Trên cơ sở đó, tác giả xác định những tiền đề khoa học của một hệ phương pháp dạy học văn chương theo hướng tích cực – hiện đại như: “Sử dụng các “khí quan tự nhiên” và “khí quan nhân t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN
TRẦN THỊ MỶ XUÂN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG QUY TRÌNH DẠY HỌC
MỘT SỐ BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
THEO HƯỚNG QUY NẠP
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: VÕ HUY BÌNH
Cần Thơ, 5 - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Vậy là bốn năm đại học đã trôi qua, tôi sắp phải rời ngôi trường đại học thân yêu để tiếp bước theo thầy cô của mình làm người lái đò đưa các em học sinh đến bến bờ tri thức
Trong thời gian còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đã được các thầy cô chỉ dạy tận tình về kiến thức cũng như những kinh nghiệm trong cuộc sống Hôm nay tôi
đã vận dụng những kiến thức đó để hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi gặp không ít khó khăn nhưng được sự quan tâm và giúp đỡ tận tình của các thầy cô, bạn bè, tôi đã hoàn thành được luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa Sư Phạm đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kỹ năng làm nền tảng để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn Trung tâm học liệu và thư viện Khoa Sư Phạm đã tạo điều kiện cho tôi mượn tài liệu nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy Võ Huy Bình Thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn Cuối cùng tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp cao quý Chúc các bạn vui, khỏe, đạt thành tích tốt trong học tập và công tác
Trân trọng kính chào!
Sinh viên thực hiện
TRẦN THỊ MỶ XUÂN
Trang 3CÁCH NGÔN NGỮ THEO HƯỚNG QUY NẠP
1 Quá trình nhận thức của học sinh
2 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm
3 Các định hướng trong quá trình dạy học của Robert J.Marzano
3.1 Định hướng 1: Thái độ và nhận thức tích cực về việc học
3.2 Định hướng 2: Thu nhận và tổng hợp kiến thức
3.3 Định hướng 3: Mở rộng và tinh lọc kiến thức
3.4 Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có hiệu quả
3.5 Định hướng 5: Rèn luyện thói quen tư duy
4 Đặc điểm kiến thức cần dạy trong một số bài phong cách ngôn ngữ
5 Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Tiếng Việt
5.1 Phương pháp diễn giảng
5.2 Phương pháp đàm thoại
5.3 Phương pháp trực quan
5.4 Phương pháp dạy học nêu vấn đề
5.5 Phương pháp thảo luận nhóm
6 Phương pháp quy nạp
6.1 Khái niệm quy nạp và phương pháp quy nạp
6.2 Mô hình hình thành kiến thức khái niệm theo hướng quy nạp
6.3 Tác dụng của phương pháp quy nạp
Trang 4CHƯƠNG 2 : SỬ DỤNG QUY TRÌNH QUY NẠP VÀO DẠY HỌC MỘT SỐ
BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
1 Một số bài thiết kế giáo án
1.1 Bài 1: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ( 2 tiết)
1.2 Bài 2: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ( 1 tiết)
1.3 Bài 3: Phong cách ngôn ngữ báo chí (2 tiết)
1.4 Bài 4: Phong cách ngôn ngữ chính luận ( 2 tiết)
1.5 Bài 5: Phong cách ngôn ngữ khoa học ( 1 tiết)
1.6 Bài 6: Phong cách ngôn ngữ hành chính ( 1 tiết)
2 Quy trình áp dụng để dạy học theo hướng quy nạp
C PHẦN KẾT LUẬN
Trang 5QUY ƯỚC VIẾT TẮT
: Giáo viên nhận xét, kết luận
: Giáo viên trình bày trực quan
HS: Học sinh trả lời
: Học sinh thảo luận
?
Trang 6A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cùng với dân tộc ta, tiếng Việt đã trải qua một quá trình phát triển lâu đời, một lịch sử vẻ vang chống lại mọi âm mưu đồng hóa của kẻ thù để tồn tại và phát triển bền vững đến ngày nay Càng nghĩ về điều này mỗi người chúng ta càng phải thấm nhuần
sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời
và vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp” [15;tr.43]
Trước đây Tiếng Việt được giảng dạy trong nhà trường phổ thông như một môn độc lập nhưng sau quá trình cải cách giáo dục, Tiếng Việt trở thành một phần trong môn học Ngữ Văn Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ, hệ thống tiếng Việt, qui tắc và những chuẩn mực trong sử dụng tiếng Việt Mặt khác, tiếng Việt là công cụ giao tiếp, học tập, tư duy và biểu hiện tư duy Tiếng Việt quan trọng là vậy nhưng việc giảng dạy Tiếng Việt không phải là điều dễ dàng vì tính chất môn học này vốn đã khô khan, khó gây được hứng thú cho người học Bên cạnh
đó, việc du nhập của nền văn hóa phương Tây vào nước ta trong quá trình hội nhập cũng gây không ít khó khăn đến việc giảng dạy tiếng Việt Một thực trạng đáng lo ngại
là người Việt Nam đang chạy đua học tiếng nước ngoài trong khi tiếng Việt còn chưa
rõ thậm chí còn sai căn bản và trong số những người đó đa phần là các em học sinh đang còn ngồi trên ghế nhà trường Rồi tiếng Việt sẽ ra sao? Sẽ phát triển như thế nào khi những người chủ tương lai của đất nước đang xem nhẹ chính tiếng mẹ đẻ của mình?
Vì lẽ đó, việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy Tiếng Việt trong nhà trường là vấn đề quan trọng và vô cùng cấp thiết cho ngành giáo dục cũng như chính bản thân mỗi giáo viên đứng lớp, đặc biệt là giáo viên dạy văn Điều đó đòi hỏi người giáo viên cần phải biết làm thế nào để có một tiết dạy Tiếng Việt tốt và phải sử dụng phương pháp nào để tạo hứng thú trong mỗi bài học Tiếng Việt Đó là một bài toán khó, rất đáng được quan tâm nghiên cứu và tìm câu trả lời
Trong định hướng đổi mới phương pháp dạy và học, Luật giáo dục điều 24.2,
cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
Trang 7tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.[7;tr.81]
Điều này cho thấy hoạt động dạy học có đạt chất lượng hay không, phụ thuộc rất lớn vào việc vận dụng phương pháp dạy học của giáo viên
Trong tương lai sẽ trở thành một giáo viên dạy văn, chúng tôi hiểu và ý thức sâu sắc được những khó khăn đó Đặc biệt đối với một sinh viên sắp ra trường thì việc
“ Thiết kế và sử dụng quy trình dạy học một số bài phong cách ngôn ngữ theo hướng quy nạp” sẽ rất hữu ích Ngoài việc làm quen với nghiên cứu khoa học, nâng cao năng lực tư duy và tinh thần sáng tạo, thực hiện đề tài này còn cung cấp thêm cho chúng tôi những kiến thức cần thiết để phục vụ cho công tác giảng dạy Tiếng Việt trong môn học Ngữ Văn Đồng thời với đề tài này, chúng tôi mong muốn đề xuất, gợi
ý một phương pháp không mới nhưng có hiệu quả góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tiếng Việt trong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề
Không có một nhà khoa học hay nhà văn hóa tầm cỡ nào cũng như không có một nhà sư phạm nào lại có thể phủ nhận vai trò cực kì quan trọng và sức cuốn hút kì lạ của phương pháp trong hoạt động khoa học cũng như trong công tác đào tạo Đành rằng trong giảng dạy, nhất là giảng dạy văn học trước hết phải có chương trình và sách giáo khoa tốt Bài văn dở, tác phẩm chọn cho học sinh học mà chỉ là những văn bản khô khan thiếu phẩm chất thẩm mĩ thì giáo viên tài giỏi đến đâu, phương pháp linh hoạt đến đâu cũng vẫn không đạt được hiệu quả mong muốn Nhưng ngược lại nếu phương pháp cũ kĩ, lạc hậu thì chính nội dung tốt cũng sẽ bị vô hiệu hóa Nói như thế
để nhấn mạnh vai trò của phương pháp và việc đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường Vấn đề này đã được đặt ra ngay từ những thập kỉ đầu của thế kỉ XX và đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục cùng nhiều đề tài, công trình nghiên cứu sâu rộng, với những hội nghị, hội thảo quy mô lớn Trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài người viết chỉ điểm qua một số công trình nghiên cứu về phương pháp học nói chung và phương pháp dạy học Tiếng Việt nói riêng
Trước hết, khi nói về tình hình giảng dạy Văn, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã
từng nhận định: “Chúng ta phải xem lại cách giảng dạy văn trong các nhà trường phổ
thông của ta, không nên dạy như cũ, vì dạy như cũ thì không những chỉ việc dạy văn không hay mà sự đào tạo cũng không hay…dứt khoát chúng ta phải có cách dạy khác…phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải sáng tạo, phải xây dựng một phương pháp
Trang 8giảng dạy văn thích hợp, đem lại những hiệu quả tốt…” Với nhận định này Thủ
Tướng đã cho thấy cách dạy văn trong trường phổ thông quá cũ kĩ, lạc hậu, không có chất lượng Chúng ta cần phải xem xét lại cách dạy văn trước đây và tìm ra một phương pháp giảng dạy mới thoát khỏi lối mòn của giảng văn truyền thống Điều này thì không phải một sớm một chiều có thể làm được mà cần phải tiến hành theo một quá trình đổi mới lâu dài và toàn diện Muốn thực hiện đổi mới nâng cao chất lượng thì không thể không đổi mới phương pháp
Ở thế kỉ XVII, A Kômenxki đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực
nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…Hãy tìm ra phương pháp cho giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” [7;tr.19] Ý kiến của tác giả đã bàn về
vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, từ từ xóa bỏ cách dạy học xưa, nhấn mạnh đến
yếu tố người học, kết quả mà người học thu nhận được
Cũng bàn về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hương trong cuốn “ Dạy học văn ở trường phổ thông” đã đi vào tìm hiểu nguyên
nhân vì sao học sinh chán học Văn Theo tác giả thì nguyên nhân chính là do cách dạy
của người thầy Vì vậy “ Đổi mới trong dạy học văn hiện nay là giáo viên phải coi học
sinh là bạn đọc, là chủ thể cùng bình đẳng với mình trước tác phẩm, giáo viên và học sinh cùng đối thoại với tác giả thông qua văn bản để từ đó các em mới tự phát huy năng lực chủ quan của mình để cùng cảm xúc, tri giác, tưởng tượng, bình giá , suy luận, phân tích tác phẩm” [8;tr.145] Đây là một đóng góp quan trọng của tác giả
trong việc đổi mới phương pháp dạy học - lấy học sinh làm trung tâm Trong đóng góp này, tác giả đặc biệt chú trọng đến vai trò của giáo viên vì giáo viên là người bắc cầu giữa văn bản với học sinh Giáo viên không làm thay, không áp đặt mà giáo viên là người hướng dẫn, giúp đỡ học sinh khám phá kiến thức, có như vậy học sinh mới có
thể khắc sâu kiến thức lâu hơn Cuối cùng tác giả kết luận “Mục đích của phương pháp
dạy học văn mới là làm sao để chủ thể người học, dưới sự hướng dẫn của người thầy,
tự cảm nhận, khám phá tác phẩm để tạo ra một sự phát triển toàn diện về trí tuệ, tâm hồn, năng lực, nhân cách người học”[ 8;tr.178]
Tiếp theo trong bài giảng “Lí luận dạy học Ngữ Văn”, nhóm tác giả Nguyễn
Minh Chính - Nguyễn Thị Hồng Nam - Trần Đình Thích - Hà Hồng Vân đã đề cập đến
xu hướng dạy học tích cực: lấy người học làm trung tâm, điều này được thể hiện rõ
nhất là trong năm định hướng dạy học của Marzano: “ Phương pháp dạy học tích cực
Trang 9là tích hợp thường xuyên các mối quan hệ giáo dục như : trò – lớp - thầy trong quá
trình dạy học, trong đó trò là chủ thể” [3; tr.28] Đặc biệt là các tác giả đã nêu lên một
số cách thức vận dụng các phương pháp dạy học như phương pháp diễn giảng, phương pháp đàm thoại, phương pháp dạy học nêu vấn đề,…để nâng cao hiệu quả giảng dạy Ngữ Văn trong nhà trường
Trong chuyên đề “Tổ chức thảo luận nhóm trong dạy học Ngữ Văn”, tác giả
Nguyễn Thị Hồng Nam đã giới thiệu hình thức thảo luận nhóm trong giảng dạy Đây
là một phương pháp dạy học đem lại hiệu quả cao và hiện đang được phổ biến ở nhiều nước có nền giáo dục phát triển Trong những năm gần đây, phương pháp này cũng được áp dụng khá phổ biến trong giảng dạy ở nước ta Tác giả phân tích các mô hình thảo luận nhóm và đưa ra quy trình, tác dụng của việc thảo luận nhóm và cuối cùng đi
đến kết luận: “Thảo luận nhóm là một hình thức tổ chức dạy học phát huy được tính
tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình dạy học” [18;tr.18]
Dù ở nhiều mức độ khác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều cho chúng ta thấy được vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu bức thiết đòi hỏi cần phải có sự cải cách kịp thời nhất là trong xu hướng hiện nay nội dung và mục đích dạy học thay đổi Việc đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết là quan trọng nên không thể tiến hành một cách sơ sài được
Trong cuốn “Xã hội – Văn học – Nhà trường”, tác giả Phan Trọng Luận đã
nhận định “Việc đổi mới phương pháp giảng dạy văn học trong nhà trường không thể
là một công việc chấp vá biệt lập, lại càng không thể là loại công việc gom góp chắp nhặt kinh nghiệm vụn vặt Nó phải là một hoạt động đồng bộ của nhiều nhân tố”
[12;tr.28] Theo tác giả, phương pháp là một khâu then chốt cho việc nâng cao chất
lượng dạy học trong nhà trường “Nếu phương pháp cũ kĩ lạc hậu thì chính nội dung
tốt cũng sẽ bị vô hiệu hóa Tác phẩm kiệt xuất mà giảng giải theo lối áp đặt, theo kiểu
“mớm cảm xúc”, “rung cảm hộ” thì làm sao tạo được hiệu quả văn chương thực sự, làm sao có được sự đồng cảm, sự giao cảm” [12;tr.23] Qua đây tác giả còn nói lên sự
thiếu sót, lạc hậu của lối dạy học trong nhà trường lâu nay, nó mang bóng dáng lối tư
duy cũ kĩ: “ Trò chỉ nghe và làm theo lời thầy Thầy là người phán truyền như cha
đạo Học trò là con chiên” [12;tr.29] Vì vậy, việc đổi mới phương pháp lại càng
không thể không đề cập đến đối tượng học sinh – chủ thể quyết định chất luợng và
Trang 10hiệu quả dạy học: “ Học sinh phải là ngọn lửa cần thấp sáng chứ không phải là cái
bình chứa kiến thức” [12;tr.29]
Trong một công trình khác mang tên “Phương pháp dạy học văn”, tác giả Phan
Trọng Luận cùng đồng nghiệp đã cung cấp những kiến thức có hệ thống về mặt phương pháp bộ môn cũng như những nền tảng cho việc xác định phương pháp đặc
thù của các phân môn: Văn học, Làm văn Trong đó, các tác giả cho biết: “Phương
pháp dạy học văn là một khoa học nghiên cứu những đặc điểm và quy luật của quá trình dạy học văn trong nhà trường Quá trình này bao gồm quá trình dạy của giáo viên và của học sinh” “Mục đích cao nhất của dạy văn không chỉ là thông báo một
số kiến thức mà là cung cấp những khả năng để tự học sinh giải quyết các vấn đề và các bài toán cuộc đời” [13;tr.44] Các tác giả cũng đã đề cập đến các phương pháp dạy
học văn như: phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp gợi mở, phương pháp nghiên cứu, phương pháp tái tạo, Đây là những phương pháp dạy học tích cực sẽ góp phần trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường
Không chỉ có cuốn “Phương pháp dạy học văn” mà trong “Phương pháp dạy
học văn ở bậc trung học”, tác giả Trịnh Xuân Vũ cũng lên tiếng “Đổi mới phương
pháp dạy học đang là nhu cầu cấp thiết ở nhà trường phổ thông trung học ngày nay”
[30;tr.11] Qua thực tế, tác giả nhận thấy phương pháp dạy học nói chung và phương
pháp dạy học Văn nói riêng chưa có gì đổi mới “Người ta ít tìm tòi, nghiên cứu các
phương pháp dạy học cổ truyền và cũng không “nhập cảng” được phương pháp hiện đại nào” [30;tr.11] Tức là các phương pháp giảng văn ở nhà trường hiện nay đang
diễn ra rất xô bồ, thiếu định hướng và nhiều khuynh hướng khác nhau, thiếu một trình
độ khoa học sư phạm Theo tác giả, cách “Hiện đại hóa hệ thống các phương pháp dạy
học là “nhà trường trả lại vai trò “chủ thể - sáng tạo” cho từng cá thể trò” [30;tr.19]
Trên cơ sở đó, tác giả xác định những tiền đề khoa học của một hệ phương pháp dạy
học văn chương theo hướng tích cực – hiện đại như: “Sử dụng các “khí quan tự
nhiên” và “khí quan nhân tạo” của từng cá thể trò để dạy học và giáo dục để phát ngôn, suy luận, phán đoán, đối thoại, tranh luận và sáng tạo trong tinh thần khoa học”
[30;tr.227] Tác giả cũng đã dành chương cuối để ứng dụng và thực nghiệm hệ phương pháp riêng theo hướng tích cực, hiện đại ở nhà trường phổ thông qua cách xây dựng giáo án cho bài giảng văn, làm văn,…
Trang 11Trong công trình khác “Văn chương và phương pháp giảng dạy văn chương”,
từ việc nghiên cứu các phương pháp dạy văn trong lịch sử nhân loại Trịnh Xuân Vũ đi đến phân tích, mổ xẻ cách dạy văn ở nhà trường nước ta hiện nay Cũng giống như tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, tác giả Trịnh Xuân Vũ đã tìm ra nguyên nhân làm cho
dạy văn lâm vào tình trạng bi đát đó là do người giáo viên có “Khuynh hướng bảo thủ
đang tự biến mình thành tín đồ của hệ phương pháp dạy học trung cổ, sùng bái kinh nghiệm cũ kĩ hơn là dám sáng tạo và đổi mới” [29;tr.97] Từ đó ông khẳng định quan
niệm đổi mới phương pháp giảng dạy bằng “Hệ phương pháp của trò chứ không phải
là hệ phương pháp của thầy” [29;tr.120], có nghĩa là người học sinh không những là
một nhân tố của cơ chế dạy học mà còn là một “thực thể phương pháp” Đây chính là
chìa khóa để nâng cao chất lượng giờ học văn trong nhà trường hiện nay Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến tính cần thiết phải đổi mới môn phương pháp dạy học ở các trường đại học sư phạm Bởi ông cho rằng phương pháp dạy ở bậc đại học nói chung
và môn phương pháp dạy học nói riêng còn lạc hậu Vì vậy muốn nâng cao chất lượng dạy văn ở nhà trường phổ thông thì trước hết phải đổi mới vấn đề phương pháp ở bậc đại học Để làm được điều này là không dễ, tuy nhiên nếu chúng ta biết tổ chức và đầu
tư đúng mức thì đó không phải là chuyện không thể làm được
Về vấn đề phương pháp giáo dục tích cực cũng được Nguyễn Kỳ nghiên cứu khá
chi tiết, rõ ràng trong “Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm” Tác giả đã so sánh chi tiết giữa phương pháp cổ truyền và phương pháp dạy học
tích cực qua cách phân tích các yếu tố: Thầy giáo, học sinh, khách thể và qua một số
đặc trưng cơ bản Trên cơ sở đó, tác giả đi đến khẳng định “Phương pháp tích cực là
