63

Trang 12

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

4.1 Kết luận 65

4.2 Đề nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ CHƯƠNG 73

Trang 13

DANH SÁCH BẢNG

2.1

Thang đánh giá cấp bệnh 6 cấp (0 – 9) của Swetha Priya và ctv.,

(2007); Kavitha và Thomas (2008), sử dụng trong điều tra quy

luật phát sinh phát triển của bệnh thối củ gừng trong thí nghiệm

26

3.1 Một số thông tin về chủ hộ trồng gừng ở Chợ Mới-An Giang 32

3.2 Hiểu biết của nông dân về kĩ thuật canh tác, thuốc hóa học sử

dụng trên gừng tại xã Kiến An (Chợ Mới-An Giang) 34 3.3 Thông tin về giống và nguồn giống nông hộ sử dụng 35 3.4 Thông tin về thời vụ canh tác của nông hộ trồng gừng 37

3.5 Thông tin về nông cụ và nguồn nước tưới tiêu được nông hộ sử

3.6 Thông tin về khoảng cách trồng và cách bố trí liếp của nông hộ 38

3.9 Thông tin về các loại phân bón và lượng phân bón nguyên chất

3.11 Thông tin về số lần và công cụ làm cỏ của nông hộ 44

3.12 Thông tin về các loại côn trùng xuất hiện và loại thuốc hóa học

3.13 Thông tin về thời điểm gây hại, kĩ thuật xử lí, thiệt hại trên ruộng

3.14 Thông tin về các loại bệnh quan trọng xuất hiện và việc sử dụng

3.15 Thông tin về thời điểm gây hại, kĩ thuật xử lí, thệt hại trên ruộng

3.16 Thông tin về giá gừng tại các thời điểm và năng suất nông hộ đạt

Trang 14

3.17 Các khoảng đầu tư và lợi nhuận của nông hộ vụ gừng 2010 54

3.18

Ảnh hưởng của cây trồng luân canh lên mật số vi khuẩn và chỉ

số bệnh thối củ do vi khuẩn trên gừng ở xã Kiến An (Chợ Mới

-An Giang)

56

3.19 Biện pháp canh tác ảnh hưởng lên sự phát sinh bệnh thối củ

3.20 Mật số vi khuẩn trong đất ở ô bệnh- khỏe trên ruộng gừng ở Chợ

3.21 Diễn biến mật số vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh và

tình hình của bệnh thối củ trên ruộng qua các giai đoạn phát triển

của cây gừng

59

Trang 15

DANH SÁCH HÌNH

2.2 Các thao tác xác định mật số vi khuẩn R solanacearum trong đất 27 2.3 Cách bố trí các điểm theo dõi trên ruộng thí nghiệm 28 3.1 Bản đồ xã Kiến An – Chợ Mới – An Giang chụp từ vệ tinh 30 3.2 Triệu chứng gây hại của sâu đục thân Conogethes punctiferalis

Guen trên gừng giai đoạn đầu (A) và giai đoạn sau (B)

46 3.3 Dòi đục củ (A) và rệp sáp (B) gây hại trên củ gừng 46 3.4 Triệu chứng héo xanh vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra

trên gừng

50 3.5 Triệu chứng đốm lá do nấm Phyllosticta zingiberi 50 3.6 Triệu chứng cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp 51 3.7 Triệu chứng bệnh đốm vằn do nấm Rhizoctonia solani 51 3.8 Triệu chứng củ gừng bị thối khô do nấm Sclerotium rolfsii 51 3.9 Triệu chứng bướu rễ do tuyến trùng gây ra trên gừng 52

3.10 Dạng khuẩn lạc của vi khuẩn Ralstonia solanacearum trên môi

trường TZC từ 1 gram đất với hệ số pha loãng là 105 khảo sát ở

năm

64

Trang 16

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

F oxysporum Fusarium oxysporum

R solanacearum Ralstonia solanacearum

Trang 17

MỞ ĐẦU

Chợ Mới là huyện cù lao có diện tích đất phù sa màu mỡ của tỉnh An Giang

và nằm trong vùng đê bao khép kín rất thích hợp cho việc canh tác các loại hoa màu

và các cây trồng khác, cây ngắn ngày cũng được đưa vào canh tác và xem là các loại cây thế mạnh phát triển của huyện Trong đó, cây gừng là một trong những cây được người dân quan tâm đưa vào sản xuất góp phần mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho người dân hiện nay Mô hình này hiện nay được bà con nông dân ở các huyện Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành áp dụng rộng rãi và đạt kết quả cao Cây gừng là loại cây gia vị và dược liệu có nhiều đặc tính quí Nó góp phần làm tăng thêm hương vị cho một số loại thực phẩm cũng như dùng làm thuốc điều trị một số bệnh cho người Đồng thời, với kĩ thuật canh tác đơn giản, tương đối dễ trồng, ít sử dụng phân bón, có thể trồng ở dưới tán cây nên dễ dàng thực hiện mô hình trồng gừng xen trong vườn cây ăn trái để góp phần tăng thêm thu nhập cho người nông dân, bình quân 1 ha đạt từ 45-80 tấn gừng với giá thương lái mua tại nhà vườn là 10.000-12.000 đồng/kg thì tổng thu từ 45-96 triệu đồng/ha/năm (Khoa học và đời sống, 2005; được trích dẫn bởi Nguyễn Phú Dũng 2008)

Tuy nhiên, cây gừng dễ bị sâu bệnh tấn công (sâu đục thân, sâu ăn tạp, bệnh

cháy lá, bệnh thối củ…), trong đó bệnh thối củ (héo xanh) do vi khuẩn Ralstonia

solanacearum gây ra là nghiêm trọng nhất, đây là loại bệnh rất khó phòng và

trị, khi đã thể hiện triệu chứng trên cây thì phát triển rất nhanh, lan truyền và mở rộng diện tích gây hại có thể dẫn đến thất thu hoàn toàn, làm thiệt hại nặng về kinh

tế Do vậy, nông dân thường rất ngán ngại khi trồng loại cây trồng này với qui mô rộng lớn Cho nên, việc tìm ra nguyên nhân bệnh phát sinh, quy luật phát triển của bệnh để có biện pháp quản lý kịp thời là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Từ đó đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác gừng và khảo sát quy luật phát

sinh phát triển của bệnh thối củ gừng do vi khuẩn Ralstonia solanacearum tại xã

Kiến An, huyện Chợ Mới – An Giang” được thực hiện nhằm tìm hiểu quy luật phát sinh phát triển của bệnh trong điều kiện ngoài đồng, khảo sát mối tương quan giữa biện pháp canh tác và yếu tố ngoại cảnh lên sự phát triển và gây hại của bệnh thối

củ gừng do vi khuẩn Ralstonia solanacearum Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để

nghiên cứu các biện pháp phòng trị tổng hợp bệnh thối củ gừng

Trang 18

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 CÂY GỪNG

Cây gừng thuộc bộ Zingiberales, họ Zingiberaceae, có tên khoa học là

Zingiber officinale Rosc

Gừng xuất xứ từ trung tâm Á châu, ngày nay gừng được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới (50% sản lượng xuất xứ từ Ấn Độ), một phần từ Châu Phi, Brazil, Jamaica (CABI, 2007; Nguyễn Phú Dũng, 2008)

Tuy nhiên, gừng thích hợp hơn với khí hậu nóng của vùng nhiệt đới Ở nước

ta đã có nhiều cơ sở trồng gừng để xuất khẩu và được coi là mặt hàng có giá trị Hiện nay, gừng được trồng khắp các địa phương từ vùng núi cao đến đồng bằng và

cả hải đảo (Bùi Thanh Hà và ctv., 2004; Mai Văn Quyền và ctv., 2007)

1.1.1 Đặc điểm cây gừng

Theo Giáp Kiều Hưng và ctv (2004), gừng thuộc loại thân nhỏ sống lâu năm, thân rễ trong gừng phình to thành củ, gừng càng già càng có nhiều xơ và đạt chất lượng cao Lá cây dài với những cuống lá ôm lấy nhau thành một thân giả, lá đơn mọc cách, lá trơn không có cuống, phiến lá hình mũi mác, mặt nhẵn bóng, mép

lá không có răng cưa, gân giữa hơi trắng nhạt, hoa gừng có màu vàng nhạt, mép cánh hoa màu tím, trục hoa mọc từ gốc dài từ 25-30 cm, gừng xanh tốt vào mùa hè

và tàn lụi vào mùa đông Gừng có thể cao từ 50-100 cm, hoặc hơn 150 cm tùy theo loại đất

Theo Kadiannan và ctv (1996), gừng phát triển tốt cho đến độ cao 1500 m, tốt nhất là 300-900 m so với mực nước biển Nhiệt độ cơ bản cần cho cây phát triển

là 130C, tối đa 320C/270C ứng với ngày/đêm, thích hợp trong khoảng 19-280C, nhiệt

