Việc xây dựng đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ giúp được rất nhiều cho người viết trong quá trình giảng dạy sau này.. Tập bài giảng “Đánh giá giáo dục-Ngữ Văn” [17]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN
TRỊNH NGUYỄN THÚY QUỲNH
(MSSV: 6075377)
XÂY DỰNG ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH LỚP 12 THEO CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 12,
TẬP 1 (BỘ CƠ BẢN)
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN MINH CHÍNH
Cần Thơ, tháng 04 năm 2011
Trang 2
LỜI CÁM ƠN
Bốn năm, khoảng thời gian không quá dài cũng không quá ngắn cho hành trình
đi tìm kiến thức Giờ đây có được thành quả này, trước hết em xin cảm ơn quí thầy cô trong khoa Sư phạm đã tạo điều kiện cho mỗi sinh viên chúng em hoàn tất khóa học của mình Em xin cảm ơn quí thầy cô Bộ môn Ngữ Văn trong suốt bốn năm qua đã tận tâm dạy dỗ, dìu dắt chúng em trên con đường đi tìm tri thức
Đặc biệt, em xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Nguyễn Minh Chính
– cán bộ giảng dạy môn Đánh giá giáo dục môn Ngữ Văn Trong hơn bốn tháng thực
hiện luận văn, chính nhờ sự tận tình chỉ dạy của thầy đã tạo điều kiện để em vượt qua những khó khăn, vướng mắc về kiến thức chuyên môn cũng như về phương tiện nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện luận văn, dù đã hết sức cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi những sai sót Kính mong thầy cô thông cảm và đóng góp ý kiến
để em có thể hoàn thiện tốt hơn đề tài này và bản thân học được những kinh nghiệm quý báu
Cuối cùng, em xin kính gửi đến quý thầy cô lời chúc sức khỏe và vạn sự thành công Trân trọng kính chào!
Sinh viên lớp Sư phạm Ngữ Văn khóa 33
Trịnh Nguyễn Thúy Quỳnh
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trước đây, hầu hết các giáo viên trường trung học phổ thông đều cho học sinh làm bài kiểm tra bằng hình thức tự luận Những năm gần đây, nhất là kể từ năm 2007 trở lại, Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã khuyến khích đánh giá giáo dục bằng hình thức trắc nghiệm khách quan kết hợp với tự luận Hai hình thức này đem lại kết quả vừa khách quan lại vừa chính xác
Trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ Văn, người viết đã được học môn đánh giá giáo dục - Ngữ Văn do giảng viên tổ Phương pháp của bộ môn Ngữ Văn giảng dạy Qua học phần này, người viết đã được biết thêm về dạng đề kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan kết hợp với tự luận Người viết rất thích cách xây dựng đề kiểm tra theo hai dạng đó, vì nó có rất nhiều ưu điểm
Vào đợt kiến tập tại trường trung học phổ thông, tiếp xúc với giáo viên phổ thông, được trao đổi với các thầy cô, thì hầu hết các thầy cô đều thích hình thức trắc nghiệm khách quan, vì có thể kiểm tra, đánh giá được nhiều nội dung kiến thức hơn Việc chấm bài tiết kiệm được rất nhiều công sức và thời gian Việc xây dựng đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ giúp được rất nhiều cho người viết trong quá trình giảng dạy sau này
Bên cạnh đó, đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa để hội nhập quốc tế Vì vậy, đổi mới trong giáo dục là rất quan trọng Đổi mới trong giáo dục không chỉ đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học mà còn đổi mới về kiểm tra, đánh giá Việc áp dụng hình thức kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan trong dạy học
là rất cần thiết Vì hình thức này đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu
và áp dụng
Với tất cả những lý do trên, người viết đã quyết định chọn đề tài “Xây dựng đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 12 theo chương trình sách giáo khoa Ngữ văn tập 1, bộ cơ bản”
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Việc xây dựng câu hỏi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hình thức đổi mới có khá nhiều sách và bài viết viết về vấn đề này:
Trang 4Tập bài giảng “Đánh giá giáo dục-Ngữ Văn” [17] được biên soạn gồm ba chương: Đánh giá học sinh trong quá trình dạy học (chương 1); Các phương pháp kiểm tra dùng trong đánh giá (chương 2); Quy trình thiết kế bài kiểm tra và việc đánh giá kết quả học tập của học sinh (chương 3) Trong chương 2, tập thể các giảng viên đã đưa ra các phương pháp dùng trong đánh giá kết quả học tập của học sinh như: nhóm kiểm tra nói (kiểm tra vấn đáp và kiểm tra bằng hình thức thuyết trình), nhóm kiểm tra viết (tự luận ngắn, tự luận - làm văn, trắc nghiệm khách quan và một số phương pháp khác) Nhóm kiểm tra với câu hỏi trắc nghiệm khách quan gồm có loại câu đúng/sai, loại ghép đôi, loại điền khuyết và loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn Với mỗi loại, tác giả đều đưa ra một cách khá đầy đủ về các tính chất, ưu điểm, nhược điểm và cách sử dụng Bên cạnh đó, các quy trình thiết kế một đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh (chương 3) cũng được nói rất kĩ Trong chương này, các tác giả cũng đã cung cấp những nguyên tắc xây dựng một bài kiểm tra và cách thiết kế một đề kiểm tra là như thế nào
Bài viết “Năm 2007-2008 và những cái mới của giáo dục trung học”[19], thứ trưởng Nguyễn Văn Trọng chỉ đạo rằng phải tiếp tục kết hợp hình thức kiểm tra tự luận và trắc nghiệm khách quan, đổi mới cách ra đề kiểm tra theo hướng đòi hỏi người đọc phải thông hiểu, biết vận dụng kiến thức; hạn chế chỉ đánh giá đúng mức độ ghi nhớ, nghiêm túc trong kiểm tra, đánh giá để phản ánh đúng chất lượng
Tác giả Đỗ Ngọc Thống với bài viết “Có nên thi trắc nghiệm khách quan môn Ngữ Văn” [18], cho rằng việc kiểm tra, đánh giá bằng tự luận là rất cần thiết đối với môn Ngữ Văn Song, tính chủ quan và cảm tính còn chiếm tỉ lệ cao Mặt khác, kết quả làm bài của học sinh phụ thuộc khá nhiều vào trình độ, tâm lí, tính cách của người chấm bài, tạo cho học sinh thói quen học tủ, học lệch, sao chép bài mẫu Trắc nghiệm khách quan sẽ tránh được hai hạn chế trên Tác giả còn cho rằng tất cả các môn học nên được kiểm tra bằng hình thức kết hợp giữa trắc nghiệm và tự luận Hiện nay, đối với môn Ngữ Văn, nên có ba phần trắc nghiệm và bảy phần tự luận
Trong quyển “Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tự luận ngữ văn 12, tập 1” [4], các câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tự luận được xấp xếp dưới hình thức là những đề thi hoàn chỉnh và có kèm đáp án sau mỗi đề Các tác giả đã chia thành ba phần: phần đề kiểm tra 15 phút, đề kiểm tra 45 phút, đề kiểm tra 90 phút Mỗi phần gồm 18 đề Ở phần đề kiểm tra 15 phút, các tác giả dùng hình thức tự luận ngắn để
