1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của KIỂU bẫy và độ CAO đặt bẫy lên sự hấp dẫn của PHEROMONE GIỚI TÍNH sâu đục vỏ TRÁI bưởi – DIỄN BIẾN mật số QUẦN THỂ và tỉ lệ gây hại của ở HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

49 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 6,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật với ñề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA KIỂU BẪY VÀ ðỘ CAO ðẶT BẪY LÊN SỰ

Trang 1

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN VĂN NGUYÊN

HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: Bảo Vệ Thưc Vật

Cần Thơ, 2010

Trang 2

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ts Lê Văn Vàng Nguyễn Văn Nguyên MSSV: 3064958 Lớp: BVTV K32

Cần Thơ, 2010

Trang 3

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật với ñề tài

“ẢNH HƯỞNG CỦA KIỂU BẪY VÀ ðỘ CAO ðẶT BẪY LÊN SỰ HẤP DẪN

CỦA PHEROMONE GIỚI TÍNH SÂU ðỤC VỎ TRÁI BƯỞI PRAYS SP – DIỄN BIẾN MẬT SỐ QUẦN THỂ VÀ TỈ LỆ GÂY HẠI CỦA PRAYS SP Ở

HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG”

Do sinh viên Nguyễn Văn Nguyên thực hiện

Kính trình lên hội ñồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày 7 tháng 4 năm 2010

Cán bộ hướng dẫn

Ts Lê Văn Vàng

Trang 4

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Hội ñồng chấm luận văn tốt nghiệp ñã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật với ñề tài:

“ẢNH HƯỞNG CỦA KIỂU BẪY VÀ ðỘ CAO ðẶT BẪY LÊN SỰ HẤP DẪN

CỦA PHEROMONE GIỚI TÍNH SÂU ðỤC VỎ TRÁI BƯỞI PRAYS SP – DIỄN BIẾN MẬT SỐ QUẦN THỂ VÀ TỈ LỆ GÂY HẠI CỦA PRAYS SP Ở

HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG”

Do sinh viên Nguyễn Văn Nguyên thực hiện và bảo vệ trước hội ñồng

Ý kiến của hội ñồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp hội ñồng ñánh giá mức:

DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày 7 tháng 4 năm 2010

Chủ tịch Hội ñồng

Trang 5

LƯỢC SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Nguyễn Văn Nguyên

Ngày, tháng, năm sinh: 1988

Dân tộc: Kinh

Tôn Giáo: không

Nơi sinh: Huyện Lấp Vò, Tỉnh ðồng Tháp

Họ tên cha: Nguyễn Văn Chứng

− 1 9 9 9 -2 0 0 3 : H ọ c t ạ i Tr ư ờ n g TH CS ð ị n h Y ê n , X ã ð ịn h Y ê n , H u yệ n Lấp Vò, ðồng Tháp

− 2 0 0 3 -2 0 0 6 : H ọ c t ạ i T rư ờ n g T H P T L Ấ P VÒ I , H u yệ n L ấ p V ò , T ỉ n h ðồng Tháp

− 2 0 0 6 -2 0 1 0 : Học tại Trường ðại học Cần Thơ, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ, Ngành Bảo Vệ Thực Vật K32, khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng

Trang 6

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước ñây

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Nguyên

Trang 7

L Ờ I CẢM TẠ

Kính dâng,

Cha, mẹ suốt ñời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của con

Chân thành biết ơn Ts Lê Văn Vàng ñã tận tình hướng dẫn và giúp ñỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm ơn anh Châu Nguyễn Quốc Khánh trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật

ñã tạo ñiều kiện cho em hoàn thành tốt thí nghiệm

Cám ơn các Chú các Bác chủ vườn ñã giúp em thực hiện ñề tài

Cám ơn các bạn sinh viên lớp Bảo Vệ Thực Vật K32 ñã có nhiều giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài

Trân trọng!

Cần Thơ, Ngày 7 tháng 4 năm 2010

Nguyễn Văn Nguyên

Trang 8

MỤC LỤC

Lược sử cá nhân ii

Lời cam ñoan iii

Lời cảm tạ iv

Mục lục v

Danh sách bảng vii

Danh sách hình viii

Danh sách kí hiệu viết tắt ix

Mở ñầu - 1

CHƯƠNG I - 2

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU - 2

1 Cây bưởi năm roi - 2

1.1 Phân loại và tình hình phân bố - 2

1.2 ðặc ñiểm thực vật - 2

1.3 Kỹ thuật chăm sóc - 3

1.3.1 Phân bón - 3

1.3.2 Nước tưới - 4

1.3.3 Cách tỉa tạo tán - 4

1.3.4 Xử lí ra hoa - 4

2 SÂU ðỤC VỎ TRÁI BƯỞI PRAYS SP - 4

2.1 Phân loại và ký chủ - 4

2.2 Một số ñặc ñiểm sinh học và hình thái - 5

2.2.1 Thành trùng - 5

2.2.2 Trứng - 5

2.2.3 Ấu trùng - 6

2.2.4 Nhộng - 6

2.3 Tập quán sinh sống và gây hại - 6

2.4 Thiên ñịch - 7

2.5 Biện pháp phòng trị - 7

3 PHEROMONE GIỚI TÍNH - 8

3.1 Tổng quan - 8

3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính - 9

3.2.1 Phát hiện sự hiện diện và xác ñịnh vùng nhiễm côn trùng - 9

3.2.2 Khảo sát sự biến ñộng quần thể, dự tính dự báo côn trùng gây hại - 9

3.2.3 Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp bẫy tập hợp - 10

3.2.4 Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp quấy rối sự bắt cặp - 10

3.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính tại Việt Nam - 11

CHƯƠNG II - 14

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP - 14

1 Phương tiện - 14

1.1 Hóa chất - 14

Trang 9

1.3 Các loại bẫy Pheromone - 15

1.3.1 Bẫy mái che sản xuất từ Nhật Bản - 15

1.3.2 Bẫy máy che tự chế - 15

1.3.3 Bẫy ựứng - 16

1.3.4 Bẫy nằm - 16

1.3.5 Bẫy hình chữ V - 17

2 PHƯƠNG PHÁP - 17

2.1 đánh giá hiệu quả trực tiếp ngoài ựồng của Z7-14:Ald bị ảnh hưởng bởi hai hợp chất quan hệ tetradecen-1-ol (Z7-14:OH) và (Z)-7-tetradecenyl acetate (Z7-14:OAc) ựối với Prays sp - 17