độ đất tối hảo cho sự nảy mầm là 25-260C, phát triển 27,50C Ánh nắng chói chang, mưa đầy đủ và ẩm độ tương đối cao là điều kiện cần thiết để đạt được năng suất cao Lượng mưa 1500-3000 mm, rải rác từ tháng 8-10 là điều kiện lý tưởng cho gừng sinh trưởng, pH thích hợp nhất là 6-6,5 Gừng có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau như đất sét pha cát, sét pha, đất đá ong

1.1.2 Giá trị dinh dưỡng và công dụng

Thành phần hóa học trong 100g gừng khô: 10g nước, 10-20g protein, 10g chất béo, 40-60 carbohydrate, 2-10g chất sơ và 6g tro Thân và rễ gừng chứa 1-3% dầu gừng, có giống lên tới 6% Dầu gừng có thành phần chủ yếu là gingerols và

Trang 19

shogaols Ở Ấn Độ dầu gừng được sử dụng để áo hạt giống trước trồng vì có tính kháng nấm và vi khuẩn rất mạnh (CABI, 2007)

Công dụng: gừng là vị thuốc quý đặc trị các bệnh nôn mửa, chống loét đường tiêu hóa, chống viêm, chống say sóng, ức chế tổng hợp prostaglandin PGE2, cường tim, ho có đờm, (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004) Bên cạnh đó gừng còn được chế biến thành mức, kẹo, chất bột, chất thơm (Võ Văn Chi, 2005)

1.2 KĨ THUẬT TRỒNG GỪNG

1.2.1 Thời vụ trồng

Theo Mai Hoàng Thạch và Nguyễn Công Vinh (2003), gừng ở nước ta trồng

từ đầu tháng 1-2 đến tháng 4-5, thu hoạch vào tháng 10-11-12, thời gian sinh trưởng

từ 8-10 tháng, tùy giống Gừng có thể trồng quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa xuân (Giáp Kiều Hưng và ctv., 2004)

1.2.2 Chuẩn bị đất và bón lót

Theo Giáp Kiều Hưng và ctv (2004), gừng là cây dễ tính, chỉ cần vùng đất

có nhiều mùn và tơi xốp Luống trồng gừng phải đảm bảo thoát nước nhanh nên cần lên luống cao 15-20cm, rộng 60-70cm Trên luống, đào những hốc cách nhau 40-50cm Nên đổ rác trấu vào xung quanh nơi trồng Có thể bón thêm đạm, kali, tro để cây gừng phát triển tốt

Theo Mai Văn Quyền và ctv (2007), đất được trồng gừng thường là đất vườn, có vị trí cao, được cài bừa kĩ, làm sạch cỏ, phơi ải càng tốt Để có được củ nhiều, to, gừng cần được trồng ở nơi có lớp đất mặt dày Kích thước luống trồng có thể cao 20-25cm, rộng 1,2-1,5m, gừng trồng khoảng cách 40x30cm Nên rải 200-300kg vôi bột/ha để khử trùng đất ngăn chặn mầm bệnh vụ trước lây sang vụ trồng

Để đất xốp đủ ẩm, người ta bón 20-30 tấn phân chuồng hoai, 300-500kg supper lân hoặc phân lân nung chảy, 500-1000 kg tro bếp, trộn đều rồi lên luống Để tiết kiệm phân, thường lên luống rồi rạch hàng, bón phân, trộn đều, lấp một lớp đất mặt sau

đó trồng gừng lên rãnh đã bón phân

Liếp thường được phủ 10-12 tấn/hecta lá hoặc vật liệu hữu cơ để ngăn chặn

sự tung tóe của đất và xói mòn do mưa lớn và cũng cung cấp thêm chất hữu cơ, hạn chế cỏ dại và giữ ẩm cho đất (Anonymous, 2009)

1.2.3 Cách trồng

Củ làm giống là những củ trong mùa trước, đạt kích thước của giống, khỏe, mập và không bị sâu (Giáp Kiều Hưng và ctv., 2004) Theo Mai Văn Quyền (2007), củ giống được chọn là những củ có nhiều mầm, bẻ thành từng nhánh riêng, mỗi nhánh chứa 3-5 mắt mầm Chấm phần bẻ hoặc cắt vào tro bếp rồi đem

Trang 20

trồng vào các rãnh ngang trên luống, lấp đất lại Chú ý không nên lấp quá sâu, chỉ cần phủ kín củ là được

Theo Phạm Danh Tướng (2006), để trồng trên diện tích 1000m2 thì cần chuẩn bị lượng giống là 300kg Theo Anonymous (2009), hom giống có kích thước từ 2,5-5cm, nặng 20-25g thường có 1-2 chồi khỏe Lượng giống ở mỗi khu vực khác nhau có thể từ 1500-1800kg/ha, ở những vùng cao từ 2000-2500kg/ha

Hom được xử lý với 0,3% mancozeb (3gam/lít) trong 30 phút, để khô dưới bóng râm 3-4 giờ trước khi trồng

1.2.4 Làm cỏ, bón phân và vun gốc

Sau khi trồng gừng xong cần xáo xới, làm cỏ và vun gốc cho đến khi gừng tạo củ thì ngưng (Giáp Kiều Hưng và ctv., 2004) Cỏ được làm 2-3 lần/vụ và được làm trước khi bón phân Việc đắp bồi thêm đất cho gừng có tác dụng tránh hiện tượng củ lộ ra trên bề mặt gây giảm phẩm chất và đảm bảo đủ lượng đất cho sự phát triển của củ Đắp thêm đất được thực hiện 2 lần/vụ vào thời điểm 40 và 90 ngày sau khi trồng và đắp sau khi bón phân (Anonymous, 2009)

Theo Panhwar (2005), gừng cần lượng phân nhiều khoảng 75 kg N, 50kg

P2O5 và 50 kg K2O/ha Theo Anonymous (2009), phân bón được sử dụng vào 3 thời điểm:

 Trước trồng: 25–30 tấn phân chuồng hoặc phân hữu cơ và 50kg P2O5/ha

 Ở 40 ngày sau khi trồng: bón 37,5 kg N và 25 kg K2O/ha

 Ở 90 ngày sau khi trồng: bón 37,5 kg N và 25 kg K2O/ha

Theo Mai Văn Quyền và ctv (2007), chia làm 3 lần bón:

- Khi gừng mọc được 4-5 lá, ta bón thúc lần 1:dùng phân đơn như urê, DAP để bón khoảng 100-150 kg/ha Nhưng tốt nhất là dùng NPK 16-16-8-13S hay 20-20-15 +TE với lượng tương tự, kết hợp vun gốc lần 1

- 3 tháng rưỡi đến 4 tháng sau trồng, bón thúc lần 2 (khoảng giữa mùa mưa nếu là các tỉnh miền Nam): 150-200 kg NPK 16-16-8-13S/ha, kết hợp nhổ bỏ cây bị bệnh, vun gốc lần 2

- Trước khi dứt mưa khoảng 1 tháng bón thúc lần 3, tùy tình trạng cây gừng quyết định lượng phân cần bón, 150-200 kg NPK 16-16-8-13S/ha, vun gốc lần cuối Sau đó chăm sóc, phát hiện, tiêu hủy cây bệnh, không

để lây lan sang cây khỏe

Trang 21

củ dần teo lại và cuối cùng chỉ còn lại mô sợi Gặp điều kiện thuận lợi nấm phát triển bao cả củ và gốc thân của cây (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

1.3.1.2 Tác nhân

Theo trích dẫn của Shalini (2006), Fusarium oxysporum f sp zingiberi

Trujillo là tác nhân gây bệnh (Haware và Joshi, 1973), ngoài ra bệnh cũng có thể

xảy ra do F solani xâm nhiễm riêng lẻ (Kumar, 1977) hoặc kết hợp với Pythium

spp cũng đã được báo cáo (Drojee, 1986; Chauhan and Patel, 1990)

 Phân loại và đặc điểm của nấm

Nấm Fusarium oxysporum thuộc ngành phụ nấm bất toàn Deuteromycotina, lớp nấm bông Hyphomycetes, bộ Tuberculariales, họ Tuberculariaceae, chi

Fusarium, loài Fusarium oxysporum

Nấm Fusarium spp có khả năng tiết các loại độc tố như acid fusarinic,

fumonisine B1 và fumonisine B2, licomarasmin (Vũ Triệu Mân, 2007) Theo

Leslie và Summerell (2006), F oxysporum có thể sản xuất ra các hợp chất

beauvericin, bikaverin, enniatins, fusaric acid, fusarin C, isoverrucarol, moniliformin, sắc tố naphthoquinone, sambutoxin, wortmannin

