1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn THIẾT kế một số bài dạy THƠ TRUNG đại VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ văn 10 (tập một, bộ cơ bản)

80 284 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 405,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học không đơn thuần là một môn khoa học cung cấp tri thức cho người học mà Văn học còn góp phần hoàn thiện nhân cách con người, vì vậy dạy Văn cũng chính là dạy người, giúp người học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN

DƯƠNG THỊ PHỤNG

THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI DẠY THƠ TRUNG

ĐẠI VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO

KHOA NGỮ VĂN 10 (Tập một, Bộ cơ bản)

Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN MINH CHÍNH

Cần Thơ, 4 - 2011

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Trước cuộc sống luôn có sự vận động và phát triển mỗi người phải tự thay đổi, nâng cao kiến thức cho bản thân để không lạc hậu, lỗi thời mà ngày càng phù hợp với thực tế cuộc sống, theo kịp sự phát triển của xã hội

Sau Cách mạng tháng Tám, tuy đất nước ta còn rất nhiều khó khăn nhưng Đảng

và Nhà nước đã quan tâm, củng cố, khôi phục và phát triển nền giáo dục Giáo dục là thước đo tri thức của đất nước, để nền giáo dục Việt Nam không ngừng lớn mạnh và phát triển, theo kịp sự tiến bộ của nền giáo dục thế giới đòi hỏi người giáo viên phải có những phương pháp tiên tiến và luôn luôn đổi mới cho phù hợp với nền giáo dục hiện

đại Hoàn thành tốt sự nghiệp trồng người, xứng đáng với sự hi sinh của các thế hệ

trước, xứng đáng với tuổi trẻ Việt Nam – thế hệ tiên phong trong công cuộc xây dựng

và bảo vệ đất nước

Để giáo dục được một người thầy có đủ năng lực phục vụ cho xã hội đòi hỏi

những nhà giáo dục phải không ngừng cải thiện phương pháp, nâng cao năng lực chuyên môn, còn bản thân người học làm thầy không chỉ tiếp thu, sử dụng có hiệu quả những phương pháp đó mà còn biết linh hoạt, sáng tạo trong dạy học, thể hiện được vai trò, vị trí của người thầy trên bục giảng, nhất là đối với giáo viên dạy Văn

Văn học không đơn thuần là một môn khoa học cung cấp tri thức cho người học

mà Văn học còn góp phần hoàn thiện nhân cách con người, vì vậy dạy Văn cũng chính

là dạy người, giúp người học hướng đến giá trị Chân – Thiện – Mỹ trong cuộc sống, nhất là đối với việc giảng dạy thơ ca trung đại Việt Nam, để người học cảm nhận được

vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn mà tác giả gửi gắm qua những dòng chữ ngắn gọn, súc tích trước hết người giáo viên cần phải có năng lực cảm nhận, gợi mở, nêu vấn đề

để giúp học sinh tiếp cận, tiếp nhận thơ trung đại Việt Nam nói riêng và cái hay cái đẹp

của văn chương nói chung

Để đạt được điều đó là một thử thách không nhỏ đối với người giáo viên, tuy

nhiên cũng không phải là khó khăn không thể thực hiện được Nếu người giáo viên

Trang 3

thực sự có kiến thức, có phương pháp tốt, có năng lực sư phạm, có lòng yêu trẻ, có lí tưởng với nghề nghiệp thì khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành

Để thành công trong nghề dạy học thì phương pháp giảng dạy là vấn đề vô cùng

quan trọng và rất cần thiết có tính chất quyết định cho sự thành công hay thất bại của tiết dạy Đặc biệt đối với người giáo viên dạy Văn, phương pháp còn là yếu tố quyết

định cho việc tiếp cận, tiếp thu tác phẩm văn chương nhất là đối với thơ ca trung đại

Việt Nam Người học có hình thành tư tưởng, tình cảm, lối sống cao đẹp hay không phần lớn là nhờ vào phương pháp dạy học, khả năng truyền đạt, giáo dục của người giáo viên

Thấy được tầm quan trọng của việc dạy Văn – học Văn Đồng thời đưa ra phương pháp thiết thực trong việc đổi mới phương pháp dạy học Văn trong nhà trường, với đề

tài Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, (Tập một, Bộ cơ bản) Tiếp thu, tích lũy kiến thức học được từ thầy cô, bạn bè kết hợp

với quá trình nghiên cứu, tiếp thu những thành quả mà thế hệ trước đã để lại tôi tin rằng

sẽ góp phần giúp các em học sinh có hứng thú hơn, cảm nhận tốt hơn những điều hay, ý

đẹp, những bài học có giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc trong giờ học thơ trung đại

Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản)

II Lịch sử vấn đề:

Cách mạng tháng Tám thành công Đảng và nhân dân ta đã bắt tay vào công cuộc khôi phục, củng cố từng bước phát triển nền giáo dục, đó là những tiền đề cơ bản để phát triển lí luận và phương pháp dạy học Văn trong nhà trường Từ cuối thập kỉ 60 trở lại đây với sự ra đời của hàng loạt các công trình nghiên cứu đã đánh dấu bước phát triển mới cũng như yêu cầu cần thiết về phương pháp giảng dạy Văn trong nhà trường

trước thực tế cuộc sống Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Rèn luyện tư duy học sinh qua giảng dạy văn học (1969) [13], Phan Trọng Luận, Vấn đề giảng dạy văn học theo thể loại (1970) [6], Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Cẩn, Huỳnh Lý, Đàm Gia Cẩn, Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường (1977) [14], Phan Trọng

Luận, Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn (1978) [15], Phan Trọng Luận, Dạy văn – Dạy cái hay cái đẹp (1983 [1]), Nguyễn Duy Bình, Phương pháp dạy học Văn (1988) [16], Phan Trọng Luận (chủ biên), Nguyễn Thanh Hùng, Phương pháp dạy học Văn

Trang 4

dung cho các trường Đại học Sư phạm (1991) [10], Nguyễn Thanh Hùng, Phan Trọng

Luận, Trương Dĩnh, Trần Thế Phiệt,…

Trong Dạy học Văn ở trường phổ thông (2001) [11] tác giả Nguyễn Thị Thanh

Hương đã đi vào phân tích, giảng giải cụ thể một số tác phẩm thơ, văn cụ thể trong

chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn ở nhà trường ( Bếp lửa, Bác đến chơi nhà, Bánh trôi nước, Mời trầu, Tống biệt hành, Chữ người tử tù, Chí Phèo, Đời thừa, Nhật kí trong tù, Chiều tối, …) hay trong Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo thể loại) (2008) [4], Nguyễn Viết Chữ đã đưa ra những cơ sở lí luận và phương pháp dạy

học cụ thể theo đặc trưng của từng thể loại (văn học dân gian, tự sự, trữ tình, văn học nước ngoài)

Ngoài ra trong Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 , tập một [8], Thiết kế dạy học Ngữ văn 10, phần văn học [2] các tác giả đã đi vào phân tích cụ thể từng bài theo chương

trình sách giáo khoa, làm nổi bật giá trị nội dung, nghệ thuật và nội dung tư tưởng mà tác giả thể hiện trong tác phẩm, … Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu và đưa ra những phương pháp dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của ngành giáo dục, đáp ứng kịp thời sự đổi mới phương pháp trong dạy học Văn

Để giờ học Văn có sự hào hứng, hấp dẫn đã không dễ dàng chút nào nhưng để

hướng dẫn học sinh cảm thụ được thơ trung đại Việt Nam thì càng khó khăn hơn, ở đây các bậc tiền bối đi trước đã đề cập đến các phương pháp giảng dạy hiện đại, hấp dẫn và

đi vào phân tích những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, tuy nhiên các tác

giả vẫn chưa đưa ra những giáo án giảng dạy cụ thể cho từng bài, chưa có những bài tập thảo luận, những hoạt động nhóm cho giờ học thêm sinh động, hấp dẫn, đặc biệt là

đối với những bài thơ trung đại Việt Nam

Trong chuyên đề Học hợp tác trong dạy học Ngữ văn [20] Tiến sĩ Nguyễn Thị

Hồng Nam đã đưa ra hình thức thảo luận nhóm trong dạy học đạt hiệu quả cao được áp

dụng cho nhiều nền giáo dục tiên tiến Theo tác giả khi “Giáo viên tổ chức học tập thảo luận nhóm tạo cho giáo viên một phong cách dạy học mới, luôn sáng tạo, linh hoạt để

chuyên đề này, tác giả còn đưa ra các loại hình nhóm, quy trình tổ chức thảo luận nhóm, phương pháp thiết kế bài tập nhóm, cách đặt câu hỏi có vấn đề trong dạy học

Trang 5

hợp tác Những hình thức học hợp tác mà tiến sĩ đưa ra góp phần rất lớn trong việc phát triển năng lực tư duy, rèn luyện tính độc lập, sáng tạo, năng động, tích cực, định hướng, rèn luyện cho học sinh thói quen tự học, tự tìm hiểu khám phá

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, giáo trình Lý luận dạy học Ngữ văn [3]

của tác giả Nguyễn Minh Chính, Nguyễn Thị Hồng Nam, Trần Đình Thích, Hà Hồng Vân đã đưa ra những cơ sở lí thuyết trong day học Ngữ văn và những phương pháp dạy học tích cực, hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới

Mỗi tác giả có những cơ sở lí luận khác nhau nhưng tất cả điều hướng tới mục tiêu

đổi mới phương pháp giảng dạy văn chương trong nhà trường Nhưng phần lớn các tác

giả dừng lại ở việc nêu lí thuyết, việc áp dụng cụ thể vào thiết kế giáo án có nhưng rất hạn chế Đó cũng chính là điều kiện thuận lợi để mỗi người thầy người cô phát huy khả năng sáng tạo của mình trên bụt giảng Khi mà quá trình học tập, nghiên cứu vấn đề đã