2.2 Ảnh hưởng của ựộ cao treo bẫy ựến khả năng hấp dẫn bướm Prays sp - 18

2.3 So sánh hiệu quả bắt bướm Prays sp giữa các loại bẫy - 19

2.4 Khảo sát sự biến ựộng mật số quần thể và tỉ lệ trái bị hại do Prays sp trên vườn bưởi Năm Roi tại tỉnh Vĩnh Long - 20

CHƯƠNG III - 23

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN - 23

1 đÁNH GIÁ TRỰC TIẾP NGOÀI đỒNG CỦA Z7-14:Ald KHI ẢNH HƯỞNG BỞI HAI HỢP CHẤT QUAN HỆ Z7-14:OH VÀ Z7-14:OAc đỐI VỚI PRAYS SP - 23

2 ẢNH HƯỞNG đỘ CAO đẶT BẨY đỂ HẤP DẪN SÂU đỤC VỎ TRÁI PRAYS SP TRÊN VƯỜN BƯỞI NĂM ROI XÃ MỸ HOA, HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG - 24

3 HIỆU QUẢ BẮT BƯỚM PRAYS SP GIỮA CÁC LOẠI BẪY TRÊN VƯỜN BƯỞI TẠI ẤP MỸ HƯNG, HUYỆN BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG - 25

4 KHẢO SÁT SỰ BIẾN đỘNG MẬT SỐ QUẦN THỂ VÀ TỈ LỆ GÂY HẠI CỦA BƯỚM SÂU đỤC VỎ TRÁI BƯỞI PRAYS SP - 27

4.1 Diễn biến mật số của bướm Prays sp trên các vườn bưởi tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long từ ngày 15/11/2009 ựến 21/3/2010 - 27

4.2 Diễn biến mật số và tỉ lệ gây hại của Prays sp tại xã đông Thành, huyện Bình Minh, Vĩnh Long - 30

4.3 Diễn biến mật số và tỉ lệ gây hại của Prays sp tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, Vĩnh Long - 31

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ đỀ NGHỊ - 33

1 KẾT LUẬN - 33

2 đỀ NGHỊ - 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 34

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

TÊN BẢNG TRANG

1 Bảng 2.1: Các nghiệm thức khảo sát sự ảnh hưởng của các hợp chất

quan hệ với hiệu quả chất hấp dẫn của Z7-14:Ald trên bướm Prays sp

tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 18

2 Bảng 2.2: Các nghiệm thức khảo sát ảnh hưởng ñộ cao treo bẫy ñến khả

năng hấp dẫn bướm Prays sp tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 19

3. Bảng 2.3: Các nghiệm thức so sánh hiệu quả bắt bướm Prays sp giữa các

loại bẫy ñược khảo sát tại ấp Mỹ Hưng, xã Mỹ Hòa, huyện bình Minh,

tỉnh VL từ ngày 13/12/2009 ñến ngày 10/01/2010 20

4 Bảng 3.1: Hiệu quả hấp dẫn của 14:Ald và hợp chất quan hệ

Z7-14:OAc và Z7-14:OH ñối với Prays sp xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh,

tỉnh Vĩnh Long từ 23/11/2009 ñến 20/12/2009 23

5. Bảng 3.2: Số lượng bướm Prays sp trong thí nghiệm khảo sát ñộ cao của

bẫy tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 24

6 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của kiểu bẫy lên sự hấp dẫn ñối với pheromone

(1mg Z7-14:Ald/bẫy) với Prays sp tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh,

tỉnh Vĩnh Long từ 13/12/2009 ñến 17/1/2010 25

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

STT TÊN HÌNH TRANG

1. Hình 1.1: Trứng (A), thành trùng của Prays sp (B) 5

2. Hình 1.2: Ấu trùng của Prays sp (A) Ấu trùng bên trong vỏ trái; (B) ấu trùng tuổi nhỏ; (C) ấu trùng tuổi lớn 6

3. Hình 1.3: Nhộng của Prays sp 6

4. Hình 1.4: Trái bưởi bị Prays sp tấn công: (A) giai ựoạn sớm; (B) giai ựoạn trễ 7

5 Hình 2.1: Qui trình ựiều chế mồi pheromone tổng hợp (A) pheromone tổng hợp hòa tan trong n-hexane (10 mg/ml); (B) pheromone tổng hợp ựược nhồi vào tuýp cao su; (C) ựóng gói; (D) tồn trữ 14

6 Hình 2.2: Bẫy pheromone Nhật Bản 15

7 Hình 2.3: Bẫy pheromone tự chế 15

8 Hình 2.4: Bẫy ựứng 16

9 Hình 2.5: Bẫy nằm 16

10 Hình 2.6: Bẫy hình chữ V 17

11 Hình 2.7: Sơ ựồ lấ chỉ tiêu tỉ lệ trái bị hại trên các vườn theo dõi tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 22

12. Hình 3.1: Biểu diễn mật số bướm sâu ựục vỏ trái bưởi Prays sp ở ba ựịa ựiểm, hai ựiểm ở xã Mỹ Hòa (điểm B và điểm C) và một ở xã đông Thành (điểm A), huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 27

13 Hình 3.2: Thời ựiểm thắch hợp (vị trắ mũi tên) ựể áp dụng các biện pháp phòng trừ ựối với Prays sp trên bưởi Năm Roi ở huyện Bình Minh, Vĩnh Long 29

14. Hình 3.3: Biểu diễn mật số và tỉ lệ gây hại của Prays sp tại xã đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 30

15. Hình 3.4: Diễn biến mật số và tỉ lệ gây hại của Prays sp tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 31

Trang 12

MỞ ðẦU

Bưởi Năm Roi là một giống bưởi nổi tiếng của Việt Nam ñược trồng nhiều nơi

ở khu vực ðBSCL ðặc biệt, ở tỉnh Vĩnh Long diện tích cây có múi là 14500 ha, nhưng diện tích cây bưởi Năm Roi chiếm tới 7500 ha và tập trung chủ yếu tại huyện Bình Minh Còn lại là diện tích cây cam và một số ít quýt ñường ñược trồng ở các huyện Tam Bình, Trà Ôn,… (theo thống kê của Chi cục Bảo Vệ Thực Vật tỉnh Vĩnh Long, 2009) Gần ñây bưởi Năm Roi ñã ñược xuất khẩu sang thị trường của nhiều nước châu Âu như ðức, Hà Lan, Nga… ñem lại giá trị kinh tế rất cao cho người nông dân

Sâu ñục vỏ trái Prays sp (Lepidoptera: Yponomeutidae) là một trong những

loài gây hại quan trọng nhất trên Bưởi Năm Roi Theo kết quả ñiều tra của ðinh Công Huỳnh (2008) thì sâu ñục vỏ trái hiện diện phổ biến trên các vườn bưởi Năm Roi ở tỉnh Vĩnh Long, ở những vườn bị hại nặng, tỉ lệ bị trái bị ñục/ vườn có thể lên ñến 80% Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Linh (2008) ñã xác ñịnh pheromone giới tính của

