TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BÙI THANH TÀI ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH HÌNH SÂU ĐỤC TRÁI Citripestis Sagittiferella GÂY HẠI TRÊN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BÙI THANH TÀI
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
TÌNH HÌNH SÂU ĐỤC TRÁI (Citripestis Sagittiferella) GÂY HẠI
TRÊN CÂY CÓ MÚI TẠI TỈNH HẬU GIANG
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
TÌNH HÌNH SÂU ĐỤC TRÁI (Citripestis Sagittiferella) GÂY HẠI
TRÊN CÂY CÓ MÚI TẠI TỈNH HẬU GIANG
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3083880
Lớp: BẢO VỆ THỰC VẬT K34
Cần Thơ, 2012
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
TÌNH HÌNH SÂU ĐỤC TRÁI (Citripestis Sagittiferella) GÂY HẠI
TRÊN CÂY CÓ MÚI TẠI TỈNH HẬU GIANG
Do sinh viên Bùi Thanh Tài thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội đồng chấm Luận văn Tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
ThS Lăng Cảnh Phú
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 4KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư
ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
TÌNH HÌNH SÂU ĐỤC TRÁI (Citripestis Sagittiferella) GÂY HẠI
TRÊN CÂY CÓ MÚI TẠI TỈNH HẬU GIANG
Do sinh viên Bùi Thanh Tài thực hiện bảo vệ trước Hội đồng ngày….tháng
……năm 2012
Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức ………
Ý kiến Hội đồng ………
………
………
………
Duyệt của Ban Chủ nhiệm Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012
Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng Chủ tịch Hội đồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn (ký tên)
Bùi Thanh Tài
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng Cha Mẹ!
Cha Mẹ đã chăm lo, tận tình giúp đỡ, động viên về tinh thần lẫn vật chất cho con trong suốt những năm qua Sự yêu thương, lo lắng của Cha Mẹ luôn là động lực lớn nhất giúp con vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống Con mãi ghi ơn!
Đặc biệt biết ơn!
Tập thể lớp Bảo vệ Thực vật K34 đặc biệt là bạn Văn Dững, Cô Băng, Phước Thừa Các em lớp Bảo vệ Thực vật K35 và các anh chị lớp Bảo vệ Thực vật K33 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp Xin cảm
ơn sự hỗ trợ và động viên của mọi người
Cuối cùng em xin gửi lời chúc sức khỏe đến quý thầy cô của trường Đại học Cần Thơ và quý thầy cô khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng Xin gửi lời chúc thân ái và thành đạt trong tương lai đến tất cả các bạn của tôi
BÙI THANH TÀI
Trang 83.4 Mối liên quan giữa cây trồng trong vườn và tình hình sâu
đục trái tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, 2012
19
3.5 Mối liên quan giữa thời gian bón phân và tình hình sâu đục
trái trên vườn tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang,
2012
20
3.6 Tỷ lệ (%) loại phân được sử dụng khi cây nuôi trái ở huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, 2012
21
3.7 Tỷ lệ (%) hoạt chất thuốc trừ sâu nông hộ sử dụng trước
khi có dịch sâu đục trái tại huyên Châu Thành, tỉnh hậu
Giang, 2012
21
3.8 Mối liên quan giữa cách quản lý sâu hại của nông hộ và
tình hình sâu đục trái tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu
Giang, 2012
22
Trang 93.5 Triệu chứng gây hại của sâu đục trái trên Bưởi Năm Roi 24 3.6 Triệu chứng gây hại của sâu đục trái trên Cam Sành 24
3.8 Sâu đục trái gây hại từ ½ trái trở xuống 25
3.9 Ấu trùng mới nở của sâu đục trái. (A) Trứng mới nở; (B) Sâu
Trang 10BÙI THANH TÀI, 2012 “Điều tra hiện trạng canh tác có liên quan đến tình
hình sâu đục trái (citripestis sagittiferella) gây hại trên cây có múi tại tỉnh Hậu
Giang” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo vệ Thực vật, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
Người hướng dẫn khoa học: ThS Lăng Cảnh Phú
TÓM LƯỢC
Đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác có liên quan đến tình hình sâu đục
trái (citripestis sagittiferella) gây hại trên cây có múi tại tỉnh Hậu Giang” được