Theo Phạm Quang Thu (2009) trong thực tế, từ nấm Fusarium spp đã tiết ra

các độc tố như axit fusaric và licomarasmin, làm thay đổi áp suất thẩm thấu của chất nguyên sinh trong tế bào nên các ion kim loại K+, Ca2+, các axit amin, axit glutamic thoát ra ngoài mặt lá tăng lên rất nhiều lần

Trang 22

F oxysporum là loại nấm sống trong đất phân bố rộng rãi trong các loại đất

trồng trọt và đất đồng cỏ, loài nấm này bao gồm hơn 100 dạng chuyên hóa và chủng nấm gây héo đối nhiều loại rau, chuối, hồ tiêu, cây họ cà và nhiều cây khác (Nelson

và ctv (1981), trích dẫn bởi Vũ Triệu Mân, 2007) Theo Agrios (2005), F

oxysporum bao gồm trên 120 dạng loài chuyên tính theo các dạng kí chủ mà chúng

xâm nhiễm, các loài này có thể được chia theo các chủng sinh lý, đặc trưng cho tính độc trên những cây kí chủ khác nhau Hệ sợi nấm lan tỏa khắp mạch gỗ và lấp kín mạch gỗ làm cản trở quá trình vận chuyển nước gây héo cây Hệ sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn, sợi nấm thường không màu, chuyển màu nâu khi già Hệ sợi nấm sinh độc tố tiết vào hệ mạch gây héo cây chủ (Cao Ngọc Điệp và ctv., 2005)

Theo Leslie và Summerell (2006), nấm F oxysporum có thể hoại sinh trên

các mô rễ thực vật đã bị hoại tử vì thế khi phân lập các mẫu rễ để xác định tác nhân gây bệnh rất dễ nhầm lẫn giữa dạng gây bệnh (kí sinh) và dạng không gây bệnh (hoại sinh), để xác định chính xác cần kiểm tra lại bằng lây bệnh nhân tạo

Trên môi trường PDA hình thái khuẩn lạc rất khác nhau, sợi nấm có màu sắc

từ trắng đến tím nhạt, khối đại bào tử tập trung có màu cam nhạt hoặc tím nhạt, hạch nấm màu nâu nhạt, xanh cho đến xanh đậm hay tím Tản nấm xốp màu hồng nhạt, sau khi cấy 4-5 ngày hình thành sắc tố màu đỏ tím, sau khi cấy 3-5 tuần nấm hình thành bào tử áo Trên môi trường CLA, bào tử được hình thành rất nhiều (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003) Theo Leslie và Summerell (2006), để bào tử áo hình thành phải mất một thời gian dài (6 tuần) và số lượng có thể không nhiều Bào tử áo thường dễ hình thành trên môi trường CLA hơn môi trường SNA Trên môi trường CLA, đại bào tử có màu cam nhạt, chiều dài trung bình, hình lưỡi liềm đến thẳng, vách bào tử mỏng và thường có 3 vách ngăn

 Sinh sản

Giai đoạn hữu tính của F oxysporum chưa được xác định rõ hoặc hiếm gặp

trong tự nhiên, tuy nhiên, có tài liệu ghi nhận các kết quả nghiên cứu về mặt di truyền cho thấy nấm này có quan hệ gần gũi về mặt di truyền với Gibberella, thuộc

nhóm Liseola (CABI, 2007) Theo Antonio (2003) thì giai đoạn hữu tính của F

oxysporum có liên quan mật thiết với Gibberella, thuộc lớp Pyrenomycette

Fusarium sp sinh sản vô tính tạo ra 3 loại bào tử: đại bào tử (macroconidia),

tiểu bào tử (microconidia) và bào tử áo (chlamydospore):

Đại bào tử dài, có nhiều nhân, hình liềm hoặc hơi cong sinh ra từ đính bào đài Đầu và cuối bào tử thuôn nhọn Những tế bào sinh bào tử lớn gọi là thể bình (phialide) (Cao Ngọc Điệp và ctv., 2005) Bào tử lớn có từ 3-5 vách ngăn, kích thước từ 27-46 x 3-5 µm, không màu hoặc màu vàng nhạt (Vũ Triệu Mân, 2007) Tiểu bào tử có kích thước 5-12 x 2,2-3,5 µm, không có vách ngăn, tiểu bào tử được hình thành trong bọc giả (Vũ Triệu Mân, 2007) Tiểu bào tử hình trứng hoặc

Trang 23

hình cầu được sinh ra từ một thể bình hay những cuống bào tử phân nhánh hoặc không phân nhánh (Cao Ngọc Điệp và ctv., 2005)

Bào tử áo hình tròn hoặc hình trứng, vách dày, nằm tận cùng hoặc chen giữa các sợi nấm già Chúng có thể phát triển đơn hoặc thành chuỗi, chúng tách ra và mọc các ống mầm nếu gặp điều kiện thuận lợi, bào tử áo rất bền và tồn tại độc lập trong thời gian dài (Cao Ngọc Điệp và ctv., 2005) Theo Leslie và Summerell (2006), bào tử áo có thể được hình thành đơn lẻ, dạng đôi, khối và chuỗi

 Điều kiện phát sinh và phát triển

Theo Trujillo (1963), nguồn bệnh có sẵn trong đất có thể xâm nhập qua vết thương vào cây trồng khỏe gây bệnh Khi gặp được kí chủ, sợi nấm từ bào tử nảy mầm tấn công vào rễ kí chủ, qua cửa ngõ tự nhiên hay vết thương trên tế bào kí chủ, tiến vào hệ thống mạch dẫn di chuyển, sản sinh bào tử và tiếp tục phát triển gây nên triệu chứng héo trên cây kí chủ Để xâm nhiễm thành công, nấm phải là loài đa dạng gen, có khả năng bám dính trên bề mặt kí chủ, có khả năng tiết enzyme phân hủy các rào cản vật lí, tiết độc tố chống lại các hợp chất chống nấm của cây tổng hợp (Agrios, 2005)

Bệnh phát sinh gây hại nặng ở các vùng có khí hậu ấm áp, đất cát và đất chua Bệnh phát triển và gây hại nặng trong điều kiện ấm và ẩm (Vũ Triệu Mân, 2007) Khi nhiệt độ cao kéo dài bệnh phát sinh gây thiệt hại rất lớn Tất cả các dạng Fusarium gây héo cây đều có chu trình lan truyền và gây bệnh giống nhau (Agrios, 2005)

Theo Ravindran và Nirmal Babu (2005), Susan (2005) và Shalini (2006), sự xâm nhiễm của nấm tối hảo ở nhiệt độ 23-290C, ẩm độ 87-95% , phạm vi nhiệt độ 15-30ºC (tối ưu ở khoảng 23-29ºC), đi kèm với độ ẩm cao và sự hiện diện liên tục của nước trên ruộng gừng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển, bệnh phát triển thuận lợi ở 280C, bị ức chế ở trên 330C, ngưng phát triển ở dưới 170C Tỷ lệ bệnh tối đa xảy ra khi nhiệt độ đất dao động từ 24- 25ºC và độ ẩm đất 25-30% Đất bị nhiễm bệnh đóng vai trò quan trọng trong sự lây lan và phát sinh bệnh

Agrawal và ctv (1974) tìm thấy rằng sự gây hại của tuyến trùng Meloidogyne

incognita gây bệnh bướu rễ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhiễm của nấm

F oxysporum (được trích dẫn bởi Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Peng và ctv (1999), đã báo cáo thêm CaCO3, Ca(OH)2,CaSO4 hoặc EDDHA vào trong đất làm giảm sự nảy mầm của bào tử áo và chỉ số bệnh từ 33,3-50% Tăng nhiệt độ trong đất đến 20-38% làm tăng tỉ lệ nảy mầm của bào tử áo lên

Fe-1,9 lần Bào tử áo nảy mầm ở pH=8 Theo Susan (2005), sợi nấm của F oxysporum

có thể phát triển trong khoảng pH từ 2-12

Trang 24

 Lưu tồn và lan truyền

Mầm bệnh tồn tại trong xác bả thực vật sau mùa vụ hoặc trong đất dưới dạng sợi nấm và tất cả các dạng bào tử của nó, đặc biệt là bào tử áo ở những khu vực có nhiệt độ lạnh hơn (Agrios, 1997; được trích dẫn bởi Susan, 2005)

Theo Leslie và Summerell (2006), F oxysporum có thể được phân

tán bởi nhiều phương tiện khác nhau bao gồm gió, đất nhiễm mầm bệnh, nước, hạt giống, cây giống bị nhiễm bệnh, vật liệu trồng bị nhiễm bệnh