Prays sp chỉ gồm một thành phần duy nhất là (Z)-7-tetradecenal (Z7-14:Ald) Biện

pháp ñặt bẫy pheromone với mật ñộ 20 bẫy/1.000 m2 (0,5 mg Z7-14:Ald/bẫy; mồi ñược thay mới 1 tháng/lần) cho hiệu quả phòng trị ñối với Prays sp khoảng 52,8% ñến 77,1%, tương ñương với việc phun 3 lần thuốc trừ sâu Karate 2.5EC (Lê Kỳ Ân, 2009)

ðể giảm giá thành áp dụng của pheromone giới tính, tuýp nhồi ngoại nhập ñã ñược thay thế bằng tuýp nhồi ñược sản xuất tại Việt Nam (Lê Kỳ Ân, 2009)

ðề tài: “Ảnh hưởng của kiểu bẫy và ñộ cao ñặt bẫy lên sự hấp dẫn của

pheromone giới tính ñối với sâu ñục vỏ trái bưởi (Prays sp.) - Diễn biến mật số quần thể và tỉ lệ gây hại của Prays sp ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long” nhằm tìm ra

kiểu bẫy thay thế cho bẫy ngoại nhập; ñộ cao ñặt bẫy hữu hiệu và cơ sở ñể dự tính dự

báo ñối với sự gây hại của Prays sp trên bưởi Năm Roi ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh

Long

Trang 13

CHƯƠNG I

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1 CÂY BƯỞI NĂM ROI

1.1 Phân loại và tình hình phân bố

Cây bưởi có tên khoa học là Citrus maxima (Burn Mera) thuộc chi citrus họ

Rutaceae, chúng thuộc nhóm thân gỗ, cao khoảng 5-6 m Tuổi thọ có thể tới 50 năm, nhưng hiện nay do sự chăm sóc không tốt, mặt khác chúng bị nhà vườn (chủ yếu là ở những vườn trồng chuyên canh sản xuất mang tắnh chất hàng hóa) tìm mọi cách ựể khai thác triệt ựể như xiết nước, phun, bón hóa chấtẦ để xử lý ra hoa trái vụ, ép cây ra nhiều ựợt hoa, ựợt tráiẦ Nhằm thu ựược lợi nhuận cao nên tuổi thọ của cây giảm ựi rất nhiều

đây là loại cây trồng lâu ựời và phân bố rộng khắp từ Bắc ựến Nam Việt Nam Bưởi có nguồn gốc ở Trung Quốc, Ấn độ, đông Dương là giống cây có múi chịu ựược khắ hậu nóng ẩm (Vũ Công Hậu, 1996)

1.2 đặc ựiểm thực vật

Thân có gai cứng, gai ngay, dài, có khi tới 5-6 cm, ra nhiều cành, ựặc biệt cành vượt mọc rất khỏe Trong một năm có thể ra 3-4 ựợt cành Tùy theo chức năng của cành trên cây mà người ta ựặt tên các loại cành như sau:

- Cành mang trái: là những cành có mang trái, cành ngắn, nhỏ tròn mình, thường mọc ra trong mùa xuân

- Cành mẹ: là cành tạo ra cành mang trái, cành to khỏe, tròn mình, thường phát triển mạnh trong mùa hè và mùa thu

- Cành dinh dưỡng: là tên chỉ chung cho tất cả các loại cành trong giai ựoạn chưa ra hoa trái, thường mọc ra ở tất cả các mùa trong năm

- Cành vượt: là loại cành ựược mọc thẳng lên bên trong tán cây từ những cành chắnh hay từ thân cây Loại cành này thường ựược mọc ra trong mùa hè, phát triển mạnh, dẹp, màu xanh lá to, bóng láng, ựôi khi có gai rất dài Cành này sử dụng nhiều chất dinh dưỡng của cây mà không có lợi nhiều, do non, mềm nên rất thắch hợp cho nhiều loại sâu bệnh (nhất là sâu hại) phát sinh, phát triển, vì vậy nều thấy không cần thiết phải giữ lại ựể tạo khung tán cho cây (khi cây còn non, chưa có hoa trái) thì nên cắt tỉa bỏ

Lá ựơn, dạng phiến, hình bầu dục hơi nhọn ở ựầu, lá to dày xanh ựậm, không có long, mép lá có răng nhỏ, gân phụ 5 - 6 cặp Trên lá có chứa nhiều túi tinh dầu thơm

Rễ cọc (nếu ựược trồng từ hạt), phát triển chủ yếu ở tầng ựất mặt, với ựộ sâu khoảng 50 cm trở lên Sự phân bố của rễ tùy thuộc vào một số yếu tố như tầng ựất canh tác, hình thức nhân giống, mực thủy cấp trong vườn, kỹ thuật trồng Ầ Nhìn chung rễ

Trang 14

bưởi thường mọc cạn, ña số rễ hút dinh dưỡng ñược phân bố ở gần lớp ñất mặt, vì thế cần phải giữ cho lớp ñất mặt luôn tơi xốp và không nên cuốc xới nhiều ảnh hưởng ñến

bộ rễ

Hoa mọc từ nách lá, thành chùm nhỏ, chùm hoa ngắn, không có lông, ñài hình chén màu xanh, cánh hoa trắng, dài từ 2-3,5 cm Vòi nhị nhỏ và dài, dính vào nhau thành từng cụm, bầu nhụy tròn Hoa ra nhiều nhưng rụng cũng nhiều nên tỉ lệ ñậu trái không cao Hạt có hai lá mầm màu trắng, hạt ñơn phôi

Trái to, hình tròn, hơi dẹp hay hình lê… Tùy theo giống Trọng lượng trung bình của trái thường vào khoảng trên dưới 1,3 kg tùy theo giống Vỏ trái màu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng xanh hoặc vàng tùy theo giống hoặc vùng ñịa lý Trên vỏ trái có chứa nhiều túi tinh dầu thơm Trái gồm ba phần là ngoại quả bì, trung quả bì và nội quả bì

1.3 Kỹ thuật chăm sóc

1.3.1 Phân bón

Tùy theo ñất tốt hay xấu, giống và tình trạng sinh trưởng của cây… mà quyết ñịnh phân bón sao cho thích hợp, cân ñối Cần cung cấp ñầy ñủ phân ñạm, lân, kali, bổ sung thêm phân hữu cơ và vi lượng ñể cây sinh trưởng và phát triển tốt ñạt năng suất cao