Trang 5kiểm tra mức độ biết và hiểu của học sinh, tác giả không dùng hình thức trắc nghiệm khách quan đối với dạng đề này; Ở đề kiểm tra 45 phút và kiểm tra 90 phút, tác giả có kết hợp hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận, nhưng phần trắc nghiệm khách quan dùng rất ít loại câu hỏi điền khuyết, đúng/sai cũng như loại ghép cột Chủ yếu là dạng câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn Còn về phần tự luận, sách đưa ra một số đề nghị luận xã hội rất hay Nhưng trong đáp án các tác giả chỉ giới thiệu những bài văn tham khảo mà không đưa ra các ý chính cần đạt
Với quyển “Câu hỏi và bài tập ôn luyện kiến thức trung học phổ thông môn Ngữ Văn” [10], do Nguyễn Duy Kha chủ biên, gồm hai phần: Câu hỏi và bài tập ôn luyện (phần 1), giới thiệu một số đề thi và đáp án (phần hai) Trong phần một, các tác giả đưa ra khá nhiều câu hỏi có cả trắc nghiệm khách quan và tự luận Các câu hỏi này được sắp xếp theo từng giai đoạn văn học: Văn học dân gian, Văn học trung đại Việt Nam, văn học hiện đại Việt Nam từ thế kỉ XX đến năm 1945, Văn học hiện đại Việt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, và văn học nước ngoài Tác giả cung cấp rất nhiều câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn và chủ yếu là kiểm tra kiến thức hiểu của học sinh Các dạng câu điền khuyết, ghép cột và đúng/sai tác giả rất hạn chế sử dụng Bên cạnh đó, phần đề tự luận quá ít so với phần trắc nghiệm khách quan và tác giả chỉ chú ý đến kiểu bài phân tích, bình luận văn học, kiểu bài nghị luận xã hội không thấy nhắc đến
Còn về quyển “Bộ đề thi tự luận ngữ văn” [7] của Lê Nguyên Cẩn, tác giả đưa
ra hơn 40 đề thi với mô hình là đề thi đại học Trong các kì thi đại học trước nay cũng như trong sách này, chỉ có hình thức tự luận, hoàn toàn không có trắc nghiệm khách quan Các câu hỏi xoáy vào khả năng vận dụng của học sinh là chính, với các kiểu bài: nghị luận xã hội, nghị luận văn học, phân tích, bình giảng văn học Việt Nam và văn học nước ngoài
Nhìn chung, các bộ sách và các bài viết cho ta thấy được tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung các sách đều tán thành việc đổi mới trong kiểm tra đánh giá cũng như tán thành việc áp dụng hình thức trắc nghiệm vào kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trang 6Ở luận văn này, người viết sẽ thiết kế các đề kiểm tra, đánh giá theo tinh thần đổi mới phương pháp, nội dung kiểm tra đánh giá và dựa theo tài liệu phân phối chương trình Ngữ Văn 12 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tham khảo một số tài liệu liên quan, người viết đi vào tìm hiểu lí thuyết về kiểm tra, đánh giá; các phương pháp dùng trong đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh và những yêu cầu, nguyên tắc xây dựng đề kiểm tra Sau đó
đi vào thiết kế đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 12 (ban cơ bản) Nghiên cứu luận văn này, người viết sẽ hiểu được tầm quan trọng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học; biết được cách thiết kế đề kiểm tra để đánh giá thật chính xác khách quan kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh lớp 12, theo chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn tập 1 (ban cơ bản)
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Như đã đề cập, luận văn này chỉ thiết kế đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 12 theo chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn tập 1 (bộ cơ bản), chủ yếu tập trung thiết kế các đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết dựa theo tài liệu phân phối chương trình của Bộ
Tuy nhiên để luận văn có tính khoa học, người viết đã khảo sát một số sách liên quan và Tạp chí Giáo Dục để làm tiền đề cho việc nghiên cứu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành luận văn này, người viết đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống:
Bằng phương pháp này trong quá trình tìm hiểu các tài liệu liên quan, người viết đã hệ thống hóa một số vấn đề xây dựng câu hỏi trắc nghiệm và tự luận Đó là những vấn đề có tính chất lí thuyết rất cần thiết cho việc kiểm tra, đánh giá
- Phương pháp phân tích so sánh:
Trên cơ sở hệ thống một số vấn đề xây dựng câu hỏi trắc nghiệm và tự luận từ các tài liệu liên quan, người viết đã đi vào phân tích để thấy rõ những ưu điểm, nhược điểm của từng hình thức kiểm tra Sau đó dùng phương pháp so sánh để lựa chọn từng hình thức kiểm tra phù hợp với các đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh lớp 12, theo chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn tập 1 (ban cơ bản)
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I : CƠ SỞ CHO VIỆC XÂY DỰNG ĐỀ KIỂM TRA
1 ĐÁNH GIÁ HỌC LỰC HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1.1 Vị trí của đánh giá học lực học sinh
Ở trường phổ thông học sinh được đánh giá hai mặt: học lực và hạnh kiểm Đánh giá kết quả học tập của học sinh có một tầm quan trọng trong việc giáo dục ở nhà trường phổ thông, điều quan trọng nhất là phải đánh gía chính xác, xếp được học sinh vào các loại Muốn đánh giá học sinh ta cần phải có tiêu chí có trước, tiêu chí đó là mục tiêu đào tạo giáo dục, thông tin về đối tượng đánh giá Sau
đó đối chiếu thông tin thu nhận được với mục tiêu trong nhà trường để đánh giá học sinh
Đánh giá học lực học sinh có một tầm quan trọng rất đặc biệt Đó không phải là cho điểm, xếp loại, mà quan trọng nhất là người giáo viên biết thực trạng để từ đó
mà điều chỉnh cách giảng dạy để đạt hiệu quả cao hơn, bản thân học sinh cũng điều chỉnh cách học cho tốt hơn
1.2 Mục đích của đánh giá
Đánh giá học lực học sinh là nhiệm vụ trực tiếp của người giáo viên dạy môn học đó, tùy theo hoàn cảnh và yêu cầu cụ thể mà việc đánh giá có những mục tiêu khác nhau
Ví dụ: - Đánh giá đầu vào
- Kiểm tra chất lượng đầu năm
- Kiểm tra định kì thường xuyên
Tuy vậy ta vẫn xác định mục đích chung sau đây:
- Xác định mục đích đạt được, chưa đạt được của những em học sinh đối với mục tiêu đạt được trong nhà trường về các mặt: tình trạng kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh, phát hiện những sai sót Qua đó giúp học sinh điều chỉnh cách học
- Người giáo viên phải công khai hóa các nhận xét về năng lực và kết quả học tập của học sinh tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá bản thân để thúc đẩy quá trình học tập tốt hơn
- Cung cấp cho gười giáo viên những thông tin cần thiết để đánh giá kết quả của mình, từ đó có thể điều chỉnh phương pháp giảnh dạy của mình cho phù hợp
Trang 8- Các nhà quản lí giáo dục nắm được thực trạng, từ đó định ra chủ trương, chính sách đánh giá phù hợp tình hình chung