Nguồn bệnh có thể lưu tồn trong đất dưới dạng bào tử hậu, sợi nấm và đại bào tử, phân bố tập trung ở tầng canh tác (Vũ Triệu Mân, 2007)

Theo Trujillo (1963), bệnh có thể có mặt từ khi hom giống đem đi trồng do

củ bị xâm nhiễm trong quá trình dự trữ hoặc đã mang mầm bệnh sẵn có Ở cánh đồng trong khu vực trồng gừng đã bị nấm tấn công một lần vẫn còn nguồn nấm tồn tại nhiều năm sau đó

Theo Suan (2006), lượng đạm cao trong đất làm gia tăng sự phát triển của

bệnh héo vàng do F oxysporum, lượng đạm thấp và kali cao làm chậm sự phát triển

của bệnh và ngược lại, lượng canxi càng thấp có lợi cho bệnh hơn mức bình thường,

sự thiếu hụt boron của cây kí chủ dẫn đến sự gia tăng chỉ số bệnh

F oxysporum có thể thích ứng trong điều kiện yếm khí với một cơ chế biến

dưỡng mới qua việc tổng hợp nguồn năng lượng từ hợp chất lưu huỳnh vô cơ thông qua enzyme sunfur reductase độc lập với NADH (Abe và ctv., 2007)

 Biện pháp phòng trừ

Chọn hom giống khỏe để trồng là một trong những biện pháp kiểm soát bệnh hiệu quả

Trồng xen canh gừng với những cây thuộc chi Capsicum mang lại kết quả

giảm còn 76% kiểm soát được bệnh (Dohroo và Sharma, 1997; trích dẫn bởi Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Theo Ravindran và Nirmal Babu (2005), sử dụng mancozeb và carbendazim

có thể trị được bệnh do nấm F oxysporum f sp zingiberi Các tác nhân sinh học như Trichoderma harzianum, Trichoderma hamatum và Gliocladium virens dùng

để xử lý hạt giống và xử lý vào đất làm giảm đáng kể sự gây hại của bệnh T virde,

T harzianum, T.aureoviride, T.koningii, T pseudokoningii có hiệu quả giảm lần

lượt 62%, 36%, 24%, 18%, 6% sự phát triển của nấm F oxysporum (Shahi và

Khalid, 2007) Ngoài ra, theo Alabouvette và ctv (2002), chủng đột biến không gây

bệnh của F oxysporum (Fo 47) cũng được chứng minh là có hiệu quả kiểm soát

bệnh

Trang 25

1.3.2 Bệnh héo xanh thối củ do vi khuẩn Ralstonia solanacearum

Bệnh được báo cáo đầu tiên ở Hawaii (1964) (trích dẫn Shintaku và ctv., 2006)

1.3.2.1 Triệu chứng

Triệu chứng đầu tiên của bệnh là những lá ở vị trí thấp hơn bắt đầu chuyển sang vàng nhạt và héo đi, sau đó đến những lá non, cuối cùng cả cây bị vàng đi rồi hóa nâu, các chồi bệnh trở nên héo và mềm nhũn Tuy nhiên, cây bệnh bị khô nhanh chóng chuyển từ vàng sang nâu trong khoảng thời gian khoảng 3-4 ngày Chồi bệnh mềm và thối toàn bộ, dễ dàng bị ngã ngang xuống đất Củ bệnh chuyển sang màu nâu xám, nhũn nước, mềm, thối đi Bệnh héo xanh thối củ trên gừng có thể phân biệt được với những bệnh thối củ gừng khác nhờ vào biểu hiện của củ và lá bệnh (Trujillo, 1963) Mạch dẫn của cây bị nhiễm hóa nâu rồi chuyển sang màu đen, bệnh tiến triển rất nhanh cho đến khi cây bị ngã gục trên đất (Pegg và ctv.,1974, trích Ravindran và Nirmal Babu, 2005) Theo Jackson và ctv., 2005; trên cây bệnh,

lá bị cong xuống mà không có dấu hiệu héo vàng rồi nhanh chóng chuyển sang nâu cam hoặc nâu vàng, bệnh xâm nhiễm toàn bộ bụi gừng, thông thường có mùi hôi khó chịu, nếu cắt ngang phần thân cây bị nhiễm nhúng vào trong nước sẽ tuôn ra dòng dịch khuẩn đục hoặc có giọt dịch vi khuẩn nhỏ, màu kem sữa ứa ra từ mặt cắt ngang của củ hoặc phần thân phía trên của cây trồng đã bị xâm nhiễm

1.3.2.2 Tác nhân

Bệnh gây ra do vi khuẩn Ralstonia solanacearum Yabuuchi (Smith) (theo

Kumar và Hayward, 2005), vi khuẩn có thể thuộc biovar 3 (Jackson và ctv., 2005), hoặc race 3 biovar 2 (Kumar và Sarma, 2004; Tahat và Sijam, 2010), race 4 (Paret

và ctv., 2009)

 Phân loại và đặc điểm của vi khuẩn

Vi khuẩn thuộc ngành Proteobacteria, lớp Betaproteobacteria, bộ Burkholderiales, họ Ralstoniaceae (CABI, 2007; Kado, 2010)

Vi khuẩn có dạng hình que, hai đầu hơi tròn, kích thước trong khoảng 0,9-2 x 0,5-0,8 µm, chuyển động nhờ lông roi ở cùng cực (1-4 roi) Vi khuẩn nhuộm gram

âm (Vũ triệu Mân, 2007; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998; Kado, 2010)

Theo Kado (2010), Ralstonia solanacearum có mặt phổ biến ở vùng nhiệt

đới, cận nhiệt đới và ôn đới ấm, một số chủng đặc biệt được tìm thấy ở khu vực

lạnh hơn Mầm bệnh có phạm vi kí chủ hơn 50 họ thực vật Ralstonia

solanacearum là loài vi khuẩn đa thực, chuyên hóa rộng có khả năng ký sinh trên

nhiều loài ký chủ, bao gồm trên 200 loài khác nhau thuộc 44 họ thực vật (Vũ Triệu Mân, 2007)

Trang 26

Ralstonia solanacearum (vi khuẩn gây bệnh héo xanh) sản sinh ra men

pectin methylesteraza phân giải pectin có thể sản sinh ra axit pectinic ở trong mạch dẫn kết hợp với canxi tạo thành pectat canxi vít tắc sự lưu thông của bó mạch, góp

phần tạo ra triệu chứng héo đột ngột của cây bệnh (Vũ Triệu Mân, 2007) Ralstonia

solanacearum có khả năng tiết ra các độc tố thuộc nhóm vivotoxin là những

polysaccarit gây héo cây, tác động phá hủy màng tế bào, mạch dẫn của cây trồng

Vi khuẩn có khả năng phân giải làm lỏng gelatin, tạo H2S, có dòng có khả năng khử nitrate, không có khả năng thủy phân tinh bột, esculin Có khả năng tạo ra axit khi thủy phân một số loại đường, hợp chất carbon…( Lê Lương Tề, 1999; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Tất cả các chủng độc của vi khuẩn Ralstonia solanacearum đều tiết ra một

chất nhày có trọng lượng phân tử lớn, cấu tạo bởi cao phân tử không phân nhánh của N-acetylgalactosamine, N-acetylgalactosaminuronic acid, và N-acetylbacillosamine liên kết với 3-hydroxybutyric acid Ngoài ra, vi khuẩn

Ralstonia solanacearum còn sản xuất enzym catalase, nitrate reductase và

cytochrome oxidase, pectinase, cellulase (được trích dẫn bởi Kado, 2010)

Trên môi trường Kelman (1954) khuẩn lạc màu trắng kem nhẵn bóng, nhờn (vi khuẩn có tính độc gây bệnh) Nếu khuẩn lạc chuyển sang kiểu khuẩn lạc nâu, nhăn nheo là isolate vi khuẩn mất tính độc Để phát hiện dòng vi khuẩn có tính độc thường dùng môi trường TZC Trên môi trường khuẩn lạc có hình dạng không nhất định, tâm có màu hồng hoặc đỏ nhạt, viền trắng (Vũ triệu Mân, 2007) Tuy nhiên, khi dự trữ chủng bị mất tính độc, khuẩn lạc trở nên nhỏ hơn hình tròn màu

đỏ đậm (Lemessa, 2006)

Theo Phạm Quang Thu (2009), Ralstonia solanacearum khi xâm nhập vào

mô tế bào cây chủ lại di chuyển lan rộng theo các mạch dẫn và lấp kín bó mạch làm mất khả năng dẫn truyền nước và dinh dưỡng của cây chủ gây nên hiện tượng héo rũ, khi cây bị bệnh trong mô cây chủ chứa đầy tế bào vi khuẩn

Theo Vũ Triệu Mân (2007), Ralstonia solanacearum được phân thành 5 races

dựa trên các cây kí chủ bị ảnh hưởng, và 5 biovars dựa trên khả năng sử dụng hoặc oxy hóa một số rượu hexose và disaccharides:

 Race 1 (biovars 1, 3, và 4): gây bệnh cho nhiều loại cây trồng, bao gồm cà chua, thuốc lá và đậu phộng, nhiệt độ tối ưu cao (35-37oC)

 Race 2 (biovars 1 và 3) lây nhiễm chuối, chuối sợi (Heliconia) và các cây khác trong họ Musaceae, nhiệt độ tối ưu cao (35-37oC)

Trang 27

 Race 3 (biovar 2) gây hại các khu vực vùng cao mát mẻ, vùng nhiệt đới và gây héo trầm trọng trong khoai tây, cà chua, và phong lữ, nhiệt độ tối ưu thấp (27oC)

 Race 4 (biovars 3 và 4) gây hại cây gừng

 Race 5: gây hại dâu tằm

Biovar I chiếm ưu thế ở USA, biovar III ở châu Á, trong khi đó biovar II và

V ở châu Úc và Trung Quốc, biovar IV ở Ấn Độ và Inđônêsia (Tahat và Sijam, 2010)

Năm race của Ralstonia solanacearum có những phạm vi kí chủ và sự phân

bố địa lí khác nhau

Theo Tahat và Sijam (2010), Ralstonia solanacearum (race 3 biovar 2) xâm

nhiễm trên nhiều loại cây trồng (khoai tây, cà tím, tiêu, ớt, cà chua, cây phong lữ)

và một số loài cỏ dại như Cerlastrus orbiculatus, Solanum karsense, Urtica dioica

Biovar 4 gây bệnh trên gừng trong 14 hoặc 21 ngày sau khi chồi và rễ bị lây nhiễm bệnh, đối với biovar 3 gây héo sau 6 tuần Biovar 4 được mô tả gây héo nhanh, biovar 3 gây héo chậm (Sarma và ctv.,1978; được trích dẫn theo Ravindran

và Nirmal Babu, 2005)

 Điều kiện phát sinh và phát triển

Theo Agrios (2005), Ralstonia solanacearum thích sống trong điều kiện

nhiệt độ cao và bị giới hạn trong những khu vực nóng, gây hại nặng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt

Ralstonia solanacearum là sinh vật hiếu khí bắt buộc, chịu đựng được trong

khoảng nhiệt độ 10-410C, nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của vi khuẩn là

35-370C, điểm gây chết là 550C Vi khuẩn gây bệnh phát triển trong phạm vi pH khá rộng (6-8), thích hợp nhất pH 6,8-7 (Vũ triệu Mân, 2007; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998; Kado, 2010; Tahat và Sijam, 2010)

Biovar I và III phát triển tốt ở nhiệt độ 370C, biovar II là 220C Tuổi của kí chủ không ảnh hưởng đến bệnh do race 1, 3 gây ra (Lemessa, 2006)

Vi khuẩn xâm nhiễm thông qua vết thương của rễ hoặc củ, vị trí xuất hiện rễ thứ cấp, vết cắt của hom giống Vi khuẩn định vị ở các khoảng gian bào và nhu mô

gỗ, bắt đầu sản xuất các enzyme ngoại bào phân hủy các hợp chất có trong vách tế bào kí chủ và tạo điều kiện thuận lợi để lan ra khắp các mạch dẫn Trong cây, vi khuẩn nhân mật số rất nhanh đồng thời gây ra triệu chứng héo và làm chết cây Sau đó vi khuẩn trở lại đất tồn tại dưới dạng hoại sinh cho đến khi có thể xâm nhiễm kí chủ mới (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Trang 28

Theo trích dẫn CABI & EPPO (2008), bệnh gây hại nặng nhất ở 24-350C, hiếm khi được tìm thấy ở khí hậu ôn đới nơi mà có mùa đông nhiệt độ thấp hơn

100C (Swanepol, 1990) Độ ẩm đất cao hoặc thời tiết ẩm ướt hay mùa mưa kéo dài cũng liên quan nhiều đến mức độ nghiêm trọng của bệnh Ẩm độ đất là một trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến sự sinh sản và phát triển của mầm bệnh, thích hợp nhất từ -0,5 đến -1 bar, không thích hợp từ -5 đến -15 bar Bệnh trở nên

nghiêm trọng hơn khi kết hợp với tuyến trùng (Meloidogyne sp.) tạo vết thương

mở đường cho mầm bệnh tấn công (CABI & EPPO, 2008; Kado, 2010; Wang và Lin, 2005)

Theo Đỗ Tấn Dũng (2004), bệnh phát triển gây hại nặng trong điều kiện ẩm

độ cao, mưa gió bão nhiều, phát sinh và thiệt hại nặng trên chân đất pha cát, đất thịt nhẹ, chân đất bị nhiễm bệnh hoặc ở những vùng không luân canh với lúa nước, ngô, mà luân canh với các cây trồng cạn thuộc họ cà, họ đậu Bón quá nhiều đạm không cân đối với lân và kali, bệnh thường phát triển nhiều và nặng

 Lưu tồn và lan truyền

Ralstonia solanacearum tồn tại lâu hơn trong đất đỏ và đất mùn, ngắn hơn

trong đất đá ong Trên đất có khả năng giữ nước với 100% ẩm độ có độ tương thích cao cho sự sống sót dài lâu của mầm bệnh vượt quá 390 ngày, tại ẩm độ tương tự ở đất đá ong mầm bệnh tồn tại đến 360 ngày Vi khuẩn tồn tại lâu hơn vượt quá 390 ngày ở cả 3 loại đất khi duy trì nhiệt độ tại 30 và 350C Tuy nhiên, nhiệt độ ở 450C gây bất lợi cho sự tồn tại của mầm bệnh còn ngoài 360 ngày, riêng với đất đá ong chỉ 210 ngày Nhiệt độ dưới 200C không thích hợp cho sự sống sót lâu dài của mầm bệnh (Kumar và ctv., 2006)

Theo Messiha (2006), Ralstonia solanacearum race 3 biovar II có thể tồn tại

ở khu vực ôn đới từ 12 tháng đến 3 năm khi vắng mặt kí chủ Trong điều kiện ấm

áp, Ralstonia solanacearum vẫn tồn tại trong đất sét và đất cát thời gian dài

(Kado, 2010)

Ralstonia solanacearum có khả năng cư trú qua đông, bảo tồn, tiềm sinh

trong rễ cây trồng và cây dại trong đất (Vũ Triệu Mân, 2007) Theo Burgess và ctv

(2009), Ralstonia solanacearum có thể kí sinh trong Ageratum conyzoides như là một cây kí chủ phụ

Biovar 3,4 có thể tồn tại đến 20 tháng trong đất suốt hạn hán khắc nghiệt (Lum, 1978; được trích dẫn theo Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Ở trong đất, vi khuẩn có thể lưu tồn đến 5-6 năm hoặc 6-7 tháng tùy thuộc vào ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, loại đất, các yếu tố sinh vật và các yếu tố khác Tuy nhiên, vi khuẩn bám dính trên bề mặt củ giống chỉ tồn tại trong vòng hai ngày (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Trang 29

Theo Tahat và Sijam (2010); Shintaku và ctv (2006), Ralstonia

solanacearum có thể tồn tại trong đất nhiều năm khi không có mặt cây kí chủ Ralstonia solanacearum có thể lây truyền qua đất, nước, hom giống bệnh, dụng cụ

lao động, vật liệu trồng Tác nhân gây bệnh héo xanh có thể lan rộng ra các quốc gia khác bằng nguồn nước, xâm nhiễm tiềm ẩn trong đất, vật liệu trồng

 Biện pháp phòng trừ

Theo Burgess và ctv (2009), do có phổ kí chủ rộng nên bệnh rất khó phòng trừ bằng biện pháp luân canh Adhikari và Basyat (1998) báo cáo, khi luân canh

cây trồng với bắp, đậu bắp, đậu đũa có thể giảm được bệnh héo xanh do Ralstonia

solanacearum từ 20-26% Streptomycin cho thấy khả năng kiểm soát bệnh cao

nhất (79,5%) trong thử nghiệm ngoài đồng (trích dẫn bởi Tahat và Sijam, 2010) Theo Kado (2010), hom giống nên được ngâm trong streptocycline khoảng

30 phút ngập vết cắt 5mm Đối với khu vực đã xảy ra bệnh không nên xen canh với ngô, ngũ cốc, đậu nành khoảng 3 năm Không cho phép mưa và nước tưới ở vùng bệnh chảy sang vùng khỏe Xác bả cây trồng đã nhiễm bệnh nên được di chuyển ra khỏi cánh đồng tiêu hủy