thực hiện tại tỉnh Hậu Giang từ tháng 2/2012 đến tháng 4/2012 nhằm bước đầu tìm hiểu một số biện pháp canh tác có liên quan đến sự bộc phát sâu đục trái này và triệu chứng gây hại ngoài đồng để đưa ra biện pháp quản lý kịp thời
Quá trình điều tra được thực hiện ngẫu nhiên 81 vườn trồng Bưởi Năm Roi, Cam Sành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang Việc phỏng vấn được thực hiện trực tiếp với nông dân về các kỹ thuật canh tác có liên quan, đồng thời tiến hành khảo sát ghi nhận các đặc điểm gây hại trên các vườn bị sâu đục trái tấn công đạt kết quả như sau:
- Vườn trồng xen canh bưởi năm roi và cam sành, vườn đa canh (bưởi năm roi, cam, mận, mít, xoài ) bị sâu đục trái tấn công nhiều; vườn có thời gian bón phân từ 2-3 tháng/lần bị sâu đục trái gây hại phổ biến và vườn phun ngừa sâu đục
vỏ trái ở giai đoạn một tháng đầu khi đậu trái bị sâu đục trái gây hại nặng, vườn cho trái quanh năm với các giai đoạn trái khác nhau tạo điều kiện thuận lợi cho sâu đục trái phát triển
- Vườn chuyên canh, vườn phun thuốc định kỳ 10-20 ngày/lần bị sâu đục trái gây hại thấp
- Sâu non đục vào bên trong trái tạo thành một đường đục (đường đục lớn dần theo sự phát triển của sâu), sâu đục vỏ trái thải phân ra bên ngoài lổ đục kết hợp với mủ trái làm cho trái rất dơ và làm trái rụng rất nhiều Sâu tấn công trái từ giai đoạn khoảng 1 tháng tuổi (đường kính 3-5cm) đến khi trái chín
- Phần lớn sâu gây hại từ ½ trái trở xuống, mỗi trái trung bình có 3-5 ấu trùng Ấu trùng mới nở có thể tấn vào bên trong trái Trứng có dạng hình tròn
Trang 11phẳng, dẹp, màu trắng trong, trứng được đẻ thành từng cụm từ 3-18 trứng, một số ít
đẻ rãi rác trên mặt trái
Trang 121.1 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI CÂY CÓ MÚI 2
1.1.2 Phân loại
2
1.1.2.2 Cam sành Citrus nobilis var typica Hassk
Trang 131.4.2 Rầy chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayana)
9
1.4.5 Bọ xít xanh (Rhynchocoris humeralis Thunberg) 11 1.5 SÂU ĐỤC TRÁI CAM QUÝT (Citripestis Sagittierella) 12
1.5.2 Sâu đục trái (Citripestis Sagittierella) 13
2.2.1.1 Điều tra phỏng vấn trực tiếp theo phiếu điều tra đã được
2.2.1.2 Mô tả một số đặc điểm gây hại ngoài đồng
15
3.1 HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ MỘT SỐ KỸ THUẬT CANH TÁC
Trang 143.1.2.4 Giai đoạn trái trong vườn 23 3.2 TRIỆU CHỨNG GÂY HẠI NGOÀI ĐỒNG CỦA SÂU ĐỤC TRÁI 23
4.1.1 Nguyên nhân gây bùng phát dịch sâu đục trái 26
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Do có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, nguồn giống phong phú, sản phẩm đa dạng, dễ tiêu thụ, nông dân có nhiều kinh nghiệm tốt trong canh tác… nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nên ngành trồng cây ăn trái ở nước ta có khả năng phát triển rất lớn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
Trong các loại cây ăn trái, cây có múi là loại phổ biến nhất, có giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng cao Trong thành phần trái có chứa 6-12% đường và nhiều loại Vitamin, provitamin A, E Đặc biệt là vitamin C từ 40 - 90 mg/100g tươi Các acid hữu cơ từ 0,4 - 1,2%, có nhiều loại acid có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm (Trần Đăng Khoa, 2009)
Trái cam quýt được sử dụng rộng rãi vì có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nhất là vitamin C Vị chua nhẹ và hơi đắng (bưởi) giúp dễ tiêu hóa
và tuần hoàn máu Vỏ trái giàu protein được sử dụng làm xu xoa, mứt kẹo, làm thuốc nam hay trích lấy tinh dầu Trái được chế biến thành nhiều loại sản phẩm như nước giải khát, xi rô, mứt, rượu bổ…(Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003) Tuy có thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao nhưng việc canh tác cây
có múi cũng rất khó khăn do các loài côn trùng gây hại Bên cạnh các loài côn trùng gây hại thường gặp như rầy chổng cánh, rầy mềm, sâu đục vỏ trái,… hiện nay, có một loài sâu mới đang gây hại rất nghiêm trọng trên các vườn cây có múi đặc biệt là
trên các vườn trồng bưởi Loài sâu này thuộc họ Pyralidae, bộ Lepidoptera Sâu lây
lan nhanh trong dịp tết Nguyên đán vừa qua, gây hại rất nghiêm trọng trên vườn cây