1.3 Ý nghĩa của đánh giá học lực học sinh:
1.3.1 Đối với học sinh:
- Đánh giá là một điều kiện tốt nhất để giáo viên có thể truyền đạt đến học sinh mục tiêu yêu cầu của việc truyền đạt trong nhà trường
- Thông qua đánh giá học sinh có điều kiện để tiến hành rèn luyện các khả năng
tư duy ở mức độ cao nhất
- Đánh giá cung cấp thông tin phản hồi cho học sinh để học sinh biết được những gì mình đạt được, chưa đạt được theo yêu cầu của nhà trường, từ đó học sinh phấn đấu tốt hơn
- Củng cố cho học sinh lòng tự tin, tinh thần, trách nhiệm trong học tập
1.3.2 Đối với giáo viên:
- Người giáo viên nắm được thực trạng và năng lực của từng học sinh
- Biết được những mặt đạt được hoặc chưa đạt được so với mục tiêu dạy học trong nhà trường
- Phát hiện những sai sót, những khiếm khuyết trong kiến thức của học sinh, từ
đó có những giúp đỡ kịp thời
- Tự điều chỉnh phương pháp dạy học để nâng cao chất lương giảng dạy
- Thẩm định và đánh giá chính bản thân việc đánh giá học sinh
1.4 Yêu cầu đánh giá học lực của học sinh trung học phổ thông:
1.4.1 Khách quan và chính xác:
- Khách quan :
+ Việc tổ chức thi, kiểm tra phải được tiến hành một cách khách quan
+ Chấm bài tuân thủ theo đáp án thống nhất từ trước, không được tự ý đổi thang điểm khi chấm bài
+ Chấm bài phải đảm bảo yếu tố khách quan
+ Không để yếu tố chủ quan chi phối đến điểm số
- Chính xác: phải đánh giá đúng năng lực thật sự của học sinh Nếu đáng giá sai
sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng trong giáo dục
Trang 91.4.2 Đánh giá toàn diện:
Việc đánh giá phải bao hàm nội dung quy định trên cái nhìn tổng thể Tuy nhiên trong kiểm tra, thi cụ thể thì ta có thể tập trung vào một số phần trọng yếu
Hiện nay có tranh luận về cách kiểm tra Có 3 ý kiến khác nhau:
Cách kiểm tra, thi lạc hậu và đòi hỏi có một số đổi mới:
+ Học gì thi nấy
+ Học gì thi ít hơn nấy
+ Học gì thi nhiều hơn nấy
1.4.3 Đánh giá theo hệ thống:
Đánh giá học sinh phải theo hệ thống, từ đầu năm học đến cuối năm học và kế hoạch thi, kế hoạch kiểm tra thì phải được lập ra từ đầu năm đối với từng lớp Kế hoạch đó trong cuốn phân phối chương trình ngữ văn trung học phổ thông
1.4.4 Riêng biệt và phân biệt:
- Riêng biệt: phải đánh giá từng học sinh không được lấy thành tích của tập thể thay thế cho từng cá nhân
- Phân biệt: trong đánh giá phải dựa vào đặc điểm từng môn học, từng cấp học, mỗi một môn học trong nhà trường có một cách đánh giá khác nhau
- Kiểm tra chất lượng đầu năm
Mục đích của đánh giá đầu vào là kiểm tra học sinh đã học được những chương trình trước đến mức nào Và để học sinh có đủ khả năng để tiếp thu kiến thức mới hay không
1.5.2 Đánh giá từng phần
Một năm học ở trường phổ thông có khoảng 8 bài, có 2 bài ở nhà
1.5.3 Đánh giá thường xuyên
- Kiểm tra miệng
- Kiểm tra 15 phút
- Giáo viên quan sát học sinh để đánh giá
Trang 101.5.4 Đánh giá tổng kết
Là những kì thi quan trọng, thi học kì, thi tốt nghiệp phổ thông
1.6 Mục tiêu dạy học: cơ sở cho đánh giá học lực:
- Trong dạy học, việc đánh giá học lực học sinh có tầm quan trọng đặc biệt đó
là việc xác định những gì học sinh đạt được và chưa đạt được so với mục tiêu dạy học
Vì vậy, mục tiêu dạy học là cơ sở cho việc đánh giá học sinh Hiện đang còn tồn tại những ý kiến có độ khác biệt về mục tiêu dạy học trong nhà trường
- Các nhà giáo dục học trên thế giới đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau trong mục tiêu học tập, tuy nhiên những nền văn hóa tiên tiến trên thế giới thì đều dựa vào theo cách phân loại của Bloom ( nhà giáo dục học người Mĩ):
* Thang nhận thức của Bloom
Biết: biết sự kiện, chi tiếc sự việc mà chưa cần lí giải – nhớ
Hiểu (thông hiểu): hiểu sự vật sự việc, trình bày dưới dạng khác
+ Hiểu ý nghĩa của tác phẩm, nhân vật, chi tiết,
+ Hiểu giá trị của thủ pháp nghệ thuật
+ Nhận biết phong cách ngôn ngữ của văn bản
Vận dụng: vận dụng kiến thức giải quyết tình huống mới
+ Có thể viết được văn bản theo thể loại quy định
+ Đặt được câu theo mô hình quy định
Trang 11Phân tích: biết chia nhỏ các sự vật, sự việc thành bộ phận để tìm hểu ý nghĩa của từng loại bộ phận đó
Tổng hợp: từ các chi tiếc, các bộ phận có thể khái quát lên thành thực thể thống nhất Đánh giá: đây là khả năng có thể dua ra nhận xét đánh giá về một vấn đề nào đó, một giải pháp giải quyết
Ví dụ: Đánh giá (nhận xét) ý nghĩa kết thúc tác phẩm Chí Phèo, Tấm Cám,
1.7 Mô hình đánh giá và một số khái niệm cơ bản:
1.7.2 Các khái niệm cơ bản:
- Kiểm tra: là quá trình thu thập thông tin về đối tượng cần đánh giá
- Số đo thông tin do các công cụ kiểm tra đem lại
+ Công cụ kiểm tra, thi: quan sát của giáo viên, nghe, các điểm số
+ Số đo này có hai chỉ số:
Ě Độ giá trị: nhìn vào số đo người ta có thể đánh giá được công cụ đo đó
có tốt hay không, có nghĩa là có đo được cạ cần đo hay không
Ví dụ: chúng ta cần kiểm tra kiến thức và kỹ năng của học sinh: kiến thức gì, kỹ năng gì, ta chọn công cụ đo là thi vấn đáp Sau khi có kết quả kiểm tra rồi thì ta đánh giá hình thức thi vấn đáp đó có đo được kiến thức kỹ năng của học sinh hay không Nếu chính xác thì số đo đó có giá trị
Ě Độ tin cậy: cho ta thông tin số đo được có thể hiện đúng năng lực, trình độ học sinh hay không, và thể hiện đúng đến mức độ nào? Một số độ tin cậy: độ dài bài kiểm tra, thời gian làm bài, chất lượng câu hỏi và tính khách quan trong tổ chức thi
Điểm số trong nhà trường chỉ mang tính quy ước để nhằm mục đích xếp loại học sinh, chứ nó không có giá trị định lượng về kiến thức và kỹ năng
Kiểm tra + thi ánh giá Quyết ñịnh
Trang 12- Đánh giá: các số đo thu thập được sẽ làm cơ sở để giáo viên đánh giá học sinh theo những tiêu chí mà nhà trường đã qui định trước Sản phẩm của khâu đánh giá là những lời nhận xét của giáo viên về từng học sinh so với mục tiêu dạy học trong nhà trường
- Quyết định: đây là khâu cuối cùng của quá trình đánh giá học sinh, dựa vào những nhận định những thông tin thu nhận được, giáo viên đưa ra những nhận xét Các quyết định chúng ta thường đưa ra là cho điểm phù hợp, đề xuất giải pháp khắc phục thực trạng yếu kém, xếp loại học sinh, điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình hoặc là cho lên lớp hay lưu bang, giấy khen,
Dựa vào tiêu chí hình thức ta có các loại phương pháp sau:
2.1 Kiểm tra nói:
2.1.1 Kiểm tra miệng:
Đây là hình thức kiểm tra được sử dụng rộng rãi trong các môn học ở phổ thông nói chung và môn ngữ văn nói riêng
Đầu giờ: tính điểm theo yêu cầu
Trong tiết dạy bài mới: xem học sinh có hiểu bài không?