Thời kỳ cây còn nhỏ: Ba bốn năm ñầu cây bưởi cần bón ñủ lượng phân ñạm và kali ñể giúp cây phát triển cành nhánh nếu trong thời kỳ này cây ra nhiều hoa trái nên tỉa bớt ñể tập trung dinh dưỡng cho cây Lượng phân bón cho một gốc trong một năm

có thể như sau:

Năm thứ nhất và thứ hai: Khoảng 0,2-0,4 kg Urea; 0,5-1 kg Lân; 0,2-0,3 kg Kali

Năm thứ ba và thứ tư: 0,5-0,8 kg Urea; 1,5-2,0 kg Lân và 0,5-0,8 kg Kali

Thời kỳ cho trái: từ năm thứ năm trở ñi cần gia tăng phân kali ñể cho trái ngọt

và chắc Tùy theo ñộ màu mỡ của ñất, ñộ lớn của cây và sản lượng trái mà lượng bón

có thể gia tăng hay giảm như sau: 0,2-0,5kg Urea; 4,0-5,0 kg Lân, 1,5-2,5 kg Kali/cây/năm và ñược chia làm 3 lần bón

Sau khi thu hoạch: Bón toàn bộ Lân, 1/3 Urea, và 1/3 Kali

Trước khi ra hoa từ 4-6 tuần: 1/3 Urea, và 1/3 Kali

Khi nuôi quả: 1/3 Urea, và 1/3 Kali (ở những vùng ñất cao nên vùng phân Sulfat Kali)

Phân hữu cơ là loại phân tốt nhất cho nhóm cây có múi, mỗi năm nên bón cho một cây khoảng từ 20-50 kg phân hữu cơ ñã hoai mục vào lúc sau thu hoạch

Trang 15

1.3.2 Nước tưới

Về mùa mưa chỉ cần tưới trong những ñợt hạn kéo dài, về mùa khô tùy theo loại ñất cao hay thấp, giữ ñược nước hay không… mà có thể tưới khoảng hai, ba ngày một lần ñể thường xuyên bảo ñảm ñủ ẩm cho cây

1.3.3 Cách tỉa tạo tán

Kết hợp với việc bón phân làm gốc cần cắt tỉa bỏ bớt các cành già bên trong tán không có khả năng cho trái, cành vượt, cành bị sâu bệnh, cành mọc từ gốc ghép (khi cây còn nhỏ) ñể tập trung dinh dưỡng cho cây và tạo cho vườn cây luôn ñược thông thoáng khô ráo hạn chế bớt tác hại của sâu bệnh

1.3.4 Xử lí ra hoa

Dùng biện pháp xiết nước ñể kích thích ra hoa Khi mùa mưa dứt (tháng 12 – 2,3 dương lịch), làm cỏ, rút nước ra khỏi mương, ngưng tưới nước khoảng 3 tuần khi cây có triệu chứng héo lá thì tưới ñẫm nước trở lại 3 ngày liên tục sau ñó tiến hành bón phân và bồi liếp bằng bùn hốt mương Khi lớp bùn khô nứt tiếp tục tưới lại một ñến hai ngày một lần cho ñến khi mưa ñều trở lại Khoảng 5-10 ngày sau khi tưới cây sẽ ra nụ hoa Việc xiết nước lâu dài sẽ làm giảm tuổi thọ của cây, vì thế thời gian xiết nước không nên kéo dài quá 3 tuần lễ

2 SÂU ðỤC VỎ TRÁI BƯỞI, PRAYS SP

2.1 Phân loại và ký chủ

Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2003) thì sâu ñục vỏ trái bưởi là loài Prays endocarpa Meyrick; Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002) thì sâu ñục vỏ trái bưởi có tên khoa học là Prays citri Millière thuộc họ Yponomeutidae bộ

Lepidoptera Tuy nhiên, theo một công bố gần ñây của Oleg Nicetic và ctv., (2007) thì

sâu ñục vỏ trái bưởi là loài Prays sp (không phải là P citri, nhưng chưa xác ñịnh ñược

bẫy tập hợp và bằng biện pháp quấy rối bắt cặp ñể phòng trị P citri và P olea ñã ñược

thẩm ñịnh trong các khảo nghiệm của Sterlich và ctv (1990) ở Isael Ở ðồng Bằng

Sông Cửu Long (ðBSCL), Prays sp gây hại chủ yếu trên cam sành, cam mật, chanh

và ñặc biệt gây hại rất nặng trên bưởi Năm Roi (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Trang 16

2.2 Một số ñặc ñiểm sinh học và hình thái

Thời gian sinh trưởng của Prays sp thay ñổi tùy theo ñiều kiện nhiệt ñộ Ở vùng

ðBSCL, vòng ñời của Prays sp kéo dài khoảng 1 tháng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

2.2.1 Thành trùng

Thành trùng là một loài bướm có kích thước nhỏ, chiều dài thân khoảng 3,95

mm và chiều dài sải cánh khoảng 7,84 mm Thành trùng ñực và cái có hình dạng giống nhau, cơ thể màu nâu xám, cánh có nhiều vảy ánh bạc xen lẫn với những vảy phấn màu nâu ñen, bìa cánh có rất nhiều lông, ñầu có chùm lông màu vàng rơm dài, râu ñầu hình

sợi chỉ (ðỗ ðức Cương, 2006)

Trong ñiều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt ñộ 27 ñến 290C, ẩm ñộ 80 ñến 85%) thì thành trùng ñực có thời gian sống từ 2 ñến 7 ngày còn thành trùng cái thì dài hơn: từ

2 ñến 11 ngày

Bướm sau khi vũ hoá 2 ñến 3 ngày thì bắt cặp và ñẻ trứng Trứng ñược ñẻ vào

ban ñêm trên trái non có ñường kính <3 cm Theo ðỗ ðức Cương (2006), bướm Prays

sp có khả năng ñẻ trung bình 46 trứng/con cái trong khoảng thời gian từ 3 ñến 5 ngày

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thi Sen (2003), bướm Prays sp có khả năng ñẻ trứng

trung bình 100 trứng/con cái (39 – 334 trứng)

Trang 17

có màu xanh lá cây, chuyển sang màu vàng nâu khi sắp vũ hóa (ðỗ ðức Cương, 2006)

Hình 1.3 Nhộng của Prays sp

2.3 Tập quán sinh sống và gây hại

Theo kết quả ñiều tra của ðinh Công Huỳnh (2008) tại huyện Bình Minh, tỉnh

Vĩnh Long thì thành phần sâu ñục vỏ trái bưởi Prays sp với cấp thiệt hại là “+++” ñây

là cấp cao nhất >50%

Bướm thường ñẻ trên trái vừa mới tượng Sâu chui ra khỏi vỏ trứng bằng cách cắn phần ñáy của vỏ trứng, nơi gắn với vỏ trái, và từ ñó ñục thẳng vào vỏ trái ăn phần

mô mềm bên trong làm cho vỏ trái phồng lên thành xoang ở nơi bị tấn công Khi ñủ lớn