có múi ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đặc biệt là tỉnh Hậu Giang Chúng đục vào bên trong trái làm trái rụng dẫn đến thất thu năng suất rất lớn, có vườn bị thiệt hại năng suất lên đến 70%, đến nay vẫn chưa rõ nguyên nhân bùng phát dịch sâu đục trái này
Do đó đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác có liên quan đến tình hình sâu đục trái (citripestis sagittiferella) gây hại trên cây có múi tại tỉnh Hậu Giang”
được thực hiện nhằm bước đầu tìm hiểu một số biện pháp canh tác có liên quan đến
sự bộc phát sâu đục trái này và triệu chứng gây hại ngoài đồng để đưa ra biện pháp quản lý kịp thời
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI CÂY CÓ MÚI
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố
Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt trồng hiện nay đều có nguồn gốc
từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam châu Á (Trần Đăng Khoa, 2009) Tanaka (1954) khi nghiên cứu các loài cam quýt ở phương đông đã đề nghị một số giả thuyết về sự phân chia ranh giới phát sinh của nó ở Đông Nam Châu Á, trong đó
sự phát sinh của một vài loài cam quýt cũng như những loài thân cận được phân bố
từ biên giới đông bắc của Ấn Độ qua Miến Điện và một vùng phía nam của đảo Hải Nam Những loài này bao gồm chanh tây, chanh ta, thanh yên, bưởi, cam ngọt, cam
chua (Trích dẫn Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
Hiện nay người ta vẫn còn tranh luận về nguồn gốc cây cam quýt vì chúng có rất nhiều chủng loại và phân bố rất rộng, từ xích đạo đến vĩ tuyến 430 Các loài thậm chí các chi, lai hữu tính với nhau một cách dễ dàng, luôn sản sinh ra các loài mới và có những loài người ta không xác định được bố mẹ, thậm chí ngay cả giống cây trồng phổ biến ở miền Nam cũng như miền Bắc Việt Nam, các chuyên gia gọi
là quýt và cũng không ai biết nó được lai giữa các giống nào (Vũ Công Hậu, 1996) Cây cam quýt được trồng khắp nơi trên thế giới trong vùng khí hậu nhiệt đới
và Á nhiệt đới Những vùng trồng phân bố từ 350 Nam và Bắc, những vùng thương mại chính là Á nhiệt đới tại vĩ độ cao hơn 200 Nam hay Bắc của xích đạo Có khoảng 49 nước sản xuất cam quýt, có diện tích trồng khoảng 2,8 triệu ha (Trần Thượng Tuấn, 1992)
1.1.2 Phân loại
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003) cây cam quýt có vị trí phân loại như sau:
Họ: Rutaceae (có khoảng 130 giống)
Họ phụ: Aurantioideae (có khoảng 33 giống)
Trang 17Tộc: Citreae (khoảng 28 giống)
Tộc phụ: Citrinae
Hầu hết việc phân loại các giống trong họ phụ Aurantioideae hiện nay là do W.T Swingle Tộc phụ Citrinae có khoảng 13 giống, trong đó có 6 giống quan trọng đó là Citrus, Poncirus, Fortunella, Eremocitrus, Microcitrus và Clymenia
Đặc điểm chung của 6 giống này là cho trái có con tép (phần ăn được trong múi) với cuống thon nhỏ, mọng nước Số nhị đực nhiều bằng hay hơn bốn lần số cánh hoa, đây cũng là một trong những đặc điểm xác định các giống trồng, các giống hoang thường có số nhị đực ít hơn hay chỉ gấp đôi cánh hoa và con tép không phát triển (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
Giống Citrus được chia thành hai nhóm nhỏ là Eucitrus và Papeda Papeda
có 6 loài, quan trọng nhất là C ichangensis được sử dụng làm gốc ghép và lai tạo
giống mới (Trần Đăng Khoa, 2009)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003) nhóm Eucitrus có loài
được trồng phổ biến hiện nay ở các nước như:
Citrus medica L.: Thanh yên
Citrus limon (L.) Burm.f.: Chanh tây
Citrus aurantifolia (Christm.) Swing.: Chanh ta
Citrus sinensis (L.) Osbeck: Cam ngo
Citrus nobilis var typica Hassk.: Cam sành
Citrus grandis (L.) Osbeck: Bưởi
Citrus paradisi Macf.: Bưởi chùm, bưởi vỏ đính
Citrus reticulata Blanco: Quýt
Citrus nobilis var.microcarpa Hassk.: Quýt xiêm
Citrus aurantium L.: Cam chua, cam đắng
Citrus microcarpa (Hassk.) Bunge: Hạnh, tắc
Trang 181.1.2.1 Bưởi Citrus grandis (L.) Osbeck
