Cần Thơ, 2012 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN PHƯƠNG THÁI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ CHẢY NHỰA THÂN Didymella bryoniae TRÊN DƯA HẤU B
Trang 1Cần Thơ, 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN PHƯƠNG THÁI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ
CHẢY NHỰA THÂN (Didymella bryoniae ) TRÊN DƯA HẤU
BẰNG VI KHUẨN VÙNG RỄ TRONG ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG Ở QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỤ
ĐÔNG XUÂN (2010 – 2011)
Luận văn tốt nghiệp Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Trang 2ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ CHẢY
NHỰA THÂN (Didymella bryoniae ) TRÊN DƯA HẤU BẰNG
VI KHUẨN VÙNG RỄ TRONG ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG Ở QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN
THƠ VỤ ĐÔNG XUÂN (2010 – 2011)
MSSV: 3083882 Lớp: BVTV K34
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật với đề tài
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ CHẢY
NHỰA THÂN (Didymella bryoniae ) TRÊN DƯA HẤU BẰNG
VI KHUẨN VÙNG RỄ TRONG ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG Ở QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN
THƠ VỤ ĐÔNG XUÂN (2010 – 2011)
Do sinh viên Nguyễn Phương Thái thực hiện
Kính trình lên hội đồng luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày……tháng…… năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Nga
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo
Vệ Thực vật với tên:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ CHẢY NHỰA
THÂN (Didymella bryoniae )TRÊN DƯA HẤU BẰNG VI KHUẨN
VÙNG RỄ TRONG ĐIỀU KIỆN NGOÀI ĐỒNG Ở QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỤ ĐÔNG XUÂN (2010 – 2011)
Do sinh viên Nguyễn Phương Thái thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp hội đồng đánh giá ở mức………
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2012 Chủ tịch Hội Đồng
Trang 5LƯỢC SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Phương Thái
Ngày sinh: 10 – 10 – 1990
Nơi sinh: Đồng Tháp
Họ và tên cha: Nguyễn Thanh Phương
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Hương
Quê quán: 517/TM, tổ 10, ấp Hưng Lợi, xã Thanh Mỹ, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
Quá trình học tập:
1996 – 2001: Trường Tiểu Học Thanh Mỹ I
2001 – 2005: Trường THCS Nguyễn Văn Tre
2005 – 2008: Trường THPT Tháp Mười
2008 – 2012: Trường Đại Học Cần Thơ, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khóa 34 khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 6LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Cha mẹ suốt đời tận tụy vì con
Chân thành biết ơn!
Chị Đoàn Thị Kiều Tiên cùng các anh chị trong bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tạo điều kiện cho tôi học hỏi và hoàn thành tốt thí nghiệm
Các bạn cùng lớp Bảo Vệ Thực Vật khóa 34 đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian làm thí nghiệm
Trân trọng!
Nguyễn Phương Thái
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả luận văn
Trang 8MỤC LỤC
LƯỢC SỬ CÁ NHÂN iii
LỜI CẢM TẠ iv
LỜI CAM ĐOAN v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
TÓM LƯỢC x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY DƯA HẤU 3
1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng 3
1.1.2 Tình hình sản xuất dưa hấu ở nước ta 3
1.1.3 Đặc điểm thực vật học 3
1.1.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 4
1.2 MỘT SỐ BỆNH HẠI QUAN TRỌNG TRÊN DƯA HẤU 4
1.2.1 Bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm Didymella bryoniae 4
1.2.2 Bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporum f.sp niveum 6
1.2.3 Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum lagenarium 8
1.2.4 Bệnh héo dây thối trái do nấm Phytophthora capsici 9
1.3 PHÒNG TRỪ SINH HỌC BỆNH CÂY TRỒNG 10
1.4 VI KHUẨN VÙNG RỄ LIÊN QUAN TRONG PHÒNG TRỪ SINH HỌC BỆNH CÂY TRỒNG 11
1.5 MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA VI KHUẨN VÙNG RỄ TRONG PHÒNG TRỪ SINH HỌC BỆNH CÂY TRỒNG 12
Trang 91.6 VI KHUẨN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG THÍ NGHIỆM 14
1.7 MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ THUỐC HÓA HỌC SỬ DỤNG Ở NGHIỆM THỨC 6 15
1.7.1 Amistar 25SC 15
1.7.2 Binhnomyl 50WP 15
1.7.3 Foraxyl 35WP 15
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16
2.1 Phương tiện 16
2.1.1 Thời gian và địa điểm 16
2.1.2 Trang thiết bị và vật liệu thí nghiệm 16
2.2 Phương pháp 17