Bệnh có xu hướng giảm với những chân đất luân canh với cây lúa nước hoặc các cây trồng khác thuộc họ hòa thảo Theo Agrios (2005), giảm lượng đạm có sẵn

có thể làm tăng tính nhạy cảm của cây trồng đối với bệnh héo xanh do Ralstonia

solanacearum Lượng cân đối NPK làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với

bệnh (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Phòng trị bệnh héo xanh do vi khuẩn bằng cách xử lí đất với hỗn hợp urea và

canxi oxide theo tỉ lệ 80:800 kg/rai được khuyến cáo để làm giảm mật số Ralstonia

solanacearum trên đồng ruộng Đất nên được xử lí ít nhất 3 tuần trước khi trồng để

tránh gây ảnh hưởng đến hom giống (Vudhivanich, 2002)

Theo Kongkiattikaorn và Thepa (2006), biện pháp xử lí tăng nhiệt của đất

giảm bệnh héo do Ralstonia solanacearum Dưới 400C không có ảnh hưởng Đối với đất khô, xử lí 2 giờ liên tục ở 550C làm giảm khả năng tồn tại của mầm bệnh, hoặc đối với đất ẩm duy trì 450C trở lên, sau 24 giờ, làm mất khả năng tồn tại của

Ralstonia solanacearum

Theo Paret và ctv (2010), mức độ bệnh héo xanh do Ralstonia solanacearum

(race 4) giảm đáng kể khi gừng trồng trong phạm vi có xử lí dầu thực vật thiết yếu

(dầu từ cây Cymbopogon martini, C.citratus, Eucalyptus globulus)

Theo Trần Vũ Phến và ctv (2011), có năm (5/199) mẫu vi khuẩn vùng rễ

phân lập có khả năng đối kháng tốt với Ralstonia solanacearum đều thuộc chi

Bacillus

Trang 30

Theo Nguyễn Tất Thắng và ctv (2011), sử dụng chế phẩm vi sinh vật đối

kháng Bacillus subtilis xử lí đất trước khi trồng có tác dụng hạn chế khả năng xâm

nhiễm, phát sinh, phát triển bệnh héo xanh vi khuẩn Sử dụng các loại thuốc kháng sinh, thuốc hóa học trong phòng trị bệnh héo xanh vi khuẩn có khả năng ức chế sự phát sinh gây hại của bệnh (Lopo 8WP có hiệu lực cao với tỉ lệ bệnh sau 28 ngày theo dõi là 18,9-20%, Streptomycin với tỉ lệ bệnh là 27,8-28,9%, Validamycin có hiệu lực thấp với tỉ lệ bệnh là 35,6-36,7%)

1.3.3 Thối mềm củ do Pythium spp

1.3.3.1 Triệu chứng

Nấm tấn công gây hại tất cả các giai đoạn phát triển của cây Đối với các chồi non, triệu chứng xuất hiện ban đầu là các vết sủng nước, các vết này lan dần làm cổ chồi mềm nhũn Cuối cùng các chồi chuyển vàng rồi ngã gục xuống Đối với các chồi trưởng thành, nấm tấn công làm các lá bị vàng, sau đó các lá héo gục xuống, các chồi khô lại Củ bị hóa nâu rồi sau đó bị thối rửa Củ thối có mùi hôi khó chịu (Ravindran và Nirmal Babu, 2005) Có thể dễ dàng quan sát nấm ở những phần trên mặt đất của cây bệnh (George, 1973) Triệu chứng thể hiện đầu tiên ở những lá bên dưới tiến dần lên phía trên, lá dễ dàng rơi xuống đất khi kéo nhẹ (Jackson và ctv., 2005)

1.3.3.2 Tác nhân

Theo Kumar và ctv (2008), có ít nhất sáu loài gây hại trên gừng ở Ấn

Độ bao gồm Pythium myriotylum, P vexans, P aphanidermatum, P deliense, P

ultimum, P buteri Trong số đó, P aphanidermatum, P myriotylum có phân bố

rộng P zingiberum cũng được xác định là tác nhân gây bệnh trên gừng (Shalini,

2006)

Theo Koike và ctv (2007), nấm thuộc ngành nấm noãn Oomycota, bộ

Perononosporales, họ Pythiaceae, chi Pythium

 Điều kiện phát sinh và lưu tồn

Bệnh lây lan qua nước do các bào tử động có roi di chuyển trong nước hoặc

do sợi nấm Bào tử động theo nước đến các vết thương ở rễ gừng, ở đó mọc ống mầm và xâm nhiễm vào rễ Ẩm độ đất cao và nhiệt độ tương đối thấp thuận lợi cho

sự phát triển và lây lan bệnh Gừng trồng thường trồng vào mùa mưa, đất nhiều nước và nhiệt độ môi trường xung quanh (25-30ºC) có lợi cho sự xâm nhiễm của bệnh (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Theo Agrios (2005), nhiệt độ trên 180C thích hợp cho sự nảy mầm của bào tử trên củ, từ 10-180C thích hợp cho sự nảy mầm của bào tử động

Trang 31

Nấm lưu tồn rất lâu trong đất dưới dạng bào tử động khi không có cây kí chủ, hoặc lưu tồn trên xác bã thực vật Bào tử động nảy mầm ở nhiệt độ từ 15-45°C và

pH 5,2-8,6 (CABI, 2007)

 Biện pháp quản lý bệnh

Theo Anonymous (2009), ngâm củ trong dung dịch mancozeb 0,3% trong 30 phút trước khi tồn trữ và ngâm lần nữa trước khi trồng làm giảm bệnh đáng kể Bên cạnh đó, việc chọn đất thoát nước tốt là việc quan trọng trong giảm thiệt hại do bệnh Nếu bệnh xuất hiện cục bộ trên ruộng thì di chuyển các bụi bệnh và các bụi xung quanh ra khỏi ruộng, sau đó xử lý chỗ bệnh bằng mancozeb 0,3% để tránh bệnh lây lan Theo Trần Văn Hai (2005), phun các loại thuốc như Aliette 80WP, Ridomyl với nồng độ 0,3% có thể trị được các bệnh do nấm Pythium gây ra

Xây dựng hệ thống thủy lợi tốt và kiểm soát lượng nước tưới hợp lý tránh tạo

ẩm độ đất quá cao làm giảm sự lây lan và phát sinh bệnh (CABI, 2007)

1.3.4 Bệnh thối nhũn do vi khuẩn Erwinia carotovora

 Triệu chứng

Theo Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật Thành Phố Hồ Chí Minh (2006), bệnh phát triển từ dưới gốc lên, lúc đầu là những giọt dầu, sau đó thành nâu nhạt lan rộng, phần mô bị bệnh có mùi khó chịu, cây dễ gãy và thối nhanh chóng Trên cây và mô bệnh có dính dịch vi khuẩn màu vàng xám (trích bởi Trần Thị Diền, 2007)

 Điều kiện phát sinh bệnh và lưu tồn của mầm bệnh

Bệnh thường phát sinh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ thích hợp

từ 25-300C, độ ẩm cao, thời tiết nóng ẩm thay đổi thất thường Ở những chân ruộng thoát nước kém, có nhiều tàn dư chưa hoai mục hoặc tưới nước quá nhiều, đất quá

ẩm, bón phân không cân đối, bệnh thường phát sinh phát triển gây hại nặng (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003)

Vi khuẩn tồn tại trên các bộ phận thực vật tồn trữ sau thu hoạch, trong đất, xác bã thực vật, trong nước tới và có thể tồn tại trên nhộng của một số côn trùng Vi khuẩn xâm nhập vào củ, rễ qua các vết thương hoặc qua các khoảng gian bào Côn trùng cắn phá cây bệnh mang theo vi khuẩn, sau đó cắn phá các cây khỏe là điều kiện thuận lợi nhất cho vi khuẩn xâm nhập (Agrios, 2005) Theo Vũ Triệu Mân (2007), thì vi khuẩn có thể tồn tại đến 24 tháng trong điều kiện khô hạn

 Biện pháp quản lý bệnh

Vệ sinh đồng ruộng, loại bỏ các tàn dư thực vật trên ruộng Xây dựng hệ thống thoát nước tốt và tiêu diệt côn trùng cắn phá tạo vết thương là biện pháp chủ yếu để hạn chế bệnh Việc sử dụng thuốc hóa học không được đề xuất để quản lý

Trang 32

bệnh, việc xử lý cây trước khi trồng với vi khuẩn đối kháng hoặc vi khuẩn vùng rễ

đã thu được hiệu quả trong kiểm soát bệnh (Agrios, 2005) Theo Trần Văn Hai (2005), sử dụng Kasumin nồng độ 0,1-0,15% phun trừ được bệnh thối nhũn do