* Kiểm tra đầu giờ: giáo viên chỉ kiểm tra kiến thức đã học ( kiểm tra bài củ) + Thời gian dạy học 45 phút thì chỉ kiểm tra dưới 7 phút
+ Số lượng học sinh được kiểm tra là từ 1 đến 3 học sinh
+ Câu hỏi kiểm tra: giáo viên phải soạn sẵn câu hỏi và đáp án trước
Ě Dự kiến trước sẽ gọi học sinh nào, không nên cho học sinh xung phong
Ě Các câu hỏi: đảm bảo tính công bằng, tùy theo đối tượng mà ta hỏi học sinh câu hỏi như thế nào?
Ě Khi chúng ta cân nhắc là chưa thể quyết định cho mấy điểm thì chúng
ta có thể hỏi thêm câu hỏi phụ để đánh giá học sinh cho chính xác
Trang 13* Cách 1: đặt câu hỏi rồi gọi học sinh trả lời
* Cách 2: gọi học sinh trước rồi đặt câu hỏi sau
=> Ta nên sử dụng cách 1 vì khi ta đặt câu hỏi, học sinh không thể biết giáo viên
sẽ gọi ai, cho nên tất cả học sinh trong lớp sẽ suy nghĩ về câu hỏi đó, phát huy được tác dụng của câu hỏi
2.1.2 Kiểm tra vấn đáp:
- Bước 1: chuẩn bị
+ Giáo viên thông báo cho học sinh biết thời gian, địa điểm, danh sách học sinh phải kiểm tra Cần phải báo cho học sinh trước khoảng 1 tuần Học sinh phải biết danh sách để biết thứ tự kiểm tra
+ Giáo viên phải chuẩn bị câu hỏi kiểm tra, câu hỏi ghi trên phiếu ( phiếu câu hỏi) Cách làm phiếu:
Ě Số lượng vừa đủ Ví dụ: 45 học sinh khoảng 30 phiếu trở lên
Ě 2 câu hỏi nhỏ trên 1 phiếu
Ě Các phiếu có thể giống nhau 1 câu hỏi
- Bước 2: tổ chức kiểm tra
+ Bố trí phòng kiểm tra: vị trí ngồi của học sinh được kiểm tra phải đối diện với giám khảo ( giáo viên)
+ Gọi tên học sinh theo danh sách đã công bố trước Cách gọi học sinh vào phòng:
Ě Gọi A bắt thăm phiếu, chuẩn bị (khoảng 2 phút.)
Ě Gọi B bắt thăm phiếu, chuẩn bị
Ě Gọi C bắt thăm phiếu, chuẩn bị
Ě Gọi A trả lời Khi A trả lời xong, gọi D bắt thăm Gọi B trả lời
* Lưu ý:
- Khi có ý định giải lao thì ta không gọi học sinh vào bắt thăm nữa, mà ta gọi hết số học sinh trong phòng trả lời rồi mới nghỉ giải lao Nghỉ xong, ta làm lại như từ đầu
- Khi cần cân nhắc để cho điểm chính xác, ta cũng có thể hỏi thêm câu hỏi phụ
để đánh giá học sinh cho chính xác
* Ưu nhược điểm của phương pháp vấn đáp:
- Ưu điểm:
Trang 14+ Học sinh biết kết quả kiểm tra nhanh
+ Rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói + Đây cũng là điều kiện để học sinh có cơ hội đối thoại mà các hình thức khác không có
+ Chống gian lận rất tốt
- Nhược điểm:
+ Thuận lợi cho những học sinh có cá tính mạnh dạng, nói năng lưu loát Khó khăn cho những học sinh hạn chế về điều đó
+ Giáo viên dễ bị chi phối bởi cảm tính chủ quan
+ Lộ bài thi, lộ bài kiểm tra, giáo viên dễ tiêu cực
- Để đảm bảo tính công bằng cho học sinh, người giáo viên không nên chỉ sử dụng một phương pháp trong suốt 1 năm học mà nên kết hợp nhiều phương pháp khác nhau
- Để đảm bảo tính công bằng cho học sinh, trong tổ chuyên môn nên cần thống nhất một số điều sau đây:
+ Khi học sinh bắt thăm câu hỏi mà có yêu cầu bắt câu khác thì trừ bao nhiêu điểm
+ Người giáo viên khi kiểm tra vấn đáp nên giữ thái độ vui tươi, hòa nhã
2.1.3 Thuyết trình
* Đây là hình thức nhằm hai mục đích:
- Tập cho học sinh biết hợp tác với nhau trong nghiên cứu
- Rèn luyện khả năng trình bày trước đông người bằng ngôn ngữ nói
* Các bước thực hiện:
- Giao đề tài cho một nhóm học sinh thực hiện Nhóm học sinh có thể giao động
từ 10 đến 15 học sinh Cả nhóm thực hiện chung một nhiệm vụ
Trang 15- Tổ chức cho học sinh thuyết trình: khoảng thời gian từ lúc giao đề tài đến lúc thuyết trình phải đủ cho học sinh thực hiện, tùy theo đề tài mà thời gian dài hay ngắn
Có thể từ 2 tuần đến 1 tháng
- Tập trung học sinh một buổi để cho học sinh thuyết trinh, nếu giờ chính khóa thì có thể sử dụng 2 tiết trùng nhau Nếu số lượng lớn thì tổ chức thành một buổi riêng hoặc là đưa nó vào nội dung của câu lạc bộ văn học
- Yêu cầu đại diện 1 nhóm lên trình bày kết quả của nhóm mình Tất cả các thành viên trong nhóm đều có trách nhiệm trả lời chấp vấn của các thành viên trong lớp
- Đánh giá:
+ Cho nhóm chấm điểm từng thành viên để đánh giá công lao đóng góp của từng thành viên khi thực hiện đề tài
+ Giáo viên quan sát tổng hợp để đánh giá từng thành viên trong nhóm
* Lưu ý chung cho phương pháp kiểm tra nói:
- Các câu hỏi nêu ra phải được trình bày một cách rõ ràng để học sinh nắm ngay được câu hỏi
- Trong kiểm tra miệng cần phải khách quan, vô tư để tránh gây ra những suy nghĩ không tốt trong tư tưởng của học sinh
2.2 Kiểm tra viết
- Đây là hình thức phổ biến nhất ở trường phổ thông Trong môn ngữ văn, ta sử dụng phổ biến:
+ Khả năng khái quát hóa của học sinh
- Ưu điểm và nhược điểm:
* Ưu điểm:
+ Kiểm tra và đánh giá học sinh khá chính xác
Trang 16+ Kiểm tra trí nhớ học sinh và yêu cầu trong môn ngữ văn rất tốt
* Nhược điểm:
+ Khó kiểm tra được năng lực nhận thức cấp cao của học sinh Vì trong hình thức tự luận ngắn, chúng ta không thể ra những đề đòi hỏi chiều rộng và chiều sâu của kiến thức mà chỉ là những vấn đề nhỏ
+ Khó kiểm tra khả năng sáng tạo của học sinh
+ Học sinh có thể gian lận trong khi kiểm tra: xem tài liệu, nhìn bài của nhau
Ví dụ:
Ě Tóm tắt sự nghiệp văn học của tác giả
Ě Quan điểm văn học của nhà văn, nhà thơ
Ě Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Ě Đặc điểm và thành tựu của thời kì văn học
Ě Đặc điểm của một phong cách ngôn ngữ
Ě Các khái niệm trong môn tiếng Việt
2.2.2 Tự luận ( làm văn)
Phần môn làm văn là môn giáo viên gặp nhiều khó khăn Lý do:
+ Chưa thống nhất môn làm văn thuộc văn hay tiếng
+ Làm văn: học sinh cần sử dụng kiến thức nào?
