Bên cạnh đó, thuyết “Bất bạo động” hay còn gọi là "Tư tưởng bất bạo động" cũng được xem như là một nội dung tư tưởng quan trọng sáng tác của L.Tônxtôi, đặc biệt là trong tác phẩm "chiến
Trang 1TRUỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
- - - -
TRẦN HOÀNG ANH
TƯ TƯỞNG BẤT BẠO ĐỘNG”
TRONG TÁC PHẨM “CHIẾN TRANH
VÀ HÒA BÌNH” CỦA LEP TÔNXTÔI
Luận văn tốt nghiệp , ngành Cử nhân Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn : TRẦN VĂN THỊNH
Tháng 5/2008
Trang 24 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung
Chương 1 Một số vấn đề chung
1.1 Vài nét về xã hội và văn học Nga nửa sau thế kỉ XIX
1.1.1 Bối cảnh và sự phát triển tư tưởng xã hội
1.1.2 Tình hình văn học Nga nửa sau thế kỉ XIX
1.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình”
1.3 Giới thuyết về “Tư tưởng Bất bạo động”
1.3.1 “Thuyết Bất bạo động” của L.Tonxtoi
1.3.2 “Tư tưởng Bất bạo động” của thánh Gandhi
Chương 2 “Tư tưởng Bất bạo động” trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” của L.Tonxtoi
2.1 Nội dung của “Tư tưởng Bất bạo động” trong tác phẩm “Chiến tranh
và hòa bình” của L.Tonxtoi
2.1.1 Tình yêu lao động và lao động
2.1.2 Bác ái
2.1.3 Vì hòa bình
2.1.4 Tu dưỡng đạo đức
2.1.5 Không dung bạo lực để chống lại cái Ác
2.1.6 Tình yêu thiên nhiên và hòa hợp cùng thiên nhiên
Trang 32.2 Ý nghĩa của “Tư tưởng Bất bạo động” trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” của L.Tonxtoi
2.2.1 “Tư tưởng Bất bạo động” đối với việc đặt nhan đề tác phẩm
2.2.2 “Tư tưởng Bất bạo động” đối với việc xây dựng hệ thống nhân vật 2.2.3.“Tư tưởng Bất bạo động” với việc hình thành “Lối kết” tác phẩm 2.2.4 “Tư tưởng Bất bạo động” với việc hình thành nội dung tác phẩm
Phần kết luận
Trang 4Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
Nền văn học Nga thế kỉ XIX là một trong những nền văn học tiên tiến của nhân loại, là một trong những thành tựu rực rỡ nhất trong lịch sử phát triển của nền văn học nghệ thuật thế giới Nó ra đời và trưởng thành trong cuộc đấu tranh lâu dài và gay gắt của nhân dân Nga chống lại chế độ nông
nô, phong kiến và các thế lực xâm lược Do được phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân Nga nuôi dưỡng, nền văn học Nga đã phát triển hết sức nhanh chóng và đạt được những thành tựu lớn lao, đặc biệt là vào nửa sau thế kỉ XIX, khiên cho nhiều nhà nghiên cứu phải gọi đó là “Phép lạ” Nhận xét về sự phát triển nhanh chóng của nền văn học Nga ở thế kỉ XIX, Macxim Gorki viết: “Trong lịch sử phát triển của văn học châu Âu, nền văn học trẻ tuổi của chúng ta là một hiện tượng kì diệu Tôi sẽ không quá đáng khi nói rằng: Không một nền văn học phương Tây nào lại vươn lên cuộc sống với một sức mạnh lớn lao và với tốc độ nhanh chóng trong ánh sáng hào quang thiên tài chói lọi như vậy”
Đối với nước Nga, trong hoàn cảnh xã hội Nga dưới chế độ phong kiến chuyên chế và tàn dư của chế độ nông nô hết sức ngột ngạt, cho nên văn học Nga lúc bấy giờ đóng vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân Nga Và nền văn học này là niềm tự hào đối với người Nga Không những có vai trò quan trọng trong nước, mà bằng sự phát triển rực rỡ của mình, nền văn học Nga có ảnh hưởng lớn và có tầm quan trọng lớn lao đối với nền văn học thế giới Theo Lênin: “tầm quan trọng thế giới của văn học Nga chính là do văn học Nga mang trong mình những tư tưởng tiên tiến của thời đại, văn học hiện thực Nga rất giàu những tư tưởng dân chủ, xã hội cách mạng, tinh thần nhân đạo cao cả và lòng yêu nước nhiệt tình” [3;tr.6]
Tiêu biểu cho nền văn học ấy là đại văn hào L.Tônxtôi Những sáng tác của L.Tônxtôi là tấm gương phản chiếu lịch sử xã hội Nga ở thế kỉ XIX Tác phẩm của ông đóng góp những giá trị xã hội sâu sắc, ông cống hiến cho nền văn học thế giới những tác phẩm bậc nhất có giá trị tư tưởng cao Vì
Trang 5vậy với toàn bộ sự nghiệp sáng tác của mình, L.Tônxtôi để lại một di sản đồ
sộ có giá trị vĩ đại
Sáng tác của L.Tônxtôi không chỉ đặc sắc, cuốn hút qua việc thể hiện nội dung tư tưởng mà còn cả về những đặc điểm nghệ thuật Trong các tác phẩm của ông có những tác phẩm được cả thế giới xem là vĩ đại, là đồ sộ,
đó la tác phẩm "chiến tranh và hoà bình" Qua tác phẩm này, L.Tônxtôi đã thể hiện được những nội dung tư tưởng tiến bộ của thời đại, đó là: tư tưởng nhân dân, tư tưởng yêu nước tiến bộ trong sáng tác của L.Tônxtôi Bên cạnh đó, thuyết “Bất bạo động” hay còn gọi là "Tư tưởng bất bạo động" cũng được xem như là một nội dung tư tưởng quan trọng sáng tác của L.Tônxtôi, đặc biệt là trong tác phẩm "chiến tranh và hoà bình"
Trước những thành tựu rực rỡ và cũng như sức ảnh hưởng rộng lớn của nền văn học Nga, trong đó đặc biệt là các sáng tác của L.Tônxtôi, cùng với sự cuốn hút của tác phẩm vĩ đại "chiến tranh và hoà bình" đã thôi thúc Tôi lựa chọn và tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này Mặt khác, việc nghiên cứu thuyết “Bất bạo động” trong tác phẩm "chiến tranh và hoà bình" giúp Tôi có sự hiểu biết sâu sắc hơn về nội dung tư tưởng mà chính văn hào
đã gửi gấm trong tác phẩm
2 Lịch sử vấn đề:
Lep.Tonxtoi là một nhà văn hiên thực lớn của nền văn học Nga và nền
vă học thế giới ở thế kỉ XIX Cho đến nay, ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu và nhiều bài viết về đại văn hào L.Tonxtoi Chủ yếu những bài viết và những công trình nghiên cứu này đều tập trung khai thác nội dung về: cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, hay nói về một số đăc điểm về nội dung tư tưởng và về nghệ thuật trong các sáng tác của L.Tonxtoi, đặc biệt là tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” Ở đây trong phạm vi yêu cầu cho phép của đề tài luận văn tốt nghiệp, người viết xin giới thiêu một số công trình nghiên cứu và cũng như những công trình nghiên cứu về “Tư tương Bất bạo động” của L.Tonxtoi trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình”
Năm 1959, trên Tạp chí Bách khoa và tập sách “Gương danh nhân” xuất bản cùng năm, Nguyễn Hiến Lê đã giới thiệu L.Tonxtoi với độc giả bài
Trang 6viết “Leon Tolstoi- một Á thánh” Đây cũng là một trong những bài giới thiệu khá công phu của học giả Nguyễn Hiến Lê về L.Tonxtoi Trong bài giới thiệu này, tác giả không lấy mục đích là “Giới thiệu về một tác gia văn học” mà là giới thiệu về một “Gương danh nhân”, “gương làm người” cho người đọc Hay nói cách khác, Nguyễn Hiến Lê cho người đọc thấy được: một nhân cách, một tâm hồn của một bậc vĩ nhân, một vị thánh Nhân cách L.Tonxtoi được Nguyễn Hiến Lê nhấn mạnh ngay từ phần mở đầu bài viết:
“Trong khoảng 100 năm nay, khắp thế giới có một người được nhân loại tôn sùng vào bậc thánh sống: ông Gandhi và một người nữa được xếp vào hàng
Á thánh: ông Léon Tonxtoi(…) cả hai đều là bậc chí nhân, đều có một lòng thương người vô biên, đều chủ trương “Bất bạo động”, nhưng từ hình dáng đến tính tình, thì khác xa biết bao”[6; tr.21] Đến phần cuối bài viết, Nguyễn Hiến Lê kết luận: “Chỉ do tấm lòng thành thực, thành thực nhận tội mình và thành thực cứu vớt nhân loại, mà ông được người đời tôn sùng là một Á thánh”[6; tr.33] Nguyễn Hiến Lê còn dẫn lại lời của Romain Rolland để khẳng định ảnh hưởng của tâm hồn của văn hào L.Tonxtoi đối với thanh niên Pháp “….Đời sống nhiệt thành của ông, tấm lòng trẻ trung của ông cũng là của chúng tôi Những mộng bác ái và hòa bình của ông cũng là của chúng tôi Lời buộc tội ghê gớm của ông khi mạt sát giả dối của văn minh cũng là của chúng tôi”[ ;31]
Trong bài viết “Vài cảm nghĩ xuôi dòng”, Trần Phong Giao tiếp tục khẳng định về nhân của L.Tonxtoi “Toltoi nổi tiếng lẫy lừng khắp hoàn vũ như một bậc thánh Vậy mà ông không có phép mầu gì Ông sống, làm việc, chết như mọi người tên mặt đất Vậy, có gì đã đưa ông lên ngôi cao thần thánh? hải chăng, nhờ ở, trọn đời ông, ông đã giữ được đức tính chân thật và ưa suy nghĩ Đức tính ấy đã giúp ông tự vấn những việc làm của ông nó giúp ông thấu đáo được cảm tình đồng loại, nó giúp ông vượt được chỗ tầm thường (…) Ngoài