cả một cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất chưa từng có trong lịch sử giáo dục…, từ thầy làm trung tâm, chủ thể đảo ngược lại thành trò làm trung tâm, là chủ thể, từ quá trình giáo dục áp đặt bên ngoài, trở thành quá trình hoạt động của bản thân người học, từ bài giảng độc thoại của thầy trở thành đối thoại của trò - trò, trò- thầy, từ học thuộc lòng, tái hiện kiến thức, đổi mới thành học cách học, cách sống, cách giải quyết vấn đề có năng lực tự học sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của con người ở thế kỉ XXI” [9;tr.28]
Không chỉ có vậy, Luật giáo dục, điều 24.2 đã ghi “ Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
Trang 12năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh” Cũng như các tác giả khác, trong cuốn “Đổi mới phương
pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa”, Trần Bá Hoành tập trung nghiên
cứu lí luận về đổi mới phương pháp dạy học mà nổi bật trong đó là phương pháp dạy học tích cực với những đặc trưng: dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh, dạy học chú trọng việc rèn luyện phương pháp
tự học,… Nghĩa là dạy học đặt học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là “Người tổ
chức, hướng dẫn, điều tiết, học sinh tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau” [7;tr.9] Với hướng đổi mới này,
tác giả đưa ra những phương pháp tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông như: Vấn đáp, dạy học đặt và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ,…Quan trọng là người giáo viên phải biết vận dụng những phương pháp đó cho phù hợp với mục tiêu, đối tượng, điều kiện dạy và học Không nên lí tưởng hóa, tuyệt đối hóa tác dụng của một phương pháp nào đó mà phải phối hợp sử dụng hợp lí các phương pháp khác nhau Tác giả cũng cho biết, thiết kế bài học theo những phương pháp này buộc người giáo viên phải đầu tư công sức rất nhiều vào công việc chuẩn bị bài giảng Từ đó, tác giả có mấy hướng cải tiến trong biên soạn: thay đổi cách viết mục tiêu bài học, nâng cao trình độ câu hỏi về mặt nhận thức, phát triển các dạng phiếu học tập, đổi mới việc đánh giá kết quả học tập,… Với những ý nghĩa đó thì đây chính là một phương pháp khoa học cực kì quý báu thể hiện sự cần thiết của hoạt động trí tuệ trong việc hình thành kiến thức Để thực nghiệm, tác giả đã có chương cuối thiết kế một số bài học theo phương pháp tích cực lấy người học làm trung tâm cho các phân môn ở các cấp học
Bên cạnh những công trình lí luận chung về phương pháp giảng dạy, phương pháp học còn có những công trình đi sâu nghiên cứu về giảng dạy phân môn Tiếng
Việt trong nhà trường Có thể kể đến cuốn “Tiếng Việt trong trường học”, trong đó
tác giả Lê Xuân Thại đã vận dụng các quan điểm tiên tiến của ngôn ngữ học và giáo dục học hiện đại để nghiên cứu một số vấn đề khái quát và cụ thể của giáo dục ngôn ngữ nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học Tiếng Việt trong trường học Trước hết, tác giả đi sâu tìm hiểu thực trạng dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường hiện nay rồi chỉ
ra nguyên nhân của thực trạng đó Theo tác giả muốn dạy học Tiếng Việt đạt hiệu quả tốt nhất thì cần xác định theo hướng:
Trang 13- Đưa việc dạy Tiếng Việt vào quỹ đạo của ngôn ngữ học ứng dụng
- Xác định rõ Tiếng Việt là môn học thực hành
- Thực hiện việc dạy Tiếng Việt theo đúng các chức năng của ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy tốt hơn
- Có ý thức hơn về người bản ngữ, về phương pháp dạy bản ngữ
Dạy Tiếng Việt không phải là một việc đơn giản, chính vì vậy các tác giả Lê A Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán đã tiến hành nghiên cứu và xuất bản giáo trình
-“Phương pháp dạy học Tiếng Việt” Đây là tài liệu tham khảo rất có ích, giúp cho
giáo viên có phương pháp dạy Tiếng Việt tốt Các tác giả có cùng quan điểm, Tiếng Việt là một môn học rất quan trọng trong nhà trường, đó là môn công cụ cho việc học
các môn học khác Bởi vậy “Dạy Tiếng Việt nhằm làm cho học sinh sử dụng tốt tiếng
Việt với tư cách là công cụ tư duy, nhận thức và giao tiếp xã hội” [1;tr.32] Trên cơ sở
đó, các tác giả đưa ra nguyên tắc đặc thù của phương pháp dạy học Tiếng Việt:
- Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy
- Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp
- Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh
- Nguyên tắc so sánh và hướng tới cả dạng nói lẫn dạng viết
Từ những nguyên tắc đó, tác giả xây dựng các phương pháp dạy học Tiếng Việt: Phương pháp thông báo giải thích, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo mẫu,… Không chỉ có vậy, các tác giả còn đi sâu vào các phương pháp riêng cho việc dạy từ ngữ, ngữ pháp, phong cách học,…
Tác giả Nguyễn Văn Tứ tập trung vào việc nâng cao hứng thú của học sinh khi
học Tiếng Việt bằng công trình “Ngữ liệu văn học dân gian trong dạy học Tiếng Việt” Trong cuốn sách này, tác giả đã khảo sát việc sử dụng ngữ liệu văn học dân
gian vào dạy học Tiếng Việt vì ông cho rằng: “Ngữ liệu văn học dân gian là những
văn bản có tính hoàn chỉnh, trọn vẹn thể hiện được các đặc trưng của lời nói, của ngôn ngữ, ngữ liệu văn học dân gian đã kết tinh được những đặc sắc của dân gian trong quá trình sử dụng tiếng Việt để giao tiếp” [28;tr.32] Dựa vào đó, tác giả xây
dựng thiết kế một quy trình sử dụng ngữ liệu văn học dân gian trong dạy học Tiếng Việt ở nhà trường với tư cách là một biện pháp có tác dụng phát huy hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh
Trang 14Một công trình nữa, có thể xem là tài liệu tham khảo hữu ích, đó là bộ “Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10, 11, 12” của tác giả Nguyễn Văn Đường (chủ biên) Bộ tài liệu
này đã góp phần định hướng cho giáo viên trong việc soạn giáo án cũng như giảng dạy Giáo viên có thể tham khảo trên cơ sở đó sáng tạo theo khả năng và đặc điểm của từng đối tượng học sinh
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như ngày nay thì nghiên cứu giáo dục vẫn luôn là vấn đề còn để ngỏ nhằm tìm hướng nâng cao chất lượng dạy học Trong đó, sự đổi mới cơ bản về phương pháp dạy và phương pháp học đang là mục tiêu hướng tới của các nhà giáo dục
Qua những nghiên cứu trên, người giáo viên có thể tìm hiểu, trang bị cho mình những kiến thức, kĩ năng vận dụng sáng tạo phương pháp dạy học vào công việc giảng dạy ở trường phổ thông
Ngoài ra, đề tài còn hướng đến mục đích tăng cường nhận thức lí luận về phương pháp quy nạp trong dạy học Tiếng Việt thông qua việc xây dựng quy trình và các bước
để áp dụng phương pháp quy nạp vào dạy kiến thức khái niệm trong một số bài Tiếng Việt nhằm giúp học sinh hiểu, nắm vững kiến thức và phát huy được tính tích cực, chủ động , sáng tạo trong học tập
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng để mọi người tham khảo và tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, bổ sung và hoàn thiện đề tài hơn
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát phần Tiếng Việt trong chương trình học ở trung học phổ thông, tìm hiểu các phương pháp dạy học tích cực áp dụng vào việc soạn giáo án một số bài phong cách ngôn ngữ theo hướng quy nạp trong sách giáo khoa Ngữ Văn bộ cơ bản Cụ thể là các bài:
Trang 15Bài 1: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ( 2 tiết) - SGK Ngữ Văn 10 tập một
Bài 2: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ( 1 tiết) - SGK Ngữ Văn 10 tập hai
Bài 3: Phong cách ngôn ngữ báo chí ( 2 tiết) - SGK Ngữ Văn 11 tập một
Bài 4: Phong cách ngôn ngữ chính luận ( 2 tiết) - SGK Ngữ Văn 11 tập hai
Bài 5: Phong cách ngôn ngữ khoa học (1 tiết) - SGK Ngữ Văn 12 tập một
Bài 6: Phong cách ngôn ngữ hành chính ( 1 tiết) - SGK Ngữ Văn 12 tập hai
5 Phương pháp nghiên cứu
Đại thi hào Nga-L.Tônxtôi đã từng nói: “ Cái quý nhất không phải là biết quả
đất tròn mà là hiểu người ta đã rìm ra điều ấy như thế nào”, quan điểm ấy nhấn mạnh
tầm quan trọng của phương pháp trong khoa học và đời sống Thật vậy khi tiến hành làm bất cứ một việc gì ta hãy định hình trong đầu ta những việc cần phải làm và làm như thế nào mới mang lại hiệu quả cao nhất, đó là phương pháp làm việc Với đề tài:
“Thiết kế và sử dụng quy trình dạy học một số bài phong cách ngôn ngữ theo hướng quy nạp” người viết đã sử dụng nhiều phương pháp Trước tiên là tham khảo tài liệu, tập hợp hệ thống tư liệu đã học, thống kê lại những vấn đề có liên quan đến đề tài sau đó dùng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp tài liệu để viết phần lịch
sử vấn đề và cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu Ngoài ra người viết còn sử dụng một
số phương pháp như: Phương pháp phân tích, phương pháp chứng minh, giải thích để bài viết thêm sâu sắc và thuyết phục hơn
Trang 16B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ THEO HƯỚNG QUY NẠP
1 Quá trình nhận thức của học sinh
Trước tiên không ai có thể phủ nhận học là một hoạt động nhận thức Vậy thế nào là hoạt động nhận thức và hoạt động nhận thức diễn ra như thế nào?