Ě Giới thiệu thuyết minh
Ě Miêu tả
Ě Phân tích
Ě Cảm nhận, cảm nghĩ
Trang 17Ě Bình luận
=> Người ta đòi hỏi đổi mới cách ra đề kiểm tra đánh giá học sinh, cần chú ý:
- Phải khuyến khích được tính chủ động và sáng tạo của học sinh Giáo viên có thể yêu yêu cấu học sinh phân tích những tác phẩm ngoài sách giáo khoa hoặc là giáo viên chưa từng giảng trên lớp
- Đối với đề tập làm văn thì phải kiểm tra được khả năng viết, cảm thụ văn học
và kỷ năng tiếp nhận của học sinh Những đề văn thuộc về nghị luận xã hội thì định hướng những vấn đề tư tưởng, đạo đức lối sống gần gũi với đời sống học sinh
- Ưu điểm và nhược điểm:
* Ưu điểm:
+ Ra đề khá dễ dàng, nhanh
+ Có thể kiểm tra được năng lực nhận thức cấp cao của học sinh: khả năng phân tích sâu sắc, khả năng cảm thụ văn học, đó là những khả năng mà các hình thức kiểm tra khác không kiểm tra được
+ Kích thích và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, đó cũng là cơ hội
để các em học sinh bộc lộ năng lực riêng
* Nhược điểm:
+ Độ bao phủ chương trình rất thấp Vì chúng ta không thể ra nhiều câu tự luận trong kiểm tra, thi mà chỉ có thể ra từ 1 đến 2 câu và chỉ có thể tập trung được một vấn đề tác phẩm, tác giả
+ Học sinh vẫn có thể gian lận trong khi thi
+ Chấm bài tự luận tốn nhiều thời gian, mệt mỏi, nhưng kết quả có độ tin cậy không cao
+ Điểm số của bài tự luận bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố vốn không phải là mục tiêu kiểm tra chủ yếu: văn phong, chính tả,
+ Trong thực tế, một bài văn tự luận các giáp viên chấm điểm có thể cho điểm khác nhau và đôi khi mức chênh lệch điểm là khá lớn
- Lưu ý khi sử dụng câu tự luận:
+ Hiện nay chúng ta đang đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của học sinh cho nên giáo viên ra câu tự luận trong một bài kiểm tra nên kết hợp với các câu trắc nghiệm khách quan để hình thức này bổ sung cho nhau
Trang 18+ Khi ra đề tự luận nên hướng vào những mục tiêu cần đánh giá mà chính hình thức khác không thể kiểm tra được
+ Đề làm văn phải truyền đạt thật rõ ràng những vấn đề mà các em phải giải quyết
+ Giáo viên phải thật tỉ mỉ và chu đáo khi ra đề
- Chấm bài làm văn:
Chấm 2 vòng độc lập ( bài làm văn thường) Dựa vào cơ sở khoa học
+ Người ra đề phải là người soạn đáp án, đáp án càng chi tiết bao nhiêu thì nó càng ít lạc điểm bấy nhiêu
+ Tất cả các giáo viên chấm cùng thảo luận để thống nhất những ý cần có trong đáp án
+ Có thể chấm thử một số bài để điều chỉnh lẫn nhau cho công bằng
- Cách chấm:
+ Thái độ giáo viên khi chấm bài: giáo viên phải có tình thương yêu học sinh
và khuyến khích học sinh vươn lên, tránh mạt xác học sinh bằng những lời phê không
có ý nghĩa giáo dục ( ví dụ: lộn xộn, lan man, )
+ Cách chấm: khi chấm bài làm văn ta phải khảo sát đồng thời cùng lúc về nội dung và hình thức:
٭ Nội dung:
Ě Kiến thức: xét xem học sinh trình bày kiến thức có đầy đủ hay không? Sâu sắc hay là nông cạn? Đúng hay sai?
Ě Chủ đề: xét xem bài làm của học sinh có đi đúng hướng hay không?
Có những biểu hiện lạc đề, sai đề
Ě Tư tưởng: học sinh có bọc lộ những điều gì sai hay không?
Người giáo viên cần phân biệt 2 loại:
Loại 1: sai do nhận thức là lỗi nặng
Loại 2: sai do diễn đạt là lỗi nhẹ, đưa về lỗi diễn đạt
Trang 19Ě Ngôn ngữ: đây là vấn đề phức tạp nhất trong chấm bài làm văn
- Chính tả: do phương ngôn nên nhiều học sinh viết sai chính tả, sai những quy định chung mang tings pháp lí của nhà nước
- Ngữ pháp: thiếu chủ ngữ, vị ngữ, cả chủ ngữ và vị ngữ,
Ě Trình bày: yêu cầu học sinh trình bày một cách sạch sẽ, đẹp mắt, trong thang điểm nên có một phần điểm trình bày ( tối đánh giá là một điểm)
- Lời phê phải tương ứng với điểm số
- Mỗi bài văn trong những kì thi quan trọng cần có 2 giáo viên chấm độc lập với nhau và người chấm bài không được biết học sinh nào đã làm bài văn đó
Trang 20٭ Ưu điểm và nhược điểm:
+ Ưu điểm:
Ě Xây dựng câu hỏi tương đối dễ dàng, độ bao phủ kiến thức rất cao Vì
ta có thể ra nhiều câu đúng / sai, rải đều trong chương trình học sinh đã học
Ě Chấm bài rấy nhanh, dễ dàng Kết quả chấm bài có độ tin cậy rất cao (giáo viên không thể đưa chủ quan vào chấm bài, nhưng khi ra đề vẫn còn yếu tố chủ quan)
- Nên sử dụng kết hợp với các hình thức kiểm tra khác trong một bài kiểm tra
có độ dài từ 45 phút trở lên, và trong suốt cả học kỳ, cả năm
- Câu hỏi cần đơn giản, tránh phức tạp dài dòng và chỉ nên tập trung vào một, cho đến tối đánh giá là hai thông tin quan trọng cần hỏi
- Nếu kiểm tra mức độ hiểu thì cần tránh sử dụng những câu nguyên văn ở sách giáo khoa hoặc sách giáo viên
- Phải đảm bảo chắc chắn câu đó đúng hoặc sai là đơn giá trị
2.2.3.2 Dạng câu điền khuyết:
٭ Cấu tạo: Dạng câu điền khuyết được cấu tạo bằng một câu cho trước mà trong đó, ta lấy từ một đến hai thông tin quan trọng nhất Nhiệm vụ người làm là phải chọn đúng thông tin để điền vào chổ trống trong câu
Trang 21٭ Sử dụng: Người giáo viên có thể sử dụng loại câu điền khuyết để kiểm tra kiến thức nhớ của học sinh là chính Và cũng không nên hoặc hạn chế kiểm tra các năng lực nhận thức khác bởi vì thông tin điền vào chổ trống có thể là đánh giá nghĩa ( hiểu đánh giá nghĩa)
٭ Ưu điểm và nhược điểm:
Ě Học sinh có thể gian lận trong kiểm tra, thi
Ě Không thể kiểm tra được những năng lực nhận thức cấp cao