ấu trùng ñục lỗ chui ra ngoài nhả tơ tạo một kén dẹp bên ngoài vỏ trái ñể lại ổ hổng

B

A

Trang 18

trên vỏ trái hoặc có thể làm nhộng trên các lá gần trái nơi sâu sinh sống (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2003))

Thành trùng của Prays sp Chủ yếu hoạt ñộng vào buổi chiều mát (sau khi tắt nắng) Ở vùng ðBSCL, Prays sp chủ yếu gây hại trên trái, ñặc biệt là trên vỏ trái bưởi

Năm Roi Sâu thường tấn công trái vào giai ñoạn trái còn rất nhỏ (ngay sau khi rụng hoa), làm cho trái bị rụng Nếu sâu tấn công ở giai ñoạn trễ hơn trái sẽ phát triển bình thường không bị ảnh hưởng ñến phẩm chất, nhưng vỏ trái bị biến dạng u sần, làm giảm giá trị thương phẩm của trái (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

- Khi chăm sóc vườn nếu phát hiện thấy nhộng thì thu gom diệt ngay

- Vào mùa trái nên kiểm tra vườn thường xuyên, nếu thấy có nhiều nhộng thì khoảng một tuần sau nên xịt thuốc ñể diệt sâu non khi chúng chưa kịp ñục vỏ trái chui vào bên trong

- Khi có trái non, nếu phát hiện thấy trái bắt ñầu có triệu chứng bị hại (vỏ trái có

u nhỏ) thì tiến hành xịt một ñợt thuốc trừ sâu

Trang 19

- Nếu vườn thường bị sâu hại nặng hàng năm, thì khi cây vừa tượng trái non tiến hành xịt 2-3 ñợt thuốc, mỗi ñợt cách nhau 7-10 ngày

- Theo dõi phát hiện sự hiện diện của nhộng trên lá, khi thấy nhộng xuất hiện rộ thì 5-7 ngày sau có thể sử dụng thuốc ñể ngăn chặn sự bộc phát của thế hệ kế tiếp

- Về thuốc, có thể sử dụng luân phiên bằng một trong những loại thuốc như: dầu khoáng SK Enspray 99EC, Karate 25EC, SecSaigon 25EC, Decis 2,5EC, Sherpa 10EC hoặc 25EC, Bian 40EC, Visca 5EC, Alphago 5EC, Sumicidin 10EC…

3 PHEROMONE GIỚI TÍNH

3.1 Tổng quan

Pheromone giới tính (sex pheromone) là một loại hóa chất tín hiệu ñược cá thể tiết ra môi trường ñể tác ñộng lên hành vi bắt cặp (tìm bắt cặp) của các cá thể khác giới trong loài (intraspecific activity) Do hoạt ñộng như những hóa chất sinh học với tính chọn lọc cao và ở nồng ñộ rất thấp, pheromone giới tính không gây ảnh hưởng ñến sức khỏe con người và môi trường sinh thái Bên cạnh là ñối tượng nghiên cứu cho các lĩnh vực như Hoá học hữu cơ (Organic Chemistry), Sinh thái học hóa chất (Chemical Ecology) và Côn trùng học ứng dụng (Applied Entomology) (Ando và ctv 2004), pheromone giới tính còn ñược xem là một công cụ hữu hiệu của IPM (Cardé & Minsk, 1995; Wakamura và ctv 1992) và là sự thay thế hiệu quả cho thuốc trừ sâu hóa học trong quản lý các loài sâu hại (Gibb và ctv., 2005)

ðây là nhóm ñược nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi nhất trong các hóa chất tín

hiệu Từ pheromone giới tính ñầu tiên là chất bombykol

([10E,12Z]-10,12-hexadecadien-1-ol) của bướm tằm (Bombyx mori L) ñược xác ñịnh bởi Butenandt và ctv.,1959 Cho ñến nay, chỉ tính riêng trên côn trùng thuộc Bộ cánh vẩy (Lepidoptera), pheromone giới tính của hơn 590 loài và chất hấp dẫn giới tính (sex attractant) của hơn

1235 loài ñã ñược xác ñịnh và ghi nhận (Ando, 2008)

Ando và ctv., 2004 dựa vào cấu trúc hóa học của các thành phần pheromone ñã

chia pheromone giới tính của bộ cánh vảy (Lepidoptera) thành kiểu I, kiểu II và kiểu khác

* Kiểu I

Pheromone kiểu I ñược tạo thành từ các hợp chất chất hữu cơ mạch thẳng, no hoặc chưa no, có ñộ dài chuỗi từ 10 ñến 18 carbon (C10-C18) với một nhóm chức ở ñầu mạch, phổ biến là hydroxyl (-OH), acetocyl (-O2CCH3), và formyl (-CHO) Pheromone

kiểu I chiếm khoảng 75% số lượng pheromone ñã ñược xác ñịnh (Ando và ctv., 2004)

Ví dụ pheromone của loài bướm ñục trái ñước, Cryptophlebia amamiana Komai và

Nasu, là hợp chất (Z)-8-ñoecenyl acetate (Vang và ctv., 2005) Trong nhóm này, mạch carbon với số lượng carbon chẳn chiếm ưu thế do pheromone kiểu I là những dẫn xuất

từ các axit béo như palmitic (C16: acid) và stearic (C18: acid) Tuy nhiên, các pheromone của loài bướm sâu ñục củ khoai tây, Phthrimaea operculella Zeller

Trang 20

(Gelechiidae) ñược tạo thành từ hỗn hợp (4E,7Z)-4,7-tridecadienyl acetate và (4E,7Z,10Z)-4,7,10-tridecatrienyl acetate (Ono và ctv., 1997)

Ascotis selenaria cretacea Bulter ñược cấu tạo từ hỗn hợp của

(Z,Z,Z)-3,6,9-nonadecatriene và (Z,Z)-6,9-epoxy-3-nonadecadiene ở tỉ lệ 1:100, tương ứng

3.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính

Kể từ pheromone giới tính ñầu tiên, hợp chất bombykol hexadecadien-1-ol] của bướm tằm (Bombyx mori L) ñược xác ñịnh bởi Butenandt và ctv., (1959), việc nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính ñã ñược phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới (Ando và ctv., 2004) Cho ñến nay, chỉ tính riêng trên côn trùng Bộ cánh vẩy, pheromone giới tính của hơn 607 loài và chất hấp dẫn giới tính của hơn 1236 loài ñã ñược xác ñịnh và ghi nhận (Ando, 2009) Trong ñó, pheromone giới tính của hơn 20 loài bướm ñã ñược thương mại hóa dưới hình thức chất quấy rối sự bắt cặp (Ando và ctv., 2004)