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người – đó là sự phản ánh tâm lí của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng Sự học tập của học sinh cũng diễn ra quá trình như vậy Đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất là sự sáng tạo Sự phản ánh đó bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người (như qua kinh nghiệm, nhu cầu, hứng thú…) và đó là sự phản ánh tích cực của mỗi chủ thể Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức của V.I.Lênin về quá trình nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí,
nhận thức hiện thực khách quan”
Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, nhận thức của học sinh còn thể hiện tính độc đáo, cụ thể như sau: Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại mà chủ yếu là sự tái tạo những tri thức của loài người đã tạo ra Nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai như quá trình nhận thức nói chung của loài người, mà diễn ra theo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựng chương trình, nội dung dạy học gia công sư phạm Vì vậy, trong một thời gian nhất định, học sinh có thể lĩnh hội khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi
Quá trình nhận thức của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học và diễn ra dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên cùng với những điều kiện sư phạm nhất định Do đó, người giáo viên cần phải biết cách tổ chức nhận thức cho học
sinh vì “ Tổ chức nhận thức là một quá trình thiết kế và điều hành công việc hoạt động
tích cực của học sinh về mặt trí tuệ” [ 5;tr 110]
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích
cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn Còn theo "Từ điển Bách khoa Việt
Trang 17Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý
thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong Tóm lại, quá trình nhận thức của học sinh đi từ cái đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Tổ chức dạy học kiến thức khái niệm Tiếng Việt theo hướng quy nạp sẽ phù hợp với quá trình nhận thức Vì thế hoạt động dạy học sẽ tăng hiệu quả hơn
2 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Theo quan điểm truyền thống khi nói đến nhà trường, người ta chỉ chú trọng đến vai trò của người thầy, thầy giáo là tất cả, là nguồn kiến thức Tất cả mọi công việc trong lớp học điều do thầy đảm nhiệm: thầy giảng dạy, phân tích, khám phá vấn đề, làm thí nghiệm…Trò chỉ có nhiệm vụ lắng nghe, ghi chép Do vậy học sinh sẽ trở thành đối tượng, thành khách thể của quá trình nhận thức, thành “ bình chứa” để giáo viên “rót” kiến thức
Lí luận dạy học hiện đại đặc biệt coi trọng vai trò của học sinh, học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học Trong môi trường dạy và học có sự tích hợp thường xuyên các mối quan hệ giáo dục như: Trò - lớp - thầy trong quá trình dạy học Trong đó trò là chủ thể, trò học tích cực bằng các hoạt động của mình, tự tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, tự tìm ra kiến thức, chân lí Thầy là là người đạo diễn, tổ chức các hoạt động của trò để trò khám phá ra vấn đề, ứng dụng lí thuyết đã học vào cuộc sống Các hoạt động của thầy hướng đến mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo Việc học như vậy sẽ làm cho lớp học trở nên sinh động, tạo được không khí thoải mái cho việc học và lớp học trở thành môi trường xã hội trung gian giữa thầy và trò
Sự thay đổi quan điểm từ thầy làm trung tâm sang trò làm trung tâm trong quá trình dạy học không đơn giản là sự hoán đổi vị trí giữa người dạy và người học mà là
sự đổi mới và cải tiến trong hệ thống phương pháp dạy học từ truyền thống sang hiện
đại “Quá trình dạy học hiện đại là quá trình hoạt động nhận thức tập thể của học sinh
dưới sự chỉ đạo của giáo viên và với sự tham gia sinh động nhất của nhà sư phạm và mỗi học sinh riêng lẻ” [31;tr.16]
Trang 18Sau đây là bảng so sánh hai quan điểm dạy học truyền thống và hiện đại
Phương pháp dạy học truyền thống Phương pháp dạy học tích cực
Quan điểm thầy là trung tâm
1 Thầy truyền đạt kiến thức
2 Thầy độc thoại, trò nghe, ghi, trả lời
2 Đối thoại trò - trò, trò - thầy
3 Lớp học linh động
4 Giáo viên cùng trò trao đổi kết quả của trò
5 Trò học cách học, cách hành động và cách trưởng thành
6 Trò tự đánh giá, sửa sai, tự điều chỉnh làm cơ sở cho giáo viên cho điểm cơ động
7 Khai thác phương tiện kĩ thuật hiện đại
3 Các định hướng trong quá trình dạy học của Robert J.Marzano
Quá trình dạy học có hai đích quan trọng nhất là chất lượng trí thức và phát triển trí tuệ của học sinh Điều này cần được định hướng rõ ràng hơn bằng những lí thuyết khái quát trước khi đi đến những phương pháp dạy học cụ thể Vấn đề này đã và đang được các nhà giáo dục trong nước cũng như trên thế giới nghiên cứu ngày càng sâu
hơn, đặc biệt là lí thuyết dạy học của Marzano được nêu lên trong công trình A
Different Kind of Classroom : Teaching with Dimensions of Learning (Các định hướng
trong quá trình dạy học), tác giả đã đúc kết và đưa ra năm định hướng giúp học sinh vừa nắm vững tri thức đồng thời phát triển tư duy thông qua hoạt động dạy học
3.1 Định hướng 1: Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học
Học tập là một quá trình lao động mà trong đó diễn ra nhiều hoạt động dạy và học với các thao tác tư duy căng thẳng Học sinh có thể đạt kết quả tốt trong học tập hay không một phần phụ thuộc vào thái độ và nhận thức tích cực về việc học của các
em Nhiệm vụ của giáo viên phải nhận thấy được những nhân tố chi phối thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học của các em để từ đó có những điều chỉnh nhằm giúp các em có thái độ học tập tích cực Các nhân tố đó là: Không khí học tập, nhiệm vụ
Trang 19học tập Trong đó, không khí học tập bao gồm những nhân tố bên ngoài như môi trường, điều kiện học tập và nhân tố bên trong như thái độ học tập, nhận thức về việc học của học sinh Tuy nhiên nếu chỉ có vậy thì chưa đủ, để các em có thể nhận thức tích cực về việc học thì vai trò của người giáo viên cực kì quan trọng Trong tiết học các em luôn phải đối mặt với kiến thức mới đòi hỏi tư duy cao nên sự căng thẳng là không tránh khỏi Vì thế người giáo viên cần tạo bầu không khí thoải mái cho các em
để các em có thể tư duy một cách tốt nhất Giáo viên cần tạo cho học sinh cảm giác thân thiện ngay từ khi bước vào lớp học bằng nụ cười và nét mặt vui vẻ Đôi khi cần pha chút hài hước và đặc biệt là tạo cho học sinh có sự tự do nhất định trong cách trình bày chính kiến, suy nghĩ và có quyền trao đổi với giáo viên những vấn đề còn thắc mắc…Tuy nhiên mọi hành vi của học sinh trong lớp học không vượt quá những nguyên tắc, nội quy của nhà trường Sự trật tự còn đồng nghĩa với môi trường học tập
an toàn, làm cho học sinh tin rằng các em được giáo viên và bạn bè bảo vệ khi cần thiết
Các nhiệm vụ học tập:
- Hữu ích, có giá trị
- Nhiệm vụ giáo viên đưa ra phù hợp với khả năng của học sinh
- Giúp học sinh nhận rõ kết quả làm ra để kích thích sự cố gắng của các em
3.2 Định hướng 2: Thu nhận và tổng hợp kiến thức
Khi đã tiếp cận được kiến thức thì việc quan trọng là thu nhận và tổng hợp kiến thức một cách hiệu quả Để thực hiện vấn đề này, chúng ta cần xem xét tính tự nhiên của kiến thức Marzano phân kiến thức thành hai loại Kiến thức thông báo và kiến thức quy trình
Kiến thức thông báo yêu cầu học sinh nhớ, hiểu như: Khái niệm, sự kiện, quy luật…còn kiến thức quy trình là loại kiến thức vận dụng như: Cách giải bài tập, cách làm thí nghiệm,…Đối với mỗi loại kiến thức giáo viên cần có cách dạy thích hợp để học sinh nắm bài tốt Với khối kiến thức thông báo, giáo viên cần nêu ra vấn đề có liên quan đến bài học, định hướng để các em định hình được kiến thức sắp học, sau đó đưa
ra nội dung chính của bài học, giúp các em hiểu và nhớ kiến thức lâu hơn Còn loại kiến thức quy trình thì giáo viên làm mẫu trước, học sinh theo dõi, nhớ, mô tả lại từ đó hình thành kiến thức cho riêng mình
3.3 Định hướng 3: Mở rộng và tinh lọc kiến thức
Trang 20Quá trình học tập không chỉ nhằm nắm được những nội dung kiến thức và các kĩ năng Trong một thế giới phát triển và luôn luôn có sự biến đổi thì những kiến thức và
kĩ năng học sinh đã thu nhận được trong định hướng 2 sẽ mau chóng trở nên lạc hậu
Do vậy, nếu người học chỉ ghi nhớ máy móc kiến thức đã học thì chưa đủ mà phải có khả năng tự mở rộng và tinh lọc những kiến thức và kĩ năng cần thiết Nói cách khác, người học phải có tư duy sáng tạo để có thể học suốt đời, tự đổi mới để thích nghi với thực tế cuộc sống Có những phương pháp giúp học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức như: Sử dụng các loại câu hỏi so sánh, quy nạp, diễn dịch, câu hỏi phân tích lỗi, câu hỏi khái quát hóa, câu hỏi phân tích quan điểm Cũng có thể hướng dẫn học sinh bằng các hoạt động so sánh, phân loại, suy luận, khái quát hóa… Ngoài ra, giáo viên phải xây dựng được kiến thức cơ bản và kiến thức cần mở rộng để đi đúng mục tiêu bài học, hướng tư duy đúng của học sinh
3.4 Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có hiệu quả
Những thao tác tư duy trong định hướng này sẽ không được phát huy nếu chúng không được sử dụng có hiệu quả Và đây là định hướng quan trọng nhất của Marzano,
là kết quả cuối cùng cần phải đạt được trong quá trình học tập của học sinh Việc sử dụng kiến thức có hiệu quả thể hiện bằng các hoạt động: ra quyết định, điều tra, kiểm chứng bằng thí nghiệm, giải quyết vấn đề giáo viên đưa ra, phát minh
Tóm lại trong định hướng 4, học sinh được cung cấp những cơ hội rõ ràng để áp dụng kiến thức có hiệu quả bằng cách giáo viên cho phép người học khám phá những
sở thích riêng và hướng những sở thích này vào việc học tập Định hướng 4 là yếu tố then chốt của định hướng 5 Hiệu quả của nó phụ thuộc vào việc xây dựng kế hoạch một cách cẩn thận của giáo viên và sự phối hợp, sự tự nguyện của học sinh
3.5 Định hướng 5: Rèn luyện thói quen tư duy
Định hướng này có thể coi là cái đích cần hướng tới trong quá trình dạy học Việc các em thu nhận được nội dung kiến thức là rất quan trọng nhưng quan trọng hơn
là các em phải biết cách tư duy những kiến thức đó Điều này đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện, các em cần phải rèn luyện thói quen tư duy và năng lực tư duy ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Thói quen tư duy bao gồm: Tư duy điều chỉnh, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo
Trang 21- Tư duy tự điều chỉnh được thể hiện khi người học có khả năng tự nhận thức, biết lập
kế hoạch cho công việc, nhạy bén với sự phản hồi và biết tự đánh giá hiệu quả các hành động của bản thân
- Tư duy phê phán thể hiện ở việc nhận biết sự chính xác và tìm kiếm sự chính xác, nhận biết sự rõ ràng và tìm kiếm sự rõ ràng, không bảo thủ, cẩn thận, không bốc đồng, biết bảo vệ những quan điểm đúng, nhạy bén với những suy nghĩ của người khác
- Tu duy sáng tạo thể hiện khi học sinh tiến hành công việc một cách mạnh bạo ngay
cả khi chưa có câu trả lời hoặc giải pháp rõ ràng, biết mở rộng giới hạn kiến thức và khả năng của bản thân, phải biết tạo ra sự tin tưởng và duy trì tiêu chuẩn đánh giá riêng của bản thân, biết tạo ra cách thức mới để xem xét những tình huống mới nằm ngoài quy định chuẩn
Tóm lại thói quen tư duy trong định hướng 5, thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học trong định hướng 1 xuyên thấm trong mọi hoạt động của lớp học Khi học sinh sử dụng thói quen tư duy, việc học tâp của học sinh sẽ đạt kết quả cao
4 Đặc điểm kiến thức cần dạy trong một số bài phong cách ngôn ngữ
Kiến thức lý thuyết trong bài học tiếng việt nói chung và trong một số bài phong cách ngôn ngữ nói riêng là những kiến thức khái niệm và được trình bày cụ thể, trực tiếp trong sách giáo khoa
Trước hết ta có thể hiểu “ Khái niệm là một hình thức của kiến thức khoa học, trong đó
những mặt bản chất nhất và có tính quy luật nhất của các hiện tượng và quá trình được vạch ra dưới dạng khái quát và được diễn tả bằng những lời phát biểu khúc chiết
và rõ ràng” [4; tr.89]
Kiến thức khái niệm là phần kết luận được rút ra sau quá trình tìm hiểu, phân tích, chứng minh, suy luận…Kiến thức khái niệm nêu lên các tính chất, đặc điểm của
sự vật hiện tượng
Trong dạy học Tiếng Việt, mặc dù kiến thức khái niệm thường được đúc kết,
tóm lại ở phần Ghi nhớ cuối bài học nhưng không vì thế mà vai trò của giáo viên bị hạ
thấp Giáo viên luôn là người hướng dẫn để học sinh hình thành khái niệm và khắc sâu
khái niệm vì:“Khái niệm chỉ được lĩnh hội vững chắc khi học sinh, dưới sự chỉ đạo
của giáo viên, phân tích các ví dụ, từ đó khái quát thành khái niệm” [4; tr.113]
Chẳng hạn, sau khi giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích hình ảnh cây sen và so sánh cách dùng từ ngữ trong hai ví dụ sau:
Trang 22Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Học sinh sẽ rút ra cách hiểu thế nào là ngôn ngữ nghệ thuật Đó là kiến thức khái niệm về ngôn ngữ nghệ thuật mà giáo viên cần giúp học sinh hiểu và nắm vững
5 Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học tiếng việt
5.1 Phương pháp diễn giảng
“ Diễn giảng là phương pháp trình bày, thông báo có hệ thống một vấn đề mới
cho học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức sau đó tái hiện lại kiến thức đó” [3; tr.62]
Đây là phương pháp dạy học cổ xưa nhất Ở Việt Nam, cho đến nay, phương pháp này vẫn được sử dụng chủ yếu trong dạy học
Phương pháp này có ưu điểm là: Giúp học sinh nắm được kiến thức một cách hệ thống, tiết kiệm thời gian, không đòi hỏi những phương tiện dạy học đặc biệt, giáo viên không tốn nhiều công sức cho việc chuẩn bị bài Bên cạnh ưu điểm đó là một số
nhược điểm sau: Học sinh thụ động, không phát huy được tính tích cực trong giờ học,
khả năng chú ý bài sẽ bị giảm sút và học sinh sẽ trở thành người dự giờ cho tiết dạy của giáo viên Học sinh hiểu bài nhưng không nhớ lâu và khả năng sáng tạo của học sinh bị hạn chế
Để khắc phục những nhược điểm trên giáo viên có thể dùng cách diễn giảng tích cực nghĩa là giáo viên không “độc diễn” mà kết hợp sử dụng các phương pháp khác như đàm thoại xen kẽ kể chuyện hay cho học sinh làm bài tập, hướng dẫn học sinh nghiên cứu sách giáo khoa để giúp học sinh nắm được kiến thức một cách chủ động Cấu trúc của phương pháp diễn giảng gồm 3 bước: Giới thiệu bài mới, hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức, kết luận và được trình bày theo hai con đường: diễn dịch và quy nạp
Trang 23Tùy theo từng bài dạy và nội dung bài học mà người giáo viên có thể sử dụng hình thức diễn giảng quy nạp hay diễn dịch Đối với những giờ dạy Tiếng Việt thì diễn giảng quy nạp được sử dụng phổ biến mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học
5.2 Phương pháp đàm thoại ( phương pháp vấn đáp)
Nếu như phương pháp diễn giảng là phương pháp cổ truyền thì phương pháp
đàm thoại là phương pháp mới được sử dụng trong dạy học hiện đại “ Đàm thoại là
phương pháp giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh trả lời hoặc trao đổi, tranh luận với nhau dưới sự chỉ đạo của thầy, qua đó tiếp nhận kiến thức”.[3;tr.69]
Ưu điểm của phương pháp này là giáo viên sẽ tạo được bầu không khí vui vẻ thoải mái, thân mật vì thế học sinh có thể phát huy được năng lực làm việc độc lập, kích thích tư duy của học sinh và rèn luyện cho các em thói quen trình bày một vấn đề trước đám đông Qua đó giáo viên có thể nhận biết được mức độ hiểu bài của học sinh
để điều chỉnh cách giảng dạy kịp thời Đây cũng là dịp để giáo viên có thể hiểu được tính cách, phẩm chất, trí tuệ, tâm hồn, tình cảm của các em từ đó mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh sẽ trở nên thân mật, gần gũi hơn