được các tác giả gợi mở, có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào khả năng vận dụng

của mỗi người Thực hiện đề tài Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản) Tôi vận dụng lí thuyết đã học kết

hợp với quá trình nghiên cứu, sáng tạo của mình vào việc thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam cụ thể trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ

cơ bản), nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong việc dạy học

III.Mục đích nghiên cứu:

Thực hiện đề tài Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản) nhằm thiết kế một số bài dạy cụ thể, đảm bảo

đầy đủ những nội dung cần thiết, giáo dục cho học sinh tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ Đồng thời vận dụng những phương pháp dạy học hiện đại vào bài thiết kế để có được

tiết dạy thành công , có chất Văn mà vẫn tạo được không khí vui tươi, thoải mái cho người học

Bài thiết kế phải đảm bảo được nội dung, đảm bảo được thời gian lên lớp để kịp với tiến độ chung Đồng thời vận dụng được những phương pháp dạy học tích cực, hiện

đại với quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, vận dụng năm định hướng dạy học của

Marzano vào bài thiết kế, thiết kế bài tập thảo luận nhóm trên tinh thần học hợp tác và vận dụng các phương pháp dạy học văn trong nhà trường vào việc giảng dạy: Phương

Trang 6

pháp đọc tác phẩm, phương pháp đàm thoại, phương pháp diễn giảng, phương pháp trực quan Phương pháp dạy học nêu vấn đề

IV.Phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản), những

tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu

Giới hạn nghiên cứu là một số bài thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập một (bộ cơ bản), cụ thể:

4 Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí) – Nguyễn Du (1t)

V Phương pháp nghiên cứu:

Thực hiện đề tài Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Tập một, bộ cơ bản) tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu

sau:

- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài: Lí luận dạy học Ngữ Văn, các tài liệu liên quan đến văn học trung đại Việt Nam, các mô hình thiết kế giáo án, các bài dạy văn học trung đại, …

- Sau khi nghiên cứu tài liệu, tiến hành phân loại, phân tích, tổng hợp và hệ thống lại các nguồn tài liệu đã nghiên cứu Đồng thời sử dụng kết hợp với các phương pháp: Chứng minh, giải thích, so sánh giữa các nguồn tài liệu để tìm ra sự thống nhất giữa các nguồn tài liệu nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất cho đề tài nghiên cứu

- Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài có thể sử dụng kết hợp với các phương pháp khác không ngoài mục đích đạt đến hiệu quả cho đề tài

Trang 7

B NỘI DUNG

Chương 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG TRONG VIỆC THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI DẠY THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 (Tập một, Bộ cơ bản)

I.Dạy học theo quan điểm học sinh là trung tâm:

Phương pháp dạy học truyền thống người thầy là trung tâm của quá trình dạy học Thầy làm thí nghiệm, thầy giải bài tập, thầy lập luận, diễn giảng, phân tích, khám phá vấn đề, … Trò chỉ có nhiệm vụ lắng nghe và ghi chép, về nhà thì chỉ học thuộc lòng để tiết sau trả bài Lúc bấy giờ trò là người đứng ngoài tiến trình dạy học và trở thành người “dự giờ” của thầy

Nếu phương pháp dạy học truyền thống giáo viên là người truyền đạt kiến thức, là người làm việc thay cho học sinh và hoạt động học của học sinh là tiếp thu kiến thức một cách thụ động thì lí luận dạy học hiện đại đặc biệt coi trọng vai trò của học sinh, học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học

Dạy học là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh vì vậy mà giáo viên phải là người đóng vai trò tổ chức, phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để học sinh phát huy tính chủ động, tự xây dựng kiến thức cho mình Từ những kinh nghiệm sẵn có của bản thân thông qua sự tương tác trên lớp học từ thầy cô, bạn bè và người có hiểu biết hơn, từ những kiến thức học được học sinh sử dụng chúng trong các hoạt

động của lớp học và trong thực tế cuộc sống sẽ kích thích quá trình tư duy cũng như sự điều chỉnh, thay đổi nhận thức của các em cho phù hợp

Phương pháp dạy học truyền thống, trong lớp học chỉ diễn ra mối quan hệ một chiều giữa thầy và trò, giữa người truyền thụ kiến thức và người tiếp nhận kiến thức mối quan hệ giữa trò và thầy, giữa trò và trò bị triệt tiêu, thầy là người độc thoại, phát vấn, trò chỉ việc nghe, ghi và trả lời

Dạy học theo quan điểm học sinh là trung tâm, có sự tác động qua lại giữa thầy và trò, giữa trò và trò Theo quan điểm dạy học này, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học

Trang 8

sinh là người chủ động tìm kiếm kiến thức, tự rút ra ý nghĩa, kết luận, tri thức được rút

ra sẽ có điểm chung, thống nhất nhưng không hoàn toàn giống nhau mà nó phụ thuộc vào khả năng tham gia, đóng góp và năng lực nhận thức vấn đề của mỗi học sinh

Học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học không có nghĩa là vai trò của người thầy bị triệt tiêu, mà ngược lại giáo viên phải là người chủ tạo, hướng dẫn, tổ chức, học sinh phải chủ động, sáng tạo, tích cực Giáo viên chỉ giúp đỡ chứ không làm thay học sinh, học sinh phải chủ động chứ không chờ thầy cô cung cấp kiến thức

Để thực hiện được quá trình dạy học theo quan điểm học sinh là trung tâm đòi hỏi

giáo viên phải có năng lực, phải có sự đầu tư, chuẩn bị kĩ, vai trò, trách nhiệm trong nghề nghiệp phải cao Đóng vai trò là người chủ đạo, giáo viên phải đưa ra những vấn

đề mang tính chất gợi mở, phù hợp với năng lực của học sinh để các em tìm hiểu, khám

phá Một câu hỏi đặt ra không nhất thiết chỉ có một cách trả lời vì vậy mà giáo viên phải lắng nghe những ý kiến của học sinh đôi khi câu trả lời của các em không trùng với đáp án của giáo viên mà vẫn đúng, … để có một giờ dạy thành công, người giáo viên phải có sự đầu tư, phải tạo được bầu không khí thoải mái, sôi nổi nhưng vẫn không mất tính văn chương

Không như trước đây, giáo án của giáo viên dạy văn là một bài giảng có sẵn những nội dung mà giáo viên cần truyền đạt Dạy học theo quan điểm học sinh là trung tâm, giáo án được xây dựng bởi một hệ thống các câu hỏi mang tính chất khơi gợi vấn

đề, các phương án trả lời của giáo viên đã được chuẩn bị sẵn nhưng để ngỏ những khả

năng phát hiện mới của học sinh Giáo viên kiểm soát giờ học thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở đó và hệ thống đáp án đúng của học sinh đồng thời hướng dẫn các em tổng kết, đánh giá vấn đề

Dạy học theo quan điểm học sinh là trung tâm còn thể hiện qua cách đánh giá kết quả học tập Nếu trước đây, trong dạy học truyền thống thầy là người áp đặt kiến thức

có sẵn và độc quyền đánh giá, cho điểm thì quan điểm dạy học hiện đại, đánh giá không còn là việc duy nhất của giáo viên mà đó là công việc chung của thầy và trò Trò

tự đánh giá, sửa sai, tự điều chỉnh, trò đánh giá lẫn nhau và cuối cùng là thầy đánh giá

Từ đó làm cơ sở để thầy cho điểm

Trang 9

1.1 Thái độ và nhận thức tích cực về việc học

Học sinh chỉ học tập tốt khi các em có thái độ và nhận thực tích cực về việc học Hai nhân tố có vai trò quyết định chi phối thái độ và nhận thức của học sinh là: Không khí lớp học và nội dung kiến thức, bài tập

Không khí học tập bao gồm các nhân tố: môi trường, điều kiện học tập, quá trình nhận thức về việc học của các em Lớp học trật tự, thoải mái, bàn, ghế, trang thiết bị

đầy đủ và có sự nhận thức đúng đắn của học sinh về việc học đã tạo được nền tảng

vững chắc cho việc học tập của học sinh Tất cả mọi người điều có năng lực học tập như nhau nhưng điều kiện, hoàn cảnh đôi khi không đủ thuận lợi để họ phát huy hết năng lực của mình

Không chỉ vậy mà sự quan tâm của giáo viên, bạn bè trong lớp còn là nhân tố quan trọng góp phần không nhỏ trong việc hình thành thái độ, nhận thức tích cực của học sinh về việc học Học sinh sẽ tự tin hơn, thoải mái hơn khi nhận được sự quan tâm, tôn trọng của giáo viên và bạn bè trong lớp Giáo viên đến lớp không chỉ dạy kiến thức

mà còn phải biết quan tâm, chia sẻ với học sinh khi cần thiết, phải biết lắng nghe ý kiến của học sinh, phải thông cảm với học sinh khi các em cần sự thông cảm chính đáng Trong quá trình trao đổi, thảo luận, hoạt động học tập theo nhóm, học sinh cũng rất cần

sự quan tâm, trao đổi với bạn bè trong nhóm, điều quan trọng là giữa học sinh với học sinh phải luôn có sự hòa đồng, bình đẳng, không phân biệt bạn nghèo hay giàu, bạn học giỏi hay bạn học không giỏi, … Để đạt được hiệu quả học tập giáo viên phải đặt vấn

đề, điều kiện để tất cả học sinh phát huy tinh thần đoàn kết, hợp tác và năng lực sáng

tạo trong học tập

Giáo viên không chỉ có thái độ ân cần, vui vẻ mà còn tạo môi trường tự nhiên, thoải mái không bị áp lực, ức chế tinh thần học tập, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện

để học sinh được tự do trong việc chọn lựa cách trình bày bài tập và trao đổi với giáo

viên những vấn đề còn thắc mắc, … Tuy nhiên, mọi hoạt động, hành vi của học sinh không vượt quá giới hạn cho phép, bởi vì sự trật tự, nghiêm túc còn là môi trường học tập an toàn, học sinh tin rằng các em được giáo viên và bạn bè bảo vệ khi cần thiết Bên cạnh đó giáo viên phải biết duy trì, phát huy thái độ nhận thức tích cự về việc học của học sinh

Trang 10

Nội dung kiến thức, bài tập còn là yếu tố quyết định cho sự hình thành thái độ và

sự nhận thức tích cực về việc học của học sinh Kiến thức mà học sinh học được, bài tập mà học sinh vận dụng, thực hành phải hữu ích, có giá trị sử dụng, gắn liền với thực

tế cuộc sống, nội dung kiến thức phải rõ ràng, mức độ khó phải phù hợp với năng lực của học sinh

Đối với việc giảng dạy thơ trung đại Việt nam giáo viên phải giải thích tầm quan

trọng của thơ ca trung đại trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, đồng thời bản thân giáo viên phải là người yêu thích thơ và yêu thích việc giảng dạy thơ trung đại Việt Nam, giúp học sinh thấy được sự vận dụng của môn học, ý nghĩa bài học trong thực tế như: Cho các em sưu tầm thơ trung đại, sưu tầm những giai thoại về tác giả, từ giá trị nội dung của bài học liên hệ với cách đối nhân xử thế trong cuộc sống, những giá trị nhân văn, nhân đạo, những truyền thống quý báo mà chúng ta đang giữ gìn, phát huy trong cuộc sống

Định hướng thứ hai yêu cầu giáo viên cung cấp kiến thức cho học sinh và phương

pháp hướng dẫn học sinh thu nhận và tổng hợp kiến thức có hiệu quả, có hệ thống Quá trình hiểu và vận dụng của học sinh được Marzano chia thành kiến thức thông báo và kiến thức quy trình Sự thu nhận, tổng hợp kiến thức thông báo và kiến thức quy trình

là nền tảng của quá trình học tập

- Kiến thức thông báo là những khái niệm, định nghĩa Đối với một tác phẩm văn học kiến thức thông báo là nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Quá trình dạy kiến thức thông báo được chia thành ba giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Làm rõ nghĩa kiến thức thông báo: Giáo viên đóng vai trò là người chủ đạo, người khơi gợi những kinh nghiệm, những hiểu biết đã có của học sinh về những kiến thức mà các em sắp học như: Đặt câu hỏi để xây dựng khái niệm, nêu những ví dụ để học sinh suy luận ý nghĩa, chủ đề của bài sắp học, … Đồng thời giáo viên phải phán đoán được những tình huống có thể xảy ra trong quá trình tương tác của hoạt động dạy học như: cách trả lời của học sinh không như đáp án dự kiến của giáo viên, có thể học sinh chưa hiểu câu hỏi nên trả lời lạc đề và nhiều tình huống khác có thể xảy ra, Vì vậy mà giáo viên cần phải phân tích dữ liệu, giải thích, hỗ trợ thêm các

Trang 11

dữ kiện để học sinh trả lời câu hỏi và yêu cầu học sinh khác bổ sung, cho ví dụ thực tế

để câu trả lời thêm hoàn chỉnh mà hoạt động dạy học cũng trở nên sinh động, thu hút

+ Giai đoàn 2: Hệ thống hóa kiến thức: Từ những câu trả lời, những cách hiểu, ý kiến của học sinh giáo viên phải hướng dẫn các em hệ thống lại kiến thức theo trình tự, theo cấu trúc bài học, ý nào trước, ý nào sau, ý nào đúng nên ghi nhận, ý nào sai cần

điều chỉnh, … Để thuận lợi trong quá trình tìm hiểu bài mới giáo viên nên đặt câu hỏi

trước khi cho các em đọc , phân tích, tìm hiểu bài thơ cụ thể

+ Giai đoạn 3: Lưu trữ thông tin: Giáo viên có thể cho học sinh tóm tắt bài học bằng cách cho các nhóm viết các ý chính, điền vào sơ đồ khuyết, biểu bảng, cho học sinh hỏi đáp, viết tóm tắt nội dung của bài học theo từng cặp, hoặc làm bài kiểm tra ngắn (tự luận, trắc nghiệm) Thông qua những hoạt động đó nhằm giúp học sinh củng

cố lại hệ thống kiến thức để các em có thể hiểu sâu sắc hơn, ghi nhớ nội dung chính của bài lâu hơn

- Kiến thức quy trình là các bước thực hiện công việc Đối với việc vận dụng vào giảng dạy thơ trung đại Việt Nam là cách phân tích tác phẩm, các thao tác tư duy, vận dụng kiến thức đã học thực hành vào bài viết phân tích thơ Tuy nhiên để nắm được kiến thức quy trình thì trước hết học sinh phải hiểu, phải nắm vững kiến thức thông báo, bởi vì có hiểu thì mới vận dụng được Quá trình dạy kiến thức quy trình cũng được chia thành ba giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Xây dựng quy trình: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách làm sau đó giáo viên nhận xét, đánh giá giúp học sinh rút ra quy trình

+ Giai đoạn 2: Định hình quy trình: Sau khi hướng dẫn học sinh xây dựng quy trình, giáo viên tiếp tục cho các em thực hành toàn bộ các bước để định hình quy trình Sau đó nhận xét, đánh giá những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để học sinh rút kinh nghiệm và phát huy nhiều hơn

+ Giai đoạn 3: Nhập tâm quy trình: Giáo viên cho học sinh luyện tập nhiều lần, giúp các em xử lí vấn đề ngày càng nhanh, chính xác và sáng tạo hơn

Văn chương với tính chất đặt thù của nó không chỉ dạy chữ mà còn dạy người, vì vậy mà người giáo viên không chỉ dạy với tính chất đơn thuần của nó mà còn phải biết

Trang 12

linh hoạt trong công việc giảng dạy, khi nào cần chắt lọc ý chính, khi nào cần liên hệ thực tế để gợi mở vấn đề, để bài dạy không chỉ thuyết phục mà còn tạo được sự hấp dẫn, hứng thú cho học sinh Dạy không chỉ để dạy mà còn là quá trình rèn luyện đạo

đức, phẩm chất, nhân cách cho học sinh

Đối với học sinh cũng vậy khi học cần ngắn gọn, súc tích để dễ dàng tiếp thu, ghi

nhớ nhưng khi thực hành cần phải linh hoạt, mở rộng, thể hiện được sự hiểu biết, nắm bắt vấn đề, sáng tạo trong học tập, có liên hệ với thực tế, thể hiện được chính kiến, lập trường, tư tưởng của mình

Giáo viên có thể nêu các câu hỏi, tình huống sau đó yêu cầu học sinh so sánh, phân loại, phân tích, tổng hợp, chứng minh về vấn đề, đối tượng được đặt ra trong câu hỏi đó, rồi tiếp tục cho các em nhận xét, đánh giá ý kiến của bạn, của nhóm bạn hoặc nhận xét một nhận định, một ý kiến của các nhà phê bình văn học, …yêu cầu các em lập luận và nêu lên chính kiến của cá nhân, hoặc của nhóm mình trước vấn đề được đặt

ra

Dạy học theo định hướng mở rộng và chắt lọc kiến thức, giáo viên cần xác định: Kiến thức nào cần mở rộng?, kiến thức nào cần chắt lọc?, mục đích để làm gì? và thực hiện bằng cách nào? Bởi vì kiến thức thì vô hạn, thời gian thì có giới hạn nhất là tránh trường hợp giáo viên đặt ra vấn đề mà không giải quyết được sẽ ảnh hưởng đến kiến thức và lòng tin của học sinh đối với giáo viên Đặc biệt đối với những tác phẩm thơ trung đại Việt Nam có một giá trị, một tư tưởng lớn mang tính thời đại rất cao vì vậy

mà vấn đề gợi mở phải là vấn đề mang tính chất định hướng, để ngỏ để các em thể hiện chính kiến của mình, không nên đưa ra nhận định mang tính chất cá nhân của giáo viên

gò ép các em hiểu một cách khuôn sáo Từ đó giáo viên định hướng kịp thời khi các em

đưa ra ý lệch lạc

Sau quá trình trao đổi, tiếp thu kiến thức thì việc vận dụng nó vào thực tế cho phù hợp, hiệu quả là rất cần thiết Học đi đôi với hành, lí luận phải đưa vào thực tiễn mới có giá trị, có ý nghĩa Đó là việc ra quyết định, điều tra, thí nghiệm, giải quyết vấn đề và phát minh

Trang 13

- Ra quyết định là quá trình vận dụng linh hoạt, sáng tạo những kiến thức đã học

để có một quyết định phù hợp trước các vấn đề của thực tiễn Học sinh phải xác định được yêu cầu của câu hỏi và nội dung chính cần trả lời, còn khả năng diễn đạt, lí giải

như thế nào là phụ thuộc vào năng lực của từng học sinh khác nhau

- Sau khi ra quyết định học sinh cần điều tra bằng thực nghiệm để đảm bảo tính chính xác cho vấn đề đã được đặt ra: Những đặt tính, đặt trưng của vấn đề này là gì? Vấn đề này xảy ra như thế nào? Tại sao nó xảy ra? Cái gì sẽ xảy ra nếu…? Tùy vào từng nội dung câu hỏi cụ thể mà học sinh sử dụng câu hỏi cho phù hợp để điều tra mức

độ chính xác của câu trả lời mà mình đã chọn

- Thí nghiệm là quá trình vận dụng những hiểu biết, những kiến thức đã học được

để kiểm chứng một lí thuyết, một phán đoán hay câu trả lời

- Sau khi ra quyết định, tiến hành điều tra và làm thí nghiệm thì giải quyết vấn đề

là quá trình mà người học phải vượt qua trở ngại về tư duy, kĩ năng, … để giải quyết một thử thách trong học tập, trong thực tế hay mạnh dạng đưa ra ý kiến của mình trước câu hỏi mà giáo viên đã đặt ra

- Từ những hiểu biết và sự vận dụng những hiểu biết đó vào từng trường hợp cụ thể sẽ giúp học sinh tự tin hơn, mạnh dạng hơn với suy luận, phán đoán và cách giải quyết vấn đề của bản thân mình Đó là tiền đề vững chắc để các em tư duy sáng tạo trong học tập, tự đặt ra vấn đề cho mình trước thực tế, quá trình giải quyết vấn đề mà các em tự đặt ra cũng chính là quá trình tìm tòi, sáng tạo ra cái mới

Dạy học là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh nhằm đạt được mục tiêu giáo dục Tuy nhiên để có được tri thức, kĩ năng và thái độ thì ngoài việc đọc, biết, hiểu, vận dụng học sinh cần phải rèn luyện cho mình thói quen tư duy Có tư duy mới có tồn tại và phát triển, hiểu, vận dụng nhưng không có sự điều chỉnh và sáng tạo cho phù hợp thì không thể đạt được hiệu quả Những nội dung kiến thức mà học sinh thu nhận được là rất quan trọng nhưng không có nghĩa đó là tất cả của quá trình giáo dục mà phát huy vai trò quan trọng của nó là rèn luyện cho học sinh thói quen tư duy

Đó là tư duy tự điều chỉnh, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo

Trang 14

- Năng lực tư duy tự điều chỉnh là rất quan trọng trong quá trình tư duy của học sinh, khi nhận biết vấn đề không còn phù hợp thì phải biết điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với thục tế, khắc phục điểm yếu, phát huy thế mạnh, kết hợp với sự linh hoạt, sáng tạo trong quá trình tiếp thu ý kiến của thầy cô, bạn bè để tiếp nhận những kiến thức và triển khai, sử dụng kiến thức một cách đúng đắn, có hiệu quả

- Tư duy phê phán là quá trình nhận ra những cái sai, cái khiếm khuyết của bản thân và của người khác Ý kiến của bản thân sai phải biết lắng nghe sửa chữa, ý kiến của bạn đúng phải biết tiếp thu, không bảo thủ, bất đồng trong học tập Nói như vậy không có nghĩa là chủ quan, ỷ lại mà phải đưa ra ý kiến, lập trường của bản thân và bảo

vệ khi ý kiến đó phù hợp Tất cả dựa trên tinh thần hợp tác, trao đổi, thảo luận để tìm ra nội dung chung nhất, đúng nhất, khái quát nhất Không chấp nhận những trường hợp chia rẽ, mất đoàn kết trong tập thể

- Năng lực tư duy sáng tạo là khả năng tìm tòi, lí giải, phân tích, đánh giá vấn đề khi vấn đề đó chưa có giải pháp, chưa có câu trả lời rõ ràng Mỗi học sinh có một khả năng tư duy sáng tạo riêng và phụ thuộc vào năng lực, sở trường của mỗi học sinh

Điều quan trọng là giáo viên cần phải có những biện pháp cổ vũ, khuyến khích học sinh

phát huy hết khả năng sáng tạo của mình

Nói chung thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học và thói quen tư duy của học sinh là rất quan trọng, có tính chất quyết định hiệu quả học tập của học sinh trong năm định hướng dạy học của Marzano Khi mà học sinh có nhận thức đúng đắn, tích cực về việc học kết hợp với khả năng tư duy, tìm tòi, sáng tạo của các em trong học tập thì kết quả đạt được sẽ là cao nhất, tốt nhất, hiệu quả nhất

2.1 Phương pháp tổ chức dạy học hợp tác:

Phương pháp dạy học văn truyền thống hay phương pháp dạy học văn hiện đại

điều hướng đến mục tiêu rèn luyện tri thức, kĩ năng và thái độ cho học sinh Song

người giáo viên phải chọn cho mình những phương pháp phù hợp nhất, tích cực nhất,

đem lại hiệu quả cao nhất để phục vụ cho sự nghiệp giáo dục Tuy nhiên để nâng cao

hiệu quả học tập, rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng làm việc tập thể cho học sinh giáo viên nên chọn phương pháp dạy học hợp tác

Trang 15

Thế nào là dạy học hợp tác? Dạy học hợp tác là quá trình các nhóm học sinh cùng

đạt được mục tiêu giáo dục, không chỉ nâng cao kết quả học tập cho học sinh mà còn

rèn luyện cho học sinh kĩ năng sống, kĩ năng làm việc của người lao động tương lai

Để vận dụng và phát huy triệt để tính tích cực trong dạy học hợp tác giáo viên cần

nắm vững và thực hiện tốt các yêu cầu sau:

- Trong quá trình tổ chức học hợp tác giáo viên phải đưa ra những biện pháp để học sinh tham gia học tập, hoạt động một cách tích cực, nhiệt tình Có nghĩa là tất cả các thành viên trong nhóm cùng thực hiện để hoàn thành công việc đã được phân công, nắm vững nội dung bài của nhóm như nhau, không có thành viên nào trong nhóm ỷ lại,

lơ là bỏ qua các hoạt động của nhóm Đặc biệt tránh trường hợp chỉ một hoặc hai người làm mà cả nhóm cùng được điểm như nhau Vì vậy, trong quá trình chia nhóm giáo viên nên cho học sinh tự đặt tên hoặc biểu tượng riêng cho nhóm mình để khuyến khích tinh thần các thành viên trong nhóm chung sức vì “màu cờ sắc áo” của nhóm, ngoài ra giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm như: nhóm trưởng, nhóm phó, thư kí, để nâng cao nhận thức về trách nhiệm của học sinh khi thực hiện hoạt động học tập của nhóm Giáo viên có thể cho điểm cộng, điểm thưởng để khuyến khích các nhóm có tinh thần tích cực, hoàn thành tốt nhiệm vụ, điểm trừ, điểm phạt đối với các nhóm không hoàn thành nhiệm vụ để tạo ra sự đoàn kết trong nhóm và sự cạnh tranh giữa các nhóm

- Giáo viên đưa ra những tiêu chí đánh giá cụ thể để mỗi cá nhân thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong nhóm để cố gắng vượt qua khó khăn hoàn thành nhiệm vụ học tập Sự cố gắng của từng cá nhân phải được đánh giá công khai, công bằng và có

sự động viên giúp đỡ kịp thời khi các thành viên trong nhóm gặp khó khăn, vướng mắc Khi nhóm học sinh đã hoàn thành nhiệm vụ được phân công, giáo viên không nên để các nhóm tự chọn một đại diện trình bày sản phẩm của nhóm mà giáo viên nên chọn ngẩu nhiên bất kì một thành viên nào trong nhóm đại diện cho nhóm trình bày, bằng cách bắt thăm, chọn theo số thứ tự, … Sau khi đại diện nhóm trình bày xong sẽ có phần

đối thoại của nhóm với các thành viên trong lớp hoặc đối thoại với giáo viên Hoạt

Trang 16

động này giúp giáo viên quan sát được thái độ tích cực của các thành viên trong nhóm

và phần nào đánh giá được sự đoàn kết của nhóm

- Để đạt được mục tiêu của phương pháp tổ chức dạy học hợp tác, giáo viên cần thúc đẩy các mối quan hệ và tương tác mặt đối mặt Để thực hiện tốt công tác này giáo viên cần lưu ý trong quá trình chia nhóm, đặc biệt tránh trường hợp 4 hoặc 5 học sinh ngồi cùng một bàn đôi thành một nhóm, khi chia như vậy các em sẽ không thảo luận bao quát hết nhóm của mình mà dễ dàng tách thành nhóm 2 hoặc 3 học sinh Vì vậy, giáo viên cần phải phân chia các nhóm sao cho các em đối mặt với nhau, cùng nhau bàn bạc, thảo luận, đảm bảo tất cả các thành viên điều tham gia và đưa ra chính kiến của mình Tùy theo tình hình lớp học và nội dung câu hỏi thảo luận mà giáo viên chọn hình thức chia nhóm cho phù hợp, có thể chia nhóm 4 – 5 học sinh, nhóm 2 học sinh …

- Ngoài ra quá trình hoạt động học hợp tác còn rèn luyện cho học sinh khả năng sử dụng thành thạo các kĩ năng giao tiếp xã hội, rèn luyện cho học sinh thói quen làm việc tập thể, biết bảo vệ ý kiến của mình khi đó là ý kiến đúng, biết tôn trọng chia sẻ ý kiến của bạn khi đó là ý kiến hay, hợp lí hơn ý kiến của mình Biết lắng nghe khi người khác nói, dám nói cho người khác nghe và hiểu Khi các em thực hiện được các điều đó thì công việc được giao của nhóm mới hoàn thành tốt

- Sau khi các nhóm đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và trước khi đánh giá kết quả cuối cùng, giáo viên cho các thành viên trong nhóm nhận xét, đánh giá lẫn nhau về quá trình làm việc hợp tác của các thành viên trong nhóm Phiếu đánh giá do giáo viên chuẩn bị và cung cấp cho học sinh Kết hợp giữa quá trình đánh giá của giáo viên và quá trình đánh giá của học sinh giúp cho kết quả đánh giá cuối cùng có tính chất công bằng, khách quan hơn, chính xác hơn

2.2 Thiết kế bài tập nhóm trong dạy học hợp tác:

Thảo luận nhóm là quá trình học sinh phải cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên nêu ra, từ đó có cơ sở, có định hướng và rút ra bài học Nói cách khác

đây là hình thức dạy học khám phá Vấn đề đặt ra là giáo viên phải thiết kế được các

dạng bài tập đáp ứng được nhu cầu khám phá kiến thức cho học sinh

Về nội dung:

Trang 17

+ Nhiệm vụ khám phá mà giáo viên nêu ra cho học sinh phải là một tình huống

có vấn đề trong học tập Độ khó của tình huống này buộc các thành viên trong nhóm phải thảo luận để tìm ra câu trả lời

+ các nhiệm vụ khám phá được xậy dựng trên những nội dung trọng tâm của bài học, sao cho qua quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập này, học sinh rút ra được nội dung bài học Giáo viên không diễn giảng suông mà phải thiết kế tình huống để học sinh giải quyết tình huống, qua đó khám phá kiến thức

Bước 2: Giao vấn đề cho các nhóm thảo luận, quy định thời gian thảo luận

Bước 3: Quản lí quá trình làm việc của nhóm: Trong quá trình các nhóm thảo luận, giáo viên phải theo dõi, quan sát các nhóm, nêu câu hỏi gợi ý khi cần thiết, điều chỉnh hoạt động của học sinh khi chệch hướng, theo dõi và nhắc nhở học sinh thụ động Bước 4: Giáo viên yêu cầu mỗi nhóm báo cáo kết quả Khi đại diện nhóm trình bày kết quả, giáo viên ghi lại ý kiến đúng, nêu câu hỏi gợi mở cho học sinh tiếp tục phát hiện những vấn đề mà nhóm chưa tìm ra câu trả lời, yêu cầu các nhóm khác bổ sung, sau đó giáo viên nhận xét, đánh giá Qua quá trình đó, học sinh tự lĩnh hội, tự

điều chỉnh tri thức thu nhận được bằng cách so sánh ý kiến của nhóm mình với các

nhóm khác và với ý kiến của giáo viên

II Các phương pháp dạy học sử dụng trong dạy thơ trung đại Việt Nam

Đọc là hiểu, là khám phá, là vượt qua, đọc để suy nghĩ, để thưởng thức Đọc lần

thứ nhất hiểu khái quát vấn đề, đọc lần thứ hai hiểu nhiều hơn những ý nghĩa những giá trị, đọc lần thứ ba hiểu vấn đề một cách sâu sắc hơn… Vì vậy, để tiếp cận với một tác phẩm văn chương nhất là thơ trung đại Việt Nam nhất thiết phải bắt đầu từ việc đọc

Trang 18

Đối với thơ trung đại Việt Nam, điển cố, điển tích và những từ cổ được sử dụng

rất nhiều, khi đọc tác phẩm trước ở nhà học sinh đã phần nào hiểu được nghĩa trên bề mặt câu chữ, khi vào lớp giáo viên đọc diễn cảm hoặc hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để hiểu thêm tâm trạng của tác giả, chất tình, chất thơ trong tác phẩm Từ đó làm

cơ sở để đi vào phân tích giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật và những bài học triết lí trong tác phẩm

Đọc diễn cảm thơ trung đại Việt Nam cần thể hiện được giọng điệu như: Buồn,

vui, mỉa mai, châm biếm, … thông qua ngữ điệu nhanh, chậm, cao, thấp Tùy theo từng tác phẩm cụ thể, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc dưới những hình thức và mức

độ khác nhau sao cho phù hợp với tác phẩm đó, có thể đọc đầu giờ, đọc trong quá trình

phân tích, đọc để phụ họa cho lời giảng, …

Để học sinh đọc tác phẩm ở nhà giáo viên có thể nêu câu hỏi hoặc yêu cầu học

sinh soạn bài trước, bằng cách cho điểm vào cột kiểm tra miệng khi học sinh hoàn thành tốt để khuyến khích tinh thần học tập của học sinh

Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm thơ trung đại Việt Nam còn tạo điều kiện cho quá trình phân tích tác phẩm thêm sinh động, hấp dẫn hơn, học sinh tiếp thu dễ dàng hơn Qua đó còn góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, tình cảm cao đẹp cho học sinh

Trong dạy học truyền thống phương pháp diễn giảng được sử dụng rất phổ biến Phương pháp này có ưu điểm giúp học sinh nắm kiến thức một cách có hệ thống, tiết kiệm được thời gian, không hao tốn công sức cho việc chuẩn bị bài, nhưng bên cạnh

đó, phương pháp diễn giảng truyền thống cũng có những hạn chế nhất định: Không

phát huy được khả năng tư duy năng động, sáng tạo của người học

Dạy học theo phương pháp diễn giảng truyền thống, giáo viên chỉ truyền đạt cho học sinh một chiều và học sinh chỉ có nhiệm vụ ghi chép, học thuộc lòng Trong quá trình học, học sinh nghe, hiểu theo lời giảng của giáo viên nên học sinh không nhớ lâu

và hiểu sâu kiến thức Không chỉ vậy, sử dụng phương pháp diễn giảng giáo viên còn mất nhiều thời gian cho việc ghi bảng, học sinh mất nhiều thời gian cho việc chép vào tập Học sinh trở nên thụ động trong quá trình tiếp thu tri thức, tư duy và thực hành

Trang 19

Theo phương pháp giảng dạy tích cực, cấu trúc của phương pháp diễn giảng gồm

ba phần: Giới thiệu bài, hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức và kết luận Phương pháp diễn giảng bao gồm hai hình thức: Diễn giảng diễn dịch và diễn giảng quy nạp Tùy từng bài học cụ thể mà giáo viên có thể sử dụng phương pháp diễn giảng quy nạp hay diễn dịch

Đối với thơ trung đại Việt Nam giáo viên có thể sử dụng phương pháp diễn giảng

diễn dịch để tiết học sinh động, hấp dẫn hơn Đầu tiên giáo viên có thể đặt vấn đề đối với một bài thơ cụ thể, sau đó yêu cầu học sinh khám phá vấn đề để làm sáng tỏ nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tuy nhiên vai trò hỗ trợ, định hướng, điều chỉnh của giáo viên sẽ góp phần hoàn chỉnh kiến thức của học sinh

Để có một giờ học thành công, giáo viên cần chuẩn bị giáo án một cách kĩ càng,

không chỉ nắm vững nội dung bài giảng mà còn phải tính đến những hoạt động của học sinh trong tiết học đó, sao cho hoạt động của giáo viên và học sinh phải có sự phối hợp nhịp nhàng Ngoài ra giáo viên còn phải dự đoán đến những tình huống có thể xảy ra trong giờ học Khi sử dụng phương pháp đàm thoại trong giảng dạy thơ trung đại Việt Nam, giáo viên cần linh hoạt, sáng tạo câu hỏi nêu ra phải xoay quanh trọng tâm bài học, đảm bảo tính gợi mở mà phải vừa sức học sinh, phải rõ ràng, có hệ thống

Đặc thù của thơ trung đại Việt Nam là khó đọc, khó hiểu Vì vậy mà khi sử dụng

phương pháp đàm thoại giáo viên sẽ tạo ra không khí tâm tình, chia sẻ, trao đổi tự do thoải mái Lúc này khoảng cách giữa giáo viên và học sinh được rút ngắn lại, lời giảng

có thể trở thành lời phân tích, lí giải của người anh, người chị lớn hơn dành cho những

đứa em thân yêu của mình Học sinh được tự do bộc lộ ý kiến, suy nghĩ của mình qua

đó giáo viên thu được những tín hiệu phản hồi kịp thời điều chỉnh những suy nghĩ còn

lệch lạc của học sinh cũng như điều chỉnh phương pháp của giáo viên cho phù hợp hơn

Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy thơ trung đại Việt Nam giáo viên còn tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính độc lập, rèn luyện thói quen tư duy và khả năng trình bày trước lớp của học sinh Tuy nhiên phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định: Mất nhiều thời gian cho việc soạn giáo án của giáo viên và học sinh suy

Trang 20

nghĩ, trả lời câu hỏi Giáo viên cần phải bình tỉnh, tự tin, giải quyết tốt tình huống để

đạt được kết quả tốt nhất khi sử dụng phương pháp này

Phương pháp dạy học trực quan được xây dựng trên cơ sở quán triệt nguyên tắc

đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học Trong quá trình dạy học giáo viên

hướng dẫn học sinh các biện pháp quan sát sự vật, hiện tượng hay hình ảnh của chúng

để liên tưởng, cảm nhận trên cơ sở đó hình thành khái niệm

Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy thơ trung đại Việt Nam, giáo viên có thể sử dụng những phương tiện như: Máy chiếu, tranh ảnh, biểu bảng, … Ngoài ra giáo viên có thể cho học sinh đọc thơ trước ở nhà, tự tìm hiểu và viết một bài cảm nhận, vẽ thành một bức tranh, ngâm thơ, sưu tầm tác phẩm, hình ảnh, …

Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tích cực mà còn phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua những tình huống “có vấn đề” Tình huống có vấn đề có tác dụng lôi cuốn học sinh vào quá trình tư duy, kích thích các em tìm hiểu, khám phá

Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh phát triển năng lực tư duy Tuy nhiên đây là một hình thức dạy học còn khá mới mẻ và tương đối khó Khi sử dụng phương pháp này trong việc giảng dạy thơ trung đại Việt Nam, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, câu hỏi, tình huống phải là câu hỏi, tình huống có vấn đề và không quá khó so với trình độ của học sinh

Đối với những lớp chuyên, lớp có nhiều học sinh khá giỏi giáo viên cần tăng

cường sử dụng phương pháp này trong giờ học để kích thích năng lực tư duy của học sinh

Trang 21

Chương 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI DẠY THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 (Tập một, Bộ cơ bản)

(Tập một, Bộ cơ bản)

một, Bộ cơ bản)

1.1 Đặc điểm về nội dung

Yêu nước là truyền thống quý báo của dân tộc Việt Nam Suốt một quá trình dài chống giặc phương Bắc với những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại nhằm bảo vệ nền

độc lập, chủ quyền dân tộc Cùng với tinh thần chiến đấu bất khuất là tình yêu quê

hương, đất nước thiết tha, là ý thức trách nhiệm đối với đất nước, đối với nhân dân, một lòng phụng sự cho dân cho nước Tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng mà còn làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam, nhất là trong thơ trung đại Đó chính là chủ nghĩa yêu nước

Chủ nghĩa yêu nước là nội dung xuyên suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của văn học trung đại Việt Nam nói chung và trong thơ trung đại Việt Nam nói riêng Chủ nghĩa yêu nước gắn liền với tư tưởng “Trung quân ái quốc” và không tách rời truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Chủ nghĩa yêu nước biểu hiện rất phong phú, đa dạng, là giọng điệu khí thế, tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc, là nỗi niềm trăn trở cho vận mệnh đất nước cho số phận con người, là thái độ bất bình trước hiện thực xã hội Chủ nghĩa yêu nước

được thể hiện tập trung ở một số phương diện: Ý thức độc lập, chủ quyền, niềm tự hào

dân tộc, ý thức được trách nhiệm của kẻ bề tôi đối với xã tắc, nỗi lòng trăn trở, xót xa trước hiện thực xã hội và vận mệnh đất nước

Khát vọng hòa bình, đấu tranh để bảo vệ cho nền hòa bình, độc lập, bảo vệ cho quyền lợi của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến Lên tiếng tố

Trang 22

cáo tội ác của các thế lực bất nhân, bất nghĩa, đề cao, ca ngợi vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn của con người lao động Nói cách khác văn học trung đại Việt Nam thể hiện rõ

đặc điểm của một nền văn học luôn gắn bó với vận mệnh đất nước và số phận con

người

Chủ nghĩa nhân đạo cũng là một trong những nội dung lớn của thơ trung đại Việt Nam Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ được bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo của người Việt Nam, từ cội nguồn của văn học dân gian, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng nhân văn vốn có của Phật giáo và Nho giáo

Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ trung đại Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng, biểu hiện ở lòng thương người, lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống, quyền tự do của con người Khẳng định, đề cao phẩm chất tốt đẹp, tài năng của con người, những khát vọng chân chính về quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do, khát vọng về công lí, chính nghĩa, đề cao những quan hệ đạo đức tốt đẹp giữa người và người

Cảm hứng thế sự biểu hiện khá rõ nét trong thơ trung đại Việt Nam, thể hiện nỗi niềm trăn trở cho vận nước, bộc lộ sự phản kháng đối với triều đình phong kiến, các thế lực thống trị trong xã hội

Cảm hứng thế sự trong thơ hướng đến hiện thực cuộc sống, hiện thực xã hội, hướng đến người lao động, hướng đến quần chúng nhân dân thông qua những hình ảnh,

từ ngữ mộc mạc, giản dị, gần gủi, quen thuộc Ngoài ra thơ truung đại Việt Nam còn thể hiện ý thức hệ, ý thức con người cá nhân trong thơ Đó là những tiền đề cơ bản đã góp phần cho sự ra đời của thơ mới cũng như văn học hiện thực trong thời kì sau

1.2 Đặc điểm về nghệ thuật:

Tính quy phạm là đặc điểm nổi bật trong thơ trung đại Việt Nam, là sự quy định chặt chẽ theo khuôn mẫu:

- Về quan niệm sáng tác: Thơ trung đại Việt Nam là sản phẩm của tầng lớp trí

thức trong xã hội và các tầng lớp trí thức này luôn chịu ảnh hưởng của Nho học Văn dĩ tải đạo (Văn để chở đạo), Thi ngôn chí (Thơ để nói chí) là quan niệm sáng tác của các

Trang 23

tác giả lúc bấy giờ Tác phẩm phải thực sự chân thành, phải thống nhất trong một hình thức thì nội dung mới hay và nội dung phải là tiếng nói xuất phát từ đáy lòng của người sáng tác

- Về thể thơ: Thể thơ Đường luật là thể thơ phổ biến nhất, tuy nhiên trong quá trình tuyển chọn và giới thiệu các tác giả đã có sự lựa chọn và sắp xếp vào các thể thơ tiêu biểu khác như: thất ngôn xen lục ngôn, thất ngôn tứ tuyệt

- Về việc sử dụng điển cố và các hình ảnh tượng trưng ước lệ: Thơ trung đại với những quy định chặt chẽ đã trở thành công thức, vì vậy mà việc sử dụng nhiều điển cố,

điển tích và những hình ảnh tượng trưng ước lệ sẽ làm tăng thêm tính liên tưởng, tính

hàm súc, khả năng khơi gợi sâu sắc, tăng cường tính thuyết phục và tính hàn lâm, uyên bác trong thơ Quan điểm tượng trưng, ước lệ trong thơ trung đại Việt Nam không chú

ý đến logic đời sống và mối quan hệ thực tế của các hình ảnh mang tính chất mẫu mực, công thức: Tả cảnh thiên nhiên thì phải có: núi, sông, mây, nước và không thể thiếu ông Tiều, ông Ngư, chú Mục, …

Tuy nhiên trong quá trình phát triển, thơ Đường luật biến thể thành thơ thất ngôn xen lục ngôn để phù hợp với cách nghĩ, cách nói, tình cảm, tâm lí của dân tộc, một mặt tuân thủ tính quy phạm, mặc khác lại phá vỡ tính quy phạm, phát huy tính sáng tạo cả

về nội dung và hình thức nghệ thuật

Cách sử dụng điển cố và những hình ảnh tượng trưng ước lệ đã tạo nên phong cách trang trọng, tính chất uyên bác trong thơ trung đại Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình phát triển thơ trung đại có xu hướng ngày càng gắn bó với hiện thực chuyển từ phong cách trang trọng, tao nhã sang gần gủi với đời sống hiện thực, gần gủi với nông thôn và nông dân, thơ không chỉ dùng để truyền tải những nội dung lớn lao, cao cả mà thơ còn là những gì gần gủi, quen thuộc, tự nhiên và bình dị, gắn liền với cuộc sống của quần chúng nhân dân

Thơ trung đại Việt Nam phát triển theo quy luật vùa tiếp thu vừa dân tộc hóa tinh thần văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc

Trang 24

Tiếp thu tinh hoa văn học Trung Quốc thông qua việc dùng chữ Hán trong quá trình sáng tác, tiếp thu thể thơ Đường luật và sử dụng điển cố, điển tích, hình ảnh tượng trưng ước lệ trong thơ trung đại Việt Nam

Quá trình dân tộc hóa đã sáng tạo ra chữ Nôm Chữ nôm được hình thành trên cơ

sở những thành tố của chữ Hán biểu đạt nghĩa tiếng Việt Chữ Nôm ra đời và dùng để sáng tác Việt hóa thể thơ Đường luật thành thể thơ Nôm Đường luật, thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thành thể thơ thất ngôn xen lục ngôn Sử dụng lời ăn tiếng nói, cách diễn đạt của nhân dân trong sáng tác

Đối với thơ trung đại Việt Nam, tính quy phạm là một trong những đặc điểm nổi

bật và tính quy phạm trong thơ trung đại thiên về sử dụng hình ảnh tượng trưng, ước lệ

Vì vậy mà khi tiếp cận với thơ trung đại, ta bắt gặp các điển tích, điển cố xuất hiện với tầng số rất cao Đây không chỉ là đặc trưng tiêu biểu của thơ trung đại Việt Nam mà còn là rào cản đối với việc tiếp thu của học sinh Vì vậy giáo viên cần phải có lượng kiến thức phong phú về ngôn ngữ, về sử học, đặc biệt là những hiểu biết về lịch sử và văn chương Trung Quốc, … trong quá trình dạy học giáo viên cung cấp thêm những thông tin về thời đại lịch sử, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm kết hợp với phương pháp đọc diễn cảm tác phẩm (giáo viên hướng dẫn học sinh) để thể hiện được tâm trạng của tác giả, mạch cảm xúc của bài thơ; đồng thời giáo viên giải thích nghĩa những từ

cổ, điển tích, điển cố, từ địa phương, … Giúp học sinh hiểu rõ hơn nôi dung của bài học

Bên cạnh đó, những tác phẩm thơ trung đại Việt Nam có một khoảng cách nhất

định về thời gian đối với giáo viên cũng như đối với học sinh nên việc tiếp nhận cũng

gặp không ít khó khăn nhất là về quan điểm thẩm mỹ giữa nhà nho thời phong kiến và quan điểm thẩm mỹ của con người hiện đại Đó chính là rào cản trong quá trình cảm thụ thơ trung đại đối với cả người dạy và người học Không chỉ vậy, mà tâm lí chung của học sinh là ngại khó cho nên việc tìm hiểu trước tác phẩm thơ trung đại Việt Nam rất hạn chế, học sinh thường có thái độ ngán ngẩm khi học những tác phẩm này Từ đó, giáo viên phải là một người thật sự yêu nghề, thật sự yêu thích thơ trung đại Việt Nam, trân trọng những giá trị văn hóa của dân tộc, dạy bằng tất cả tình cảm, cảm xúc chân

Trang 25

thực của mình Đồng thời vận dụng linh hoạt những phương pháp dạy học hiện đại, giúp học sinh thấy rõ tính chất và tầm quan trọng cũng như vai trò của thơ trung đại Việt Nam trong nền văn học dân tộc, góp phần tích cực trong việc dạy học, tạo ra bầu không khí sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh, trở thành tấm gương điển hình, thuyết phục trong quá trình giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh

3 Khuynh hướng lựa chọn bài thiết kế:

Phần thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản) bao gồm bốn bài đọc hiểu chính thức và ba bài đọc thêm, thuộc hai thành phần văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Tuy nhiên trong giới hạn cho phép của đề tài

Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản), tôi chọn và thiết kế tất cả nhũng bài đọc hiểu chính thức nhằm đưa ra

những phương pháp tích cực hơn để học sinh tiếp cận, tiếp thu văn học trung đại Việt Nam dễ dàng, năng động, sáng tạo hơn Qua đó giúp học sinh hiểu thêm về truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc, giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nước, long tự hào dân tộc, có thái độ trân trọng, yêu quý,giữ gìn, bảo vệ những giá trị văn hóa của dân tộc mình, góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống cao đẹp cho học sinh

Trang 26

II Thiết kế một số bài dạy thơ trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa

- Có thái độ học tập tốt, tích cực phát biểu đóng góp ý kiến xây dựng bài

- Yêu quê hương, đất nước hình thành nhân cách sống cao đẹp, có lí tưởng, có hoài bảo

- Vẻ đẹp của người anh hùng thời Trần

- Tấm lòng yêu nước sâu sắc

- Nghệ thuật thơ độc đáo

3 Diễn biến tiết dạy

- Ổn định lớp, kiểm tra bài cũ (5’) Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Câu hỏi: Thế nào là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt? Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt có những đặc trưng nào? Cho ví dụ từng đặc trưng

- Vào bài mới (2’)

Câu chuyện về người thanh niên ngồi đan sọt giữa đường, dù bị đâm vào đùi vẫn không phản ứng gì, bởi vì người thanh niên này đang nghĩ đến vận nước

Trang 27

Người thanh niên ấy là ai? Hào khí Đông A là hào khí như thế nào? Để trả lời

cho câu hỏi đó, hôm nay cô giới thiệu đến các em bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài)

đường nọ có một thanh niên

ngồi đan sọt giữa đường và vẫn thản nhiên khi nghĩa quân đi đến Trước thái độ lạ lùng của người thanh niên, một tên lính trong nghĩa quân đến quát và dùng gươm

đâm vào đùi của anh ta,

người thanh niên này vẫn

Trang 28

2.Tác phẩm (Sách giáo

khoa)

không phản ứng gì Lúc bấy giờ Trần Quốc Tuấn đến hỏi, người thanh niên này mới

đáp: Vì mãi nghĩ đến vận nước nên không chú ý đến việc đoàn binh đang đến

Trần Quốc Tuấn cho rằng

đây là một người có tài cao,

có trí lớn, bèn mời gia nhập nghĩa binh chống giặc và người thanh niên trong giai thoại đó chính là Phạm Ngũ Lão (cho học sinh xem ảnh người thanh niên đan sọt) Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên)

Phạm Ngũ Lão là người văn

võ toàn tài, có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông, từng giữ chức Điện suý rồi được phong tước Quan nội hầu, là con gễ của Trần Quốc Tuấn Ông mất 01/11/1320

Tác phẩm: Tỏ lòng (Thuật hoài), Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại

Trang 29

Gọi học sinh đọc diễn cảm bài thơ (phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), đọc với giọng hào hùng, chậm, nhịp 4/3

Em hãy cho biết bài thơ thuộc thể thơ nào? Bố cục chia làm mấy phần? Nội dung của từng phần?

Bài thơ thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, có thể chia bố cục bài thơ thành khai, thừa, chuyển, hợp:

+ Khai: Hình tượng con người thời Trần

+ Thừa: Sức mạnh quân đội nhà Trần

+ Chuyển: Nợ công danh của người trai

+Hợp: Nỗi thẹn của người có chí lớn

Hoặc chia thành hai phần như sau:

Trang 30

câu đầu: Hình tượng

người anh hùng thời

Trần

+ Phần thứ hai: Hai câu cuối:

Chí khí người trai thời Trần

Giáo viên chia lớp thành

10 nhóm, mỗi nhóm 04 học sinh, thảo luận câu hỏi sau:

Hình tượng và lí tưởng của người trai thời Trần được thể hiện như thế nào?

Tư thế cầm ngang ngọn giáo (dịch nghĩa) thể hiện

điều gì? Khác với múa giáo

(dịch thơ) như thế nào?

Ngọn giáo trong bài thơ không phải là ngọn giáo bình thường mà là ngọn giáo

được đo bằng chiều dài của

sông núi, vì vậy mà tư thế

Trang 31

Hình tượng của người

đại tướng quân tài giỏi

cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông thể hiện được hình

ảnh người dũng tướng oai

phong, hùng tráng, hiên ngang giữa đất trời, vũ trụ sẵn sàng đối mặt với tất cả khó khăn, gian khổ để bảo vệ

bờ cõi non sông đất nước

Dịch thơ là Múa giáo, không

sát nghĩa với phiên âm

Hoành sóc (cầm ngang ngọn giáo) không thể hiện hết khí

phách anh hùng của người trai thời Trần

Thời gian trong câu thơ không phải là thời gian chính xác được xác định cụ thể mà

đó là mấy thu càng làm tăng

thêm vẻ đẹp lớn lao kì vĩ của người anh hùng thời Trần

Trang 32

dụng trong câu thơ thứ hai?

Quân đội nhà Trần là lực lượng quân đội chính quy, hùng mạnh và sức mạnh của quân đội nhà Trần cũng chính là sức mạnh của dân tộc được tác giả cụ thể hóa thông qua bút pháp so sánh

độc đáo Tam quân tì hổ khí thôn ngưu (Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu) Từ hiện thực chủ

quan: Sức mạnh của quân dân nhà Trần đã đánh đuổi quân Nguyên - Môngra khỏi

bờ cõi Đó là công sức chung của tướng tài quân giỏi

Bằng sự cảm nhận chủ quan của tác giả sức mạnh của quân đội nhà Trần mang tầm

vóc vũ trụ khí thôn ngưu Từ

đó làm nổi bật lên sức mạnh

của toàn quân, toàn dân nhà Trần Đồng thời đó cũng chính là sức mạnh vật chất

và tinh thần với tài điều binh

đánh trận của tướng và tinh

thần quyết chiến quyết thắng của quân là vẻ đẹp của sức mạnh khí thế của đội quân

- HS: Lắng nghe

Trang 33

- Ba quân đội quân

chính quy, tinh nhuệ

Qua hai câu thơ đã

khái quát hình ảnh con

người thời Trần và tinh

thần dân tộc của tác gải

3.2 Phần thứ hai: Hai

mang hào khí Đông A (cho

học sinh xem ảnh quân dân nhà Trần đánh giặc)

Qua hai câu thơ em có nhận xét gì về thái độ của tác giả

Qua hình tượng người anh hùng thời Trần, tác giả thể hiện thái độ trân trọng, ca ngợi với một niềm tự hào về truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất của dân tộc Đó cũng chính là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của tác giả

Quan niệm về công danh

Trang 34

câu cuối: Chí khí người

trai thời Trần

của tác giả như thế nào ? Qua đó thể hiện điều gì ? Theo quan niệm thời phong kiến người đàn ông sinh ra là có nợ tang bồng

( tang : dâu, bồng : cỏ bồng, tang bồng hồ thủy : cung bằng cành dâu, tên bằng cỏ bồng Hễ sinh con trai thì dùng cung tên ấy bắn

ra sáu phương, ngụ ý sau này người con trai ấy sẽ tung hoành giữa trời cao đất rộng, lập được công danh)

Chỉ ai trả được nợ công danh mới xứng đáng là “Nam

tử” Công danh nam tử là

sự nghiệp của người đàn

ông Làm trai đứng ở trong trời đất ; Phải có danh gì với núi sông (Nguyễn Công

Trứ) Quan niệm về công danh ở đây là người làm trai phải đỗ đạt, phải đem tài đức của mình ra phục vụ cho dân, cho nước Nợ công danh của Phạm Ngũ Lão là

nợ với non sông, với đất nước, với nhân dân, là món

nợ với đời Qua đó ta thấy

 HS:

- HS: Lắng nghe

Trang 35

- Chí khí lớn lao, lập

công danh trong sự

nghiệp chung của dân

tộc

được lí tưởng sống cao đẹp

của người trai thời Trần

Sống là cống hiến tài sức của mình cho dân cho nước, sống là phải có hoài bảo lớn,

có chí hướng lớn Đối với Phạm Ngũ Lão điều đó thể hiện sâu sắc hơn qua hình

ảnh người thanh niên ngồi đan sọt cảng bước của Trần

Quốc Tuấn, cũng chính tài năng và đức độ đó mà Phạm Ngũ Lão trở thành dũng tướng đắc lực của nhà Trần sau này

Em hiểu như thế nào về

nỗi thẹn của tác giả trong

câu thơ cuối ? Qua đó thể hiện điều gì ?

Tác giả thẹn vì mình

chưa đem được tài sức phục

vụ cho dân cho nước, chưa

có đóng góp nào cho xã hội, chưa làm được nghĩa vụ của người làm trai Tác giả thẹn với Gia Cát Lượng – một trai

Trang 36

nhà Thục Nỗi thẹn của

Phạm Ngũ Lão chẳng những không làm cho vị trí của mình thấp bé đi mà trái lại

đó là sự khiêm tốn cao đẹp,

đó là cái tâm chân thành,

trong sáng của người anh hùng có phẩm chất đạo đức,

có nhân cách đẹp

Em cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp của người trai thời Trần qua hai câu thơ cuối Tù đó liên hệ với bản thân em như thế nào ?

Đó chính là vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn của người thanh niên yêu nước, sống có lí tưởng, hoài bảo cao đẹp Sống không vì cá nhân mà sống là hướng đến cộng đồng, hướng đến cái chung của dân tộc Qua đó còn thể hiện được tấm lòng

Trang 37

Lòng yêu nước của tác

giả đã khái quát lên

truyền thống yêu nước và

lí tưởng sống cao đẹp

của người Việt Nam

yêu nước của tác giả

Trong thực tế cuộc sống có thể điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người khác nhau nhau, tuy nhiên khi chúng ta

là người có lí tưởng, có hoài bảo trong học tập, trong cuộc sống, trên con đường công danh, sự nghiệp, thì có khó khăn đến đâu chúng ta cũng có thể vượt qua và tiếp tục bước đi tiến về phía trước, đối với những người không có lí tưởng, không cầu tiến, sống cá nhân, ích kỉ thì

dù cho điều kiện, hoàn cảnh

có tốt đến đâu vẫn không trở thành con người hữu ích cho

xã hội Lí tưởng sống, nhân cách cao đẹp của Phạm Ngũ Lão cũng chính là vẻ đẹp truyền thống của người Việt Nam của những con người

có tình yêu nước và lòng tự hào dân tộc

-HS: Ghi bài

Trang 38

Tỏ lòng (Thuật hoài) là

lời bày tỏ hay cũng chính là quan niệm sống, lí tưởng sống của tác giả Đó chính là tấm lòng yêu nước, niềm tự hào sâu sắc về truyền thống yêu nước, lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Là ý thức trách nhiệm của người trai trong xã hội, là lí tưởng sống cao đẹp Đồng thời đó cũng chính là vẻ đẹp của con người, vẻ đẹp của thời đại là

khí thế của hào khí Đông A

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn súc tích nhưng khắc họa được vẻ đẹp hào hùng của con người thời Trần Đồng thời thể hiện

được tâm hồn, nhân cách, lí

tưởng sống cao đẹp của tác giả

Phát phiếu học tập củng

cố bài

Học thuộc lòng phần phiên âm, dịch thơ Xem trước bài mới

 HS:

 HS:

- HS: Lắng nghe và ghi bài

 HS:

- HS: Lắng nghe

?

Trang 39

Bài 2: CẢNH NGÀY HÈ (1 tiết)

(Bảo kính cảnh giới – bài 43)

- Có thái độ học tập tốt, tích cực phát biểu đóng góp ý kiến xây dựng bài

- Yêu quê hương, đất nước trân trọng các bậc hiền tài và những giá trị tinh thần của dân tộc

- Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt

- Tấm lòng yêu nước của tác giả

- Nghệ thuật độc đáo, cách xen câu lục ngôn phá cách trong thơ đường luật của Nguyễn Trãi

- Ổn định lớp, kiểm tra bài cũ (3’) Bài Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Câu hỏi: Em hãy đọc thuộc lòng phần phiên âm và dịch thơ bài Tỏ lòng Qua bài thơ em hiểu như thế nào về hào khí Đông A ?

- Vào bài mới (2’)

Ai là người lãnh đạo trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn? (Lê Lợi)

Ai là người có công rất lớn đã giúp cho Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa?

(Nguyễn Trãi)

Trang 40

Nguyễn Trãi là một vị quan có tài và có công rất lớn dưới triều Lê Ông là một nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa lớn nhưng về sau ông không được vua trọng dụng Trong những năm dài phải làm quan nhàn ông luôn ở vào thế giằn co giữa một bên là thú nhàn dật và một bên là nợ quân thần cần báo đáp Cho nên dù sống ở thị thành hay ngao du sơn thủy hoặc về quê, lòng ông vẫn thường không

yên, lúc nào cũng canh cánh bên lòng nỗi lo cho nhân dân, cho đất nước và Cảnh ngày hè là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng, tình cảm của Nguyễn

là một nhà văn, nhà thơ kiệt xuất, là danh nhân văn hóa thế giới

Gọi học sinh đọc tiểu dẫn sách giáo khoa

Em hãy nêu khái quát về

tập thơ Quốc âm thi tập và xuất xứ của bài thơ Cảnh ngày hè?

Quốc âm thi tập bao

gồm 254 bài, tập thơ ra đời

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Bình Dạy Văn – Dạy cái hay cái đẹp, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: D"ạ"y V"ă"n – D"ạ"y cái hay cái "đẹ"p
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
2. Hoàng Hữu Bội Thiết kế dạy học Ngữ Văn 10 (Phần Văn học), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi"ế"t k"ế" d"ạ"y h"ọ"c Ng"ữ" V"ă"n 10 (Ph"ầ"n V"ă"n h"ọ"c)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
3. Nguyễn Minh Chính – Nguyễn Thị Hồng Nam – Trần Đình Thích – Hà Hồng Vân, Lí luận dạy học Ngữ Văn, Tủ sách Đại học Cần Thơ, Cần Thơ, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí lu"ậ"n d"ạ"y h"ọ"c Ng"ữ" V"ă"n
4. Nguyễn Viết Chữ Phương pháp dạy học tác phẩm Văn chương (theo loại thể), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp d"ạ"y h"ọ"c tác ph"ẩ"m V"ă"n ch"ươ"ng (theo lo"ạ"i th
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
5. M.A.Danilop và M.N.Xcatkin Lí luận dạy học của trường phổ thông – Một số vấn đề của lí luận dạy học hiện đại, Nhà xuất bản Giáo dục, 1980 (Dịch giả: Đỗ Thị Trang – Nguyễn Ngọc Quang) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí lu"ậ"n d"ạ"y h"ọ"c c"ủ"a tr"ườ"ng ph"ổ" thông – M"ộ"t s"ố" v"ấ"n "đề" c"ủ"a lí lu"ậ"n d"ạ"y h"ọ"c hi"ệ"n "đạ"i
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Cẩn, Huỳnh Lý, Vấn đề giảng dạy Văn học theo thể loại, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ấ"n "đề" gi"ả"ng d"ạ"y V"ă"n h"ọ"c theo th"ể" lo"ạ"i
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
7. Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ng"ữ" th"ơ" Vi"ệ"t Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
8. Nguyễn Văn Đường (Chủ biên), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi"ế"t k"ế" bài gi"ả"ng Ng"ữ" v"ă"n 10 (T"ậ"p m"ộ"t, B"ộ" c"ơ" b"ả"n)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
9. Nguyễn Trọng Hoàn (Chủ biên), Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh lớp 10, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn k"ĩ" n"ă"ng c"ả"m th"ụ" th"ơ" v"ă"n cho h"ọ"c sinh l"ớ"p 10
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
10. Nguyễn Thanh Hùng, Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Trần Thế Phiệt, Phương pháp dạy học Văn dùng cho các trường Đại học Sư phạm, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp d"ạ"y h"ọ"c V"ă"n dùng cho các tr"ườ"ng "Đạ"i h"ọ"c S"ư" ph"ạ"m
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
11. Nguyễn Thị Thanh Hương Dạy học Văn ở trường phổ thông, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: D"ạ"y h"ọ"c V"ă"n "ở" tr"ườ"ng ph"ổ" thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Đinh Gia Khánh – Bùi Duy Tân – Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam thế kỉ thứ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII (Tập I, II), Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n h"ọ"c Vi"ệ"t Nam th"ế" k"ỉ" th"ứ" X "đế"n n"ử"a "đầ"u th"ế" k"ỉ" XVIII (T"ậ"p I, II)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp
13. Phan Trọng Luận Rèn luyện tư duy học sinh qua giảng dạy Văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luy"ệ"n t"ư" duy h"ọ"c sinh qua gi"ả"ng d"ạ"y V"ă"n h"ọ"c
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
14. Phan Trọng Luận Phân tích tác phẩm Văn học trong nhà trường, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác ph"ẩ"m V"ă"n h"ọ"c trong nhà tr"ườ"ng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
15. Phan Trọng Luận Con đường nâng cao hiệu quả dạy Văn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con "đườ"ng nâng cao hi"ệ"u qu"ả" d"ạ"y V"ă"n
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
16. Phan Trọng Luận (Chủ biên), Nguyễn Thanh Hùng, Phương pháp dạy học Văn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp d"ạ"y h"ọ"c V"ă"n
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
17. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ Văn 10 (Tập một, Bộ cơ bản), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng"ữ" V"ă"n 10 (T"ậ"p m"ộ"t, B"ộ" c"ơ" b"ả"n)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
18. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ Văn 10 (Sách giáo viên) (Tập một, Bộ cơ bản), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng"ữ" V"ă"n 10 (Sách giáo viên) (T"ậ"p m"ộ"t, B"ộ" c"ơ" b"ả"n)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
19. Đặng Thai Mai, Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm Văn chương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên "đườ"ng nghiên c"ứ"u và gi"ả"ng d"ạ"y tác ph"ẩ"m V"ă"n ch"ươ"ng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
20. Nguyễn Thị Hồng Nam, Tổ chức dạy học hợp tác trong dạy học Ngữ Văn, Tủ sách Đại học Cần Thơ, Cần Thơ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ổ" ch"ứ"c d"ạ"y h"ọ"c h"ợ"p tác trong d"ạ"y h"ọ"c Ng"ữ" V"ă"n

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w