Bên cạnh đó trong quyển “Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” tác giả Phan Trọng Luận cũng đã nói “người giáo viên không thể không vận dụng qui luật nhận thức vào trong quá trình giảng d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
HUỲNH THỊ YẾN NHI
THIẾT KẾ CÁC BÀI DẠY VỀ TÁC PHẨM THƠ GIAI ĐOẠN 1930- 1945 TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 11 (BỘ CƠ BẢN)
(Luận văn TNĐH ngành Sp Ngữ Văn Khóa: 2007-2011)
CBHD: NGUY ỄN MINH CHÍNH
Cần Thơ, 5/2011
Trang 2I Mục tiêu dạy học văn và thiết kế các bài dạy về tác phẩm thơ giai đoạn
1930 – 1945 trong SGK Ngữ văn 11 tập hai (bộ cơ bản)
trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập hai (bộ cơ bản)
II Các xu hướng dạy học hiện đại
2.1 Thái độ và nhận thức tích cực về việc học
2.3 Mở rộng và tinh lọc kiến thức 2.4 Sử dụng kiến thức có hiệu quả 2.5 Rèn luyện thói quen tư duy
Trang 3III Các phương pháp dạy học ngữ văn
6 Qui trình tổ chức thảo luận
CHƯƠNG II – THIẾT KẾ CÁC BÀI DẠY VỀ TÁC PHẨM THƠ GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 (BỘ CƠ BẢN)
v TỪ ẤY (2 tiết)
C- PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4QUI ƯỚC VIẾT TẮT, KÍ HIỆU
- ĐHTL: Định hướng trả lời
- Giáo viên diễn giảng, nhận xét, đánh giá, giải thích
- ? Giáo viên hỏi và yêu cầu
- HS thảo luận nhóm
Trang 5A- PHẦN MỞ ĐẦU
Văn học là một môn học không những giúp người ta tìm hiểu về lịch sử, địa lý, văn hóa một cách sinh động mà đây còn là một môn học có khả năng đánh thức, lay động tâm hồn con người trong tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống Gắn liền với tình yêu cuộc sống đó là những nét văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc đang dần
bị bỏ quên, và nâng lên đó là tình yêu quê hương tha thiết với từng gốc chuối, bờ tre và
kể cả yêu quê hương vì:
“ Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi”
(Quê Hương – Giang Nam)
Nhưng làm thế nào để học sinh tìm hiểu về những vấn đề đó một cách dễ dàng thì quả là một điều không hề đơn giản Mặc dù việc vận dụng những phương pháp tích cực vào việc dạy văn đang phát triển rầm rộ trên thế giới trong đó có Việt Nam và ngày càng được cải tiến tốt hơn Nhưng trong quá trình vận dụng, các giáo viên trường phổ thông thực hành vẫn còn nhiều hạn chế Giáo viên thì dạy rập khuôn, sáo mòn theo lối cũ phụ thuộc vào sách vở giáo trình, giáo án nhiều hơn là trân trọng những sáng tạo mới của học sinh Học sinh thì tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, không
có cơ hội khám phá cái mới hơn từ tác phẩm văn chương Dẫn đến hậu quả là học sinh không còn hứng thú đối với môn học này, một môn học mà không phải cần đến tư duy
là đủ mà còn phải cần đến khả năng cảm thụ của mỗi cá nhân con người kể cả người dạy và người học Để nâng cao hiệu quả trong việc dạy và học, đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản về cách dạy và cách học từ giáo viên đến học sinh Đặc biệt đối với người giáo viên phải có sự cố gắng và nổ lực rất lớn trong việc nghiên cứu, sáng tạo trong quá trình giảng dạy Trước hết là việc đổi mới về phương pháp giảng dạy cùng với
việc soạn giáo án thiết kế bài giảng.Vì vậy, “Việc đổi mới phương pháp dạy học đang
là nhu cầu cần thiết trong nhà trường phổ thông ngày nay” [32; tr 11]
Do vị trí, vai trò và tầm quan trọng của môn văn trong nhà trường hiện nay, cho
nên chúng tôi quyết định chọn đề tài ”Thiết kế các bài dạy về tác phẩm thơ giai đoạn
1930 – 1945 trong sách giáo khoa ngữ văn 11(bộ cơ bản) Với đề tài này chúng tôi hy
vọng rằng sẽ góp một phần nhỏ vào việc hiện đại hóa phương pháp giảng dạy ở nhà trường phổ thông hiện nay, góp phần giúp học sinh hứng thú thực sự hơn với môn văn,
Trang 6tiếp nhận kiến thức một cách chủ động không khuôn sáo và có nhiều sáng tạo trong quá trình tiếp nhận Là một người giáo viên trong tương lai, tôi mong muốn với việc thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi cũng như các em học sinh bước đầu chuẩn bị cho quá
trình giảng dạy, học tập và tiếp cận văn chương sau này một cách thuận lợi hơn Việc
dạy văn trong nhà trường phổ thông không những giúp học sinh tìm hiểu cái hay cái đẹp trong ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ mà còn phải giúp học sinh biết vận dụng những tính chất ngôn ngữ đó để khai thác những vấn đề sâu xa hơn còn ẩn chứa bên trong nội dung của từng tác phẩm Bước đầu hướng học sinh khai thác cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống, giúp học sinh hướng đến cái đẹp trong tâm hồn một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn, với nhiều khía cạnh từ khách quan đến chủ quan.Việc trang bị cho học sinh những kỹ năng phân tích, thái độ học tập và cả kiến thức để vào đời là một trong những yêu cầu cần thiết trong thời đại hiện nay, đặc biệt trong quá trình giao tiếp xã
hội Từ thực tiễn trên cho thấy vai trò của người thầy là rất quan trọng vì “ Dạy văn là
công việc đòi hỏi một sự cố gắng bền bỉ về nhiều mặt mới có thể đáp ứng được yêu cầu to lớn của sự nghiệp đào tạo con người mới Xã hội chủ nghĩa”
Có thể nói qua từng chặng đường phát triển của lịch sử nước nhà, kèm theo những đổi mới về kinh tế,chính trị thì việc đổi mới giáo dục, phương pháp giảng dạy luôn được đặt ra hàng đầu Nhưng việc tiến hành đổi mới còn nhiều bất cập, thiếu sót, chưa thật sự đi vào quỹ đạo chung của sự phát triển đất nước Có nhiều công trình nghiên
cứu vạch ra nguyên nhân của việc sa sút trong giảng dạy như trong quyển “Văn
chương nhìn từ góc sân trường” của tác giả Nguyễn Minh Hùng đã khẳng định “thầy giáo dạy văn chưa thu hút học sinh vào bài học là một trong những nguyên nhân chủ yếu biến tiết học văn thành nhàm chán” [7; tr 147] Và cũng có nhiều công trình
nghiên cứu đề ra phương án giải quyết nhưng cuối cùng các vấn đề đó vẫn còn nằm ở
tình trạng lý thuyết khó có thể áp dụng sâu sắc và “phải đến cuối thập 60 lại đây
những công trình chuyên ngành mới được nâng lên một bước về chất lượng, nhiều chuyên luận lần lượt ra đời: Rèn luyện tư duy học sinh qua giảng dạy văn học (1969) của Phan Trọng Luận; Vấn đề giảng dạy văn học theo thể loại (1970) của Trần Thanh
Đạm, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Huỳnh Lý, Đàm Gia Cẩn; Phân tích tác phẩm
văn chương trong nhà trường (1977) của Phan Trọng Luận; Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn (1978) của Phan Trọng Luận; Tu từ học với vấn đề giảng dạy Ngữ văn
Trang 7(1979) của Đinh Trọng Lạc; Dạy văn dạy cái hay cái đẹp (1983) của Nguyễn Duy Bình; Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học (1983) của Phan Trọng Luận…; Giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại (1979) của Đái Xuân Ninh” [23; tr 09] Bắt tay
vào viết quyển “Xã hội văn học nhà trường” tác giả Phan Trọng Luận đã nhận định rằng “thầy giáo ngày nay không phải như trước, chỉ biết gõ đầu trẻ, miễn là có bài cho
học trò, cuối tháng bỏ lương vào túi Bây giờ thầy giáo có trách nhiệm với nội dung,
đào tạo cán bộ ra phục vụ nhân dân”[22; tr 456] và chúng ta thấy rõ ràng một việc
“tình trạng học sinh học văn một cách ít hứng thú đã trở thành khá phổ biến Tiếng
phàn nàn về việc giảng văn trong nhà trường từ các giới xã hội đến nay hầu như đã trở thành một dư luận, một nhận định tương đối phổ biến và nhất trí”[18; tr 29] Ngay
trong quyển “Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” của tác giả Phan Trọng luận đã khẳng định “Phương pháp dạy của thầy, có buộc học sinh suy nghĩ, có tạo điều kiện
phát triển trí tuệ học sinh hay không là tiêu chuẩn cơ bản phân biệt phương pháp tích cực hay thụ động, tiến bộ hay lạc hậu”[14; tr 44] Ngay từ đầu chúng ta thấy cần phải
đặt ra tiêu chí “giáo viên không cảm thụ hộ mà là người đứng ra tổ chức quá trình học
sinh tiếp nhận, chiếm lĩnh kiến thức”[18; tr 46] và trong quyển “Phương pháp dạy học văn” tác giả đã cho ý kiến “chất lượng học văn trong nhà trường phổ thông đang giảm sút nghiêm trọng Nhiều vấn đề có ý nghĩa thời sự đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu phương pháp cũng như đông đảo anh chị em giáo viên Ngữ văn cùng giải đáp”[24; tr
11]
Hiện nay cùng với nhịp độ phát triển của xã hội là “nhịp độ phát triển của khoa
học - kĩ thuật hiện đại đòi hỏi một sự đổi mới cao độ phương pháp dạy học để nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin, đồng thời có thể xây dựng được những con người sáng tạo làm chủ khoa học- kĩ thuật hiện đại [20; tr 271] Vấn đề này đòi hỏi người
thầy giáo phải cố gắng trao dồi, thay đổi tư duy hơn nữa nhằm mục đích đưa công nghệ thông tin vào việc giảng dạy sao cho đạt hiệu quả tối ưu nhất Tuy nhiên sự hiện đại của công nghệ thông tin nhà trường vẫn không thể thay thế được vai trò của người
giáo viên bởi trong quyển “Văn học giáo dục thế kỹ XXI” tác giả Phan Trọng Luận đã khẳng định “Mục đích giờ dạy học tác phẩm văn chương theo phương pháp mới không
phải là giáo viên truyền thụ lời giảng của mình Mục đích cao nhất là làm sao để chủ thể học sinh, dưới sự hướng dẫn của thầy cảm nhận, khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm
Do đó tạo được sự phát triển toàn diện về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách và năng lực”
Trang 8[21; tr 291] và giáo viên chính là người “Tạo cho học sinh trao đổi, bộc lộ những cảm
nghĩ của mình về bài văn hoặc một nhân vật” và “khêu gợi, kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở học sinh nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận thức cái mới qua các hình tượng, tính cách nhân vật”[18; tr 31] Bên cạnh đó trong quyển “Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” tác giả Phan Trọng Luận cũng đã nói “người giáo viên không thể không vận dụng qui luật nhận thức vào trong quá trình giảng dạy của mình vốn là một quá trình vận động theo qui luật” và “có thể nói người giáo viên có tài năng sư phạm
là người biết xử lý một cách khéo léo những mối quan hệ mâu thuẫn trong quá trình nhận thức của học sinh để truyền thụ kiến thức, làm cho kiến thức hình thành một cách sinh động và vững chắc”[14; tr 13] Ngoài ra trong quyển này các tác giả còn đề cao
vai trò của người giáo viên trong việc đào tạo thế hệ trẻ trong xã hội hiện nay, tác giả
khẳng định “Văn học là vũ khí, người giáo viên dạy văn là người đào tạo con người
bằng vũ khí văn học Quan điểm dạy văn là dạy người đã trở thành nguyên tắc khoa học và tình cảm nghề nghiệp”[14; tr 27] Vì trong quyển “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế xã hội” tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra ý
kiến “Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội phụ thuộc phần lớn vào kết quả giáo dục
trong những năm tới”[06; tr 64] Từ đó cho thấy, ngay trong nhà trường phổ thông
môn học có thể đáp ứng được những vấn đề trên chỉ có thể là môn văn, và đó mới chỉ
là điều kiện cần còn điều kiện đủ phải là người giáo viên - người “kỹ sư tâm hồn” có
đủ trình độ và niềm đam mê nghề nghiệp mới có thể đảm nhận một lúc hai trọng trách
là dạy chữ và dạy người Ta thấy một thực tế rõ ràng là để giáo dục thế hệ trẻ thành
công trong sự nghệp “Trăm năm trồng người” của Đảng và nhà nước ta quả là một vấn
đề không hề đơn giản, bởi cũng trong quyển “Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn”, tác giả đã khẳng định “nói đến văn học là nói đến khoa học về con người”[14; tr 21],
Vì vậy, trong Tạp chí Giáo dục số 240 kỳ 2, trong bài viết “Xây dựng, hệ thống câu
hỏi nhằm hình thành, phát triển năng lực nhận thức, đánh giá và thưởng thức tác phẩm văn chương của học sinh trung học phổ thông”, tác giả Nguyễn Thị Quốc Minh
đã viết “Trong việc dạy và học văn, người giáo viên không chỉ giúp học sinh hiểu được
nội dung, hình thức nghệ thuật của tác phẩm, biết nhận xét hay hoặc dở, khen hay chê
mà còn phải biết thưởng thức”
Khi các tác giả trong quyển “Phương pháp dạy học văn (tập một)” lên tiếng “cái
khuôn mẫu khô cứng của giờ giảng văn cần được phá vỡ để giải phóng cho sự tiếp
Trang 9nhận sáng tạo của học sinh, để cho giờ văn thật sự là một giờ văn đúng với nghĩa của
nó, và cũng để cho tác phẩm văn chương vào tay giáo viên không biến thành “bát canh nhạt nhẽo” (Tvardopxki)”[16; tr 94], và yêu cầu “ Dạy văn là một lĩnh vực hoạt
động đòi hỏi nhiều tìm tòi sáng tạo của cá nhân người lên lớp”[16; tr 97], thì họ đã
soạn một số bài dạy trong sách giáo khoa nhằm vạch ra hướng đi đúng đắn cho các giáo viên khi bắt tay vào việc soạn giáo án, cùng mong muốn và tư tưởng này tác giả Nguyễn Văn Đường (chủ biên) và Hoàng Dân đã thiết kế giáo án đầy đủ những bài học trong chương trình phổ thông từ lớp 10 đến lớp 12 Những quyển sách này được soạn đầy đủ các bước trong tiến trình giảng dạy của một bài học nhằm góp phần làm
tăng thêm hiệu quả giờ dạy được tốt hơn Từ lý luận trên ta bắt gặp trong cuốn “Bàn về
giáo dục Việt Nam” năm 2002 tác giả Nguyễn Cảnh Toàn lại một lần nữa khẳng định
vai trò của người giáo viên “Người giáo viên giỏi phải là người yêu nghề” và “lòng
yêu nghề, sự giác ngộ chính trị về nghề, lòng hứng thú đối với khoa học nghề nghiệp
và hiệu quả lao động sư phạm”[28; tr 397] Ngoài ra, tác giả của cuốn sách này còn
nói rõ, vấn đề không dừng lại ở đó mà nó còn phụ thuộc vào phương pháp của người
giảng dạy bởi “Dạy giỏi là làm sao cho người học phát huy tính chủ động tìm học, tự
học một cách thông minh sáng tạo, biết gắn với hành” [28; tr 72]
Từ thực tiễn trên ta thấy tất cả các nghiên cứu đều muốn khẳng định người giáo viên dạy giỏi không chỉ trang bị cho mình kiến thức đầy đủ về bài giảng của mình là được mà còn phải biết vận dụng những kiến thức đó như thế nào để học sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động sáng tạo, và trên nền tảng đó vận dụng bài học vào
trong cuộc sống một cách linh hoạt, vì vậy trong quyển “Văn chương bạn đọc sáng
tạo”, tác giả Phan Trọng Luận đã vạch ra sự khác biệt cơ bản của giảng dạy truyền
thống và hiện đại đó là: “đổi mới về vị trí chức năng người giáo viên cũng như học
sinh trong cơ chế giảng văn; đổi mới về phương pháp truyền thụ thụ động sang phương pháp tích cực, sáng tạo trong tiếp nhận và tiếp nhận tác phẩm ở học sinh trong quá trình giảng văn”[20; tr 267] Và tác giả cho biết “Cái quan trọng nhất trong giảng dạy văn nói riêng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp tìm tòi, phương pháp vận dụng kiến thức của mình”[20; tr 24] Ta thấy rõ ràng,
trong bất cứ môi trường giáo dục nào, việc đào tạo cho học sinh như thế nào để học sinh tư duy, phát triển bộ óc là một vấn đề luôn được xem trọng đặc biệt là trong thời buổi hiện nay, khi phương pháp giáo dục phổ thông đang dần đổi mới thì vấn đề đó
Trang 10càng được xem trọng và được xem là một trong những tiêu chí hàng đầu trong việc
giảng dạy Nhờ vào vai trò chủ đạo đúng hướng của người giáo viên mà “trong giảng
văn mới, học sinh chính là một chủ thể tích cực tham gia vào quá trình khám phá tác phẩm bài văn”[20; tr 267]
Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làm nên”, nhưng lại có thêm câu “Học thầy không tày học bạn”, nghe tưởng chừng như hai câu này mâu
thuẫn với nhau nhưng thực sự không hề mâu thuẫn, bởi trong quá trình giảng dạy đặc biệt là môn văn, nếu không có thầy chỉ đạo, hướng dẫn thì học sinh khó có thể có hướng đi đúng để chiếm lĩnh, khám phá kiến thức Tuy nhiên trong quá trình dẫn dắt của giáo viên thì mỗi học sinh có cách chiếm lĩnh riêng thì việc các học sinh có trao đổi bài để xây dựng nên một kiến thức đầy đủ và hoàn thiện là một điều rất cần thiết trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy Vấn đề của phương pháp đặt ra là cả người dạy và người học đều phải không ngừng nâng cao, tìm hiểu chiếm lĩnh tri thức
từ nhiều góc độ, nhiều tầng, nhiều bậc khác nhau, đòi hỏi ở người học ngoài giờ trên lớp phải biết trao đổi, tiếp thu từ bạn bè những cái hay, cái mới, còn người giáo viên phải biết trân trọng và tiếp thu những sáng tạo mới, hay của học sinh có như vậy thì kiến thức trên ghế nhà trường mới được bền vững từ những bổ sung một cách khoa
học, mới mẽ của người dạy lẫn người học Trong quyển “Văn học giáo dục thế kỷ
XXI”, tác giả Phan Trọng Luận đã nhấn mạnh “vai trò của người giáo viên cực kỳ quan trọng, khi giáo viên dẫn dắt học sinh đi đến những tình huống có vấn đề thì chính bản thân giáo viên cũng được đặt ra những tình huống có vấn đề không kém phần phức tạp” [21; tr 378] và tác giả cho rằng: “Con đường đổi mới phương pháp giảng dạy văn học từ thông tin- tiếp thụ sang phương pháp sáng tạo là một quá trình tìm tòi thể nghiệm khá phức tạp và công phu”[21; tr 319], từ ý kiến trên chúng ta nên hiểu rằng,
cho dù là một giáo vên dạy giỏi về chuyên môn nhưng “Một khi chưa nắm được tư
tưởng chiến lược của phương pháp dạy học văn mới thì không thể tránh khỏi tình trạng vận dụng một cách máy móc, mù mờ một số thủ pháp, biện pháp trong giảng dạy” [21; tr 287] thì sẽ “không lĩnh hội được những tinh hoa của giáo dục tiên tiến, sẽ rất khó để thực hiện nhiệm vụ phát triển và hội nhập mà chúng ta đang theo đuổi” Vì
thế một yêu cầu cấp thiết đặt ra là “khi cải cách giáo dục là cải tiến phương pháp
giảng dạy”[26; tr 07] Và có một điều không thể chối cải “tính sư phạm được thể hiện trong nội dung và phương pháp dạy học theo mục đích chung của chương trình môn
Trang 11học Giáo viên là người chịu trách nhiệm khởi động tổ chức, và hoàn thiện quy trình
sư phạm đó trong từng giờ học, bài học cụ thể”[23; tr 73]
Từ thực tiễn trên và những nghiên cứu trong nhiều năm qua, cho thấy phương pháp sư phạm đúng đắn là một trong những yếu tố giúp học sinh yêu thích hơn đối với môn văn nói riêng với nền văn học dân tộc thông qua tiếng mẹ đẻ nói chung Vì vậy, trong Tạp chí Trung ương hội khuyến học Việt Nam tháng 5 năm 2010, chuyên mục dạy và học ngày nay trong mục diễn đàn dạy học, tác giả Nguyễn Đình Cống có cho ý
kiến “Phương pháp sư phạm bao gồm nhiều vấn đề mà trước hết và quan trọng nhất
là cách khơi dậy ở học sinh sự say mê học tập, sự khát khao hướng vào cái thiện, là làm cho học sinh hứng thú trong việc tìm tòi, khám phá cái mới, cái đẹp” Trước đó,
năm 1969 trong “Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành người chiến sĩ Cách Mạng dũng
cảm, thông minh, sáng tạo”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã kêu gọi “Nói tóm lại, chúng ta phải xem lại cách giảng dạy văn trong nhà trường phổ thông của ta, không nên dạy như cũ bởi vì dạy như cũ thì không những chỉ việc dạy văn không hay mà sự
đào tạo cũng không hay”[04; tr 249] Mục đích cuối cùng của Thủ tướng là chỉ muốn
đem lại hiệu quả tốt nhất cho người dạy và học văn bởi phương pháp cũ chỉ nặng về
kiến thức, chưa đào sâu, khơi gợi khả năng tích cực năng động của học sinh bởi “Vai
trò chủ động, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học tập có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức và hoàn thiện nhân cách của bản thân với ý nghĩa là chủ thể sáng tạo, không thể thay thế”[03; tr 50] Và chúng
ta thấy rõ ràng “trong giờ văn học, nhiều nhiệm vụ về mặt sư phạm và mặt phương
pháp hệ hòa lẫn với nhau”[31; tr 05] Vì vậy yêu cầu đặt ra là “giáo viên kết hợp vừa trình bày tài liệu hoặc phân tích một hiện tượng, sự kiện văn học, một tác phẩm; vừa lưu ý nhấn mạnh phương pháp trình bày, phương pháp phân tích, cần hướng dẫn học sinh vận dụng phương pháp phân tích đó đối với hiện tượng văn học hoặc tác phẩm tương tự để các em có dịp rèn luyện kỹ năng” [23; tr 91] Tuy nhiên “ việc vận dụng quá nhiều phương pháp, thủ thuật giảng dạy không có tác dụng giúp thêm mà ngược lại ngăn cản sự hiểu biết sâu về tác phẩm nghệ thuật” [35; tr 07], giáo viên nên xác
định đối với bài nào thì sử dụng phương pháp gì bởi “vai trò của một phương pháp có được xác nhận và đề cao hay không trước hết phải do hiệu lực riêng của bản thân
phương pháp, nhưng phương pháp bao giờ cũng gắn liền với người sử dụng phương pháp” [23; tr 158]
Trang 12Bên cạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới tư duy của người giáo viên đó là việc cần phải đổi mới quan niệm về sách giáo khoa Từ rất lâu, cả người học lẫn người dạy luôn mặc định sách giáo khoa là nguồn kiến thức chủ yếu và duy nhất đúng, chiếm lĩnh kiến thức trong sách giáo khoa là có thể chiếm lĩnh kiến thức một cách đầy đủ và logic, điều này có thể nói là sai lầm, bởi sách giáo khoa có đóng vai trò
là nguồn cung cấp hay công cụ để chiếm lĩnh kiến thức hay không là tùy thuộc vào
phương pháp của người giáo viên Vì vậy mà trong quyển “Văn học giáo dục thế kỷ
XXI” tác giả đã kêu gọi “cần nâng cao chất lượng phương pháp tổ chức học sinh tự chiếm lĩnh tri thức lên một bước để sách giáo khoa thực sự trở thành công cụ cho học sinh tự học tập và phát triển nhân cách”[21; tr 125] Bên cạnh đó tác giả còn nhắc “tác giả sách giáo khoa phải bước xa hơn ra ngoài địa hạt khoa học cơ bản, để nắm bắt
được đầy đủ yêu cầu sư phạm của một cuốn sách giáo khoa đúng với ý nghĩa đích thực
của nó”[21; tr 125] Tuy nhiên, chúng ta không thể không coi trọng việc soạn giáo án,
mặc dù sách giáo khoa có đầy đủ, khoa học đến đâu đi chăng nửa mà người giáo viên
soạn giáo án không đúng hướng thì tiết dạy vẫn không đạt hiệu quả cao được vì “giáo
án là thước đo mức độ chuyển biến nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phát triển tư duy của học sinh đồng thời giáo án lại là điều kiện giúp giáo viên thể hiện quan niệm mới của mình về giảng dạy Giáo án tập dượt cho giáo viên thành thục cho việc vận dụng quan niệm tiến bộ về vấn đề tư duy cho học sinh Vì vậy đặt vấn đề cải tiến cách soạn giáo án cho phù hợp với yêu cầu phát triển và rèn luyện tư duy cho học sinh một công việc cần thiết và hữu ích”[17; tr 29] Quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp
trong giảng văn, nhóm tác giả: Nguyễn Minh Chính, Nguyễn Thị Hồng Nam, Trần Đình Thích, Hà Hồng Vân thuộc bộ môn Ngữ Văn khoa sư phạm trường Đại học Cần
Thơ đã biên soạn bài giảng “Lý luận dạy học ngữ văn”, các tác giả đã đưa ra một số xu
hướng dạy học hiện đại và các phương pháp giảng dạy Ngữ văn đang thông dụng nhằm bồi dưỡng cho sinh viên Ngữ văn – những giáo viên trong tương lai về kỹ năng giảng dạy văn trong nhà trường để thu hút học sinh hơn trong giờ giảng văn
Trang 13Để thực hiện mục đích trên người viết đặt ra yêu cầu là phải am hiểu và vận dụng những phương pháp dạy học tích cực hiện đại vào giờ dạy Đồng thời luôn đặt quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo những định hướng của Marzano, tiến hành cho học sinh thảo luận nhóm theo tinh thần hợp tác và các phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường lên hàng đầu
Do yêu cầu của đề tài và giới hạn của thời gian nên người viết chỉ đi sâu vào nghiên cứu vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc soạn giáo án giảng dạy những bài thơ trong SGK Ngữ văn 11 tập hai (bộ cơ bản), gồm các bài:
- Vội vàng – Xuân Diệu (2 tiết)
- Tràng giang - Huy Cận (2 tiết)
- Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử (1 tiết)
- Chiều Tối – Hồ Chí Minh (1 tiết)
- Từ ấy – Tố Hữu (2 tiết)
- Phương hướng: Trước hết, người viết đã sưu tầm và tham khảo những tài liệu
liên quan đến đề tài Sau đó tiến hành viết đề cương tổng quát, viết đề cương chi tiết, viết bản thảo và chỉnh sửa để hoàn thành đề tài Trong quá trình thực hiện, mỗi bước người viết đều thông qua sự chỉ dẫn và góp ý của các cán bộ hướng dẫn
- Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành tốt đề tài luận văn người viết sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
+ Đầu tiên người viết sưu tầm và hệ thống hóa tài liệu
+ Tiếp theo, trên cơ sở đó phân tích, so sánh đối chiếu và tổng hợp các kiến thức về phương pháp dạy học và các tài liệu có liên quan
Trang 14B- PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC THIẾT KẾ GIÁO ÁN
đoạn 1930 – 1945 trong SGK Ngữ văn 11 tập hai (bộ cơ bản)
Là một giáo viên dạy văn trong tương lai, người viết vạch nhiều kế hoạch cho mình sau khi ra trường Để thực hiện được kế hoạch người viết luôn đặt ra những mục tiêu nhất định trong việc dạy văn Trước hết là việc dạy văn trong nhà trường nhằm bồi dưỡng tri thức cho học sinh từ tư tưởng tình cảm Khác với các môn khoa học xã hội nhân văn khác: Giáo dục con người thông qua những cái hay, cái đẹp trong hình tượng nghệ thuật và nhiệm vụ của người giáo viên là làm sáng tỏ cái hay, cái đẹp đó để học sinh thêm yêu tha thiết văn chương, tha thiết cuộc sống, lay động, đánh thức những tâm hồn khô cằn mà trước đây đã từng hờ hững, vô cảm với nhệ thuật, với cái đẹp Bên cạnh đó là giúp học sinh biết tư duy gián tiếp tiếp thu các môn học khác, đặc biệt
là các môn khoa học xã hội và nhân văn, bởi khi học tốt môn văn, học sinh có thể vận dụng những kiến thức đó phát huy cách diễn đạt, liên kết các sự kiện môn học
Ngoài ra, một mục tiêu không kém phần quan trọng là bồi dưỡng thêm cho học sinh các kỹ năng: đọc, viết, phân tích, chứng minh… những vấn đề trong sách giáo khoa cũng như những vấn đề trong thực tế cuộc sống Đặc biệt là bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp cho học sinh đối với xã hội bên ngoài, vận dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ một cách thành thục và chính xác mọi lúc mọi nơi
Bên cạnh đó, tiếp tục bồi dưỡng, cung cấp cho học sinh những hệ thống tri thức
về văn hóa của dân tộc và cả thế giới cũng như ngôn ngữ tiếng Việt, sự phát triển lịch
sử văn học, văn hóa và địa lý giúp học sinh có cái nhìn tổng quát về thế giới bao la, để
so sánh và trân trọng những giá trị của văn hóa dân tộc Từ việc cung cấp cho học sinh
hệ thống tri thức trên, có thể giúp học sinh phát huy kĩ năng sáng tạo, vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống và có thể mở rộng kiến thức một cách dễ dàng, chính xác
Trang 15Thông qua đó hình thành cho học sinh thói quen tự học, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu môn văn, biết phát hiện, suy nghĩ, giải quyết vấn đề khi gặp tình huống có vấn đề trong cuộc sống
Là người giáo viên dạy văn – “Kỹ sư tâm hồn”, người viết mong muốn khơi dậy
trong tâm hồn trong sáng của học sinh những tình yêu thầm kín bấy lâu luôn ấp ủ đó là tình yêu đất nước, yêu thiên nhiên, lòng tự hào dân tộc, truyền thống đạo đức của người Việt: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Xây dựng lý tưởng thẫm mỹ cao đẹp, có tình cảm thẫm mỹ trong sáng lành mạnh cho học sinh Mục tiêu lớn nhất là làm cho học sinh luôn yêu mến, tự hào về tiếng Việt và phải nhận ra trách nhiệm của họ là phải bảo vệ, trao dồi tiếng nói của dân tộc
1945 trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập hai (bộ cơ bản)
Văn học Việt Nam hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn Và được chia làm hai giai đoạn chính: Văn học Việt Nam trung đại và Văn học Việt Nam hiện đại Mỗi giai đoạn có mỗi tính chất văn học khác nhau, tạo cho bản thân chúng phong cách riêng biệt và nổi bật so với các giai đoạn văn học khác Văn chương Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 mang tính chất giao thời của hai giai đoạn văn học trên: có nghĩa văn học giai đoạn này có kế thừa, phát huy và sáng tạo những đặc điểm nổi bật của văn chương trung đại cũng như hiện đại Tuy nhiên sự kế thừa nối tiếp đó ở giới hạn nhất định, không hoàn toàn đồng nhất với giai đoạn trước Trên cơ sở đặc điểm văn chương của giai đoạn trước, văn học giai đoạn này đã tạo cho mình một diện mạo mới, tạo tiền đề cho sự phát triển nền văn học hiện đại sau này Và diện mạo đó được tạo nên từ nhiều yếu tố: lịch sử, chính trị, văn hóa,…
Về lịch sử, sự ra đời của Đảng cộng sản đã chấm dứt sự khủng hoảng về vai trò lãnh đạo của các giai cấp trong xã hội Nhiều phong trào biểu dương biểu tình diễn ra sôi nổi (Xô Viết – Nghệ Tĩnh, Mặt trận dân chủ Đông Dương), đặc biệt chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nhật vào Đông Dương khiến nhân dân ta “một cổ hai tròng” Cùng thời điểm này, nhiều tác phẩm văn chương ra đời với nhiều trường phái khác nhau Giữa các trường phái lại có sự xung đột kịch liệt Trong hoàn cảnh đó Văn chương Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ra đời là một cuộc đổi mới toàn diện và có ý nghĩa như là một cuộc cách mạng trong văn chương Đó là sự kết hợp hài hòa giữa văn học dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại Phong phú về đề tài, đa dạng về
Trang 16thể loại Về nghệ thuật văn học giai đoạn này có sự đổi mới toàn diện từ ngôn ngữ, hình tượng đến kết cấu nghệ thuật Về nội dung, văn học giai đoạn này đã thể hiện sâu sắc thế giới tâm hồn của người Việt Nam trong thời đại với những tình cảm đẹp:
- Lòng yêu nước thiết tha
- Tình cảm quốc tế vô sản
- Tình cảm nhân đạo sâu sắc
- Khát vọng giải phóng cá tính trong việc bộc lộ cái “tôi” bản thể con người
- Tình yêu đôi lứa thiết tha
Giai đoạn văn học 1930 – 1945 hay còn gọi là giai đoạn văn học giao thời Giao thời giữa phương pháp sáng tác truyền thống và phương pháp sáng tác hiện đại Khác
với giai đoạn trước, văn chương đề cao cái “ta” cộng đồng thì văn học học giai đoạn này chú trọng đề cao cái “tôi” cá nhân nhiều hơn Để học sinh hiểu và cảm nhận tác
phẩm văn học giai đoạn này nói chung, và tác phẩm văn học giai đoạn này trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 (tập hai) bộ cơ bản nói riêng còn là một vấn đề nan giải Với đề
tài “Thiết kế các bài dạy về tác phẩm thơ giai đoạn 1930 – 1945 trong sách giáo khoa
Ngữ văn 11 tập hai (bộ cơ bản)” người viết đặt ra mục tiêu:
- Về kiến thức: Giúp học thấu hiểu và nắm bắt được quan niệm sáng tác của
các nhà thơ trong giai đoạn này đó là quan niệm về tình yêu quê hương đất nước thiết tha , tình yêu thiên nhiên sâu sắc Bên cạnh đó là quan niệm mới lạ về tình yêu, tuổi trẻ
và hạnh phúc với nỗi buồn cô đơn, nỗi sầu nhân thế khát khao hòa nhập với cuộc đời Ngoài ra giúp học sinh thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng trong giai đoạn này dù gian lao khắc nghiệt nhưng vẫn lạc quan hướng về tương lai và niềm vui khi bắt gặp lý tưởng cách mạng Một kiến thức không kém phần quan trọng là nghệ thuật thơ mang màu sắc vừa cổ điển vừa hiện đại trong giai đoạn này
- Về kỹ năng: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc diễn cảm và hiểu văn bản
thơ, hình thành cho học sinh tính chủ động, tích cực sáng tạo trong học tập cũng như thói quen tư duy trong việc phân tích nội dung tác phẩm nói chung và tác phẩm thơ nói riêng Giúp học sinh biết cách mở rộng và tinh lọc kiến thức một cách có hiệu quả Đồng thời vận dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống để phân tích, so sánh những vấn đề về lịch sử, địa lý và xã hội giai đoạn này với văn học giai đoạn hiện nay
- Về thái độ: Bồi dưỡng cho học sinh thêm lòng yêu quê hương, thiên nhiên,
đất nước, tự hào dân tộc Bên cạnh đó trân trọng những thành tựu mà các tác giả giai
Trang 17đoạn này sáng tạo và đưa vào thơ Từ đó dần dần hình thành cho học sinh thái độ tích cực trong việc phát biểu ý kiến, tinh thần tập thể góp phần xây dựng bài
Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển với bao kiến thức mới lạ Đặc biệt nhất là cuộc cách mạng khoa học, kĩ thuật – công nghệ hiện nay khiến nội dung dạy học trong nhà trường không ngừng nâng cao đổi mới và được hiện đại hóa Từ thực tiễn trên phát sinh mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức trong nội dung học tập của học sinh cần nắm ngày càng nhiều hơn, phức tạp hơn trong khi đó thời lượng học tập của học sinh trong quá trình dạy học không thể tăng Vì vậy với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông Việt Nam hiện nay đòi hỏi học sinh phải có thái độ học tập tích cực Và một trong những nét đổi mới cơ bản là lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình giảng dạy, đối với phương pháp dạy học hiện đại thì đây là quan điểm cơ bản, và khác hoàn toàn so với phương pháp dạy học truyền thống Nhắc đến phương pháp dạy học truyền thống là người ta nghĩ ngay đến vai trò trọng tâm của người giáo viên trong quá trình giảng dạy Thầy đảm nhận mọi công việc của lớp từ giảng giải phân tích, khám phá vấn đề và quyết định kết quả của kiến thức…Vì vậy, trò hoàn toàn đứng ngoài cuộc của quá trình khám phá, chiếm lĩnh kiến thức Trò giờ đây chỉ đóng vai trò
là người dự giờ Lý luận dạy hiện đại đặc biệt coi trọng vai trò của học sinh, học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học, chú trọng phát huy các mối quan hệ giáo dục như trò – lớp – thầy và trò là chủ thể Trong khi quan điểm dạy học thầy làm trung tâm chủ yếu là thầy truyền đạt kiến thức, thầy độc thoại, phát vấn; trò nghe, ghi và trả lời, thầy áp đặt kiến thức có sẵn trò chỉ nhiệm vụ học thuộc lòng bên cạnh đó thầy độc quyền đánh giá, cho điểm cố định Trong khi đó ở quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, trò tự tìm kiếm kiến thức bằng hoạt động tích cực và có cơ hội đối thoại giữa trò
và trò, giữa thầy và trò, thầy trò cùng khẳng định kết quả kiến thức của trò từ đó trò học cách học, cách hành động và trưởng thành Ngoài ra trò còn biết tự đánh giá, sửa sai, tự điều chỉnh làm cơ sở để thầy cho điểm cơ động
Đặc biệt, trong phương pháp dạy học này thể hiện sự đổi mới và hiện đại ở chổ thầy không còn là người đọc quyền đánh giá tiến trình học tập cũng như kết quả học tập của học sinh mà việc đánh giá thể hiện ở ba góc độ: thầy đánh giá trò, trò đánh giá trò và trò tự đánh giá bản thân mình
Trang 18Ngoài ra, ta thấy rõ ràng, việc cảm thụ văn chương là một hoạt động sáng tạo, mỗi người có hoàn cảnh sống, giới tính, lứa tuổi và tôn giáo khác nhau thì có cách cảm nhận khác nhau, giáo viên ghi nhận tôn trọng mỗi cách hiểu của học sinh không nên gò
ép học sinh vào một cách hiểu nhất định nào đó Khi đó học sinh sẽ cảm nhận được vai trò và trách nhiệm của mình trong quá trình khám phá, chiếm lĩnh kiến thức
Để học sinh đạt hiệu quả cao trong quá trình học tập thì người giáo viên cần phải giúp cho học sinh có thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học của mình Và người giáo viên cần nắm rõ có hai nhân tố chính ảnh hưởng đến thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học của học sinh Đó là không khí lớp học, bao gồm: môi trường, điều kiện học tập cũng như sự quan tâm của giáo viên và bạn cùng lớp và nhiệm vụ học tập của học sinh Điều kiện cần đầu tiên là không khí lớp học phải thân thiện, gần gũi Giáo viên cần có thái độ thân mật, vui vẻ, hài hước, biết chia sẽ, và khuyến khích động viên học sinh Bên cạnh đó giáo viên nên tạo điều kiện để học sinh có cơ hội trình bày những những ý kiến mới lạ, sáng tạo bằng việc cho điểm mặc dù ý kiến đó chưa hẳn đã đúng hoàn toàn Quan trọng nhất trong định hướng này là giáo viên cùng học sinh khẳng định kiến thức mà học sinh mới vừa khám phá chứ không phải là giáo viên tự quyết định kiến thức cho học sinh Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy, giáo viên nên cho nhiều bài tập thảo luận nhóm nhằm tạo điều kiện để học sinh thể hiện tinh thần hợp tác trong học tập, có điều kiện trao đổi, khẳng định kiến thức với bạn cùng nhóm, cùng lớp Giáo viên nên để học sinh tự do lựa chọn hình thức trình bày bài tập thảo luận nhóm, và trao đổi những vấn đề còn chưa rõ với bạn cùng lớp và giáo viên một cách mạnh dạn, thoải mái và bình đẳng Và lúc này người giáo viên đóng vai trò là người chỉ đạo, nhắc nhở, đánh giá và hướng học sinh vào nội dung bài học
Bên cạnh việc tạo bầu không khí học tập thích hợp cho học sinh, giáo viên cần phải nuôi dưỡng thái độ và sự nhận thức tích cực về nhiệm vụ học tập của học sinh Để học sinh làm việc một cách hứng thú và có hiệu quả thì giáo viên phải giúp học sinh hiểu được nhiệm vụ học tập cũng như mục đích học tập của họ Ngoài ra, giáo viên phải biết tạo ra nguồn lực đầy đủ để học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập của mình như: tài liệu, thời gian, phương tiện, kiến thức… Giáo viên phải làm cho học sinh tin tưởng vào khả năng của bản thân và khuyến khích sự cố gắng của học sinh
Trang 192.7 Thu nhận và tổng hợp kiến thức
Để có được kiến thức, bất kỳ ai cũng trãi qua quá trình thu nhận và tổng hợp kiến thức Từ nội dung kiến thức có sẵn chuyển tải như thế nào để nó hoàn toàn là kiến thức của mình, cũng với nội dung đó, nhưng theo cách hiểu của mình Xét về tính tự nhiên của kiến thức, Marzano phân kiến thức nội dung ra làm hai kiểu: kiến thức thông báo và kiến thức quy trình
Kiến thức thông báo là loại kiến thức để học sinh nhớ và hiểu bao gồm những
sự kiện, khái niệm Kiến thức quy trình là loại kiến thức buộc học sinh phải vận dụng, thực hành mới có thể chiếm lĩnh kiến thức một cách dễ dàng được Kiến thức qui trình được thực hiện qua ba giai đoạn Giai đoạn một, trước khi vào bài mới giáo viên cần giúp học sinh nắm vững kiến thức thông báo với việc xây dựng ý nghĩa bằng cách đặt câu hỏi về chủ đề, nội dung bài mới, cùng học sinh xây dựng khái niệm của bài mới, định hướng cho học sinh kiến thức sắp học, sau đó hướng dẫn học sinh cách sắp xếp ý
và hệ thống kiến thức một cách ngắn gọn, dễ hiểu, súc tích cụ thể Từ việc xây dựng ý nghĩa, sắp xếp ý và hệ thống hóa kiến thức, giáo viên đã giúp học sinh biến kiến thức
tự nhiên thành kiến thức của mình Nhiệm vụ của học sinh lúc này là nắm chủ đề chính
và có thể tóm tắt nội dung dựa trên quá trình chiếm lĩnh kiến thức
Kiến thức quy trình được thực hiện qua ba giai đoạn Giai đoạn đầu: Xây dựng
mô hình, giai đoạn giáo viên làm mẫu và yêu cầu học sinh nhớ từng chi tiết giáo viên làm và mêu tả lại các bước giáo viên làm Giai đoạn hai: Giai đoạn định hình kiến thức quy trình, giáo viên cùng học sinh làm và chỉ rõ những vấn đề sai sót phát sinh khi học sinh thực hành, bên cạnh đó cùng học sinh khắc phục những sai sót đó Giai đoạn ba: Giai đoạn thu nhận kiến thức, giáo viên nên để học sinh tự thực hành nhiều lần dưới sự hướng dẫn của mình Từ đó cho học sinh tự rút ra kinh nghiệm bên cạnh đó giáo viên lập kế hoạch cho học sinh thực hành kiến thức quy trình nhằm giúp học sinh thực hành ngày càng nhanh và chính xác hơn
Quá trình học tập không chỉ dừng lại ở việc chiếm lĩnh kiến thức và những kỹ năng trong sách giáo khoa Những kiến thức học sinh học được ở loại hình học tập thứ hai sẽ mau chóng trở nên lạc hậu nếu học sinh không ngừng nâng cao, trao dồi, rèn luyện và tìm hiểu kiến thức nhiều hơn nữa, đồng thời học sinh cần phải biết sử dụng những kiến thức đã biết áp dụng ra ngoài thực tế nhằm tạo ra một kiến thức vững chắc
Trang 20cho riêng mình Vì vậy việc học sinh cần phải có khả năng tự mở rộng và tinh lọc những kiến thức và kỹ năng trong nhà trường là một điều rất cần thiết Có hai phương pháp giúp học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức, đó là: sử dụng các loại câu hỏi và hướng dẫn học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức bằng các hoạt động khác nhau Về việc sử dụng các loại câu hỏi, giáo viên cần đưa ra nhiều dạng câu hỏi như so sánh, phân loại Từ việc trả lời các câu hỏi học sinh sẽ xác định được vùng kiến thức nào là cần thiết, cần phải nhớ lâu Bên cạnh việc sử dụng các loại câu hỏi giáo viên có thể giúp học sinh tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa những kiến thức khác không được học với những kiến thức mà học sinh đang tìm hiểu trong nhà trường, vấn
đề là học sinh tư duy như thế nào để tinh lọc và mở rộng kiến thức trên nền tảng câu hỏi của giáo viên
Ngoài ra giáo viên còn phải hướng dẫn học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức bằng các hoạt động Bằng cách giáo viên ra bài tập với những tình huống có vấn đề và yêu cầu học sinh thực hành, giải quyết vấn đề qua các phương pháp như: so sánh, phân loại, quy nạp, suy luận, phân tích lỗi, xây dựng sự ủng hộ, khái quát hóa, phân tích quan điểm (mỗi học sinh đều có quan điểm riêng về một vấn đề) Ở phuơng pháp này điều cần thiết là học sinh phải làm việc tích cực, vận dụng tất cả các kiến thức để giải quyết vấn đề, đòi hỏi khả năng tư duy và tinh thần hợp tác của học sinh với bạn trong lớp và giáo viên rất cao Để định hướng học tập thứ ba này thành công giáo viên phải luôn luôn tự đặt câu hỏi: nên đặt câu hỏi như thế nào để học sinh biết được kiến thức nào cần tinh lọc và mở rộng để dễ dàng tư duy và giải quyết vấn đề mà giáo viên đặt
ra Và giáo viên phải biết tùy đặc trưng của từng bài học mà lựa chọn phương pháp hướng dẫn học sinh tinh lọc và mở rộng kiến thức Không nhất thiết bài học nào cũng chọn tất cả các phương pháp trên
Để những thao tác tư duy trong định hướng thứ ba được phát huy và sử dụng một cách có hiệu quả thì người giáo viên phải sử dụng những hoạt động sau đây trong quá trình giảng dạy: ra quyết định, điều tra, thí nghiệm, giải quyết vấn đề, phát minh
Để học sinh sử dụng kiến thức có hiệu quả, giáo viên cần đưa ra nhiều loại bài tập Tuy nhiên, các bài tập đó phải vừa là kiến thức cần khám phá cũng vừa là kiến thức gắn liền với thực tế và từ việc giải quyết các bài tập học sinh có thể tiến hành các
Trang 21hoạt động: ra quyết định, điều tra, thí nghiệm, giải quyết vấn đề, phát minh Và từ đó học sinh có thể vận dụng kiến thức đó vào thực tế một cách có hiệu quả
Mục đích của việc giảng dạy trong nhà trường phổ thông là giúp học sinh sử dụng kiến thức của các môn học nói chung và môn văn nói riêng được áp dụng vào thực tế cuộc sống Đây là định hướng cơ bản quan trọng cung cấp những cơ hội rõ ràng để học sinh áp dụng kiến thức có hiệu quả Vì vậy có thể xác định rằng đây là định hướng cơ bản, quan trọng nhất trong năm định hướng của Marzano Sử dụng định hướng này có hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào sự thân thiện và việc xây dựng kế hoạch học tập cho học sinh một cách khoa học, cẩn thận và logic của giáo viên Bên cạnh đó là sự phối hơp tự nguyện và tích cực của học sinh
Hàng ngày, hàng giờ con người được tiếp xúc với nhiều loại thông tin khác nhau Tuy nhiên, con người có xu hướng chỉ nhớ và lưu trữ những thông tin thật cần thiết và sử dụng thường xuyên Mục tiêu cao nhất trong tiến trình giáo dục không phải
là nội dung kiến thức mà học sinh thu nhận được mặc dụ nó rất quan trọng Bởi vì mục tiêu cao nhất trong tiến trình giáo dục là rèn luyện thói quen và năng lực tư duy cho học sinh một cách có hiệu quả Nếu có được thói quen và năng lực tư duy tốt thì học sinh có khả năng tự học tập, tự nghiên cứu rất cao về bất cứ vấn đề gì ở mọi lúc mọi nơi
Thói quen tư duy bao gồm: tư duy tự điều chỉnh, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo Năng lực của thói quen tư duy điều chỉnh thể hiện ở chổ: học sinh biết tự nhận thức, biết lập kế hoạch cho công việc, nhạy bén với sự phản hồi của giáo viên, bạn bè, thực tế,… và học sinh biết tự đánh giá hiệu quả các hành động của bản thân Năng lực tư duy phê phán được thể hiện khi người học biết được sự chính xác và tìm kiếm sự chính xác Nhận biết sự rõ ràng và tìm kiếm sự rõ ràng, không bảo thủ, bốc đồng và nên cẩn thận, biết bảo vệ những quan điểm đúng Nhạy bén với những quan điểm của người khác Năng lực tư duy sáng tạo được thể hiện ở chổ khi người học tiến hành công việc một cách mạnh dạn ngay cả khi chưa có câu trả lời hoặc giải pháp rõ ràng Biết mở rộng giới hạn kiến thức và khả năng của bản thân Tạo ra sự tin tưởng và duy trì tiêu chuẩn đánh giá riêng của bản thân, biết tạo ra cách thức mới để xem xét những tình huống mới nằm ngoài quy định chuẩn
Trang 22Để giải quyết những tình huống có vấn đề, học sinh thường trãi qua những thói quen tư duy trên Nhưng có thể học sinh sẽ không nhận thấy việc sử dụng thói quen tư duy đó của bản thân (kể cả trong cuộc sống hằng ngày) Vì vậy giáo viên cần chỉ cho học sinh biết cách sử dụng thói quen tư duy đồng thời giúp học sinh phát huy năng lực
tư duy của bản thân Giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm các ví dụ trong thực tế, liên quan đến những vấn đề gần gũi với học sinh để các em hiểu rõ hơn vấn đề
Có thể khẳng định rằng, năm định hướng dạy học của Marzano, có một vị trí quan trọng trong quá trình dạy học hiện đại Nó hỗ trợ rất nhiều về mặt phương pháp cho người giáo viên trong quá trình giảng dạy Tuy nhiên, tùy vào hoàn cảnh cụ thể, bài học, lớp học mà giáo viên có thể lựa chọn những định hướng khác nhau hoặc sử dụng với những mức độ khác trong quá trình giảng dạy Trong đó, định hướng một và năm là hai định hướng được sử dụng xuyên suốt trong quá trình giảng dạy
Đọc diễn cảm là một trong những phương pháp chủ yếu để giảng dạy môn văn
trong nhà trường phổ thông từ xưa đến nay Ưu điểm của phương pháp này là “khêu
gợi sự rung động thẫm mĩ, trí tưởng tượng và những năng lực cần thiết của tư duy nghệ thuật, tái hiện hình ảnh, duy trì cảm xúc tươi mát trong khi phân tích”[23; tr 84]
Nhưng áp dụng như thế nào để đưa phương pháp này trở thành một phương pháp tích cực trong việc giảng dạy thì quả là một điều không dễ dàng Một trong những cách thâm nhập nội dung tác phẩm một cách có hiệu quả là đọc diễn cảm tác phẩm đó để hòa mình vào thế giới cảm xúc đồng thời phát hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả Bên cạnh đó còn rèn luyện cho học sinh nhạy cảm hơn với ngôn ngữ dân tộc, với sự giàu
có, tinh tế của tiếng Việt, rèn luyện năng lực nói và đọc cho học sinh Quan trọng nhất của phương pháp này là ngữ điệu của người đọc Để phát huy ưu điểm của phương pháp này giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc như thế nào cho đúng cho hay Đọc đúng là đọc chính xác từng câu chữ, phát âm chuẩn, không nói lắp, nói ngọng Còn đọc hay là đọc làm sao để người nghe nhìn thấy cái mà mình đã đọc, vì vậy phải biết phát huy những ưu thế về chất giọng, biết khắc phục những nhược điểm về phát âm Khi đọc, đọc đúng trọng âm, ngắt giọng, độ nhanh chậm, cao thấp của tác phẩm sẽ dễ dàng mêu tả lại nội dung của tác phẩm cũng như có thể giúp học sinh cảm nhận, hình dung tác phẩm một cách chính xác đầy đủ về tính cách, tình cảm, suy nghĩ của nhân
Trang 23vật về thái độ của tác giả Đối với việc giảng dạy văn xuôi, giáo viên nên phân vai cho học sinh đọc tại lớp Để gợi ý cách đọc cho học sinh trước khi đọc, giáo viên có thể nêu vài nhận xét vắn tắt về tính cách của từng nhân vật
Đọc diễn cảm tác phẩm có thể tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau: có thể đọc đầu giờ, đọc trong quá trình phân tích, đọc khi kết thúc bài giảng Nếu tác phẩm quá dài giáo viên nên chọn những đoạn quan trọng cho học sinh đọc, phần còn lại giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà tự đọc Ngoài ra để tiết kiệm thời gian giáo viên cho học sinh làm bài tập về nhà và tự thực hành để mỗi học sinh thâm nhập tác phẩm theo mỗi cách khác nhau
Một trong những phương pháp dạy học cổ xưa và chủ yếu nhất là phương pháp diễn giảng Và hiện nay phương pháp này vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhà trường phổ thông đặc biệt là các môn khoa học xã hội Ưu điểm của phương pháp này là:
- Giúp học sinh nắm được kiến thức một cách có hệ thống, tiết kiệm thời gian
- Không đòi hỏi những phương tiện dạy học đặc biệt
- Giáo viên không tốn nhiều công sức cho việc chuẩn bị bài
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số nhược điểm sau:
- Học sinh sẽ thụ động không phát huy được tính tích cực, khả năng chú ý sẽ giảm sút nếu giáo viên diễn giảng trong một thời gian dài
- Tiến trình học thật sự ít khi xảy ra, học sinh dễ trở thành người dự giờ, người đứng ngoài tiến trình học tập Học sinh có thể hiểu bài nhưng không thể nhớ lâu, nhớ
kỹ kiến thức
Đây là một PPDH truyền thống không dễ dàng gì loại bỏ nó ra khỏi chương trình được nên để khắc phục những nhược điểm của phương pháp này, có thể dùng cách diễn giảng tích cực Cấu trúc của diễn giảng tích cực gồm 3 bước Bước một, giới thiệu bài mới, đây là bước mở đầu cho một bài học, có nhiều cách giới thiệu bài mới tùy theo đặc trưng của từng bài mà giáo viên lựa chọn, miễn sao gây được sự chú ý của học sinh và tạo tâm thế tích cực, thoải mái cho việc tiếp thu bài mới Bước hai là bước giáo viên hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức mới, bước này quan trọng nhất
trong ba bước Có hai cách để hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức mới, đó là diễn
dịch và quy nạp Tùy theo đặc điểm của từng bài học mà giáo viên lựa chọn một trong hai cách trên để học sinh khám phá kiến thức mới Bước ba, giáo viên phải biết tóm tắt
Trang 24ngắn gọn những vấn đề trong bài giảng một cách đầy đủ và chính xác Đối với phương
pháp này giáo viên cần chú ý không nên “độc diễn” một mình và phải biết kết hợp với
các phương pháp khác như đàm thoại, đọc diễn cảm để giảng dạy Bên cạnh đó phải luôn thay đổi hình thức diễn giảng, bài giảng phải chia ra luận điểm, luận cứ rõ ràng Phát âm phải chuẩn, viết đúng ngữ pháp, chính tả và không nói lắp, nói ngọng
Để các phương pháp đọc diễn cảm và diễn giảng được tiến hành một cách tích cực thì cần phải sử dụng xen kẽ một số phương pháp giảng dạy tích cực khác Một phương pháp không thể thiếu đó là phương pháp đàm thoại Đối với một số trường ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trong điều kiện thiếu phương tiện và đồ dùng dạy học thì việc sử dụng phương pháp này là một cách thức tiện lợi nhất để kích thích học sinh học tập một cách hứng thú và tích cực
Nội dung cốt lõi của phương pháp này là việc xây dựng hệ thống câu hỏi và hệ thống ấy phải theo trình tự từ phần đầu đến phần cuối, câu hỏi phải có tính định hướng, đảm bảo tính gợi mở (tránh loại câu hỏi đánh đố học sinh) Đều dặc biệt câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, phù hợp với từng đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu
Ông bà ta có câu “Trăm nghe không bằng một thấy” Hằng ngày, học sinh đến
lớp, với nhiều môn học, học sinh tiếp xúc nhiều kiến thức Nhưng vấn đề là sau giờ học, học sinh sẽ còn nhớ được bao nhiêu trong những lời thầy giảng Để giúp học sinh khắc sâu những kiến thức ấy trong đầu, giáo viên nên dùng phương pháp dạy học trực quan So với các giác quan khác thì thị giác chiếm mức độ ảnh hưỡng trong quá trình tiếp nhận kiến thức của học sinh là 83% Có nhiều cách để làm phương tiện trực quan như: sử dụng tranh ảnh, vật thật, sử dụng biểu bảng, mô hình
Một trong những phương pháp giúp học sinh phát huy tính sáng tạo trong quá trình học tập là phương pháp nêu vấn đề Tuy phương pháp dạy học này vẫn còn mới
lạ so với nhiều giáo viên và học sinh Vì vậy người giáo viên phải am hiểu tình hình học tập của học sinh để tạo ra những tình huống có vấn đề trong câu hỏi của mình để cho học sinh giải quyết, khi học sinh giải quyết được tình huống có vấn đề trong câu hỏi mà giáo viên đưa ra thì có nghĩa học sinh nắm được nội dung cốt lõi của bài học và
Trang 25bước đầu hình thành thói quen tư duy Đây là một phương pháp khó ứng dụng vì vậy
để học sinh giải quyết được những tình huống có đề giáo viên phải hướng dẫn học sinh các bước thực hiện Có nhiều hình thức tổ chức đa dạng: làm bài tập dạng đề án, thảo luận, sắm vai, thực hiện một đề tài nghiên cứu nhỏ…
Là hình thức tổ chức dạy học trong đó các nhóm học sinh cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên nêu ra, từ đó rút ra bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên Hình thức học tập này đòi hỏi sự tham gia đóng góp trực tiếp và tích cực của mỗi học sinh vào quá trình học tập và sẽ tạo nên môi trường giao tiếp hợp tác giữa trò
và trò, thầy và trò trong đó vai trò của mỗi học sinh gần như ngang nhau
Có 2 cách chia nhóm: chia ngẫu nhiên và chia chỉ định Chia nhóm ngẫu nhiên tùy thuộc vào số thành viên trong mỗi nhóm, giáo viên cho học sinh đếm số, những em cùng số sẽ thuộc về một nhóm Cách chia này phù hợp với lớp ít học sinh, bàn ghế đơn, dễ dịch chuyển và ưu điểm là thành viên trong nhóm thường xuyên thay đổi, nhược điểm là mất thời gian, lớp học sẽ ồn ào, lộn xộn Chia chỉ định là buộc những học sinh ngồi gần nhau tạo thành một nhóm Ưu điểm: không mất thời gian di chuyển Nhược đểm: học sinh ít có cơ hội làm việc với nhiều thành viên trong lớp để tiếp xúc với nhiều cách tư duy khác nhau Tuy nhiên giáo viên có thể định kỳ mỗi một hoặc hai tháng đổi chổ ngồi cho học sinh để khắc phục nhược điểm trên
Khi chia nhóm giáo viên cần lưu ý:
- Thành viên trong nhóm đủ mọi trình độ, giới tính
- Loại hình nhóm được chọn tùy vào nội dung bài và thời gian tiết học
- Hạn chế sử dụng loại hình nhóm 7 trở lên
- Không nên lạm dụng quá nhiều việc thảo luận nhóm trong một tiết học
- Nhóm cố định: là loại hình nhóm mà học sinh hoạt động cùng nhau trong suốt một thời gian từ vài tuần lễ, thậm chí một học kỳ để giải quyết bài tập lớn, phức tạp
- Nhóm không cố định: là loại hình nhóm gồm những học sinh cùng nhau làm việc từ vài phút đến một tiết học và được thiết lập nhiều lần trong cùng một tiết học
Trang 26Có năm cách chia nhóm khác nhau: nhóm 2 học sinh; nhóm 4, 5 học sinh; nhóm ghép; nhóm kim tự tháp; nhóm trà trộn
Đây là công việc không hề đơn giản, dễ dàng đối với giáo viên Để làm được việc này giáo viên phải có năng lực, kiến thức và am tường về trình độ hiểu biết của học sinh Bài tập mà giáo viên đưa ra phải là tình huống có vấn đề Vì vậy yêu cầu tiên quyết là giáo viên phải thiết kế được các nhiệm vụ học tập mà bản thân học sinh không thể giải quyết mà phải cùng nhau làm việc, bài tập phải xoay quanh kiến thức trọng tâm bài học Cần tránh những câu hỏi mà học sinh không cần tư duy hoặc câu trả lời
có sẵn trong sách giáo khoa Với những bài có dung lượng kiến thức không lớn, giáo viên có thể cho tất cả các nhóm cùng thảo luận một vấn đề, còn gọi là hoạt động so sánh Với những bài có dung lượng kiến thức lớn, thời gian hẹp, giáo viên có thể thiết
kế bài tập khác nhau, xoay quanh nội dung chính của bài học, cho mỗi nhóm thảo luận một vấn đề, còn gọi là hoạt động trao đổi Giáo viên cần lưu ý độ khó tương đương giữa các bài tập mà các nhóm phải hình thành
Có nhiều dạng bài tập thảo luận, có thể là bài tập định hướng bài học cho học sinh, có thể là bài tập khám phá kiến thức mới cho học sinh, cũng có thể là bài tập củng cố ôn tập kiến thức mới vừa học
Mỗi hoạt động tổ chức thảo luận nhóm trãi qua những bước sau:
- Bước một: Giáo viên chia nhóm
- Bước hai: Giao vấn đề cho nhóm thảo luận, quy định thời gian thảo luận
- Bước ba: Quản lý các nhóm
- Bước bốn: Nhóm báo cáo kết quả và giáo viên đánh giá, giáo viên ghi lại ý đúng
Đối với học sinh:
- Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh trong lớp
- Rèn luyện tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo, năng lực tư duy cho học sinh
- Học sinh có thể bổ khuyết cho nhau các lỗ hổng kiến thức và tăng cường sự học hỏi từ bạn bè
Trang 27- Tạo điều kiện cho tất cả học sinh tham gia hoạt động học tập
- Có cơ hội điều chỉnh phương pháp học tập của bản thân
Đối với giáo viên:
- Có thể đo lường và đánh giá chính xác mức độ hiểu bài, năng lực diễn đạt và
tư duy của học sinh
- Trên cơ sở đó điều chỉnh phương pháp dạy học thích hợp
- Tiếp thu một số ý kiến từ học sinh mà trước đây giáo viên chưa nghĩ ra
Trang 28CHƯƠNG II – THIẾT KẾ CÁC BÀI DẠY VỀ TÁC PHẨM THƠ GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 TRONG SÁCH GIÁO KHOA
Thấy được sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc mãnh liệt, dồi dào và mạch luận
lý chặt chẽ, những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của nhà thơ
Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc diễn cảm và hiểu văn bản thơ
Hình thành cho học sinh tính chủ động, tích cực sáng tạo trong học tập cũng như thói quen tư duy trong việc phân tích nội dung tác phẩm nói chung và tác phẩm thơ nói riêng
Giúp học sinh biết cách mở rộng và tinh lọc kiến thức một cách có hiệu quả
+ Sử dụng những hình ảnh thơ sáng tạo, mới lạ
III – Phương pháp dạy học
Trang 29IV – Phương tiện và đồ dùng dạy học
Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án, bảng phụ
V – Tiến trình bài dạy
1) Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ (5 phút)
2) Vào bài mới
Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận xét về Xuân Diệu: “Đó là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới…” Hay nhắc đến Xuân Diệu là người ta phải nghĩ ngay đến ông hoàng thơ tình với giọng thơ say
đắm men tình, yêu tha thiết và mong muốn tận hưởng cuộc sống này trọn vẹn
Tại sao ông được mệnh danh như vậy? Để hiểu rõ hơn hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu bài thơ “Vội vàng”, bài thơ góp phần lý giải tại sao ông được đánh giá là nhà thơ của tình yêu
3) Nội dung bài giảng
? Hãy cho biết một vài nét chính về cuộc đời Xuân Diệu (gợi ý: tên thật, quê quán, cuộc đời,…)?
Giáo viên nhận xét
và dặn HS đánh dấu trong SGK về nhà tìm hiểu thêm
HS đọc phần tiểu dẫn
HS phát biểu ý kiến (tóm tắt)
Trang 30người trước sự qua
đi nhanh chóng của
thời gian
- Phần 3 - đoạn
còn lại: lời giục giả
? Quá trình sáng tác của Xuân Diệu chia làm mấy giai đoạn? (Cho HS nêu tên một số tập thơ của Xuân Diệu trước và sau Cách Mạng tháng Tám)
? Em hãy cho biết xuất
ĐHTL: Nằm trong tập Thơ Thơ – 1938
Bài thơ là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách độc đáo của Xuân Diệu Một quan niệm sống hết sức tích cực
ĐHTL: Mọi thứ đều sẽ qua đi nhanh chóng và không bao giờ trở lại Vì vậy chúng ta phải biết trân trọng những gì đang
có và sẽ có ĐHTL: Bài thơ được chia làm
- Phần 3 - đoạn còn lại: lời giục giả sống vội vàng để tận
Trang 31níu kéo bước đi của
thời gian, của cuộc
bạo: Nhà thơ muốn
níu kéo thời gian
? Động thái sống vội vàng của Xuân Diệu?
? Nghệ thuật được sử dụng trong 4 câu thơ đầu? Từ đó cho thấy nhà thơ có ý tưởng táo bạo gì?
? “Tôi muốn” được lặp lại hai lần thể hiện điều gì?
hưởng hạnh phúc
ĐHTL: Vì trong cuộc sống mỗi một giờ, một ngày qua đi
là không bao giờ trở lại, thời gian là tuyến tính chứ không bao giờ tuần hoàn
ĐHTL: Sống cho hôm nay, nghĩ đến ngày mai và sống cho cả ngày mai
ĐHTL: Sống làm sao để không bỏ sót vẻ đẹp nào của trần thế mà thời gian đem lại, sống yêu thương, và trân trọng những vẻ đẹp nơi trần thế một cách hết mình
ĐHTL: Nghệ thuật trong 4 câu thơ đầu:
- Điệp ngữ “tôi muốn”
- Điệp từ “cho”, “đừng”
- Động từ mạnh “tắt, buộc”
Muốn “tắt nắng, buộc gió” muốn níu kéo thời gian và kìm hãm sự phát triển qui luật của tạo hóa
ĐHTL: Khát khao giao cảm và muốn níu kéo bước đi của thời gian, của cuộc đời
- Cái tôi cá nhân được bộc lộ
Trang 32gian qua đi không
bao giờ trở lại
? Mục đích và thực chất trong cách nói bộc lộ niềm ước muốn ấy là gì?
? Em có nhận xét gì thể thơ và nhịp thơ trong bốn câu đầu?
– 6 HS, 4 phút): Hãy tìm những hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ còn lại của phần một? Nhận xét?
Cảnh vật quen thuộc của cuộc sống thiên nhiên qua con mắt yêu
trực tiếp tự tin và tự tôn ĐHTL: Một ước muốn không bình thường, kỳ lạ và thật vô
lý + Tắt nắng + buộc gió
ĐHTL:
- Mục đích: muốn níu giữ hương sắc của đất trời
- Thực chất: mỗi một giây thiên nhiên có sự thay đổi mới, tác giả sợ thời gian trôi tuột mất, muốn níu kéo thời gian, muốn tận hưởng mãi hương sắc tươi đẹp của đất trời ĐHTL: Thể thơ ngũ ngôn, nhịp thơ 3/ 2 vừa ngắn gọn, rõ ràng làm cho mạch cảm xúc thơ thêm nhanh, gấp gáp càng làm rõ sự “Vội vàng” trong tâm trạng của Xuân Diệu
HS thảo luận và trả lời
ĐHTL: Hình ảnh thiên nhiên hiện lên đẹp đẽ, non tươi, trẻ trung bao gồm các hình ảnh như:
- “Ong bướm…tuần tháng
Trang 33ngào của lứa đôi
+ “Của yến … si”
? Trong đoạn này câu nào thể hiện sự liên tưởng về tình yêu đôi lứa ở độc giả? (cho nhiều học sinh trả lời lấy
ý kiến khách quan)
? Nhận xét về cách so sánh trong câu “Tháng giêng…gần”?
? Qua bảy câu thơ trên
em hãy cho biết Xuân Diệu cảm nhận mùa xuân bằng các giác quan nào? Qua đó thể hiện
ĐHTL: Những hình ảnh thể hiện sự liên tưởng về tình yêu đôi lứa:
- “Của ong… mật” – hạnh phúc mới mẽ ngọt ngào của lứa đôi
- “Của yến … si” – chim liền cánh, cây liền cành
- “Tháng giêng … gần”- tháng đẹp nhất của mùa đẹp nhất ĐHTL : Một sự so sánh táo bạo, giàu trí tưởng tượng
“Cặp môi gần” – cái cụ thể để diễn tả và cảm nhận cái tươi đẹp phơi phới của “Tháng giêng” – cái trừu tượng
ĐHTL : Nhà thơ cảm nhận bức tranh thiên bắng tất cả các giác quan, đã cảm nhận bằng
cả trái tim, tâm hồn, thể xác
Trang 34khứu giác, vị giác,
xúc giác, thính giác
và thị giác
Thể hiện tình
yêu tha thiết và
muốn hòa nhập với
Niềm say mê,
vui sướng trước
cảnh non tươi của
? Hai câu cuối “Tôi … xuân” có gì đặc biệt?
Tác dụng?
? Tâm trạng của nhà thơ trước qui luật của tạo hóa?
của mình về vẻ đẹp nơi trần thế này bao gồm:
Vị xuân, hương xuân, sắc xuân, khúc nhạc xuân Qua đó thấy được tấm lòng yêu tha thiết thiên nhiên, muốn hòa nhập tất cả từ thể xác, đến tâm hồn mình với thiên nhiên của Xuân Diệu
ĐHTL : Nghệ thuật được sử dụng trong bảy câu trên là :
- Điệp ngữ “này đây” – lặp lại năm lần kết hợp với điệp từ
“của” Thể hiện một sự ngạc nhiên, vui sướng, như trình bày mời gọi chúng ta hãy thưởng thức cuộc sống
- Từ láy “xanh rì, phơ phất” Hương sắc đồng nội tươi tốt với sắc lá non tơ
- Nhân hóa “ánh sáng chớp hàng mi ”
ĐHTL :Dấu chấm ngăn ở giữa dòng thơ tạo ra sự thay đổi trong mạch cảm xúc và nhịp thơ đột ngột biến đổi làm cho giọng thơ như nghẹn lại trước thực tại của kiếp nhân sinh ĐHTL : Lo lắng trước sự giới hạn của con người đối với vũ trụ, một tâm trạng đầy mâu thuẫn “sung sướng – vội vàng”
Trang 35Trong đoạn một hàng loạt các biện pháp tu từ được sử dụng như: Điệp ngữ, điệp từ, từ láy, so sánh, nhân hóa, tương phản, dấu chấm ngăn ở giữa dòng thơ, động từ
tâm trạng vội vàng thâu tóm những vẻ đẹp nơi trần thế
GV cho nhiều HS trả lời lấy ý kiến khách quan
? Tìm hệ thống hình ảnh đối thể hiện tâm trạng tiếc nuối của tác
ĐHTL : Nghệ thuật 2 câu trên :
- Tương phản “sung sướng nhưng vội vàng ”
- Dấu chấm ngăn cách ở giữa dòng thơ
- Điệp từ “tôi”
Thể hiện tâm trạng tiếc nuối của nhà thơ trước hiện thực buồn
ĐHTL : Quan niệm sống của Xuân Diệu được thể hiện qua đoạn thơ này :
Trang 36giải thích qui luật
của tạo hóa
- “Lòng … chật”:
ngao ngán lo sợ tạo
hóa đi ngược lại
giả về thời gian, tuổi trẻ, tình yêu? Tác dụng?
? Tìm từ láy trong đoạn này? Tác dụng?
? “Nghĩa là” được lặp lại ba lần có tác dụng gì?
? Em hiểu như thế nào
về câu “Lòng … chật”
- “Xuân”: “Đương tới” –
“đương qua”
- “Xuân” : “Còn non” – “sẽ già”
- “Lòng rộng” – “lượng trời chật”
- “Tuần hoàn” – “chẳng hai lần thắm lại”
- “Còn trời đất” – “chẳng còn tôi mãi”
Xuân Diệu sung sướng tận hưởng cuộc sống tươi đẹp nhưng đồng thời tác giả cũng cảm nhận được mọi thứ đều nhanh chóng qua mau và đi mất: mùa xuân cũng như tình yêu, tuổi trẻ
ĐHTL : Từ láy “bâng khâng, thì thào, rộn ràng” Thể hiện
sự suy tư, trăn trở trước cuộc đời
ĐHTL : Điệp ngữ “nghĩa là”: Khẳng định, giải thích tính tất yếu qui luật của thiên nhiên như phát hiện chân lý Tạo sức thuyết phục cho luận điểm ĐHTL : Câu thơ “Lòng … chật”: tác giả ngao ngán, xót
Trang 37khoăn của nhà thơ
? Bức tranh thiên nhiên được miêu tả giống và khác đoạn trên như thế nào? Hình ảnh đó có ý nghĩa gì?
? Kết cấu “Nói làm chi nếu còn nhưng
nên ” có tác dụng gì?
biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn này?
xa, lo sợ bởi tạo hóa cứ đi ngược lại mong muốn của nhà thơ
ĐHTL : Đoạn trên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, với nhiều hình ảnh thiên nhiên non tươi trẻ trung, còn đoạn này hình ảnh thiên nhiên khác hoàn toàn vì :
- “Năm tháng” – “chia phôi”
- “Núi sông” – “tiễn biệt”
- “Gió” – “hờn”
- “Chim” – “sợ”
Miêu tả thiên nhiên nhưng thật chất là nói lòng người: tâm trạng lo lắng, buồn bã khi xuân qua
ĐHTL: Kết cấu “Nói làm chi nếu còn nhưng nên ” nhằm nối kết ý thơ, lý lẽ biện minh như đang tranh luận, đang giãy bày lý lẽ về chân lý mới mẽ mà nhà thơ đã phát hiện
ĐHTL: Nghệ thuật được sử dụng trong đoạn trên:
- Điệp ngữ “nghĩa là”
- Hình ảnh thơ tương phản, đăng đối, nhân hóa, ẩn dụ, câu hỏi tu từ, cảm thán,…
Trang 38sự thay đổi cách xưng
hô từ đoạn trên là “tôi”
sang đoạn này là “ta”?
? “Ta muốn” được lặp lại bốn lần có tác dụng gì?
? Từ “cho”, “và” được lặp lại nhiều lần thể hiện điều gì?
? Những động từ mạnh nào thể hiện khát khao hòa nhập của nhà thơ?
Động từ đó có gì đặc biệt? Tác dụng?
Đoạn này, Xuân Diệu
có cách dùng từ mới mẽ, táo bạo thể hiện cuộc sống có ý nghĩa qua từng phút, từng giây
- Sử dụng nhiều từ láy
Càng làm nổi bật lên nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự qua đi nhanh chóng của thời gian trong lòng nhà thơ
ĐHTL: Khi tác giả thay đổi cách xưng hô từ “Tôi” sang ta vì: Tác giả muốn “Tôi” thể hiện bản ngã cá nhân, rất riêng, rất chân thành
“Ta” thể hiện niềm khao khát được hòa nhập, được đồng điệu trong tâm hồn nhà thơ với mọi người
ĐHTL: Điệp ngữ “Ta muốn”: bộc lộ mạnh mẽ niềm yêu đời, khát khao hòa nhập của tác giả với thiên nhiên, tình yêu và tuổi trẻ
ĐHTL: Điệp từ “cho”, “và”: Thể hiện cảm xúc ồ ạt, dâng trào, cảm xúc cứ dâng lên mãi
ĐHTL: Mức độ mạnh của động từ tăng và mạnh dần:
ôm, riết, say, thâu, hôn, cắn Nếu ở các đoạn trên tác giả muốn níu kéo những vẻ đẹp thì ở đoạn này tác giả muốn thâu tóm, sở hữu những vẻ đẹp
đó
Trang 39ngươi!” tác giả muốn thể hiện điều gì?
? Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn này? Tác dụng ?
– 6 HS, 4 phút): Em hãy nêu giá trị nhân văn được thể hiện trong bài thơ “Vội vàng” mà Xuân Diệu muốn gửi gắm?
Giá trị nhân văn mà
nhà thơ Xuân Diệu muốn gửi gắm thông qua bài thơ “Vội vàng”
là:
- Muốn níu giữ thời gian
- Chỉ cho mọi người thấy cuộc sống đẹp
- Ý thức cho mọi người
ĐHTL: Đó là những từ chỉ mức độ tình cảm Thể hiện sự hòa nhập của một sức sống nồng nàn, mê say
ĐHTL: Câu thơ “Hỡi… ngươi!”: Như một lời thách thức trước thiên nhiên một cách táo bạo “hỡi, cắn”
ĐHTL: Nhiều biện pháp nghệ thuật được sử dụng: điệp từ, điệp ngữ, động từ mạnh thể hiện khát khao sống vội vã, trọn vẹn của nhà thơ Xuân Diệu
HS thảo luận và trả lời
Trang 40với đời, nỗi lo âu
khi thời gian trôi
mau và quan niệm
Thông điệp nhà thơ muốn gửi gắm: sống mãnh liệt, sống hết mình, biết quý trọng
thời gian
? Qua phần tìm hiểu tác phẩm vừa rồi, em hãy cho biết chủ đề của bài thơ?
? Em hãy tổng kết lại bài thơ?
ĐHTL: “Vội vàng” là thái độ sống tích cực, là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình Hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt
ĐHTL: HS tóm tắt lại phần ghi nhớ trong SGK