2.2.1 Mục tiêu 17
2.2.2 Nguồn vi khuẩn đối kháng 17
2.2.3 Tiến hành thí nghiệm 19
2.2.4 Ghi nhận chỉ tiêu 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 22
3.1 Tổng quát thí nghiệm 22
3.2 Hiệu quả phòng trị bệnh đốm lá chảy nhựa thân Dydimella bryoniae trên dưa hấu bằng các chủng vi khuẩn ở vụ Đông Xuân 2010-2011 23
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34 PHỤ CHƯƠNG
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
2.1 Vi khuẩn đối kháng sử dụng trong thí nghiệm 17
2.2 Thuốc hóa học sử dụng ở nghiệm thức 6 18 2.3 Lịch phun thuốc trừ bệnh của nông dân ở nghiệm thức 8 18
3.1 Tỉ lệ bệnh (%) đốm lá chảy nhựa thân trên dưa hấu do nấm D Bryoniae
của các nghiệm thức qua các thời điểm ở điều kiện ngoài đồng vụ Đông
Xuân 2010-2011 25
3.2 Hiệu quả giảm bệnh (%) bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm D.bryoniae
của các nghiệm thức qua các thời điểm ở điều kiện ngoài đồng vụ Đông
Xuân 2010-2011 27 3.3 Năng suất vụ dưa (tấn/ha) 28
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Hình Tên hình Trang
1.1 Các triệu chứng bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm Didymella bryoniae
gây ra trên cây dưa hấu 5
1.2 Bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporum f.sp niveum 6
1.3 Triệu chứng gây hại của nấm Colletotrichum lagenarium trên dưa hấu 8
1.4 Triệu chứng thối trái do nấm Phytophthora capsici trên trái 9
2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 19
3.1 Bệnh đốm lá chảy nhựa thân ở NT6 và NT7 tại thời điểm 45NSKG 31
3.2 Bệnh đốm lá chảy nhựa thân ở NT3 và NT8 tại thời điểm 45NSKG 32
Trang 12Nguyễn Phương Thái 2012 “ Đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh đốm lá chảy
nhựa thân (Didymella bryoniae) trên dưa hấu bằng vi khuẩn vùng rễ trong
điều kiện ngoài đồng ở Quận Ô Môn, Thành Phố Cần Thơ vụ Đông Xuân (2010 – 2011)” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật, Bộ môn Bảo Vệ
Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Nga
TÓM LƯỢC
Đề tài “Đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh đốm lá chảy nhựa thân
(Didymella bryoniae) trên dưa hấu bằng vi khuẩn vùng rễ trong điều kiện ngoài
đồng ở quận Ô Môn, Thành Phố Cần Thơ vụ Đông Xuân (2010 – 2011)” được thực hiện tại ruộng nông dân ở khu vực phường Trường Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ từ tháng 12/2010 đến tháng 02/2011
Trong quá trình làm thí nghiệm, nguồn vi khuẩn đối kháng được cung cấp bởi Trần Thị Kim Đông, 2010 Nguồn nấm gây bệnh thì để mầm bệnh xâm nhiễm từ tự nhiên Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên 8 nghiệm thức và 4 lần lặp lại Gồm các nghiệm thức như sau:
Nghiệm thức 1: ngâm hạt, tưới đất và phun lá bằng huyền phù vi
khuẩn (HPVK) 12 (Pseudomonas sp.) mật số 108cfu/ml
Nghiệm thức 2: ngâm hạt, tưới đất bằng huyền phù vi khuẩn 89 (chưa xác định) mật số 108cfu/ml
Nghiệm thức 3: ngâm hạt, tưới đất và phun lá bằng huyền phù vi
khuẩn 151 (Pseudomonas sp.) mật số 108cfu/ml
Nghiệm thức 4: ngâm hạt, tưới đất và phun lá bằng huyền phù vi
khuẩn 187 (Pseudomonas sp.) mật số 108cfu/ml
Nghiệm thức 5: ngâm hạt, tưới đất và phun lá bằng huyền phù vi khuẩn 12 + 89 + 151 + 187 mật số 108cfu/ml
Nghiệm thức 6: ngâm hạt, tưới đất và phun lá bằng huyền phù vi khuẩn (12 + 89 + 151 + 187) mật số 108cfu/ml + một lượng nhỏ thuốc hóa học
Nghiệm thức 7: đối chứng
Trang 13 Nghiệm thức 8: xử lý theo nông dân
Trong cả vụ dưa, ruộng thí nghiệm chỉ có sự xuất hiện của bệnh đốm lá
chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) vì vậy không ghi nhận được khả năng
phòng trị của các chủng vi khuẩn vùng rễ này đối với các bệnh còn lại (héo vàng
do nấm Fusarium oxysporum f.sp niveum, thán thư do nấm Colletotrichum
lagenarium, héo dây thối trái do nấm Phytophthora capsici) Ngoài ra, ruộng thí
nghiệm còn bị gây hại nặng do sự xuất hiện sớm của bọ trĩ và xuất hiện liên tục của chúng đến gần cuối vụ Về sâu hại thì có ruồi đục trái và sâu ăn tạp xuất hiện vào giai đoạn đậu trái
Nghiệm thức ngâm hạt, tưới đất và phun lá bằng huyền phù vi khuẩn 151, nghiệm thức ngâm hạt, tưới đất và phun lá bằng huyền phù 4 vi khuẩn (12 + 89 +
151 + 187) + thuốc trừ nấm Amistar 250SC (liều lượng ¼ khuyến cáo) định kỳ
10 ngày/lần và nghiệm thức xử lý theo nông dân đều đã hạn chế được bệnh đốm
lá chảy nhựa thân (D bryoniae) ở điều kiện ngoài đồng vụ đông xuân (2010 –
2011) Các nghiệm thức còn lại cũng thể hiện hiệu quả nhưng không ổn định
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Dưa hấu là một loại rau ăn trái rất phổ biến hiện nay Theo thống kê của FAO năm 2010, trên thế giới có 3,163,582 hecta trồng dưa dấu, sản lượng đạt được gần 90 triệu tấn Riêng ở Việt Nam diện tích trồng dưa hấu là 27,500 hecta, sản lượng 416,400 tấn Tuy nhiên với hiện trạng cây dưa hấu đang được trồng thâm canh trên diện tích rộng như hiện nay cộng với khí hậu nước ta nóng ẩm quanh năm đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch hại phát triền như bệnh
khảm do bọ trĩ, bệnh nứt dây chảy nhựa thân do nấm Didymella bryoniae, bệnh thối trái do nấm Phytophthora capsici,…Để phòng trị các dịch hại này biện pháp
xử lý chủ lực của người trồng dưa hiện nay là sử dụng các loại thuốc hóa học Việc lạm dụng thuốc hóa học như vậy đã gây ảnh hưởng rất xấu đến môi trường
tự nhiên và có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người; đồng thời biện pháp hóa học thường không mang lại hiệu quả như mong muốn mà còn giết chết các vi sinh vật có lợi và các vi sinh vật đối kháng với dịch bệnh giúp cho dịch bệnh dễ bùng phát (Phạm Văn Kim, 2010) Vì vậy gần đây, một biện pháp thân thiện với môi trường đó là “biện pháp sinh học” phòng trị bệnh trên dưa hấu bằng
vi sinh vật đang được nghiên cứu khá nhiều và đã đạt được một số kết quả khả
quan Như việc sử dụng vi khuẩn vùng rễ Pseudomonas fluorescens 231-1 để phòng trị có hiệu quả đối với bệnh đốm lá chảy nhựa thân ở điều kiện ngoài đồng
(Nguyễn Thanh Giàu và Nguyễn Trung Long, 2009); sử dụng vi khuẩn P
fluorescens 231-1 và Bacillus 8 có hiệu quả trong việc phòng trị bệnh héo dây (Fusarium oxysporum f.sp niveum) trong điều kiện phòng thí nghiệm, nhà lưới
và ngoài đồng (Phạm Thi Hoàng Lan, 2009: Nguyễn Minh Trí, 2010)…
Gần đây nhất, từ kết quả của một số nghiên cứu đã tìm ra được 4 chủng vi
khuẩn như 12 (Pseudomonas sp.), 89 (chưa xác định), 151 (Pseudomonas sp.),
187 (Pseudomonas sp.) phòng trị có hiệu quả lần lượt đối với các bệnh sau: bệnh thán thư (Colletotrichum lagenarium), bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum f.sp
niveum), bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae), bệnh thối trái
(Phytophthora capsici) trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới (Trần Bạch
Lan, 2010; Phạm Thu Thảo, 2010; Trần Hữu Thông, 2010; Huỳnh Long Hồ, 2010) Và để tiếp tục đánh giá khả năng phòng trị bệnh trên dưa hấu của 4 chủng
vi khuẩn này trong điều kiện sản xuất thực tế, đề tài “ Đánh giá hiệu quả phòng
Trang 15trị một số bệnh quan trọng trên dưa hấu bằng vi khuẩn vùng rễ trong điều kiện ngoài đồng ở Quận Ô Môn, Thành Phố Cần Thơ vụ Đông Xuân (2010 – 2011)” đã được thực hiện
Mục tiêu của đề tài là đánh giá khả năng phòng trị riêng rẽ của mỗi chủng
vi khuẩn đối với từng mầm bệnh: vi khuẩn 12 (Pseudomonas sp.) đối với bệnh thán thư (C lagenarium), vi khuẩn 89 (chưa xác định) đối với bệnh héo vàng (F
oxysporum f.sp niveum), vi khuẩn 151 (Pseudomonas sp.) đối với bệnh đốm lá
chảy nhựa thân (D bryoniae), vi khuẩn 187 (Pseudomonas sp.) đối với bệnh thối trái (P capsici) Bên cạnh đó còn đánh giá khả năng phòng trị của biện pháp phối
hợp 4 chủng vi khuẩn với nhau và biện pháp phối hợp 4 chủng vi khuẩn cộng thêm một lượng nhỏ thuốc hóa học đối với cả 4 bệnh này Cuối cùng tìm ra biện pháp kiểm soát tốt nhất đối với các bệnh này
Trang 16Chương 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về cây dưa hấu
1.1.1 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
Dưa hấu có tên khoa học là Citrullus lanatus [Thumb ] Matsum Và
Nakai thuộc họ Cucurbitaceae Dưa hấu có nguồn gốc từ Nam Phi (Seshadri, 1993) Ngày nay dưa hấu đã được trồng rộng rãi ở khắp các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Cây dưa hấu xuất hiện ở Việt Nam vào thời vua Hùng Vương thứ 18 (Trần Khắc Thi và Trần ngọc Hùng, 2002)
Giá trị dinh dưỡng: trong 100g phần ăn được của dưa hấu chứa 90% nước; 9% cacbohydrate; 0,5% protein; 0,15% lipit, 0,1% những chất khác (300I.U vitamin A, 6mg vitamin C, 8mg Ca, 10mg Mg, 14mg O và 0,2mg Fe, giá trị năng lượng tương đương 150kJ/100g (Phạm Hồng Cúc, 2002)
1.1.2 Tình hình sản xuất dưa hấu ở nước ta
Hiện nay, ở nước ta dưa hấu được trồng quanh năm, cả nước có 27,500 hecta trồng dưa hấu, năng suất trung bình 16 tấn/ha, tổng sản lượng đạt gần 42 nghìn tấn (FAO, 2010) Riêng ở các tỉnh Nam bộ có diện tích trồng dưa hấu khoảng 20,000 hecta (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2006)
1.1.3 Đặc điểm thực vật học
Dưa hấu thuộc loại cây bò, thân thảo, có mức độ phân cành lớn Tổng số cành các cấp có thể lên tới 32 cành Dưa hấu có bộ rễ lớn, nhưng rễ phân bố chủ yếu trên bề mặt lớp đất canh tác Bộ rễ gồm rễ chính, rễ phụ nhiều cấp, đan xen như một tấm lưới có đường kính 8-10 mét Lá dưa hấu màu xanh vàng nhạt, cuống lá dài, lá phân thùy 3-5 thùy, trên mặt lá thường có lớp phấn trắng (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996)
Dưa hấu có thời gian sinh trưởng ngắn, trung bình từ 65-70 ngày và được chia làm 3 giai đoạn phát triển: (1) giai đoạn tăng trưởng, từ khi gieo đến khi dưa được 21 ngày tuổi Thời kỳ này dưa chưa phân nhánh, tốc độ ra lá chậm, tốc độ phát triển rễ cũng chậm nhưng mạnh hơn lá Ở 1 tuần sau khi gieo thân cao trung bình 6cm và chỉ có 2 lá mầm; 2 tuần sau khi gieo thân cao 15cm và có 4 lá thật (2) thời kỳ ra hoa kết trái, từ 21-40 ngày sau khi gieo (3) thời kỳ phát triển trái,
Trang 17từ 40 ngày sau khi gieo đến khi thu hoạch (Trần Thị Ba và Trần Thị Kim Ba, 1999)
1.1.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh
Nhiệt độ: dưa hấu là loại cây trồng ưa thích nhiệt độ cao, có khả năng chịu nóng, nhưng mẫn cảm với lạnh và đông giá Nhiệt độ thích hợp cho dưa hấu sinh trưởng là 21 – 300C Hạt dưa hấu nảy mầm tốt nhất ở 30 – 350C (Tạ Thu Cúc, 2005)
Ánh sáng: cây dưa hấu cần nhiều ánh sáng, kể từ lúc xuất hiện lá mầm cho đến khi kết thúc sinh trưởng Nắng nhiều cùng với nhiệt độ thích hợp là 2 yếu tố ngoại cảnh làm tăng năng suất và chất lượng quả (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996)
Nước: cây dưa hấu có khả năng chịu hạn tốt, nhưng khả năng chịu úng rất kém Tuy nhiên do khối lượng thân lá lớn và quả có nhiều nước nên phải cung cấp đầy đủ nước bằng cách giữ ẩm cho đất và có hệ thống tưới tiêu tốt Ẩm độ của đất thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của dưa hấu là 70 – 80% (Tạ Thu Cúc, 2005)
Đất đai: cây dưa hấu ưa đất nhẹ, đất cát pha, độ pH từ 6 – 7 là rất phù hợp với dưa hấu Tuy vậy, đất thịt trung bình cũng có thể trồng được dưa hấu chỉ cần chú ý bón phân hữu cơ để cải tạo đất (Tạ Thu Cúc, 2005)
Dinh dưỡng: yêu cầu hàng đầu về dinh dưỡng là đạm, lân và kali Thời kỳ đầu sinh trưởng cần đạm và lân Cuối thời kỳ sinh trưởng cần kali và lân, hai yếu
tố này có tác dụng tốt với chất lượng quả, tăng lượng đường trong thịt quả (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996)
1.2 Một số bệnh hại quan trọng trên dưa hấu
1.2.1 Bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm Didymella bryoniae
Bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm Didymella bryoniae (Auersw.)
Rhem là một bệnh gây hại nghiêm trọng trên cây dưa hấu và các cây thuộc họ bầu bí dưa (Punithalingam và Holliday, 1972; Keinath và Zitter, 1998) Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng trong điều kiện ẩm độ cao và có thể gây chết cây hay làm giảm năng suất và phẩm chất trái (Punithalingam và Holliday, 1972; Sherf và Macnab, 1986; Nguyen Thi Thu Nga, 2007) Ở nước ta, bệnh này được ghi nhận gây hại quan trọng cho các vùng trồng dưa, đặc biệt là vào mùa mưa (Vũ Huy
Trang 18Trung và ctv., 2005) Bệnh xảy ra có thể do nấm Didymella bryoniae lây lan qua
hạt giống, không khí và đất (Lee và ctv., 1984)
Triệu chứng
Nấm Didymella bryoniae tấn công lên hầu hết các bộ phận của cây như lá,
thân, hoa và cả trái
Trên lá: đốm bệnh không đều đặn, 1-2cm, lúc đầu là đốm úng nước, sau
đó khô có màu nâu nhạt Bệnh thường xuất hiện từ bìa lá lan vào, làm cháy lá theo những mảng hình vòng cung, trong đó có các vòng đồng tâm nâu sậm Trên vết bệnh có nhiều quả thể nấm tạo thành các đốm đen bằng đầu kim (Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm, 1993)
Trên thân: cũng có thể trên nhánh, vết bệnh là đốm bầu dục, màu xám trắng, 1 – 2cm, hơi lõm làm khuyết một bên thân hoặc nhánh Trên vùng bệnh, nhựa màu nâu đỏ ứa ra thành giọt, sau cùng đốm có màu nâu đen và khô cứng lại,
vỏ thân nứt ra, đôi khi vết nứt kéo dài thành đoạn (Nguyễn Minh Phương, 2008)
Tác nhân
Nấm Didymella bryoniae (Auersw.) Rhem hay còn gọi là Mycospharella
melonis (Pass.) có giai đoạn hữu tính là Phoma cucurbitaceae, thuộc lớp nấm
nang (Ascomycota), họ Dothideales (CABI, 2001) Bào tử nấm thuộc dạng quả nang bầu với đường kính 140 - 200 µm, màu đen Trong quả nang bầu chứa các nang có kích thước 60 - 90 x 10 - 15µm, mỗi nang chứa 8 bào tử nang Bào tử
a
Hình 1.1: Các triệu chứng bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm Didymella bryoniae
gây ra trên cây dưa hấu (Nguồn Nguyen Thi Thu Nga, 2007)
a Trên lá b Trên thân c Trên trái
Trang 19nang có hình elip và có vách ngăn ngang, kích thước của mỗi bào tử nang 14 - 18
x 4 -7µm
Biện pháp phòng trị
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có giống kháng bệnh Chỉ có thể hạn chế mầm bệnh bằng biện pháp luân canh, tiêu hủy xác bã thực vật và cây bệnh Biện pháp hóa học như xử lý hạt giống với benomyl, folcidin, thiophanate-methyl, thiram, mancozeb hoặc maneb hoặc hỗn hợp của benzimidazoles và dithiocarbamates làm giảm bệnh 90 – 100% (CABI, 2001)
1.2.2 Bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporum f.sp niveum
Bệnh do nấm Fusarium oxysporum f.sp niveum gây ra, bệnh tấn công tất
cả các giai đoạn phát triển của cây, khi cây dưa còn nhỏ thì khả năng nhiễm bệnh nặng hơn các giai đoạn sau (Stephen, 1991) Trong thực tế sản xuất, bệnh thường xảy ra và gây chết cây vào giai đoạn dưa đã đậu trái (Trần Văn Hai và ctv., 2005) Nguồn bệnh có thể bắt nguồn từ hạt giống gây bệnh, trong đất hay nguồn bệnh từ trong không khí mang đến Trong các con đường lan truyền thì lan truyền qua đất là quan trọng nhất (Sherf và Macnab, 1986)
Hình 1.2: Bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporum f.sp niveum
a.Nông dân nhổ bỏ cây dưa hấu bị bệnh héo vàng trên ruộng
b.Triệu chứng bệnh trên ruộng
c.Triệu chứng mạch dẫn bị hóa nâu trên dây dưa bị bệnh héo rũ
Trang 20Triệu chứng
Lúc đầu các lá gần gốc sẽ bị héo, dần dần đến ngọn đều có hiện tượng héo
rũ vào buổi trưa và tươi lại vào chiều mát hay sáng sớm Triệu chứng héo từng phần sẽ xảy ra trong vài ngày đồng thời với hiện tượng kể trên, sau đó triệu chứng héo được lan ra cả cây, cuối cùng cây chết Trước khi héo, cây có thể có triệu chứng lá có màu xanh vàng từ các lá gốc lan dần lên các lá trên (Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm, 1993)
Đặc điểm để nhận diện bệnh là khi bổ dọc gốc cây ra, bên trong thấy mô
bị biến màu nâu đỏ Ở cây đã nhiễm bệnh lâu, quanh gốc có đóng lớp bào tử của nấm gây bệnh có màu hồng (Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm, 1993)
Tác nhân
Fusarium oxysporum f.sp niveum thuộc lớp nấm nang (Ascomycota), bộ
Hypocreales Nấm sinh sản vô tính bằng tiểu bào tử đính và đại bào tử đính; tiểu bào tử thường nhiều, hình ôvan hay hình bầu dục, đơn bào hoặc có 1 vách ngăn sinh ra trên thể bình ngắn (Egel và Martyn, 2007), kích thước 5,5 – 11 x 2,8 – 4,3µm (Holiday, 1970) Đại bào tử có dạng hình thoi hoặc hình liềm vách mỏng
và có từ 3 đến 5 vách ngăn, kích thước đại bào tử đính 14,7 – 44,3 x 2,8 – 5,2µm (Holiday, 1970) Bào tử áo hình tròn, vách dày, hình thành khi gặp điều kiện bất lợi (CABI, 2001)
Biện pháp phòng trị
Sử dụng cây dưa ghép ngọn với gốc ghép kháng bệnh như gốc dưa hoang dại, bí ngô, bầu, (CABI, 2001) Tuy nhiên, gốc ghép có thể làm ảnh hưởng đến phẩm chất trái sau này
Xử lý đất bằng cách xông hơi với thuốc hóa học như: methyl bromide, chloropocrin,…nhưng có thể biện pháp này mang lại hiệu quả không cao vì theo Burgess (2008) thì không có thuốc hóa học nào hữu hiệu với nấm bệnh này
Xử lý hạt giống với benomyl, carboxin hoặc carboxin/thiram (El-Shami ctv., 1985) hoặc xử dụng thuốc xông hơi để quản lý bệnh… (CABI, 2001)
Một số nghiên cứu để phòng trị bệnh này là bằng biện pháp phòng trừ sinh
học bệnh cây Chẳng hạn như việc sử dụng nấm Trichoderma harzianum (CABI, 2001), vi khuẩn Pseudomonas fluorescens 231-1 (Phạm Thị Hoàng Lan, 2009),
Trang 211.2.3 Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum lagenarium
Bệnh thường xảy ra vào những tháng có mưa nhiều, bào tử lây lan chủ yếu
do mưa Bệnh có thể tấn công trên tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây Mầm bệnh có thể lưu tồn trong xác bã thực vật hay bám trên bề mặt hạt giống (Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm, 1993)
Triệu chứng
Bệnh thường xâm nhiễm và gây hại nặng các lá ở gần gốc Ban đầu vết bệnh xuất hiện ở gần gân lá, có hình dạng góc cạnh và thường có viền mỏng màu vàng nhạt bao quanh (Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm, 1993) Khi bệnh tiến triển nặng hơn, các vết bệnh to hơn và có màu đen hay nâu đen (Agrios, 2005) Đặc trưng của bệnh này là các vết bệnh xuất hiện riêng rẽ, không liên kết thành những mảng lớn (Roberts và Kucharek, 2006) Trên thân vết bệnh mới xuất hiện là những vết nhỏ, màu nâu sậm, khô và sần sùi, sau đó bệnh lan rộng ra bất dạng Bệnh thường tấn công lên trái khi đã gây hại nhiều ở lá và thân, ban đầu là những đốm bệnh úng nước, màu nâu đen đến đen, dạng tròn rộng 1 – 2 cm, hơi lõm vào võ và có bào tử màu hồng nơi vết bệnh; các vết bệnh sẽ phát triển nhanh
và rải rác khắp vỏ trái, có khi liên kết lại thành các vết thối rộng ra (Trần Văn Hai
Trang 22Colletotrichum sp là các gai cứng màu nâu đen trên đĩa đài Nấm xâm nhiễm vào
mô ký chủ bằng đĩa áp, giai đoạn đầu nấm sống dưới dạng ký sinh bắt buộc về sau sống hoại sinh
Biện pháp phòng trị
Tiêu hủy các tàn dư và xác bã thực vật sau mỗi vụ Khử khô hạt với Ziram, Thiram (2g/1kg hạt giống) (Võ Thanh Hoàng và Nguyễn Thị Nghiêm, 1993)
Theo Phạm Hồng Cúc (2002), phun Daconil, Carbenzim, Score nồng độ 0,2 – 0,3% khi vừa phát hiện bệnh, cách 5 ngày/lần liên tiếp vài lần cho đến khi vết bệnh khô lại và không còn lây lan
Một vài hoạt chất đã được sử dụng để trị bệnh như benomyl, mancozeb, copper oxycholoride đã có những hiệu quả đáng kể (CABI, 2001)
1.2.4 Bệnh héo dây thối trái do nấm Phytophthora capsici
Do nấm Phytophthora capsici gây ra, nấm tấn công gây thối trái, dây và lá
của dưa bầu bí, bệnh gây thiệt hại năng suất dưa hấu rất nghiêm trọng ở điều kiện
ẩm ướt, đặc biệt vào mùa mưa (Babadoost, 2001)
Hình 1.4 Triệu chứng thối do nấm Phytophthora capsici trên trái
(Nguồn: Nguyễn Thị Thu Nga)
Trang 23Triệu chứng
Trên thân : nấm bệnh tấn công làm xuất hiện những vết thương màu nâu sậm, nhũng nước vòng quanh thân, làm cho thân suy tàn và chết (Babadoost, 2001)
Trên trái : bệnh có thể tấn công hầu hết các giai đoạn Quá trình xâm nhiễm diễn ra rất mau lẹ, trái bị nhiễm bệnh sẽ bị thối nhanh chóng Vết bệnh ban đầu là những đốm úng nước, tròn, hơi lõm không màu hoặc hơi nâu Đặc biệt các sợi nấm trắng mịn còn có thể phát triển bao phủ toàn bộ trái Quan sát kĩ có thể thấy các đường tròn đồng tâm (Gevens và ctv., 2008)
Tác nhân
Nấm Phytophthora capsici Leonian, thuộc lớp nấm Noãn (Oomycota), bộ
Pythiales, họ Pythiaceae (CABI, 2001) Bọc bào tử của nấm thường có dạng không đều, gần giống hình cầu, dạng trứng to, 60 x 36µm (Uchida và Aragaki, 1985) Sự sinh bào tử của nấm xảy ra trong khoảng 24 đến 72 giờ và thường là
24 giờ ở 25 – 280C, động bào tử được phóng thích sau 48 – 96 giờ ở 20 – 230C
(Tlapal và ctv., 1995) Vài chủng không phóng thích động bào tử ở 20 – 230C mà phóng thích ở 40C (Tlapal và ctv., 1995)
Biện pháp phòng trị
Xử lý hạt với phosphonas (Yandoc-Ables và ctv., 2007)
Sử dụng Trichoderma hazianum và Bacillus subtilis rất hiệu quả trong việc làm giảm bệnh thối rễ do Phytophthora ngoài đồng (Nemec và ctv., 1996)
Một số gốc thuốc hóa học được ghi nhận có hiệu quả trong phòng trị : metalaxyl, fosetyl-Al và terazole propamocarb-hydrochloride
Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc hóa học sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, lưu tồn trong nông sản và tác động xấu đến sức khỏe con người Mặt khác, sử dụng thuốc hóa học liên tục sẽ làm mầm bệnh dễ hình thành tính kháng và phát sinh nòi mới (Backman và ctv., 1997) Vì vậy hiện nay biện pháp phòng trừ sinh học đang là hướng đi mới trong việc phòng trị bệnh này
và nhiều bệnh khác
1.3 Phòng trừ sinh học bệnh cây trồng
Theo Phạm Văn Kim (2006) biện pháp phòng trừ sinh học bệnh cây là điều khiển môi trường, cây trồng và sinh vật đối kháng một cách thích hợp, để
Trang 24tạo nên một thế cân bằng sinh thái học cần thiết, giúp giảm mật số của mầm bệnh xuống dưới ngưỡng gây hại Nhờ đó bệnh của cây trồng chỉ xuất hiện ở mức độ nhẹ, không gây ảnh hưởng về mặt kinh tế Biện pháp sinh học không có mục đích tiêu diệt mầm bệnh và cũng không có khả năng này
1.4 Vi khuẩn vùng rễ liên quan trong phòng trừ sinh học bệnh cây trồng
Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có phương pháp thống nhất xác định phạm
vi của hệ rễ (Phạm Văn Kim, 2006) Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu vùng rễ (rhizosphere) là thể tích đất xung quanh bộ rễ và chịu ảnh hưởng bởi bộ rễ (Kennedy, 2005)
Vi khuẩn vùng rễ (Rhizobacteria) là những vi khuẩn sống ở vùng rễ và định vị được ở rễ cây ; chúng có thể sinh sôi và chiếm lĩnh cả ổ sinh thái ở rễ vào các giai đoạn phát triển của cây Có khoảng 2-5% vi khuẩn vùng rễ, khi được chủng vào đất biểu hiện ảnh hưởng có lợi cho sự tăng trưởng của cây được gọi là
vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng cây (plant growth promoting rhizobacteria – PGPR) (Siddiqui, 2006)
Theo Vessey (2003), có 2 loại vi khuẩn vùng rễ :
- Vi khuẩn quanh rễ cây: nhiều vùng của rễ non được định cư bởi vi khuẩn, nơi đây có nhiều hốc sinh thái thích hợp mà những vi khuẩn
thuộc các loài như Arthrobacter, Azotobacter, Bacillus và
Pseudomonas có thể phát triển và ngăn chặn những vi sinh vật có hại
khác (Lambert et al., 1987; trích dẫn Trần Bạch Lan, 2010)
- Vi khuẩn nội sinh rễ (endophytic bacteria): là vi khuẩn vùng rễ, chúng xâm nhập vào mô cây sống mà không làm cây biểu hiện triệu chứng bị xâm nhiễm Để xâm nhập vào rễ trước hết chúng phải là những vi khuẩn vùng rễ (Siddiqui, 2006)
Theo Phạm Văn Kim (2006) thì vi khuẩn ở hệ rễ thực vật giữ vai trò khá quan trọng trong kích thích tăng trưởng cho cây trồng và hạn chế mầm bệnh:
- Vi khuẩn tiết ra CO2, các acid hữu cơ và vô cơ trong quá trình hoạt động của chúng, có tác động lớn đối với việc làm cho các khoáng chất hoặc các chất như lân dưới dạng không tan, sẽ chuyển biến thành dạng đơn giản, dễ tan và
dễ được cây hấp thụ
Trang 25- Vi khuẩn tiết ra các kích thích tố tăng trưởng của thực vật giúp rễ thực
vật phát triển được tốt Một số loài chi Pseudomonas và Agrobacterium có khả
năng tiết ra IAA (idol-acetic-acid), là chất kích thích sự ra rễ của cây trồng PGPR còn sản xuất các kích thích tố tăng trưởng (phytohormon) như auxin, cytokinins và gibberellins, và hạ thấp mức ethylene của cây, kích thích sự phát triển cây trồng (Lucy, 2004; Somers và ctv., 2004)
- Ngoài ra, vi khuẩn vùng rễ gián tiếp giúp cây trồng phát triển tốt thông qua khả năng ức chế sự phát triển của nhóm sinh vật gây bệnh bằng cơ chế kháng sinh, cạnh tranh dinh dưỡng và nơi ở và kích thích tính kháng bệnh trên cây trồng (Van Loon, 1998, Siddiqui, 2006)
Qua nhiều kết quả nghiên cứu từ năm 1986 đến nay, vi khuẩn vùng rễ có nhiều vai trò trong phòng trừ bệnh cây trồng (Nguyễn Đắc Khoa, 2000)
- Vi khuẩn vùng rễ cạnh tranh dinh dưỡng và nơi ở với mầm bệnh (Phạm Văn Kim, 2003)
- Chúng còn giữ vai trò quan trọng trong ức chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh trên cây trồng thông qua khả năng tiết ra các chất kháng sinh, enzyme phân hủy vách tế bào nấm bệnh
- Ngoài ra vi khuẩn vùng rễ còn có khả năng kích kháng lưu dẫn cây trồng chống lại mầm bệnh (Van Loon, 1998)
Vai trò của vi khuẩn vùng rễ trong kích thích tăng trưởng cây trồng :
- Cơ chế trực tiếp: vi khuẩn tiết ra các chất kích tố tăng trưởng thực vật,
cố định đạm, hòa tan lân hoặc giúp cây trồng chịu đựng được điều kiện bất lợi của môi trường (Siddiqui, 2006)
- Cơ chế gián tiếp: thông qua khả năng hạn chế sự phát triển của mầm bệnh bằng cách tiết ra kháng sinh, tiết enzyme phân hủy vách tế bào, cạnh tranh
và kích thích tính kháng bệnh trên cây trồng (Siddiqui, 2006)
1.5 Một số ứng dụng của vi khuẩn vùng rễ trong phòng trừ sinh học bệnh cây trồng
Trang 26biện pháp phun lên lá và xử lý hạt thì cho hiệu quả phòng trị cao hơn so với khi
áp dụng riêng lẻ
Khi nghiên cứu về khả năng phòng trừ sinh học của PGPR đối với bệnh
đốm vằn (Rhizoctonia solani) trên lúa ở Ấn Độ, Nadakumar và ctv (2001) nhận thấy 2 chủng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens viz PF1 và FP7 có hiệu quả
làm giảm bệnh đốm vằn trên lúa khi xử lý bằng biện pháp xử lý giống, nhúng rễ, tưới đất, phun lá và áp dụng cùng lúc 4 phương pháp
Ở Thái Lan, các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc sử dụng vi
khuẩn đối kháng với nấm Rhizoctonia solani tác nhân gây bệnh đốm vằn trên cây lúa Ruộng lúa được phun vi khuẩn đối kháng (Pseudomonas sp và Bacillus sp.)
3 lần trong mỗi vụ lúa Vi khuẩn này ức chế sự sinh sản ra hạch nấm của
R solani ; 5 vụ phun đối kháng liên tục, bệnh đốm vằn đã giảm một cách đáng kể
và giúp tăng năng suất so với đối chứng (Phạm Văn Kim, 2000)
Ở Việt Nam
Theo Lại Văn Ê (2003) khi nghiên cứu sử dụng sinh vật đối kháng trong
phòng trừ sinh học nấm Fusarium oxysporum và Rhizoctonia solani Kuhn gây
bệnh chết cây con trên bông vải, qua thí nghiệm thấy được vi khuẩn
Pseudomonas sp Chủng AG-249, AG-245 và Bacillus sp chủng CT-241 hạn chế
sự phát triển khuẩn ty của nấm R solani và F oxysporum trên môi trường PDA
và NA rất tốt Vi khuẩn Pseudomonas sp chủng AG-249 và AG-245 xử lý riêng
lẻ hay phối hợp đều cho tỉ lệ cây bông sống cao
Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa 231-1 có thể ức chế sự tăng trưởng của
nấm Didymella bryoniae Khi áp dụng biện pháp xử lý hạt + tưới đất + phun lá với huyền phù vi khuẩn đã bảo vệ được lá dưa hấu khỏi nhiễm D bryoniae (Nga
và ctv, 2010)
Nguyễn Thanh Giàu và Nguyễn Trung Long (2009), cũng nhận thấy khi
xử lý chủng vi khuẩn vùng rễ Pseudomonas fluorescens 231-1 có tác dụng làm
giảm diện tích lá nhiễm bệnh trên dưa hấu ở điều kiện ngoài đồng
Trương Thị Bích Ngân (2009), nhận thấy rằng vi khuẩn Bacillus spp và
Pseudomonas spp có khả năng đối kháng cao với 2 chủng nấm F oxysporm f.sp niveum và D bryoniae gây bệnh trên dưa hấu trong điều kiện in vitro
Trang 271.6 Vi khuẩn được sử dụng trong thí nghiệm
Những vi khuẩn dùng trong thí nghiệm là vi khuẩn 12 (Pseudomonas sp.),
89 (chưa xác định), 151 (Pseudomonas sp.) và 187 (Pseudomonas sp.) Cả 4
chủng vi khuẩn này đều được Trần Thị Kim Đông phân lập tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long năm 2010 Hiện tại vẫn chưa có những nghiên cứu sâu về các chủng vi khuẩn này, chỉ có một số thông tin như sau :
Chủng 12, là vi khuẩn Gram âm thuộc chi Pseudomonas và được phân lập
từ vùng rễ cây dưa hấu thuộc tỉnh Sóc Trăng Vi khuẩn này có khả năng đối
kháng với nấm P.capsici, C lagenarium và F oxysporm f.sp niveum trong điều
kiện phòng thí nghiệm (Trần Thị Kim Đông, 2010) Theo ghi nhận Trần Bạch
Lan (2010), chủng vi khuẩn 12 có khả năng phòng trị bệnh thán thư (C
lagenarium) cao hơn so với các chủng vi khuẩn khác trong điều kiện nhà lưới với
trung bình tỉ lệ diện tích lá bị nhiễm bệnh thán thư vào các thời điểm 4, 5, 6 ngày sau khi chủng (NSKC) ở nghiệm thức ngâm hạt + tưới đất, phun trước, phun sau, phun trước + sau tuần tự là 13,0%, 36,9%, 19,3%, 17,8% và khác biệt ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng 42,3%
Chủng 89, là vi khuẩn Gram âm chưa được định danh và được phân lập từ vùng rễ cây dưa hấu ở tỉnh An Giang Vi khuẩn này có khả năng đối kháng với
nấm P capsici, C lagenarium, F oxysporum f.sp niveum và D bryoniae trong
điều kiện phòng thí nghiệm (Trần Thị Kim Đông, 2010) Theo Phạm Thu Thảo (2010), thì trong điều kiện nhà lưới chủng vi khuẩn 89 cho hiệu quả cao trong
phòng trị bệnh héo rũ (F oxyporum f.sp niveum), cụ thể là ở thời điểm 25 NSKC
tỉ lệ bệnh là 20% và 30 NSKC tỉ lệ bệnh là 20%, ở cả 2 thời điểm đều khác biệt ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng với TLB lần lượt là 80% và 100%
Chủng 151, là vi khuẩn Gram âm thuộc chi Pseudomonas và được phân
lập từ vùng rễ cây dưa hấu ở tỉnh Vĩnh Long Vi khuẩn này có khả năng đối
kháng với nấm P capsici, C lagenarium và D bryoniae trong điều kiện phòng
thí nghiệm (Trần Thị Kim Đông, 2010) Theo Trần Hữu Thông (2010), chủng vi
khuẩn 151 có hiệu quả phòng trị cao đối với bệnh đốm lá chảy nhựa thân (D
bryoniae) trong điều kiện nhà lưới, tỉ lệ diện tích lá bị nhiễm bệnh khi xử lý với
chủng vi khuẩn 151 thấp hơn so với tỉ lệ diện tích lá bị nhiễm bệnh khi xử lý với các chủng vi khuẩn khác ở cùng phương pháp xử lý vào thời điểm 3NSKC với
Trang 28trung bình tỉ lệ diện tích lá bị nhiễm bệnh 8,0% và khác biệt so với nghiệm thức
đối chứng 78,7 %
Chủng 187, là vi khuẩn Gram âm thuộc chi Pseudomonas và được phân
lập từ vùng rễ cây dưa hấu ở tỉnh Sóc Trăng Vi khuẩn này có khả năng đối
kháng với nấm P capsici, C lagenarium, F oxysporum f.sp niveum và
D bryoniae trong điều kiện phòng thí nghiệm (Trần Thị Kim Đông, 2010) Theo
Huỳnh Long Hồ (2010), cũng ghi nhận chủng vi khuẩn 187 có hiệu quả phòng trị
bệnh thối trái cao hơn và trung bình đường kính vết bệnh nhỏ hơn so với chủng
vi khuẩn khác cùng phương pháp xử lý trong điều kiện in vitro Trung bình
đường kính vết bệnh thối trái ở 3 thời điểm 48, 72 và 96 giờ khi xử lý bằng vi
khuẩn 187 ở các phương pháp phun trước, phun sau và phun trước sau lần lượt là
6,3cm, 6,37cm và 6,09cm và đều khác biệt so với nghiệm thức đối chứng có
đường kính vết bệnh là 7,2cm
1.7 Một số thông tin về thuốc hóa học sử dụng ở nghiệm thức 6
1.7.1 Amistar 250SC
Hoạt chất Azoxystrobin 250g/lít, thuộc nhóm độc III, thuốc có nguồn gốc
thiên nhiên, phổ rộng Thuốc có tác dụng tiếp xúc và nội hấp, ức chế bào tử nẩy
mầm và sợi nấm phát triển Thuốc phòng trị được nhiều bệnh như: mốc xám và
phấn trắng (nho), mốc sương và phấn trắng (dưa chuột), đạo ôn (lúa), thán thư
(xoài)
1.7.2 Binhnomyl 50WP
Hoạt chất benomyl 50%, thuộc nhóm độc III, thuốc có tác dụng nội hấp,
phổ rộng Thuốc trị được một số bệnh như: đạo ôn và vàng lá chín sớm (lúa), ghẻ
và thán thư (cây ăn trái), phấn trắng (dưa leo)…
1.7.3 Foraxyl 35WP
Hoạt chất Metalaxyl 35% Thuốc có tính lưu dẫn, hấp thu qua lá, thân, rễ
và lưu thông khắp cả cây giúp phòng trừ bệnh rất tốt Thuốc có hiệu quả đối với
các bệnh do nấm Phytophthora và Pythium Ngoài ra, thuốc còn trị được một số
bệnh như: sương mai (dưa hấu), thán thư (ớt),…