[(10E,12Z)-10,12-3.2.1 Phát hiện sự hiện diện và xác ñịnh vùng nhiễm côn trùng

Do có ñặc tính chuyên biệt, chỉ hấp dẫn các cá thể trong cùng một loài, và hiệu lực hấp dẫn rất cao, pheromone giới tính ñược xem là một trong những công cụ hữu hiệu nhất ñể xác ñịnh sự hiện diện và vùng xâm nhiễm của côn trùng Khi biết ñược pheromone của một loài côn trùng gây hại nào ñó, thì việc phát hiện sự hiện diện hoặc xác ñịnh vùng nhiễm cũng như cảnh báo sớm sự suất hiện của loài côn trùng ñó sẽ trở nên ñơn giản, nhanh chóng với ñộ chính xác rất cao Ứng dụng pheromone trong kiểm dịch thực vật trước khi nhập nội một loại cây trồng mới là ñều cần thiết và phù hợp với

xu hướng hiện nay của thế giới ðây là biện pháp ngăn ngừa sự xâm nhập các loài côn trùng gây hại từ nước ngoài vào trong nước, hoặc lây lan giữa các vùng trong nước và

là công việc hết sức quan trọng của bất cứ một quốc gia nào (Nguyễn Công Thuật, 1996)

3.2.2 Khảo sát sự biến ñộng quần thể, dự tính dự báo côn trùng gây hại

Pheromone giới tính ñược xem là một công cụ hữu hiệu ñể thay thế cho bẫy ñèn

và bẫy màu vàng ñể khảo sát sự biến ñộng mật số quần thể của côn trùng gây hại

Trang 21

ñúng lúc và hợp lý nhất Thông thường, một lượng từ 0,1-1 mg pheromone giới tính tổng hợp ñược nhồi vào một tuýp cao su (8 mm OD) cho hiệu quả hấp dẫn bướm ñực ít nhất là một tháng và có thể kéo dài ñến 2 tháng (Ando và ctv., 2004)

ðể khảo sát sự biến ñộng quần thể, bẫy pheromone ñược ñặt trên một khu vực

cụ thể rồi ñếm mật số bướm vào bẫy ñịnh kỳ (thường là 2 tuần/lần) trong suốt chu kỳ một năm Thông tin về số mật số côn trùng gây hại cây trồng trong vùng canh tác và trên một ñơn vị thời gian cho phép ta dự tính dự báo sớm sự gây hại của côn trùng ñó

ñể có thể áp dụng những biện pháp quản lý thích hợp

3.2.3 Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp bẫy tập hợp

Bẫy tập hợp (mass trapping) là biện pháp sử dụng một số lượng lớn bẫy pheromone ñể thu hút và giết hết bướm ñực trên một vùng không gian cụ thể ñể ngăn chặn sự bắt cặp giữa bướm ñực và bướm cái, dẫn ñến giảm mức ñộ thiệt hại do sâu gây

ra xuống mức ñộ dưới ngưỡng kinh tế Biện pháp này, ñặc biệt hiệu quả ñối với việc quản lý côn trùng trong kho vựa (thuộc Bộ Coleoptera) Tuy nhiên, bẫy tập hợp thường không thành công trong việc làm giảm mật số của các loài bướm có tính di ñộng cao và mức ñộ quần thể lớn (Wakamura và ctv., 2004) Theo Bakke A và Lie R (1989) ñã áp dụng thành công bẫy pheromone tập hợp với mật ñộ 260 – 270 m3/bẫy ñể phòng trừ

loài sâu bột mì, Ephestia kuehniella (Zeller), vùng ðịa Trung Hải Báo cáo của

Sternlicht và ctv (1990) cho thấy với mật ñộ 120 bẫy/ha (0,4 – 0,6 mg/bẫy, thay mồi 4 tháng/lần), bẫy pheromone tập hợp ñã cho hiệu phòng trị loài bướm gây hại hoa chanh,

Prays citri Millière, ở Israel cao và rẻ tiền hơn so với phun Azinphos-methyl (gốc lân

hữu cơ) 3–6 lần/ năm Nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính dưới hình thức bẫy tập hợp ñã ñược tiến hành trên 98 loài côn trùng gây hại, trong ñó có 45 loài thuộc

Bộ cánh vảy, 39 loài thuộc Bộ cánh cứng và 4 loài thuộc các Bộ côn trùng khác Sayed, 2008)

(El-3.2.4 Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp quấy rối sự bắt cặp

Hoạt ñộng tìm bắt cặp ở côn trùng Bộ cánh vảy chủ yếu dựa vào tín hiệu (mùi) của pheromone giới tính do con cái tiết ra Khi tín hiệu mùi của pheromone bị quấy rối thì các cá thể ñực sẽ không tìm ñược các cá thể cái và ngược lại, như vậy chúng không thể bắt cặp và sinh sản Phương pháp quấy rối bắt cặp (Mating disruption) là làm tràn ngập vùng không gian của cây trồng với mùi pheromone của loài bướm gây hại ñể quấy rối tín hiệu pheromone do bướm cái tiết ra nhầm ngăn chặn sự tiếp xúc giữa bướm ñực và bướm cái làm cho chúng không thể bắt cặp và sinh sản trên vùng không gian của cây trồng So với việc sử dụng thuốc trừ sâu, phương pháp quấy rối này có tính chọn lọc cao và bảo ñảm cho sự tồn tại của thiên ñịch Thêm vào ñó, pheromone giới tính ñã ñược chỉ rõ là không gây ñộc ñối với ñộng vật hữu nhũ và không ảnh hưởng ñến môi trường sinh thái ðây là biện pháp ñang ñược áp dụng rất rộng rãi ở những nước phát triển Theo Ando và ctv (2004), pheromone giới tính của hơn 20 loài bướm ñã ñược thương mại hóa dưới hình thức chất quấy rối bắt cặp (Mating disruptant) với diện tích áp dụng lên ñến 415.300 ha cây trồng, bao gồm bông vải, cây

ăn trái, trà và cây rừng ở Mỹ, Nhật và Châu Ấu, vào năm 2002 Cho ñến nay,

Trang 22

pheromone giới tính ñã ñược nghiên cứu và ứng dụng dưới hình thức quấy rối bắt cặp trên 140 loài côn trùng gây hại (121 loài thuộc Bộ cánh vảy, 9 loài thuộc Bộ cánh cứng

và 10 loài thuộc các Bộ côn trùng khác) (El-sayed, 2008)