٭ Lưu ý:
- Chỉ nên sử dụng câu điền khuyết kết hợp với các dạng câu khác và trong một
đề kiểm tra nên sử dụng với một số lượng câu vừa phải, tránh lạm dụng
- Các thông tin đúng để điền vào khoảng trống có độ dài ngắn khác nhau nhưng các khoảng trống mà ta để trong câu phải bằng nhau ( Tạo yếu tố gây nhiễu)
2.2.3.3 Dạng ghép đôi:
٭ Cấu tạo: Có 2 cột thông tin tương ứng với nhau Cột 1 là câu dẫn và cột 2
là câu trả lời Nhiệm vụ của người làm là ghép thông tin ở cột thứ 1 với cột 2 cho đúng, hoặc là nối chúng với nhau tùy theo yêu cầu của người ra đề Ta cũng cần có một câu hướng dẫn cách làm bài
Ví dụ: Điền vào khoảng trống ở bên trái của bài thơ chữ cái tương ứng với tác giả của bài thơ đó theo cột bên phải:
Trang 2332
٭ Sử dụng: Để kiểm tra kiến thức ghi nhớ của học sinh là chính Có thể kiểm tra kiến thức học sinh về mối tương quan giữa 2 mảng kiến thức khác nhau, chủ yếu là ghi nhớ
٭ Ưu điểm và nhược điểm:
+ Ưu điểm:
Ě Kiểm tra nhiều vấn đề trong một khoảng thời gian ngắn
Ě Chấm dễ, nhanh, khách quan, kết quả tin cậy cao
+ Nhược điểm:
Ě Thiết kế câu hỏi không dễ, tốn thời gian
Ě Không kiểm tra được những năng lực nhận thức cấp cao của học sinh
Ě Nếu lạm dụng thì sẽ dẫn học sinh đến chổ học vẹt, học mà không hiểu
Ě Học sinh có thể gian lận khi thi
٭ Lưu ý:
- Thông tin mỗi cột phải cùng loại và đồng nhất
- Danh sách các thông tin ở mỗi đề mục không nên quá dài, không vượt quá 10
- Số lượng thông tin ở cột trả lời nên dùng nhiều hơn cột câu dẫn (để gây độ nhiễu cao, tránh đoán mò)
- Các thông tin ở mõi cột nên đánh số theo số thứ tự số học và thứ tự chữ cái
- Người giáo viên phải nói cho học sinh rõ cách làm ngay từ đầu để tránh nhằm lẫn
√ Nhận xét chung: Cả 3 hình thức trắc nghiệm: Đúng/Sai, điền khuyết và ghép đôi Hiện nay sử dụng ở trường phổ thông tươn g đối ít Nhất là đối với môn ngữ văn Người giáo viên sử dụng hình thức này với lượng vừa phải và kết hợp hình thức kiểm tra khác để đánh giá học sinh chính xác hơn Quan trọng là tránh sự lạm dụng
2.2.3.4 Dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn:
Trang 24٭ Cấu tạo: Được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam Người ta cũng sử dụng nhiều trong các trò chơi trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Cấu tạo loại trắc nghiệm này có 2 phần: phần dẫn là phần câu hỏi nêu lên vấn đề chính, nó có thể là một câu hỏi trực tiếp hoặc là câu chưa hoàn chỉnh Nếu là câu hỏi trực tiếp thì ở cuối câu có dấu chấm hỏi (?) Nếu là câu chưa hoàn chỉnh thì cuối câu có dấu hai chấm (:) Phần câu dẫn không nên quá dài
- Trả lời là những đáp án có sẵn, gọi là các phương án trả lời Trong đó chỉ
có 1 phương án là đúng hoặc đúng nhất
Nhiệm vụ của người làm bài là lựa chọn ra phương án đúng hoặc đúng nhất Những phương án còn lại gọi là câu nhiễu Độ gây nhiễu càng cao thì câu trắc nghiệm càng tốt
Thông thường 1 câu trắc nghiệm có từ 3 đến 5 phương án trả lời
Nếu dùng 3 phương án thì tỉ lệ đoán mò của học sinh là đúng đến 33%, 4 phương án là 25%
Thông thường người ta dùng 4 phương án là tốt nhất 3 phương án thì tỉ lệ đoán mò còn cao, 5 phương án thì khó viết câu gây nhiễu
٭ Sử dụng: kiểm tra nhiều năng lực của học sinh: nhớ, biết, hiểu, sáng tạo
- Có thể sử dụng ở cả 2 phân môn: Đọc Văn và Tiếng Việt
٭ Ưu điểm và nhược điểm:
+ Ưu điểm:
Ě Kiểm tra học sinh ở tầm phổ quát rộng cả về năng lực
Ě Kiểm tra học sinh được nhiều câu, hạn chế việc học tủ của học sinh
Ě Kết quả đem lại độ tin cậy rất cao
Ě Hạn chế được tình trạng gian lận trong kiểm tra, thi
Ě đánh bài nhanh, dễ, khách quan
+ Nhược điểm:
Trang 25- Mỗi câu chỉ hỏi một vấn đề duy nhất
- Một câu hỏi đảm bảo có một đáp án trả lời đúng nhất
- Không nên thiết kế câu hỏi theo quan điểm cá nhân để tránh gây sự tranh cãi không cần thiết
+ Câu dẫn:
Ě Câu hỏi rõ ràng, trong sáng, học sinh đọc lên hiểu ngay
Ě Nếu sử dụng câu hỏi trực tiếp thì cuối câu đạt dấu chấm hỏi (?), nếu là câu chưa hoàn chỉnh thì cuối câu phải có dấu hai chấm (:)
Ě Không dùng từ ngữ không cần thiết
Trang 26Có thể là một trong các loại kiểm tra có tính chất sau đây:
- Đánh giá đầu vào:
Ě Tuyển sinh lớp 10
Ě Thi chọn học sinh giỏi
- Kiểm tra được học sinh có đủ kiến thức và kỉ năng để học tập chương trình mới hay không?
- Đánh giá định kì: Các giáo viên dạy ở lớp phải làm đề kiểm tra, đề thi, mục đích là theo dõi quá trình học tập của học sinh và việc tiếp thu kiến thức của các em đối với phần nội dung đã học Giáo viên nắm được thông tin phản hồi từ kết quả bài làm của các em
- Đánh giá tổng kết, thi học kì: tổng kết lại quá trình học tập của học sinh trong 1 học kì, hoặc là cả năm học, cần phải so sánh với mục tiêu học tập đã đề ra ban đầu để đánh giá học sinh cho chính xác, có ý nghĩa quan trọng cho học sinh
lên lớp hay không
- Đối với phân môn làm văn, chúng ta sẽ nhắm tới kiến thức kỉ năng gì?
Từ việc xác định mục tiêu cụ thể, chúng ta lấy đó làm chủ đạo chọn trong chương trình kiểm tra
3.2 Thiết kế đề kiểm tra
Dựa vào cơ sở khoa học để thiết kế Tránh tùy tiện cảm tính
3.2.1 Xây dựng bảng cấu trúc hai chiều ( ma trận):
- Nội dung: xác định trong đề kiểm tra này giáo viên sẽ kiểm tra:
Ě Kiểm tra những nội dung nào?
Ě Kiểm tra những bài nào trong chương trình?
Ě Kiểm tra những kiến thức kỉ năng nào?