Bên cạnh những ưu điểm trên thì phương pháp này còn có một số nhược điểm sau: Mất nhiều thời gian cho chuẩn bị giáo án, do vậy nếu giáo viên không có kinh nghiệm, không có khả năng điều khiển lớp học hoặc không biết cách xây dựng câu hỏi thì sẽ bị cháy giáo án
Vì vậy để có một tiết dạy thành công, giáo viên phải chuẩn bị giáo án chu đáo và
dự tính được những tình huống xảy ra trong giờ học để đảm bảo quá trình dạy học diễn
ra tốt Tùy vào từng bài giảng mà giáo viên đưa ra câu hỏi khác nhau: Câu hỏi tái hiện, câu hỏi giải thích, câu hỏi suy luận,…Trong quá trình sử dụng phương pháp này giáo viên cần quan sát lớp học để các em tập trung vào giải quyết vấn đề, tránh tình trạng các em làm việc riêng
5.3 Phương pháp trực quan
Ngoài việc sử dụng phương pháp đàm thoại, diễn giảng, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan trong các tiết dạy để nâng cao hiệu quả giảng dạy Trực quan
là một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản Dân gian có câu “Trăm nghe không
bằng mắt thấy” Con người tiếp nhận thông tin bằng nhiều kênh: Thị giác, thính giác,
xúc giác Với phương pháp này, học sinh sẽ được tiếp xúc với các hình ảnh, vật thật, giúp các em hứng thú và tập trung vào bài hơn
Trang 24Trong dạy văn thì trực quan có thể là ảnh chân dung về nhà văn, nhà thơ, tranh
có liên quan đến nội dung bài dạy Hay giáo viên có thể sử dụng mô hình, biểu bảng,…nhằm giúp các em hệ thống lại kiến thức dễ dàng hơn Để có được những phương tiện trực quan này, giáo viên có thể sưu tầm hoặc tự làm
Phương pháp này có ưu điểm là: Giúp học sinh huy động được sự tham gia của nhiều giác quan kết hợp với lời nói sẽ tạo điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, óc tò mò của học sinh
Tuy nhiên nếu giáo viên quá lạm dụng phương tiện trực quan trong dạy học thì
dễ làm cho học sinh phân tán sự chú ý, làm hạn chế sự phát triển của năng lực tư duy trừu tượng ở học sinh
Vì vậy để phát huy tối đa hiệu quả của phương pháp này thì giáo viên cần phối hợp với các phương pháp dạy học khác trong quá trình dạy học kiến thức khái niệm Tiếng Việt
5.4 Phương pháp dạy học nêu vấn đề
“ Dạy học nêu vấn đề ( dạy học giải quyết vấn đề) là sự tổ chức quá trình dạy
học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích học sinh nhu cầu giải quyết những vấn đề nảy sinh, lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận thức, trí lực nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới ,phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới”
[2;tr.6] Trước tiên ta hiểu vấn đề là một sự việc, một hiện tượng, một khái niệm, một hiện trạng tồn tại khách quan mà ta gặp phải trong tư duy và hành động Vấn đề này có thể ta chưa biết hoặc biết rất ít về nó Còn tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lí nảy sinh ở chủ thể trong khi gặp khó khăn, một vấn đề cần giải quyết và để giải quyết vấn đề đó chủ thể cần đến tri thức mới, cách thức hành động mới Quá trình dạy học nêu vấn đề chia thành 5 giai đoạn:
-Tìm hiểu vấn đề
- Xác định vấn đề cần giải quyết
- Đưa ra những giả thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề
- Xem xét hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của những kinh nghiệm, kiến thức
đã có
-Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất
Trang 25Giáo viên có thể thực hiện quá trình dạy học nêu vấn đề bằng nhiều hình thức như: Làm bài tập dạng đề án, hình thức thảo luận, hình thức sắm vai, hình thức thực hiện một đề tài nghiên cứu nhỏ
Có thể nói đây là hình thức dạy học phát huy được tính sáng tạo, tích cực của học sinh nhưng cũng là một hình thức còn mới mẻ và tương đối khó với học sinh Do vậy, khi áp dụng kiểu dạy học này giáo viên cần có sự hướng dẫn cụ thể và chú ý đến trình độ học sinh Hình thức dạy học nêu vấn đề rất thích hợp với các lớp học sinh giỏi, khá, với các lớp trung bình hình thức này chỉ nên sử dụng mức độ nhất định Khi
sử dụng phương pháp này giáo viên cần phải giúp học sinh nắm bắt vấn đề một cách
cụ thể, đặc biệt là trong các giờ dạy Tiếng Việt
5.5 Phương pháp thảo luận nhóm
Dạy học theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được chia thành các nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn một cách thích hợp Các nhóm học sinh cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên nêu ra, từ đó rút ra bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên Hình thức học tập này đòi hỏi sự tham gia đóng góp trực tiếp và tích cực của mỗi học sinh vào quá trình học tập và sẽ tạo nên môi trường giao tiếp, hợp tác giữa trò – trò, thầy - trò Chính vì thế dạy học theo nhóm sẽ tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh, rèn luyện tinh thần tập thể, hợp tác giữa các thành viên trong nhóm để cùng nhau giải quyết vấn đề Khi thảo luận không tránh khỏi việc các em có những bất đồng ý kiến nhưng tự các em sẽ tìm ra hướng đi đúng nhất, từ đó hình thành năng lực và thói quen
tư duy, tự sáng tạo của các em Khi các em trình bày những vấn đề mà mình tìm ra sẽ giúp các em tự tin, tự khẳng định mình và đặc biệt là sẽ nhớ lâu hơn kiến thức Đối với giáo viên, phương pháp này giúp giáo viên đo lường và đánh giá chính xác mức độ hiểu bài của học sinh cũng như những khó khăn mà học sinh gặp phải trong giờ học để
từ đó giáo viên điều chỉnh cách dạy cho phù hợp Giáo viên cũng học được nhiều cách giải quyết vấn đề hay do học sinh phát hiện mà mình chưa nghĩ ra
Ngoài ra, phương pháp dạy học nhóm còn làm cho không khí lớp học sôi nổi hơn, giúp học sinh thoải mái khi tham gia giải quyết vấn đề, học sinh được tự do trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề nêu ra, đồng thời tạo cơ hội cho học sinh học hỏi lẫn nhau, kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm
Trang 26Như vậy, nếu phương pháp dạy học nhóm được tổ chức tốt sẽ tăng cường tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học, phát triển các kĩ năng tư duy và óc phê phán, các kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội quan trọng khác
Ưu điểm là vậy nhưng phương pháp dạy học theo nhóm cũng tồn tại không ít hạn chế:
do các thành viên trong nhóm mải đuổi theo ý tưởng riêng nên nhóm trưởng sẽ không kiểm soát được tiến trình thảo luận, gây mất thời gian khi tổng hợp và hình thành kiến thức đúng nhất Hiệu quả học tập của nhóm phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần tham gia thảo luận của các thành viên trong nhóm, nếu trong nhóm chỉ có một vài cá nhân tham gia trao đổi còn các thành viên khác ngồi lắng nghe và ỷ lại thì không đạt được hiệu quả thảo luận Hiện tượng này rất phổ biến trong thảo luận nhóm hiện nay Ngoài ra, học nhóm dễ tạo cho học sinh trạng thái mệt mỏi, trì trệ nếu buổi thảo luận kéo dài Mặc khác, các tác động từ bên ngoài như sự giám sát thường xuyên của giáo viên, yếu
tố thi đua giữa các nhóm cũng ảnh hưởng tới hoạt động của nhóm
Nhìn chung, nếu sử dụng duy nhất phương pháp thảo luận nhóm vào dạy kiến thức khái niệm Tiếng Việt thì sẽ không đạt hiệu quả Do vậy, phương pháp thảo luận nhóm phải được áp dụng phối hợp với các phương pháp khác và được tổ chức phù hợp với tiến trình nhận thức của học sinh Để dạy kiến thức khái niệm Tiếng Việt thì thảo luận nhóm có thể phát huy tính hữu dụng
6 Phương pháp quy nạp
6.1 Khái niệm quy nạp và phương pháp quy nạp
Về mặt định nghĩa, người ta cho rằng quy nạp là kết luận được rút ra từ trường hợp riêng đến trường hợp tổng quát Nghĩa là kết luận tổng quát dựa trên việc nghiên cứu các tính chất của nhiều sự kiện, nhiều thí nghiệm hay nhiều quan sát riêng lẻ Nếu kết luận chung dựa vào nghiên cứu tất cả các sự kiện riêng thì quy nạp được gọi là đầy đủ hay hoàn chỉnh Nếu kết luận chung dựa vào nghiên cứu một phần của tập hợp tất cả các sự kiện thì quy nạp được gọi là không đầy đủ hay không hoàn chỉnh
Theo tác giả Nguyễn Phú Lộc quy nạp khoa học có đặc trưng là “ Kết luận của
nó phản ánh chính xác các dấu hiệu bản chất của cả lớp rút ra từ một bộ phận đối tượng thông qua mối liên hệ tất yếu của các đối tượng trong lớp Quy nạp khoa học dựa trên cơ sở thiết lập (phát hiện) các mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng”
[10;tr 33]
Trang 27Từ những kinh nghiệm hiểu biết các sự vật riêng lẻ, người ta tổng kết quy nạp thành những nguyên lí chung Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là sự lặp lại của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại, biểu hiện thông qua cái riêng Nếu như phương pháp phân tích tổng hợp đi tìm mối quan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mối quan hệ giữa bản chất
và hiện tượng Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa ra giải pháp Phương pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giả thuyết hay từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ thể nhờ vậy
mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu
Trong dạy học có thể thấy phương pháp quy nạp có điểm gần giống với phương pháp giải quyết vấn đề Bởi vì phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp dựa trên quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học Bản chất của nó là tạo nên một chuỗi những tình huống vấn đề và điều khiển học sinh giải quyết những vấn đề đó Vì vậy mà nó đảm bảo cho học sinh vững chắc những cơ sở khoa học, phát triển năng lực tư duy sáng tạo
và hình thành cơ sở thế giới quan khoa học cho học sinh Tuy nhiên khi tiếp cận và sử dụng khái niệm phương pháp quy nạp trong luận văn này chúng tôi xem xét quy nạp như là một phương pháp có tính tổng hợp, có khả năng chứa đựng việc sử dụng nhiều phương pháp khác như: phương pháp vấn đáp, thảo luận nhóm,…
Vì vậy , theo cách hiểu của chúng tôi, quy nạp là phương pháp giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức - học tập của học sinh thông qua việc trình bày những sự kiện, thí nghiệm, những phương tiện trực quan khác, tổ chức cho họ thực hiện những bài tập từ
đó giúp học sinh khái quát dẫn tới định nghĩa những khái niệm và hình thành những quy luật, nguyên tắc khoa học khách quan
6.2 Mô hình hình thành kiến thức khái niệm theo hướng quy nạp
Có 4 mô hình hình thành kiến thức theo hướng quy nạp là: Mô hình tương tìm kiếm, mô hình dị biệt, mô hình cộng biến và mô hình loại trừ Tuy nhiên trong việc hình thành kiến thức khái niệm thì mô hình tương đồng - tìm kiếm là thích hợp hơn cả
Mô hình tương đồng - tìm kiếm gồm 3 bước cơ bản sau:
Trang 28Bước 1 (quan sát): cho học sinh quan sát sự vật, hiện tượng , ví dụ cụ thể
Bước 2 (tìm kiếm): Hướng dẫn học sinh phân tích ví dụ bằng hệ thống câu hỏi Tìm ra các đặc điểm chung của các ví dụ trên, nhận ra bản chất cốt lõi, đặc trưng tiêu biểu Bước 3 (khái quát hóa): Khi học sinh nhận ra những thuộc tính chung để định nghĩa khái niệm, giáo viên cho biết tên khái niệm và yêu cầu học sinh phát biểu định nghĩa trong trường hợp tổng quát
Sơ đồ hình thành kiến thức khái niệm theo hướng quy nạp
6.3 Tác dụng của phương pháp quy nạp
Quá trình hình thành kiến thức khái niệm theo con đường quy nạp sẽ có tác dụng phát triển năng lực trí tuệ như trừu tượng hóa, khái quát hóa, so sánh,… thuận lợi cho hoạt động nhận thức tích cực của học sinh
Phương pháp quy nạp cho phép phối hợp các phương pháp dạy học khác nhau như: Phương pháp vấn đáp, thảo luận nhóm, thuyết trình,…nên phát huy được tất cả các ưu điểm của các phương pháp đó Đồng thời với sự phối hợp một cách hợp lí, phương pháp quy nạp khắc phục được nhược điểm của từng phương pháp riêng lẻ Bên cạnh đó, phương pháp quy nạp còn cung cấp một môi trường sư phạm lí tưởng cho học sinh tổ chức các hoạt động học tập của mình Thông qua hoạt động tự tìm hiểu câu hỏi và bài tập thực hành học sinh tích cực và chủ động tìm hiểu kiến thức Điều này giúp học sinh tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tư duy sáng tạo và hướng tiếp cận đối tượng, phát triển các kĩ năng vận dụng kinh nghiệm của mình và của người khác vào việc giải quyết các vấn đề trong học tập Ngoài ra, phương pháp quy nạp còn nâng cao lòng tin của hoc sinh vào khả năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống học tập, tạo cho học sinh niềm vui, hứng khởi với suy nghĩ về kiến thức bài học do mình khám phá Vì vậy học sinh sẽ khắc sâu kiến thức hơn
GV đưa
ra ví dụ
HS thảo luận tìm kiếm các tính chất chung
HS trình bày bảo vệ ý kiến
GV tổ chức cho HS khái quát hóa, hoàn chỉnh khái niệm
Trang 29CHƯƠNG 2 : SỬ DỤNG QUY TRÌNH QUY NẠP VÀO DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
1 Một số bài thiết kế giáo án
1.1 BÀI 1: PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT ( 2 tiết)
* Mục tiêu bài dạy
- Nâng cao khả năng tư duy, khả năng lập luận lôgic khoa học
3 Thái độ
- Hình thành ở học sinh thái độ trân trọng tiếng Việt khi sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp
* Vào bài mới: (1 phút)
Trong cuộc sống, con người luôn phải giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau, tạo lập các mối quan hệ xã hội Hình thức trao đổi chủ yếu là “ nói” và “viết ”, trong đó “nói” là hình thức phổ biến nhất Chính bởi vậy
chúng ta có phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Vậy phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
là gì? Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt như thế nào? Chúng ta cùng
tìm hiểu bài học: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Tổ chức dạy học theo phương pháp quy nạp
Trang 30đóng vai đọc đoạn đối thoại
trong SGK/ 113
Chia lớp thành 4 nhóm,
thảo luận 5 phút
- Em hãy cho biết:
+ Không gian, thời gian của
cuộc giao tiếp
+ Nhân vật giao tiếp, quan
- Thời gian : Buổi trưa
- Nhân vật giao tiếp, quan
hệ giữa các nhân vật
+ Lan + Hùng + Hương:
bạn bè (bình đẳng về vai giao tiếp)
+ Mẹ Hương ( quan hệ thân sơ ), người đàn ông hàng xóm (quan hệ hàng xóm); so với Lan, Hương, Hùng thì họ là vai bề trên, lớn tuổi
- Hoạt động giao tiếp : + Hình thức : gọi - đáp
+ Nội dung : gọi nhau đi học
+ Mục đích : đến lớp đúng giờ quy định
- Sử dụng phương tiện bổ trợ: ngữ điệu kèm theo thái độ của nhân vật
Trang 31Căn cứ vào kết quả phân
tích cuộc hội thoại trên em
hay cho biết thế nào là ngôn
ngữ sinh hoạt ?
Hoạt động 2:
Cho những ví dụ sau:
gọi ; tình thái từ : ơi ,
rồi, à, chứ, với, gớm, ấy, chết thôi
+ Sử dụng những từ ngữ thân mật, suồng sã, khẩu ngữ: khẽ chứ!,
Gớm, chậm như rùa ấy, lạch bà lạch bạch,…; các cháu ơi; Chúng mày
+ Câu văn : ngắn, câu tỉnh lược: Hương ơi !Đi
học đi; Không cho ai ngủ ngáy nữa à!; Đây rồi, ra đây rồi; Hôm nào cũng chậm; Lạch bà lạch bạch như vịt bầu
HS
HS
- Ngôn ngữ sinh hoạt là lời ăn tiếng nói hằng ngày, dùng để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm,… đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống
- Ngôn ngữ sinh hoạt là lời ăn tiếng nói hằng ngày, dùng
để thông tin, trao đổi
ý nghĩ, tình cảm,… đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống
Trang 32* GV phát phiếu học tập
cho học sinh ( phiếu 1) và
yêu cầu học sinh đọc và trả
lời câu hỏi
Nhân vật trong những ví
dụ (phiếu học tập 1) giao
tiếp bằng hình thức nào?
Qua việc phân tích
những ví dụ em hãy cho biết
ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện
Dạng lời nói tái hiện: lời nhân vật trong tiểu thuyết, kịch, chèo,…
hiện của ngôn ngữ sinh hoạt
- Ngôn ngữ sinh
hoạt thể hiện chủ yếu ở dạng nói nói (độc thoại, đối thoại);
- Một số trường hợp
có ở cả dạng viết (nhật ký, hồi ức cá nhân, thư từ, tin nhắn…)
- Trong tác phẩm văn học, lời thoại của các nhân vật là dạng “lời nói tái hiện”, mô phỏng lời thoại tự nhiên, ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày
Lời nói tái hiện
?
?
?
?
Trang 3320
phút
Hoạt động 3:
Đọc đoạn nhật kí trong
SGK/127 và trả lời câu hỏi
Em hãy cho biết thời
gian, không gian, nhân vật
giao tiếp, hình thức giao tiếp
và nội dung giao tiếp trong
- Thời gian: Đêm khuya
- Không gian: Rừng núi
- Nhân vật: Đặng Thùy Trâm
- Hình thức giao tiếp:
Độc thoại nội tâm
- Nội dung: Tự vấn lương tâm
HS
- Cụ thể về hoàn cảnh, con người, nội dung, cách nói năng, từ ngữ diễn đạt
trong văn bản VH được biến cải tổ chức lại theo thể loại văn bản và ý đồ của tác giả
*Ghi nhớ:SGK/114
II PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT
1 Tính cụ thể
- Ngôn ngữ sinh hoạt có tính cụ thể về:
+ Địa điểm, thời gian
+ Nhân vật giao tiếp + Vai giao tiếp + Mục đích giao tiếp
Trang 34của Anh Ba trong bức thư ?
Sau khi đọc bức thư
em có thể đoán thông tin của
HS
- Giọng điệu: Thân mật,
có chút nũng nịu
- Từ ngữ: Giàu cảm xúc, tình cảm
- Câu: Sử dụng câu cảm thán, câu nghi vấn
HS
- Thái độ tình cảm được thể hiện qua giọng điệu
- Từ ngữ có tính khẩu ngữ và thể hiện cảm xúc
cụ thể
- Sử dụng kiểu câu giàu sắc thái cảm xúc (câu cảm thán, câu cầu khiến )
HS
- Phát âm không đúng chuẩn, viết như nói
Dùng từ có nhiều biến thể ví dụ : trểnchển, vềdìa,…
HS
- Có thể đoán được thông
2 Tính cảm xúc
- Ngôn ngữ sinh hoạt có tính cảm xúc biểu hiện: Thái độ tình cảm qua giọng điệu
- Từ ngữ có tính khẩu ngữ và thể hiện cảm xúc cụ thể
- Sử dụng kiểu câu giàu sắc thái cảm xúc ( câu cảm thán, câu cầu khiến )
Trang 35- Củng cố: Yêu cầu học sinh đóng tập sách lại và hoàn thành sơ đồ 1 trong thời gian 4 phút
Qua việc phân tích ví
dụ em hiểu như thế nào về
Không cao ( nghĩ gì viết đó)
+ Địa phương cư trú : Nam Bộ
HS
- Mỗi nhân vật giao tiếp khi nói đã vô tình bộc lộ nét riêng về: giới tính, nghề nghiệp, nơi cư trú, tuổi tác,…làm nên nét riêng của mỗi người, không ai giống ai
HS
- Ngôn ngữ sinh hoạt có tính cá thể bộc lộ những đặc điểm riêng của từng người về: giọng nói, cách dùng từ ngữ, cách sử dụng kiểu câu, cách nói riêng, biểu hiện tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp,…
*Ghi nhớ:SGK/126
?
?
Trang 36Sơ đồ 1
Đáp án:
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Tính cụ thể
- Biểu hiện ở:
+ Thái độ, cử chỉ + Giọng điệu + Từ ngữ có tính khẩu ngữ và biểu cảm
+ Các kiểu câu giàu sắc thái biểu cảm ( câu nghi vấn, câu cảm thán…)
Tính cá thể
- Cụ thể về:
+ Địa điểm, thời
gian giao tiếp
+ Nhân vật giao tiếp
+ Vai giao tiếp
+ Mục đích giao tiếp
+ Cách diễn đạt
- Biểu hiện ở:
+ Giọng nói + Cách dùng từ + Cách sử dụng kiểu câu
+ Cách nói riêng… Tính cảm xúc
Trang 37PHIẾU HỌC TẬP 1
(Bài phong cách ngôn ngữ sinh hoạt)
Câu hỏi:
1 Nhân vật trong những ví dụ sau giao tiếp bằng hình thức nào?
2 Qua việc phân tích những ví dụ em hãy cho biết ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện chủ yếu ở dạng nào?
Ví dụ 1
- Chết chửa ! Chữ “kê” là gà, sao thầy lại dạy ra “dủ dỉ” là con “dù dì” ?
Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm: “ Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”, nhưng nhanh trí thầy vội nói gỡ:
- Tôi vẫn biết chữ ấy là chữ “kê”, mà “kê” nghĩa là “gà”, nhưng tôi dạy thế là dạy cho cháu đến tận tam đại con gà kia…
( Trích truyện cười “Tam đại con gà” – Ngữ văn 10, tập 1)
Ví dụ 2
Ngày 8 - 3 - 69
Đi thăm bệnh nhân về giữa đêm khuya Trở về phòng, nằm thao thức không ngủ được Rừng khuya im lặng như tờ, không một tiếng chim kêu, không một tiếng lá rụng hay một ngọn gió nào đó khẽ rung cành cây Nghĩ gì đấy Th Ơi? Nghĩ gì mà đôi mắt mở đăm đăm nhìn qua bóng đêm Qua ánh trăng mờ Th thấy biết bao là viễn cảnh tươi đẹp, cả những cận cảnh êm đềm của những ngày sống giữa tình thương trên mảnh đất Đức Phổ này Rồi cảnh chia li, cảnh đau buồn cũng đến nữa…Đáng trách quá Thùy
Ơi ! Th có nghe tiếng người thương binh khẽ rên và tiếng súng vẫn nổ nơi xa Chiến trường vẫn đang mùa chiến thắng
( Nhật kí Đặng Thùy Trâm , NXB Hội nhà văn , Hà Nội, 2005)
Trang 38cái gì cũng mua tốn lắm bố ơi À mà thằng út dạo này còn đái dầm không bố? Bố bảo
nó là nó ngoan không đái dầm nữa thì con sẽ mua đồ chơi về cho nó Để vài bữa rồi con dìa thăm bố với thằng út Thôi bố nhá !
Ví dụ 4
Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu Thật ra lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị là ai Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đĩa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt
- Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống thế mà mất mặt
À, hắn nhớ ra rồi hắn toét miệng cười
- Chả hôm ấy thì hôm nay vậy.Này hẵng ngồi xuống đây ăn miếng giầu đã
- Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu
Soạn tin mới
Na ơi ngày mai lớp mình tổ chức viếng thăm mẹ Việt Nam anh hùng ở đường Trần Ngọc Quế, Na nhớ đi nha!
PHIẾU HỌC TẬP 2
( Bài phong cách ngôn ngữ sinh hoạt)
Câu hỏi:
1 Hãy nhận xét về cách phát âm, cách dùng từ của Anh Ba trong bức thư?
1 Qua bức thư em biết được thông tin gì về Anh Ba? ( Giới tính, nghề nghiệp, học vấn, nơi cư trú,…)
Trang 39Cô Mĩ Qua thân mến!
Hổm gài cô đi dìa chển, cô có mạnh phẻ hông? Cỡ này, dứ tui nước lên quá
xá Tối ngày ngồi chên nhà, ngó ga bốn phía thấy tàn là nước, buồn chí xứ! Lâu lâu tụi con ních lối xóm hồi đó hộc dí cô, tụ tập lại nhà tui chơi dí con Lài, tuội nó nhắc cô quài, Tuội nó hô: phải chi cô dìa dứ này chơi,tuội nó dại cô bới xuồng ga tuốt ngoài đồng lớn, đi cắt bọng xún, bẻ bông điên điển chắc là cô phái lắm.Còn con Lài nó nói
cô dìa là tuội nó xúm lại đổ bánh sèo nhưn tép dí bông điên điển cho cô ăn đã luôn
Cô chở dìa thành phố lâu quá gồi, sao hổng dìa đây chơi chong mùa nước cho biết dứ người ta? Chắc tại tuội con ních chộc cô quài, nói cô Mĩ Qua là Ma Quỉ nên cô mắc cỡ, cô hổng dìa nữa Ờ mà tới chừng nào cô ga chường làm cô dáo? Tôi gất mông cô dìa đây dại con Lài hộc nửa, nó mến cô lắm Cô nên nhơn thời dang ga, dìa chơi một bận Cô dìa chắc ai cũng mừng lắm Tui đương thắc cho cô một cái dõng đặng cô nằm nghỉ mệt, làm “ món quà” phương sa, mà tui dấu dử lắm, hổng ai biết tui thắc cho ai đâu Thôi, tui hết biết diếc dống dì nửa Tạm biệt cô dáo Mĩ Qua nghen! Cô nhớ dìa thăm xốm này nhen!
Anh Ba của con Lài
1.2 Bài 2: PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT ( 1 tiết)
* Mục tiêu bài dạy
- Bồi dưỡng tình cảm và cảm xúc nghệ thuật
* Vào bài mới: (1 phút)
Trang 40Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện của tư duy và giao tiếp mà còn là công cụ xây dựng hình tượng nghệ thuật văn chương Chính bởi vậy, chúng ta có phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Vậy phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là gì? Các đặc trưng của
nó như thế nào? Chúng ta cùng đi vào bài học: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Tổ chức dạy học theo phương pháp quy nạp
Sen là một loài cây mọc dưới
nước, lá to tròn, hoa màu
- Ngôn ngữ trong vd 2 mang tính trau chuốt, bóng bẩy, gợi hình ảnh
I NGÔN NGỮ NGHỆ
THUẬT
1 Tìm hiểu chung
về ngôn ngữ nghệ thuật
- Ngôn ngữ trong vd
1 mang tính chính xác, đơn nhất về ý nghĩa
Văn bản khoa học
- Ngôn ngữ trong vd
?
?