Quấy rối sự bắt cặp là một phương pháp tác ñộng lên hành vi nên côn trùng gây hại hiếm khi phát triển ñược tính kháng Một minh chứng là trường hợp của loài sâu

hại nụ bông vải (Pectinophora gossypiella Saund.) ñã ñược kiểm soát bởi phương pháp

quấy rối bắt cặp trong hơn 20 năm mà không hề xuất hiện tính kháng (Ando và ctv., 2004) Tuy nhiên, Mochizuki và ctv (2002) ñã ghi nhận trường hợp kháng ñầu tiên ñối

với chất quấy rối bắt cặp của quần thể sâu cuốn lá trà (Adoxophyes honmai Yasuda)

trên các cánh ñồng trà ở Shimada thuộc quận Shizuoka, Nhật Bản bằng phương pháp quấy rối sự bắt cặp với chất quấy rối là (Z)-11-tetradecenyl acetate kể từ năm 1983 Vào 4 năm sau ñó, tỉ lệ con ñực bị bắt dính bằng bẫy pheromone là 96% Tuy nhiên, từ năm 1996 ñến 1998, tức 14 ñến 16 năm sau khi áp dụng biện pháp quấy rối sự bắt cặp thì tỉ lệ này giảm xuống chỉ còn 50% trong khi áp dụng biện pháp quấy ở các cánh ñồng trà chưa từng áp dụng thì tỉ lệ này ñạt ñược là 99% Kết quả này ám chỉ việc tiếp tục áp dụng chất quấy rối ở Shimada ñã tạo nên một áp lực chọn lọc lớn tại ñây và hiện

tượng này ñược gọi là “sự kháng” của Adoxophyes honmai ñối với (Z)-11-tetradecenyl

acetate

Khi phối hợp 4 thành phần pheromone (Z)-9- tetradecenyl acetate, (Z)-11- tetradecenyl acetate, (E)-11- tetradecenyl acetate và 10-methyldodecyl acetate với tỉ lệ

63:31:4:1 thì sự ñông ñúc của ấu trùng Adoxophyes honmai ở thế hệ sau giảm lại kết

quả này chứng tỏ rằng 4 thành phần pheromone phối hợp này là một công cụ quản lí

hiệu quả ñối với quần thể Adoxophyes honmai

3.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính tại Việt Nam

Ở Việt Nam, pheromone giới tính là một lĩnh vực tương ñối mới với số lượng nghiên cứu còn rất hạn chế Tại ðồng Bằng Sông Cửu Long, thử nghiệm ngẫu nhiên ngoài ñồng ñã xác ñịnh ñược chất hấp dẫn giới tính của 19 loài bướm Trong ñó, bốn loài bướm thuộc họ Noctuidae, họ phụ Plusiinae, là những loài bướm sâu hại rau màu Diễn biến mật số quần thể của 3 trong 4 loài bướm này ñã ñược ghi nhận (Trần Văn Hai và ctv., 2002); tại Hải Dương, thí nghiệm ñặt 400 bẫy pheromone/ha cho khả năng khống chế sâu tơ (P xylostella) và sâu ăn tạp (S litura) mà không cần phải phun thuốc trừ sâu (Lê Văn Trịnh và ctv 2005); Trong năm 2003 bẫy pheromone ñã triển khai áp dụng trên tổng diện tích 656,8 ha tại 9 tỉnh trong cả nước, phòng trừ 6 loài sâu hại trên

7 loại cây trồng là rau hoa thập tự, hành tây, cà chua, lạc, dưa hấu, nho và vải thiều Trong ñó, cây trồng áp dụng lớn nhất là rau hoa thập tự với tổng diện tích 245 ha (Lê Văn Trịnh và ctv., 2005)

Wang và ctv, (2004) ñã nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng bẫy và các loại mồi

pheromone giới tính ñến sự bắt dính Plutella xylostella L (Lepidoptera: Plutellidae) tại

các ruộng Cải bắp ở ngoại ô Hà Nội từ tháng 2/2002 ñến tháng 5/2002 Thí nghiệm ñược thực hiện trên 3 dạng bẫy: bẫy A- dạng chậu làm bằng nhựa (20 x 8 cm) có chứa

Trang 23

khoét 4 lỗ (ñường kính 1,5 cm) cách ñáy bẫy 10 cm) có chứa 5% nước, bẫy C- ñược thiết kế giống bẫy B nhưng không có chứa nước Kết quả ghi nhận ñược là bẫy A cho hiệu quả hấp dẫn cao nhất Bên cạnh ñó, thí nghiệm còn kết hợp so sánh hiệu quả hấp dẫn của 2 loại mồi: mồi Trung Quốc (Z11-16:Ald; Z11-16:OAc và Z11-16:OH ở tỉ lệ 50:50:1 với hàm lượng 5 mg/tuýp và mồi Nhật Bản (Z11-16:Ald; Z11-16:OAc, Z11-16:OH và butylated hydroxyl toluene như là chất chống oxy hóa ở tỉ lệ 50:50:1:5 với hàm lượng 10,6 mg/mỗi tuýp) Kết quả ghi nhận là hiệu quả hấp dẫn giữa 2 loại mồi pheromone giới tính này là không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê Mặt khác, Wang và ctv (2004) cũng ñã khẳng ñịnh việc áp dụng bẫy pheromone tập hợp phối hợp với sử dụng BT (2-3 lần/vụ) trên các ruộng cải bắp và su hào ở miền bắc Việt Nam

cho hiệu quả làm giảm mật số P xylostella cao hơn so với việc sử dụng thuốc trừ sâu

hóa học (7 lần/vụ)

Từ năm 2001 ñến 2004, các thí nghiệm về khả năng hấp dẫn của pheromone ñối với một số ñối tượng sâu hại trên rau hoa thập tự, cà chua, nho, hành tây, hành ta, dưa hấu, lạc và vải thiều ñược tiến hành tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hải Phòng và nhiều ñịa phương khác (diện tích mỗi ñiểm triển khai 5-10 ha/vụ)

Kết quả ghi nhận số lượng bướm sâu tơ (P xylostella), sâu ăn tạp (S litura), sâu xanh (Helicoverpa armigera Hubner) và sâu xanh da láng (S exigua) vào bẫy khá lớn (125,8 -139,2 con/bẫy/ngày), riêng sâu ñục cuống quả vải (Conpomorpha sinensis Bradley) thì

rất ít (7,6 con/bẫy/ngày) Trong năm 2001 và 2002, ñã triển khai sử dụng pheromone