Erwinia sp gây ra

1.3.5 Bệnh thối củ do nấm Rhizoctonia solani

 Triệu chứng

Theo Nguyễn Thị Nghiêm (2006), bệnh thường ít hoặc không gây hại trên thân gừng chỉ khi nào bụi gừng dày đặc thì bệnh mới gây hại đến phần thân Bệnh thường gây hại ở phần củ dưới đất nên khó phát hiện, trên thân gừng không có biểu hiện gì khi củ bị thối, chỉ khi củ bị thối nhũn hoàn toàn, cây bị gãy gục hoặc chỉ bị héo nhẹ khi trời nắng (trích bởi Trần Thị Diền, 2007)

 Điều kiện phát sinh

Theo Nguyễn Thị Nghiêm (2006), bệnh thường gây hại trong điều kiện nhiệt

độ và ẩm độ cao (trích bởi Trần Thị Diền, 2007)

 Biện pháp quản lý

Theo Nguyễn Thị Nghiêm (2006), tạo điều kiện thoát nước tốt cho liếp gừng, không trồng dày Rãi vào đất nơi bụi gừng vừa nhổ bằng thuốc Copper B và trộn đều vào đất Tưới một trong các loại thuốc sau Benlate 50 WP, Validacin 5L, Rovral 50WP, Anvil 5 SC, Bonanza 100 FL với liều lượng 20-100cc(g)/10 lít, tưới 7-10 ngày/lần (trích bởi Trần Thị Diền, 2007)

1.3.6 Đốm lá gừng do nấm Phyllosticta zingiberi

 Triệu chứng

Nấm gây hại phổ biến ở các vùng trồng gừng trên thế giới Vết bệnh là những đốm nhỏ hình bầu dục với tâm mỏng trắng ở giữa, rìa vết bệnh màu nâu đen và có quần vàng bao quanh Các vết bệnh có thể lan ra và liên kết thành các tổn thương lớn hơn Các lá bị bệnh có thể bị rách và bị biến dạng (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

 Điều kiện phát sinh và lưu tồn

Theo Brahma và Nambiar (1984), bệnh thường xuất hiện gây hại nặng khi lượng mưa trong tháng lớn Nhiệt độ từ 24-300C và độ ẩm tương đối là 80-90% là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển Khi lượng mưa trong ngày giảm, sự lây lan của bệnh cũng giảm Theo Cerezine (1995), phạm vi nhiệt độ tối ưu cho sự tăng

trưởng sợi nấm của Phyllosticta là 25-27,5ºC Nhiệt độ dưới 50C và trên 35ºC, ức chế sự tăng trưởng sợi nấm (trích dẫn bởi Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Trang 33

Sự lây lan của bệnh phụ thuộc vào lượng mưa và cường độ gió, mưa lớn kèm theo gió mạnh là điều kiện thuận lợi để các bào tử phát tan trên diện rộng (Ravindran và Nirmal Babu, 2005) Nấm lưu tồn trên các bộ phận nhiễm bệnh trên đồng Các ổ nấm có thể tồn tại trong các mảnh lá bệnh ở phạm vi nhiệt độ 30-35ºC Túi bào tử có thể sống trong đất ở độ sâu 25 cm trong 6 tháng (Anonymous, 2009)

 Biện pháp quản lý bệnh

Tiêu hủy xác bã thực vật bị bệnh Luân canh với cây trồng khác 2-3 năm hoặc nhiều hơn để giảm áp lực của mầm bệnh Không bón quá nhiều đạm, bón cân đối đạm, lân, kali và chia lương phân ra làm nhiều lần bón Khi bệnh xuất hiện có thể phun Bavistin (0,15%), Dithane M-45 (0,25%), thiophenate–methyl 70%, chlorothalonil 75% (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Theo Anonymous (2009), căn bệnh này có thể được kiểm soát bằng cách phun thường xuyên phun hỗn hợp Bordeaux 1% hoặc mancozeb 0,2%

1.3.7 Bệnh bướu rễ do tuyến trùng

 Tác nhân

Bệnh do nhiều loài tuyến trùng gây ra Theo Sheela (1995), Meloidogyne

incognita, Rotylenchulus reniformis, Radopholus similis, Helicotylenchus multicinctus, Pratylenchus sp., Tylenchorhynchus sp., Hoplolaimus indicus, Criconemoides sp., và Xiphinema sp là những loài tuyến trùng được được tìm thấy

trong rễ gừng ở vùng Kerala (Ấn Độ) (trích dẫn bởi Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

 Triệu chứng

Cây lùn, cằn cõi, ít chồi, lá thường bị chết hoại đi, trên rễ có nhiều bướu đặc trưng Rễ bị thối có màu nâu và các chỗ thối thường ướt nước Sự xâm nhiễm của tuyến trùng làm bệnh thối củ trầm trọng hơn (Anonymous, 2009)

 Quản lý bệnh

Trồng xen hoa màu chính với các loại cây có tính ức chế tuyến trùng như vạn thọ, bón nhiều phân chuồng hoai mục cũng là biện pháp giúp làm giảm bớt mật số tuyến trùng trong đất bởi vì trong phân chuồng hoai mục có chứa nhiều vi sinh vật gây hại cho tuyến trùng (Phạm Văn Kim, 2000)

Theo Trần Văn Hai (2005), Mocap 10H có thể ngăn chặn hoàn toàn sự tấn công của tuyến trùng và côn trùng đất Mức dùng Mocap 10H để diệt tuyến trùng trên diện tích đại trà là 50-100kg/hecta

Trang 34

1.3.8 Bệnh do virus

 Triệu chứng

Các triệu chứng xuất hiện như là một mô lá khảm vàng và lá có màu xanh đậm Các cây bị nhiễm virus thường lùn và còi cọc Môi giới truyền bệnh là rầy

mềm Myzus persicae, Pentalonia nigronarvosa, Rhopalosiphum maidis,

Rhopalosiphum padi (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

 Biện pháp quản lý

Đối với các bệnh lan truyền qua môi giới việc quản lý vectơ truyền bệnh là việc quan trọng Theo Gao và ctv (1999), các bệnh do virus của gừng được kiểm soát khi xử lý nhiệt mô gừng ở 50ºC trong 5 phút (trích dẫn bởi Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

1.3.9 Bệnh chồi lớn do Phytoplasma

 Triệu chứng:

Theo Ravindran và Nirmal Babu (2005), cây bị ảnh hưởng ngừng phát triển

và các lá ở ngọn chụm lại (big bud) Khi bệnh phát triển, các cây chuyển sang màu vàng và chết Tác nhân gây bệnh phổ ký chủ rộng, và bệnh được truyền bởi rầy lá

 Quản lý

Bệnh xuất hiện rất hạn chế Hiện tại chưa có thuốc đặc trị bệnh Việc trừ côn trùng môi giới và tiêu hủy cây bệnh tránh lây lan là biện pháp quản lý bệnh hiệu quả nhất (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

1.4 MỘT SỐ CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRÊN GỪNG

Trang 35

 Tập quán và cách gây hại

Theo Ravindran và Nirmal Babu (2005), ấu trùng của sâu đục vào bên trong

và ăn phần lõi, kết quả là chồi bị vàng và khô Sự hiện diện của các lỗ trên chồi với phân sâu ép đùn ra ngoài và lá ngọn chồi bị héo là những triệu chứng đặc trưng của sâu gây hại

 Biện pháp phòng trừ

Hai chế phẩm sinh học sản xuất từ Bacillus thuringiensis là Bioasp và Dipel

có hiệu quả cao trong phòng trừ sâu đục thân Việc sử dụng pheromone giới tính cũng đã được ghi nhận (Ravindran và Nirmal Babu, 2005) Theo Trần Văn Hai (2005), bón Diazinon 10H vào đất với lượng 10-20kg/hecta trị được các loại sâu đục thân

1.4.2 Cào cào ăn lá

Tác nhân: Oxya chinensis Thunberg, Họ Cào Cào (Acrididae), Bộ Cánh

Thẳng (Orthoptera)

 Ký chủ

Cào cào xuất hiện ở nhiều quốc gia vì phổ ký chủ rộng Gây hại trên bắp, mía, đậu phộng, đậu nành, rau cải, cỏ lồng vực (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)

 Đặc điểm hình thái

Ấu trùng có 5 tuổi Con cái trưởng thành dài từ 24,5-39,5mm, con đực trưởng thành dài từ 18,3-27 mm Cơ thể màu vàng xanh hoặc màu vàng nâu lấp lánh với một sọc màu xám nâu chạy dọc 2 bên cánh từ mắt đến chót cánh Trứng màu vàng hoặc màu vàng nâu, dài, hình trụ, hoi cong ở giữa, một đầu nở to (CABI, 2007) Thành trùng cái có thể sống từ 2-3 tháng và đẻ từ 2-3 ổ trứng, trung bình từ 20-100 trứng/ổ (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)