ra, một cách gián tiếp tôi đã nhờ Tolstoi mà luyện được tính thận trọng [11; tr.82]
Như vậy, qua khảo sát tình hình nghiên cứu L.Tonxtoi Bên cạnh bài viết
“Léon Tolstoi- Á Thánh” của Nguyễn Hiến Lê, hay bài viết “Vài cảm nghĩ
Trang 7xuôi dòng” của Trần Phong Giao: nói về nhân cách của đại văn hào L.Tonxtoi
Và ngay trong lời giới thiệu “Chiến tranh và hòa bình”, Nguyễn Hiến Lê cũng nhiều lần nhấn mạnh “Tư tưởng bất bạo động” khi nói về tiểu sử và sự nghiệp L.Tonxtoi Nói về tác phẩm “Chúng ta phải làm gì?”, ông viết “Những tư tưởng bất hợp tác trong cuốn đó, nhất là tư tưởng “không lấy ác chống lại ác” đã ảnh hưởng đén Gandhi sau này, khi nhà lãnh tụ Ấn Độ phản đối chính phủ Anh bằng cách không đi lính cho Anh, không mua đò của Anh, không đóng thuế cho Anh, khuyên dân để mặc cho người Anh đánh đập, bỏ tù, không thèm chống cự” [11; tr.28] Trần Phong Giao thì cho rằng “Đối với người Á Đông chúng ta, ảnh hưởng của ông, về văn chương cũng như về tinh thần bác ái, về
“chủ thuyết Bất bạo động”, đã lan rộng từ lâu” [11;tr.80]
Và ở đây trong phạm vi yêu cầu của đề tài, người nghiên cứu xem “Tư tưởng bất bạo động” như là một nội dung tư tưởng của đại văn hào đã gửi gắm trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” Như vậy, nhiệm vụ chính của người nghiên cứu đề tài này là phải làm rõ từng khía cạnh của nội dung “Tư tưởng bất bạo động” của L.Tonxtoi trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” và qua đó giúp cho việc tiếp cận tác phẩm đồ sộ này, đặc biệt là nội dung tư tưởng của tác phẩm được trọn vẹn nhất
3.Mục đích, yêu cầu:
Trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm hiểu "Tư tưởng bất bạo động" của tác phẩm "chiến tranh và hoà bình", yêu cầu đặt ra đối với người nghiên cứu là phải làm rõ những biểu hiện chính, tiêu biểu của "Tư tưởng bất bạo động" Những biểu hiện ấy phải nổi bật, thên chốt và phải phù hợp với nội dung tư tưởng của tác phẩm Và ngay trong bài nghiên cứu nay, yêu cầu người nghiên cứu phải khai thác cụ thể những nội dung cơ bản "Tư tưởng bất bạo động" của L.Tônxtôi trong tác phẩm "chiến tranh và hoà bình", đó là:
- Tình yêu lao động và lao động
- Bác ái
- Vì hoà bình
- Tu dưỡng đạo đức
Trang 8- Không dung bạo lực để chống lại cái Ác
- Tình yêu thiên nhiên và hoà hợp với thiên nhiên
Như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho người nghiên cứu đề tài này, là trong quá trình làm việc người nghiên cứu phải nắm rõ yêu cầu và triển khai vấn đề theo pham vi yêu cầu của đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng mà người nghiên cứu cần hướng đến trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này là tác phẩm "chiến tranh và hoà bình" thông qua các bản dịch sang tiếng Việt của các học giả Việt Nam Trong tác phẩm này có hai phạm vi lớn, đó là: nội dung và nghệ thuật Tuy nhiên, theo phạm vi yêu cầu của đề tài đặt ra đối với người nghiên cứu là chỉ khai thác một khía cạnh của nội dung tư tưởng trong tác phẩm, đó là: "Tư tưởng bất bạo động" Như vậy trong đề tài này, người nghiên cứu cần phải làm sáng tỏ ở từng nội dung cụ thể của thuyết “Bất bạo động” của L.Tônxtôi trong tác phẩm "chiến tranh và hoà bình" và qua đó cho người đọc thấy được ý nghĩa thời đại cua Học thuyết này
Cấu trúc của luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận Phần nội dung gồm ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề chung
Chương 2 “Tư tưởng Bất bạo động” trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” của L.Tonxtoi
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài này, công việc trước hết của người nghiên cứu là thu thập tổng hợp, chọn lọc những tư liệu có liên quan trực tiếp đến đề tài Đặc biệt, người nghiên cứu phải khảo sát tác phẩm "chiến tranh và hoà bình" thông qua các bản dịch sang Tiếng Việt của các học giả Việt Nam Sau đó, người nghiên cứu phải đọc và ghi chép các tư liệu nghiên cứu có liên quan và lập thành đề cương khái quát rồi đến đề cương chi tiết Ở mỗi chi tiết được sưu tầm, ghi chép và lựa chọn đều phải trải qua quá trình khảo sát, phân tích, so sánh,…
Trang 9Phương pháp phân tích: đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu khi tực hiện đề tài
Phương pháp so sánh: được sử dụng để làm sáng rõ những vấn đề có liên quan đến từng nội dung cụ thể của đề tài
Cuối cùng, tất cả tư liệu được tổng hợp và được trình bày dưới dạng một
bài viết khoa học hoàn chỉnh
Phần nội dung
Chương I: Một số vấn đề chung
1.1 Vài nét về xã hội và văn học Nga nửa sau thế kỷ XIX
1.1.1 Bối cảnh và sự phát triển tư tưởng xã hội:
Nước Nga vào những năm sau thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển mãnh liệt, được biểu hiện bằng việc nông dân rời bỏ nông thôn, các thành phố lớn được mở rộng, các vùng công thương nghiệp và các nhà máy, công xưởng được xây dựng song song với các cuộc di chuyển phi công nghiệp “Tất cả các quá trình ấy đã và đang phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu từ sau cuộc cải cách: đó
là bộ phận khăng khít và cần thiết của sự phát triển chủ nghĩa tư bản và có một tác dụng căn bản tiến bộ so với hình thức sinh hoạt cũ”
Cùng với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp, giai cấp vô sản công nghiệp hiện đại đã xuất hiện và lớn dần đó là một hiện tượng tiến bộ Song thực chất, giai cấp tư sản Nga không phải là một giai cấp cách mạng, không đấu tranh thắng lợi như ở một số nước phương Tây, mà ngược lại,
Trang 10quá trình tiến lên chủ nghĩa tư bản ở Nga diễn ra song song với quá trình tăng cường bóc lột nhân dân lao động
Như vậy, về căn bản, đất nước Nga ở nửa sau thế kỉ XIX vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu ở châu Âu, số lượng nông dân chiếm 90% dân số- vẫn phải chìm đắm trong đêm trường nô lệ, số phận bị chao đảo trong vòng tay địa chhủ- tư sản, quan lại và nhà thờ khắc nghiệt Cuộc sống của họ càng ngày càng bị bế tắc
Đất nước Nga ở nửa sau thế kỉ XIX lâm vào một tình trạng bế tắc đứng ở ngã ba đường về xu hướng chính trị- xã hội, cuộc sống tràn ngạp vô vàn những mâu thuẫn, giằng xé nhau đến mức khủng hoảng trầm trọng Ở đây, mâu thuẫn chủ yếu quán xuyến suốt nửa sau thế kỉ XIX ở Nga chính là sự đối kháng quyết liệt giữa thế lực thống trị và quần chúng bị trị Mâu thuẫn ấy tạo thời cơ khủng hoảng gay gắt, trầm trọng trong xã hội mang tình bùng nổ chỉ chờ đợi thời cơ là bốc cháy Về mối quan hệ giai cấp và dân tộc, Lênin nhận xét: “Điều đau lòng nhất đối với chúng ta là nhìn thấy Tổ quốc tươi đẹp của chúng ta chịu biết bao
sự ngược đãi, biết bao sự áp bức và giày xéo của bọn đao phủ Nga hoàng, bọn quý tộc và bọn tư sản Chúng ta lấy làm tự hào rằng những hành động tàn bạo
đã gây ra sự phản kháng trong nhân dân chúng ta, trong nhân dân Đại Nga…” [3;tr.107]
Từ ánh sáng đó ta thấy vấn đề nông dân gắn liền với vấn đề ruộng đất có một ý nghĩa trọng đại đối với quá trình phát triển lịch sử_xã hội tư tưởng cũng như văn học nghệ thuật Nga suốt nửa sau thế kỷ XIX
Chính vì thế mà: “Chỉ dưới ánh sáng của những tâm trạng nhân dân nói chung và nông dân nói riêng trong mỗi giai đoạn của sự phát triển này mới có thể hiểu được một cách sâu sắc và đúng đắn sự phát triển của văn học Nga từ Radisep đến Tônxtoi”
“Ngày 19 tháng 02 năm 1861 đã mở màn một thời đại mới trong lịch sử nước Nga, tức là thời đại tư sản thoát thai từ thời đại nông nô”(Lênin) Thời đại mới này đã sản sinh ra hai trào lưu tư tưởng chủ yếu: Một bên là phái Tự do chủ nghĩa nổi bậc vào những năm 1860-1870; một bên là phái Dân chủ cách
Trang 11mạng Hai phái đó là những người đại biểu cho hai xu hướng lịch sử quyết định trong cuộc đấu tranh đòi giải phóng nông dân Nga
Phái Tự do muốn “giải phóng” nước Nga bằng biện pháp “từ trên xuống”
mà không phá huỷ cả chế độ quý tộc, đòi hỏi chúng “nhượng bộ” theo tinh thần của thời đại Trước sau, phái Tự do cũng vẫn chỉ là những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản là một giai cấp không thể chấp nhận chế độ nông nô, nhưng lại
sợ cách mạng và sợ phong trào của quấn chúng có khả năng lật đổ được chế độ quân chủ và tiêu diệt chính quyền bọn điạ chủ Bởi vậy phái Tự do chỉ “đấu tranh cho những cuộc cải lương”, chỉ đấu tranh cho những quyền lợi, nghĩa là chỉ phân chia chính quyền giữa bọn phong kiến và giai cấp tư sản Đại biểu cho khuynh hướng tư tưởng này trong văn học là: Tuôcghênhep, A Ôxtrôpxki, Gônsarôp,…
Phái Dân chủ cách mạng phần lớn thuộc tầng lớp trí thức bình dân chủ trương tiêu diệt chế độ nông nô Nga hoàng để giải phóng nhân dân Nga bằng
vũ lực, đưa xã hội Nga tiến lên chủ nghĩa xã hội thông qua công xã nông thôn Tuy chỉ dừng lại ở chủ nghĩa xã hội không tưởng, nhưng phong trào Dân chủ cách mạng đã góp phần cống hiến lớn lao vào việc thýưc tỉnh, giáo dục tư tưởng cách mạng cho nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ Đại biểu cho khuynh hướng này trong văn học là: Bêlinxki, Secnưsepxki, Xantưcôp,…
Hai xu hướng lịch sử trên đều đã phát triển suốt nửa sau thế kỉ XIX ở Nga “Vấn đề ngăn cách giữa hai phái Tự do chủ nghĩa phái Dân chủ cách mạng trong nước Nga là thuộc về những vấn đề cơ bản nhất trong phong trào giải phóng” [ ; tr.29]
Song song với hai khuynh hướng tư tưởng trên, vào những năm 80, cùng với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác từ Tây Âu du nhập vào Và tiếp đến vào những năm 90, Lênin băt đầu bằng những hoạt động thực tiễn, tích cực rèn luyện một chính đảng kiểu mới
Hoà vào tư tưởng mới mẻ đó là sự xuất hiện hàng loạt “con người lao động mới”- lớp người vô sản- hiên ngang bước vào văn học với vẻ đẹp hào hùng tựa như những cánh chim báo bão hăm hở xông lên giành lấy bầu trời,
Trang 12mặt đất và quyền sống cho mình, quyền cải tạo và quyền chiếm lĩnh một thế giới mới
1.1.2 Tình hình văn học Nga thế kỉ XIX:
Sau cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1812, nhân dân Nga là những người chiến thắn quân xâm lược Napoleong, điều này giúp họ ý thức đước sức mạnh
và quyền lợi chính đáng của mình, nhưng thực tế của cuộc sống nông nô và sự ngột ngạt của chế độ chuyên chế tàn bạo đã đi ngược với những yêu cầu chính đáng của họ Trong hoàn cảnh mới,quan điểm thẩm mĩ, lý tưởng thẩm mĩ và tư tưởng xã hội thay đổi dẫn đến sự ra đời của một khuynh hướng mới trong văn học, đó là chủ nghĩa lãng mạn Nhưng đến nửa sau thế kỉ XIX thì dòng văn học châm biếm cũng hình thành và phát triển mạnh mẽ với những tên tuổi như Nôvicôp, Phônvidin,…dòng văn học châm biếm là tiền thân của dồng văn học hiện thực sau này
Sau cuộc khởi nghĩa tháng Chạp năm 1825 thất bại, nước Nga rơi vào thời
kì đen tối Những nhà văn, nhà thơ có liên quan đến cuộc khởi nghĩa đều bị đàn
áp dã man Văn học lúc này gắn bó với thực tại bắt đầu hình thành và phát triển mạnh với những sáng tác của Puskin, Gôgôn,… Đến nửa sau thế kỉ XIX, chủ nghĩa hiện thực Nga đã có đầy đủ thực tiễn sáng tác và những cơ sở lí luận để phát triển vững chắc và liên tục Và kể từ đây dòng văn học hiện thực trở thành dòng văn học chủ yếu và bắt đầu đạt được những thành tựu rực rỡ Văn học Nga kể từ đây thực sự hướng về đời sống nhân dân và phong trào cách mạng đang dâng cao Thành tựu quan trọng nhất khẳng định sự toàn thắng của chủ nghĩa hiện thực Nga ở thời kì này là việc khẳng định vị trí của con người bé nhó trong xã hội, nhìn thấy được vẻ đẹp bên trong của lớp người đó, cùng với việc bóc trần mọi thứ xấu xa của xã hội, đồng thời tố cáo mạnh mẽ thế lực đồng tiền đã chà đạp lên luân thường đạo đức
Để phù hợp với xu thế phản ánh hiện thực, nghệ thuật sáng tác của các nhà văn cũng có bước phát triển cho thích hợp với những yêu cầu của thực tế đặt ra Nghệ thuật nổi bật nhất là nghệ thuật miêu tả hiện( tả chân) dựa trên các hình tượng nhân vật nguyên mẫu trong đó nổi bật lên là vấn đề xây dựng hình tượng nhân vật tích cực Điều này đã thể hiện một sự tiến bộ vượt bậc của văn
Trang 13học Về phương diện thể loại, do văn học thời kì này phản ánh toàn diện những vấn đề cấp bách và phức tạp của thời đại cho nên các sáng tác văn học có sự thay đổi lớn về thể loại Thời kì này, thơ ca vẫn phát triển đa dạng, nhưng đặc biệt nhưng đặc biệt văn xuôi phát triển mạnh mẽ và đạt đến tính chuẩn mực hoàn chỉnh Nó trở thành thể loại chủ yếu trong việc thể hiện và đăng tải các nội dung xã hội nửa sau thế kỉ XIX Có thể thấy, thể loại văn xuôi như tiểu thuyết anh hùng ca, truyện vừa vào lúc này phát triển mạnh mẽ và giữ một địa
vị thống trị so với các thể loại khác Tiêu biểu cho những thể loại này là các sáng tác của Đôxtôiepxki, L.Tônxtôi,…Song song với sự phát triển của các loại tiểu thuyết, kịch lúc này cũng phát triển mạnh mẽ Trong số các tác gia vết kịch nổi tiếng, tiêu biểu nhất là: Ôxtrôpxki, Sêkhôp,…Thời kì này còn có sự phát triển rực rỡ của truyện ngắn và kí sự
Nói tóm lại, văn học Nga nửa sau thế kỉ XIX đã phát triển đến đỉnh cao nhất của chủ nghĩa hiện thực Chính trên đỉnh cao này, L.Tônxtôi đã có những đóng góp đặc sắc cả về mặt nội dung tư tưởng và nghệ thuật qua hàng loạt những kiệt tác của mình mà tiêu biêu nhất là tác phẩm "chiến tranh và hoà bình"
1.2 Vài nét về tác giả L.Tônxtôi và tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình”
1.2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của L.Tônxtôi
Lep-Nicôlai-Ê-Vich Tônxtôi sinh ngày 09/9/1828 tại ấp Poliama, trong một gia đình quý tộc Năm lên hai tuổi L.Tônxtôi mồ côi mẹ, lên chín tuổi mồ côi cha Năm mười sáu tuổi L.Tônxtôi thi vào trường Đại Học Kadan Ban đầu ông học ở hệ Đông Phương, khoa triết, chuyên về ngôn ngữ Ả Rập cổ, sau chuyển sang học khoa Pháp lý Mùa xuân năm 1847 L.Tônxtôi bỏ học trở về trại ấp của mình Khi sống ở trại ấp, ông vẫn tự trao dồi học vấn Năm 1851, L.Tônxtôi đi Capca sốn gần gủi những người Côdac Ít lâu sau, ông nhập ngũ, L.Tônxtôi còn là người ham mê đọc sách, say mê tìm hiểu cuộc sống
I-A-Xnai-A-xã hội, ông ưa thích đọc các tác phẩm ciuar các nhà văn lớn như Rut-Xô,
Sing-Le, Puskin, Đich-Ken, Gôgôn,…
Trang 14Tác phẩm đầu tay của L.Tônxtôi là “Thòi thơ ấu” giành ngay dược cảm tình của đông đảo bạn đọc L.Tônxtôi phấn khởi viết tiếp “Thời niên thiếu” (1854) và “Thời thanh niên” (1857) Tác phẩm bộ ba tự thuật miêu tả quá trình trưởng thành của một lớp thanh niên biết suy nghĩ nghiêm chỉnh về ý nghĩa cuộc sống Qua các tác phẩm này, Sec-Nư-Xepxki nhận xét hai điểm tài năng của L.Tônxtôi là tài miêu tả các quá trình tâm lý, các hình thức quy luật tâm lý vavf phép biện chứng tâm hồn, miêu tả sự thuần khiết về đạo đức
Trong thời kỳ này, L.Tônxtôi viết một loạt truyện nhà binh như: “Đột kích” (1852), “Đẵn gỗ” (1854), nổi tiếng nhất là “Truyện Xê-va-tô-pôn” (1854-1855) diễn tả lại cuộc chiến đấu của thành phố anh hùng trong mười một tháng chống liên quân Anh-Pháp xâm lược, diễn tả lại những ấn tượng nóng hổi của L.Tônxtôi, người trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu này Toàn truyện toát lên lòng khâm phục, “sự vĩ đại thầm lặng cóa yas thức và tinh thần cứng cỏi của người lính Nga” L.Tônxtôi viết: “Nước Nga sẽ mãi mãi giữ những dáu vết cao thượng của thiên anh hùng ca Xê-va-tô-pôn, trong đó nhân dân Nga là những người anh hùng” Truyện ngắn Xê-va-tô-pôn là khúc dạo đầu cho bản anh hùng
ca "Chiến tranh và hòa bình" sau này” (Dẫn theo cuốn “Lịch sử văn học Nga) Cuối tháng 11/1855, L.Tônxtôi từ Xêvatôpôn trở về Pêtecbua Ông đề ra những dự án để cải cách nông nô nhưng thực hiện không thành Việc tiếp xúc với nông dân tạo cảm hứng cho L.Tônxtôi viết truyện ngắn “Buổi sáng của một địa chủ” (1856) Tác phẩm này là một bức tranh sinh động, hiện thực về cảnh bùn lầy nước đọng ở nông thôn Nga trước cuộc cải cách Qua tác phẩm này, nhà văn đã nói lên chân thực cuộc sống cực khổ của quần chúng
Tháng 11/1856, L.Tônxtôi giải ngũ Hai tháng sau ông ra nước ngoài lần đầu tiên Ông thăm các nước: Pháp, Thụy sĩ, Ý, Đức…Những ấn tượng đối với nghệ thuật, nghệ sĩ, đối với con người đã được ghi lại trong truyện bút ký
“Luyxec” (1857) Ngày 30/7/1857 L.Tônxtôi trở về Nga Ông viết truyện “Ba cái chết” (1858), phê phán lối sống quý tộc, xa hoa, đề cao quy luạt vĩnh hằng của thiên nhiên Truyện “Hạnh phúc gia đình” (1859): Bảo vẹ truyền thống gia trưởng trong gia đình Năm 1862 L.Tônxtôi hoàn thành tác phẩm: “Những
Trang 15người Côdăc” đã được viết từ nhiều năm trước đó Tác phẩm đề cao cuộc sống phóng khoáng với thiên nhiên của người Côdac và nêu lên vấn đề hạnh phúc của con người theo tinh thần vị tha
Năm 1871, L.Tônxtôi sống ở đồng cỏ Xamara Năm 1873, ông tham gia cứu đói tại đây, ông đành bỏ dở ý định viết cuốn tiểu thuyết về đại đé Piôt mặc
dù đã sứ tầm tài liệu khá công phu Từ năm 1873 đến năm 1877, ông viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “An-na Kaneria”, nêu lên những vấn đề xã hội cấp bách Những băn khoăn, tìm tòi, suy nghĩ của L.Tônxtôi về lý tưởng sống suốt bao năm ròng rã đã dẫn ông đến một chuyển biến tư tương lớn vào những năm 80 Trong các tác phẩm chính luận như: “Sám hối” (1870-1872), “Đâu là đức tin của tôi” (1884), “Vương quốc của chúa trong lòng của chúng ta”,…L.Tônxtôi
đã kịch liệt phê phán hệ tư tưởng quý tộc và coi tư tưởng nông dân là lý tưởng của mình
Tháng 10/1881, L.Tônxtôi và gia đình đến ở hẳn Matcova Ở đây, ông ghi lại những ấn tượng mãnh liệt về quần chúng trong tác phẩm “Thế thì chúng
ta phải làm gì đây” (1884-1886) và đi tới một nhận xét đáng chú ý: có thể bắt người ta làm nô lệ nhưng không thể bắt người ta nghĩ rằng khi chịu đựng bạo lực thì con người được tự do, còn điều ác thì con người phải chịu đựng Trong những năm 80, L.Tônxtôi viết nhiều truyện cho người dân như: “Cái chết ở Ivan Ilich” (1886) nói về cuộc sống tầm thường của một quan lại “Bản Xônat-Corayxe” (1887), “Ma quỷ” tiếp tục phê phán cuộc sống hôn nhân gia đình không dựa trên tình yêu Tác phẩm “Quyền lực bóng tối” (1886) tố cáo độc hại của chế độ tư bản “Kịch thành quả giáo dục” (1890) nói về tâm hồn nghèo nàn
và trống rỗng của bọn địa chủ Năm 1891, ông viết tác phẩm “vì sao nhân dân
ta đói” khi ông sốt sắn đi cứu đói Ông nói với bọn địa chủ trên rằng: “Nhân dân đói và chúng ta quá no, tác phẩm gây chấn động dư luận xã hội Tác phẩm
vĩ đại nhất của L.Tônxtôi trong những năm 80 là: “Phục sinh” (1889-1899) đây là bản án đanh thép phê phán chế độ nông nô chuyên chế và giáo hội ở Nga, những kẻ đẩy quần chúng vào đường cùng
Trang 16Ngòi bút của L.Tônxtôi trong những năm cuối đời vẫn không hề khô cạn Vào đầu thế kỷ này, L.Tônxtôi viết xong truyện ngắn “Khat-do-ri-murat” (1896-1904) miêu tả người chiến sĩ bất khuất đấu tranh cho tự do, phê phán Nga hoàng Nieolai I, và truyện “Sau vũ hội” (1903) tố cáo thói tàn nhẫn vô lương của bọn võ quan Vào những năm cuối đời đó, L.Tônxtôi lâm vào khủng hoảng tinh thần trầm trọng, do lý tưởng của ông về xóa bỏ bất công, tư hữu ruộng đất, trở về với tự do nguyên thủy, con người chí thiện không được thực hiện
Rạng sáng ngày 28/10/1910, L.Tônxtôi cùng với bác sĩ riêng của mình bỏ nhà ra đi Trên đường đi ông bị cảm nặng và qua đời
Lúc sống cũng như lúc chết, uy danh của nhà văn lão thành này rất to lớn đối với nước Nga và thế giới, đối với các nhà văn học nghệ thuật trong và ngoài nước, kẻ cả các nhà hoạt động chính trị Uy danh đó làm cho bọn thgoongs trị run sợ
Nhìn chung, qua sự nghiệp sáng tạo của L.Tônxtôi ta có thể thấy rõ một điều là nhà văn có sự kế thừa và phát huy các giá trị tinh hoa văn học Nga, chẳng những về tư tưởng nội dung mà còn có cả tư duy nghệ thuật Ở nội dung
tư tưởng, ta có thể thấy rỏ đó là tính nhân dân, tư duy tiến bộ được phát huy từ những nhà văn nhà thơ trước đó, mà ông từng đọc, từng yêu thích như: Rutxo, Gôgôn, Puskin,…về phương diện nghệ thuật ở thực, ông đã nâng nó lên thành chủ nghĩa hiện thực phê phán Má trước đó là những trào lưu chưa thể hiện một cách mạnh mẽ Tuy nhiên, với tài năng của L.Tônxtôi thì nghệ thuật trong sáng tác của ông không dừng lại ở đó mà còn thể hiện đa dạng, phng phú trên nhiều phương diện sáng tác
1.2.2 Tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình”.
1.2.2.1 Hoàn cảnh sáng tác:
Tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” là tác phẩm đầu tiên làm cho tên tuổi quang vinh của Tônxtôi lẫy lừng trên thế giới Tác phẩm này là một trong
Trang 17những thành tựu quan trọng nhất của văn học Nga và thế giới Tác phẩm này được sáng tác trong hoàn cảnh khá đặc biệt.
Vào những năm 1856, sau khi có lệnh ân xá những người tham gia khởi nghĩa tháng chạp (1824) bị đi đày được trở về Trước cảnh đó, Tônxtôi dự định viết một cuốn tiểu thuyết, nhân vật chính là một trong những người tháng chạp Ông nói: “Người khởi nghĩa tháng chạp của tôi là một người hăng hái, thần bí theo Cơ Đốc Giáo, trở về với nước Nga, vợ và con trai, con gái…Anh ta nhìn nước Nga bằng cặp mắt nghiêm khắc và hơi lý tưởng” Đó là truyện “Những người tháng chạp” L.Tônxtôi viết được ba chương rồi bỏ dở Dõi theo cuộc đời nhân vật, từ hiện tại L.Tônxtôi đi ngược lên năm 1825 (thời kỳ lầm lạc và bất hạnh nhất của nhân vật chính của ông) Rồi để hiểu thêm thời niên thiếu của nhân vật - ứng với năm 1812 quang vinh, L.Tônxtôi lại đi ngược lên năm đó Hàng loạt nhân vật mới xuất hiện, khuôn khổ tiểu thuyết mở rộng dần L.Tônxtôi không chỉ muốn miêu tả nước Nga trong chiến thắng, năm 1812 mà còn miêu tả nước Nga lúc thua trận Vì theo ông, nếu như nguyên nhân thắng lợi của nước Nga không phải là ngẫu nhiên mà nằm ở bản chất tính cách của nhân dân Nga và quân đội Nga thì tính cách đó hẳn là cũng thể hiện trong thời
kỳ thua trận và thất bại, thế là ông ngược lên năm 1805 Sau hơn 6 năm lao động nghệ thuật không mệt mỏi (từ năm 1863-1869) L.Tônxtôi đã hoàn thành tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” Tác phẩm này phản ánh cuộc sống người Nga ở thành thị và nông thôn vào thời bình và cả thời chiến, bao gồm những biến cố gia đình và xã hội trong khoảng thời gian từ năm 1805 đến năm 1820
Đề tài của tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” là đề tài được lấy từ lịch sử
để nói lên bản chất, tính cách của nước Nga, con người Nga không phải tới thời điểm này L.Tônxtôi mới nghĩ đến mà đã xuất hiện trước đó rồi Truyện “Những người tháng chạp” của nhà văn thực chất đã biến thành tiểu thuyết vĩ đại
“Chiến tranh và hòa bình”
Để viết nên bộ tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” L.Tônxtôi không chỉ lấy cảm hứng từ “Những người khởi nghĩa tháng chạp”, mà còn lấy cảm hứng
Trang 18từ hàng loạt tác phẩm khác như: “Đột kích” (1852), “Đẵn gỗ” (1854) và nổi tiếng nhất là thiên truyện “Xêvatôpôn” (1854-1855) diễn tả cuộc chiến đấu anh hùng của quân Nga trong 11 tháng chống quân Anh-Pháp, hang ấn tượng nóng hổi của L.Tônxtôi, người trực tiếp tham gia cuộc chiến này Toàn bộ tác phẩm toát lên lòng câm phục vĩ đại thầm lặng không có ý thức và tinh thần cứng cỏi của người lính Nga Tất cả các tác phẩm đó là khúc dạo đầu cho bản anh hùng
ca “Chiến tranh và hòa bình”
Như vậy, có thể nói “Chiến tranh và hòa bình” là tác phẩm xuất hiện vào nửa sau thế kỉ XIX, thời kỳ mà trào lưu hiện thực phát triễn mạnh mẽ Cho nên bút pháp của L.Tônxtôi trong tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình" là bút pháp miêu tả hiện thực, mà hiện thực ở đây là hiện thực được nhà văn lấy từ hiện thực lịch sử nước Nga Bút pháp miêu tả hiện thực là đặc điểm tiêu biểu nhất trong tác phẩm này Qua tác phẩm nhà văn L.Tônxtôi đã nâng tầm thể loại tiểu thuyết anh hùng ca lên tầm cao của nó trong những thập niên của thế kỉ này Ngoài ra L.Tônxtôi còn kết hợp hàng loạt các bút pháp nghệ thuật khác
1.2.2.2 Tóm tắt tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình"
Tác phẩm mở đầu với khung cảnh của một cuộc tiếp tân, nơi có đủ các nhân vật sang trọng của giới quý tộc Nga ở Pêtecbua Bên cạnh những câu chuyện thường nhật của giới quý tộc, người ta bắt đầu đã nhắc đến tên Napoleông và cuộc chiến tranh sắp tới mà Nga sắp tham gia Trong số tân khách hôm ấy có công tước Andrây Bônkônxki - một người trẻ tuổi, đẹp trai, giàu có, có cô vợ xinh đẹp mới cưới và đang chờ đón đứa con đầu lòng Và Pie
- người con rơi của lão bá tước Bêdukhôp, vừa từ nước ngoài trở về Tuy khác nhau về tính cách, một người khắc khổ lý trí, một người hồn nhiên, sôi nổi, song Andrây và Pie rất quý mến nhau vì đều là những chàng trai trung thực, khát khao đi tìm lẽ sống Andrây tuy giàu có và thành đạt, song chàng cảm thấy chán ghét tất cả Chàng chuẩn bị nhập ngũ với hi vọng tìm được chổ đứng của người đàn ông chân chính trên chiến trường, còn Pie từ nước ngoài trở về Nga, tham gia vào các cuộc chơi bời và bị trục xuất khỏi Pêtecbua vì tội du đãng Chàng trở về Matcơva, nơi cha chàng đang hấp hối Lão bá tước Bêdukhôp rất
Trang 19giàu có, không có con, ngoài đứa con rơi là Pie mà ông chưa công nhận Mấy người bà con xa, trong đó có bá tước Vaxili Kuraghen, xúm quanh giường bệnh với âm mưu chiếm đoạt gia tài Pie đứng ngoài cuộc tranh chấp đó, chàng vốn không có tình cảm với cha, nhưng khi chứng kiến cảnh hấp hối của người cha lúc lâm chung, tình cảm cha con đã làm chàng rơi nước mắt Lão bá tước mất
đi, để lại toàn bộ gia sản cho Pie và nhận chàng làm con chính thức công tước Vaxili không được lợi lộc gì trong cuộc tranh chấp bèn tìm mọi cách mồi chày Pie Vốn nhẹ dạ, cả tin, Pie rơi vào bẫy và phải cưới con gái lão Hêlen Đó là một cô gái có nhan sắc nhưng lẵng lơ và vô đạo đức
Về phần Andrây, chàng quyết định gởi vợ cho cha và mẹ chăm sóc, sau
đó gia nhập quân đội Andrây hi vọng tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống ở công danh trên chiến trường, chàng tham gia trận đánh Aoteclie và bị thương nặng phải nằm lại trên chiến trường, khi tỉnh dậy, chàng nhìn thấy bầu trời xanh rộng
và sự nhỏ nhoi của con người, kể cả những ước mơ công danh, kể cả thần tượng Napolêông Andrây được đưa vào trạm quân y và được cứu sống, sau đó chàng trở về nhà và chứng kiến cái chết đau đớn của người vợ trẻ, cùng với vết thương và sự tiêu tang của giấc mơ Tulông đã làm cho Andrây tuyệt vọng, chàng quyết định lui về sống ẩn dật Có lần Pie đến thăm Andrây và đã phê phán cách sống đó Pie lúc này đang tham gia vào hội Tam điểm với mong muốn làm việc có ích cho đời
Một lần, Andrây có việc đến gia đình bá tước Rôxtôp Tại đây chàng gặp Natasa – con gái gia đình Rôxtôp, tâm hồn trong trắng, hồn nhiên và yêu đời đã làm hồi sinh tâm hồn Andrây Chàng quyết định tham gia vào công cuộc cải cách ở triều đình và cầu hôn Natasa Chàng được gia đình Rôxtôp chấp thuận nhưng cha chàng phản đối Bá tước Bônkônxki buộc Andrây phải đi trị thương
ở nước ngoài trong khoảng thời gian một năm Andrây chấp thuận và xem đó như là thời gian để thử thách Natasa Chàng nhờ bạn mình là Pie đến chăm sóc cho Natasa lúc chàng đi vắng Natasa rất yêu Andrây, song do nhẹ dạ và cả tin Natasa đã rơi vào bẫy của Anatôn – con trai công tước Vaxili Natasa và Anatôn định bỏ trốn nhưng âm mưu bị bại lộ Nàng vô cùng đau khổ và hối
Trang 20hận Sau khi trở về, Andrây biết rõ mọi chuyện và đã nhờ Pie đem tất cả các kỷ vật cho Natasa Nàng lâm bệnh và người chăm sóc, thông cảm cho nàng lúc này là Pie
Vào lúc này, nguy cơ chiến tranh giữa Nga và Pháp ngày càng đến gần Cuối năm 1811, quân Pháp tiến dần đến biên giới Nga, quân Nga rút lui Đầu năm 1812, quân Pháp tiến vào lãnh thổ Nga, chiến tranh bùng nổ Vị tướng già Kutudôp được cử làm tổng tư lệnh quân đội Nga Quý tộc và thương gia được lệnh nộp tiền của và dân binh Pie cũng nộp tiền và hơn một nghìn dân binh cho quân đội Andrây lại gia nhập quân đội, ban đầu vì muốn trả thù tình địch, nhưng sau đó chàng bị cuốn vào cuộc chiến, bị cuốn vào tinh thần yêu nước của nhân dân Trận Bôrôdônô nổ ra Quân đội Nga dưới sự chỉ huy của vị tướng Kutudôp đã chiến đấu dũng cảm tuyệt vời Andray tham gia trận đánh và
bị thương nặng Trong lán quân y, chàng gặp lại tình địch của mình đang đau đớn vì vết thương Mọi nổi thù hận tan biến, chàng chỉ còn thấy một nổi thương cảm đối với mọi người
Chàng được đưa về hậu phương Trên đường di tản, chàng gặp lại Natasa
và tha thứ cho nàng Natasa đã chăm sóc cho Andrây cho đến lúc chàng mất Sau trận Bôdônô, quân Nga rút khỏi Matcơva Quân Pháp chiếm được Matcova nhưng vô cùng lo sợ Pie trở về Matcova và giả dạng thành người bình dân để ám sát Napoleong Âm mưu chưa thực hiện được thì chàng đã bị bắt Trong nhà giam chàng, Pie gặp Platon – một triết gia nông dân Bằng những cau chuyện của mình Platon đã giúp Pie hiểu thế nào là cuộc sống có ý nghĩa
Quân Nga bắt đầu phản công và tái chiếm Matcơva Quân Pháp rút lui hỗn loạn Cuộc chiến tranh của nhân dân Nga thắng lợi bằng cả tinh thần của dân tộc Nga chứ không phải do một cá nhân nào Đó là điều Kutudôp hiểu còn Napoleông thì không
Trên đường rút chạy của quân Pháp, Pie đã trốn thoát và trở lại Matcova Chàng hay tin Andray đã mất và vợ mình cũng vừa mới qua đời vì bệnh Chàng gặp lại Natasa, một tình cảm mới mẻ giữa hai người đã bùng nổ Pie quyết định
Trang 21cầu hôn Natasa Năm 1813 họ tổ chức lễ cưới, bảy năm sau họ có bốn mặt con Natasa lúc này không còn là một cô gái vô tư, hồn nhiên mà trở thành một người vợ đúng mực Pie sống hạnh phúc nhưng không chấp nhận cuộc sống nhàn tản Chàng tham gia vào hội kín Đó là các tổ chức cách mạng của những người tháng chạp
1.2.2.3 Vài nhận xét chung về tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình”
"Chiến tranh và hòa bình" là tác phẩm anh hùng ca hiện đại Đó là sự sáng tạo mới mẻ, duy nhất của thể loại anh hùng ca, không chỉ đối với văn học Nga
mà cả văn học thế giới nửa sau thế kỷ XIX, kể từ thời Homer đến nay
Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình" được thể hiện tập trung qua biến cố lịch sử năm 1812, nhân dân Nga chống quân xâm lược Pháp Đó là chủ đề nhân dân và tính nhân dân “Nhân dân và tính nhân dân” là chủ đề trung tâm quán xuyến toàn bộ tác phẩm Bên cạnh chủ đề trung tâm, tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình" còn thể hiện rõ chủ đề giai cấp Đó là giai cấp quý tộc Nga cùng với đời sống sinh hoạt của họ trong thời chiến và thời bình từ năm 1805 đến năm 1820 Chủ đề thứ ba của tác phảm là cách giải thích, đánh giá lịch sử theo L.Tônxtôi , một tác phẩm viết về quá khứ thì mọi sự kiện lịch
sử cần thiếtphair thông qua con người để giải thích, thông việc thể hiện số phận
và bước đường đời của các nhân vật chính Ngoài ra, tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình" còn thể hiện “Thuyết bất bạo động” hay còn gọi là “Tư tưởng Bất bạo động”, là “Chủ nghĩa Tônxtôi” Ở đây Tônxtoi hướng duy nhất vào một cuộc cách mạng về đạo đức chứ không về một cuộc cách mạng bạo lực, nó đem lại ngay sự xóa bỏ mọi chênh lệch trong xã hội, do đó tránh được cho nhân loại cuộc nỗi loạn đẫm máu kia
Bên cạnh tầm vóc to lớn về mặc nội dung, tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình" hội tụ những nét đặc sắc, nét mới mẽ về mặt nghệ thuật Trước hết, chúng
ta có thể thấy L.Tônxtôi đã phát triễn thể loại “Tiểu thuyết anh hùng ca” lên một tầm cao mới, và trở thành bản tiểu thuyết anh hùng ca hiện đại Ngoài ra, tác phẩm được xây dựng theo một kết cấu độc đáo: về đề tài, về chủ đề, về
Trang 22không gian, về thời gian, về nhân vật…Bên cạnh đó, nhà văn đặc biệt đề cao nghệ thuật tả chân, đó là một hình thức chủ đạo của trào lưu văn học hiện thực của thế kỉ này
1.3 Giới thuyết về “ Tư tưởng Bất bạo động”:
Để làm rõ hơn về “Tư tưởng Bất bạo động” và trong phạm vi yêu cầu của
đề tài; ở đây người nghiên cứu xin giới thiệu vài nét chính trong “Tư tưởng Bất bạo động” của Lep Tonxtoi và Thánh Gandhi:
1.3.1 “Thuyết Bất bạo động” của Lep Tonxtoi:
Trong cuốn sách “chúng ta phải làm gì?” của ông cũng mô tả với một hình thức đầy xúc động cuộc gặp gỡ đầu tiên này với sự nghèo khổ của quảng đại quần chúng ở một thành phố lớn Tất nhiên là đôi mắt trong suốt của ông đã nhìn thấy hang ngàn lần trước đây trong những cuộc du lịch và những cuộc dạo chơi nhưng đó đơn thuần chỉ là cái nghèo khổ cá nhân ở các làng mạc và nông thôn chứ không phải là cái nghèo khổ của người vô sản ở các thành phố công nghiệp, cái nghèo khổ sản phẩm của thời đại, sản phẩm cơ khí hoá của một nền văn minh cơ giới Đưa vào thực hành thái độ của ông đối với kinh thánh Tônxtôi lúc đầu tìm cách làm dịu bớt sự nghèo cực bằng qùa tặng và sự đóng góp, bằng cách tổ chức long thương người, nhưng ông thấy ngay được sự vô bổ của mỗi hoạt động cá nhân, và thấy rằng “chỉ một mình tiền bạc trong trường hợp này sữ không làm được gì tốt trong việc thay đổi cuộc sống bi đát của những con người này” Một sự thay đổi thực tại chỉ có thể được thực hiện bằng một sự cấu tạo lại hoàn toàn hệ thống xã hội hiện tại Thế là ông viết những dòng kêu hãnh cảnh báo về bức tường của các thời đại: “giữa chúng ta, người giàu và người nghèo luôn có một bức tường của giáo dục sai lầm ngăn cách và trước khi chúng ta có thể giúp đỡ người nghèo chúng ta phải giật đổ bức tường
đó Tôi đi đến kết luận rằng sự giàu sang của chúng ta là sự nghèo cực của quần chúng” Có cái gì sai lầm trong cơ cấu xã hội hiện tại: điều đó rõ rang đến tận đáy sâu xa nhất của tâm hồn ông, và kể từ đó Tônxtôi chỉ có một mục đích đơn thuần – khai hóa dân chúng, báo với họ, giáo dục họ bỏ tâm sức của ý chí
tự do của bản thân mình để sửa chữa một sự thật là con người bị chia cắt thành những giai cấp hoàn toàn cách biệt
Trang 23Điều đó phải được thực hiện do ý chí tự do của dân chúng và từ một sự thấu hiểu về đạo đức thuần khiết Chủ nghĩa Tônxtôi bắt đầu từ ở đây vì Tônxtôi hướng duy nhất vào một cuộc cách mạng đạo đức chứ không hướng về một cuộc cách mạng bạo lực, nó đem lại ngay sự xóa bỏ mọi sự chênh lệch trong xã hội, do đó tránh cho nhân loại một cuộc nổi loạn đẫm máu kia Đó là một cuộc cách mạng dựa trên lương tâm, một cuộc cách mạng thông qua việc người giàu tự nguyện từ bỏ những của cải của mình, người lười biếng từ bỏ sự
vô công rồi nghề của mình và thong qua sự phân công lao động mới ngay tức khắc theo ý tự nhiên mà Chúa ban cho là không ai được có phần thái quá trong lao động của người khác Và ai ai cũng có những thứ cần dung như nhau Từ
đó ông cũng coi sự xa hoa như là sự nở hoa đầy chất độc của sự sa đoạ, nó phải được trốc tận rễ vì sự an toàn của nền bình đẳng giữa người với người Xuất phát từ niềm tin đó, Tônxtôi bắt đầu đấu tranh chống nghèo đói trăm lần quyết liệt hơn Mác và Pruđông Ngày nay, sở hữu là cội rễ của mọi tội lỗi Nó gây ra cái đau khổ của người sở hữu và của những người không sở hữu Và nguy cơ xung đột không tránh khỏi giữa những kẻ có quá nhiều và những kẻ không có gì” Mọi tội lỗi bắt nguồn từ sự nghèo đói Nhà nước còn thừa nhận càng lâu nguyên tắc sở hữu thì theo Tônxtôi nó vừa phi cơ đốc và phi xã hội, và( vì theo Tônxtôi sở hữu biểu hiện sự nợ nần của những kẻ khác) trở thành một trong những bên, thực tế là thành bên chính của tội lỗi “Các Nhà nước và các chính phủ âm mưu tiến hành chiến tranh cho quyền sở hữu, khi thì vì đôi bờ song Ranh, lãnh thổ của châu Phi, khi thì vì Trung Quốc và vùng Ban Căng Các chủ ngân hang, các chủ xí nghiệp, các địa chủ làm việc, lập kế hoạch và hành hạ bản than người khác chỉ vì quyền sở hữu Những cuộc đấu tranh, lừa đảo, áp bức của chính quyền và sự đau khổ, tất cả đều vì sự an toàn của chính quyền sở hữu mà thôi Toà án của chúng ta, cảnh sát của chúng ta bảo vệ quyền sở hữu Các trại cải tạo và các nhà tù của chúng ta tất cả những ghê gợn của cái gọi là
sự xoá bỏ tội lỗi đều tồn tai hoàn toàn để bảo vệ quyền sở hữu” vì vậy theo nhận thức của Tônxtôi , chỉ có một người tiếp nhận hùng mạnh những của cải
ăn trộm được, người đó che chở cho tất cả những bất công của xã hội ngày nay
và kẻ phạm tội đó là Nhà nước Theo ý ông, nó được dựng lên chỉ để bảo vệ
Trang 24quyền sở hữu; chỉ vì một mục đích đó, nó thiết lập hệ thống nhiều mạng lưới quyền lực với luật pháp, những người được uỷ quyền thi hành, những nhà tù, những thầy kiện, những cảnh sát và quân đội Những cái vi phạm khủng khiếp nhất và trái đạo lý nhất mà Tônxtôi coi là một sang chế riêng của thế kỉ mình,
đó là nghĩa vụ quân sự phổ cập Theo ông, không có gì khiêu khích đến như vậy, người thiên Chúa giáo phản bội các lời giáo huấn của chúa Giêsu và những lời răn dạy của Kinh Phúc Âm bằng sự phục tùng mện lệnh của Nhà nước, cho phep một dụng cụ giết người bị cưỡng bức đưa vào tay một người để giết một người xa lạ, tuyệt đối vì sự an toàn của một khẩu lệnh ngẫu nhiên- Tổ quốc, tự do, Nhà nước Tônxtôi không ngừng thết llên rằng những khẩu lệnh đó không có mục đích nào khác ngoài mục đích bảo vệ quyền sở hữu không thuộc
về ông và một cách cưỡng bức, giương cao ý tưởng về sở hữu thành ý tưởng của một quy luật đạo đức cao hơn.Tônxtôi đã viết hàng trăm và hàng trăm trang
để nhấn mạnh điều mâu thuẫn là: trong tình trạng hiện nay của cái gọi là nền văn minh( trong đó, ông chỉ thấy một sự trá hình của đạo đức bị sa đoạ) Con người có thể bị bắt buộc tàn sát lẫn nhau dưới mệnh lệnh của Nhà nước Đó là trái với lời răn của đức Chúa trời và trái với nhắc nhủ của đạo đức bên trong, bởi vì làm như vậy “Con người bị đưa đến trái với ý mình, một vị trí khước từ
sự hiểu biết của mình”
Như vậy, Tônxtôi- người đi tìm kinh Phúc Âm thường xuyên biến thành người vô chính phủ triệt để- đi đến kết luận rằng: bổn phận của mọi người có hiểu biết về đạo đức là chống lại Nhà nước nếu nó đòi hỏi một cái gì “Trái với Thiên Chúa giáo”, tức là nghĩa vụ quân sự, và diều đó kgông bằng bạo lực mà bằng “bất bạo động”; cộng them vào đó, con người này phải tự nguyện loại bỏ hoạt động phụ thuộc vào sự bóc lột lao động của kẻ khác Những người đáng tôn kính phải suy nghĩ và hành động không phải một cách yêu nước mà một cách nhân đạo Tônxtôi nhằm vào quyền thiêng liêng nhất của cá nhân, là từ bỏ các vật khỏi niềm tin bên trong, mặc dù những sự vật đó được luật pháp cho phép và thậm chí bắt buộc, tỏ ra ương bướng với mỗi công bố Nhà nước không thừa nhận là hợp đạo lý Vì vậy, ông khuyên người Thiên Chúa thoát khỏi mọi
Trang 25sự sắp xếp và thể chế càng nhiều càng tốt, không xuất hiện ở tòa án và không nhận một công việc nào để giữ cho tâm hồn được trong sạch
Và hơn thế nữa, chủ nghĩa Tonxtoi lên án mạnh mẽ và quyết liệt trật tự xã hội hiện tại, nhưng nó lại loại bỏ mọi sự chống lại xã hội bằng bạon lực, vì cách mạng phải đấu tranh chống lại cái Ác bằng một cái Ác khác, bằng bạo lực Tuân thủ một nguyên tắc cao nhất và sâu sắc nhất của mình “Đừng chống lại cái Ác bằng bạo lực”, Tonxtoi đưa ra giáo huấn kêu gọi: coi sự chống đối thụ động và cá nhân như một hình thức đấu tranh duy nhất được phép, trái với phương thức cách mạng tiêu cực Điều mà Tonxtoi mơ ước là cuộc cách mạng bên trong, cuộc cách mạng không phải của những quả đấm vũ lực mà là của một lương tâm không lay chuyển và sẵn sang cho mọi người chịu đựng- một cuộc cách mạng tâm hồn chứ không phải của nắm đấm
Luận đề đó có sức hấp dẫn biết bao nhiêu ở một đất nước với mâu thuẫn
xã hội cực điểm, uy tín của Tonxtoi to lớn biết bao nhiêu ở thời đại của ông khiến cho nhiều người mong muốn thực hiện trong thực hành lý thuyết xã hội mới của Tonxtoi Ở một số ít nơi có những người tìm cách đưa nó ra trắc nghiệm, bằng cách xây dựng những trang trại trên nguyên tác không tài sản và không bạo lực nhưng tai hại thay, những ý đồ đó kết thúc thất vọng và chủ nghĩa Tonxtoi không thành công trong nhà ông, trong gia đình ông Trong nhiều năm, ông cố gắng tạo sự hài hòa của cuộc sống riêng với các lý thuyết của mình Ông từ bỏ thú vui đi săn để khỏi sát hại muông thú, ông tránh dùng đường ga xe lửa càng xa càng tốt, thu nhập do viết lách ông giao lại cho gia đình hay cho những mục đích từ thiện; ông từ chối ăn thịt vì nó đòi hỏi cái chết bắt buộc của một sinh thể Ông tự cày lấy ruộng, đi đây đi đó với cái áo thô nông dân và tự tay đóng lấy đế đôi giày của mình
Nhưng ông không thể chinh phục sự chống lại của thực tế đối ví các ý tưởng của ông và bi kịch sâu sắc nhất của đời ông- kém hơn cả là trong bản thân gia đình ông, giữa những người gần gũi nhất và thân thương nhất vợ ông trở thành người xa lạ, các con ông không hiểu nổi tại sao họ đặc biệt phải nuôi nấng như cô vắt sữa bò và như con cái nông dân vì sự an toàn của cái lý thuyết
Trang 26của phụ than họ; các thư kí và người dịch sách ông cãi nhau ầm ĩ Tính chất trí thức và sự kiêu hãnh của ông làm ông không phù hợp với ai để thực hiện lý tưởng đã được truyền bá một cách thiết tha
1.3.2 “Tư Tưởng Bất Bạo Ðộng” của thánh Gandhi:
Triết thuyết Ahimsa của Gandhi là triết thuyết bất bạo động, và ông chủ trương áp dụng bất bạo động trong mọi lãnh vực quốc gia Việc diễn tả triết thuyết này một cách toàn vẹn không đơn giản bởi vì chính Gandhi cũng từng thú nhận: “Không ai có thể diễn tả Thượng Ðế một cách đầy đủ Việc diễn tả bất bạo động cũng như vậy” Tuy vậy, Ahimsa có thể được định nghĩa tạm như
là tư tưởng bất bạo động hướng dẫn con người hành xử theo tình thương người với sự can đảm cá nhân vượt bực Tình thương người và lòng can đảm cá nhân chính là hai bửu bối quan trọng của người thi hành bất bạo động “Lưỡi kiếm
của bất bạo động là tình thương và sự quả quyết không thể lay chuyển”
Sách lược bất bạo động khác với chủ trương phản kháng tiêu cực Phản kháng tiêu cực là vũ khí của thành phần yếu không có khả năng tài trợ bạo lực nhưng không từ chối việc sử dụng bạo lực khi điều kiện cho phép Trong khi
đó, sách lược Ahimsa là vũ khí của thành phần mạnh nhất, có ý chí cao nhất và hoàn toàn không chấp nhận việc dùng bạo lực trong mọi hoàn cảnh Bất bạo động lúc nào cũng hơn phản kháng vũ lực và có thể giải quyết tất cả các khó khăn; tuy vậy, bất bạo động không thể được sử dụng để bảo vệ các chủ trương
sai lầm
Gandhi tin tưởng tuyệt đối vào sự thành công của đường lối bất bạo động Theo ông, không có vấn đề thua thiệt trong bất bạo động Bất bạo động sẽ không bị thất bại nếu là bất bạo động thật sự; và chỉ có những kẻ giả mạo bất bạo động mới gặp thất bại Gandhi cho biết là suốt nửa thế kỷ của cuộc đời, ông chưa bao giờ trải qua một hoàn cảnh nào mà ông không thể giải quyết bằng phương pháp bất bạo động Ðối với ông, Ahimsa là một tín điều cho nên ông luôn luôn áp dụng bất bạo động khi làm việc một mình hay với bạn đồng hành Ðối với Gandhi, nhiệm vụ tuyên truyền cho Ahimsa là mục đích của cuộc đời cho nên ông chủ trương phải sử dụng bất bạo động trong mọi hoàn cảnh Ông
Trang 27tin rằng khi việc thực hiện bất bạo động trở thành phổ cập khắp vũ trụ thì
Thượng Ðế sẽ cai trị ở mặt đất như trên thiên đàng
Trong thế giới bất bạo động, mọi suy tư đều có giá trị và mọi tiếng nói thật sự đều có giá trị Gandhi quan niệm rằng chúng ta có thể sẽ không bao giờ
đủ mạnh để hoàn toàn trở thành bất bạo động trong ý nghĩ, lời nói và hành động; nhưng chúng ta phải giữ bất bạo động như mục đích của cuộc đời và tiến hóa dần dần về hướng bất bạo động Sự vinh đạt tự do - của con người, quốc gia hay thế giới - phải tương xứng với khả năng hành xử Bất bạo động của mỗi
cá nhân
Tuy nhiên, Bất bạo động không đồng nghĩa với sự hèn nhát; song song, có những hành vi dùng vũ lực được xem như là hành vi bất bạo động Nếu chỉ phải chọn lựa giữa tư thế hèn nhát để từ chối cứu người hoạn nạn và hành động bạo lực để cứu người thì Gandhi sẵn sàng dùng bạo lực để cứu người Bất bạo động không bao giờ được dùng như một bình phong để che đậy sự hèn nhát Ông thà thấy “Ấn Ðộ dùng vũ khí để bảo vệ danh dự quốc gia hơn là hèn nhát”
để mất danh dự
Hành vi bất bạo động cũng có mức độ bởi vì đôi khi hành động tự vệ bằng
vũ khí cũng có thể được xem là bất bạo động Theo Gandhi, nếu một người cầm kiếm đánh một mình với một đám giặc cướp võ trang đến tận răng thì tôi nên nói ông ta đánh một cách bất bạo lực Chẳng lẽ tôi chưa từng nói với giới phụ nữ của chúng ta là, nếu phải bảo vệ danh dự của họ thì họ dùng móng tay
và răng và cả dao găm, tôi xem hành động của họ là bất bạo lực? Cô gái chưa biết sự khác biệt giữa himsa (bạo động) và ahimsa (bất bạo động) Cô gái phản ứng tự nhiên Thí dụ một con chuột dùng mõm bén để chống lại một con mèo, anh có thể nói con chuột là dữ tợn hay không? Tương tự như vậy, người Ba-Lan can đảm chống đối những đoàn quân Ðức với lực lượng đông hơn nhiều,
vũ khí và sức mạnh quân sự (hơn họ nhiều), (hành động của người Ba-Lan) gần như vô bạo lực Như vậy, thì một hành động tùy trường hợp có thể được xem
là hành vi bất bạo động hay là hành vi bạo động
Người thi hành bất bạo động là người sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình để bảo vệ sự thật “Sự hy sinh mạng sống cho sự thật chính là chánh điểm
Trang 28của bất bạo động” Người thi hành bất bạo động không bao giờ chạy trốn sự hiểm nghèo khi hành động một mình hay chung với người khác và nhất quyết hoàn thành trách nhiệm ngay cả khi phải hy sinh mạng sống cá nhân Người thi hành bất bạo động phải sẵn sàng hy sinh với nụ cười trên môi mà không có
ý trả thù hay ý oán thù trong tim Một vài người nghĩ sai là sách lược bất bạo động chỉ có nghĩa là đi tù, hay là bị đánh đập nhưng không còn gì hơn nữa; theo Gandhi, phương pháp bất bạo động loại này không đem lại độc lập cho quốc gia Muốn giành được độc lập quốc gia thì người thi hành bất bạo động phải học hỏi cách dấn thân hy sinh mạng sống cá nhân mà không sát hại đối
phương
Gandhi quan niệm là chừng nào chúng ta còn giữ gươm giáo hay vũ khí thì chúng ta còn sợ hãi Sự sợ hãi ngoại nhân hay đối phương là cội rễ của lòng căm thù Khi không còn sợ hãi thì không còn căm thù Vì vậy chúng ta phải thay đổi nếu muốn thay đổi ngoại nhân hay đối phương; nếu chúng ta không còn yếu hèn thì ngoại nhân hay đối phương không thể hơn chúng ta Vũ khí của ngoại nhân hay đối phương không thể làm cho chúng ta sợ hãi; do đó chúng ta không có nhu cầu cần đến gươm giáo hay vũ khí (để chống lại ngoại nhân hay
đối phương bởi vì chúng ta không còn sợ sự đàn áp của họ)
Cả đời của Gandhi tận tụy hy sinh cho một quốc gia Ấn độc lập, tự do và hạnh phúc Ông xây dựng quốc gia lý tưởng của ông trên trang giấy như sau:
“Tôi sẽ tranh đấu cho một Ấn Ðộ trong đó thành phần nghèo nhất cũng có thể
cảm thấy đó là quốc gia của họ mà trong đó họ có tiếng nói hiệu lực; một Ấn
Ðộ mà trong đó không có giới thượng lưu hay giới hạ lưu Một Ấn Ðộ mà trong
đó tất cả các cộng đồng đều chung sống tuyệt đối dung hòa Trong quốc gia Ấn
Ðộ đó tệ nạn hạ nhân hoặc say sưa và nghiện ngập không tồn tại Nữ giới có cùng quyền hạn như nam giới Bởi vì chúng ta có hòa bình với cả thế giới, không bóc lột hay bị bóc lột, chúng ta sẽ có một đội quân ít người nhất Tất cả các quyền lợi, bất kể là của ngoại quốc hay của quốc gia, không đi ngược lại quyền lợi của triệu triệu ngu dân sẽ được tôn trọng một cách chu đáo Ðây là
Ấn Ðộ trong giấc mơ của tôi”
Trang 29Như vậy, với chủ trương Bất Bạo Ðộng, Gandhi đã thành công trong nỗ lực tháo bỏ gông cùm nô lệ cho dân tộc Ấn và bình đẳng hóa xã hội (mặc dầu
là thành quả về phương diện này bị giới hạn nhiều sau khi ông qua đời) Sau khi Gandhi ra đi, một đồng nghiệp (co-worker) của ông tên Vinoba Bhave cũng
cố gắng nối tiếp bước ông để nâng cao đời sống nhân dân Vào tháng 4-1951, Bhave đi từ làng này qua làng khác để kêu gọi giai cấp địa chủ tặng ruộng đất cho giới vô sản Phong trào Boodan Yagna (Tặng Ðất) nổi lên một thời gian rồi chìm lặng vào quên lãng bởi vì thiếu sự hỗ trợ tinh thần thánh thiện của Gandhi Với cái chết của Gandhi, Ấn Ðộ mất đi vị Cha Già Quốc Gia và nhân
loại mất đi một vị Thánh cao quý
Chương 2 “Tư tưởng Bất bạo động” trong tác phẩm
“Chiến tranh và hoà bình” của Lep Tônxtôi:
2.1 Nội dung của “Tư tưởng Bất bạo động” trong tác phẩm
“Chiến tranh và hoà bình” của Lep Tônxtôi:
2.1.1 Tình yêu lao động và lao động:
Đây là một trong những cơ bản mà người đọc có thể dễ dàng nhận thấy được ngay trong tác phẩm "Chiến tranh và hoà bình" của L.Tônxtôi Cụ thể là đại văn hào L.Tônxtôi đã dành riêng một chương của tác phẩm "Chiến tranh và hoà bình"( đó là chươg VII trong phần “Vĩ thanh” của tác phẩm) để nói về
“Tình yêu lao động và lao động” của nhân vật Nicolai Rostov từ sau năm 1814- khi Nicolai Rostov cưới vợ và bắt đầu một cuộc sống mới “Mùa thu năm 1814, Nicolai cưới công tước tiểu thư Marya và ccùng với vợ, mẹ và Xonya dọn đến
ở Lưxye Gorư”[2; IV/354]
Sau thơi gian 3 năm, Nicolai Rostov tuy đã cưới được công tước tiểu thư Marya giàu có nhưng chàng không cần phải bán bất kì một gia sản nào của vợ
mà chàng vẫn trả xong hết món nợ thừa kế gia sản mà cố bá tước Rostov để lại
Và sau khi thừa hưởng một gia sản nhỏ của người chị em họ mới chết để lại, Nicolai đã trả xong số tiền vay của Pie
Trang 30Và hơn thế nữa, 3 năm sau- “Năm 1820, Nicolai Rostov đã mua được một điền trang nhỏ gần Lưxye Gorư và đang điều đình chuộc lại điền trang Otradnoye của cha chàng, đay chính là điều mơ ước thiết tha nhất của chàng”[2;IV/355]
Như vậy chỉ trong khoảng thời gian 6 năm (Từ năm 1814-1820) Nicolai Rostov không những trả xong hết các món nợ mà chàng đã thừa kế khi cố bá tước Rostov qua đời, mà chàng còn chuộc lại điên trang của cha chàg ở Otradnoye Hay nói một cách khác, chỉ trong khoảng một thời gian ngắn(6 năm) Nicolai Rostov từ địa vị, thân phận của một người mang nợ và khốn đốn;
mà giờ đây thoáng qua thời gian ngắn ngủi, chàng không những trả xong hết những món nợ mà còn ông chủ của một điền trang Otradnoye rộng lớn Ở đây, người đọc không ngừng thắc mắc là do nguyên nhân nào đã dẫn Nicolai Rostov
đi đến sự thành công trong sự nghiệp đến thế? Đó là một sự “May mắn trong cuộc sống” hay là cả một sự “Nổ lực của bản thân”?
Khi lý giải những nguyên nhân trên, L.Tônxtôi đã cho người đọc thấy rõ một khía cạnh cơ bản của “Thuyết Bất bạo động” mà đại văn hào gửi gắm ở nhân vật Nicolai Rostov
“Sau khi bắt tay vào cai quản điền trang vì hoàn cảnh bắt buộc chẳng bao lâu chàng đã say mê nghề nông đến nỗi nghề đó đã trở thành công việc thích thú nhất và gần như là công việc của chàng”[2;IV/355]
Như vậy, ta thấy ở Nicolai Rostov một tình yêu lao động chân thành và nhiệt tình lao động Chẳng những thế, ở Nicolai Rostov- một người luôn luôn yêu thương người lao động
Trước hết, theo quan niệm của Nicolai Rostov cho rằng: con người phải bắt tay vào lao động, xem lao động là mục đích sống “Và ở trong điền trang cái chính không phải là chất đạm, không phải một kiểu lưỡi cày hay một thứ phân mới, mà là cái công cụ chủ yếu thông qua đó: chất đạm, dưỡng khí hay phân bón cũng như lưỡi cày có tác dụng, tức là con người nông dân lao động”[2;IV/355]
Nói khác đi, quan niệm của Nicolai Rostov rất gần gũi mật thiết với quan niệm của dân gian trong suốt quá trình sản xuất nông nghiệp, đó là quan niệm
Trang 31“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Cả bốn yếu tố trên đều là thiết yếu
và đều gắn bó mật thiết với nhau Và thheo quan niệm của Nicolai Rostov thì yếu tố “Cần”- tức là yếu tố con người- con người lao động và yêu lao động đóng vai trò chủ đạo trong suốt quá trình sản xuất nông nghiệp Và thế là, bản thân Nicolai Rostov - một ông chủ điền trang cũng bắt tay vào lao động “Nàng không hiểu vì sao chàng lại đặc phấn chấn và sung sướng đến thế, khi thức dậy
từ sớm tinh mơ, suốt buổi sáng ở ngoài đồng hay trên sân đập lúa, rồi trở về nhà uống trà với nàng sau khi đi coi nông dân gieo gặt, cắt cỏ hay gặt lúa”[2;IV/355]
Chẳng những thế, khi bắt tay vào lao động với một tinh thần hăng say và đam mê, ta còn thấy ở Nicolai Rostov- một ông chủ điền trang này luôn luôn đan xen những trạng thái tâm lý khác nhau, đó là: sự lo âu trông chờ, lo lắng
“Những trận mưa nhỏ ấm” hay sự phấn khởi, vui vẻ trên gương mặt chàng
“Nàng không hiểu tại sao chàng lại vui sướng như vậy trong khi đi đi lại lại từ cửa sổ đến bao lơn, mỉm cười dưới bộ râu mép và nheo nheo con mắt khi một cơn mưa nhỏ ấm và nặng rơi trên những mầm yến mạch đã khô héo, hay tại sao khi một đám mây đen đáng sợ bị gió thổi bạt đi vào lúc làm cỏ hay gặt lúa Nicolai ở sân đập lúa về, mặt đỏ bừng, mồ hôi nhễ nhại, tóc sực mùi ngải đắng
và mùi bạc hà, vừa vui vẻ xoa tay vừa nói: Ấy, cứ thế cho một ngày nữa thôi là tất cả mùa màng của ta và của dân cày sẽ vào kho hết”[ ;IV/355]
Và đó cũng chính là tâm trạng chung của những người yêu lao động, những người sản xuất nông nghiệp, đó là: tâm trạng lo âu, trông chờ vào sự thuận lợi của khí hậu, sự được- mất của mùa vụ:
“ Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng”
Bên cạnh tình yêu lao động và bắt tay vào công việc lao động, đại văn hào L.Tônxtôi còn cho người đọc thấy một tư tưởng mới và tiến bộ ở Nicolai
Trang 32Rostov- ở một ông chủ điền trang, đó chính là cái nhìn đầy thiện cảm về người dân lao động “Khi Nicolai bắt tay vào quản lý cơ ngơi và bắt đầu khảo sát từng
bộ phận của nó, thì người nông dân đặc biệt khiến chàng chú ý, đối với chàng thì người nông dân còn là mục đích và còn là quan toà nữa”[2; IV/355] Và đối với chàng thì việc tìm hiểu về người nông dân lao động còn là một việc làm cấp thiết và vô cùng quan trọng “Thoạt tiên, chàng quan sát người nông dân, cố gắng tìm xem họ cần gì, họ cho cái gì là tốt, cái gì là xấu, chàng giả vờ chỉ dẫn
và sai khiến, nhưng kì thực chàng chỉ học ở người nông dân, học những cách làm của họ, ngôn ngữ của họ và cách họ phán đoán cái gì là tốt, cái gì là xấu
Và mãi đến khi chàng hiểu những thị hiếu và những mong muốn, hoài bão của nông dân, đến khi chàng biết nói ngôn ngữ của họ và hiểu được cái ý nghĩa kín đáo của nó, cảm thấy mình đã là người thân thích của họ, lúc bấy giờ chàng mới điều khiển họ một cách mạnh dạn, tức là chấp hành cái nhiệm vụ mà nông dân đòi hỏi ở chàng”[2; IV/355]
Tuy vơi vai trò, địa vị của một người cấp trên- một ông chủ điền tranh nhưng ta thấy Nicolai Rostov đối xử với những người nông dân lao động một cách chuẩn mực và thật hoà đồng với họ, chàng cố gắng chăm lo cho cuộc sống của người nông dân “Trước khi phân tích những thành phần hoá học của phân, trước khi đi sâu vào các trái khoán và tín dụng, chàng điều tra số gia súc của nông dân và tìm mọi cách để tăng số gia súc này Chàng tìm cách làm cho nông dân duy trì hình thức đại gia đình, không để họ phân tán ra”[2; IV/356]
Và một trong những nhân cách đáng quý, đáng trân trọng ở Nicolai Rostov- ở một ông chủ điền trang giản dị này, chính là: việc đối xử, chăm lo cho người dân một cách công bằng, không bao giờ tỏ ra sự thiên vị “Lúc gieo hạt, cắt cỏ hay gặt lúa mì chàng luôn chú ý đến sự đồng đều đến ruộng của mình và cả ruộng của nông dân, không chút thiên vị”[2; IV/356] Sự đối xử công bằng đến mức chàng không thể và không bao giờ nghĩ riêng cho lợi ích cá nhân mình “Chàng không cho phép mình bắt ai làm việc quá nhiều hay xử phạt người ta chỉ vì ý thich riêng, cũng như không giảm nhẹ công việc cho ai và ban thưởng cho người ta chỉ vì đó là sở thích cá nhân mình Chàng không thể nào nói rõ tiêu chuẩn gì cho phép chàng phân định cái gì nên làm và cái gì không