Trang 2736
- Năng lực: Dựa vào thang năng lực mức độ: Biết ( nhớ) → hiểu ( thông hiểu) → Vận dụng ( mức thấp, mức cao)
3.2.2 Lựa chọn hình thức kiểm tra
Tự luận và trắc nhiệm khách quan
- Tỉ lệ điểm giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan:
+ Kiểm tra 15 phút: tự luận hoặc trắc nghiêm khách quan
+ Kiểm tra 45 phút trở lên: tự luận và trắc nghiêm khách quan
Ě Tự luận: từ 6 điểm đến 8 điểm
Ě Trắc nghiệm khách quan: từ 2 điểm đến 4 điểm
Giáo viên cần cân nhắc về tỉ lệ điểm giữa các mức độ nhận thức
Ví dụ: biết, hiểu, vận dụng mỗi loại bao nhiêu phần trăm
- Mức độ của đề kiểm tra (trắc nghiệm khách quan):
+ Dễ, rất dễ: Biết > Hiểu
+ Trung bình: Biết = Hiểu
+ Tương đối khó, rất khó: Biết < Hiểu
3.3 Viết câu hỏi:
- Sau khi xây dựng xong bảng ma trận và đồng ý hoàn toàn tỉ lệ các câu thì người giáo viên tiến hành bước tiếp theo là viết câu hỏi Khi viết câu hỏi thì căn cứ vào bảng ma trận để viết Không nên thay đổi về tỉ lệ giữa các phần mà mình đã cân nhắc kỉ khi quyết định
- Khi viết câu hỏi khi viết nhiều hơn số lượng trong bảng ma trận để khi đưa vào kiểm tra, lựa chọn một lần nữa cho tốt hơn Câu nào ưng ý nhất thì đua vào đề, câu nào băn khoăn thì loại bỏ
- Khi viết hết câu trắc nghiệm khách quan thì chuyển sang viết câu tự luận ٭ Lưu ý:
Ě Số lượng câu ứng với số tiết
Ě Số lượng câu cân đối giữa Đọc Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn
3.4 Tổ chức bài kiểm tra:
Đảm bảo khoa học, đúng yêu cầu dự kiến
Trang 283.4.1 Đánh giá lại các câu hỏi đã viết:
Đòi hỏi tính chu đáo cẩn thận người giáo viên, tránh những sai sót nhằm lẫn Nên đứng trên quan điểm người học sinh để xem xét các câu hỏi đó
+Trong phần trắc nghiệm cấu trúc dùng loại nào, phù hợp không?
+ Tỉ lệ điểm giữa tự luận và trắc nghiệm, giữa các phân môn và mức độ năng lực cần kiểm tra điều chỉnh cho phù hợp
- Nhìn tổng quát các câu hỏi, nhận xét xem vấn đề trọng tâm các câu hỏi có
rõ không? Học sinh đọc có hiểu ngay không?
- Ngôn ngữ sử dụng trong tất cả các câu hỏi có trong sáng dễ hiểu không?
Từ ngữ nào thừa thì loại bỏ
- Đối với những câu trắc nghiệm thì câu trả lời có đơn giá trị không? Nếu câu nào cảm thấy gây tranh cãi không cần thiết thì viết lại câu nhiễu khác
- Các câu hỏi có độc lập nhau về mặt nội dung hay không? Tránh tình trạng học sinh lấy câu này để trả lời câu khác
- Nhìn toàn bộ đề kiểm tra xem có vừa sức với đối tượng mình kiểm tra không, điều chỉnh
3.4.2 Sắp xếp các câu hỏi vào đề kiểm tra:
Trang 2938
Giáo viên phát đề trắc nghiệm trước, cho học sinh làm trong một khoảng thời gian rồi thu bài làm Sau đó phát đề tự luận, cho học sinh làm giấy riêng, hết giờ thu bài
Đối với trắc nghiệm khách quan, có một số nguyên tắc để ta sắp xếp sau đây:
- Nguyên tắc 1: các câu hỏi cùng loại được xếp thành một nhóm: nhóm đúng/sai, điền khuyết, ghép cột, trắc nghiệm nhiều lựa chọn Mỗi nhóm viết 1 câu hướng dẫn làm bài
+ Ưu điểm:
Ě Giảm bớt những câu hướng dẫn cách làm bài một cách thấp nhất, đảm bảo tính khoa học
Ě Thuận lợi cho học sinh làm bài
- Nguyên tắc 2: Trong một bài kiểm tradungf nhiều loại trắc nghiệm khách quan nên sắp xếp theo thứ tự sau đây:
+ Câu đúng/sai
+ Điền khuyết
+ Ghép đôi
+ Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
- Trong nội bộ từng loại, ta lại xếp theo nguyên tắc: độ khó tăn dần
+ Học sinh có được sử dụng tài liệu không?
+ Yêu cầu giám thị không giải thích đề kiểm tra
3.4.3 Cách trình bày câu trả lời
٭ Đối với trắc nghệm khách quan:
Cách 1: Trả lời trực tiếp vào đề kiểm tra:
Trang 30- Đúng/Sai
- Điền khuyết
- Ghép đôi
- Nhiều lựa chọn: Khoanh tròn phương án lựa chọn
nhầm lẫn
+ Khuyết điểm:
Ě Không tiết kiệm được đề
Ě Giáo viên chấm bài lâu, có khi bị nhầm lẫn
Cách 2: Làm vào phiếu trả lời riêng Khó khăn: không sử dụng được dạng câu điền khuyết
Cách chấm:
- Chấm thủ công bằng mắt và tay
- Chấm bằng máy quét quang học
Thiết kế phiếu trả lời:
Thông tin học sinh:
Trang 3140
Trả lời câu
Trang 32CHƯƠNG II: XÂY DỰNG ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH LỚP 12 THEO CHƯƠNG TRÌNH SÁCH
GIÁO KHOA NGỮ VĂN 12, TẬP 1 (BỘ CƠ BẢN)
1 KIỂM TRA 15 PHÚT
1.1 Đề số 1
- Thời gian theo phân phối chương trình: tuần 4
- Mục đích kiểm tra: đánh giá mức độ biết, hiểu tri thức của học sinh về
Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh; yêu cầu trong việc giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt
- Nội dung kiểm tra:
+ Tri thức ở bài Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
+ Đánh giá kết quả học tập ở bài: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
- Thời gian làm bài: 15 phút
1.1.1 Nội dung đề:
Câu 1 (6 điểm): Nêu tóm tắt giá trị lịch sử và giá trị văn học của bản Tuyên ngôn Độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh
Câu 2 (4 điểm): Sự trong sáng là một phẩm chất cao đẹp của tiếng Việt Phẩm chất
đó được biểu hiện ở các phương diện chủ yếu nào?
1.1.2 Đáp án:
Câu 1:
- Giá trị lịch sử:
+ Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu xa
của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do, cũng là kết quả đấu tranh gần một trăm năm của dân tộc ta để có quyền thiêng liêng đó
+ Bản Tuyên ngôn Độc lập đã tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong
kiến ở Việt Nam và mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta: kỉ nguyên độc lập, tự
do, kỉ nguyên nhân dân làm chủ đất nước
- Giá trị văn học:
Trang 3342
+ Bản Tuyên ngôn Độc lập là một án văn yêu nước lớn của thời đại Tác
phẩm khẳng định sức mạnh quyền độc lập của dân tộc, gắn độc lập dân tộc với quyền sống của con người, nêu cao truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo của người Việt Nam
+ Bản Tuyên ngôn Độc lập là một án văn chính luận mẫu mực Dung lượng
tác phẩm ngắn gọn, cô đọng, gây ấn tượng sâu sắc Kết cấu tác phẩm mạch lạc chặc chẽ; dẫn chứng cụ thể, xác thực; lập luận sắc bén giàu sức thuyết phục Ngôn ngữ tác phẩm chính xác, gợi cảm, tác động mạnh mẽ vào tình cảm, nhận thức của người đọc, người nghe
Câu 2: Sự trong sáng của tiếng Việt được biểu hiện qua một số phương diện cơ bản sau đây:
- Tiếng Việt có hệ thống quy tắc, chuẩn mực chung về phát âm, chữ viết, về dùng từ, đặt câu, về cấu tạo lời nói, bài văn,… Những chuẩn mực đó là cơ sở chung cho việc thể hiện rõ ràng, mạch lạc nội dung tư tưởng, tình cảm và lĩnh hội được đầy đủ, chính xác nội dung những nội dung của người khác
- Sự trong sáng của tiếng Việt không cho phép sủ dụng tùy tiện, không cần thiết những yếu tố của một ngôn ngữ khác
- Sự trong sáng của tiếng Việt cũng biểu hiện ở chính phẩm chất văn hóa, lịch sử của lời nói Nói năng thô tục, thiếu văn hóa, bất lịch sự tức là làm cho tiếng Việt mất đi sự trong sáng
1.2 Đề số 2:
- Thời gian theo phân phối chương trình: tuần 8
- Mục đích kiểm tra: đánh giá mức độ biết, hiểu tri thức của học sinh về bài
thơ Tây Tiến của Quang Dũng
- Nội dung kiểm tra: Một phần tri thức ở bài Tây Tiến của Quang Dũng
- Thời gian làm bài: 15 phút
1.2.1 Nội dung đề
Câu 1 (5 điểm): Nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)
Trang 34Câu 2 (5 điểm): Chép theo trí nhớ khổ thơ cuối của bài thơ Tây Tiến (Quang
Dũng) Bốn câu kết thể hiện điều gì?
1.2.2 Đáp án:
Câu 1: Tây Tiến là một đơn vị bộ đội thành lập năm 1947, trong kháng chiến chống thực dân Pháp Lính Tây Tiến phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, trí thức Đơn vị này hoạt động trên địa bàn rộng lớn, đa phần là rừng núi hiểm trở từ Hòa Bình, Sơn La (Việt Nam) sang Sầm Nứa (Lào) Sinh hoạt của họ vô cùng gian khổ, thiếu thốn (rất nhiều người chết vì sốt rét); tuy vậy,
họ vẫn lạc quan và dũng cảm chiến đấu
Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về thành lập Trung đoàn 52 Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu Chanh, bồi hồi nhớ đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến, Quang Dũng đã viết bài thơ này Bài
thơ lúc đầu có nhan đề là Nhớ Tây Tiến, năm 1975, khi in lại bài thơ, tác giả đổi thành Tây Tiến
Câu 2: Khổ thơ cuối của bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Bốn câu kết có thể coi là lời thề son sắt của các chiến sĩ Tây Tiến Họ vẫn
quyết chiến đấu cùng đồng đội, vẫn sống trong lòng đồng đội: Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
1.3 Đề số 3
- Thời gian theo phân phối chương trình: tuần 13
- Mục đích kiểm tra: đánh giá mức độ biết, hiểu tri thức của học sinh về một số bài đọc văn
- Nội dung kiểm tra: một phần tri thức ở bài: Việt Bắc (Tố Hữu), Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), Sóng (Xuân Quỳnh)
Trang 3544
- Thời gian làm bài: 15 phút
Bảng cấu trúc hai chiều:
1.3.1 Nội dung đề
Hãy khoanh tròn những đáp án đúng trong những câu sau đây:
Câu 1: Kết cấu bài thơ Việt Bắc có gì đặc biệt?
A Bài thơ kết cấu theo thể thơ lục bát quen thuộc
D Bài thơ kết cấu theo tâm trạng của nhân vật trữ tình
Câu 2: Chú thích về thời gian sáng tác cho tập thơ nào dưới đây chưa đúng?
Câu 3: Bài thơ Việt Bắc triển khai theo một tứ thơ, đó là gì?
Câu 4: Hình ảnh áo chàm trong câu thơ “Áo chàm đưa buổi phân li” được
dùng theo biện pháp tu từ nào?
Trang 36A Ẩn dụ
C Ước lệ
Câu 5: Tư tưởng cốt lõi của nhận thức về đất nước trong đoạn trích Đất Nước
của Nguyễn Khoa Điềm là tư tưởng gì?
A Đất nước anh hùng trong lao động sản xuất và chiến đấu
B Đất nước của thơ ca nhạc họa
C Đất nước của những con người bình thường, giản dị
D Đất nước của nhân dân
Câu 6: Đoạn trích Đất Nước được viết theo lối thơ như thế nào?
Câu 8: Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh được trích trong tập thơ nào?
Câu 9: Đoạn thơ dưới đây gợi điều gì?
Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa
Trang 3746
Câu 10: Qua Sóng, Xuân Quỳnh đã thể hiện một quan niệm về tình yêu như
thế nào?
C Đề cao cá tính trong tình yêu, rất mạnh mẻ, táo bạo và hiện đại, rất đời thường
- Thời gian theo phân phối chương trình: tuần 17
- Mục đích kiểm tra: đánh giá mức độ biết, hiểu tri thức của học sinh về
đoạn trích Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
- Nội dung kiểm tra: Một phần tri thức ở bài: Người lái đò sông Đà (trích
tùy bút Sông Đà) của Nguyễn Tuân:
+ Phần 1: tác giả
+ Phần 2: tác phẩm
- Thời gian làm bài: 15 phút
- Bảng cấu trúc hai chiều:
Trang 381.4.1 Nội dung đề
Hãy khoanh tròn những đáp án đúng trong những câu sau đây:
Câu 1 Nguyễn Tuân sinh trưởng trong một gia đình:
B Nhà nho ở Hà Nội khi Hán học đã tàn
D Trí thức cách mạng tại Huế
Câu 2 Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc của Nguyễn Tuân được thể hiện chủ yếu qua:
A Tình yêu với những giá trị tinh thần phong phú của dân tộc
Câu 3 Đặc điểm phong cách nào dưới đây không thuộc về Nguyễn Tuân?
Câu 4 Dòng nào dưới đây nói đúng quan niệm của Nguyễn Tuân về văn chương?
kiểu mẫu đã có sẵn
D Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Trang 3948
Câu 5 Người lái đò sông Đà viết về đề tài gì?
Câu 6 Sông Đà được miêu tả với những nét tính cách nào?
Câu 7 Ông lái đò được ca ngợi với những vẻ đẹp gì?
B Là tay lái ra hoa
Câu 8 Từ cách lựa chọn từ ngữ và so sánh độc đáo, câu văn “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuốn lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù” của Nguyễn Tuân đã biểu đạt sâu sắc tư tưởng gì?
A Cuộc đời lao động trên sông nước miền Tây của người lái đò rất gian truân vất vả
đợi của con người nơi bến nước
C Lòng yêu nghề đã thấm vào máu thịt, trở thành cốt cách của người lái
đò
Câu 9 Nói: thể tùy bút trong sáng tác của Nguyễn Tuân đặc sắc nhất là bởi lí
do: ông có cái tôi độc đáo tài hoa Là:
Điền vào chổ trống những từ, cụm từ để có câu trả lời đúng