ñể phòng trừ 5 loài sâu hại này với tổng diện tích 96 ha trên 4 loại cây trồng rau hoa thập tự, hành tây, cà chua và lạc tại Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương và Vĩnh Phúc Trong năm 2003 ñã triển khai áp dụng với tổng diện tích 656,8 ha tại 9 tỉnh trong cả nước, phòng trừ 6 loài sâu hại trên 7 loại cây trồng là rau hoa thập tự, hành tây, cà chua, lạc, dưa hấu, nho và vải thiều Trong ñó, cây trồng áp dụng lớn nhất là rau hoa thập tự

với tổng diện tích 245 ha (Lê Văn Trịnh và ctv., 2005)

Sử dụng bẫy pheromone ñể theo dõi sự phát sinh của sâu ñục cuống quả thiều ñã tạo ñiều kiện sử dụng thuốc ñúng lúc, giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật khoảng 400.000 ñồng/ha và giảm ñược 3 lần phun thuốc trừ sâu ðể phòng trừ sâu tơ ñã giảm ñược 3 lần dùng thuốc, thay 2 lần thuốc hóa học bằng thuốc sinh học, và tiết kiệm ñược

118.000 ñồng/ha/vụ (Lê Văn Trịnh và ctv., 2005)

Lê Văn Vàng và ctv., (2008) qua quá trình nghiên cứu tổng hợp và ñánh giá

ngoài ñồng ở Viêt Nam và Nhật Bản ñối với 7,11,13-Hexadecatrienal – thành phần

pheromone giới tính mới ñược xác ñịnh từ bướm sâu vẽ bùa cái (Phyllocnistis citrella

Stianton) ñã chỉ ra rằng bướm sâu vẽ bùa ñực tại thành phố Cần Thơ, Việt Nam chỉ bị hấp dẫn mạnh khi phối hợp 7,11-Hexadecadienal và 7,11,13-Hexadecatrienal với tỉ lệ 1:3 mà không hề bị thu hút khi chỉ có một thành phần 7,11-Hexadecadienal, trong khi ở Nhât Bản thì hiệu quả thu hút bướm ñực vào bẫy sẽ giảm khi pha thêm thành phần 7,11,13-Hexadecatrienal vào mồi pheromone Từ ñây, Lê Văn Vàng và ctv., (2008) ñã

khẳng ñịnh rằng thông tin bắt cặp của bướm sâu vẽ bùa (P citrella) ở Việt Nam thì

tương tự như ở Brazil và California và khác với ở Nhật Bản

Trang 24

Từ những kết quả trên cho thấy tắnh khả thi của việc ứng dụng pheromone giới tắnh trong phòng trị sâu hại theo hướng hạn chế hoặc thay thế cho sử dụng thuốc trừ sâu hóa học ở Việt Nam Tuy nhiên, việc ứng dụng pheromone giới tắnh chỉ dừng lại ở mức ựộ thử nghiệm do phải lệ thuộc vào nguồn pheromone ựược cung cấp từ nước ngoài

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hùng Lĩnh (2008) thì cấu trúc hóa học của

pheromone giới tắnh của Prays sp., gây hại trên vỏ trái bưởi Năm Roi chỉ gồm một

thành phần duy nhất là (Z)-7-tetradecenal Trong các chất quan hệ, Z7-14:Ald ở tỉ lệ

10% thêm vào thì không ảnh hưởng ựến hiệu quả hấp dẫn của Z7-14:Ald ựối với Prays

sp Trong khi tỉ lệ 10% thêm vào Z7-14:Ald ựã ức chế hiệu quả hấp dẫn của Z7-14:Ald ựối với Prays sp Kết quả thắ nghiệm lại của Lê Kỳ Ân (2009) thì cũng cho kết quả tương tự

Bẫy pheromone ựã chứng tỏ là công cụ hữu hiệu ựể khảo sát sự biến ựộng mật

số quần thể của sâu ựục vỏ trái bưởi Prays sp Tại Vĩnh Long, bướm Prays sp Hiện

diện quanh năm với diễn biến quần thể phụ thuộc vào mùa vụ và lượng mưa (Huỳnh Ngọc Linh, 2008)

đặt 20 bẫy pheromone/1.000 m2 (0,5 mg/bẫy, thay mồi 6 tuần/lần) cho hiệu quả

làm giảm tỉ lệ gây hại của Prays sp ựối với bưởi Năm Roi là 77,1% ở Xã đông Thành

và 52,8% ở Xã Mỹ Hòa Trong khi ựó biện pháp xử lý bằng phun 3 lần thuốc trừ sâu Karate 2.5EC (1,5 g ai/48 l nước/1.000 m2 /lần phun; 2 tuần/lần phun) cho hiệu quả

làm giảm tỉ lệ gây hại của Prays sp ựối với trái bưởi Năm Roi là 78,2% ở Xã đông

Thành và 67,7% ở Xã Mỹ Hòa (Lê Kỳ Ân, 2009)

Năm 2008 áp dụng biện pháp quấy rối bắt cặp thì tỉ lệ gây hại của Prays sp trên

các vườn ựặt chất quấy rối là 10,2% ở mật ựộ 200 tuýp/ha và 7,4% ở mật ựộ 400

tuýp/ha Trong khi tỉ lệ gây hại của Prays sp trên vườn ựối chứng là 55,8% Vào năm

2009 bằng biện pháp quấy rối bắt cặp thì tỉ lệ gây hại của Prays sp trên các vườn ựặt

chất quấy rối là 2,8% ở mật ựộ 200 tuýp/ha và 4,9% ở mật ựộ 400 tuýp/ha Trong khi tỉ

lệ gây hại của Prays sp trên vườn ựối chứng là 16,6% (Lê Kỳ Ân, 2009)

Với kết quả so sánh hiệu quả hấp dẫn của mồi pheromone giới tắnh tổng hợp ựược ựiều chế tại Việt Nam và mồi ựược ựiều chế từ Nhật Bản ựối với Prays sp sau một tháng áp dụng thì số lượng bướm vào bẫy ở hai nghiệm thức là tương ựương nhau (Lê Kỳ Ân, 2009)

Kết quả thắ nghiệm của Lê Kỳ Ân (2009) về hiệu quả hấp dẫn ựối với bướm sâu ựục vỏ trái bưởi Prays sp của các vật liệu dùng làm chất nền (tuýp nhồi) phóng thắch pheromone Kết quả cho thấy số bướm vào bẫy ở cả hai nghiệm thức tuýp cao su của Aldrich, đức và nghiệm thức tuýp cao su của Việt Nam vào các thời ựiểm là ghi nhận chỉ tiêu là tương ựương nhau điều này chứng tỏ tuýp cao su của Việt Nam là có khả năng thay thế cho tuýp cao su của Aldrich, đức ựể làm chất nền phóng thắch pheromone

Ngày đăng: 08/04/2018, 23:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm