Trong bài viết này, tác giả đã tập trung làm rõ những nét đẹp của nhà thơ, nhà cách mạng Hồ Chí Minh: “Nhật ký trong tù là bức vẽ linh động và sâu sắc về tâm hồn, tình cảm, phong độ củ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 2ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Khái quát nghệ thuật thơ Đường
1.2 Khái niệm thi trung hữu họa
1.3 Vai trò – tác dụng của bút pháp thi trung hữu họa
Chương 2 Tập thơ Nhật kí trong tù
2.1 Vài nét về Hồ Chí Minh và tập thơ Nhật Kí Trong Tù
Chương 3 Thi trung hữu họa trong Nhật Kí Trong Tù
3.1 Những bài thơ tiêu biểu trong Nhật Kí Trong Tù có sử dụng nét họa
3.2 Yếu tố họa trong Nhật Kí Trong Tù với miêu tả ngoại cảnh và khắc họa nội tâm 3.3 Sự gắn bó giữa thi, nhạc, họa trong một số bài thơ trong Nhật Kí Trong Tù
3.4 So sánh với một số tác giả khác
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay, thơ văn chữ Hán không còn giữ được vị trí độc tôn như trước nhưng những giá trị mà nó để lại cho nền văn học dân tộc là vô cùng to lớn Văn chương chữ Hán là nơi lưu giữ của rất nhiều những trang sử hào hùng, những nét đẹp truyền thống của dân tộc, phản ánh những chặng đường đấu tranh và đi lên của đất nước Việt Nam
Nhắc đến văn chương chữ Hán chúng ta không thể không nhắc đến thơ ca, một trong những thể loại thành công nhất của văn chương chữ Hán, không chỉ ở số lượng mà còn ở chất lượng và nghệ thuật độc đáo Trong đó thể thơ tứ tuyệt có thể được xem là một thể thơ đánh dấu bước ngoặt phát triển của nền văn học nước nhà qua các triều đại Lý – Trần Với dung lượng ngôn từ ít, thể thơ đã tận dụng tối đa các bút pháp của thi ca trung
đại để có thể thể hiện hết nội dung truyền tải của mình Nghiên cứu về thơ ca chữ Hán, đặc biệt là thể thơ tứ tuyệt chúng ta sẽ thấy những bút pháp chấm phá, tả cảnh ngụ tình, vẽ
mây nẩy trăng…và một trong số đó là bút pháp thi trung hữu họa, bút pháp đã làm nên
những vần điệu du dương, những bức tranh tuyệt đẹp trong thơ
Sự thay đổi của quá trình hiện đại hóa đã làm cho thơ ca Hán học ngày càng bị mai một Nhưng điều đó không có nghĩa là nó bị biến mất hoàn toàn, bởi lẽ dư âm và những giá trị độc đáo của thể thơ này khó có thể phủ nhận được Đầu thế kỉ XX, một lần nữa nó
đã chứng tỏ giá trị của mình giữa muôn vàn những vần thơ mới khi tập thơ Nhật kí trong
tù của Hồ Chí Minh xuất hiện Tập thơ với sự kết hợp tài tình giữa cổ điển và hiện đại đã
làm toát lên tất cả vẻ đẹp của ngôn từ và nghệ thuật Bút pháp thi trung hữu họa một lần
nữa lại làm cho từng câu thơ, ý thơ hiện lên sinh động với đầy đủ hình ảnh, gam màu,
đường nét, thanh âm
Nhật kí trong tù là một tác phẩm đáng để nghiên cứu không chỉ về giá trị nội dung
mà còn về giá trị nghệ thuật Trong đó, bút pháp thi trung hữu họa là một bút pháp độc
đáo Nó đã giúp những câu thơ của Hồ Chí Minh tràn ngập hơi thở của cuộc sống, của
con người, thiên nhiên, vũ trụ Không chỉ có “sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong”
mà còn có tiếng “chim kêu rộn núi”, có “hương bay ngát rừng” Chính những yếu tố đó
Trang 4đã góp phần làm nên giá trị cho những bài thơ trong Nhật kí trong tù nói riêng và tập thơ Nhật kí trong tù nói chung
Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Bút pháp thi trung hữu họa trong
Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của
mình Một phần vì muốn thử sức mình, một phần chúng tôi hy vọng mang lại những sự cảm nhận mới cho người đọc trong quá trình tìm hiểu tập thơ này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài “Bút pháp thi trung hữu họa trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh”
không phải là một đề tài mới Bởi Nhật kí trong tù là một tập thơ độc đáo, không chỉ ở giá
trị nội dung, giá trị nghệ thuật mà còn ở hoàn cảnh sáng tác và tác giả Ngay từ khi mới công bố, tác phẩm đã thu hút sự quan tâm của đông đảo độc giả, giới phê bình, nghiên
cứu, trong đó có cả những nhà văn, nhà thơ Họ viết về Nhật Ký Trong Tù, nghiên cứu nó
với một tấm lòng thiết tha, trân trọng Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, bài
viết, tham luận về Nhật kí trong tù Và một trong những khía cạnh được rất nhiều người quan tâm luận bàn đó là bút pháp nghệ thuật của tập thơ, trong đó có bút pháp thi trung
hữu họa Chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu, bài viết, tham luận về vấn
đề này
Trước hết là những công trình nghiên cứu về tập thơ Nhật kí trong tù Chúng ta có thể kể đến như bài viết Nhật kí trong tù của Lê Anh Trà in trên báo Văn học, số 94, ngày
13-5-1960 Trong bài viết này, tác giả đã tập trung làm rõ những nét đẹp của nhà thơ, nhà
cách mạng Hồ Chí Minh: “Nhật ký trong tù là bức vẽ linh động và sâu sắc về tâm hồn,
tình cảm, phong độ của Hồ Chủ tịch, về những đức tính tốt đẹp của nhà cách mạng vĩ đại trong những trường hợp gian nguy nhất”
Hay Trong cuốn Thi pháp thơ Đường (bài giảng chuyên đề), Lương Duy Thứ cũng
đề cập đến sự kết hợp của văn hóa cổ kim, Đông Tây trong Nhật kí trong tù: “Nhật ký trong tù” là chung đúc văn hóa cổ kim Đông Tây trong tâm hồn lão thực và ưu ái của nhà thơ Hồ Chí Minh Chính là lắng nghe cái âm vang kim cổ Đông Tây đó trong tâm hồn, lắng nghe cái âm vang sâu nặng của truyền thống để hiểu thêm một sự gặp gỡ giữa những tâm hồn thi sĩ phương Đông” [21;tr.47,48]
Trang 5Tác giả Minh Tranh trong bài viết Sống như Bác đã sống, đăng trên báo Tiền Phong, 1960 (được tập hợp lại trong quyển Hồ Chí Minh – Nhật kí trong tù) đã nhận xét
về chất tình và chất thép trong thơ Bác: “Tâm tình, cảm xúc mà chúng ta được gặp trên
một trăm bài thơ của Bác là một tâm tình, một xúc cảm rất chân thật Ở đây là lòng yêu thiên nhiên, lòng yêu đời, lòng tin tưởng ở tự do của khối nhân dân bình thường, của khối nhân dân bao la trong đó thi sĩ là một phần tử gắn bó thật là tha thiết Thơ và thép ở đây
đã thống nhất thành những thanh âm, nhạc điệu diễn nổi lên lòng tin của một chiến sĩ cách mạng lão thành đã được rèn luyện trong nhiều thử thách của một đời chiến đấu, đã đánh bại gian khổ”[11;tr.305]
Bút pháp nghệ thuật của tập thơ cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong
quyển Văn học Việt Nam (1900-1945) – Nhà xuất bản Giáo dục, 1988 do Phan Cự Đệ (chủ biên), tác giả nhận định: “Hiện thực mà rất lãng mạn, tả thực mà mang ý nghĩa
tượng trưng, đó là đặc điểm của khá nhiều bài thơ phong vị Đường thi trong Nhật ký trong tù”[4;tr.635] Phan Cự Đệ cũng đề cập đến nhiều bút pháp được sử dụng trong tập
thơ này: “Thơ Hồ Chí Minh mang nhiều đặc điểm của thơ ca – hội họa phương Đông
(Người đã từng làm nhiều thơ Đường luật, vẽ những bức họa phỏng theo tranh cổ của Trung Quốc) Đó là cái thiên nhiên vĩnh cửu chưa được cá thể hóa trong thơ Đường, lối
vẽ chấm phá để nhiều khoảng trống, nhiều sự im lặng dành chỗ cho sự tưởng tượng của người đọc Đó là lối thơ giản dị mà hàm súc, nhiều ẩn dụ, nhiều tượng trưng, cấu tạo theo nhiều tầng ý nghĩa, mở ra nhiều liên tưởng trong tâm tư người đọc theo kiểu “thi tại ngôn ngoại”[4;tr.647]
Trong cuốn Văn học Việt Nam (1900-1945) Roger Denux, nhà văn Pháp, đã nhận xét tinh tế về thơ Hồ Chí Minh trong bài viết trên báo Văn nghệ, số 227 năm 1967: “Thơ
Người nói ít mà gợi nhiều, là loại thơ có màu sắc thanh đạm, có âm thanh trầm lắng, không phô diễn mà như cố khép lại trong đường nét để cho người đọc tự thưởng thức lấy cái phần ý ở ngoài lời Phải yên lặng một mình đọc thơ Người, phải thỉnh thoảng ngừng lại để suy nghĩ mới cảm thấy hết những âm vang của nó và nghe những âm vang ấy cứ ngân dài mãi”[4;tr.647]
Một công trình nghiên cứu khác mà chúng ta không thể bỏ qua đó là tuyển tập
Nghiên cứu học tập thơ văn Hồ Chí Minh của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm
Trang 61979, bao gồm nhiều bài viết về thơ ca Hồ Chí Minh, tiêu biểu là về tập thơ Nhật kí trong
tù Một trong số đó là bài viết “Một cốt cách cổ điển và một sáng tạo hiện đại” của dịch
giả người Pháp Gi Bunđaren Bài viết đã tập trung làm rõ bút pháp miêu tả cảnh vật trong
những bài thơ của Người: “chỉ bằng vài nét chấm phá, trên những bức tanh đó Người đã
vẽ lên được những cái nhiều khi tưởng như không thể nào nắm bắt được…Đó là những bức ký họa ghi được trong khi đi đường bằng vài nét đơn sơ như những bức tranh chấm phá Nhà thơ cho ta xem một tập ảnh chụp rất nhanh về cuộc sống hằng ngày của mình trong tù, không một chút là có vẻ bố trí, với tất cả những đau khổ và những nét hài hước trong cảnh đời bi thảm” [18;tr.588,589]
Tác giả còn đề cập đến “Con người của nhà thơ xuất hiện trong suốt tác phẩm,
ngay cả trong cơ cấu của một câu thơ Hình thức thì rất cổ điển, nhưng thơ của Cụ không bao giờ chịu bó mình trong khuôn khổ đã được lựa chọn Nhà thơ Hồ Chí Minh đã sử dụng tài tình mọi hình thức hành văn, từ những nét đơn sơ sốt dẻo ghi được trong lúc đi đường đến ngọn bút họa cảnh tỉ mỉ của một nhà văn điêu luyện, từ những lời mỉa mai thấm thía đến những câu hài hước hiền từ, phối hợp thơ cổ điển tinh túy với sáng tạo táo bạo Trong tập Nhật ký trong tù, mọi thứ đều sinh động, kể cả những bức tranh ta vẫn thường gọi là tĩnh vật”[18;tr.565]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên ít nhiều đều có đề cập đến thi trung
hữu họa thể hiện qua Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh Nhưng hầu hết chỉ dừng lại ở
việc nói chung chung hoặc chỉ đề cập đến một vài khía cạnh, chưa nghiên cứu một cách
hoàn chỉnh, đầy đủ vấn đề “thi trung hữu họa” trong Nhật ký trong tù Nhưng dù sao đó
cũng là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi có thêm cơ sở để tiến hành khảo sát và phân tích vấn đề này
3 Mục đích, yêu cầu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Bút pháp thi trung hữu họa trong Nhật kí trong
tù của Hồ Chí Minh” chúng tôi hướng đến các mục đích sau
Trước hết, nghiên cứu đề tài này chúng tôi một lần nữa muốn kiểm chứng và khẳng định về sự đa dạng trong phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh, một nhà thơ có phong cách sáng tác tài hoa, độc đáo Qua đó thấy được giá trị của bút pháp nghệ thuật
trong thơ, nhất là giá trị của bút pháp thi trung hữu họa
Trang 7Thứ hai, qua công trình này chúng tôi cũng muốn góp phần vào việc cung cấp thông tin và định hướng cho công tác giảng dạy thơ ca Hồ Chí Minh nói chung và tập thơ
Nhật kí trong tù nói riêng trong chương trình Ngữ Văn trung học phổ thông Đặc biệt là
thể hiện cách nhìn nhận biện chứng hơn về bút pháp trong tập thơ này; nhằm bổ sung một lượng kiến thức cần thiết về thơ Bác cho người giáo viên tương lai, để giảng dạy tốt hơn các tác phẩm trong tập thơ này
Cuối cùng, qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cũng muốn thử sức mình trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Đây là một việc làm quan trọng để chúng tôi có thể
tự đánh giá năng lực phân tích và khả năng viết lách của mình
4 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài chúng tôi chỉ khảo sát một đối tượng duy nhất là tập thơ Nhật kí trong tù
của Hồ Chí Minh Trong đó chúng tôi chỉ tập trung đi vào các bút pháp nghệ thuật và
dừng lại ở bút pháp thi trung hữu họa
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài thi trung hữu họa trong Nhật Ký Trong Tù là một đề tài cũng không phải
mới mẻ đối với người viết Cũng có khá nhiều nhà nghiên cứu nói đến, nhưng phần lớn là tổng quát chung về nghệ thuật Còn ở đây người viết phải đi sâu hơn về bút pháp nghệ
thuật thi trung hữu họa trong tập thơ Nhật Ký Trong Tù, một vấn đề nhỏ trong phong cách
nghệ thuật của Hồ Chí Minh Cho nên, để làm sáng tỏ vấn đề này, người viết đã vận dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp,…nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống vấn
đề do mục đích yêu cầu đặt ra Trong đó vấn đề phân tích sẽ là phương pháp chủ yếu
trong quá trình nghiên cứu về đề tài này
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái quát nghệ thuật thơ Đường
Văn hóa đời Đường là đỉnh cao của văn hóa nhân loại vào thế kỉ VII – X Thơ
Đường là đỉnh cao của văn hóa Đường bên cạnh hội họa, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc
Thơ Đường cô đọng, súc tích, giàu tính biểu tượng Không chỉ do các thủ pháp nghệ thuật
truyền thống tạo nên mà còn do một số nguyên tắc biểu hiện được coi trọng như là “thi
luật” Luật thi là thể thơ phù hợp với việc thể hiện tâm tình của con người vũ trụ-con
người có nhu cầu thấy mình thống nhất với ngoại giới, trong tâm hồn có sự hòa điệu như
sự hòa điệu của thế giới Bài luật thi như một “bức họa” xét về mặt không gian, đồng thời
cũng giống như một bản nhạc xét về mặt âm hưởng, tiết điệu, hoàn hồi trong thời gian Thơ phát khởi từ trái tim, do đó khuynh hướng hướng nội và trữ tình trở thành dòng mạch chủ yếu của thơ Trung Quốc Thơ là sự bộc bạch xung động của con tim, nhưng luôn kín
đáo và có chừng mực Theo người Trung Hoa đã là thơ thì phải ngắn, muốn thơ dài tức là
tự mâu thuẫn với mình, vì thơ chỉ để diễn tả một lúc xuất thần, mà cảm xúc sẽ biến mất khi ta ráng chép cho nó dài ra Thơ phải cho ta thấy cả một bức tranh trong một nét và phải diễn tả một triết lý trong vài hàng, một ý nghĩa sâu sắc chỉ trong vài chữ vì họa là
Trang 10tính bản thể của thơ, mà chữ viết Trung Hoa vốn tượng hình, cho nên văn ngôn Trung Hoa tự nhiên đã là nên thơ rồi Viết tức là vẽ, nên phải tránh những cái trừu tượng, những cái không thể vẽ được như những cái ta trông thấy, nhưng càng văn minh thì càng nhiều ý niệm trừu tượng Cho nên ngôn ngữ Trung Hoa, ít nhất là trong hình thức chữ viết đã thành một thứ ám hiệu gợi những ý nhị; và cũng do đó mà thơ Trung Hoa vừa gợi ý vừa
cô đọng, chỉ muốn dùng chữ như nét họa để biểu lộ một cái gì thâm thúy, vô hình Nó không biện luận, mà nó chỉ gợi cho ta hiểu thôi, nó nói ít, làm thinh nhiều hơn, và chỉ người phương Đông mới bổ sung được vào chỗ thiếu tương đối đó Người Trung Hoa
thường nói: “Cổ nhân cho rằng thơ thì phải ý tại ngôn ngoại, người đọc thơ phải tự tìm
ra cái ý đó”[21;tr.36]
Thơ là phải ngắn Ngắn là do diễn tả một cảm hứng xuất thần lóe sáng trong chốc lát Thơ gắn với hội họa vốn là bản tính của chữ viết Trung Hoa Mà thơ là họa bằng lời, họa là thơ không lời Chữ Trung Hoa dần biến thành ám hiệu của một ý niệm thâm thúy, gợi ra cái ý tại ngôn ngoại Mà chủ yếu là thơ cảm hứng trữ tình và được thể hiện bằng loại tứ tuyệt, chưa bao quát loại thơ tự sự thường được thể hiện dưới dạng cổ phong hay bài luật, loại này thường rất dài Có điều thơ tứ tuyệt vẫn là dạng phổ biến nhất của thơ
Đường, và cũng là dạng tiêu biểu nhất về mặt cảm hứng, cấu tứ và thủ pháp biểu hiện
Cấu tứ là con đường hình thành tứ thơ Mà thơ là sự thăng hoa của cảm xúc, nhưng thơ
Đường – hay thơ cổ Trung Quốc và các dân tộc gần gũi, có cách hình thành tứ thơ riêng
Một bài thơ được coi là có tứ thơ khi ý tưởng, cảm xúc nhà thơ được thăng hoa thành một
hình tượng, một xúc động có khám phá độc đáo và thú vị Thơ Đường có cách “Chiếm
hữu hiện thực” riêng, đó là “Xác lập tính đồng nhất của các hiện tượng mà giác quan cho
là đối lập” [21;tr.38]
“Thơ Đường nhằm khám phá sự thống nhất mà chủ yếu là sự giao cảm giữa con người và thiên nhiên, tạo lập những tri kỉ tri âm mới Cách cấu tứ nhằm khám phá sự thống nhất ấy đã xóa đi mọi ranh giới ngăn cách, tạo ra cái âm vang sâu lắng của thơ Đường” [21;tr.38]
Cũng chính vì nhằm khám phá sự thống nhất, đạt đến sự giao cảm cho nên thơ
Đường thường chỉ gợi lên các mối quan hệ, và qua liên tưởng mà người đọc sẽ cảm nhận được những ý niệm Hầu như các nhà thơ Trung Quốc khi làm thơ đều vận dụng thao tác
Trang 11tư duy: “gợi âm thanh, đường nét và lấy đó để tô điểm cho ý thơ Mà chữ Hán được cấu
tạo theo nguyên tắc hội họa (tượng hình) âm nhạc (tượng thanh) và biểu tượng (hội ý)”[21;tr.25] Và cả luật bằng trắc cũng tận dụng tính chất đa thanh của chữ Hán cũng
như cái lối gieo tự nhãn gợi lên điểm nhìn và tiết tấu âm nhạc của thơ cổ đều nhằm đạt
đến sự vang vọng của nhạc và họa trong thơ
Còn phương pháp biểu hiện một phần là do khuôn khổ gọn nhẹ, một phần là do cách cảm hứng cho nên thơ Đường thường chỉ chú ý đến gợi mà không tả, gởi gắm mà không phân tích Khi ta đọc một bài thơ Đường, đặc biệt là thơ tứ tuyệt bốn câu năm chữ hoặc là bảy chữ chẳng hạn, có khi ta phải lắng nghe cái âm vang để mà có thể cảm nhận hình tượng chung của bài thơ chứ không phải là dựa vào chi tiết ngôn ngữ cụ thể Mặt khác, cũng do truyền thống gắn bó giữa thi, nhạc, họa, một bài thơ Đường hay thì bao giờ
nó cũng gợi lên được những âm thanh và đường nét, và cũng chính vì thế đã tạo nên âm vang sâu xa của thơ Đường Mà xét về đặc điểm thì thơ Đường có một số đặc điểm:
“Trong cách cảm nhận: thơ Đường chú ý khám phá sự thống nhất, sự giao cảm
mà trước hết là sự thống nhất giữa con người và thiên nhiên
Trong cách cấu tứ: cái “tôi” trữ tình thường hòa lẫn trong thiên nhiên và ngoại cảnh
Trong cách biểu hiện: ba yếu tố thi, nhạc, họa thường quấn quyện làm một
Về cấu trúc: bài thơ Đường thường gọn nhẹ, cô đúc về vận, niêm, luật, đối, bố cục
và ngôn ngữ gợi nhiều hơn tả, ý tại ngôn ngoại”[2;tr.184]
Thiên nhiên trong thơ Đường không phải chỉ có bầu trời mà có khi là núi cao, sông dài, mây trùng điệp Có khi là cành liễu non, một đóa hoa, một ngọn cỏ âm thầm Cũng
có khi là mang dấu vết con người như thành quách, lâu đài, ruộng vườn, chùa chiền Có khi là giới tự nhiên như là vầng trăng, cơn mưa, ngọn gió, giọt sương Có điều là hầu như
nó đều được hiện lên như những nét phác họa với mảng màu đậm nhạt của tranh thủy mặc những đường nét chấm phá vừa đủ để gợi liên tưởng mà không phải là một bức tranh bày sẵn trước mặt với màu sắc và đường nét chi tiết cụ thể
Thiên nhiên đó không hoàn toàn im lặng nhưng cũng thường xa vắng tĩnh mịch
Âm thanh trong thơ Đường thường là tiếng chuông chùa xa, tiếng mưa rơi, tiếng sáo mục
đồng, tiếng côn trùng rỉ rã Tác giả hầu như chỉ cảm nhận cái vang vọng nhiều hơn là
Trang 12miêu tả Thế giới thơ Đường rất thoáng nhẹ và có cái gì sâu lắng Một tiếng chim ríu rít
đã làm nhân vật trữ tình giật mình tỉnh mộng (Xuân hiểu của Mạnh Hạo Nhiên, Xuân oán
của Kim Xương Tự) Thiên nhiên mơ màng, tĩnh lặng của thơ Đường không đáp ứng yêu cầu phân tích miêu tả nhưng lại khơi gợi khả năng liên tưởng xa hơn và đặc biệt gợi tình cảm sâu hơn
Khởi hứng từ thiên nhiên, tìm kiếm mối giao hòa giữa con người và thiên nhiên là
đặc điểm phổ biến trong cấu tứ thơ Đường Có những bài thường lấy đề tài vịnh cảnh,
thiên nhiên là đối tượng chiêm nghiệm trực tiếp Nhưng có những bài thiên nhiên có khi chỉ là cái cớ để khơi nguồn cảm xúc chứ không miêu tả cảm xúc:
(Tặng biệt-Đỗ Mục)
Thiên nhiên có đôi khi là đối tượng chiêm nghiệm để từ đó suy ngẫm về cuộc đời
Có khi là bối cảnh cho tâm tư con người, bài Nhị Sứ An Tây – Vương Duy:
渭 城 朝 雨 浥 輕 塵,
客 舍 青 青 柳 色 新。
“Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần Khách xá thanh thanh liễu sắc tân ”
Dịch nghĩa:
“Đất Vị Thành mưa sớm thấm làn bụi nhẹ,
Trang 13Nơi quán khách liễu mới đổi màu xanh rờn”
(Tiễn bác hai Nguyên đi sứ An Tây)
Thiên nhiên đượm màu sắc chia li, nói hộ tâm tư con người tiễn biệt Có khi thiên nhiên là đối tượng so sánh để làm nổi bật tâm trạng Có khi là so sánh đối nghịch Các nhà thơ Đường không bao giờ đứng ở vị trí chủ thể để miêu tả chiêm nghiệm thiên nhiên
như khách thể Trong thơ, “lên cao để trông xa (đăng cao vọng viễn), lấy chiều rộng để
nói chiều cao hầu như là một sự cảm nhận tự nhiên chứ không hề xuất phát từ sự tính toán mang tính chất máy móc”[21;tr.41]
“Phong cấp, thiên cao viên khiếu ai Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ, Bất tận trường giang cổn cổn lai”
(Đỗ Phủ-Đăng cao)
Không gian, thời gian với con người như cá với nước, tự nhiên Vũ trụ, vạn vật, cây cỏ cũng là cái nhà, cái áo của con người, không phải là vật dị biệt Thơ Đường là thơ của thời kì mà đạo Nho không ngự trị độc tôn mà Phật, Lão đều thịnh Trong thơ Đường
hiếm thấy một bài thơ sống động, rạng rỡ, đầy màu sắc và âm thanh như bài Thái liên
khúc của Lí Bạch:
“Hà điệp, la quần nhất sắc tài Phù dung hướng kiểm lưỡng biên khai Loạn nhập trì trung khan bất kiến Văn ca thủy phác hữu nhân lai”
Dịch:
“Quần lụa, sen xanh một sắc tươi Phù dung ánh má, cả hai cười Trong ao thấm thoắt khôn tìm bóng Vẳng tiếng ca, nghe biết có người”
Bài thơ đã đồng nhất người với hoa sen, lột tả được vẻ đẹp lộng lẫy thần tiên của hoa và người Hoa và người cả hai cộng hưởng tạo nên một đất trời đầy hoa
Trang 14Tóm lại, một trong những đặc điểm cấu tứ của thơ Đường là hướng tới sự giao hòa giữa thiên nhiên và ngoại cảnh Đặc điểm này không chỉ có thơ Đường mà thơ cổ Trung Quốc và Việt nam đều có
Thơ Đường đã thăng hoa được cái chân thật mộc mạc của Kinh thi, cái bay bổng
và trang nhã của Sở từ, cái hào sảng của Hán nhạc phủ, được chắp cánh bởi tư duy cởi mở
của thời Phật thịnh cũng như sự hoàn chỉnh về ngôn ngữ, tiết điệu, kết cấu thơ mà bước vào thời đại hoàng kim của thơ ca Thi, nhạc, họa là ba yếu tố cùng đến và cùng tỏa sáng trong sáng tác thơ Hội họa truyền thống và nguyên tắc lấy cao nói rộng, lấy rộng nói cao trong thơ Âm vang nhiều chiều do thi, nhạc, họa phối hợp
1.2 Khái niệm thi trung hữu họa
Thi trung hữu họa nghĩa là trong thơ có họa Nói cách khác, trong tác phẩm thơ ca,
ngôn từ có tác dụng khơi gợi liên tưởng một bức tranh gồm cảnh tượng, hình ảnh, màu sắc, đường nét, hình khối,… rất tinh tế
Thi trung hữu họa là một nguyên tắc sáng tác quan trọng mà các nhà thơ cổ điển
Trung Quốc và Việt Nam thường nhắc đến Ở hội họa khả năng ghi nhận sự phong phú của bức tranh thiên nhiên và đời sống thông qua bố cục không gian chặt chẽ
Muốn trình bày ý cảnh một cách sinh động, muốn biến các hình ảnh chỉ tồn tại bên trong tinh thần, thơ cổ điển cần nhờ tới phương thức biểu đạt của hội họa
Ở thời Tống, tính thơ trong họa, tính họa trong thơ rất được nhiều người chú ý
Trương Giới đã bình luận hai câu thơ trong Tuế hàn đường thi thoại: “Tái vân đa đoạn
tục, biên nhật tiểu quang huy” trong bài thứ 18 của chùm 20 bài thơ Tần Châu tạp thi của
Đỗ Phủ là: “hai câu thơ đã vẽ nên phong cảnh biên tái” (thử lưỡng cú họa xuất biên tái phong cảnh dã)
Sau đó Dương Vạn Lý, Phạm Thành Đại cũng nói đến tính họa trong thơ Nhưng
nổi tiếng nhất là lời bình của Tô Đông Pha về Vương Duy: “Đọc thơ Ma Cật thấy trong
thơ có họa, xem tranh Ma Cật, thấy trong tranh có thơ Thơ rằng “Khe xanh đá trắng lộ Ngọc xuyên lá đỏ thưa, đường non mưa chẳng đến, ướt áo màu xanh xưa” Tô Đông Pha
nhìn thấy đặc điểm của hội họa trong thơ và đặc điểm thơ trong tranh Vương Duy Đó chính là sự thâm nhập vào nhau giữa thi và họa Hay đó là sự dung hợp giữa thơ và họa
thơ trong họa, họa trong thơ hoặc là: “thi họa nhất trí”, “thi họa nhất luật”, “thi họa hợp
Trang 15bích” Thi là họa có lời, họa là thơ không lời Chữ Hán với các nguyên tắc cấu tạo tượng
hình, tượng thanh, hội ý là biểu tượng của thơ ca
Sự hình thành một bài thơ là cả một quá trình rất phức tạp, nó bắt đầu từ những tình cảm nảy sinh trong tâm làm cho cảm hứng trỗi dậy Và đồng thời những hình ảnh có thật trong thực tế sẽ khơi gợi liên tưởng, nhắc nhở các hình ảnh có sẵn trong tiềm thức, trong kho kinh nghiệm sống của các nhà thơ, và cũng chính nhờ đó, mà những ý tưởng mông lung, mơ hồ ban đầu dần dần hình thành và sáng rõ giúp nhà thơ tìm được cái tứ thích hợp, độc đáo cho thơ của mình Vì thế, mà tứ thơ được hình thành là do kết quả của
sự xuyên thấm, hòa hợp giữa cảnh và tình, giữa ý tưởng và những hình ảnh thực tế khách quan
Trong văn học, thì tính tạo hình là việc dùng các yếu tố và phương thức tạo hình như màu sắc, ánh sáng, hình khối, đường nét bằng ngôn ngữ để xây dựng nên hình tượng văn học Mà những yếu tố hình thức giàu chất tạo hình, như hình ảnh, sắc màu, ánh sáng nhà thơ coi đó là yếu tố quan trọng trong văn học Về hình ảnh, thì Xuân Diệu có nói:
“Thơ nói bằng nhạc điệu và hình ảnh, mà tôi xin nhắc lại, theo ý tôi, hình ảnh là mãnh liệt nhất” (Bàn về thơ, 1991) Trong thơ, vì cảm xúc là vô hình, cho nên phải nhờ đến
những điểm tựa hữu hình để mà tồn tại Cũng chính vì vậy, mà hình ảnh xuất hiện rất nhiều để mà diễn đạt ý và cảm xúc Ví dụ như: để diễn tả cảm giác cô đơn, lẻ loi của con người, Lí Bạch tả con thuyền bé nhỏ dần tan biến trên dòng Trường giang chảy cuồn cuộn ngang trời hay Chế Lan Viên đã dùng hình ảnh tinh cầu giá lạnh, vì sao trơ trọi cuối trời… Chính những hình ảnh đó đã góp phần tái tạo lại một thế giới như đã từng có trong hiện thực
Mà cũng chính nhờ vào cái nhìn thế giới bằng con mắt hội họa với sự nhạy cảm về màu sắc sẽ giúp cho nhà văn, nhà thơ miêu tả thế giới một cách tinh vi Thế giới được tạo nên từ vô số kết hợp màu sắc và ánh sáng Sự cảm nhận chân xác về màu sắc và ánh sáng
sẽ tạo nên những bức tranh tuyệt diệu không chỉ đối với họa sĩ mà với ngay cả nhà văn:
“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
… Đầu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”
Trang 16(Thế Lữ)
Cảm hứng về màu sắc cũng là cội nguồn của cảm hứng văn học, tạo xúc cảm thẩm
mĩ Màu sắc không những là phương tiện để miêu tả thế giới mà còn là phương tiện để thể hiện cái nhìn nghệ thuật đối với cuộc đời, mang sắc màu thời đại và cá tính Màu sắc có thể giàu nghèo, đậm nhạt, thực ảo… phụ thuộc hoàn toàn vào cái nhìn của người nghệ sĩ
Và sự miêu tả ấy góp phần tạo lập không gian Nếu như chất tạo hình rõ nét, sẽ tạo được
không khí, màu sắc và nhịp điệu cuộc sống Bôđơle đã nói thế này: “Trong màu sắc, có
sự hài hòa và giai điệu” Cảm thức về không gian là một cảm thức lớn của con người về
sự tồn tại của mình trong vũ trụ
Sự cân xứng của hội họa là tiêu chuẩn của văn Tiêu biểu có Tuyệt cú- Đỗ Phủ:
“Hai cái oanh vàng hót trong liễu biếc Một đàn cò trắng cất cánh tận trời xanh Song cửa sổ đọng tuyết Tây Lĩnh hàng ngàn năm Trước cửa muôn thuyền Đông Ngô đến đỗ”
Đây là bài có màu sắc rực rỡ, sáng chói, tinh khôi, hình ảnh có xa có gần, tầng tầng
lớp lớp Và ta có thể khẳng định, tính đối xứng là một nguyên tắc của thơ ca từ cổ chí kim
Hội họa làm cho văn chương trở nên mĩ lệ tức là thanh và nét vẽ đều sáng, đều tỉnh thì sắc thái văn chương bay vọt lên
Với một bài thơ ngắn gọn, thì các thao tác lựa chọn và tổ chức hình ảnh càng có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện thế giới và đời sống con người ở dạng thức cô đọng, tinh túy nhưng sức khái quát thì lại rất cao
Người đời Đường rất đề cao hội họa và thơ Đường đặc biệt ưu tiên cho thị giác, cho nên khi ta đọc một bài thơ (luật thi hay tuyệt cú) thì ta có cảm giác giống như xem một bức tranh Nhạc điệu thơ Đường tuy không đa dạng phong phú nhưng mà rất là hài hòa vì thế không thể thay đổi được Thơ Đường không miêu tả mà thể hiện một sự chiêm nghiệm, vẽ lại một ấn tượng
1.3 Vai trò – tác dụng của bút pháp thi trung hữu họa
Thi trung hữu họa có vai trò rất quan trọng trong sáng tác, đặc biệt trong sáng tác
của các nhà thơ cổ điển Trung Quốc và Việt Nam Đây là một nguyên tắc mà họ thường
Trang 17nhắc đến trong quá trình sáng tác của mình Họ nhìn thấy ở hội họa cái khả năng ghi nhận
sự phong phú của bức tranh thiên nhiên và đời sống thông qua bố cục không gian chặt chẽ Trong đó, ở mỗi chi tiết đều có thể được cảm nhận một cách sống động, dù xu hướng tượng trưng hóa vẫn là xu hướng chủ yếu của thơ ca cổ điển
Các nhà thơ muốn trình bày ý cảnh một cách sinh động, muốn biến các hình ảnh chỉ tồn tại bên trong tinh thần, thơ cổ cần nhờ đến phương thức biểu đạt của hội họa Mà thơ muốn diễn đạt được hết ý của họa thì là vấn đề không phải dễ, vì thơ là nó phải chấp nhận hạn chế do chất lượng thể hiện gây ra Thơ diễn đạt cùng lúc các quan hệ giữa những chi tiết tạo hình thành một bức tranh tổng thể thì tính hình tuyến của ngôn ngữ không cho phép mà phải diễn đạt từng chi tiết một Nhưng, việc tái hiện quan hệ hiện thực những chi tiết, hình ảnh từ đời sống vào trong thơ thì quả là khó hơn hội họa rất nhiều Tuy nhiên, đối với thơ thì nó cũng có cách khắc phục khó khăn riêng của thơ Thơ cổ thường gợi hứng từ thiên nhiên Nhưng, điều nhận thấy rõ nhất là hầu như nó chỉ hiện diện như một nét phác họa mờ ảo của tranh thủy mặc – những đường nét chấm phá vừa
đủ để gợi liên tưởng mà không phải là những bức tranh với đầy đủ màu sắc và đường nét
chi tiết
Các chi tiết, hình ảnh phải có sức khơi gợi, liên tưởng hoặc gây ấn tượng mạnh để qua chúng, ta có thể hình dung được bức tranh toàn cảnh Một đôi bướm đang bay chấp chới bên ô cửa sổ sớm mai có thể khơi gợi cả một vùng trời xuân đầy hoa lá, tươi vui
Đây không phải chỉ là cảnh mà còn là tình, tâm trạng, cái nhìn trong sáng, ấm áp của nhà
thơ khi phát hiện ra vẻ đẹp đời sống (Xuân hiểu – Trần Nhân Tông) Con đò cô đơn gối
đầu lên bãi cát mà ngủ trong Trại đầu xuân độ (Cô chu trân nhật các sa miên) của
Nguyễn Trãi là các hình ảnh quen thuộc, giản dị nhưng lại có sức khơi gợi những liên tưởng phong phú và có khả năng phác họa cái nhìn bao quát về sự vắng lặng, quạnh quẽ ở thôn quê
Và đây cũng chỉ là những nét phác nhanh, gọn, sắc sảo hơn là sự tô vẽ tỉ mỉ và nếu bốn câu thơ chỉ để tả cảnh thì yếu tố cảm xúc, tâm trạng của con người khó có thể bộc
lộ qua câu chữ Các yếu tố này thường ẩn sau nét hài hòa, trong sáng hay buồn bã thê lương của cảnh vật
Trang 18Thao tác chủ yếu vẫn là chọn lọc một cách tinh tế vài chi tiết của sự vật, sự việc, con người để khơi gợi cái nhìn bao quát về đối tượng Các chi tiết ít ỏi này như vài đường nét trong bức tranh ký họa đơn giản chỉ nhằm ghi lại cái thần của cảnh vật, con người và nhân đó, có thể hé mở phần nào miền tâm trạng sâu kín của nhà thơ
Ánh trăng là hình ảnh mà các nhà thơ xưa thường hay sử dụng Trong không gian
đêm bao la, quạnh quẽ, ánh trăng sáng trở thành một tiêu điểm thu hút sự chú ý của người
thức đêm, trăn trở một nỗi niềm, cho nên đối với các bài thơ ngắn gọn miêu tả không gian
đêm, một ánh trăng thôi cũng đủ khắc họa sự sinh động của cảnh vật Ánh trăng như một điểm nhấn gây ấn tượng mạnh mẽ nhờ sức tỏa sáng và sự nổi bật của nó trong đêm tối
nên các nhà thơ cổ điển Việt Nam thường tỏ ra rất tâm đắc với những phát hiện về vẻ đẹp lung linh khác thường do ánh trăng mang lại: Ánh trăng vừa mọc trên cành hoa quế trong
bài thơ Nguyệt của Trần Nhân Tông (Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ); một vầng trăng
mà thứ ánh sáng của nó có thể làm kinh động lòng người khách trọ lâu ngày (Dạ nguyệt
thiên kinh cửu khách tình) trong “Thôn xa thu châm” của Nguyễn Trãi; một mãnh trăng
lạnh vút lên trên bầu trời; trong “Tam canh nguyệt” của Lê Thánh Tông (Nhất phiến hàn
quay thướng bích tiêu) Ánh trăng trong bài “Ngẫu hứng II” của Nguyễn Du là một chi
tiết ánh sáng rất đặc biệt Nó bị che khuất bởi bóng râm cây cối nên dường như không thể tỏa sáng rạng rỡ mà thu nhỏ lại, đơn độc, lạnh lẽo như chính thân phận ly hương của nhà thơ:
“Lô hoa sơ bạch cúc sơ hoàng Thiên lý hương tâm cộng dạ trường Cưỡng khởi thôi song vọng minh nguyệt Lục dương trùng điệp bất di quang”
Ánh trăng xuất hiện trong các trường hợp trên như ở câu khởi, chuyển hoặc kết Ở
vị trí câu khởi là ánh trăng vằng vặc tỏa ra thứ ánh sáng thao thức và lạnh lẽo trên bầu trời
đêm không chỉ khơi gợi một cách tinh tế các yếu tố thời gian, không gian mà còn xác định
hoàn cảnh, sự khởi phát tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình Còn ở vị trí câu chuyển hoặc kết, thì sự xuất hiện của ánh trăng thường đánh dấu sự chuyển hướng trong suy tưởng nhà thơ hoặc làm cho bức tranh thơ đang chìm trong đêm tối đột ngột bừng sáng và miền tâm trạng u khuất vì vậy cũng đột ngột mở rộng
Trang 19Người làm thơ cũng thường chú ý đến các chi tiết âm thanh khi miêu tả những khung cảnh vắng lặng, nhàn nhã Giữa không khí tĩnh mịch, tiếng mưa rơi, tiếng sáo thuyền câu, tiếng chuông chùa hay tiếng chim hót dễ tạo sự chú ý và những ấn tượng mạnh mẽ Chỉ cần một âm thanh xa vắng, mơ hồ thôi là cũng đủ gợi được sự yên ắng của khung cảnh, nhất là trong những đêm thức trắng của thi nhân
Nguyễn Trãi lắng nghe tiếng chim đỗ quyên giục xuân già (“Đỗ vũ thanh trung
xuân hướng lão” – Mộ xuân tức sự )
Nguyễn Du tả tiếng đàn tỳ bà theo nước vọng đến (“Tỳ bà thanh tự thủy trung lai”
– Thương Ngô Trúc chi ca); Nguyễn Khuyến thì hết sức tinh tế khi lắng nghe tiếng rơi
khẽ khàng của chiếc lá theo gió thu bay đến:
sử dụng chi tiết cho nên mỗi hình ảnh chi tiết được chọn lọc không đơn giản chỉ là sự ghi nhận trung thực một nét đẹp đời sống mà còn phải thể hiện những phát hiện độc đáo, suy tưởng sâu sắc của nhà thơ trong quá trình khám phá vẻ đẹp phong phú, sinh động đó
Trang 20Từ một hoàn cảnh đặc biệt hay một góc độ nhìn mới mẻ, nhà thơ chợt có những so sánh thú vị, đầy bất ngờ về các sự vật, hiện tượng vốn quen thuộc và có nhu cầu ghi lại những phát hiện, những cảm xúc nóng hổi đó bằng vài dòng thơ ngắn gọn Chúng làm phong phú thêm nhận thức và cả cảm xúc thẩm mỹ của chúng ta về sự mới mẻ của những
(Ninh Bình đạo trung)
Bài thơ nhỏ gọn thường phù hợp với nhu cầu trình bày hàm súc những khám phá bất ngờ, những kết luận giàu chất suy tưởng về thế giới và đời sống thông qua lối tư duy
độc đáo, bất ngờ của những ý tưởng mà còn nhờ vào cách trình bày các ý tưởng đó trong
dạng thức ngắn gọn, hàm súc, giàu chất điểm ngộ hơn là luận thuyết dài dòng
Rất ít chi tiết, hình ảnh nhưng một bài thơ ngắn không phải vì thế mà kém phần sinh động và không thể miêu tả sự phong phú của cảnh hay tâm trạng con người Mặc dù các chi tiết ít ỏi nhưng nó thường được tinh lọc bằng cái nhìn rất là tinh tế và là những phát hiện nhạy bén của nhà thơ Chúng có sức gợi, khả năng mở rộng trường liên tưởng
đồng thời qua đó cũng sẽ giúp người đọc hình dung được một bức tranh toàn cảnh ẩn phía
sau câu chữ hạn hẹp
Phép đối cũng là một trong những cách thức mà thơ Đường luật vận dụng để phản ánh quan hệ tương đồng và tương phản giữa các chi tiết trong cảnh Trong các mối quan
hệ đó trên cơ sở vận dụng phép đối thì nó mang ý nghĩa biểu trưng Mà câu thơ đối xứng
ở đây nó nhấn mạnh quan hệ tương ứng về không gian, thời gian và đồng thời qua đó
khắc họa cái nhìn toàn cảnh bức tranh thiên nhiên mà người làm thơ thường hay chú trọng Một bức tranh được tạo thành bởi sự tương tác của các chi tiết đối xứng miêu tả viễn và cận cảnh, chỉ cần một câu thơ ngắn gọn thôi vẫn có thể gợi được một bố cục không gian toàn cảnh, một cái nhìn bao quát về đối tượng cần miêu tả
Trang 21Tính chắp khúc của thơ ngôn ngữ tượng hình là môi trường thuận lợi để cấu trúc
đối xứng phát huy tác dụng tổ chức quan hệ giữa các chi tiết của cảnh vào bố cục không
gian có tính trực quan Bên cạnh đó cách tổ chức hình ảnh đối xứng qua một mặt phẳng cũng là yếu tố không thể thiếu trong cấu tứ bài thơ Thông qua một tấm gương hay mặt nước trong vắt, sự phản chiếu khiến cho toàn bộ hình ảnh hay hình ảnh trung tâm trong bài thơ sẽ được nhân đôi Khi làm thơ với dung lượng ngắn gọn, thì các nhà thơ thường quan tâm đến sự phản chiếu, đến “bóng”, “ánh nước”, đến sự hòa quyện của bầu trời và dòng sông… Mà hình ảnh mặt nước và sự phản chiếu luôn tạo ra một không gian đặc biệt rộng lớn, hư ảo Nó giúp người làm thơ có thể nói rất ít mà vẫn kích thích năng lực tưởng tượng, cảm thụ, suy ngẫm của người đọc về một thế giới vô cùng tận do chính nó tạo ra
Và đó cũng là hình ảnh mà một bài thơ ngắn gọn rất cần và thường sử dụng
Không những thế mà cách xây dựng một hình ảnh được nhấn mạnh ở thế tương phản với các hình ảnh khác trong một bài thơ Cách tổ chức hình ảnh này tập trung làm nổi bật một yếu tố có tính chất tương phản, đối lập với tất cả các yếu tố khác của hệ thống tạo thành quan hệ so sánh, đối chiếu giữa động và tĩnh, còn và mất, xưa và nay, sáng và tối, biến đổi và bất biến Cũng nhờ vậy mà một bài thơ ngắn gọn có thể nhấn sâu một chi tiết, một hình ảnh độc đáo, một phát hiện bất ngờ và thú vị về vẻ đẹp của thiên nhiên, đời sống Do đó mà chỉ trong một vài lời ngắn gọn thôi tác giả đã mở ngỏ được cái thế giới sâu kín đằng sau bài thơ Cho nên, cách tổ chức hình ảnh này rất thường được sử dụng trong Đường thi và thơ cổ Việt Nam
Mà thơ là tiếng nói của tình cảm Tức cảnh sinh tình, một bài thơ hay luôn bắt nguồn từ một hoàn cảnh đặc biệt, một thời điểm dồn nhiều xúc cảm nhất Mặt khác, thơ cũng cần cô đúc, tinh lọc các chất liệu của đời sống nên người làm thơ hoàn toàn có ý thức trong việc lựa chọn giữa dòng đời xuôi chảy một thời điểm, mà ở đó, cuộc sống được thể hiện trong dạng thức đậm đặc và nhiều ý nghĩa nhất
Nhờ cách lựa chọn, tinh lọc và tổ chức hình ảnh vào các quan hệ tương tác, nhà thơ
đã thành công trong việc nắm cái thần của đối tượng miêu tả, để chỉ cần vài nét chấm phá
tinh tế mà vẫn có thể khắc họa được cái nhìn toàn vẹn về không gian, thời gian; thể hiện
được những nét đẹp đặc trưng của cảnh vật thiên nhiên hay khái quát được những quy
luật của thế giới và đời sống con người thông qua những suy nghiệm sâu sắc… Từ một
Trang 22điểm rất hẹp, nhà thơ có thể mở rộng tầm nhìn, có thể bao quát được bức tranh thiên
nhiên hay là bức chân dung sinh động về số phận của cả một đời người, một triều đại
Trang 23CHƯƠNG 2 TẬP THƠ NHẬT KÝ TRONG TÙ 2.1 Vài nét về Hồ Chí Minh và tập thơ Nhật Kí Trong Tù
2.1.1 Tác giả Hồ Chí Minh
2.1.1.1 Cuộc đời
Hồ Chí Minh (19-5-1890) tại Kim Liên - Nam Đàn - Nghệ An Thời niên thiếu tên
là Nguyễn Sinh Cung Trong thời kỳ đầu hoạt động cách mạng lấy tên Nguyễn Ái Quốc Song thân của Người là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan Người học chữ Hán rất sớm tại gia đình, trường Quốc Học Huế Có một thời gian học trường Dục Thanh với tên gọi là Nguyễn Tất Thành Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước tại Bến Cảng Nhà Rồng Và từ đó Người bôn ba khắp nơi, đi qua nhiều nước trên thế giới 11- 1919, Bác đã đưa ra bản “yêu sách của nhân dân An Nam” về quyền bình đẳng, tự do
đến hội nghị Vecxay (Pháp) 1920, Người dự đại hội Tua và là một trong những thanh
niên đầu tiên tham gia sáng lập ĐCS Pháp Hồ Chí Minh đã tham gia thành lập nhiều tổ chức cách mạng như Việt Nam Thanh niên đồng chí hội(1925), Hội liên hiệp các dân tộc
bị áp bức Á Đông(1925) và chủ tọa hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước tại Hương Cảng, thành lập ĐCS Việt Nam(3-2-1930) 2- 1941, Hồ Chí Minh về nước hoạt động và thành lập Mặt Trận Việt Minh trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng
ở trong nước giành thắng lợi trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 – 1945 Ngày 2- 9-1945,
Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” tại Quãng Trường Ba Đình và khai sinh ra
nước Niệt Nam dân chủ Cộng Hòa 6-1-1946, cả nước tiến hành tổng tuyển cử đầu tiên và Bác được bầu làm Chủ tịch nước, từ đấy Hồ Chí Minh luôn đảm nhiệm những chức vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Đến ngày 2- 9 – 1969, Người đã qua đời để lại cho dân tộc một di sản, một sự nghiệp văn học vô cùng to lớn và có giá trị
Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận và tôn Người
là “Anh hùng giải phóng dân tộcViệt Nam, nhà văn hóa lớn”
Trang 242.1.1.2 Sự nghiệp
Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một nghiệp văn chương cách mạng vô cùng lớn lao về tầm vóc, phong phú và đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách nghệ thuật sáng tạo Tác phẩm của Người được viết bằng nhiều thứ tiếng như Pháp, Hán , tiếng Việt… Và ta có thể tìm hiểu sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh chủ yếu trên 3 lĩnh vực: văn chính luận, truyện và ký, thơ ca
Văn chính luận
Những tác phẩm văn chính luận Hồ Chí Minh được viết ra chủ yếu với mục đích
đấu tranh chính trị nhằm tiến vào trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách
mạng của dân tộc qua những chặng đường lịch sử Ngay từ những thập niên đầu thế kỉ
XX các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc đăng trên các tờ báo Người
cùng khổ (Le Paria), Nhân đạo(L’Humanite), Đời sống thơ thuyền (Lavie ouvriere) đã có
tác dụng và ảnh hưởng lớn đến công chúng Pháp đối với các nước thuộc địa Kêu gọi thức tỉnh những người nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận đấu tranh chung là những nội dung chủ yếu của tác phẩm chính luận của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn này Bản án chế độ thực dân Pháp đã kết tinh và hội tụ lại tinh thần trên và trở thành một trong những
tác phẩm lớn nhất của Người
Tuyên ngôn độc lập cũng là tác phẩm chính luận xuất sắc có giá trị lớn lao về
nhiều mặt
Tiếp nối sự phát triển của lịch sử dân tộc, các tác phẩm chính luận nổi tiếng như:
“Lời kêu goị toàn quốc kháng chiến(1946)”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do(1966)”
đều thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông đất nước trong những giờ phút thử thách đặc
biệt trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Người viết “di chúc” Bản di chúc
là lời căn dặn thiết tha, chân tình với đồng bào, đồng chí, vừa mang tính chiến lược trong hướng phát triển đất nước, vừa thấm đượm tình thương yêu con người
Truyện và kí
Trước hết phải kể tập Truyện và kí tập hợp những truyện ngắn và ký của Nguyễn
Ái Quốc viết trong khoảng từ 1922 – 1925 Các truyện ngắn như: Pari(1922), Lời than
vãn của bà Trưng Trắc(1922), Con người biết mùi hung khói(1922), Đồng tâm nhất trí(1922), Vi hành(1923), Những trò lố hay là varen và Phan Bội Châu(1925), Con
Trang 25rùa(1925) đều gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc Các truyện ngắn thường dựa trên một
câu chuyện có thật và từ đó người viết vận dụng hư cấu, tái tạo để thực hiện dụng ý nghệ thuật của mình Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp, truyện ngắn “Giấc ngủ
10 năm (1949)” với bút danh Trần Lực là một sáng tác giàu tinh thần lạc quan cách mạng Ngoài truyện ngắn, Hồ Chí Minh còn có những tác phẩm ký được sáng tác với bút danh
khác nhau như Nhật kí chìm tàu(1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện(1963)
Thơ ca
Đây là lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh Có thể
kể đến 3 tập thơ của Người đã được tuyển chọn qua các thời kỳ Nhật kí trong tù với hơn
130 bài, Thơ Hồ Chí Minh (1967) gồm 86 bài và Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh(1990) gồm
36 bài Trên 250 bài thơ, đó là con số rất có ý nghĩa đối với một đời thơ Các tác phẩm thơ của Hồ Chí Minh được viết ra trong nhiều thời điểm, hoàn cảnh lịch sử Trong đó tiêu
biểu hơn cả là Nhật ký trong tù được viết trong thời gian Người bị giam cầm nhà tù Quốc
dân Đảng tại Quảng Tây Trung Quốc từ ngày 29-8-1942 đến 10-9-1943 Tập thơ có giá trị lớn lao, chứa đựng những bài học về nhân sinh, đạo lí cho hôm nay và cho cả ngày mai
Tóm lại, văn thơ Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc tấm lòng giàu yêu thương và tâm hồn cao cả Đó là tiếng nói nhân danh người cùng khổ đấu tranh đòi quyền sống, nhân danh một dân tộc bảo vệ quyền độc lập, tự do Đó là tiếng nói của người cần lao; “người
đi dép lốp cao su” và “Nhà chiến lược” (Katep Yaxin, Angieri) luôn lạc quan tin vào sức
mạnh của chân lí và của con người đang vươn tới Chân - Thiện - Mĩ Qua di sản văn chương quý giá đó các thế hệ hôm nay và mai sau có thể tìm thấy những bài học giá trị tinh thần cao quý
2.1.1.3 Phong cách sáng tác
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhận mình là nhà văn, nhà thơ mà chỉ là người bạn của văn nghệ, người yêu văn nghệ Nhưng rồi chính hoàn cảnh thôi thúc, nhiệm vụ cách mạng yêu cầu, môi trường xã hội và thiên nhiên gợi cảm cộng với tài năng nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ chứa chan cảm xúc, Người đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị Những áng văn chính luận sắc sảo, hùng hồn, những truyện ngắn độc đáo và hiện
đại, hàng trăm bài thơ giàu tình đời, tình người, chứa chan thi vị được viết ra bằng tài
năng và tâm huyết Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc quy luật và đặc trưng của hoạt động văn
Trang 26nghệ từ phương diện tư tưởng chính trị đến nghệ thuật biểu hiện Điều này trước hết thể hiện trực tiếp trong hệ thống quan điểm sáng tác văn chương của Người
Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng, nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội
Sau này trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, qua “thư gửi các họa
sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951”, Người lại khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là
một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến đối tượng thường Văn chương trong thời đại cách mạng phải coi trọng quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ Người nêu kinh nghiệm chung cho hoạt động báo chí và văn chương: “Viết cho ai?”, “viết để làm gì?”, “Cách viết như thế nào?” Đó chính là sự ý thức và trách nhiệm của người cầm bút
Người yêu cầu văn nghệ sĩ phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn những đề tài phong phú của hiện thực cách mạng, phải chú ý nêu gương “người tốt việc tốt”, uốn nắn và phê phán cái xấu Tính chân thật vốn là cái gốc của văn chương xưa và nay Nhà văn phải chú ý đến hình thức biểu hiện, tránh lói viết cầu kì, xa lạ, nặng nề Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt Theo Người, tác phẩm văn chương phải thể hiện được tinh thần của dân tộc, của nhân dân và được nhân dân yêu thích
2.2 Tập thơ Nhật Kí Trong Tù
2.2.1 Hoàn cảnh sáng tác
Nhật Kí Trong Tù (1942-1943) – là tập nhật ký bằng thơ của nhà cách mạng, nhà
thơ Việt Nam Hồ Chí Minh được sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch Trung Quốc giam giữ trong các nhà lao tỉnh Quảng Tây từ ngày 29-8-1942 đến 10-9-1943
Ngày 13-08-1942 lấy tên là Hồ Chí Minh, lãnh tụ cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, Người mang danh nghĩa đại biểu Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ Quốc tế phản xâm lược của Việt Nam từ địa điểm cơ quan bí mật đóng ở Cao Bằng đã lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ Quốc tế và liên lạc với các lực lượng chống Nhật của người Việt ở đó Sau nửa tháng đi bộ, vào đến thị trấn Túc Vinh thuộc huyện
Trang 27Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, Người bị chính quyền địa phương khám xét, bắt giữ và bị giam cầm hơn 13 tháng Bác bị giải tới giải lui gần 30 nhà giam của 13 huyện tỉnh Quảng
Tây, tay bị trói, cổ mang vòng xích, dầm mưa dãi nắng, trèo núi, vượt đèo Nhật Kí Trong
Tù ra đời trong hoàn cảnh đó Và ở đây thơ bật ra ngoài ý muốn của Người
Nhật Kí Trong Tù là cuốn nhật ký ghi chú sự việc xảy ra trong những ngày Bác bị
giam giữ Nhật Kí Trong Tù viết bằng thơ chữ Hán không phải là một bài thơ trường thiên
liền mạch là nhiều bài, mỗi bài viết về một vấn đề, thể điệu có thay đổi nhưng phần lớn là thơ tứ tuyệt
2.2.2 Thể thơ
Về thể thơ phần lớn những bài thơ trong tập Nhật Kí Trong Tù đều thuộc thể thất
ngôn tứ tuyệt luật đường Bên cạnh đó còn có một số bài thể tự do, ngũ ngôn tự do không phân biệt số câu (5 chữ 8 câu, 5 chữ 10 câu, 5 chữ 12 câu) và thất ngôn bát cú biến thể
(nhưng chỉ chiếm một lượng rất nhỏ trong toàn tập Nhật Kí Trong Tù
2.2.3 Những nội dung chính
2.2.3.1 Nhật Kí Trong Tù là một tập nhật kí bằng thơ, thể hiện chân thực thái
độ tình cảm của tác giả trước thực trạng đen tối ngột ngạt của chế độ nhà tù Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch
Nhật Kí Trong Tù trước hết là một tập nhật ký bằng thơ, nói chuyện bằng thơ, ghi
lại những nét sinh hoạt hằng ngày của tù nhân, tình cảnh và tâm tư của họ, những cảnh, việc tác giả gặp trên đường chuyển lao, suy nghĩ và cảm xúc của nhà thơ trong những ngày bị giam cầm… Chúng ta bắt gặp trên những trang nhật ký của Bác một nhà tù đen tối tàn bạo với nhiều bất công ngang trái, bắt giam hãm hại người vô tội (Đường đời khó khăn, Bị bắt ở phố Túc Vinh), bắt trẻ em phụ nữ làm con tin (Cháu bé ở nhà lao tân
Dương, Gia quyến người bị bắt lính), đặc biệt còn có cả tình trạng những “tù giàu” được bảo trợ, sống phè phỡn còn “tù nghèo nước mắt bọt mồm tuôn”, bị đày đọa khốn khổ
trong đói rét (Tù cờ bạc) Đó còn là nhà tù tồn tại nhiều nghịch cảnh trớ trêu, phi lí với tù
cờ bạc ngang nhiên (Lai Tân, Đánh bạc) cùng với những “lệ thường” nhưng vô cùng quái gở: người tù phải nộp tiền để vào nhà giam phải trả tiền đèn, phải ngủ cạnh cầu tiêu (Tiền vào nhà giam, Lệ thường) Và hơn hết vẫn là người tù bị đày đọa tàn nhẫn thân thể, bị trà
đạp nhân phẩm và phải sống trong bẩn thỉu, đói rét (Cơm tù, Chia nước) Song song với
Trang 28việc tái hiện bộ mặt nhà tù đen tối tàn bạo, Nhật Kí Trong Tù còn hiện lên một phần bức
tranh u ám của xã hội Trung Hoa dân quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch một xã hội không
có tự do, công lí, cờ bạc hoành hành, người dân lao động cơ cực đói khổ đang diễn ra
2.2.3.2 Nhật Kí Trong Tù là một tập nhật kí thể hiện tiếng lòng của Bác
Tập thơ trước hết, thể hiện một tấm lòng nhân ái sâu xa Tập nhật ký rất ít nói đến những nỗi đau khổ mà tác giả phải chịu đựng, nếu có nói thì thường bằng giọng vui đùa Trong tập nhật ký tác giả đã dành khá là nhiều bài viết về nỗi khổ của mọi người xung quanh Đó là sự cảm thông, niềm xót thương đối với những người bị đày đọa khiến nhà thơ viết nên nhiều bài thơ xúc động chứa chan tình người Và có nhiều bài mang đề tài là những việc dường như vụn vặt, nói về sinh hoạt hằng ngày của người tù như cảnh chia nước, nghiện thuốc lá, cháo hoa muối trắng, đau bụng… Nhưng tất cả những cái cho là vụn vặt ấy nó lại có ý nghĩa rất lớn, chứng tỏ tinh thần nhân đạo chân chính ở tác giả, quan tâm chu đáo đến đời sống cụ thể của mọi người, không bỏ sót một điều gì Khi nói
về những người sống dưới đáy xã hội Tưởng Giới Thạch thì tác giả nhìn họ một cách rất
bao dung, chan hòa, yêu thương và trân trọng, Người xem họ là “cùng hội cùng thuyền”
và gọi họ là “nạn hữu”, “tri âm”, “khách quý”… và tin tưởng ở bản chất vốn lương thiện của họ Trong tù, nhà thơ dành tình thương cho những “tù nghèo”, “khổ đau đói rét” và phân biệt họ với bọn “tù cứng ngày ngày no rượu thịt”, buồn với người nông thôn đang
lao động trên đồng ruộng, phu làm đường, cô gái nghèo xay ngô xóm núi… Cũng chính
vì lòng nhân ái sâu rộng mang tính chiến đấu mạnh mẽ đó, nhà thơ đã viết nhiều bài thơ châm biếm sắc sảo, đã kích chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch, hình ảnh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc mục nát khi đó
Mặc dù, trong chuỗi ngày dài đăng đẳng của tù đày nhưng nỗi niềm thương nhớ quê hương đất nước và khao khát tự do trở về chiến đấu vẫn khôn nguôi, nó cứ luôn ám
ảnh, day dứt trong lòng nhà thơ yêu nước Trong những lúc thức, lúc ngủ, khi tỉnh cũng
như khi mộng, khi đi đường, ngắm cảnh hay đau ốm, khi nghỉ ngơi… dường như không lúc nào Bác nguôi tấm lòng đất nước Hễ nghỉ đến đất nước, lời thơ bao giờ cũng trở nên
trầm lắng, giọng thơ lắm khi nghẹn ngào (Đêm thu, Ốm nặng…)
Nỗi đau khổ lớn nhất của tác giả trong thời gian bị tù không phải là đói rét, gông cùm, mà là việc phải tách rời với cuộc chiến đấu Nhất là trong những lúc tình hình đang
Trang 29sôi sục ở bên ngoài thì trong này Bác càng đau khổ hơn vì không được cùng các đồng chí
xông pha trận chiến “chẳng được xông ra giữa trận tiền” Lời thơ càng ngày càng căm
uất, nghẹn ngào, biểu lộ niềm khát khao chiến đấu mãnh liệt của người chiến sĩ mà lẽ
sống đấu tranh đã trở thành máu thịt “Học đánh cờ” là bài thơ để giải trí mà ta thấy vẫn
toát lên khí phách của người chiến sĩ mưu lược trong tư thế tiến công cách mạng
2.2.3.3 Nhật Kí Trong Tù đã thể hiện một tinh thần lạc quan phơi phơí và một
ý chí bất khuất kiên cường
Nhật Kí Trong Tù còn là tinh thần chiến thắng, chủ nghĩa lạc quan cách mạng, làm
nên ánh sáng tràn ngập khắp trang thơ Đó là tiếng cười hồn nhiên khỏe mạnh cất lên giữa
vô vàn khổ cực (Đêm ngủ ở Long Tuyền, Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh, Dây trói,
Đi Nam Ninh, Trên đường đi…) Đó là hình ảnh lồng lộng, ung dung tự tại của nhà thơ
nổi bật qua tập thơ “hình ảnh của sức mạnh bình tĩnh không khiếp sợ, không hoảng hốt,
đó là sức mạnh của người sống một nhịp với trào lưu của thế giới, quy luật tiến hóa của lịch sử” (Phạm Văn Đồng) Chính Bác cũng đã nói:
“Sự vật vần xoay đà định sẵn Hết mưa là nắng ửng lên thôi”
(Trời hửng)
Là một người tù nhưng Hồ Chí Minh thật sự là người chiến thắng, thật sự làm chủ
bản thân, là người tự do Vì vậy mà trong tù, nhà thơ có lúc ví mình là “khách tự do”,
Chính Nhật Kí Trong Tù đã thể hiện sáng ngời chất thép cách mạng đó Chất thép
có khi trực tiếp biểu lộ trong những vần thơ tràn đầy khí phách cách mạng hào hùng, nhưng nhiều khi hiện ra như một chất thơ bay bổng nhẹ nhàng Có bài chỉ là một bức tranh thiên nhiên nên thơ, một cách rung động trữ tình tinh tế trước cảnh vật và tình người, nhưng đặt trong hoàn cảnh, sẽ thấy nhà thơ phải có một nghị lực thần thánh, một sức mạnh tinh thần kỳ diệu để vượt lên mọi đày đọa vật chất, giọng thơ mới có thể ung
Trang 30dung thanh thản đến nhường ấy Đó là chất thép rất ngọt, thép mà thơ, thể hiện bản lĩnh cách mạng tuyệt vời của người chiến sĩ cộng sản vĩ đại mang tâm hồn một nhà thơ lớn
Nhật Kí Trong Tù phản ánh trực tiếp một tâm hồn cao đẹp đồng thời cũng thể hiện
rõ một phong cách thơ độc đáo mà đa dạng, đạt tới sự hài hòa cao độ, vừa có dáng dấp cổ
điển vừa mang tinh thần và sắc thái hiện đại, vừa có bút pháp hiện thực nghiêm ngặt, vừa
lãng mạn bay bổng, vừa sáng ngời chất thép vừa thắm thiết tình người, chan chứa chất
thơ “Đau khổ đến thế mà giọng thơ vẫn bình tĩnh lắng sâu, nặng ý nghĩa mà vẫn nhẹ
nhàng, không một chút lên gân mà xiết bao gang thép” (Tố Hữu)
2.2.4 Bút pháp nghệ thuật đặc sắc
Nhật Kí Trong Tù có sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện
đại, loại thơ này là tiếng nói sâu sắc và tinh tế nhất của tâm hồn Hồ Chí Minh vừa hồn
nhiên, thâm trầm vừa trẻ trung hiện đại vừa đậm đà phong vị cổ điển vừa kiên cường chất thép, vừa chan chứa tinh thần nhân đạo và cảm xúc dạt dào trước thiên nhiên
Và giống như rất nhiều bài thơ cổ thơ Hồ Chí Minh rất giàu cảm hứng trước thiên
nhiên Sự giao cảm sâu sắc giữa thiên nhiên với con người khiến một số bài thơ của Nhật
Kí Trong Tù phảng phất tứ thơ Đường Tống Với bút pháp “thi trung hữu họa” được vận
dụng rất nhiều trong tập thơ, người đã tả thiên nhiên chỉ qua vài nét chấm phá của thơ cổ nghĩa là không miêu tả chi tiết mà chỉ gợi hoặc chấm phá những nét tiêu biểu để làm bật lên tinh thần của tạo vật (Chiều tối, Mới ra tù tập leo núi…)
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh là nhà thơ cách mạng ở thế kỉ XX nên thơ Người còn thể hiện tinh thần thời đại Màu sắc cổ điển kết hợp hài hòa với tinh thần ấy làm nên vẻ đẹp hiện đại rất riêng trong thơ Bác Nó được thể hiện trước hết ở hình tượng thơ luôn vận
động khỏe khoắn hướng về sự sống (Mộ, Giải đi sớm) Trong quan hệ với thiên nhiên con
người luôn là chủ thể với bản lĩnh và tinh thần của cuộc sống, xuất hiện ở vị trí trung tâm
và luôn chủ động trong mọi tình huống
Bằng sự kết hợp giữa nhiều bút pháp khi thì lãng mạn trữ tình, khi thì tự trào hóm hỉnh và có lúc lại châm biếm sắc sảo tạo nên sự phong phú và đa dạng trong việc thể hiện
bút pháp nghệ thuật của Nhật Kí Trong Tù
2.2.4.1 Nghệ thuật trào phúng
Trang 31Trong Nhật Kí Trong Tù ta tìm thấy nghệ thuật trào phúng, nụ cười trào phúng lúc
thì đau đớn lúc thì chua sót “cái cùm” và sự đời nhiều khi đến kỳ lạ:
“Được cùm chân mới yên bề ngủ Không được cùm chân biết ngủ đâu”
Có khi nụ cười gắn với lời tố cáo, như bài “Cờ bạc” mở đầu trình bày sự việc rất
điềm tỉnh:
“Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội Trong tù đánh bạc được công khai”
Đột nhiên ngòi bút sắc, mạnh đánh kẻ thù bật ngữa mà vẫn cứ mát mẻ:
“Bị tù con bạc ăn năn mãi Sao trước không vô quách chốn này”
Giọng thơ trào phúng, không đơn điệu vì nó theo sát tính phong phú của ý thơ Mỗi bài thơ mỗi vẻ Có bài đanh thép như một cái tát vào mặt quân thù như bài kể chuyện
“Nộp tiền đèn”, có bài thơ tựa hồ dửng dưng mà thực ra thì tràn đầy căm giận như bài “Ở Lai Tân” Có bài xót xa, chua chát:
“Biền biệt anh đi không trở lại Buồn the trơ trọi thiếp ôm sầu Quan trên xét nỗi em cô quạnh Nên lại mời em tạm ở tù”
(Gia quyến người bị bắt lính)
Có bài như một bài nói đùa về ghẻ lỡ “Đi Nam Ninh”, “Dây trói”, mỗi bài là một
tiến cười như để lấy thêm sức mạnh
Tóm lại, bằng bút pháp vừa tả thực vừa trào phúng
2.2.4.2 Nhật Kí Trong Tù có sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và trí tuệ-trữ
tình với triết lý
Nghệ thuật thơ của Bác là nghệ thuật triết lý sâu sắc như bài “Nửa đêm”
hay bài “Nghe tiếng giã gạo”, “Học đánh cờ” Mỗi bài thơ nêu lên một thái độ sống, hay
tự nhìn nhận đúng, hoặc đề ra một cách giải quyết về những định đề đã nêu ra
Trang 32Nói đến thơ Bác không thể không nói đến nghệ thuật Vì thơ của Bác là thơ của tâm hồn, tình cảm, tư tưởng, hành động Bác đã sử dụng không biết bao nhiêu phương tiện biểu hiện hết sức phong phú đa dạng
Trong những bài thơ của Bác, bên cạnh những vấn đề lớn lao cao cả, Bác có thể nói đến những vấn đề nhỏ nhặt hàng ngày mà ít ai có thể nói đến trong thơ:
“Đau khổ chi bằng mất tự do”
Lại có câu: “Đến buồn đi ỉa lại không cho”
Đó là tự do tối thiểu của cuộc sống con người, vậy mà cũng bị nhà tù ấy tước đoạt
Trong thơ, Người sử dụng rất nhiều những từ dùng hàng ngày mà những từ ấy không làm cho thơ của Bác tầm thường đi Mà ngược lại, càng làm cho câu thơ của Bác thêm sinh động, thêm thực, thêm xúc động lòng người
Bác cũng không từ chối cách nói ẩn dụ: tù cứng “ngày ngày no rượu thịt”; tù mềm
“nước mắt bọt mồm tuôn”
Lối chơi chữ của Bác trong bài “Đêm ngủ ở Long Tuyền”
“Đôi ngựa ngày đi chẳng nghỉ chân
Đêm gà năm vị lại thường ăn”
“Đôi ngựa” – hai chân đi; “Gà năm vị” – khi ngủ hai chân phải bắt chéo chân lại như chéo chân gà trong mâm cổ tiệc
Hay là cách nói tượng trưng ước lệ, chiết tự, nói lại đến cách nói trực tiếp, cách nói hiện thực: rất thực, rất thẳng, rất sâu
Trong thơ Bác, các yếu tố quan hệ rất hài hòa với nhau: tự sự và trữ tình, lãng mạn
và hiện thực, cổ động và giáo dục, phản ánh và triết lý… đã kết hợp với nhau một cách chặt chẽ, nghệ thuật
Trong Nhật Kí Trong Tù, Bác thích dùng lối đối chọi giữa các mặt đối lập, tạo nên
một sự châm biếm có khi nhẹ nhàng, khi gay gắt nhưng cuối cùng gây một nụ cười sâu sắc
“Ta thì người dắt, lợn người khiêng”
“Uống để pha trà, đừng rửa mặt”
“Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội Trong tù đánh bạc được công khai”
Trang 33Sự đối lập ấy tạo nên một sự buồn cười Bài thơ nói đến đau khổ mà vẫn trào lộng
Đọc thơ Bác, chúng ta luôn luôn gặp một nụ cười độ lượng và tế nhị gay gắt mà thấm
thía, một nụ cười riêng của Bác
Thơ Bác bình dị mà không bình thường, giản dị mà không đơn giản Bác nhìn cuộc sống nhiều mặt đối lập của nó, nhìn hiện tại mà hướng về tương lai, coi trọng tư tưởng mà rất chú trọng đến nghệ thuật Bác sử dụng rất nhiều bút pháp trong đó phải kể đến tính họa, tính nhạc trong thơ của Người Một bút pháp mà các nhà thơ xưa rất chú trọng và
thường sử dụng - bút pháp thi trung hữu họa
CHƯƠNG 3 THI TRUNG HỮU HỌA TRONG
NHẬT KÍ TRONG TÙ
3.1 Những bài thơ tiêu biểu có sử dụng nét họa
Đây là một tập thơ, và cũng là một tập nhật ký như nhan đề đã ghi Nhật kí trong tù
Một tập thơ tù và người tù lại là một nhà lãnh tụ cách mạng Một tập thơ viết bằng chữ Hán mà phần lớn theo lối thơ luật cổ xưa, nhưng là để biểu hiện một nội dung hiện đại, nó gắn liền với thực tế cuộc sống
Mà thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc Thật vậy, thơ luôn luôn xuất phát từ tấm lòng, tình cảm của người viết về một đối tượng, một sự vật nào đó, có khi là tình cảm
của chính mình Lưu Hiệp cũng từng nói: “Tại tâm vi chí, phát ngôn vi thi” (Trong tim là
chí phát ra lời là thơ) hoặc là “Nhân bẩm thất tình, ứng vật tư cảm, cảm vật ngâm thi, mạc phi tự nhiên” (Người vốn có bảy tình, tiếp xúc với vật mà cảm động, cảm động ngâm ngợi ý chí, đó là tự nhiên vậy)[21;tr.5] Đó là lời của người xưa, còn Hồ Chí Minh của
chúng ta thì sao?
Ở bài “Khai quyển” Người đã trả lời rồi:
老 夫 原 不 愛 吟 詩
“Lão phu nguyên bất ái ngâm thi”
Bác không muốn làm thơ nhưng một tập thơ rất hay lại được ra đời từ việc “bất
ái” Tuy Bác không muốn làm thơ nhưng một tập thơ đã ra đời, Bác không coi mình là
Trang 34nghệ sĩ, không nghĩ mình thật sự làm thơ, đó chính là thái độ sự khiêm tốn của Bác và nó
cũng đã bộc lộ ngay trên những sáng tác của Người Ngục trung nhật kí là những bài thơ
vắn tắt ghi lại những hiện tượng có thể gọi là vụn vặt trong nhà tù Đúng là những mẩu nhật ký ghi bằng một bút pháp hồn nhiên, không có dấu vết của một dụng công nghệ thuật nào từ nội dung đến hình thức Thơ làm ra để giải trí của một con người rất mực giản dị, nên nó hầu như vượt ra ngoài mọi thứ quy phạm của văn chương truyền thống: văn ngôn
có thể xen với bạch thoại, tiếng nói trang nhã của thi ca đi liền với tiếng lóng của người tù… Một thứ văn trực tiếp đối với đối tượng phản ánh, đối tượng truyền đạt, tự động viên chính mình luôn giữ cho tâm hồn luôn trong trẻo trong cảnh “sống khác loài người” Chính vì vậy, mà trong tập thơ của Người, hầu như bài thơ nào cũng nổi lên nét họa Khi Người cầm bút lên, và mỗi nét bút của Người trong mỗi bài thơ ta đều cảm nhận như là
đang đứng trước một bức tranh thiên nhiên hay đời sống con người Nhưng, qua đó ta
thấy thơ Bác còn có cả sự kết hợp giữa màu sắc cổ điển và hiện đại Mà qua màu sắc cổ
điển và hiện đại là những biểu hiện của nét họa
Màu sắc cổ điển trong thơ Bác được thể hiện ở thể tài thơ mà Bác thường sử dụng
“Màu sắc ấy thể hiện ở nội dung đề tài phổ biến của thơ Bác: “Đăng sơn”, “Thượng sơn”, “Triêu cảnh”, “Vãn cảnh”, “Thu cảm”, “Thu dạ”, “Vọng nguyệt”, “Đối nguyệt”,
“Tư hương”, “Ức hữu”, “Vịnh thái hồ”, “Tặng Bùi Công”, “Phỏng khúc phụ”, “Vô đề”… nghĩa là lấy cảm hứng từ những cái mà người xưa gọi là “giai thi, mĩ cảnh, thắng
sự, lương bằng”[9;tr.75]
Màu sắc cổ điển còn được thể hiện ở việc sử dụng những thủ pháp ước lệ, tượng trưng, ở lối cách điệu hóa riêng, khiến cho chỉ một vài nét đơn sơ mà đưa ngay người đọc bước vào thế giới của cổ thi:
“Trù hoạch can thâm tiệm đắc nhàn, Thu phong thu vũ báo thu hàn
Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng
Du kích quy lại tửu vị tàn”
(Thu dạ)
Đặc điểm nổi bật của thơ cổ điển phương Đông là dành cho thiên nhiên một vị trí đặc biệt Phong cảnh thiên nhiên trong thơ xưa thường là một thiên nhiên được nhìn từ xa,
Trang 35từ cao, nhà thơ bao quát trong tầm mắt của mình toàn cảnh cao sơn lưu thủy và ghi lại bằng vài nét chấm phá đơn sơ, bỏ nhiều khoảng trống để gợi lên cái mênh mông bát ngát của đất trời:
“Tẩu lộ” là đi đường Nhưng không phải là con đường bằng phẳng mà lại là chặng
đường núi non đầy khó khăn và hiểm trở
Bác nhìn thiên nhiên như là luôn luôn chứa đựng biết bao điều ngụ ý về vận mệnh,
về tâm tư, tình cảm của con người Bài thơ có ý nghĩa đúc kết kinh nghiệm đi đường đầu tiên của chặng đường cách mạng Thiên nhiên hiện lên trong mấy câu thơ đầu, với những vùng núi non hiểm trở như là che lấp đi con người Nhưng rồi thì con người cũng đã chủ
động vượt qua thử thách và trở thành nhân vật trung tâm của bức tranh thiên nhiên này
Đó là tiền đề tâm lí xã hội sâu xa của bút pháp tượng trưng rất phổ biến trong thơ ca cổ
Trang 36điển, khiến cho một hình ảnh thơ có thể gợi lên biết bao ý tứ kín đáo, tinh vi đôi khi cảm
thấy mà phân tích lại khó:
“Hai mươi tư tháng sáu
Lên đỉnh núi này chơi, Ngẩng đầu: mặt trời đỏ, Bên suối một nhành mai”
(Lên núi)
Mặt trời đỏ và nhành mai là những hình ảnh có thật của thiên nhiên, trong một tầm nhìn miêu tả chung và cũng là hình ảnh tượng trưng giàu ý nghĩa xã hội Và không chỉ ở hình ảnh, mà cả ở vị trí và cung bậc của sự quan sát, miêu tả, đều có thể có dụng ý về tư tưởng và nghệ thuật
Màu sắc cổ điển trong thơ Bác còn thể hiện ở phong thái con người trong thơ Cái tôi trữ tình trong thơ Bác nhiều khi có cái phong độ ung dung, nhàn dật giữa thiên nhiên giống như cái phong độ của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở am Bạch Vân:
“Khán thư sơn điểu thê song hãn, Phê trát xuân hoa chiếu nghĩa trì”
(Bà Huyện Thanh Quan)
Thơ thiên nhiên của Bác bao giờ chủ thể vẫn là con người – con người và cuộc sống vẫn là trung tâm cảm hứng của những bài thơ tức cảnh:
暮
倦 鳥 歸 林 尋 宿 樹
孤 雲 慢 慢 渡 天 空