Là giống trồng quan trọng ở Đông Nam Á châu Cây cao khoảng 5-15m, thường có gai lớn (nhất là trồng hột), nhánh non có lông tơ, lá lớn, có cánh lá to, phiến lá hình xoan tới bầu dục dạng quả tim, dài 5-20 cm, rộng 2-12 cm, mặt dưới gân chính thường có lông Hoa lớn, mọc đơn hay chùm, cánh hoa màu trắng kem, 20-25 nhị đực, bầu noãn có 11-16 ngăn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
Trái lớn, hình cầu dạng quả lê, đường kính 10-40 cm có màu xanh vàng nhạt khi chín, vỏ dày, con tép lớn màu vàng nhạt hay hồng, ngọt lạt Trái nặng trung bình
từ 1-2 kg Hột lớn, đơn phôi Bưởi chịu được nhiệt độ nóng tốt và cả nhiệt độ thấp,
có khả năng phát triển ở vùng đất thấp khô khan (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
1.1.2.2 Cam sành Citrus nobilis var typica Hassk
Là một giống lai giữa cam và quýt, có nguồn gốc ở miền Nam Việt Nam (quýt king), cam sành được trồng ở tất cả các vùng trồng cam quýt có tiếng trong nước, sản lượng ở miền Nam nhiều hơn Ở miền Bắc cam sành thường mang tên các địa phương trồng nhiều, đáng chú ý là cam sành Hàm Yên (Tuyên Quang), Bắc Quang (Hà Giang), Bố Hạ (Bắc Giang), cam sành Yên Bái (Trần Đăng Khoa, 2009)
Tán nhỏ, cao khoảng 3-5cm, nhiều cành, mọc yếu, không gai Lá có cánh nhỏ, có khi không rỏ, màu xanh thẩm, dài 7-8cm, rộng 4-4,5cm, hoa mọc đơn hay chùm, đường kính 2,5-4cm, có 4-5 cánh trắng, khoảng 20-40 nhị đực Trái tròn hơi dẹp, đường kính 7-8,2cm, cao khoảng 6-8cm Đái trái và cuống lõm xuống, vỏ dày 4-6mm xù sì, màu xanh vàng hay vàng đỏ khi chín Bầu noãn có 10-14 ngăn, dễ lột, con tép to nhiều nước, vị ngọt hơi chua Trái nặng trung bình từ 3-4 trái/kg Hột hình tròn trứng, đa phôi, tử diệp trắng (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ THỰC VẬT
1.2.1 Rễ
Trang 19Các giống cam quýt khi trồng bằng hột thường có một rễ cái và nhiều rễ nhánh Từ rễ nhánh mọc ra các rễ lông yếu ớt Sự phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
Theo Trần Thượng Tuấn (1994) thì trong năm hoạt động của rễ có các thời
kỳ nhất định như:
- Trước lúc mọc cành xuân
- Sau khi rụng trái đợt đầu đến trước lúc mọc cành mùa hè
- Sau khi cành mùa thu đã phát triển đầy đủ
Khi rễ hoạt động mạnh, rễ lông phát triển, thân cành sẽ phát triển chậm và ngược lại Rễ cam quýt thường mọc cạn, đa số phân bố tầng đất mặt, vì vậy tầng mặt tơi xốp sẽ giúp rễ hoạt động tốt (Trần Thượng Tuấn, 1994)
1.2.2 Thân, cành
Cam quýt có dạng thân trụ hay bán bụi, trên thân cành có thể có gai, tán cây
có nhiều dạng tùy theo giống và cách tạo tỉa: hình chổi, hình cầu, hinh mâm xôi (Nguyễn Văn Kế, 2000)
Cam quýt sinh trưởng theo kiểu hợp trục Mỗi năm có 3-4 đợt lộc cành được thể hiện rõ ở những vùng có bốn mùa như Bắc Bộ: Đợt cành mùa xuân cho cành dinh dưỡng và cành quả, đợt cành mùa hè và mùa thu cho ra cành mẹ của cành quả năm tới và đợt cành mùa đông mọc ra từ những cành quả không hữu hiệu của mùa xuân (Nguyễn Văn Kế, 2000)
1.2.3 Lá
Lá cam quýt thuộc loại lá đơn gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá Phần cánh lá có kích thước thay đổi tùy theo giống Đối với các loài trồng thì bưởi có cánh lá to nhất, kế đến là cam, chanh, cam sành và quýt… Trên cùng một loài, kích thước cánh lá cũng thay đổi theo mùa Một cây cam quýt khỏe mạnh có thể có 150.000-200.000 lá (Trần Thượng Tuấn, 1994)
Trang 20Trên lá, khí khổng tập trung nhiều nhất ở mặt lưng, số lượng thay đổi tùy theo giống, trung bình từ 400-500 khí khổng/mm2, kích thước khí khổng rất nhỏ, thường mở ra vào lúc 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều Lá có chứa tinh dầu, hiện diện ở
lớp mô dậu Ngoại trừ loài cam 3 lá (Poncitrus trifoliata) rụng lá theo mùa, các loài
còn lại có lá sống từ 1 năm hay lâu hơn tùy điều kiện khí hậu và chăm sóc (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
1.2.4 Hoa, quả và hạt
Hoa cam quýt có 2 loại: hoa đủ và hoa dị hình Hoa dị hình là hoa phát triển không đầy đủ cuống và cánh ngắn, hình thù khác hẳn với hoa đủ và thường có số lượng ít, chỉ vào khoảng 10-20% tổng số hoa trên cây (Đường Hồng Dật, 2003) Đa