 Tập quán và cánh gây hại

Oxya chinensis thường tấn công gây hại các lá non, triệu chứng để lại là các

lổ thủng lớn trên lá (CABI, 2007)

 Biện pháp quản lý

Cày đất sâu 10-20 cm hoặc đấp bùn mặt liếp 5-10cm có thể diệt được trứng

của Oxya chinensis Ở Trung Quốc, việc nuôi gà và phóng thích thêm ếch được xem

là biện pháp kiểm soát sinh học cào cào Oxya chinensis (CABI, 2007)

Trang 36

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2003), cào cào có nhiều thiên địch như các loài ruồi ăn thịt, tuyến trùng, bệnh ký sinh ấu trùng và thành trùng Ngoài

ra, chim, ếch, nhện và ruồi thuộc họ Sphecidae là những loài ăn cào cào nhiều Có

thể đốt lửa thu hút cào cào tới, xong dùng thuốc diệt Có thể dùng bã mồi gồm: cám + nuớc muối + thuốc trừ sâu, đặt nơi cào cào hay đẻ trứng để thu hút thành trùng Phun thuốc trừ sâu khi cào cào xuất hiện

Theo Nguyễn Văn Huỳnh (2005), Anomala có chiều dài trung bình là 10-12

mm, chiều rộng 5-6 mm Cơ thể thành trùng có màu đen bóng với sọc xuôi chạy dọc hai bên cánh rất rõ Râu đầu ngắn, chân và hàm rất khỏe Thành trùng sống từ 1-2 tháng, khi hoàn thành công việc đẻ trứng sẽ chết (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Diền, 2007)

 Cách gây hại

Bọ hung dùng chân và hàm đào đất và đục vào bên trong củ gừng già, cạp vỏ cây Sùng trắng ăn rễ cây, sống trong đất quanh năm đến cuối mùa nắng thì trưởng thành

1.4.4 Sâu cuốn lá

Tác nhân: do Udaspes folus Cram, Họ Hesperiidae, Bộ Lepidoptera

Ký chủ: Gây hại nghệ (Curcuma longa), gừng (CABI, 2007)

 Đặc điểm hình thái

Theo Kalesh và Prakash (2007), cơ thể sâu màu xanh lá với một điểm màu đen nhỏ ở một đầu, khi mới nở sâu thường không ăn hết vỏ trứng để chui ra mà

Trang 37

thường chừa lại một phần vỏ để ẩn náo trong đó, thường hoạt động vào buổi tối hoặc chiều mát Sâu thường hóa nhộng trên cùng một cây Con cái đẻ trứng mặt dưới của lá và chỉ đẻ một trứng duy nhất trên cây Trứng có màu đỏ, láng mịn, hình vòm Khi sắp nở nó chuyển sang màu trắng với một đầu màu đỏ Bướm có sải cánh dài 4-4,8 cm, nền cánh màu đen với một đốm trắng lớn trên cánh sau và nhiều đốm trắng nhỏ trên cánh trước

 Triệu chứng và cánh gây hại

Sâu non cắn rìa lá và cuộn lại, ẩn náo và ăn trong đó (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

 Biện pháp quản lý

Trong tự nhiên, sâu bị ong Brachymeria secundaria thuộc họ ong đùi to

Chalcididae kí sinh (CABI, 2007) Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), phun các loại thuốc sâu thông thường, luân phiên các loại thuốc khi thấy mật số cao (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Diền, 2007)

2005)

 Đặc điểm hình thái

Ấu trùng Mimegralla coeruleifrons có 3 tuổi, thời gian ấu trùng kéo dài từ

13–25 ngày Giai đoạn nhộng kéo dài 5-15 ngày, trưởng thành 7-24 ngày, hoàn tất một vòng đời mất 38-62 ngày Một con cái đẻ 76-150 trứng trong đất, trứng nở sau 2-5 ngày Tỷ số giới tính là 1: 1 (Ghorpade và ctv., 1988)

 Triệu chứng

Dòi đục vào củ mở đường cho nấm và vi khuẩn xâm nhiễm gây thối củ làm cho cây héo và chết Cũng có báo cáo cho thấy, dòi đẻ trứng ở các củ bị thối do vi khuẩn vì thế dòi không phải là dịch hại nghiêm trọng trên gừng (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

 Biện pháp quản lý

Theo Koya và Banerjee (1981), báo cáo rằng aldicarb, carbofuran, và methyl

parathion có hiệu quả trong việc giảm sự gây hại do Mimegralla coeruleifrons trên

Trang 38

gừng (trích dẫn bởi Ravindran và Nirmal Babu, 2005) Theo Garg (2001), đề nghị

xử lý củ giống với chlorpyriphos trước khi gieo và phun hóa chất này 1 tháng sau

khi nảy mầm quản lý được dòi đục củ Calobata indica gây hại (trích dẫn bởi

Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Ngâm củ giống với Chlorpyriphos 20 EC và tưới gốc hỗn hợp: 50kg DAP/hecta pha trong dung dịch Chlorpyriphos 20 EC có hiệu quả trong trị dòi (Sontakke và Roul, 2007)

 Đặc điểm hình thái

Rệp cái trưởng thành có cơ thể nhỏ, tròn, đường kính khoảng 1,5mm, màu nâu sáng đến màu xám Con cái đẻ trứng và sinh sản hữu tính, con đực nhỏ và dài hơn con cái Một con cái đẻ khoảng 100 trứng và hoàn tất một vòng đời khoảng 30 ngày (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

 Tập quán và cách gây hại

Theo Ravindran và Nirmal Babu (2005), rệp tấn công củ ở giai đoạn sau của cây, nếu gây hại nặng cây bị héo và khô trên đồng Trong tồn trữ, rệp tấn công củ và mầm làm củ và mầm teo lại, ảnh hưởng xấu đến sự nẩy mầm của củ Rệp gây hại làm giảm trọng lượng củ 14% và 22,5% sau khi lưu trữ 128 và 175 ngày

 Biện pháp quản lý

Trong tự nhiên rệp dính bị các loài thiên địch như các loài ong thuộc họ

Cocobius sp., Encyrtidae sp., nhện, bọ cánh cứng, kiến tấn công làm giảm đáng kể

mật số Ngâm củ giống trong dung dịch quinalphos 0,1% trong 5 phút sau khi thu hoạch và trước khi trồng có hiệu quả trong việc kiểm soát rệp gây hại củ gừng, ngâm củ trong quinalphos 0,025% hoặc fenthion 0,025% trong 30 phút cũng có hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự gây hại (Ravindran và Nirmal Babu, 2005)

Trang 39

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN

2.1.1 Thời gian và địa điểm

- Thời gian: vụ trồng gừng năm 2010 và vụ trồng gừng năm 2011

- Địa điểm: Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ và ruộng trồng gừng ở Chợ Mới – An Giang 2.1.2 Vật liệu và thiết bị

- Sổ ghi chép số liệu

- Phiếu phỏng vấn nông dân in sẵn

- Dụng cụ thu thập mẫu: bọc, dao, cồn, viết…

- Tủ lạnh, tủ cấy vi sinh, tủ thanh trùng khô - ướt, máy lắc ngang,

- Kính hiển vi, micropipette, đĩa petri, ống nghiệm,

- Các môi trường sử dụng trong thí nghiệm (Atlas, 2010):

+ Môi trường King’s B

Trang 40

2.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây gừng (vụ trồng gừng 2010)

* Điều tra nông dân

Chọn ruộng điều tra: chọn những ruộng trồng gừng có diện tích khoảng 1.000

m2 (30 ruộng) thuộc xã Kiến An huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

* Cách điều tra và thu mẫu

Dùng phiếu điều tra đã được in sẵn (phụ chương) để phỏng vấn trực tiếp nông dân tại chỗ và sau đó quan sát sâu, bệnh hại chính trên ruộng trồng gừng của nông dân Các nội dung phỏng vấn nhấn mạnh: (1) thông tin nông hộ và ruộng canh tác gừng; (2) kỹ thuật canh tác gừng; (3) tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trị; (4) hiệu quả kinh tế từ canh tác gừng

Ghi nhận tỉ lệ (%) thiệt hại do sâu, bệnh trên ruộng gừng Đối với bệnh hại do

vi khuẩn Ralstonia solanacearum thì tiến hành chuẩn đoán nhanh ngoài đồng bằng

cách cắt củ và quan sát dịch vi khuẩn tuôn; đối với các mẫu bệnh lạ thì tiến hành thu mẫu bệnh, quấn giấy báo mẫu để hút ẩm rồi cho vào bọc nylon riêng, ghi ký hiệu (=

ký hiệu phiếu điều tra ở phụ chương) Mẫu được bảo quản ở 2-50C

Ngày đăng: 08/04/2018, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm