Vì thế phải học đọc văn thì mới hiểu được văn một cách chính xác sâu sắc.”[10;3] Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao có những đổi mới đáng kể so với sách giáo kho
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN BÍCH PHƯỢNG
TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA BỘ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 TẬP 1
BỘ CƠ BẢN VÀ BỘ NÂNG CAO
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cần Thơ, 4 - 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Hiểu người cần hiểu sau lời nói Hiểu sách cần hiểu những gì ẩn giữa các
dòng chữ” (Hoài Lam) Thành ngữ cũng có câu: “Đọc muôn quyển sách, đi muôn dặm
đường” Chính vì vậy, khi đọc sách ta thấy được giá trị to lớn của sách Sách là nguồn
cung cấp tri thức cho con người, là công cụ đắc lực phục vụ cho quá trình dạy học ở các cấp học và các bậc học Đó là nguồn tài liệu quan trọng trong quá trình tìm kiếm tri thức nhân loại Hệ thống giáo dục ở nhiều nước trên thế giới có nhiều nét khác lạ so với hệ thống giáo dục ở nước ta đặc biệt là sách giáo khoa Cùng một môn học nhưng
họ có nhiều bộ sách khác nhau và người dạy học có thể lựa chọn bộ sách phù hợp với mình Sách còn là kho tàng tư liệu chủ yếu, là kho tàng tổ chức giáo dục Sách được xem như là dương bản của chương trình, là nơi cụ thể hóa nội dung, thể hiện đầy đủ nhất ý đồ của chương trình Nó là tài liệu có tính chất bắt buộc đối với giáo viên và học sinh Có thể nói đây là công trình toàn mĩ phục vụ đắc lực cho qúa trình sư phạm Riêng ở nước ta sách giáo khoa là bộ sách duy nhất phục vụ cho chương trình giảng dạy Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là tri thức con người, chính vì vậy thay đổi sách giáo khoa để phù hợp yêu cầu của thời đại
Trong mấy năm trở lại đây, chúng ta đang thay đổi sách giáo khoa, sự thay
đổi này có quy mô lớn và tiến hành trên tất cả các cấp học Sách giáo khoa vẫn còn
nhiều vấn đề không đồng nhất, đặc biệt là sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ Cơ bản và Nâng cao Đây là cuộc cải cách lớn có tác động đến toàn xã hội và đặt ra cho giáo viên nhiều thử thách Vì chương trình đã khác, cách dạy cũng khác và cách tiếp cận cũng khác và chúng ta cần làm gì để cho việc hoàn thiện tri thức của học sinh ngày càng tốt hơn
Chính vì lý do đó, tôi chọn đề tài: “Tương đồng và dị biệt giữa sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao”, để thông qua việc tìm hiểu sách giáo
khoa, tôi có sự phân tích đánh giá chương trình sách giáo khoa, từ đó đưa ra phương pháp dạy tốt nhất Đồng thời có ý kiến đóng góp cho chương trình sách giáo khoa mới này
Hơn nữa, tôi là sinh viên khoa sư phạm, sắp tới đi thực tập và khi ra trường tôi
sẽ trực tiếp dạy bộ sách này Cho nên thông qua việc thực hiện đề tài này giúp người viết nắm vững chương trình, tìm ra cách dạy phù hợp nhất và tốt nhất, tránh tình trạng lúng túng khi giảng dạy
II-LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Đổi mới sách giáo khoa nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn nói riêng ở bậc trung học phổ thông là một vấn đề thời sự cấp bách được toàn xã hội quan tâm Và không ít những ý kiến của các tác giả và những người quan tâm trên báo tạp chí, internet,… Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 mới đem vào áp dụng, đây là vấn đề còn khá mới mẻ Bước đầu người viết đã tìm và tra cứu các tài liệu có liên quan nhưng có rất ít, cụ thể một số ý kiến như sau:
“Văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông mới” của tác giả Đỗ Ngọc Thống đăng trên tạp chí Thông tin
khoa học giáo dục số 99/2003, tác giả đã đề cập đến vấn đề: Văn học Việt Nam hiện
đại sau 975 trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông mới có gì thay đổi? Sự
Trang 3thay đổi có cần thiết không và người giáo viên cần lưu ý những gì để dạy phần văn học trong sách mới
Trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 17-11-2008, với chuyên đề: “Đổi mới phương pháp giảng dạy như thế nào?” thầy Nguyễn Việt Bắc, phó hiệu trưởng Trường ĐH
Sài Gòn đã đề cập đến vấn đề rào cản của nền giáo dục Ông khẳng định: “Đổi mới
phương pháp giảng dạy không phải thay đổi từng cách dạy này bằng cách dạy khác
mà là sử dụng những phương pháp giảng dạy hiện tại như thế nào tạo ra giờ học hiệu quả Tự thân từng phương pháp giảng dạy chẳng có ý nghĩa gì nếu nó không được sử dụng một cách đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức.”
Cũng trên tờ báo đó, thầy Hoàng Đức Huy, giáo viên Trung tâm giáo dục
thường xuyên quận 4-TP.HCM cho rằng: “Nền giáo dục nước ta đang ngủ mê trên
ngôi mỏ kim cương và vấn đề thay đổi sách giáo khoa là pháp lệnh, là chiếc cồng số tám! Do đó, để giảng dạy, giáo viên phải soạn giáo án theo sách giáo viên, có từng bước quy định, như vậy giáo viên có ý tưởng sáng tạo không?”
Các tác giả đã đề cập đến vấn đề đổi mới trong dạy học để phù hợp với mục tiêu dạy
và học
Bài viết “Sách giáo khoa Ngữ văn 10, những vấn đề thay đổi cần chú ý” của
tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống được đăng trên tạp chí văn học và tuổi trẻ số 7 tháng 7/2003, trong bài viết này tác giả đã đi sâu vào những đổi mới chương trình như những thay
đổi về nội dung, về hình thức, phương pháp đánh giá Đó là ý kiến mới có ý nghĩa tích
cực trong giáo dục đổi mới về dạy và học
P.GS.T.S Đỗ Ngọc Thống cũng có bài viết đăng trên báo VieetNamnet số ra
ngày 08/04/2004: “Đổi mới sách giáo khoa và những ngộ nhận cực đoan”, theo ông
sách giáo khoa đã có nhiều tích cực trong việc ra đề kiểm tra nghị luận xã hội hơn là nghị luận văn học và đề mở rộng sư suy nghĩ và vốn sống của các em
Một góp ý khác của tác giả Nguyễn Hoa về chương trình sách giáo khoa Ngữ văn Tác giả này đã không đồng nhất về việc tích hợp giữa hai môn Tiếng Việt và Làm Văn
“Tiếng Việt trong trừơng phổ thông là tư duy và công cụ giao tiếp của thầy trò ở tất
cả các môn khoa học và xã hội và các môn tự nhiên Quan điểm tích hợp ngôn ngữ và văn học chỉ đúng trong nền giáo dục Quốc Tử Gíam trước đây…Ở phổ thông có chương trình môn Tiếng việt nhưng thi vào Đại học chỉ có thi môn văn”
Bài viết của tác giả Văn Hiến in trên Việt Báo với nhan đề: “Độc quyền ảnh hưởng đến chất lượng sách giáo khoa Ngữ Văn?” đã đề cập đến những lỗi trong lúc
biên soạn sách giáo khoa Bài viết đề cập đến nhiều vấn đề nhưng xoay quanh vấn đề trọng tâm là sự thiếu thống nhất trong cách chú thích những thông tin về tác giả tác phẩm ở trong cùng một bài cùng một cuốn sách như sách lớp 11 chú thích khác, sách
12 chú thích khác Theo tác giả những lỗi vừa đề cập có thể tìm thấy khi đọc sách giáo khoa Nguyên nhân là do tư tưởng chủ quan, lối viết sách, xuất bản độc quyền, và muốn sách đạt kết quả cao thì phải bỏ qua cơ chế độc quyền
Bài viết của Châu Lệ in trên Báo Thanh niên, số ra ngày 8/7/2008 với tiêu đề
“Sách bồi dưỡng giáo viên quá cẩu thả” đề cập đến những sơ suất bất cập đáng kinh
ngạc của sách bồi dưỡng gáo viên Tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu của những bất cập trên do thiếu sót năng lực tổ chức, do tinh thần trách nhiệm không cao Sách
được biên soạn theo tình trạng “góp gạo thổi cơm chung” nên kết cấu vênh lệch, thiếu
nhất quán Tiêu chuẩn chọn bài vở đã không tôn trọng mà ngay cả quy cách ghi xuất
xứ của tài liệu cũng quá cẩu thả Xuất xứ không rõ ràng sẽ gây khó khăn rất nhiều trong việc tra cứu tài liệu cũng như độ chính xác tin cậy của tài liệu Theo tác giả việc
chọn bài vở không theo một tiêu chuẩn và nguyên tắc nào cả những vấn đề “đổi mới
Trang 4quan niệm nghệ thuật con người”, “đổi mới quan niệm nghệ thuật” những vấn đề
mang tầm quan trọng không được chú trọng đến
“Sách giáo khoa ngữ văn 10, được chuẩn bị như thế nào” của Phạm Văn
Trọng đăng trên báo văn học tuổi trẻ số 1(91)/2004 Tác giả đã nêu lên mục đích tạo năng lực nghe nói, đọc, viết cho học sinh ban Khoa học tự nhiên và ban Khoa học Xã hội được biên soạn theo nguyên tắc tích hợp, là kết quả của quá trình lao động sáng tạo
tỉ mỉ
Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói về vấn đề giáo dục và dạy văn trong nhà
trường: “Cái quan trọng nhất trong giảng dạy nói chung và trong dạy văn nói riêng là
rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp tra cứu, vận dụng kiến thức của mình.” Như vậy, theo ý kiến của ông, sự vận dụng những kiến thức học được
vào cuộc sống mới là mục tiêu quan trọng của môn học
“Phân môn làm văn trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 10 mới và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học” của thạc sĩ Nguyễn Thị Hiên trường Đại học
Hải Phòng trên tạp chí giáo dục số 149 kỳ I-11/2006 Tác giả đã xác định rõ ràng phân môn Làm văn - chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 10 mới thể hiện sự đổi mới về nội dung học và đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Nhìn chung, các tác giả đã nêu được những ưu khuyết điểm của sách giáo khoa Ngữ văn mới Trên đây là những đóng góp có giá trị và đáng trân trọng cho qúa trình nghiên cứu của người viết Do vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ nên tài liệu viết về vấn
đề này không nhiều, đó là những tài liệu mà người viết thu thập được góp phần cho
luận văn thêm hoàn thiện
III-MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Với đề tài “Sự tương đồng và dị biệt sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ
cơ bản và nâng cao”, yêu cầu người nghiên cứu cần nắm vững nội dung sách giáo
khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao để tìm ra sự giống nhau và khác nhau của hai quyển sách này Từ đó xác định được mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy và tiếp cận cho đúng hướng Đồng thời, người viết chỉ ra được những ưu
điểm của sách giáo khoa để khai thác và phục vụ cho việc giảng dạy, tìm ra những điểm chưa hay chưa thỏa đáng của sách giáo khoa để khắc phục Bởi sách giáo khoa
dù có thay đổi cũng chỉ là quan điểm của một nhóm chương trình, đôi khi vẫn có những sai sót, chưa toàn diện
Qua việc tìm hiểu so sánh hai quyển sách này, người viết phải tìm ra hướng áp dụng và phương pháp giảng dạy tốt nhất, phù hợp nhất với sách giáo khoa Cùng một bài dạy nhưng kiến thức và kỹ năng ở mỗi bộ sách khác nhau Nên phải có sự kết hợp giữa phương pháp dạy truyền thống và hiện đại, phù hợp với năng lực của học sinh Khi nghiên cứu đề tài này, điều thuận lợi đối với người nghiên cứu là nắm được toàn
bộ chương trình của quyển sách trước khi trực tiếp giảng dạy Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 có ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả kỳ thi quan trọng là tốt nghiệp và thi đại học vì đây là chương trình cung cấp kiến thức cơ sở cho các em tiếp cận chương trình cao hơn Cho nên khi biên soạn, các soạn giả cũng đã lựa chọn chắt lọc kỹ lưỡng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Cho nên nắm vững chương trình, giáo viên chủ động và vững vàng hơn trong công việc
Khi nghiên cứu người viết mong muốn công trình sẽ thành công như dự kiến và mang tính khoa học độc lập và hữu ích
Trang 5IV-ĐỐI TƯỢNG-PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Xác định đối tượng phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao Vì hai bộ sách giáo khoa tập trung đi sâu những nét mới từ nội dung đến hình thức và có rất nhiều vấn đề cần nói đến Người viết sẽ đi sâu phân tích, tìm hiểu, đánh giá những ưu khuyết điểm cũng như sự giống nhau và sự khác nhau của hai bộ sách này Bên cạnh đó, người viết con tham khảo sách giáo khoa chỉnh lý hợp nhất năm 2000 để có sự đối chiếu cụ thể, rõ ràng Bên cạnh đó người nghiên cứu còn tham khảo thêm các nguồn tài liệu có liên quan đến
đề tài để có nhận xét khách quan như các công trình của các nhà nghiên cứu, các bài
viết trên các báo, tạp chí, trên mạng internet… những vấn đề đó đều nằm trong phạm
vi nghiên cứu để người viết khai thác trong suốt quá trình thực hiện đề tài
V-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mỗi một đề tài là một vấn đề lớn đặt ra và cần được giải quyết Trong quá trình nghiên cứu để tìm hướng giải quyết tối ưu nhất, chúng ta có thể dùng nhiều phương
pháp khác nhau Với đề tài “Sự đồng nhất và dị biệt sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao”, tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp thống kê: Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, người viết đã
thu thập dữ liệu, tài liệu tham khảo có liên quan làm cơ sở cho việc nghiên cứu
Phương pháp so sánh đối chiếu: Người viết đã so sánh hai quyển sách này để
so sánh và chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt của hai bộ sách cơ bản và nâng cao
Phương pháp tổng hợp: Từ những dữ liệu, dữ kiện số liệu của các nhà nghiên
cứu, các nguồn tài liệu, những ý kiến phản hồi của những người có quan tâm, của giáo viên và học sinh, sau đó đối chiếu với văn bản tài liệu sách giáo khoa, người viết đã phân tích để rút ra nhứng nhận định xác đáng mang tính khoa học
Từ đó, tổng hợp lại hoàn tất công trình nghiên cứu
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN
1 Mục tiêu môn học
“Văn học là nhân học”- Môn Ngữ văn là môn học nền tảng, có tác dụng quan
trọng góp phần tạo nên trình độ văn hóa cho con người Dạy và học Ngữ văn chẳng những tạo cơ sở cho học sinh học tốt các môn học khác, mà còn phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại, giáo dục tư tưởng, tình cảm cao đẹp cho công dân tương lai
Mục tiêu chung của môn Ngữ văn THPT là trên cơ sở đã đạt được của chương trình Ngữ văn THCS bồi dưỡng thêm một bước năng lực đọc hiểu các văn bản thông dụng (Văn, thơ, truyện…), năng lực viết một số văn bản thông dụng và giao tiếp bằng lời trước công chúng Đồng thời cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông về văn học dân tộc và văn học thế giới, về ngôn ngữ và tiếng việt, về lý luận văn học, lịch sử văn học và văn hóa, tạo một phần tích lũy ban đầu hình thành các năng lực đọc hiểu, viết, năng lực cảm thụ thẫm mĩ, phát triển tư duy, nắm được phương pháp học tập bộ môn, tạo thành tập quán Ngữ văn, biết tìm tòi, phát hiện, suy nghĩ, giải quyết vấn đề, làm cơ
sở cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách suốt đời
Trong quá trình dạy học, với đặc trưng riêng của mình, môn Ngữ văn hướng tới cho học sinh lòng yêu nước và tự hào dân tộc, tinh thần nhân văn, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cao thượng, thị hiếu thẩm mĩ tốt, đa dạng Đồng thời, hướng dẫn học sinh biết quan tâm tu dưỡng phẩm chất văn hóa cá nhân, hình thành cá tính lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách người lao động mới trong xã hội mới và thời đại mới
2 Quan điểm xây dựng chương trình
Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao được đưa vào giảng dạy từ năm 2006-2007 Đây là bộ sách tiếp tục thưc hiện đổi mới theo hướng tích hợp
đối với môn Ngữ văn mà các lớp dưới đã thực hiện
Đổi mới là hướng đến có một chương trình đạt chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu
của thời đại, của giáo dục Việt Nam Có thể nói nền giáo dục Việt Nam đã không ngừng nâng cao đổi mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội
Chương trình trước đây với ba phân môn, được tách thành ba cuốn sách riêng, Văn học, Tiếng Việt, Làm văn, học sinh phải học một khối lượng kiến thức ôm đồm và khá rời rạc, ít được thực hành, rèn luyện với những vấn đề cụ thể, kiến thức ít được vận dụng vào cuộc sống và xa rời thực tế Chính vì vậy mà học sinh khi học xong không thể viết một đoạn văn, một bài văn, một đơn từ…Phải chăng vì tình trạng đó, nhiều vấn đề đặt ra là phải xây dựng một chương trình như thế nào? Xây dựng chương trình cần có một quan điểm tích hợp, nhất quán, có kế hoạch, toàn diện, những mục tiêu đào tạo cụ thể của từng cấp, từng lớp, những phương pháp đào tạo, quan điểm, phương pháp đặc trưng của quá trình đào tạo người học sinh bằng công cụ văn học Tiếng việt
Hơn nữa, chương trình sách giáo khoa không phải là những tri thức mang tính hàn lâm, kinh viện, nặng nề thi cử mà phải hết sức chú ý đến sự sáng tạo, thực hành và hướng nghiệp, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, phát triển kinh tế, xã hội cũng như nhu
Trang 7cầu hiểu biết của học sinh về những vấn đề của đời sống xã hội lịch sử, văn hóa giáo dục
Hơn bao giờ hết, cái cần đạt được trong quá trình đào tạo là mục tiêu chung của giáo dục và là mục tiêu riêng của từng môn học về kỹ năng, kiến thức, tư tưởng, tình cảm một cách rõ ràng Quan trọng là giúp học sinh có đủ bãn lĩnh và niềm tin khi bước vào đời
3 Nguyên tắc xây dựng chương trình
3.1 Nguyên tắc kế thừa và phát triển
Nguyên tắc này đòi hỏi sách giáo khoa Ngữ văn phải kế thừa những thành quả
đã đạt được cũng như khắc phục những hạn chế của các bộ sách giáo khoa trước đây
(sách giáo khoa trước và trong cải cách, sách giáo khoa chỉnh lí hơp nhất năm 2000, sách giáo khoa thí điểm phân ban, sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở) Đồng thời phải biết học tập kinh nghiệm phân ban của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới
Tuy nhiên sách giáo khoa Ngữ văn mới không chỉ có kế thừa mà kế thừa song song với phát triển Trên cơ sở kế thừa ấy chương trình sẽ phát triển theo hướng mới phù hợp với xu thế của thời đại nhằm củng cố và nâng cao chất lượng giảng dạy
3.2 Nguyên tắc tích hợp
Tích hợp có nghĩa là sự kết hợp, liên kết các môn học hữu quan thành một hệ thống, nhất thể hóa, tránh sự phân tán, rời rạc nhằm tạo thành một hợp lực để hoạt
động dạy học đạt hiệu quả cao nhất Tinh thần tích hợp được thể hiện ngay môn học:
Môn Ngữ văn Đó là sự tích hợp của ba môn học trước đây là Văn học, Tiếng Việt, Làm văn Tích hợp ở đây là tích hợp tự nhiên đa chiều chứ không phải là sự lắp ghép
cơ học, hay là phép cộng số học đơn thuần Sự tích hợp này nhằm rèn luyện tư duy tổng hợp cũng như rèn luyện các kỹ năng: đọc, nói, nghe, viết cho học sinh
3.3 Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học sư phạm và thực tiễn
Chương trình sách giáo khoa là một công trình khoa học sư phạm Trước hết về mặt nội dung, những tri thức trong chương trình, sách giáo khoa phải bảo đảm tính chính xác, khoa học, hiện đại, phải phù hợp với năng lực, trình độ của học sinh
Chương trình sách giáo khoa phải đáp ứng kiến thức khái quát, kiến thức cụ thể Chương trình phải đảm bảo được tính thực tiễn Đất nước đổi mới, giáo dục càng phải
đổi mới, do vậy nội dung chương trình đào tạo cần phải gắn với thực tiễn hoàn cảnh đất nước trước mắt và lâu dài
Về mặt cấu trúc, cách sắp xếp bố trí, chương trình phải thể hiện được tính khoa học, phù hợp với quy luật và tâm lý tiếp nhận của học sinh
3.4 Nguyên tắc khắc phục tính hàn lâm giảm và giảm tải
Chương trình sách giáo khoa trước đây có nhiều tính hàn lâm ở một số bộ phận như tiếng việt có khá nhiều khái niệm mới lạ, cao siêu, khó hiểu, ít ích dụng, tạo cho học sinh cảm giác chán học Vì vậy, chương trình mới cần loại bỏ những lý thuyết nặng nề, tăng cường khâu thực hành luyện tập, áp dụng thực tế Câu hỏi và bài tập sát với nội dung bài học đi từ dễ đến khó, từ trực quan đến tư duy tạo cho học sinh sự sáng tạo, hứng thú trong học tập
Trang 8Quá tải là vấn đề mà quý phụ huynh quan tâm và phản ánh và là vần đề bức thiết của giáo dục Chính vì vậy mà khi biên soạn sách các nhà soạn sách đã chú ý đối tượng là học sinh đại trà Tuy nhiên giảm tải không có nghĩa là bỏ bớt kiến thức, không đưa thêm kiến thức mới Vấn đề là giảm cái gì đưa thêm cái gì và cách đưa như thế nào để
đáp ứng được chuẩn chương trình Cho nên sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 cơ
bản và nâng cao đã khắc phục được tính hàn lâm và giảm tải
3.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thẩm mĩ và nhân văn
Nét đặc trưng của môn Ngữ văn là giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn Chính vì vậy, cần coi trọng giá trị thẫm mĩ và tính nhân văn trong việc lựa chọn tác phẩm được chọn đưa vào chương trình và mang đậm hơi thở của thời đại, vừa phải có giá trị thẩm
mĩ và giá trị nhân văn sâu sắc
Trang 9CHƯƠNG II TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 10 TẬP 1 BỘ CƠ BẢN VÀ BỘ NÂNG CAO
I GIỚI THIỆU SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 10 TẬP 1
BỘ CƠ BẢN VÀ BỘ NÂNG CAO
1 Phân phối chương trình Ngữ văn 10 tập 1 bộ cơ bản
Cả năm học: 35 tuần-105 tiết
Học kỳ I: 3 tiết /tuần8* 18 tuần=54 tiết
Học kỳ II: 3 tiết /tuần *17 tuần=51 tiết
HỌC KỲ I
3 Tiếng việt Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
5,6 Tiếng việt -Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếp theo)
-Văn bản
7 Làm văn Bài làm văn số 1
10 Tiếng việt Văn bản (tiếp theo)
11,12 Đọc văn Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
13 Làm văn Lập dàn ý văn tự sự
14,15 Đọc văn Uy-lít-xơ trở về (trích Ô-Đi –Xơ)
16 Làm văn Trả bài viết số 1
17,18 Đọc văn Ra-ma buộc tội (trích Ra-ma-ya-na)
Trang 1019 Làm văn Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự
20,21 Làm văn Bài làm văn số 2
22,23 Đọc văn Tấm cám
24 Làm văn Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự
-Nhưng nó phải bằng hai mày
26,27 Đọc văn Ca dao than than, yêu thương tình nghĩa
28 Tiếng việt Đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
29,30 Đọc văn -Ca dao hài hước
-Đọc thêm: Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu)
31 Làm văn Luyện tập viết đoạn văn tự sự
33 Làm văn -Trả bài viết số 2
-Ra đề làm văn số 3 (học sinh làm ở nhà) 34,35 Đọc văn Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ
40,41 Đọc văn -Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
-Đọc “Tiểu Thanh Kí” (Nguyễn Du)
42 Tiếng việt Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
-Vận nước (Đỗ Pháp Nhuận)
-Cáo bệnh bảo mọi người (Mãn Giác)
-Hứng trở về (Nguyễn Trung Ngạn)
Trang 1144 Đọc văn Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng
Lăng (Lí Bạch)
45 Tiếng việt Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
46 Làm văn Trả bài viết số 3
47,48 Đọc văn -Cảm xúc mùa thu
-Đọc thêm:
+Lầu Hoàng Hạc (Thôi Hiệu) +Nỗi oán của người phòng khuê (Vương Duy) +Khe chim kêu (Vương Xương Linh)
49,50 Làm văn Bài viết số 4
51,52 Làm văn
-Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh
-Lập dàn ý bài văn thuyết minh
54 Làm văn Trả bài viết số 4
2 Phân phối chương trình Ngữ văn 10 tập 1 bộ nâng cao
Cả năm học: 35 tuần -140 tiết
Học kì I: 4 tiết/tuần *18 tuần=72 tiết
Học kì II: 4 tiết/tuần*17 tuần=68 tiết
HỌC KÌ I
3,4 Làm văn -Văn bản
-Phân biệt văn bản theo phương thức biểu đạt
7,8 Làm văn -Phân loại văn bản theo phong cách chức năng ngôn ngữ
-Luyện tập về các kiểu câu văn bản và phương thức biểu
đạt
9,10 Đọc văn Chiến thắng Mtao- Mxây (trích sử thi Đam Săn)
Đọc thêm:
-Đẻ đất đẻ nước (trích sử thi Đam Săn)
11 Làm văn Bài làm văn số 1
12 Làm văn Văn bản văn học
13,14 Đọc văn Đọc Uy-lít-xơ trở về (trích Ô-đi –xơ)
15 Làm văn Văn bản văn học (tiếp theo)
16 Làm văn Thực hành lập ý và viết đoạn văn theo những yêu cầu khác
Trang 12nhau 17,18 Đọc văn Ra-ma buộc tội (trích sử thi Ra-ma-ya-na)
19,20 Đọc văn Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy 21,22,23 Đọc văn -Tấm cám
-Đọc thêm: Chữ Đồng Tử
24 Làm văn Tóm tắt văn bản tự sự
-Tam đại con gà 26,27 Đọc văn Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu)
28 Làm văn Trả bài làm văn số 1
29,30 Đọc văn Ca dao yêu thương tình nghĩa
31,32 Làm văn Bài viết số 2
33,34 Đọc văn -Ca dao than thân
-Ca dao hài hước, châm biếm
Đọc thêm :
+ Tháng 1, tháng 2, tháng 3, tháng 4…
+Mười tay
35 Tiếng việt Luyện tập về nghĩa của từ
36 Làm văn Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu
37,38 Đọc văn Tục ngữ về đạo đức, lối sống
39 Tiếng việt Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
40 Làm văn Quan sát, thể nghiệm đời sống
41,42 Đọc văn Xúy Vân giả dại (trích vở chèo Kim Nham)
43,44 Đọc văn -Đọc- hiểu văn bản văn học
-Đọc tích lũy kiến thức 45,46 Đọc văn Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỷ XIX
48 Làm văn -Trả bài làm văn số 2
-Ra đề làm văn số 3 (học sinh làm ở nhà) 49,50,51 Đọc văn -Nỗi lòng (Đặng Dung)
-Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi)
Đọc thêm:
-Vận nước (Đỗ Pháp Thuận) -Cáo bệnh, bảo mọi người (Mãn Giác) -Hứng trở về (Nguyễn Trung Ngạn)
52 Tiếng việt Đặc điểm của văn bản nói và văn bản viết
53,54 Đọc văn -Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
-Độc “Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du) -Hứng muốn về
55 Tiếng việt Luyện tập về biện pháp tu từ
56 Làm văn Liên tưởng tưởng tượng
Trang 1357,58,59,60 Đọc văn -Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng
(Lí Bạch) -Cảm xúc mùa thu (Đỗ Phủ) -Tì bà hành (Bạch Cư Dị) -Đọc thêm:
+Nỗi oán của người phòng khuê (Vương Xương Linh) +Lầu Hoàng Hạc (Thôi Hiệu)
+Khe chim kêu (Vương Duy) 61,62 Đọc văn -Thơ Hai-kư
-Đọc thêm:
Viên Mai bàn về thơ (trích tùy Viên thi thoại) 63,64 Đọc văn -Trả bài viết số 3
-Ôn tập làm văn 65,66 Đọc văn Ôn tập văn học
67,68 Làm văn Bài làm văn số 4
69,70 Tiếng việt Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
71,72 Làm văn Viết kế hoạch cá nhân
II TƯƠNG ĐỒNG GIỮA SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP
10 TẬP 1 BỘ CƠ BẢN VÀ NÂNG CAO
1 Hình thức trình bày
Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao đều có hình
thức đẹp, mang tính khoa học, khổ lớn, đều có kích thước 17 *24, so với sách cũ kích thước 14,3 *20,3 có thẩm mĩ hơn, vì sách lớn gần như gấp đôi sách cũ Cả hai quyển sách đều có cỡ chữ vừa, dễ đọc, màu chữ phù hợp với từng tiêu đề Hình thức trình bày đẹp là một ưu thế của cả hai quyển sách Khi nhìn vào hai quyển sách, chúng ta thấy bắt mắt
Tiêu đề ở ba phần Làm văn- Tiếng việt và Đọc văn đều có cỡ chữ giống nhau,
được in đậm và có kích cỡ to hơn Bài học theo từng phần cụ thể, có cỡ chữ in nhỏ cho
học sinh học ở nhà, in đậm các ý trọng tâm Các phần kiến thức quan trọng như phần
“kết quả cần đạt” và “ghi nhớ” thì được đóng khung cẩn thận, để tạo sự chú ý và
không bị lẫn lộn với các mục khác
Cả hai quyển sách có điều đặc biệt là phần chú thích được đặt ngay dưới trang văn bản có các từ khó, hơn là trước đó đặt sau bài học, làm cho học sinh khó tiếp cận từ khó trong văn bản Bây giờ, các em sẽ có điều kiện thuận lợi hơn khi đọc và tìm hiểu các từ khó trong văn bản mà không cần phải lật sang trang khác cho đỡ mất thì giờ
Về tranh ảnh, cả hai quyển sách đều sử dụng tranh ảnh của bài học, cũng như hình ảnh của các tác giả được nói đến trong bài, để bài học thêm sinh
động Đây là một điểm mới mà sách Ngữ văn 10 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao
khác hơn các quyển sách trước đó Tranh ảnh nhiều, hình thức trình bày đẹp làm cho học sinh hứng thú hơn, thu hút hơn và sẽ chú ý hơn vào bài học Đó là việc tích cực hóa dụng cụ trực quan trong quá trình dạy học mà hai quyển sách
đã đạt được Đặc biệt, việc lựa chọn tranh ảnh minh họa hai quyển sách có ý
Trang 14nghĩa quan trọng với bài học ngoài việc tạo cho học sinh sự thích thú là tư liệu cung cấp cho bài học có đầy đủ hay không Sách giáo khoa Chỉnh lí hợp nhất 2000 hạn chế sử dụng tranh ảnh minh họa Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 có sử dụng hình ảnh minh họa cho bài học, để đảm bảo tính trực quan sinh động cho bài dạy và học
2 Nội dung
2.1 Đọc văn
2.1.1 Mục tiêu môn học
“Văn học (đọc văn) là phần lớn nhất, gồm những văn bản đọc chính thức
và văn bản đọc thêm Những văn bản này được chọn trong kho tàng văn học dân tộc và nhân loại Đọc –hiểu văn bản là một việc khó, nhất là các văn bản văn học Vì thế phải học đọc văn thì mới hiểu được văn một cách chính xác sâu sắc.”[10;3]
Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và nâng cao có những đổi mới đáng kể so với sách giáo khoa Ngữ văn trước đó, cả hai quyển sách đều có chung mục tiêu môn học là việc hướng đến chất lượng đào tạo và giáo dục
Phần đọc văn có vai trò rất quan trọng trong việc học văn của học sinh
Phần đọc văn ở bộ sách Ngữ văn cơ bản và nâng cao đều cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại về văn học dân tộc và văn học thế giới để học sinh có cái nhìn toàn diện về nền văn học mà trọng tâm là các tác phẩm văn học đặc trưng cho thể loại văn học Trong quá trình đọc văn, học sinh được bồi dưỡng, nâng cao nâng lực đọc hiểu, biết lý giải các vấn đề của cuộc sống một cách thấu đáo, sâu sắc Hơn nữa học sinh được bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và lòng yêu nước, tinh thần nhân văn, thị hiếu thẫm mĩ, phẩm chất văn hóa cá nhân, và nhân cách người lao động mới
Theo giáo sư Trần Đình Sử: “Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc,
kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc hiểu bất cứ văn bản cùng loại Từ đọc hiểu văn bản mà cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng, có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẫm mĩ
Muốn quốc gia mạnh thì phải biến đổi xã hội của quốc gia đó thành một xã hội đọc, mà muốn hình thành một xã hội đọc thì ngay từ khi trên ghế nhà trường, nhà trường phải đào tạo mỗi học sinh thành một người đích thực, đọc chủ động, đọc sáng tạo, chứ không phải đào tạo một xã hội người đọc a dua, quen ăn theo nói leo một số người nào đó”.[10;5]
Học đọc văn là rèn luyện kỹ năng cho học sinh, bởi lẽ kỹ năng đọc là hoạt
động cơ bản, thường xuyên trong bốn kỹ năng đọc, viết, nghe, nói Từ kỹ năng
nói mà rèn luyện các kỹ năng khác, và kỹ năng này yêu cầu đặt ra ngày càng cao, để phù hợp với mục tiêu giáo dục và sự phát triển của xã hội Đọc không chỉ là đọc mà phải đọc nhanh, đọc chính xác văn bản, hiểu được nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của văn bản cũng như tư tưởng của tác giả Đọc có nghĩa là đọc thẫm mĩ để thấy được cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương
về phương diện ngôn từ, hình tượng, tư tưởng,…từ đó biết rung động trước vẻ
đẹp của tác phẩm, lúc đó người đọc đồng sáng tạo cùng tác giả Không chỉ
vậy, độc giả phải biết lý giải văn bản theo cách suy nghĩ của riêng mình một cách loigic và hợp lý, có khả năng vận dụng văn bản sáng tạo Đặc biệt là cả
Trang 15hai quyển sách đều chú trọng hình thành và phát triển ở học sinh năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống, với phương pháp riêng có hiệu quả nhất cũng như khả năng tự học là điều mà hai quyển sách đạt được
2.1.2 Cấu trúc
Phần đọc văn trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao gồm: Văn học việt nam và văn học nước ngoài
Văn học Việt Nam: gồm có văn học dân gian và và văn học trung đại Văn học
Việt Nam chiếm dung lượng lớn và sắp xếp theo tiến trình lịch sử từ thế kỉ X đến thế
kỉ XIX Trong đó phần văn học dân gian được sắp xếp theo tiến trình lịch sử kết hợp với cụm thể loại, phần văn học trung đại được sắp xếp theo tiến trình lịch sử văn học Việc sắp xếp như vậy giúp học sinh và giáo viên dễ dàng tiếp cận khi hiểu, phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại Bên cạnh văn bản học chính thức là các văn bản đọc thêm được phân bố xen kẽ Văn bản đọc thêm hạn chế trùng thể loại với văn bản chính
thức mà có khi còn đại diện cho một thể loại mới như “Xúy Vân giả daị” đại diện cho
thể loại chèo cổ có giá trị rất lớn về nghệ thuật
Văn học nước ngoài: Văn học nước ngoài gồm có các bài: “Tại lầu Hoàng Hạc
tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng”; “Cảm xúc mùa thu”; “Lầu Hoàng Hạc”;
“Nỗi oán của người phòng khuê” ; “Khe chim kêu”
Chương trình Ngữ văn 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao chủ yếu sắp xếp theo thể loại và các thời kì văn học lớn Trong các thời kì văn học lớn, các tác phẩm
được xếp theo cụm thể loại-“nhân vật chính” của lịch sử văn học dân tộc Đây
là thời kỳ văn học sơ khai với nền văn học dân gian gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của người dân và thời kì văn học trung đại với các tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Các thể loại đặc trưng của văn học dân gian như: Sử thi, truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích, tục ngữ,
ca dao, dân ca, vè,…Sử thi với bài “Chiến thắng Mtao Mxây” trích “Sử thi
Đăm săn”, truyền thuyết cả hai quyển sách đều lấy tác phẩm “Truyện An
Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”, truyện cổ tích thì có “Tam đại con gà” và “Nó phải bằng hai mày”…… Các thể loại tiêu biểu của văn học trung
đại như: Thơ Đường luật, thơ ngũ ngôn…Thơ đường luật có các bài như
“Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, “Đọc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn
Du Chương trình Ngữ văn bộ cơ bản và nâng cao đều chú ý sắp xếp theo cụm thể loại với trục lịch sử văn học đã làm nổi bật sự phát triển của văn học cũng chính là sự phát triển của thể loại văn học Ngoài ra việc sắp xếp theo cụm thể loại có thể giúp học sinh dễ dàng nắm bắt được đặc trưng của các kiểu văn bản, để có cách tiếp cận và vận dụng vào học tập, cũng như trong cuộc sống
Mở đầu là bài khái quát “Tổng quan văn học Việt Nam”, sau đó là kết thúc với
thơ Hai-cư của Nhật Bản Chính vì vậy một số tác phẩm được học trước khi
học bài tác gia ví dụ như “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi lại được học trước tác gia Nguyễn Trãi, bài “Đọc Tiểu Thanh Kí” của Nguyễn Du lại được học
trước tác gia Nguyễn Du Văn học giai đoạn này phát triển khá toàn diện từ hình thức đến nội dung, các thể loại khá phong phú
2.1.2.2 Cấu trúc bài học:
Trang 16Cả hai bộ sách Ngữ văn cơ bản và sách Ngữ văn nâng cao có cấu trúc
bài học giống nhau ở chỗ là nếu trước đây có 3 phần như: tiểu dẫn, văn bản,
hướng dẫn học bài thì ở Ngữ văn 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao gồm có 6
phần là kết quả cần đạt, tiểu dẫn, văn bản, hướng dẫn học bài, ghi nhớ, luyện
tập đối với sách cơ bản, phần tri thức đọc hiểu và bài tập nghiên cứu đối với
sách nâng cao Tuy nhiên hai bộ sách giống nhau chỉ có ba phần:
Tên văn bản và tên tác giả: nêu tên văn bản đọc hiểu và tên tác giả bên dưới Nếu
là văn bản dịch thì ghi rõ tên dịch, sau đó nêu tên nguyên văn, nếu là văn bản trích thì
có phần chú thích ở dưới
Ví dụ như bài “Đọc Tiểu Thanh kí” thì ngang bên trái là tên tác giả Nguyễn Du, bên dưới là “Độc Tiểu Thanh Kí”- nguyên văn của tên tác phẩm
Yêu cầu cần đạt: Nêu lên những yêu cầu mà học sinh phải nắm về kiến thức, kỹ
năng tư tưởng tình cảm thông qua bài học
Ví dụ như bài “Đọc Tiểu Thanh kí”:
Hiểu được Tiểu Thanh thuộc kiểu những người phụ nữ tài sắc, bất hạnh mà Nguyễn Du đặc biệt quan tâm trong sáng tác của mình
Hiểu được sự đồng cảm của Nguyễn Du với số phận của nàng Tiểu Thanh có tài năng văn chương mà bất hạnh
Tiểu dẫn: Nêu ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của tác giả, các tác
phẩm chính và năm ra đời Nếu văn bản là đoạn trích thì tiểu dẫn sẽ nêu xuất xứ, thời gian sáng tác của tác phẩm, tóm tắt nội dung tác phẩm một cách ngắn gọn và nêu vị trí của đoạn trích
Văn bản: Cung cấp cho học sinh văn bản đọc hiểu và cả phần chú thích những từ
khó trong bài học Ở phần văn bản, cả hai bộ sách đều dùng chung tác phẩm cũng như tác phẩm dịch nghĩa và dịch thơ Đó là sự thống nhất hướng đến chuẩn kiến thức, dù là
cơ bản hay nâng cao đề giúp học sinh có cách hiểu như nhau về bai học về tác giả, tác phẩm
Văn bản chữ Hán của hai bộ sách đều lấy văn bản gốc, nếu tác phẩm trích thì có sự chú thích trích ở đâu và nguồn của nó
Nếu văn bản là chữ Hán thì có những phần sau:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư
Bách tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
Sau đó là phần dịch nghĩa:
“Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi
Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước của sổ
Trang 17Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết
Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở
Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được
Ta tự coi như cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã
Không biết hơn ba trăm năm sau
Thiên hạ ai người khóc Tố Như”
Tiếp đó là văn bản dịch thơ:
“Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?”
Hướng dẫn học bài: Gồm những câu hỏi có tính chất hệ thống hướng dẫn học sinh
cách đọc, hiểu văn bản, phân tích những vấn đề về nội dung và nghệ thuật
Ví dụ như phần hướng dẫn học bài của bài: “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du ở bộ
Ở bộ nâng cao cũng trong bài này có phần câu hỏi hướng dẫn học bài:
“Đọc chú thích tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của một số từ ngữ: “cảnh đẹp”,
“son phấn”, “phong vận” Đối chiếu bản dịch thơ và bản dịch nghĩa
Nỗi xót thương của nhà thơ trước số phận của nàng Tiểu Thanh được thể hiện như thế nào qua hai câu mở đầu?
Với hai câu thơ cuối của bài thơ, tác giả đã thể hiện tâm sự của mình như thế nào khi tự coi mình là kẻ cùng hội cùng thuyền với con người phong vận mắc nỗi oan “lạ lùng” ấy?
Học thuộc bản phiên âm và bản dịch thơ”
Qua phần hướng dẫn học bài của hai bộ sách ta thấy được sự định hướng và củng cố bài học cho học sinh ở hai ban đều giúp học sinh nắm chắc bài và vững vàng về kiến thức đã học hơn
2.1.3 Nội dung
2.1.3.1 Phần văn học Việt Nam
2.1.3.1.1 Văn học dân gian
Cấu trúc chương trình:
Văn học dân gian là những sáng tác đầu tiên của cha ông ta, đó ví như những viên ngọc lung linh ngời sáng qua thời gian trong vườn hoa văn học dân tộc Văn học ra đời từ rất lâu, có giá trị to lớn về nhận thức giáo dục, tư tưởng, thẫm mĩ về truyền thống dân tộc cũng như sinh hoạt cộng đồng của cha ông ta
Trang 18Nhìn chung về cấu trúc chương trình, phần văn học dân gian trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao có những điểm giống nhau Mở đầu chương trình vẫn là bài khái quát Bài học này cả bộ cơ bản và
bộ nâng cao đều hướng đến mục đích cung cấp cho học sinh cái nhìn khái quát, toàn diện về văn học dân tộc qua các thời kì văn học, cũng như các đặc trưng truyền thống quý báu của dân tộc trong suốt quá trình hình thành, phát
triển “Nền văn học Việt Nam, từ văn học văn gian tới văn học viết, từ sáng tác
của các dân tộc thiểu số đến tác phẩm của người Kinh, trong quá trình lịch sử, luôn luôn gắn bó chặt chẽ với vận mệnh đất nước, vận mệnh nhân dân và thân phận con người Quá trình phát triển của nó cũng là quá trình ngày càng được dân chủ hóa, hiện đại hóa, đồng thời luôn giữ gìn và phát huy bản sắc riêng của dân tộc Bản sắc ấy là của Việt Nam nhưng cũng là của nhân loại Có thể xem đó là màu sắc Việt Nam góp phần tô điểm cho bức tranh chung của văn chương các dân tộc trên thế giới” [13; ii]
Sau bài khái quát, các bài học ở hai bộ sách được sắp xếp theo lịch sử thể loại
và các văn bản chính thức ở hai văn bản là giống nhau Để thấy rõ sự đồng nhất này ở phần văn học dân gian, người viết đã thống kê những tác phẩm như sau:
Thể loại Tên bài
Sử thi Chiến thắng Mtao-Mxây (trích sử thi Đăm săn )
Truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy
Truyện cổ tích Tấm cám
Truyện cười -Tam đại con gà
-Nhưng nó phải bằng hai mày
Truyện thơ Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu)
Ca dao, dân ca -Ca dao than than, yêu thương tình nghĩa
-Ca dao hài hước
Ở hai bộ nâng cao và cơ bản học sinh đều được học những văn bản
giống nhau và mỗi văn bản là đặc trưng cho thể loại văn học: Tự sự dân gian
với “Sử thi Đăm san”, truyền thuyết với “An Dương Vương và Mị Châu-
Trọng Thủy”, truyện cổ tích với “Tấm Cám”, truyện cười với “Tam đại con gà
và nó phải bằng hai mày”, truyện thơ với “Lời tiễn dặn” trích “Tiễn dặn người yêu”, trữ tình dân gian với “Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa, ca dao
hài hước”
Dù là bộ nâng cao hay cơ bản thì chuẩn kiến thức ở chương trình Ngữ văn lớp 10 tập 1 vẫn tương đồng Chương trình nâng cao với phần văn học dân gian vẫn dựa trên cơ sở chương trình và sách giáo khoa cơ bản, chương trình chuẩn nên ta thấy được sự thống nhất về văn bản cũng như quan điểm chung
và nội dung giảng dạy Qua những số liệu trên ta thấy chương trình sách giáo khoa cả bộ cơ bản và bộ nâng cao đều có sự ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo nội dung kiến thức một cách đầy đủ
Trang 19Một điều nhận thấy rằng cả sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao phần văn học dân gian có sự đồng nhất về phần bài học, có nghĩa là trong phần tiểu dẫn, có sự giới thiệu sơ lược về về thể loại cho học sinh nắm, trong khi đó các sách trước chỉ đưa ra bài học cụ thể, riêng biệt mà thôi
Ví dụ như ở bộ sách cơ bản ở bài “Chiến thắng Mtao-Mxây (trích sử thi Đăm
San) trong phần tiểu dẫn trang 30 có giới thiệu sơ lược về sử thi: “Các dân tộc thiểu số nước ta hiện nay còn giữ được một kho tàng sử thi dân gian đồ sộ, có giá trị Có hai loại sử thi dân gian: sử thi thần thoại như Đẻ đất đẻ nước (Mnông) Ẩm ệt uông (Thái), Cây nêu thần (Mnông)…kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sự hình thành các dân tộc và các vùng cư trú cổ
đại của họ, sự xuất hiện nền văn minh buổi đầu; sử thi anh hùng như Đăm
San, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú (Êđê), đăm Nhi (Ba-na)…kể về cuộc đời và
sự nghiệp của các tù trưởng anh hùng, trong các loại này, sử thi Đăm San
được biết đến rộng rãi hơn cả”
Còn ở bộ sách nâng cao cũng giới thiệu về sử thi như sau: “Ở Việt Nam
có hai loại sử thi dân gian là sử thi thần thoại và sử thi anh hùng Sử thi thần thoại có hầu hết các đề tài chính của thần thoại như sự hình thành vũ trụ, sự
ra đời của muôn loài, nguồn gốc dân tộc, sự sáng tạo văn hóa,… sử thi anh hùng miêu tả sự nghiệp chiến công của người anh hùng trong khung cảnh những sự kiện lớn có ý nghĩa quan trọng đối với toàn thể cộng đồng”
Nội dung:
Thấy được khá đầy đủ diện mạo văn học dân gian, sách Ngữ văn 10 tập 1 trình bày nhiều thể loại văn học dân gian hơn so với sách Văn học 10 Những văn bản, những trích đoạn ở sách giáo khoa Ngữ văn 10 tiêu biểu cho đặc trưng thể
loại (Truyện An Dương Vương và Mị nương-Trọng Thủy tiêu biểu cho thể loại
truyền thuyết, Tấm Cám tiêu biểu cho thể loại cổ tích, trích đoạn Chiến thắng Mtao-Mxây trong Đăm Săn tiêu biểu cho thể loại sử thi…)
Điều này cho thấy sách giáo khoa Ngữ văn cả bộ cơ bản và bộ nâng cao ngắn
gọn nhưng vẫn thể hiện đầy đủ nội dung, kiến thức cho học sinh
Điều đáng chú ý ở đây là cả hai bộ sách được biên soạn theo chương trình mới được xếp theo đặc trưng thể loại đã cho ta thấy được những giá trị cơ bản của
văn học dân gian, đó là nội dung phản ánh và tác dụng giáo dục của văn học
dân gian trên hai bình diện yêu nước và nhân đạo Đất nước ta trãi qua quá trình dựng nước và giữ nước bền bỉ, tình yêu nước đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong cuộc sống con người và trong văn học Song song bên lòng yêu nước là lòng nhân đạo yêu thương con người và bên vực con người Chính
vì vậy, văn học dân gian như tiếng đồng vọng của cha ông qua năm tháng Hơn nữa, văn học dân gian là kho tàng lưu giữ tâm hồn dân tộc hết sức phong
phú: quan hệ cá nhân và cộng đồng (Chiến thắng Mtao Mxây, truyện An
Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy) yêu thương và căm giận, khát vọng
và đấu tranh (truyện Tấm Cám), tiếng hát than thân và tiếng cười lạc quan (ca
dao than thân, yêu thương, tình nghĩa, ca dao hài hước, truyện cười…)
Văn học dân gian là kho tri thức thuộc đủ mọi lĩnh vực đời sống tự nhiên, xã hội con người, qua đó thể hiện tình cảm của minh
Ví dụ như ở bộ sách cơ bản ca dao gắn bó với đời sống tình cảm con người:
Trang 20“Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu nghìn ngày mới xa”
Còn ở bộ sách nâng cao có nét độc đáo:
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa”
Con người sống tình nghĩa và giàu nhân ái, khi đưa những bài này vào sách giáo khoa, người biên soạn đã cho ta cái nhìn toàn diện hơn về đời sống dân tộc qua văn học dân gian
2.1.3.1.2 Văn học trung đại:
và nhân đạo Sách giáo khoa Ngữ văn bộ cơ bản và bộ nâng cao về cơ bản có
sự tương đồng cả về nội dung và cấu trúc chương trình
Cấu trúc chương trình:
Cả hai chương trình đều lấy mốc thời gian là từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX
Văn học trung đại Việt Nam được phân chia thành bốn giai đoạn, cả hai bộ
sách cơ bản và nâng cao đều thống nhất cách phân chia này Để thấy rõ việc thống nhất người viết thống kê bảng phân chia sau:
Giai đoạn Sách Ngữ văn 10 bộ
đầu thế kỉ XIX
Cuối thế kỉ XVIII-Nửa đầu thế kỉ XIX
Thế kỉ XVIII- Nửa
đầu thế kỉ XIX
IV Cuối thế kỉ XIX Cuối thế kỉ XIX Cuối thế kỉ XIX
Việc phân chia giai đoạn văn học trung đại Việt Nam ở sách Ngữ văn 10
bộ cơ bản và bộ nâng cao có sự giống nhau, nhưng cả hai bộ sách này khác với sách Văn học 10 Sách văn học 10 chia thành bốn giai đoạn là căn cứ đặc điểm lịch sử, xã hội của văn học Sách Ngữ văn 10 bộ cơ bản và bộ nâng cao chia thành bốn giai đoạn lớn, có mốc thời gian khác với sách văn học 10, với cơ sở khoa học là dựa vào sự phát triển nội tại của văn học trung đại Việt Nam, mà
rõ nét nhất là phát triển về tư duy văn học, về nội dung, thể loại, ngôn ngữ văn học
Văn học trung đại Việt Nam được chia thành bốn giai đoạn theo tiến trình lịch sử và các văn bản tác phẩm được sắp xếp theo cụm thể loại:
Trữ tình: thơ, phú, ngâm khúc
Trang 21Nghị luận: cáo, tựa, văn, bia
Tự sự: sử kí, truyện văn xuôi, truyện thơ Nôm
Riêng ở học kì 1 chỉ có thể thơ Đường luật, thể thơ tứ tuyệt, thể thơ ngũ ngôn Nhìn chung nội dung kiến thức trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 10 bộ cơ bản và bộ nâng cao được trình bày theo hệ thống thể loại, kết hợp với tiến trình lịch sử văn học ở chương trình và sách giáo khoa trung học cơ sở, các bài học hoàn toàn sắp xếp theo kiểu văn bản Sách giáo khoa Ngữ văn 10 vẫn phân kì lịch sử văn học nhưng trong từng giai đoạn văn học các tác phẩm được sắp xếp theo từng thể loại Cách cấu trúc chương trình mà sách giáo khoa Ngữ văn 10 có những ưu điểm là làm nổi bật đặc trưng của kiểu văn bản, từ đó giúp người học tiếp cận khai thác văn bản và nhất là cách vận dụng văn bản Sách giáo khoa Ngữ văn bộ cơ bản và bộ nâng cao đều lấy trọng tâm là tri thức về tác phẩm, về thể loại văn học chứ không trang bị nhiều tri thức về lịch sử văn học Tri thức lịch sử văn học sẽ được đi sâu ở bậc học cao hơn hoặc ở lĩnh vực chuyên ngành
Do việc sắp xếp tác phẩm theo thể loại trong từng giai đoạn văn học nên
có những tác phẩm trước ở lớp 10 nay chuyển sang lớp 11 (Như thơ Hồ Xuân Hương) hoặc tác phẩm của tác giả sau có khi được lên giảng trước (ví dụ bài
Đọc Tiểu Thanh kí được giảng trước tác giả Nguyễn Du)
Nội dung:
Phạm Ngũ Lão Tỏ lòng (Thuật hoài)
Nguyễn Trãi Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới, bài 43)
Pháp Thuận Quốc tộ (Vận nước)
Mãn Giác Cáo bệnh bảo mọi người (Cáo tật thị chúng)
Nguyễn Trung Ngạn Hứng trở về (Quy hứng)
Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhàn
Nguyễn Du Đọc “Tiểu Thanh kí”
Nhìn vào bảng thống kê, ta thấy được bộ sách cơ bản và bộ nâng cao đều
dạy chung một số tác phẩm như “Tỏ lòng”, “Cảnh ngày hè”, “Quốc tộ”,
“Cáo bệnh bảo mọi người”, “Hứng trở về, Nhàn”, “Đọc Tiểu Thanh kí” Bên
cạnh đó sách giáo khoa Ngữ văn 10 bộ cơ bản và bộ nâng cao đưa thêm một số
kiểu văn bản, một số tác phẩm mới, trích đoạn mới như “Quy Hứng”, “Quốc
tộ” Đây là những tác phẩm của những nhà văn lớn có giá trị trong nền văn
học như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mãn Giác thiền sư,…Qua những tác phẩm đã học cung cấp tri thức về cuộc sống và tác giả cũng như nhân cách cao đẹp của các nhà văn trong cuộc sống hướng đến cái cao đẹp trong cuộc sống Sách ngữ văn 10 tăng thêm một số lượng đáng kể những văn bản nghị luận, trong đó có cả nghị luận xã hội và nghị luận văn học, coi trọng đúng mức nhưng tác phẩm văn học chính luận, những tác phẩm có màu sắc học thuật để tăng cường, tô đậm bản chất văn hóa của văn học
Trang 222.1.3.1.3 Văn học nước ngoài:
Về cơ bản văn học Việt Nam là trục chính, xoay quanh trục văn học Việt Nam là trục văn học nước ngoài, văn học nước ngoài bố trí song song với văn học Việt Nam để tạo điều kiện và cơ sở để đối chiếu so sánh trên cùng một thể loại trong nước và ngoài nước và từ đó nắm vững thể loại đó cũng như thấy
được giá trị của tác phẩm văn học của nước nhà so với thế giới
Thơ Đường -Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng ( Lí Bạch) -Thu hứng (Đỗ Phủ)
thì “học người để hiểu mình”, không thể đánh giá đúng bản sắc, giá trị, vị thế
của văn học dân tộc nếu không đặt nó trong bối cảnh rộng lớn hơn của văn học thế giới
Cả hai bộ sách cơ bản và bộ nâng cao đều dạy chung một số tác phẩm
như “Uy-lít-xơ trở về”, “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng
Lăng”, “Cảm xúc mùa thu”, “Thơ Hai cư”, “Lầu Hoàng Hạc”, “Nỗi oán của người phòng khuê”, “Khe chim kêu” Đây là những tác phẩm tiêu biểu cho
từng bộ phận văn học nước ngoài của các nước trong phần văn học nước ngoài
đưa vào giảng dạy trong chương trình Đây cũng là những tác phẩm được chọn
lọc của các tác giả nổi tiếng trên thế giới
Xét cụ thể, nội dung chương trình văn học nước ngoài của sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 cơ bản và nâng cao đều có sự thay đổi về cơ cấu tác giả theo các nền văn học, đó là việc chưa giảng Sếch-xpia (văn học Anh) ở lớp 10 mà thay vào đó là đọc thêm Ba-Sô (văn học Nhật) Vậy là ở lớp 10 giới thiệu một nền văn học châu Âu (Hi Lạp) và ba nền văn học châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản)
Thay đổi đó kéo theo một thay đổi về cơ cấu thể loại, đó là chương trình văn học nước ngoài lớp 10 chỉ tập trung vào ba thể loại (thay vì bốn như trước
đây), đó là sử thi, thơ, tiểu thuyết mà chương trình học kì I không có tiểu
Trang 23thuyết Sử thi thì có “Ra-Ma-Ya-Na”, thơ thì có “Lầu Hoàng Hạc”, “Thu
hứng”… Tuy nhiên, trong thể loại thơ thì lần đầu tiên bên cạnh thơ Đường khá
quen thuộc có giới thiệu thêm thơ Hai-Cư, thể thơ độc đáo của Nhật Bản Những thay đổi nhỏ của chương trình trong lựa chọn tác giả tác phẩm, trích
đoạn cụ thể: Ví dụ như sách giáo khoa bộ cơ bản và bộ nâng cao đều lược bỏ
một số tác phẩm như:
-Sử thi “Ô-Đi-Xê”
-Sử thi “Ra-Ma-Ya-Na”
-“Đăng cao” của Đỗ Phủ
-Giới thiệu về “tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và tiểu thuyết của La
Quán Trung”
-Văn học phục hưng Anh và các tác phẩm của Sếch-xpia
Sự thay đổi đó không có gì quan trọng lắm khi thay vào đó một số tác phẩm khác khi cân nhắc cả tính tiêu biểu của tác giả, tính đại diện về đề tài lẫn sự phù hợp của dung lượng tác phẩm với thời gian lên lớp học thời gian tự học…Vì tất cả đều là những tác giả và tác phẩm nổi tiếng
Như vậy, chương trình văn học nước ngoài ở bộ cơ bản và bộ nâng cao, một mặt tăng tính hấp dẫn vì học sinh được làm quen thêm với thể thơ Hai-cư,
vì đây cũng là vấn đề thu hút sư chú ý của nhiều người trên thế giới trong nền văn học Nhật Bản, một nước khá gần gũi với Việt Nam về địa lí, lịch sử, văn hóa, một nước giỏi kết hợp sức mạnh của tinh thần dân tộc và kĩ thuật phương Tây để có những tăng trưởng thần kì trong thời hiện đại Nhưng mặt khác, cả chương trình cơ bản và nâng cao đều gây khó khăn cho học sinh và giáo viên,
vì nhiều người chưa học văn học Nhật cũng như tài liệu giới thiệu và nghiên cứu văn học Nhật Bản nói chung và thể thơ hai cư nói riêng còn rất ít Muốn hiểu được thể loại này một cách thấu đáo cả giáo viên và học sinh đều cần có vốn sống và tiếp cận nhiều tài liệu nghiên cứu
Chương trình Ngữ văn lớp 10 bộ cơ bản và bộ năng cao điều có sự kế thừa văn học Hi Lạp, văn học Ấn Độ, văn học Trung Quốc với một số thể loại tiêu biểu sử thi, thơ Đường Ở mọi thể loại đều có những tác phẩm nhiều người
biết đến như “Ô-đi-xê”, “Ra-Ma-Ya-Na”…các tác giả tiêu biểu Thôi Hiệu,
Vương Xương Linh, Vương Duy,…
Đổi mới quan trọng của sách giáo khoa Ngữ văn 10 là về phương pháp, trên nguyên tắc nâng cao tính hiện đại, tính hành dụng và tính tích cực hóa việc học tập của học sinh Nỗ lực đổi mới phương pháp được quán triệt sâu sắc trong phần văn học nước ngoài so với giảng dạy văn học Việt Nam
Khi giới thiệu một nền văn học nước ngoài qua một tác giả hoặc tác phẩm tiêu biểu nào đó, sách giáo khoa mới chỉ có một tiểu dẫn hết sức vắn tắt đôi nét
cơ bản nhất về thời đại, cuộc đời và sự nghiệp tác giả hoặc đề tài, chủ đề,…của tác phẩm, sau đó tập trung vào phần cơ bản nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm hoặc đoạn trích cụ thể Không có những bài văn học sử mà chỉ có những bài phân tích tác phẩm văn chương Tất nhiên, qua tác phẩm cụ thể cuối cùng học sinh hiểu về tác giả, hiểu về một nền văn học Tác phẩm được học sinh hiểu theo cách dẫn dắt quy nạp hơn là diễn dịch Ở đây có khả năng mở rộng hơn địa hạt cho suy nghĩ chủ động, tích cực sáng tạo cho học sinh
Ví dụ như tác phẩm “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng
Lăng” của Lí Bạch cả hai bộ sách nâng cao và cơ bản đều giới thiệu về tác giả
Trang 24tác phẩm, đưa ra các văn bản nguyên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, và tổng hợp lại
là câu hỏi hướng dẫn học bài
Nguyên âm:
“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu”
Dịch nghĩa:
Ngoái về phía tây, bạn cũ giả từ lầu Hoàng Hạc
Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba mùa hoa nở rộ
Bóng cánh buồm lẻ loi xa mất hút vào khoảng không xanh biếc
Chỉ thấy sông Trường Giang chảy ở bên trời”
Dịch thơ:
Bạn từ lầu Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời”
Câu hỏi hướng dẫn học bài ở bộ nâng cao như:
được và những chỗ chưa đạt
• Hai câu thơ đầu có phải chỉ tả cảnh hoặc tường thuật sự việc thuần túy không? Đọc kĩ các chú thích và phân tích ý nghĩa của từ “cố nhân” và cụm từ giã từ lầu Hoàng Hạc”( từ Hoàng Hạc Lâu)
• Hai câu thơ sau là tả cảnh hay tả tình? Tự đặt ở vị trí tác giả để lý giải vấn đề, chú ý giá trị biểu cảm của các từ: “lẻ loi”(cô), “bóng cánh buồm”…xa xa (phàm viễn ảnh), “mất hút” (tận), “chỉ thấy” (duy kiến)
• Học thuộc lòng bản phiên âm và dịch thơ
Hơn nữa, nếu trước đây ta quen gọi “giảng văn”, nghĩa là việc nhấn
mạnh việc giáo viên giảng, bình giúp học sinh hiểu cái hay, cái đẹp của tác phẩm thì giờ đây, trọng tâm được chuyển qua hoạt động của học sinh, giáo
viên hướng dẫn học sinh đọc- hiểu tác phẩm văn chương Tất nhiên, “đọc
hiểu” ở đây không dùng ở mức ngữ nghĩa thông tin của văn bản như yêu cầu
của phân môn này trong các giờ học ngoại ngữ, đọc-hiểu văn chương là cảm thụ, đánh giá được những giá trị Chân-Thiện-Mĩ của tác phẩm…Dạy đọc-hiểu quan trọng hơn giảng cho hiểu Vì học sinh sẽ còn tiếp tục đọc văn chương sau khi tốt nghiệp phổ thông, và sẽ tiếp xúc với nhiều tác phẩm mới hết sức phong phú, đa dạng
Do đó, sách giáo khoa mới đã cấu trúc chương trình văn học nước ngoài trên cơ sở kết hợp trục lịch sử văn học và trục thể loại Học sinh sẽ hiểu rằng cách đọc-hiểu một tác phẩm sử thi khác cách đọc hiểu thơ, tức tác phẩm trữ tình…rồi tiếp tục là cùng tiểu thuyết, thơ thì cách đọc hiểu tiểu thuyết, thơ trung đại khác cách đọc-hiểu tiểu thuyết thơ hiện đại
Đọc hiểu văn học nước ngoài qua bản dịch học sinh cũng phải hiểu những
thành tố trong tác phẩm nguyên bản về cơ bản chuyển được trong bản dịch và những thành tố rất khó không thể chuyển tải qua bản dịch để từ đó phân tích cho đúng Đặc biệt là các tác phẩm thơ, điều này cần lưu ý Trong khá nhiều bài thơ Đường, sách giáo khoa mới cung cấp hai bản dịch thơ khác nhau của
cùng một tác phẩm gốc (“Hoàng Hạc lâu”-Thôi Hiệu qua bản dịch của Tản Đà
Trang 25và Khương Hữu Dụng, “Khuê oán”-Vương Xương Linh qua bản dịch của Tản
Đà và Nguyễn Khắc Phi, “Điểu minh giản”-Vương Duy qua bản dịch của Ngô
Tất Tố và Tương Như) cũng như đặt câu hỏi yêu cầu đối chiếu bản dịch thơ
đối với bản phiên âm và bản dịch nghĩa (bản dịch của Nguyễn Công Trứ đối
với bài Thu hứng của Đỗ Phủ), Cũng như ở ví dụ trong bài “Tại lầu Hoàng
Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng”, câu hỏi cuối cùng yêu cầu học
sinh học thuộc bài thơ, cũng như đối chiếu văn bản gốc và văn bản dịch Giáo viên gợi cho học sinh phân tích những cố gắng, thành công, hạn chế riêng của từng dịch giả để hiểu sâu hơn tác phẩm gốc cũng như thấy rằng mỗi bản dịch
có thể xem như phản ánh một cách cảm nhận
Trong hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh đọc-hiểu, sách giáo khoa bộ
cơ bản và bộ nâng cao chú ý tích hợp ba phân môn của Ngữ văn là Văn học, Tiếng việt và Làm văn Kiến thức về các biện pháp tu từ về các loại văn tự sự, miêu tả, biểu cảm,…mà học sinh học trong phần Tiếng Việt, làm văn được huy
động để hiểu các tác phẩm nước ngoài Ví dụ: các câu hỏi để học sinh tìm hiểu
sự chọn chi tiết tiêu biểu, cách kể chuyện, cách miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự, đặc điểm ngôn ngữ đối thoại, các biện pháp tu từ như so sánh, phóng đại,…Trong các sử thi Ấn Độ, Hi Lạp, thơ Đường tiểu thuyết Minh Thanh, thơ Hai-Kư cũng như ngược lại những câu thơ, đoạn thơ trong tác phẩm văn học nước ngoài được dùng như ngữ liệu cho phân tích và thực hành các kiến thức Tiếng việt và Làm văn (ví dụ các bài lấy từ bài giới thiệu thơ Hai-cư trong giờ dạy về văn bản thuyết minh,…)
Nhìn chung ở phần văn học nước ngoài cả bộ sách cơ bản và nâng cao
đều thống nhất ở tác phẩm được dạy cũng như yêu cầu, cách tiếp cận tác phẩm
văn học nước ngoài trên cơ sở chuẩn kiến thức, để học sinh thấy được diện mạo của văn học Việt Nam trong mối quan hệ với văn học nước ngoài Trên
cơ sở chương trình theo cấu trúc thể loại, học sinh có cái nhìn tổng quát và đầy
đủ nhất các tác phẩm theo thể loại và biết so sánh các tác phẩm văn học trong
Một là, hình thành một số kiến thức về ngôn ngữ nói chung về Tiếng Việt
nói riêng Trên cơ sở những kiến thức đã có ở trung học cơ sở, sách Ngữ văn
10 nhằm hình thành và nâng cao những kiến thức về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, về sản phẩm của hoạt động giao tiếp là văn bản, về đặc điểm của hai dạng ngôn ngữ trong giao tiếp là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, và về những yêu cầu đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Từ đó đi đến những kiến thức về hai phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Sách cũng giúp cho học sinh tìm hiểu về lịch sử của Tiếng Việt và chữ viết của Tiếng Việt để phối hợp với những kiến thức về lịch sử văn học Việt Nam
Hai là, nâng cao kĩ năng Tiếng việt khi nói, khi viết, và năng lực phân tích,
lĩnh hội văn bản khi nghe, khi đọc Những kĩ năng này được luyện tập, củng cố
và nâng cao qua các hoạt động thực hành Đồng thời với các kĩ năng ngôn ngữ,
Trang 26là các kĩ năng nhận thức tư duy cũng được phát triển và hoàn thiện Ngoài ra, kiến thức và kĩ năng có được trong phần Tiếng Việt còn giúp cho học sinh có
điều kiện thuận lợi để học tập những môn học khác, trong đó có môn ngoại
ngữ
Ba là, bồi dưỡng tình cảm yêu quý Tiếng việt, thái độ tôn trọng và ý thức
giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt Những tình cảm, thái độ và ý thức đó cần
được hình thành, nuôi dưỡng thường xuyên qua từng bài học, tiết học Tiếng
việt
2.2.2 Nội dung
Đối chiếu với sách ngữ văn 10 chỉnh lí-hợp nhất năm 2000 và sách Ngữ
văn 10 tập 1 cả bộ cơ bản và nâng cao đều thấy có sự kế thừa Sách chỉnh lí hợp nhất 2000 biên soạn riêng phần Tiếng Việt thành một cuốn bao gồm ba chương, trong sách Ngữ văn 10 tập 1, Tiếng Việt chỉ là một phần trọng bộ môn Ngữ văn, và được biên soạn xen kẽ với các phần Văn học và Làm văn Ngoài
ra trong sách mới, nội dung dạy học Tiếng việt còn được thực hiện ở các mục chú giải từ ngữ sau mỗi văn bản, ở mục câu hỏi đọc-hiểu về ngôn ngữ trong văn bản, ở những mục đề cập đến việc dùng ngôn ngữ trong làm văn…
Sách chỉnh lí phân bố các bài học Tiếng việt và trình bày nội dung kiến thức dạy-học theo tính chất hệ thống-cấu trúc của ngôn ngữ Sách bao gồm ba chương và phân bố kiến thức theo trình tự từ những vấn đề chung đến các ngôn ngữ cụ thể, từ ngôn ngữ bậc thấp đến đơn vị ngôn ngữ bậc cao Cụ thể là, sách cũ có những chương mục như sau:
Chương1: Đặc điểm ngữ âm và cấu tạo từ ngữ Tiếng việt, nghĩa của từ,
các biện pháp tu từ từ vựng, các lỗi dùng từ và những vấn đề về sự lựa chọn từ ngữ
Chương 2: Từ ngữ Bao gồm những vấn đề cụ thể như: đặc điểm ngữ âm
và cấu tạo của từ ngữ Tiếng việt, nghĩa của từ, các biện pháp tu từ từ vựng, các lỗi dùng từ và những vấn đề sự lựa chọn từ ngữ
Chương 3: Những vấn đề giản yếu về câu: câu đơn, câu ghép, câu hai thành
phần,…
Sách Ngữ văn10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao không phân bố và trình bày nội dung dạy học Tiếng Việt theo tính chất hệ thống cấu trúc, mà theo những nguyên tắc khác, cụ thể là:
Nguyên tắc tích hợp có nghĩa là xen kẽ và tích hợp phần Tiếng việt với các
phần Văn học và Làm văn ở những nội dung gần gũi
Ví dụ trong khi học văn học dân gian thì ở phần Tiếng việt học sinh học về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, về đặc điểm của ngôn ngữ dạng nói, và luyện tập về các phép tu từ ẩn dụ, hoán dụ,…)
Nguyên tắc đi từ nội dung quen thuộc, gần gũi đến những kiến thức mới:
Ví dụ: Từ hoạt động giao tiếp gần gũi hàng ngày với học sinh đến văn bản hay sản phẩm của sự giao tiếp, đến phân biệt ngôn ngữ dạng nói và ngôn ngữ dạng viết, đến phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật,…
Nội dung dạy học trong sách chỉnh lí có tính chất trãi đều trên nhiều vấn đề chủ chốt thường gặp về Tiếng việt nói chung và các đơn vị ngôn ngữ như từ ngữ, câu văn, văn bản,…đều có mặt trong sách Tiếng việt 10
Trang 27Sách mới ở phần Tiếng việt chủ yếu trình bày theo hướng quy nạp kiến thức
được hình thành thông qua hoạt động tự tìm hiểu theo câu hỏi hoặc bài tập
thực hành Qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt trong sách giáo khoa học sinh chủ
động và tích cực tìm đến kiến thức, luyện tập kĩ năng Việc củng cố kiến thức,
nâng cao và mở rộng kiến thức, kĩ năng cũng thông qua luyện tập thực hành Sách giáo khoa và sách giáo viên đóng vai trò hướng dẫn học sinh Chỉ có phần ghi nhớ và chốt lại những kiến thức và kĩ năng chủ chốt Tuy nhiên có một đôi bài về lý thuyết kiến thức nhiều và mới thì vẫn viết theo kiểu trình bày
thông tin, như bài “Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết”
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động mà học sinh lớp 10 đã tiến hành thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày ở gia đình, trong trường học
và cả ngoài xã hội Nó không xa lạ nhưng luôn cần cho học sinh ý thức rõ rệt
về các nhân tố giao tiếp tham gia vào hoạt động về hai quá trình giao tiếp đó là tạo lập và lĩnh hội về hai dạng nói và viết Trong giao tiếp, và cả về sản phẩm của giao tiếp là văn bản Chính vì đây là những vấn đề gần gũi của học sinh lớp 10, nên cần thiết và có thể tiến hành học và dạy theo hướng quy nạp Từ thực tế giao tiếp hằng ngày học sinh có thể chủ động tích cực tham gia vào qua trình dạy-học
Hai phong cách ngôn ngữ trong nội dung dạy-học Tiếng việt ở lớp 10 là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là hai phong cách hình thành sớm trong lịch sử Tiếng việt, trong khi đó các phong cách ngôn ngữ khác phân hóa muộn hơn Đồng thời, giữa hai phong cách ngôn ngữ này có một vài điểm gần gũi với nhau đặc trưng về tính cụ thể, tính biểu cảm và cả đặc trưng về các phương tiện ngôn ngữ ở từng phong cách Vì thế, việc sắp dạy học vừa có thể có những khó khăn khi cần phân biệt hai phong cách ngôn ngữ
Phần tiếng việt trong sách ngữ văn 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao gồm có các bài:
• Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Văn bản và đặc điểm của văn bản
Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Văn bản
• Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
Luyện tập về biện pháp tu từ
Luyện tập về nghĩa của từ
Phân môn tiếng việt gồm hai loại bài: loại bài hình thành kiến thức kỹ năng mới và loại bài thực hành
Ở loại bài hình thành kiến thức kỹ năng mới: kiến thức được hình thành thông
qua con đường học sinh tự tìm hiểu, tự phân tích ngữ liệu và tiến hành tìm hiểu kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên Sau đó kiến thức được củng cố, mở rộng nâng cao qua các hoạt động luyện tập, kiến thức cốt lõi được diễn đạt cô đọng thông qua phần ghi nhớ Tìm hiểu phân tích dữ liệu với ngữ liệu có thể là một câu văn, câu thơ, một đoạn văn bản hay cả một văn bản Trong phần này, sách nêu một số câu hỏi hoặc yêu cầu phân tích văn bản để học sinh tìm hiểu văn bản và những vấn đề ngôn ngữ hữu quan Câu hỏi hoặc yêu cầu đều hướng đến nội dung kiến thức cần hình thành hay kĩ năng cần đạt được
Trang 28Lọai bài tập luyện tập và thực hành: Luyện tập củng cố và mở rộng kiến
thức kĩ năng Các bài này tập trung rèn luyện kỹ năng lĩnh hội và sử dụng một số thao tác nào đó Phần luyện tập có những dạng bài tập: phân tích, nhận diện, so sánh, đối chiếu, thay thế yếu tố hay hoàn chỉnh văn bản, sửa chữa lỗi hay tạo lập văn bản mới…Mỗi bài được gắn với các hiện tượng nổi bật nào đó ở một văn bản mà học sinh được học trong phần đọc văn Thông qua việc làm các bài tập hoặc trả lời các câu hỏi, học sinh củng cố và nâng cao những kiến thức và kỹ năng tương ứng
đã được học ở lớp dưới hoặc những bài trước đó…Tất cả đều nhằm mục đích mở
rộng và nâng cao kiến thức kĩ năng vừa học để nắm chắc, hiểu thấu và có năng lực sử dụng trong giao tiếp ngôn ngữ Trong loại bài thứ hai chỉ có hoạt động thực hành luyện tập, tức là chỉ tương đương với bước thứ ba trong loại bài thứ nhất, theo yêu cầu nêu ở từng bài tập và với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh lần lượt làm bài tập Giáo viên hướng dẫn, theo dõi và tổng kết, nêu ra
đáp án của mỗi bài tập
Nhưng dù là loại bài hình thành kiến thức mới hay là bài thực hành thì bài học cũng có nội dung luyện tập, thông qua luyện tập mà hình thành củng cố lý thuyết Vì vậy cấu trúc bài gồm có:
Tên bài học: Nêu lên tên bài học Ví dụ: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, thực
hành phép tu từ phép điệp và phép đối…
Kết quả cần đạt: Những yêu cầu chủ yếu nhất về kiến thức cũng như kỹ năng vận
dụng Tiếng việt trong bài học
Ví dụ: Ở bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” cả hai bộ sách đều có phần
Nội dung bài học: Được hình thành thông qua con đường phân tích ngữ liệu và nội
dung thực hành của học sinh Cả hai bộ sách nâng cao và cơ bản đều giúp học sinh tiếp cận với văn bản và thông qua đó hiểu được nội dung bài học
Luyện tập: Cả hai bộ sách cơ bản và nâng cao đều có phần luyện tập Đây là hoạt
động giúp học sinh củng cố và vận dụng những gì mình học được Đối với phần luyện
tập không có phần ghi nhớ, luyện tập bao gồm sự tổng kết và nâng cao mở rộng
Ví dụ: Bài “phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” bộ sách cơ bản
Anh chị hãy phát biểu ý kiến của mình về nội dung của những câu sau:
-Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vùa lòng nhau
-Vàng thì thử lửa thử than
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời
Trong đoạn trích dưới đây, ngôn ngữ sinh hoạt được biểu hiện ở dạng nào? Anh chị có nhận xét gì về việc dùng từ ngữ ở đoạn trích này?
Ở bộ nâng cao:
nào là nét riêng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt?
Trang 29“Tao mét má ngây! Má ơi thằng bình nó cởi truồng nè má!
Chị Hai cho em đi với…
Trong giao tiếp hằng ngày, để biểu thị sự chắc chắn ở mức độ rất cao, người Việt có thể dùng lối diễn đạt rất sinh động Chẳng hạn, để nói rằng ngày chắc chắn trời mưa, chúng ta có thể nói:
-Mai mà không mưa thì tôi đi đằng đầu
2.3 Làm văn
2.3.1 Mục tiêu:
Trên cơ sở tiếp thu tinh thần của lớp 10, 11, phân môn Làm văn của Ngữ văn 10 cả bộ cơ bản và bộ nâng cao có chung mục tiêu sau:
Thứ nhất: Phần làm văn nhằm rèn luyện kĩ năng nói, viết cho học sinh Đó
là điều kiện cần thiết để học tập và tham gia vào các hoạt động xã hội Nội dung phần này chủ yếu là hệ thống bài luyện tập và các bài viết giúp học sinh thực hành Học sinh sẽ ôn lại, nâng cao kĩ năng làm các văn bản đã học, phần lớn thời gian sẽ tập trung rèn luyện về văn nghị luận, gồm nghị luận xã hội và nghị luận văn học
Thứ hai: Tất cả các bài có hai phần lý thuyết và thực hành Phần kiến thức
lý thuyết giúp học sinh gợi mở, tổ chức cho học sinh trình bày, chiếm lĩnh tri thức Các bài thực hành phối hợp với phần lý thuyết để học sinh phát huy tích cực chủ động
2.3.2 Nội dung
Về phần Làm văn 10, Làm văn là một phần của môn Ngữ văn Trước đây làm văn được tách riêng thành môn học và theo đó được viết thành một quyển riêng Lần này Làm văn chỉ là một học phần cùng với Tiếng việt và Văn học tạo nên một bộ môn thống nhất là Ngữ văn theo tinh thần tích hợp
Tính tích hợp của học phần Làm văn thể hiện chủ yếu ở mối quan hệ gắn bó với Tiếng việt và Văn học Các kiến thức kĩ năng về từ ngữ, câu, phong cách
được thể hiện trong nội dung thực hành
Làm văn lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao đều thống nhất dạy chung các bài, gồm có các bài:
Trang 30-Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự
Các bài thuộc dạng hình thành kiến thức và kỹ năng viết một bài văn: làm văn
lớp 10 tập 1 bộ cơ bản và bộ nâng cao, tập trung vào ba loại văn bản là tự sự, nghị luận, thuyết minh, ngoài ra còn rèn luyện cho học sinh viết các văn bản khác như kế hoạch cá nhân Văn tự sự, thuyết minh học sinh được học ở chương trình Trung học cơ
sở Lên lớp 10 các em được đi sâu học thêm loại văn này nhằm ôn tập rèn luyện kỹ năng lập luận bằng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng chọn lọc các sự việc tiêu biểu, kết hợp các phương thức miêu tả, biểu cảm trong bài văn tự sự, thuyết minh
Kiến thức và giao tiếp khẩu ngữ: Ngoài kỹ năng viết, kĩ năng nói cũng là một
trong những kỹ năng quan trọng của học sinh để giúp học sinh hòa nhập vào cuộc sống một cách tự tin và vững vàng Kỹ năng này dược hình thành thông qua các cuộc trao
đổi giữa học sinh và giáo viên trong giờ học
Kiến thức kỹ năng đọc và tóm tắt văn bản: Kỹ năng này được hình thành thông
qua các tiết đọc văn và làm văn Phần làm văn rèn luyện cho học sinh khả năng đọc nhanh, hiểu nhanh chính xác văn bản, nhằm tóm tắt nội dung chính xác đầy đủ
Nhìn tổng thể phần Làm văn cả bộ cơ bản và nâng cao có phần nội dung bài học nêu lên một vấn đề sau đó là các gợi ý, các câu hỏi nhỏ xoay quanh vấn đề vừa nêu giúp học sinh định hướng các yêu cầu bài làm
Tuy nhiên, mỗi bài khác nhau thì nội dung bài học cũng khác nhau Sau phần lý thuyết mỗi bài là phần ghi nhớ và luyện tập Có ba bài viết trong chương trình học kỳ 1: bài viết số 1, bài viết số 2, bài viết số 3
Tiếp sau các bài viết là các tiết trả bài viết Trả bài viết thứ nhất giúp học sinh nhận ra
ưu nhược điểm của mình và rút kinh nghiệm cho bài viết thứ 2, đồng thời nâng cao
nhận thức bộc lộ cảm xúc suy nghĩ chân thực trước những vấn đề của cuộc sống Trả bài viết số 2, số 3, giúp các em hình thành thói quen sữa lỗi và tự học làm văn ở nhà Làm văn có vai trò mật thiết với Đọc văn và Tiếng Việt nhưng đồng thời làm văn cũng
có tính độc lập riêng Phần làm văn lớp 10 của bộ cơ bản và nâng cao cũng có cấu trúc như làm văn lớp 11 và lớp 12, gồm có những phần như sau:
và kĩ năng làm văn của học sinh Cụ thể các vấn đề như lập dàn ý, luyện tập viết văn tự
sự, cách tóm tắt văn bản tự sự… Không chỉ ở phần kết quả cần đạt mới có yêu cầu đặt
ra mà ngay trong từng phần nội dung cũng đặt ra yêu cầu cho học sinh nắm rõ, cụ thể ngay trong đề bài
Ví dụ: Trong bài “Tóm tắt văn bản tự sự” ở phần kết quả đạt được đã nêu ra yêu
cầu cần đạt là nắm được yêu cầu và cách thức tóm tắt văn bản, từng ví dụ sách đưa ra yêu cầu và dẫn dắt học sinh làm bài tóm tắt truyện An Dương Vương
-Mục đích việc tóm tắt?
-Sự việc, nhân vật được nhắc đến?
-Lai lịch, lời nói hành động, các mối quan hệ với nhân vật
-Tóm tắt văn bản bằng lời văn của mình
Nhìn chung, phần làm văn cả bộ cơ bản và bộ nâng cao đều chú trọng nhu cầu của thời
đại mới, cả ba phần Đọc văn, Tiếng việt, Làm văn được biên soạn nhằm phát huy tính
tích cực, tự tìm hiểu khám phá của học sinh
Trang 31III DỊ BIỆT GIỮA SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP
10 TẬP 1 BỘ CƠ BẢN VÀ BỘ NÂNG CAO
được nhờ vào màu sắc đặc trưng đập vào mắt Chính vì màu sắc khác, nên
cách trình bày màu sắc của mỗi phần cũng khác nhau Ở bộ sách cơ bản chữ
“Ngữ văn” được dùng màu cam đỏ, chữ “Tập 10’’, màu đen, còn ở bên bộ
nâng cao thì chữ “Ngữ văn”và số “10” là màu trắng Qua đó, mục lớn và mục
nhỏ ở bộ sách cơ bản ngang hàng nhau Còn ở bộ sách nâng cao thì phần mục nhỏ hơn lùi vô hơn khoảng 1cm Chữ nâng cao màu vàng Ở trang sau: Trình bày 50 năm (1957-2007 ) khác nhau, ở bộ cơ bản là cam đỏ cho hình ảnh, nền
là màu vàng, chữ màu trắng còn ở sách nâng cao là nền vàng sậm, chữ trắng, hình ảnh màu vôi đậm Khung cấu trúc bộ sách cơ bản được dùng nền xanh nước biển, còn ở sách nâng cao là màu hột gà Sự khác nhau đó cho ta thấy
được nét riêng của quyển sách
Về độ dày của quyển sách, do dung lượng kiến thức cũng như cấu trúc chương trình khác nhau nên độ dày hai quyển sách khác nhau, ta thấy bộ sách nâng cao dày hơn Sách giáo khoa bộ cơ bản tổng có 176 trang, tính luôn trang bìa là 178 trang, còn bộ sách nâng cao thì có 232 trang, tính luôn bìa là 234 trang
Về cách trình bày tiêu đề, cỡ chữ của hai bộ sách nhìn chung không có gì khác biệt nhưng ở bộ sách cơ bản, tên văn bản chữ in đậm hơn Riêng ở các mục tiêu đề, ở các phần lớn thì in đậm rõ nét hơn bộ sách nâng cao
Ví dụ như bài: “Văn bản”, sách cơ bản gồm:
I.KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM II.CÁC LOẠI VĂN BẢN
Trong khi đó sách nâng cao lại trình bày như sau:
I KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN II.ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN Các phần mục lớn ở cả phần Tiếng việt, Làm văn, Đọc văn đều không được in
đậm Ở phần kết quả cần đạt của sách giáo khoa, cũng có sự khác nhau, ở sách
cơ bản phần kết quả cần đạt lại được đóng nữa khung, còn ở sách nâng cao lại
đóng cả khung
Ví dụ: Bài cảnh ngày hè của nguyễn Trãi, bộ sách cơ bản trình bày:
• Cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của bức tranh
ngày hè và tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn Trãi
• Thấy được đặc sắc nghệ thuật của thơ Nôm
Nguyễn Trãi: bình dị, tự nhiên, đan xen, câu lục ngôn (sáu chữ vào bài thơ thất ngôn (bảy chữ)
KẾT QUẢ CẦN ĐẠT
Trang 32Bộ sách nâng cao trình bày như sau:
Tên văn bản ở sách cơ bản thì được viết chủ yếu lệch sang phía bên trái của quyển sách và có khoảng cách xa là khoảng 5cm so với kết quả cần đạt về chiều dài và 1cm về chiều rộng Còn bộ sách nâng cao thì phần tên văn bản
được viết ngay nửa trang, canh lề phải ngay ngắn, và song song với phần kết
quả cần đạt Tên văn bản ở bộ sách cơ bản ngắn ngọn hơn bộ sách nâng cao cũng như văn bản chi tiết, cụ thể, tỉ mỉ hơn
Hình thức văn bản trong sách giáo khoa của hai bộ cũng có sự khác nhau.Văn bản ở bộ sách cơ bản thì được tô màu và được đóng khung, có một số văn bản
ví dụ cho bài học được tạo khung đường viền nổi, còn ở sách nâng cao thì chỉ trình bày văn bản bình thường, có nghĩa là không đóng khung, không tô màu
cho nó Văn bản của hai bộ sách cung cấp cho học sinh về văn bản mà học sinh tiếp
cận Nhưng ở phần này, hai bộ sách cũng khác nhau Văn bản nằm ở vị trí là sau phần
tiểu dẫn, với bộ sách cơ bản, văn bản được đưa ra có hai chữ “VĂN BẢN” viết hoa in
đậm còn ở bên sách nâng cao sau phần tiểu dẫn là văn bản, cỡ chữ lớn hơn so với phần
tiểu dẫn để học sinh nhận diện, không có chữ văn bản như sách cơ bản
Sau khi kết thúc phần văn bản, sách giáo khoa cơ bản có sự phân cách với sự chú thích Tên tác giả, tác phẩm hoặc người dịch là một đường gạch ngang, không tô đậm còn sách nâng cao thì không có sự phân cách này Tên nhân vật trong văn bản sách cơ bản được viết chữ thường, không viết hoa cả chữ chỉ viết hoa đầu chữ tên người và in
đậm lên Còn sách giáo khoa nâng cao viết hoa cả chữ, không in đậm
Ví dụ như bài “Chiến thắng Mtao – Mxây”:
Tên nhân vật ở bộ cơ bản là Mtao – Mxây còn nâng cao tên nhân vật là MTAO –
MXÂY
Bộ nâng cao văn bản thơ in nghiêng, cơ bản văn bản thơ thì không in nghiêng:
Ví dụ: Trong văn văn bản “Ca dao yêu thương tình nghĩa” văn bản của hai bộ sách
cũng khác nhau:
Ngữ văn tập 1 bộ cơ bản Ngữ văn tập 1 bộ nâng cao
1 Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
2 Thân em như ấu củ gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi, nếm thử mà xem
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi
3 Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi
Mặt trăng sánh với mặt trời
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng
1 Cô kia đứng ở bên sông
Muốn sang anh ngã cành hồng cho sang
2 Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng
4 Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai
KẾT QUẢ CẦN ĐẠT
• Cảm nhận được tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên
và ước vọng cao đẹp của nhà thơ
• Thấy được nghệ thuật sử dụng từ ngữ đặc sắc, giàu sức gợi
tả và ý thức của Nguyễn Trãi trong việc tìm tòi sáng tạo một
thể thơ viết bằng tiếng Việt
Trang 33Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề
5 Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi
6 Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng rừng hãy còn cay
Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu
ngàn ngày mới xa nhau
Khăn vắt lên vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề
5 Cây đa cũ bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ
6 Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa
Văn bản ở bộ sách cơ bản có tô màu còn ở bộ nâng cao không tô màu
Ví dụ: như bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”, phần luyện tập 2, có ví dụ
như sau:
A Cổ sung sướng chào:
-Cháu chào ông ạ!
Ông vui vẻ nói
-A Cổ hả? Lớn tướng rồi nhỉ? Bố cháu có gủi pin đài lên cho ông không?
-Thưa ông có ạ
Còn bộ nâng cao, chỉ đưa ra ví dụ chứ không tô màu
Ví dụ “Bài luyện tập về nghĩa của từ” ở bài tập 1 trình bày như sau:
“Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẫm cháo hoa nhà người”
Chú thích ở quyển sách nâng cao cụ thể rõ ràng hơn, chi tiết hơn và cung cấp kiến thức nâng cao hơn so với chú thích ở bộ sách cơ bản Chú thích ở bộ sách nâng cao nhiều hơn về số lượng so với bộ sách cơ bản
Ví dụ: Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
Sự chú thích ở văn bản tác phẩm ở mỗi bộ như sau:
Ngữ văn tập một bộ cơ bản Ngữ văn tập một bộ nâng cao
Rồi(1) hóng mát thuở ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương(2)
Rồi (1) hóng mát thuở ngày trường (2) Hoè (3) lục (4) đùn đùn tán rợp giương (5)
Trang 34Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ(3)
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương(4)
Lao sao chợ cá làng ngư phủ(5)
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương(6)
Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng(7)
Dân giàu đủ khắp đòi(8) phương
Thạch lựu (6) hiên còn phun thức (7) đỏ Hồng liên (8) trì (9) đã tiễn (10) mùi hương Lao sao chợ cá làng ngư phủ (11) Dắng dỏi (12) cầm ve (13) lầu tịch dương (14)
Dẽ có (15) ngu cầm (16) đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi (17) phương
Sau đó là sự chú thích cho các từ khó sau mỗi văn bản:
Ngữ văn tập 1 bộ cơ bản Ngữ văn tập 1 bộ nâng cao
(1) Rồi: ở đây là rỗi rãi
(2) Lục: màu xanh; hòe lục: màu
xanh cây hòe; tán rợp giương: tán
giương lên che rợp
(3) Thức (từ cổ): Màu vẻ, dáng vẻ Ý
cả câu thơ: Cây thạch lựu ở hiên nhà
đang phun màu đỏ
(4) Tiễn mùi hương: ngát mùi hương
(tiễn: từ Hán Việt, có nghĩa là dư ra Ý
của cả câu thơ: sen hồng trong ao đã
ngát mùi hương
(5) Làng ngư phủ: làng chài lưới
(6) Dắng dỏi (từ cổ): có nghĩa là inh
ỏi Cầm ve: tiếng ve kêu như tiếng
đàn Lầu tịch dương: lầu (nhà cao) lúc
mặt trời sắp lặn
(7) Dẽ có: lẽ ra nên có Ngu cầm: thần
thoại Trung Quốc kể rằng hai triều
vua Đường Nghêu và Ngu Thuấn là
hai triều đại lí tưởng, xã hội thanh
bình, nhân dân hạnh phúc Riêng vua
Ngu Thuấn có khúc hát Nam Phong,
trong đó có câu: “Nam phong chi thì
hề khả dĩ phụ ngô dân chi hề tài” (Gió
nam thuận thì có thể làm cho dân ta
thêm nhiều của) Ngu cầm là đàn của
vua Ngu Thuấn Ý cả câu: “Hãy để
cho ta có đàn của vua Ngu Thuấn để
hè hoa nở màu vàng tươi (4)Lục: màu xanh thẫm
(5)Tán rượp giương: tán cây tỏa
rộng che rợp mặt đất (6)Thạch lựu: cây thạch lựu vào
mùa hè nở hoa đỏ thắm (7)Thức: màu
khi thạch lựu ở hiên còn đang tiếp tục phun màu đỏ, thì sen hồng trong ao đã ngát mùi hương
(11) Làng ngư phủ: làng
chuyên nghề chài lưới (12) Dắng dỏi: tiếng kêu liên
tục vang dội (13) Cầm ve: tiếng ve kêu
như tiếng đàn (14) Tịch dương: nắng chiều
(15) Dẽ có: lẽ ra nên có (16) Ngu cầm: đàn của vua
Ngu Thuấn Ngu là tên một
triều đại do vua Thuấn lập nên,
đất nước thanh bình, nhân dân
no đủ Tương truyền vua
Trang 35Nghiêu có ban cho vua Thuấn một cây đàn Những lúc nhàn rỗi, vua Thuấn thường gãy đàn
ca khúc Nam Phong:
“Gió Nam mát mẻ
Làm cho dân ta bớt ưu phiền Gió Nam thổi đúng lúc Làm cho dân ta thêm nhiều tiền của"
Qua văn bản chú thích ở hai bộ sách, bộ cơ bản có tất cả 8 chú thích, trong khi đó
bộ nâng cao có 17 chú thích Một số chú thích ở bộ cơ bản gộp chung lại làm một như
“dẽ có” và “ngu cầm” lại được để chung mục số 7, bộ nâng cao tách riêng ra rõ ràng ở
mục 15, 16 Do vậy, sự chú thích tuy cùng là nội dung nhưng cách trình bày mỗi bộ sách lại khác nhau và đòi hỏi sự tiếp thu cũng khác nhau
Cuối mỗi cuốn sách có dấu phân cách và đặt chú thích riêng biệt ở cuối, chữ nhỏ hơn văn bản để học sinh phân biệt
Nhìn chung, chú thích như vậy là điểm mới của sách giáo khoa Ngữ Văn, cả bộ
cơ bản và bộ nâng cao và tiến bộ hơn so với sách giáo khoa chỉnh lí hợp nhất năm
2000, trình bày khoa học, đẹp, rõ ràng nhưng nội dung so với sách cũ chưa cụ thể, chi tiết bằng sách cũ Sách nâng cao lại càng ngắn gọn, không chi tiết bằng sách cơ bản, có
lẽ vì người biên soạn nghĩ rằng, với khả năng tư duy của các em đã hiểu hết điều đó
mà không cần chú thích thêm dài dòng Theo người viết thì phần chú thích cả sách giáo khoa cơ bản và nâng cao đều chú thích đầy đủ, không nhất thiết phải khác nhau
để các em hiểu vấn đề một cách đầy đủ, chính xác, không phiến diện
Tranh ảnh:
Nhìn vào tổng thể tranh ảnh của hai bộ sách thấy được sự khác biệt Theo người viết, tranh ảnh của bộ cơ bản rõ ràng hơn, đẹp hơn, và kích cỡ rộng, lớn hơn Bộ cơ bản và bộ nâng cao có sử dụng tranh ảnh nhưng số lượng mỗi bộ khác nhau, bộ cơ bản có 9 hình ảnh, còn ở bộ nâng cao có 27 hình ảnh Trong cùng một bài hay một vấn đề hình ảnh cũng khác, nguồn cung cấp cũng khác Sách Ngữ văn 10 đã đưa đầy đủ chân dung của các tác giả đi kèm với các tác phẩm, những tranh ảnh có liên quan Chân dung này khá mới và rõ nét và chân thực bao gồm cả chân dung các tác giả Việt Nam cũng như nước ngoài, đặc biệt các hình ảnh phần văn học dân gian của văn học Việt Nam hình ảnh đưa vào nhiều hơn những phần khác
Ở bộ sách nâng cao gồm có:
+Chân dung của nhà văn Việt Nam như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn
Trãi, Nguyễn Du
+Các chân dung nhà văn nước ngoài: Ho-me-ro, Lý bạch,
Ma-su-ô-Ba-Sô
Ở bộ sách cơ bản có: Chân dung của Lí Bạch, Ba-Sô
Ở bộ sách Nâng cao, bài khái quát có tranh ảnh “Gác Khuê Văn tại Văn
Miếu Quốc Tử Giám- Hà Nội” (ảnh Võ Văn Chiến); ảnh của chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, ngày 26-11-1962 (Ảnh thông
Trang 36tấn xã Việt Nam) Qua đó ta thấy được sự chênh lệch này vì ở bài khái quát sự kiện cách mạng tháng Tám thành công là một bước ngoặt lớn của nền văn học Việt Nam, trong khi đó sách cơ bản không nói nhiều đến sự kiện này
Bài khái quát văn học dân gian có tranh ảnh “Hội làng”để khẳng định sự
đa dạng và đóng góp của các dân tộc Tây Nguyên cho nền văn học Việt Nam,
đặc biệt là giá trị văn hóa văn học dân gian Việt Nam Hình ảnh “Ngày hội
Oóc-om-boóc ở Sóc Trăng (ảnh Minh Trường)
“Sử thi Đăm san” có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Tây
Nguyên, ở bài này sách nâng cao có tranh “nghệ nhân EaBui (Đắc Lắc) kể sử
thi Ê-đê”, để thấy được không khí trang nghiêm và trân trọng giá trị truyền
thống dân tộc, bộ sách cơ bản cũng có tranh ảnh phần này là “Lễ hội cồng
chiêng của người Tây Nguyên”(ảnh Phạm Lợi), ta thấy sự lựa chọn hình ảnh
với dụng ý cuả tác giả cũng khác “Pê-nê-lốp vui sướng nhận ra chồng mình”
trong tác phẩm Uy-lít –xơ trở về ra đời lâu nhưng chất lượng hình ảnh vẫn rõ nét và gây ấn tượng mạnh độc đáo Bộ sách nâng cao lại đưa hai hình ảnh
“Ho-me-rơ kể sử thi Hi-Lạp” (tranh của họa sĩ Pháp thế kỉ XVIII) và “tranh
cổ Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp Bộ cơ bản chú ý về sự gay cấn của tác phẩm mà đưa
tranh ảnh, còn bộ nâng cao chú ý về giới thiệu về tác phẩm Ho-me-rơ và nhân vật trong truyện
Tranh ảnh “Cảnh Xita được gặp lại Ra-ma bên cạnh là Lắc-ma-na và
Ha-nu-man (tranh thờ của Ấn Độ) trong bài “Rama buộc tội” ở bộ nâng cao rất rõ
nét còn ở bộ sách cơ bản cùng là hình ảnh đó nhưng ảnh mờ hơn và chú thích
ít hơn, cả hai trang đều chú ý về Rama và Xita trong cảnh đoàn viên đẫm nước mắt
Ở truyện “An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”, bộ cơ bản có “lễ hội
đền cổ loa huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Hội”(ảnh Trường Thi), còn ở bộ
nâng cao có hình ảnh “Di tích Cổ Loa” Cả hai bộ sách đều chú trọng đến sự
kiện đền Cổ Loa còn tồn tại và ảnh hưởng đến giá trị đời sống văn hóa cộng
đồng
Bài “Tam đại con gà” bộ nâng cao có “Đám cưới chuột” (tranh đông hồ
dân gian) Lời tiễn dặn có “cảnh rước dâu” (ảnh Đoàn Văn quang), bộ cơ bản
có “Ảnh bìa một cuốn tiễn dặn người yêu” –NXB Văn học Dân tộc 1977 Bài
“Ca dao yêu thương, tình nghĩa” có ảnh “Cổng làng Thổ Hà-Bắc Giang (ảnh
Đỗ Huân), bộ cơ bản có ảnh “Hát đối tại đền Vàng (Gia Lộc, Hải Dương)
trong ngày lễ 7/2 âm lịch” Xúy Vân giả dại ở bộ nâng cao có hình ảnh “Vở chèo Kim Nhan”, “Vở chèo Quan Âm Thị Kính” (ảnh tư liệu của nhà hát chèo Trung ương)
Ở bộ sách cơ bản, phần văn học trung đại hình ảnh không được tác giả đưa
vào bài học Còn ở bộ sách nâng cao, bài khái quát có hình ảnh “hình rồng
thời Lý trong khung lá bồ đề (đất nung)”, “Tháp Phổ Minh ở Nam Định (thời Trần), nêu lên giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc Suốt một quá trình văn
học dài, sách giáo khoa nâng cao đưa hình ảnh của “Chùa Côn Sơn (Hải
Dương) nơi ẩn cư của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Trãi’, “Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm tại xã Lý học, Huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng” “Phần mộ thi hào Nguyễn Du tại Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh” trong bài Đọc Tiểu Thanh kí;
hình ảnh của Lí Bạch (tranh của phó Bảo Thạch – Trung Quốc) trong bài Tại
lầu Hoàng Hạc Lâu tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng; ảnh của Đỗ Phủ