số hoa cam quýt thuộc loại hoa đầy đủ, mọc đơn hay chùm từ nách lá Trong điều kiện tự nhiên hoa thường mọc ra trong mùa xuân, tuy nhiên sau một đợt hạn kéo dài rồi gặp mưa hay tưới nước thì cây cũng ra hoa rộ như thường thấy ở đầu mùa mưa hay trong kỹ thuật siết nước kích thích ra hoa (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
Trái cam quýt các có dạng hình: hình cầu (cam), hình cầu dẹp (quýt
mandarin), hình quả lê (bưởi)… vỏ trái có một lớp tinh dầu (lớp flavedo) và một lớp màu trắng xốp (lớp albedo) Phần ruột chia làm nhiều múi, trong mỗi múi các
lông của nội quả bì mọng nước biến thành con tép, hình dạng và màu sắc con tép thay đổi tùy theo loài Dịch quả trong con tép chứa nhiều chất bổ dưỡng, hương vị thơm tùy loài và tùy chất enzym (Nguyễn Văn Kế, 2000)
Hình dạng, kích thước, trọng lượng, số lượng hạt trong trái và mỗi múi thay đổi tùy theo giống Số lượng hạt trong mỗi múi có từ 0-6 hạt Ngoại trừ bưởi có hạt đơn phôi, hầu hết các loài cam quýt đều có hột đa phôi (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
1.3 ĐẶC TÍNH SINH THÁI CÂY CÓ MÚI
1.3.1 Nhiệt độ
Cam quýt có nguồn gốc Á nhiệt đới nên cam quýt không chịu được nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh Ở Việt Nam không có nhiệt độ quá lạnh làm chết cây nên có
Trang 21thể trồng chúng ở bất cứ nơi nào trên cả nước (Vũ Công Hậu, 1996) Cam quýt có thể sống và phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 13-380C, thích hợp nhất là từ 23-
290C Dưới 130C và trên 420C thì sự sinh trưởng ngừng lại, dưới -50C thì chết Tổng tích ôn hàng năm cần cho cam là 2.600-3.4000C, cho bưởi là 6.0000C Tổng tích ôn ảnh hưởng đến thời gian chín của trái (Trần Thượng Tuấn, 1994)
Nhiệt độ xuống dưới 250C trong vài tuần sẽ gây nên sự khởi phát mọc nhiều hoa hơn, vào các thời kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày sẽ gây cảm ứng ra hoa nhiều hơn Nhiệt độ không những ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến phẩm chất trái (Vũ Công Hậu, 1996)
1.3.2 Ánh sáng
Cam quýt không ưa ánh sáng mạnh, thích ánh sáng tán xạ có cường độ 10.000-15.000 lux tương ứng với 0,6 cal/cm2, tương ứng với ánh sáng lúc 8 giờ sáng và 4 - 5 giờ chiều ngày quang mây mùa hè Yêu cầu ánh sáng thay đổi tùy giống cam chanh cần nhiều hơn quýt, quýt cần nhiều hơn chanh Có thể tạo điều kiện ánh sáng vừa phải cho cam quýt bằng việc trồng dày hợp lý, như trồng dày trên hàng nhưng thưa giữa các hàng và có thể bố trí líp trồng theo hướng Đông - Tây để tránh bớt ánh sáng trực xạ (Trần Đăng Khoa, 2009)
1.3.3 Mưa và ẩm độ
Cam quýt rất cần nước cho các thời kỳ sinh trưởng phát triển, thời kỳ nẩy mầm, phân hóa mầm hoa, thời kỳ ra quả và quả phát triển Nhưng thừa nước rễ bị thối cây chết, nên cam quýt rất sợ úng nước Yêu cầu độ ẩm đất 60%, độ ẩm không khí thích hợp là 75 - 80%, thời kỳ hoa nở cần ẩm độ không khí thấp 70 - 75% Nhiều tác giả cho rằng lượng mưa thích hợp hàng năm cho cam là từ 1.000 - 1.400
mm và phân bố đều Quýt, chanh có yêu cầu lớn hơn từ 1.500 - 2.000 mm/năm Bưởi chịu hạn tốt nhất (Trần Đăng Khoa, 2009)
Ở vùng nhiệt đới thì nhiệt độ thấp không phải là điều kiện chính để ra hoa
mà là mưa, nước tưới Với kỹ thuật tưới tiêu đúng lúc người ta có thể cho cam quýt
ra hoa nhiều vụ trong năm Cam quýt không ưa ẩm độ không khí quá thấp, trái ngoài rìa tán thường chất lượng trái không bằng ở giữa tán do ẩm độ ở đó ổn định
Trang 22hơn Nếu ẩm độ quá cao thì tạo điều kiện cho nấm bệnh phát triển nhất là bệnh chảy nhựa thân (Vũ Công Hậu, 1996)
1.3.4 Đất
Cam quýt có thể trồng trên nhiều loại đất, đất thịt, đất phù sa, đất đồi núi, đất cát pha, đất bạc màu Vùng đất xấu phải đầu tư nhiều, thâm canh cao Đất trồng cam tốt là những đất bằng phẳng có cấu tượng tốt, nhiều mùn, thoáng khí giữ ẩm tốt, khi cần dễ thoát nước và có tầng đất dày lớn hơn 1m, có mực nước ngầm sâu hơn 0,8m Đất phù sa ven sông là đất trồng cam quýt rất tốt, nhưng phải hết sức chú ý xây dựng các mương tiêu thoát nước Độ pH thích hợp từ 5 - 8, thích hợp nhất là 5,5 -
6 Phần lớn đất trồng cam quýt ở nước ta đều có độ pH thấp từ 4 - 5 vì vậy cần chú
ý cải tạo đất và bón phân thích hợp (Trần Đăng Khoa, 2009)
1.4 SƠ LƯỢC MỘT SỐ LOÀI CÔN TRÙNG GÂY HẠI QUAN TRỌNG 1.4.1 Sơ lược về côn trùng gây hại trên cây có múi
Cam quýt bị nhiều sâu bệnh phá hoại, nhiều loài nguy hiểm vì cam quýt đã được thuần dưỡng rất lâu, là nguồn thức ăn cho nhiều loại côn trùng Khi thuần dưỡng thì cam quýt được sống trong môi trường thuận lợi hơn khi còn là cây hoang dại, số sinh vật sống trên cây cam quýt rất nhiều và phong phú về chủng loại: 12 loại nhện, 352 loại côn trùng và 186 loại tuyến trùng (Vũ Công Hậu, 1996)
Trích dẫn Lê Văn Vàng (1997) có 823 loài côn trùng và nhiều loài nhện tấn công cây cam quýt trên khắp thế giới (Ebeling, 1959) tuy nhiên chỉ có 26 loài gây hại quan trọng nhất
Theo kết quả điều tra của Viện Bảo Vệ Thực Vật (1967-1968) có 67 loài côn trùng thuộc 6 bộ gây hại trên cam quýt, trong đó bộ Homoptera có 30 loài bộ Coleoptera có 11 loài, bộ Hemiptera có 10 loài, bộ Lepidoptera có 1 loài, bộ Orthoptera có 4 loài và bộ Diptera có 1 loài
Hồ Khắc Tín (1982) cho rằng trên cam quýt có 11 loài thuộc 4 bộ trong đó
bộ Lepidoptera có 4 loài: sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella) và 3 loài sâu ăn lá gồm bướm phượng lớn (Papilio demoleus) Bộ Hemiptera có một loài là bọ xít xanh (Rhynchocoris poseidon Kirkaldy); Bộ Homoptera có 2 loài rệp vảy ốc
Trang 23(Chrysomphalus Fla) và rệp sáp nâu mềm (Pulvinaria aurantii); Bộ Coleoptera có 3 loài thuộc họ xén tóc (Cerambycidae); Bộ Diptera có 1 loài Dacus dorsalis
Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng 1967-1968 (NXBHN, 1976) và năm 1977-1978 (NXBNN, 1999) trên cây cam quýt ở nước ta phát hiện được hơn 100 loài sâu hại (Trích dẫn Đinh Công Huỳnh, 2008)
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long theo kết quả điều tra cây ăn trái (1991-1992) thì sâu hại cam quýt tại ba tỉnh Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long có tất cả 11 loài nhưng chỉ có 4 loài gây hại quan trọng là sâu vẽ bùa, sâu đục cành, sâu ăn lá và ngài đục trái
1.4.2 Rầy chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayana)
Đây là loại rầy rất nhỏ, có cánh dài, màu nâu sậm với vết trắng lớn chạy từ đầu đến cuối cánh sau, lúc đậu cuối cánh nhô cao hơn đầu Chúng ít khi bay hoặc chỉ bay gần, thường thấy đậu cấm trên đọt non chưa nở lá Chúng gây hại làm chồi ngọn bị chết và các lá phía dưới bị vàng và quăn queo Quan trọng hơn nữa chúng là tác nhân truyền bệnh vi khuẩn gây bệnh vàng lá gân xanh cho cây cam quýt (Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng, 1997)
Kiến vàng và nhiều loài thiên địch như bọ rùa, nhện… thường tấn công loại rầy này Tuy nhiên, nếu mật số rầy cao thì có thể phun một hoặc hai lần bằng các loại thuốc trừ rầy trên các đọt non Nên điều khiển cho cây ra lá non và ra hoa đồng loạt Đối với các vườn mới trồng với cây con ra lá non thường xuyên thì nên theo dõi kỹ để trừ rầy khi mật số còn thấp, ít có khả năng truyền bệnh vàng lá gân xanh (Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thành Hoàng, 1997)
1.4.3 Rầy mềm
Có kích thước rất nhỏ, thường tấn công phần non của cây để hút nhựa Một
số có màu đen bóng, nhưng đa số có màu xanh lá cây và không có cánh Ở vùng nhiệt đới rầy thường là con cái, đẻ con, khi còn nhỏ vẫn sinh sản được (sinh sản đơn tính) do đó mật số tăng rất nhanh Rầy tiết ra mật hấp dẫn kiến, do kiến mang đi lan truyền và bảo vệ Mật do rầy tiết ra còn là môi trường tốt cho nấm bồ hóng phát triển, làm giảm quang hợp ở lá Có hai loài phổ biến tấn công trên cam quýt là
Trang 24Toxoptera citricidus da màu xanh và Toxoptera aurantii màu đen (Nguyễn Bảo Vệ
và Lê Thanh Phong, 2003)
Quan trọng chúng còn tác nhân truyền bệnh Tristeza trên cam quýt, bệnh do
virus (CTV - Citrus Tristeza Virus) gây ra và do rầy mềm làm tác nhân lan truyền chủ yếu lá 3 loại rầy: Toxoptera citricidus; T aurantii; Aphis gossypii (Dickson et
al., 1951) Trong đó, loài Toxoptera citricidus là vectơ truyền virus CTV hiệu quả nhất (Mooney và Harty, 1962)
Rầy mềm Toxoptera citricidus thành trùng có 2 dạng có cánh cơ thể nâu đến
đỏ đen, nhưng ngực đậm hơn và dạng không cánh màu nâu đỏ, lớn hơn dạng có cánh Thường đẻ con, vòng đời khoảng 3 tuần nếu điều kiện thuận lợi có thể có 12 thế hệ trong một năm ( Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
Khi chích hút cây bệnh, rầy chỉ cần khoảng một phút để chích hút virus vào
cơ thể và chỉ cần khoảng ba phút là có thể truyền bệnh sang cho cây mạnh Tuy nhiên virus này không có khả năng lưu tồn lâu trong cơ thể rầy và có thể mất khả năng truyền bệnh sau 24 giờ ( Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
1.4.4 Sâu đục vỏ trái (Prays citri Milliire)
Trích dẫn Đinh Công Huỳnh (2008) thì Sâu đục vỏ trái thuộc họ
Yponomeutidae, bộ Lepidoptera Có tất cả 3 loài Prays: Prays citri (Milliire), Prays nephelomima Meyrick, Prays oleae Benard Ngoài ra sâu đục vỏ trái còn có tên khoa học khác như: Acrolepida citri Milliire (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002); Prays endolemmae Moore, Prays endocarpa Meyric (Nguyễn Văn
Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004; Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thành Hoàng, 1997) Sâu tấn công trên trái làm trái bị biến dạng với những chổ sưng phòng, lồi lên trên vỏ, thường gặp ở những loại cam quýt vỏ dày như bưởi Bướm có kích thước nhỏ, màu trắng với sải cánh rộng khoảng 8mm Sâu non màu xanh nhạt, đục lòn trong vỏ trái tạo những vết phòng lên Trứng được đẻ vào ban đêm trên vỏ trái, sâu non nở ra thì đào hầm ăn mô bên trong vỏ Khi phát triển đầy đủ thì rời khỏi trái Trái có thể bị rụng nhiều (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003) Sâu đục
vỏ trái tấn công trên cam sành, cam mật, chanh sảnh và bưởi (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Trang 25Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2002) nên theo dõi phát hiện triệu chứng sâu mới gây hại trên trái khi trái mới hình thành, thu gom trái bị nhiễm chôn xuống đất
để diệt sâu còn hiện diện trong trái Theo dõi sự hiện diện của nhộng trên lá, khi thấy nhộng xuất hiện rộ thì 5-7 ngày sau có thể xử lý thuốc để ngăn chặn sự bộc phát của thế hệ kế tiếp (Trích dẫn Đinh Công Huỳnh, 2008)
Pheromone đã được sử dụng để dự tính, dự báo Prays citri rất có hiệu quả
Nên bẻ bỏ các trái non còn sót lại vào cuối vụ để tránh sự lây lan của sâu trong mùa
kế tiếp (Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thành Hoàng, 1997)
1.4.5 Bọ xít xanh (Rhynchocoris humeralis Thunberg)
Xuất hiện khắp nơi, tấn công trích hút trái của cam, quýt, chanh, bưởi vào giai đoạn trái còn non, thường gây hại nặng cho các vườn đã già, có nhiều bóng mát Có thể nhận biết có bọ xít khi đi vào vườn nhờ mùi hôi đặc biệt của chúng tiết
ra (khi bị động) do hai tuyến chất hôi nằm ở phía dưới ngực nơi đôi chân giữa (Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thành Hoàng, 1997)
Trứng hình bầu dục, màu trắng, đẻ từng trứng trên bề mặt lá thành từng cụm
có từ 10-14 trứng Ấu trùng màu xanh da cam, đen và nâu, ở một số loài có 5 gạch đen ngang bụng Thành trùng màu xanh da chanh nhạt, dài 2,5-3cm, có gai nhọn ở vai Bọ xít chích hút dịch trái, vết chích thường nhỏ làm trái rụng nhiều (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003)
Trong điều kiện tự nhiên, trứng của bọ xít xanh thường bị nhiều loài ong ký
sinh như Trissolcus latisulcus, Anastatus spp Nhiều công trình nghiên cứu tại Trung Quốc và Việt Nam cũng đã ghi nhận kiến vàng Oecophylla smaragdina có
khả năng khống chế sự gây hại của bọ xít xanh một cách rất có hiệu quả Vì vậy, có thể nuôi kiến vàng trong các vườn cam quýt.Dùng vợt bắt bọ xít xanh vào lúc sáng sớm hay chiều mát, loại bỏ ổ trứng Do bọ xít chỉ gây hại chủ yếu trong những vườn
um tùm, rậm rạp nên biện pháp xén tỉa cành, dọn dẹp vườn cho thông thoáng rất cần thiết để hạn chế sự gây hại Hàng tuần, vào giai đoạn vừa tượng trái cho đến một tháng sau đó nếu mật số bọ xít xanh đạt ngưỡng 1 con/cây, sử dụng thuốc hóa học
để phòng trị, có thể phun thuốc từ 1-2 lần Vườn có bọ xít rất dễ phát hiện do bọ xít tiết ra một mùi rất đặc trưng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
Trang 261.5 SÂU ĐỤC TRÁI CAM QUÝT (Citripestis Sagittiferella)
1.5.1 Tình hình dịch hại
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc cho biết: Ở nước ta, trước đây loài sâu này đã được ghi nhận xuất hiện lẻ tẻ trên một số vườn bưởi thuộc tỉnh Khánh Hòa và hoàn toàn không ghi nhận sự hiện diện của loài này tại vùng ĐBSCL Tuy nhiên, đến giữa tháng 10/2011, sâu đục trái đã được phát hiện đồng loạt trên nhiều vườn tại nhiều tỉnh ĐBSCL và ngày càng bùng phát mạnh Chỉ tính riêng ở huyện Châu Thành (Hậu Giang), trong tổng số 1.653 ha bưởi thì có đến 1.600 ha bị sâu đục trái tấn công, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng trái bưởi; trong đó 400 ha bị thiệt hại
từ 40- 60% Không riêng gì ở nước ta, loài sâu gây hại đã từng xuất hiện trên nhiều vùng cây ăn quả ở Châu Á như Indonesia, Philippines, Thái Lan và Malaysia Tại Malaysia, sâu đã được ghi nhận như là loài gây hại chính yếu trên các loại cây có múi (Trích dẫn báo Nông Nghiệp Việt Nam)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh thì đây là lần đầu tiên đối tượng này xuất hiện trên cây có múi ở Việt Nam Đây là một đối tượng rất nguy hiểm, bởi vì sâu này tấn công rất sớm từ khi trái bằng trái chanh cho tới khi thu hoạch, sâu này tấn công vào
vỏ trái tới trong thịt trái, trên đường đục trái của nó sẽ tạo cơ hội cho nấm bệnh và con ruồi đục trái tấn công thêm làm cho những trái này bị rụng hàng loạt Do tấn công sớm và kéo dài từ lúc 1 tháng tuổi cho tới khi thu hoạch nên thiệt hại do đối tượng này gây ra rất nghiêm trọng (Trích dẫn Báo Đài Truyền Hình Sóc Trăng) Theo Báo Nông Nghiệp Việt Nam cho rằng tập quán canh tác hiện nay của nhà vườn là cho bưởi có trái gần như quanh năm, cùng một thời điểm trong vườn có nhiều lứa trái từ mới đậu trái đến thu hoạch Do vậy, sâu luôn luôn có đầy đủ thức
ăn, và lưu tồn để nhân nhanh mật số và lây lan Trong một vườn có nhiều lứa sâu cùng xuất hiện, có sự hiện diện của đủ 4 pha phát dục của sâu: bướm, trứng, sâu và nhộng
Theo Vũ Bá Quan cho rằng đối với nhộng trong đất thì nên vệ sinh vườn thường xuyên để hạn chế sâu có nơi làm nhộng; nếu có điều kiện thì chúng ta sẽ rãi thuốc lưu dẫn trong vườn, rồi tưới ẩm để thuốc lan ra thì cũng có thể giết được nhộng, ngoài ra nếu có điều kiện cho ngập nước khoảng 12 tiếng đồng hồ thì cũng
Trang 27hạn chế được nhộng; còn đối với sâu non quan trọng nhất là phải xác định được thời điểm chuẩn bị nở hoặc mới nở thì việc phun thuốc sẽ đạt hiệu quả cao nhất, phun đồng loạt tại nhiều khu vực để tránh đi sự tái nhiễm thu lượm những trái bị rụng và tiêu hủy đúng cách (Trích dẫn Báo Đài Truyền Hình Sóc Trăng)
1.5.2 Sâu đục trái (Citripestis Sagittiferella)
Bướm thường đẻ trứng rải rác trên vỏ trái từ khi trái được khoảng 1-1,5 tháng tuổi (đường kính trái từ 2-3 cm trở lên) đến khi thu hoạch Vừa nở ấu trùng đục ngay vào vỏ trái, ăn vỏ trái và ăn dần vào bên trong múi, nhất là trên trái bưởi Lớn đủ sức ấu trùng chui ra khỏi trái và buông mình xuống đất làm nhộng, sâu nhả
tơ kết các hạt đất tơi mịn và mảnh vụn hữu cơ làm thành kén để kén bảo vệ Do quá trình đục vào bên trong gây vết thương cho trái nên nấm bệnh, ruồi/giòi xâm nhập vào đường đục làm cho trái bị hư và rụng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)
Sử dụng riêng lẻ và luân phiên một trong các loại thuốc nhóm Pyrethroid (Cúc tổng hợp) như Cypermethrin, Permethrin, Alpha-cypermethrin, Deltamethrin
Trang 28để phun; phối hợp thuốc thuộc nhóm Pyrethroid với nhóm Lân hữu cơ hoặc với dầu khoáng để tăng tính hiệu quả và hạn chế tính kháng thuốc của sâu Tuy nhiên, về lâu dài cần có các thí nghiệm để tìm ra loại thuốc chuyên trị đối với sâu và ít độc đối với thiên địch và môi trường.Trước khi phun thuốc, nên thu gom tất cả các trái
bị đục (mà sâu đã trốn sâu ở trong trái) dù trái đã rụng hay còn trên cây, đem hủy bằng cách đào hố chôn hoặc cho vào bao nylon cột kín lại để diệt sâu còn ở bên trong Phòng trừ bằng các biện pháp sinh học như sử dụng thiên địch, pheromone, nấm xanh (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)