1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn PHÉP THẾ TRONG VANG BÓNG một THỜICỦA NGUYỄN TUÂN

113 272 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nghiên cứu về phép thế, một phương thức liên kết trong liên kết hình thức của văn bản, người viết cũng gặp phải những vấn đề khó khăn khi tiếp cận vấn đề, đặc biệt khi khảo sát các d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS.Nguyễn Thị Ngọc Điệp Nguyễn Hữu Trọng

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Liên kết văn bản là một vấn đề đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Điều này thể hiện, liên kết văn bản là vấn đề không hề đơn giản Khi nghiên cứu về phép thế, một phương thức liên kết trong liên kết hình thức của văn bản, người viết cũng gặp phải những vấn đề khó khăn khi tiếp cận vấn đề, đặc biệt khi khảo sát các dạng thức thế

trong Vang bóng một thời Dù đã có những công trình khảo sát phép thế một cách hệ

thống, nhưng thiết nghĩ, nếu không có sự giảng giải tận tình và động viên của cán bộ hướng dẫn, cô Nguyễn Thị Ngọc Điệp thì người viết khó có thể hoàn thành luận văn

Cô đã hỗ trợ tận tình về kiến thức cũng như những kĩ năng cần thiết để người viết hoàn thành sớm luận văn

Luận văn hoàn thành, điều này cũng có nghĩa người viết sắp phải rời mái trường đại học để bước vào những trải nghiệm thực sự của cuộc sống Bốn năm ngồi trên ghế giảng đường, người viết đã học hỏi rất nhiều cũng như sự giúp đỡ tận tình từ những thầy cô đáng kính Người viết đã được trang bị kiến thức chuyên ngành cũng như nghiệp vụ sư phạm để người viết tự tin hơn cho mai sau Nhân lời nói đầu, người viết xin gởi lời tri ân chân thành và sâu sắc đến quý thầy cô, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Ngọc Điệp, giáo viên hướng dẫn luận văn, và Lê Thị Ngọc Bích, cô Cố vấn học tập của người viết trong suốt bốn năm qua Đồng thời, xin chúc quý thầy cô luôn dồi dào sức khoẻ và thành công trong cuộc sống

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử vấn đề ……….……….1

3 Mục đích nghiên cứu………4

4 Phạm vi nghiên cứu……… 4

5 Phương pháp nghiên cứu……… ………5

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: KHÁI LƯỢC VỀ PHÉP THẾ TRONG LIÊN KẾT VĂN BẢN 1 Khái niệm phép thế trong liên kết văn bản……… ………6

2 Phân loại phép thế trong liên kết văn bản……….….…… 9

2.1 Quan điểm một số tác giả về phân loại phép thế……… ………9

2.1.1 Quan điểm của Trần NgọcThêm ……… ……….9

2.1.1.1 Thế đồng nghĩa ……… ………9

2.1.1.2 Thế đại từ……… ……… ……… 11

2.1.2 Quan điểm của Nguyễn Trọng Báu (chủ biên)………… ……… 15

2.1.3 Quan điểm của Diệp Quang Ban……… 17

2.1.4 Quan điểm của Nguyễn Thị Ảnh……… ……….19

2.1.5 Quan điểm của Bùi Minh Toán (chủ biên)……… ………… 20

2.1.6 Quan điểm một số tác giả khác……… ………20

2.2 Nhận xét ……… ……… 22

2.3 Hướng phân loại phép thế trong liên kết văn bản……… ……….24

2.3.1 Thế đồng nghĩa……… ………24

2.3.1.1 Thế đồng nghĩa từ điển……….24

2.3.1.2 Thế đồng nghĩa phủ định……… 25

2.3.2 Thế đồng quy chiếu……… ……….25

2.3.2.1 Thế đại từ ……….………26

2.3.2.2 Thế danh từ bậc trên ………27

2.3.2.3 Thế danh ngữ miêu tả………… ………28

2.3.2.4 Thế danh ngữ khái quát ………… ………28

3 Chức năng của phép thế……… ……… 29

CHƯƠNG II: PHÉP THẾ TRONG VANG BÓNG MỘT THỜI CỦA NGUYỄN TUÂN 1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Tuân và Vang bóng một thời………….……… 32

1.1 Tiểu sử, con người ……… ……….32

1.2 Sự nghiệp sáng tác……….……… 33

Trang 4

1.3 Phong cách nghệ thuật……….……….35

1.4 Vài nét về Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân….……… 36

2 Các dạng thức của phép thế trong Vang bóng một thời………… ………… ……37

2.1 Thế đồng quy chiếu……….……….37

2.1.1 Thế đại từ……….……….………….37

2.1.1.1 Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba……… 38

2.1.1.2 Đại từ hoá……… ……… 40

2.1.1.3 Đại từ chỉ định……….………43

2.1.2 Thế danh ngữ miêu tả………… ……….44

2.1.3 Thế danh ngữ khái quát……….………47

2.1.4 Thế danh từ bậc trên……… ………48

2.2 Thế đồng nghĩa……….………49

3 Chức năng phép thế trong Vang bóng một thời……… ……….52

3.1 Chức năng liên kết và tránh lặp từ vựng……… ………52

3.1.1 Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba……….52

3.1.1.1 Đại từ hắn……….……… 52

3.1.1.2 Đại từ họ……… ………54

3.1.1.3 Đại từ nó……… 56

3.1.1.4 Đại từ y……… ……… 57

3.1.1.5 Đại từ chúng, chúng nó……… ……… 59

3.1.2 Đại từ hoá ……… ……… 60

3.1.2.1 Đại từ hoá cụ……… 60

3.1.2.2 Đại từ hoá ông, ông ta, ông cụ………62

3.1.2.3 Đại từ hoá cô, nàng, chàng……….….………63

3.1.2.4 Đại từ hoá ngài ……….……….64

3.1.2.5 Đại từ hoá lão ……….……….65

3.1.3 Đại từ chỉ định……… 65

3.2 Chức năng cung cấp thông tin phụ……….……….66

3.3 Chức năng biểu thị tình thái……… ……… 72

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nói đến nhà văn Nguyễn Tuân, người ta nghĩ ngay đến một con người tài

hoa, uyên bác Đây là nhà văn “suốt đời đi tìm cái Đẹp, cái Thật” (Nguyễn Đình Thi)

Cuộc đời cũng như những trang viết của nhà văn đã để lại nhiều suy nghĩ đối với người

đọc đặc biệt là tập truyện ngắn Vang bóng một thời Cái cũ đã qua đi và giờ đây cái mới

đã thay thế nhưng không phải cái cũ lúc nào cũng lạc hậu và đâu đó, cái cũ vẫn tồn tại

và sáng đẹp hơn hết Truyền thống tốt đẹp dân tộc dường như bị mất đi nhưng qua Vang bóng một thời, nhà văn đã khơi gợi trong lòng người viết bao niềm tự hào dân tộc Vì

vậy, khi chọn đối tượng nghiên cứu ở phương diện ngôn ngữ, chúng tôi nghĩ ngay đến

tập truyện ngắn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân

Hơn hết, một số tác phẩm của Nguyễn Tuân được chính thức giảng dạy trong

chương trình phổ thông như truyện ngắn Chữ người tử tù, Người lái đò sông Đà và một

số tác phẩm khác được đọc thêm như Tờ hoa,… Trong đó, Chữ người tử tù nằm trong tập truyện Vang bóng một thời Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu những tác phẩm của Nguyễn Tuân nói chung và Vang bóng một thời nói riêng là cần thiết

Phép thế là phương thức liên kết được sử dụng phổ biến trong văn bản đặc biệt là văn bản nghệ thuật Thế nhưng, nghiên cứu về phương thức thế trong liên kết văn bản hiện nay khá ít và có những quan điểm chưa thống nhất Do đó, nghiên cứu liên kết văn

bản cũng như phép thế trong Vang bóng một thời cũng là điều cần thiết Mặt khác, phép thế trong Vang bóng một thời là một đề tài tương đối mới Chúng tôi muốn thông qua việc vận dụng phép thế vào trong Vang bóng một thời để hiểu thêm về một khía cạnh tài

năng cũng như phong cách của nhà văn Nguyễn Tuân Từ đó, có thể thấy được những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại

Với những lý do trên, người viết chọn vấn đề Phép thế trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân là đề tài nghiên cứu

Trang 6

Cũng dựa trên những cở sở lý thuyết giống như công trình Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm, trong công trình Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn của nhóm tác giả Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm,

các tác giả cũng đề cập đến phép thế dựa trên cơ sở những phưong tiện cụ thể như đại

từ, số từ

Tiếp thu công trình của Trần Ngọc Thêm, công trình Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang Ban cũng đề cập đến phép thế theo hai quan niệm: quan niệm thứ nhất gọi là liên kết nội dung và liên kết hình thức; quan niệm thứ hai được tác giả gọi là liên kết phi cấu trúc tính Phép thế ở quan niệm thứ nhất thực chất là công

trình giản lược từ công trình của Trần Ngọc Thêm Do đó, tác giả cũng chia phép thế

thành hai dạng thức: thế đồng nghĩa và thế đại từ Ở quan niệm thứ hai tác giả dựa theo

“quan niệm liên kết là thành tố phi cấu trúc tính (non – structural component) nằm trong thành tố lớn hơn là thành tố văn bản trong cách giả thuyết văn bản của người đề xướng (Halliday và Hasan, Liên kết trong tiếng Anh, 1994, tr.28-29, in lần đầu 1976)”

[3;tr.119]

Trong những năm gần đây, vẫn có những công trình đề cập đến phép thế nhưng

chủ yếu vẫn là tiếp thu công trình của Trần Ngọc Thêm Trong Tiếng Việt thực hành

xuất bản năm 1997 của nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, các tác giả cũng đề cập đến phép thế nhưng chỉ đề cập vài vấn đề một cách sơ lược của phép thế

trong liên kết văn bản Trong đó, các tác giả chia phép thế thành hai dạng: thế đại từ và thế đồng nghĩa, gần nghĩa

Cũng trong Tiếng Việt thực hành, Nguyễn Thị Ảnh cũng đề cập đến phép thế nhưng phân biệt hai dạng thức là thế đồng sở chỉ và thế đại từ Dù thuật ngữ có khác

nhưng xét về mặt ý nghĩa vẫn không có gì khác so với các công trình trước đó

Gần đây nhất là công trình Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt của Nguyễn Thị Việt Thanh và công trình Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản của Nguyễn Chí

Hòa Nguyễn Thị Việt Thanh đề cập đến phép thế trong liên kết văn bản từ đó để thấy được phép thế trong liên kết lời nói Và việc đối chiếu đó, Nguyễn Thị Việt Thanh hoàn toàn tiếp thu công trình của Trần Ngọc Thêm Riêng Nguyễn Chí Hòa không đề cập đến phép thế nhưng ông xây dựng lý thuyết cho quan hệ móc xích ở các dạng thức: quan hệ móc xích đồng nghĩa và và quan hệ móc xích đại từ

` Nhìn chung, việc nghiên cứu về phép thế trong liên kết văn bản vẫn còn tương đối ít Những công trình nghiên cứu của các tác giả ít nhiều còn tồn tại những điểm chưa thống nhất

- Về Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân

Phải nói rằng có nhiều công trình nghiên cứu về Vang bóng một thời của Nguyễn

Tuân Đầu tiên phải nói đến là công trình tập hợp các tác phẩm Nguyễn Tuân của

Trang 7

Nguyễn Đăng Mạnh Tác giả đã tập hợp thành năm tập trong quyển Nguyễn Tuân toàn tập (xuất bản năm 2000) Ở Nguyễn Tuân toàn tập (tập 1), Nguyễn Đăng Mạnh có bài viết về Vang bóng một thời và làm rõ ở quan điểm nghệ thuật cũng như phong cách

nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân Ở một góc độ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, tác

giả cho rằng “câu văn Nguyễn Tuân cũng có nhiều kiểu kiến trúc đa dạng Ông là nghệ

sĩ ngôn từ biết chú trọng đến âm điệu, nhịp điệu của câu văn xuôi…”, “ông luôn luôn

có ý thức sáng tạo từ mới và cách dùng từ mới”, hay cho rằng “nhu cầu tránh trùng lặp buộc ông phải tung ra tất cả những từ đồng nghĩa có trong vốn liếng của mình”

Năm 1997, Hoàng Xuân tập hợp, tuyển chọn các bài viết về nhà văn Nguyễn

Tuân và in trong quyển Nguyễn Tuân, người đi tìm cái Đẹp Trong quyển này, những bài viết về Vang bóng một thời hoặc chỉ đề cập đến, cũng khá ít Trong đó, có Nguyễn Tuân của Vũ Ngọc Phan; Văn tài lỗi lạc của Tạ Tỵ; Đọc Vang bóng một thời của Thạch Lam; Nguyễn Tuân và Vang bóng một thời của Trương Chính; Nguyễn Tuân, người săn tìm cái đẹp của Nguyễn Thành; Nguyễn Tuân, cá tính và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh; Về truyện ngắn Chữ người tử tù Nguyễn Tuân của Văn Tâm Những bài viết này chủ yếu khai thác về nội dung, tư tưởng của nhà văn trong Vang bóng một thời

Đến năm 2000, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin tập hợp thêm những bài viết mới

và cho in quyển Nguyễn Tuân, cây bút tài hoa và độc đáo Quyển phần đầu gồm những

bài viết nhằm khẳng định Nguyễn Tuân là cây bút luôn mãi miết tìm cái đẹp, cái thật Ở những phần hai là đánh giá một số tác phẩm cũng như phong cách của Nguyễn Tuân

Phần cuối là hồi ức về Nguyễn Tuân của một số tác giả Phần nghiên cứu về Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân cũng được bổ sung bài viết Cụ thể là bài viết Cái thật

và cái tài hoa trong Chữ người tử tù của Nguyễn Ngọc Hóa; bài viết Thầy chữ Nguyễn Tuân của Hà Bình Trị

Năm 2001, Hoài An cho xuất bản quyển Chân dung văn học Trong quyển này,

Hoài An có một bài nghiên cứu về tác phẩm Nguyễn Tuân Và khi nghiên cứu, tác giả

đã khẳng định Nguyễn Tuân là một “nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa”

Năm 2002, Tôn Thảo Miên tập hợp và tuyển chọn những bài viết cũng như tác

phẩm Nguyễn Tuân in thành quyển Nguyễn Tuân – Tác phẩm và dư luận Trong quyển sách này, có bổ sung thêm những bài viết về Vang bóng một thời Cụ thể như bài viết Đọc lại Vang bóng một thời của Phan Cự Đệ; bài viết Người đi tìm cái đẹp, cái thật của Nguyễn Đình Thi; Bài viết Nguyễn Tuân - Tài hoa văn chương của Tôn Thảo Miên

Vẫn có nhiều bài viết về nhà văn Nguyễn Tuân và Vang bóng một thời Tuy nhiên, nghiên cứu Vang bóng một thời về phương diện ngôn ngữ học thì rất ít bài viết

và đặc biệt là đề tài Phép thế trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân thì vẫn chưa

được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

Về lí luận: Khi nghiên cứu đề tài Phép thế trong Vang bóng một thời của

Nguyễn Tuân, người viết hệ thống một số quan điểm về phép thế trong liên kết văn bản

để thấy được những quan niệm của các tác giả nghiên cứu Để từ đó, người viết đưa ra

nhận xét và hướng phân loại phép thế Đồng thời, khảo sát những tác phẩm trong Vang bóng một thời để thấy được biểu hiện của phép thế

Về thực tiễn: Nghiên cứu đề tài luận văn giúp cho người viết hiểu rõ thêm những vẫn đề của nghiên cứu Để từ đó, tạo tiền đề cho người viết trong những công trình nghiên trình nghiên cứu sau này

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài gồm phần lý thuyết về phép thế trong liên kết văn bản và việc vận dụng

phép thế trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân

Chúng tôi tiến hành đi sâu tìm hiểu phép thế cũng như các dạng thức cụ thể trong liên kết văn bản dựa trên những quan điểm từ các công trình nghiên cứu trước đó của các tác giả như Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Chí Hòa, Nguyễn Thị Ảnh, Nguyễn Thị Việt Thanh… Từ đó khảo sát phép thế trong những truyên ngắn cụ thể

trong tập truyện ngắn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân:

Bữa rượu máu (Chém treo ngành)

Khoa thi cuối cùng

5 Phương pháp nghiên cứu

Trước hết, chúng tôi tập hợp những công trình nghiên cứu và có đề cập đến phép thế trong liên kết văn bản Để từ đó, chúng tôi hệ thống hóa một số vấn đề cơ sở lý thuyết cho phép thế trong liên kết văn bản Tương tự, tác phẩm và những bài viết về

Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân chúng tôi cũng cố gắng tập hợp và tiếp thu để có cái nhìn chung về Vang bóng một thời của nhà văn Nguyễn Tuân Nhìn từ góc độ phép

thế, chúng tôi sẽ thống kê các dạng thức của phép thế trong tập truyện của nhà văn Nguyễn Tuân Sau đó, phân tích ngữ liệu để làm sang tỏ ý nghĩa, chức năng của phép

Trang 9

thế trong Vang bóng một thời Từ đó, thấy được phần nào phong cách của nhà văn Nguyễn Tuân qua Vang bóng một thời

Trang 10

Trong Hệ thống liên kết văn bản, Trần Ngọc Thêm đã đi sâu vào nghiên cứu, giải quyết các vấn đề về liên kết văn bản – “nhân tố có tác dụng biến một chuỗi câu thành văn bản” Và tác giả đã khẳng định “mạng lưới các mối liên hệ giữa các câu trong một văn bản” gọi là tính liên kết Theo Trần Ngọc Thêm, liên kết văn bản xét đến

cấp độ đơn vị là phát ngôn Cấp độ phát ngôn là cấp độ ngôn ngữ ở dưới đoạn văn và ở trên cụm từ Trong liên kết văn bản, cụ thể là giữa hai phát ngôn, tác giả xét ở hai

phương diện: liên kết nội dung và liên kết hình thức Theo Trần Ngọc Thêm, “liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung”[16;tr.20-21] Dựa theo phân loại phát ngôn, tác giả chia ra thành các phương thức liên kết chung (tự nghĩa, hợp nghĩa, trực thuộc), các phương thức liên kết hợp nghĩa và các phương thức liên kết trực thuộc

Các phương thức liên kết chung, tác giả chia thành năm phương thức liên kết:

phép lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng và phép tuyến tính

Các phương thức liên kết hợp nghĩa gồm: phép thế đại từ, phép tỉnh lược yếu và phép nối lỏng

Các phương thức liên kết trực thuộc gồm: phép tỉnh lược mạnh và phép nối chặt

Theo đó, phép thế là phương thức liên kết chung (phép thế đồng nghĩa) vừa là phưong thức liên kết hợp nghĩa (phép thế đại từ)

Trong phép thế, theo Trần Ngọc Thêm, phát ngôn “chứa những dấu hiệu chỉ ra

sự liên kết của nó so với phát ngôn còn lại - phát ngôn đó ta sẽ gọi là phát ngôn liên kết hay gọn hơn, kết ngôn Phát ngôn còn lại vai trò độc lập lập hơn, ta sẽ gọi là chủ ngôn [16;tr.80] Yếu tố thay thế gọi là thế tố và yếu tố được thay thế gọi là chủ tố Trần Ngọc

Thêm đề cập đến liên kết hiện diện và liên kết khiếm hiện Liên kết hiện diện là liên kết

giữa các phát ngôn mà “hai yếu tố tham gia liên kết đều có mặt trong văn bản” [16;tr.77] Liên kết khiếm diện là liên kết mà “chỉ có một yếu tố tham gia liên kết là có mặt trong văn bản, còn yếu tố thứ hai vắng thì mặt” [16;tr.77] Dựa theo chiều liên kết, tác giả còn phân biệt giữa liên kết hồi quy và liên kết dự báo Ở liên kết hồi quy, kết ngôn (thế tố) sẽ đứng sau chủ ngôn; ở liên kết dự báo, kết ngôn (thế tố) đứng trước chủ ngôn

Trong Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Diệp Quang Ban cũng đề cập đến

liên kết văn bản Tác giả đi vào nghiên cứu liên kết văn bản theo hai hướng Hướng thứ

nhất, tác giả tiếp thu công trình nghiên cứu trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm, tức “coi liên kết văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ” và được gọi là liên kết hình thức và liên kết nội dung Hướng thứ hai xem “liên kết với tư cách là một khái niệm chuyên môn, không thuộc về cấu trúc của ngôn ngữ, mặc

dù bản thân các yếu tố cấu trúc trong ngôn ngữ là có thuộc tính liên kết” [3;tr.119] và gọi đây là liên kết phi cấu trúc tính

Trang 11

Theo tác giả, liên kết văn bản xét ở cấp độ câu và trên câu, tức đoạn văn Dựa

loại câu liên kết, tác giả chia thành hai loại câu: chủ ngôn và kết ngôn Trong hai câu liên kết với nhau, có một câu “làm chỗ dựa” gọi là câu chủ (chủ ngôn), và một câu “nối kết” câu chủ được gọi là câu kết (kết ngôn) Diệp Quang Ban đề cập đến hai loại phép quy chiếu: quy chiếu đến tình huống và quy chiếu đến văn bản Quy chiếu đến tình huống (quy chiếu hướng ngoại) là “thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa từ ngữ chỉ vật với vật được gọi bằng từ ngữ đó, cững tức là đưa vật đến với vật được gọi tên ngoài ngôn ngữ” [3;tr.142-143] Quy chiếu đến văn bản (quy chiếu hướng nội) là “thiết lập mối quan hệ về mặt ngữ nghĩa giữa yếu tố ngôn ngữ này và yếu tố ngôn ngữ kia cùng nằm trong một văn bản” [3;tr.143]

Ví dụ:

Nghe chuyện Phù Đổng Thiên Vương, tôi tưởng tượng đến một trang nam nhi,

sức vóc khác người, nhưng tâm hồn còn thô sơ giản dị, như tâm hồn của tất cả mội

người thời xưa Tráng sĩ ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xông pha ra trận đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng Tuy thế người trai làng Phù Đổng vẫn

còn ăn một bữa cơm

Diệp Quang Ban xác định: quy chiếu đến tình huống (quy chiếu hướng ngoại)

một người cụ thể ngoài văn bản

Quy chiếu đến văn bản (quy chiếu hướng nội) là:

một trang nam nhi

Phù Đổng Thiên Vương tráng sĩ ấy

người trai làng Phù Đổng

Tuy nhiên, tác giả dẫn theo lời của Halliday và Hasan “chỉ có quy chiếu hướng nội mới có tác dụng liên kết” [3;tr.144]

Trong liên kết phi cấu trúc tính, tác giả cho rằng, “phép thế là việc sử dụng ở câu

này các đại từ thay thế như đó, dây, kia,… thế cho danh từ (cụm danh từ), vậy, thế,

Phù Đổng

Thiên

Vương

một trang nam nhi

tráng sĩ

ấy

người trai làng Phù Đổng

Trang 12

đó … thế cho động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ), mệnh đề (cú) tương ứng có mặt trong câu khác; trên cơ sở đó hai câu đang xét liên kết được với nhau” [3;tr.158]

Diệp Quang Ban đề cập đến khái niệm hồi chiếu và khứ chiếu Hồi chiếu là trường hợp “yếu tố giải thích xuất hiện trước, yếu tố được giải thích xuất hiện sau” [3;tr.145] Khứ chiếu là trường hợp “yếu tố được giải thích xuất hiện trước, yếu tố giải thích xuất hiện sau” [3;tr.146]

Trong Tiếng Việt thực hành, Nguyễn Thị Ảnh cho rằng phương thức thế là “việc dùng một từ ngữ đồng sở chỉ ở kết ngôn thay cho tên gọi ở chủ ngôn” [2;tr.180]

Tiếp thu những quan điểm trên, chúng tôi xin tạm đưa ra một số lí luận chung về phép thế trong liên kết văn bản:

(1) Chúng tôi xét phép thế trong liên kết văn bản ở cấp độ câu (tương ứng với

phát ngôn của Trần Ngọc Thêm) và trên câu – đoạn văn Điều này cũng có nghĩa, phép thế giữa các thành phần trong nội bộ câu chúng tôi không xét đến Do đó, theo thuật ngữ của Trần Ngọc Thêm, trong phép thế, yếu tố được thay thế gọi là chủ tố và yếu tố thay thế được gọi là thế tố (kết tố) Câu chứa chủ tố được gọi là chủ ngôn và câu chứa thế tố (kết tố) gọi là kết ngôn

(2) Trần Ngọc Thêm đã xác định, “liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối

quan hệ biện chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung” Như vậy tất cả các phương thức liên kết hình thức trong đó có phép thế

đều phải có nhiệm vụ triển khai, biểu đạt đề tài và chủ đề của văn bản Tuy nhiên, xét liên kết giữa hai câu, phép thế được xác định khi cùng hướng về đối tượng được đề cập Đối tượng này có thể là người, sự vật, sự việc hay sự kiện tồn tại trong thế giới khách quan hay thế giới khả hữu

(3) Trần Ngọc Thêm đề cập đến liên kết khiếm diện và liên kết hiện diện Diệp

Quang Ban nói đến quy chiếu hướng ngoại và quy chiếu hướng nội Nhưng Diệp

Quang ban đã dẫn theo lời của Halliday và Hasan “chỉ có quy chiếu hướng nội mới là

có tác dụng liên kết” Điều đó cũng có nghĩa quy chiếu hướng ngoại hay liên kết khiếm

diện đều không có chức năng liên kết văn bản Xét theo chiều liên kết trong phép thế, nếu chủ tố xuất hiện trước thế tố được gọi là hồi chiếu, chủ tố xuất hiện sau thế tố gọi là khứ chiếu

(4) Mối liên hệ giữa chủ tố và thế tố trong phép thế được xét ở hai phương diện:

phương diện ngữ âm và phương diện nội dung biểu đạt Trong phép thế, thế tố phải khác biệt so với chủ tố về phương diện ngữ âm Về phương diện nội dung biểu đạt, chủ

tố và thế tố phải đồng nhất về nội dung biểu đạt

Như vậy: Phép thế là phương thức liên kết văn bản, trong đó có sự xuất hiện yếu tố được thay thế (chủ tố) và yếu tố thay thế (thế tố) theo một trật tự xác định Chủ

tố và thế tố có sự khác biệt về ngữ âm và đồng nhất về nội dung biểu đạt

Trang 13

Ví dụ:

Thứ cười gượng, không nói gì Đêm hôm ấy, y thức rất khuya

(Nam Cao – Sống mòn) Thứ được xem là chủ tố, y là thế tố Việc thế tố xuất hiện sau chủ tố nên theo

chiều liên kết, trường hợp này được gọi là hồi chiếu

2 Phân loại phép thế trong liên kết văn bản

2.1 Quan điểm một số tác giả về phân loại phép thế

Việc phân loại phép thế của nhiều nhà nghiên cứu dù có những điểm chung

nhưng vẫn có những điểm chưa được thống nhất

2.1.1 Quan điểm của Trần Ngọc Thêm

Trần Ngọc Thêm chia phép thế thành hai dạng: thế đồng nghĩa và thế đại từ

2.1.1.1 Thế đồng nghĩa

Theo tác giả, thế đồng nghĩa là “ một phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong chủ ngôn và kết ngôn những ngữ đoạn (từ hoặc cụm từ) khác nhau có cùng một nghĩa (chỉ cùng một đối tượng) [16;tr.114]

Ví dụ:

Sài Gòn đã làm cho cả thế giới kinh ngạc (Sài Gòn là một thành phố) Sức sống

của thành phố mãnh liệt không sao lượng nổi

Theo tác giả, phép thế đồng nghĩa là “một đồng nhất được thừa nhận mà không cần tuyên bố” [16;tr.114] Đó là sự đồng nhất về nghĩa (nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu

vật)

Trong thế đồng nghĩa, tác giả chia thành bốn dạng thức:

- Thế đồng nghĩa từ điển: là “kiểu thế đồng nghĩa ổn định mà cả hai yếu tố liên kết là từ đồng nghĩa (thường được cố định trong các từ điển đồng nghĩa)” [16;tr.115]

Ví dụ:

Một cái mũ len xanh nếu chị sinh con gái Chiếc mũ sẽ đỏ nếu chị đẻ con trai

(Anh Đức – Con chị Lộc)

- Thế đồng nghĩa phủ định là “kiểu thế ổn định mà một trong hai yếu tố liên kết

là cụm từ cấu tạo từ từ trái nghĩa của yếu tố liên kết kia cộng với từ phủ định”

[16;tr.116]

Ví dụ:

Người Pháp đổ máu đã nhiều Dân ta hy sinh cũng không ít

(Hồ Chí Minh – Thư gởi đồng bào… 5-1947)

- Thế đồng nghĩa miêu tả là “kiểu thế không ổn định có ít nhất một trong hai yếu

tố liên kết là cụm từ miêu tả một thuộc tính điển hình nào đó đủ để đại diện cho đối tượng mà nó biểu thị” [16;tr.117]

Ví dụ:

Trang 14

Ông lão há miệng ra như bị bò cáp chích Ông thừa biết bọ chúng chẳng lạ gì gia đình ông, nhưng ông vẫn cứ phải ngạc nhiên như vậy

(Nguyễn Thi - Ở xã Trung Nghĩa)

cắt, chị nắm ngay được gậy của hắn (…) Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc, lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm

(Ngô Tất Tố - Tắt đèn)

- Thế đồng nghĩa lâm thời là “kiểu thế không ổn định mà chủ tố và thế tố là những từ vốn không phải là từ đồng nghĩa song có quan hệ ngữ nghĩa bao hàm (theo kiểu giống - loài), trong đó từ có ngoại diện hẹp hơn (chỉ giống) bao giờ cũng phải làm chủ tố, còn từ kia (có ngoại diện rộng hơn) bao giờ cũng làm thế tố” [16;tr.119]

Ví dụ:

Trâu đã già Trông xa, con vật thật đẹp dáng

(Chu Văn – Con trâu bạc)

Sự phân loại thế đồng nghĩa được tác giả tóm tắt trong bảng sau:

Theo độ phức tạp của hai yếu tố liên kết

Cả hai là từ Ít nhất có một là cụm từ Thế ổn định THẾ ĐỘNG NGHĨA TỪ

ĐIỂN

THẾ ĐỒNG NGHĨA PHỦ ĐỊNH

THẾ ĐỒNG NGHĨA LÂM THỜI

THẾ ĐỘNG NGHĨA MIÊU TẢ

2.1.1.2 Thế đại từ

Trần Ngọc Thêm cho rằng thế đại từ “là một phương thức liên kết thể hiện ở việc

sử dụng trong kết ngôn mà đại từ (hoặc từ đại từ hóa) để thay thế cho một ngữ đoạn nào đó ở chủ ngôn” [16;tr.142] Trần Ngọc Thêm phân loại đại từ theo hai hướng:

Theo đối tượng thay thế, các đại từ có thể chia thành 7 tiểu loại: chỉ người (N), chỉ sự vật (V), chỉ số lượng (L), chỉ thời gian (T), chỉ không gian (K), chỉ dấu hiệu (D), chỉ cách thức (C)

Theo quan hệ với tọa độ gốc, các đại từ có thể chia thành 4 tiểu loại: chỉ điểm gốc (1), chỉ điểm gần (2), chỉ điểm xa (3) và có tính nghi vấn – phiếm chỉ (4)

Cách phân loại đại từ của Trần Ngọc Thêm thể hiện qua bảng:

Điểm gốc

Điểm gần Điểm xa

Nghi vấn – phiếm chỉ

Trang 15

TÔI (*), TAO, tớ…

MÀY, cậu, anh, y, ông, đồng chí,…

T

Thời

gian

BÂY GIỜ, NAY

NÃY, MAI

BAO GIỜ

K

Không

ĐẤY, trên, sau…

(*) những đại từ thực thụ được kí hiệu là in hoa, những từ đại từ hóa kí hiệu in thường

Theo Trần Ngọc Thêm, đại từ làm thế tố là một trong “những từ loại có chức năng liên kết rõ rệt nhất” Tác giả chỉ ra từng chức năng của nhóm đại từ trong liên kết

văn bản

Trần Ngọc Thêm xét thế đại từ trong liên kết văn bản theo hai hướng:

- Thế đại từ liên kết khiếm diện và dự báo

- Thế đại từ liên kết hiện diện hồi quy

Ở thế đại từ khiếm diện, tác giả chỉ ra những nhóm từ thường chủ yếu thực hiện

chức năng liên kết khiếm diện bao gồm người phát tin (N1) – người nhận tin – N2) – thời gian gốc (T1) – không gian gốc (K1) và tất cả các nhó khác thuộc tiểu loại 1

Ví dụ:

Ấy là áng sáng mùa đông Trên con đường nhựa ven cửa ô thành phố có hai dòng người

Ví dụ:

Bấy giờ là đầu mùa hè Trời ít mưa

Những đoạn đối thoại trong văn bản truyện, kí,… các liên kết thế đại từ khiếm diện đã được hiện diện hóa Tức những mối liên kết đại từ được hiện diện hóa diễn ra giữa lời tác giả với lời nhân vật

Ví dụ:

Trang 16

Xe chúng tôi lướt nhanh trên con đường quốc lộ số một giữa những cánh đồng

lúa xanh rì của huyện Tiên Sơn Như sực nhớ ra điều gì, tiến sĩ Thái Lâm quay sang

Tay em có hơi đen đi nhưng anh lại thấy em đẹp hơn ngày anh mới gặp

(Nguyễn Thị Ngọc Tú – Buổi sáng) Trong liên kết khiếm diện bằng đại từ, tác giả còn đề cập đến xu hướng khiếm diện hóa giả tạo Xu hướng này, theo tác giả, “ngược lại với xu hướng hiện diện hóa liên kết khiếm diện” Ở khiếm diện hóa giả tạo, đối tượng tưởng như khiếm diện ngay từ

đầu văn bản thì đến một lúc nào đó sẽ hiện diện trong văn bản Trần Ngọc Thêm xem

trường hợp này như “một sự dự báo hóa liên kết hồi quy”

Ví dụ:

LUYỆN VỚI BIỂN

Ông bị ngọng từ bé Tại sao? Không thể biết rõ Nhưng ông quyết chữa bằng

được Ông tập đọc, tập nói ở trong phòng, một mình Đọc, nói với từng chữ, từng câu Rồi ông ra bãi biển, mồm ngậm sỏi, gào thi với sóng nước

Chẳng những chữa khỏi tật, mà ông còn trở thành nhà hùng biện của một thời:

Tri thức là gì? Tri thức là hiểu biết

(Hồ Chí Minh – Sửa đổi lối làm việc)

Các đại từ ở tiểu loại 4 còn được dùng với nghĩa phiếm chỉ Khi có từ phủ định

đứng trước (không ai, không bao giờ, không đâu, chẳng sao,…) hay có từ cũng đứng sau để diễn tả phiếm chỉ khẳng định (ai cũng = “tất cả mọi người”, đâu cũng = “khắp nơi”, bao giờ cũng = “luôn luôn”,…) Với nghĩa phiếm chỉ này, theo Trần Ngọc Thêm,

“không có chức năng liên kết”

Trang 17

Trong thế đại từ hiện diện hồi quy, theo Trần Ngọc Thêm “những đại từ liên kết hồi quy có tần số sử dụng cao nhất tập trung vào khu vực N, V- 3 và K, D, C”

[16;tr.150]

Ví dụ:

thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta

(Hồ Chí Minh – Những nhiệm vụ cấp bách, 9 – 1947) Tác giả cho rằng, “những danh ngữ biểu thị khái niệm tập hợp thường được nhận thức dưới dạng số nhiều và thay thế bằng chúng (họ)”

Ví dụ:

Điều kiện sống thích hợp của tre là nơi có nhiệt độ trung bình năm trên 22 0 C

Chúng mọc trên nhiều loại đất khác nhau

(Tin tức hoạt động khoa học, 8 – 1976) Trong nhóm NV-3 còn có đại từ tất cả chỉ toàn bộ phần tử tập hợp Theo tác giả,

“chủ tố của nó thường có dạng liệt kê” Cũng cần phân biệt tất cả với chức năng liên kết thế đại từ với phụ từ chỉ toàn bộ tất cả đứng ở đầu danh từ Phụ từ này không làm

nhiệm vụ thay thế và không có chức năng liên kết

Ví dụ:

Bàn tay nhỏ của em ta cũng trở thành vũ khí Bộ ngực nở nang của người ta yêu cũng trở thành vũ khí Tấm thân còm cõi của mẹ ta cũng trở thành vũ khí Lời nói duyên dáng đậm đà của cô hàng xóm ở góc chợ nay cũng trở thành vũ khí Tất cả đều

gieo tan rã và cái chết lên đầu giặc

(Nguyễn Trung Thành – Đường chúng ta đi)

Nếu chủ tố không chỉ người hoặc sự vật thì tùy theo đặc điểm của nó mà lựa chọn đại từ trong tiểu loại L, T, K, C Có thể xảy ra sự kết hợp “từ nối + đại từ” có xu hướng cố định hóa

Ví dụ:

Hiện nay trình độ của đa số đồng bào ta không cho phép đọc dài, (…) thì giờ

của ta không cho phép xem lâu Vì vậy cho nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy

(Hồ Chí Minh – Cách viết, 8 – 1952)

Tác giả xét trường hợp đại từ có thể thay thế cho một phát ngôn, một chuỗi phát

ngôn như các đại từ thuộc nhóm K và C Theo Trần Ngọc Thêm, “ nếu ở kết ngôn nói đến một không gian, một vị trí, một sự vật (sự vật thường mang tính không gian thì phải dùng các đại từ K; còn nếu ở kết ngôn nói đến chủ tố như một sự việc, sự kiện, một cách thức thì phải dùng các đại từ C” [16;tr.154]

Ví dụ:

Không chỉ tham gia các cuộc họp chi bộ tôi mà thôi, tôi còn đến những chi bộ

khác để bênh vực lập trường “của tôi” Ở đây tôi còn nhắc thêm rằng các đồng chí

Trang 18

Mácsen Casanh, Vaiăng Cutuyarie, Mông Mútxo và nhiều đồng chí khác đã giúp đỡ tôi hiểu biết thêm

(Hồ Chí Minh – Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin)

Cá đại từ nhóm C có thể sử dụng độc lập để thay thế cho phát ngôn, chuỗi phát ngôn trong hai trường hợp:

- Khi đại từ làm vị ngữ hoặc bổ ngữ trong kết ngôn

Ví dụ:

Nước ta là một nước văn hiến Ai cũng bảo thế

(Nguyễn Công Hoan – Công dụng của cái miệng)

- Khi đại từ làm chủ ngữ trong nòng cốt quan hệ đồng nhất (đứng trước từ là)

Ví dụ:

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta

(Hồ Chí Minh – Báo cáo chính trị tại Đại hội II, 2 – 1951)

Có sự kết hợp với danh từ khái quát điều, việc, chuyện, cái, thứ,… dùng kèm với đại từ phổ biến nhất là này, ấy, đó…

Ví dụ:

Keng phải may một bộ cánh Việc này không thể cho bố biết được

(Nguyễn Kiên – Anh Keng)

Trần Ngọc Thêm còn khẳng định, đại từ nhóm D trong kết hợp với danh từ khái

quát “có sức thay thế rất lớn và là những đại từ có tần số cao nhất” Khi tính cụ thể của danh ngữ càng tăng thì chức năng thay thế của đại từ càng mờ đi thì “xuất hiện một phép thế đồng nghĩa bên cạnh thế đại từ”

Ví dụ:

Sau hết, tôi lại có dịp ghé lại nhà chồng cô Nghị (Tôi bước xuống nhà dưới và

cũng như lần trước, chỉ có một mình Nghị trong nhà Bà mẹ chồng Nghị lúc này đã trở

ra sau vườn Cha chồng nghị đi đào hầm làm xã chiến đấu chưa về Chị Sáu đi họp,

con Hiếu theo mẹ.) Tôi cho đó là nếp sinh hoạt bình thường trong gia đình này

(Trần Hiếu minh – Sóng Cửu Long) Trong ví dụ này, cặp nhà – gia đình là thế đồng nghĩa, còn cặp chồng cô Nghị - này là thế đại từ

Tác giả còn nói: “đại từ thay thế phải được lựa chọn sao cho phù hợp với chủ tố

về tiểu loại và các nét nghĩa phạm trù khác” [16;tr.159] Vi phạm điều kiện này sẽ dẫn

đến lỗi sử dụng phép thế đại từ

2.1.2 Quan điểm của Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quanh Ninh, Trần Ngọc Thêm

Trong Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn

Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm đề cập đến thay thế trong các phương tiện liên kết Tuy

nhiên, xuất phát từ thuật ngữ liên kết câu (liên kết liên câu) chứ không dùng thuật ngữ liên kết văn bản Các tác giả cho rằng “sự móc nối các câu là biểu hiện của sự móc nối

Trang 19

các tư tưởng Văn bản càng nhiều câu, sự móc nối các tư tưởng càng trở nên phức tạp

và đa dạng Các câu tạo thành một mạng lưới dày đặc của những mối quan hệ, trong

đó từng câu phải nằm trong mạng lưới và gắn bó không thể tách rời các câu khác Những mối quan hệ đó giữa các câu được ngôn ngữ học văn bản gọi là sự liên kết liên câu” [4;tr.14] Các tác giả không phân loại phép thế mà khẳng định “đại từ như một phương tiện liên kết câu” Trong số các đại từ thì hai đại từ nhân xưng: nó và chúng

được dùng nhiều nhất Bởi lẽ, theo các tác giả, chúng có thể thay thế cho nhiều đối tượng, nhiều sự kiện và hiện tượng khác nhau Chúng thay thế được cho cả người và vật

chức năng liên kết câu

Ví dụ:

Những con tàu sơn trắng đậu san sát, tung bay cờ đủ màu sắc của các nước

Trong chúng như những tòa lâu đài nổi, ẩn hiện giữa sương mù

(Đoàn Giỏi – Bến Nhà Rồng) Đại từ chúng không thay thế cho bộ phận nào trong câu chứa nó mà lại thay thế cho những con tàu sơn trắng ở câu trước Ở đây, đại từ chúng trở thành một phương

Dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn Đó là một truyền thống quý báu của ta

(Hồ Chí Minh – Tinh thần yêu nước)

Cảnh hừng đông mặt biển nguy nga, rực rỡ Phía hai bên, những đám mây trắng hồng hầu như dựng đứng, hơi ngả về phía trước Tất cả đều mời mọc lên

đường

(Bùi Hiển – Ra khơi) Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến “các từ đại từ hóa cũng có thể thực hiện chức năng liên kết câu”

Ví dụ:

Rõ ràng Trống Choai của chúng ta đã hết tuổi bé bỏng thơ ngây Chú chẳng

còn phải quấn quýt quanh chân mẹ nữa rồi

Trang 20

(Hải Hồ - Chú Trống Choai)

Các tác giả còn đưa ra nguyên tắc, sử dụng đại từ thay thế phải phù hợp với đối

tượng được thay thế Và để tránh văn bản trở nên mơ hồ, từ thay thế “được đặt ngay sau câu có chứa đối tượng”

Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến thế đồng nghĩa Các tác giả cho rằng, thế

đồng nghĩa là “việc thay thế tên gọi của đối tượng bằng những tên gọi khác” [4;tr.50]

Ví dụ:

Nghe chuyện Phù Đổng Thiên Vương, tôi tưởng tượng đến một trang nam nhi,

sức vóc khác người, nhưng tâm hồn còn thô sơ giản dị, như tâm hồn của tất cả mội

người thời xưa Tráng sĩ ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xông pha ra trận đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng Tuy thế người trai làng Phù Đổng vẫn

còn ăn một bữa cơm

(Nguyễn Đình Thi – Sức sống của nhân dân Việt nam trong ca dao và cổ tích)

Ví dụ trên đề cập đến đói tượng duy nhất nhưng người viết đã dùng nhiều tên gọi

khác nhau để chỉ đối tượng đó: Phù Đổng Thiên Vương – trang nam nhi, tráng sĩ ấy, người trai làng Phù Đổng

2.1.3 Quan điểm của Diệp Quang Ban

2.1.3.1 Ở hướng thứ nhất, Diệp Quang Ban cũng chia phép thế thành hai dạng: thế

đồng nghĩa và thế đại từ Ở hướng này, tác giả trình bày “ một cách giản lược phần

tương ứng trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, có thay đổi cách diễn đạt để phù

hợp với đông đảo bạn đọc” [3;tr.121]

Theo tác giả, thế đồng nghĩa là “việc sử dụng trong câu kết yếu tố (từ, cụm từ) có cùng nghĩa với yếu tố tương ứng ở câu chủ, để tạo liên kết giữa hai câu” [3;tr.125]

Trong thế đồng nghĩa, tác giả cũng chia thành bốn dạng:

lấy cổ áo hắn, ấn dúi ra cửa Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện 1 chạy không kịp với

sức xô đẩy của người đàn bà lực điền 2 , hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất (…)

- Thế đồng nghĩa lâm thời

Trang 21

Một số phường săn đến thăm dò để giăng bẫy bắt con cọp xám Nhưng con ác

thú tinh lắm, đặt mồi to và ngon đến đâu cũng không lừa nổi nó

(Truyện cổ tích Nghè hóa cọp) Tác giả cũng nói thêm, “tên gọi thế đồng nghĩa có tính chất quy ước, hiểu đồng nghĩa trong nghĩa rộng, không đơn giản chỉ dùng từ đồng nghĩa” [3;tr.125]

Ở dạng thức thứ hai, tác giả cho rằng thế đại từ là “việc sử dụng câu kết yếu tố đại từ tính (đại từ, tổ hợp từ có tính chất đại từ) thay thế cho yếu tố tương ứng với nó ở câu chủ, để tạo liên kết” [3;tr.129]

Trong thế đại từ, tác giả phân biệt hai trường hợp: liên kết đại từ hồi chiếu và liên kết đại từ khứ chiếu

- Liên kết đại từ hồi chiếu “diễn ra khi yếu tố được thay thế đứng trước yếu tố thay thế (tức đại từ)” [3;tr.129] Thuật ngữ hồi chiếu tương ứng với thuật ngữ hồi quy

của Trần Ngọc Thêm

Ví dụ:

Đáng lẽ vấn đề phải được trình bày rõ ràng, gãy gọn, thì anh đã nói một úp mở,

lờ mờ và chẳng qua cái gì gọi là bằng cớ Chính anh, anh cũng tự cảm thấy thế

Theo tác giả, phép quy chiếu “xuất phát từ yếu tố ngôn ngữ có nghĩa chưa cụ thể

ở một câu nào đó cần được giải thích bằng yếu tố ngôn ngữ có nghĩa cụ thể ở câu khác, trên cơ sở đó hai câu liên kết với nhau” [3;tr.148] Yếu tố có nghĩa chưa cụ thể được gọi là yếu tố được giải thích, yếu tố còn lại là yếu tố giải thích Trong phép quy chiếu

có ba trường hợp: quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếu chỉ định và quy chiếu so sánh

Theo tác giả, “quy chiếu chỉ ngôi là trường hợp sử dụng các yếu tố chỉ ngôi với

tư cách là những yếu tố có nghĩa chưa cụ thể ở câu này xét trong mối quan hệ với yếu

tố có nghĩa cụ thể tương ứng ở câu khác, trên cơ sở đó, hai câu chứa chúng liên kết với nhau” [3;tr.149]

Ví dụ:

Trang 22

Thứ trầm ngâm bằng cái vẻ quen thuộc của y San khe khẽ cười vô cớ Họ rất sợ

[3;tr.152]

Ví dụ:

Làm việc gì đều phải có vốn Đối với văn nghệ sĩ, vốn ấy là vốn gì? Đó là vốn

chính trị, vốn văn hóa, vốn văn nghệ Ba loại vốn đó điều quan trọng, không nên coi

[3;tr.155]

Ví dụ:

Bạn tôi thích áo màu đỏ Tôi thì thích màu khác kia

Riêng trong phép thế, tác giả cho rằng “cái được quan tâm là yếu tố thế” Yếu tố

Đáng lẽ vấn đề phải được trình bày rõ ràng, gãy gọn thì anh đã nói một cách úp

mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Chính anh, anh cũng tự cảm thấy thế

Đại từ “thế” thay thế cho cụm danh từ “nói một cách úp mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ”

- Mệnh đề (còn gọi là kết cấu chủ - vị, hay cú)

Ví dụ:

Trang 23

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta

2.1.4 Quan điểm của Nguyễn Thị Ảnh

Trong Tiếng Việt thực hành, Nguyễn Thị Ảnh chia phép thế thành hai loại: thế đồng sở chỉ và thế đại từ Tác giả nói thêm việc tách thành hai loại là để “tiện việc theo dõi” mặc dù trên thực tế “chúng chỉ là một”

Nói về thế đồng sở chỉ, đây “là thay thế một tên gọi nào đó ở chủ ngôn bằng những tên gọi khác ở kết ngôn” [2;tr.180]

Ví dụ:

lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất

Ở đây tên cai lệ được thay thế bằng anh chàng nghiện, chị Dậu được thay thế bằng “người đàn bà lực điền”

Thế đại từ, theo tác giả, “là thế đồng sở chỉ nhưng có đặc điểm là bằng cách dùng đại từ” [2;tr.182]

Những đại từ và từ ngữ đại từ hóa thường dùng: đây, đấy, đó, ấy, kia, thế, vậy, này, nó, chúng, họ,… anh, chị, cô, chú, bác,… ở kết ngôn thay thế cho tên gọi nêu ở

chủ ngôn

Ví dụ:

luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố

Cũng có khi đại từ thay thế cho toàn bộ chủ ngôn

Ví dụ:

Nước ta là một nước văn hiến Ai cũng bảo thế

2.1.5 Quan điểm của Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng

Các tác giả chia phép thế thành hai loại:

- Thế bằng đại từ "câu đi sau dùng đại từ thay thế cho một từ, một ngữ ở câu trước"[17;tr.50]

2.1.6 Quan điểm một số tác giả khác

Ngoài ra, trong Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản, Nguyễn Chí Hòa đề

cập đến phép thế nhưng với sự định danh quan hệ móc xích về phương diện cấu trúc

Trang 24

Tức là ông xét đến vị trí ngữ pháp trong hai câu liên kết với nhau Ông đã xác định các quan hệ móc xích đồng nghĩa như :

- Quan hệ móc xích tương đồng nghĩa chủ ngữ - chủ ngữ:

Hai hôm nay, mẹ tôi nằm liệt, lại bỏ ăn, lại đi ngoài như cũ Người dốc nhanh,

thải ra thứ nước nâu sền sệt, rất khắm

(Nguyễn Huy Thiệp)

- Quan hệ móc xích tương ứng nghĩa trạng ngữ - chủ ngữ:

Vô phương, cha tôi phải đón cháu dâu về nhà Gia đình tôi thêm hai khẩu

(Nguyễn Huy Thiệp)

- Quan hệ móc xích tương ứng nghĩa vị ngữ - bổ ngữ:

Bao nhiêu vụ ly dị! Bao nhiêu cuộc ngoại tình? Con gái theo giai đùng đùng,

gái tân thời

(Vũ Trọng Phụng)

- Quan hệ móc xích tương ứng nghĩa bổ ngữ - chủ ngữ:

Bà Diêu thuê một con đò sáu chỗ ngồi, cả lượt đi lượt về mà giá chỉ tương đương với năm đấu gạo Lái đò là một cô gái rất xinh, mau mồm miệng

- Quan hê móc xích tương ứng nghĩa bổ ngữ - vị ngữ:

Người ta cho bệnh nhân ăn mấy lá rau xam, rau thài lài, và uống nước ruộng

ấy Thật là thuốc thánh !

Song song đó, ông cũng phân loại quan hệ móc xích đại và tương đương đại từ như :

- Đại từ ngôi ba:

Dân chúng cầu lợi Chỉ cần tý lợi là họ sẽ a dua bu tới

(Vũ Trọng Phụng)

- Kết từ + đại từ:

Con khỉ cái quay lại nhìn ông Đôi mắt nó sợ hãi kinh hoàng

(Nguyễn Huy Thiệp)

Trang 25

Tiếp thu công trình Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm, công trình Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt của Nguyễn Thị Việt Thanh đề cập đến

phép thế Tác giả đã đối chiếu liên kết văn bản với liên kết lời nói để đưa ra những kết luận về phương diện liên kết lời nói Tuy nhiên, về phương diện liên kết văn bản, tác giả tiếp thu hoàn toàn công trình của Trần Ngọc Thêm Tác giả cho rằng thế đồng nghĩa

"được thực hiện bằng việc thay thế tên gọi của một đối tượng nào đó có trong chủ ngôn bằng một tên gọi hoặc một ngữ đoạn khác có giá trị biểu vật tương đương" [15;tr.34] Trong thế đại từ, đại từ tham gia "liên kết hiện diện là chủ yếu" Còn liên kết khiếm

diện chỉ được dùng khi muốn đưa vào văn bản chính toạ độ gốc

2.2 Nhận xét

Phải nói rằng, Trần Ngọc Thêm đã nghiên cứu một cách hệ thống về phép thế cũng như liên kết văn bản Tác giả đã có những kiến giải về phép thế một cách khá chi tiết, khảo sát từng trường hợp cụ thể để đưa ra những kết luận có giá trị làm nền tảng cho các công trình sau đó Tuy nhiên vẫn có một số vấn đề về cách phân loại phép thế chưa được thỏa đáng

Thứ nhất: Tiêu chí mà Trần Ngọc Thêm phân loại phép thế chưa được thống

nhất Tác giả chia thành hai dạng thức: thế đồng nghĩa và thế đại từ Rõ ràng, một dạng

thức được xét về phương diện ngữ nghĩa và một dạng thức là phương tiện thay thế trong phép thế

Thứ hai: Trong thế đồng nghĩa có bốn trường hợp: thế đồng nghĩa từ điển, thế đồng nghĩa phủ định, thế đồng nghĩa miêu tả và thế đồng nghĩa lâm thời Nhưng ở hai trường hợp thế đồng nghĩa miêu tả và thế đồng nghĩa lâm thời lại có những kiến giải

chưa thật sự thuyết phục Cụ thể như việc tác giả lấy ví dụ:

cắt, chị nắm ngay được gậy của hắn (…) Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc, lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm

(Ngô Tất Tố - Tắt đèn)

Từ đó, tác giả xác định người nhà lí trưởng đồng nghĩa miêu tả với anh chàng hầu cận ông lí hay chị Dậu đồng nghĩa miêu tả với chị chàng con mọn Thực chất, anh chàng hầu cận ông lí đúng là thay thế cho đối tượng người nhà lí trưởng, cả hai cùng hướng về một đối tượng Tương tự như vậy, tác giả cho rằng trâu và con vật là dạng đồng nghĩa lâm thời Thực tế, giữa trâu và con vật không hề đồng nghĩa, không hề có

sự “ đồng nhất được thừa nhận mà không cần tuyên bố” Nếu đặt trong văn cảnh, chúng

cùng nói về một đối tượng

Thứ ba: ở thế đại từ, tác giả chia thành 28 nhóm nhỏ và chỉ ra giá trị liên kết của từng nhóm Nhưng vấn đề đặt ra là có phải tất cả các đại từ 28 nhóm ấy đều có giá trị liên kết Điều này chi phối đến quan điểm chia thế đại từ theo hai trường hợp: thế đại từ

Trang 26

có chức năng liên kết khiếm diện và dự báo; thế đại từ có chức năng liên kết hiện diện Như đã trình bày ở phần trước, liên kết khiếm diện hay quy chiếu hướng ngoại đều không có giá trị liên kết văn bản Nên việc Trần Ngọc Thêm đề cập đến đại từ có chức năng liên kết khiếm diện cũng không mang giá trị liên kết

Các tác giả trong quyển Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn đã không chia ra

các dạng thức phép thế mà chỉ cho rằng đại từ có khả năng thay thế Việc khảo sát đại

từ thay thế ở một số đại từ tiêu biểu và vẫn chưa chỉ ra chức năng cụ thể từng loại đại từ thay thế cũng như mối quan hệ của nó với liên kết nội dung

Trong Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Diệp Quang Ban tiếp thu công trình

của Trần Ngọc Thêm và phát triển thêm với liên kết phi cấu trúc tính Nhưng công trình

của Diệp Quang Ban ở hướng thứ nhất lại là công trình “giản lược” từ công trình của

Trần Ngọc Thêm nên cũng gặp phải một số vấn đề chưa thỏa đáng tương tự dù tác giả

có thay đổi một số thuật ngữ

Trong quyển Tiếng Việt thực hành của Nguyễn Thị Ảnh, tác giả cũng đưa ra

những kiến giải mới về phép thế dựa trên sự kế thừa công trình nghiên cứu của Trần

Ngọc Thêm Nguyễn Thị Ảnh đề cập đến thế đồng sở chỉ và thế đại từ Tuy nhiên nhiên

tác giả vẫn chưa khảo sát sâu cũng như chưa chỉ ra chức năng và giá trị biểu đạt của từng dạng thức cụ thể mà chỉ nêu lên những vấn đề khái quát Ngoài ra, việc phân loại

phép thế cũng có phần mâu thuẫn Bà đã xác định, thế đồng sở chỉ là “là thay thế một tên gọi nào đó ở chủ ngôn bằng những tên gọi khác ở kết ngôn” [180] Nhưng đến thế đại từ lại cũng là “ dạng thế đồng sở chỉ…” Vậy nên chăng hiểu rằng thế đại từ là một

“trường hợp” của thế đồng sở chỉ

Bùi Minh Toán và đồng tác giả trong Tiếng Việt thực hành cùng đưa ra cách

phân loại có điểm khác so với các công trình trước đó Các tác giả đưa ra hai dạng thức của phép thế: thế đại từ; thế đồng nghĩa, gần nghĩa Nhưng với hai dạng thức này, tiêu chí phân loại chưa thống nhất Trong định nghĩa về thế đại từ thì các tác giả cho rằng

“câu đi sau dùng đại từ thay thế cho một từ, một ngữ ở câu trước” Tuy nhiên vẫn có

trường hợp câu đi trước dùng đại từ thay thế cho một từ, một ngữ câu sau

Hắn vừa đi vừa chửi (…) A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết

mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo!

(Nam Cao – Chí Phèo)

Và vẫn có trường hợp yếu tố thay thế có thể thay thế cho một cú:

Nước ta là một nước văn hiến Ai cũng bảo thế

(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm) Hơn thế, các tác giả không lí giải cũng như chưa đi sâu khai thác mà chỉ đưa ra những ví dụ chứng minh Điều đáng nói hơn, ở dạng thế đồng nghĩa, gần nghĩa, các tác giả chưa đưa ra quan điểm một cách rõ ràng như thế nào là trường hợp đồng nghĩa, như thế nào là trường hợp gần nghĩa

Trang 27

Trong Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản, Nguyễn Chí Hòa không

dùng thuật ngữ “phép thế” nhưng dùng “các quan hệ móc xích” theo tương đồng về nghĩa và thế đại từ Từ đây, ta cũng thấy được tiêu chí phân loại các dạng thức cũng

chưa nhất quán Riêng Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt, Nguyễn Thị Việt Thanh lấy

cơ sở lí thuyết phép thế từ công trình của Trần Ngọc Thêm để đối chiếu tìm ra các phương tiện liên kết lời nói Vì vậy, những quan điểm đó cũng gặp phải một số vấn đề chưa nhất quán tương tự như của Trần Ngọc Thêm

2.3 Hướng phân loại phép thế trong liên kết văn bản

Từ những vấn đề trên cho thấy, các tác giả ít nhiều chịu ảnh hưởng cách phân loại của Trần Ngọc Thêm Cách phân loại của các tác giả chưa có một tiêu chí thật sự nhất quán Tuy vậy, những công trình nghiên cứu trên vẫn là nền tảng để các công trình nghiên cứu sau tiếp thu và phát triển Theo chúng tôi, phép thế có thể được phân loại theo tiêu chí về phương diện ngữ nghĩa, tức mối quan hệ về ngữ nghĩa của chủ tố và thế

tố trong phép thế Với tiêu chí đó, chúng tôi chia phép thế thành hai dạng thức: thế đồng nghĩa và thế đồng quy chiếu

Ông Tám Xẻo Đước chết làm cho quan giặc khiếp sợ Sự hi sinh của ông khiến

cho đồng bào quyết tâm hơn

(Dẫn theo Bùi Minh Toán)

Tin chiến thắng của quân bạn làm cho an thêm nức lòng phấn khởi Cái hào

hứng của những người đã góp cả sinh mệnh mình vào trong chiến thắng

(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm) Nếu gọi A là chủ tố, B là thế tố, trong đó A đồng nghĩa với B thì ta có mô hình cho thế đồng nghĩa từ điển:

A (chủ ngôn) B (kết ngôn)

Trang 28

Từ (động từ, tính từ, danh từ) từ đồng nghĩa của A

Riêng đối với trường hợp danh từ, một trong hai yếu tố thường là từ Hán Việt và yếu tố còn lại là từ thuần Việt

Ví dụ:

Phụ nữ lại cần phải học Đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới

(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm) Trong thế đồng nghĩa từ điển, chủ tố và thế tố rất khó xác định Có thể cho rằng

phụ nữ là chủ tố và chị em là thế tố Chúng ta có liên kết hồi chiếu Nhưng nếu xác định phụ nữ là thế tố và chị em là chủ tố thì chúng ta có liên kết khứ chiếu Do đó, chúng tôi

quy ước yếu tố xuất hiện trước là chủ tố, yếu tố xuất hiện sau là thế tố Như thế, trong thế đồng nghĩa từ điển không có liên kết khứ chiếu

2.3.1.2 Thế đồng nghĩa phủ định

Thế đồng nghĩa phủ định là kiểu thế ổn định mà một trong hai yếu tố liên kết (chủ tố và bổ tố) là cụm từ cấu tạo gồm từ trái nghĩa của yếu tố liên kết kia kết hợp với

từ phủ định

Những từ phủ định thường gặp là: không, chẳng, chưa,…

Nếu A là chủ tố, B là thế tố, trong đó, B là từ trái nghĩa của A thì kiểu thế này có

mô hình:

A (chủ ngôn) B (kết ngôn)

Từ (động từ, tính từ) Từ phủ định + từ trái nghĩa của A

Trường hợp thường gặp ở kiểu thế này là đồng nghĩa phủ định động từ và tính

từ Vị trí của thế tố xuất hiện trong câu thường là vị ngữ hay bổ tố Giữa chủ tố và thế tố thường giữ vị trí tương đương nhau, nghĩa là nếu chủ tố giữa vai trò vị ngữ trong chủ ngôn thì thế tố cũng giữ vai trò là là vị ngữ trong kết ngôn

Trang 29

thế để chỉ một đối tượng trong văn bản nhưng không đồng nghĩa Hay nói cách khác, chúng đều là dạng thức của thế đồng quy chiếu

Theo chúng tôi, thế đồng quy chiếu là kiểu thế không ổn định mà hai yếu tố liên kết (chủ tố và thế tố) không là những từ đồng nghĩa, cùng hướng về một đối tượng được

đề cập trong văn bản Đối tượng này có thể là sự vật, sự việc hay sự kiện,… tồn tại trong thế giới khách quan hay thế giới khả hữu

Trong phép thế, thế đồng quy chiếu có đặc điểm chủ tố là một yếu tố ngôn ngữ

có nghĩa cụ thể, thế tố là một yếu tố ngôn ngữ chưa có nghĩa cụ thể cần được được giải thích ở chủ tố

Trong thế đồng quy chiếu, chúng tôi tạm chia thành bốn dạng thức: thế đại từ, thế danh từ bậc trên, thế danh ngữ miêu tả và thế danh ngữ khái quát

(Nam Cao – Chí Phèo)

Thật vậy, ai ngó vào trong buồng trò, mới thấy được cái khổ tâm của anh Tư

Bền Anh ngồi ủ rũ trước cái gương, bụng thì rối beng, mặt thì nhăn nhó,

(Nguyễn Công Hoan – Kép Tư Bền)

Nếu A là chủ tố trong chủ ngôn, B là đại từ thế tố trong kết ngôn thì ta có mô hình:

A (chủ ngôn) B (kết ngôn)

Danh từ / ngữ, cú đại từ thay thế cho A

Trong các đại từ, Trần Ngọc Thêm chia đại từ thành 28 nhóm Theo chúng tôi, xét trong phép thế, đại từ chia theo các trường hợp: đại từ chỉ ngôi, danh từ đại từ hóa, đại từ chỉ định

+ Đại từ chỉ ngôi: gồm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (tôi, tao, tớ, ta, chúng tôi, chúng ta, …), đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (mày, cậu,…) và ngôi thứ ba (nó, hắn, y, thị, chúng,…) Chỉ đại từ nhân xưng ngôi thứ ba mới có giá trị liên kết Bởi các đại từ

nhân xưng ngôi thứ nhất và thứ hai xuất hiện với chức năng liên kết khiếm diện Mà liên kết khiếm diện không thuộc liên kết văn bản

Trang 30

Ví dụ:

Dần ngồi nhỏm dậy Nó sờ soạng ra khỏi ổ rơm rồi đi thẳng ra ngoài

(Nam Cao) Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba có thể thay thế cho danh từ, danh ngữ

Ví dụ:

Bọn địch lại tra tấn cái bệnh câm của anh Chúng bắt anh phải nói

(Nguyễn Quang Sáng – Quán rượu người câm)

khác Họ làm như lánh nạn

(Nguyễn Công Hoan – Tinh thần thể dục)

+ Đại từ ngôi thứ ba thường mang sắc thái âm tính nên trong những trường hợp

khác cần có những đại từ hóa mang sắc thái dương tính hay trung tính như: anh, chị, ông, ngài, bà… để thay thế cho đối tượng

cho yếu tố ở trước đó

Xét vị trí xuất hiện, đại từ chỉ định có thể làm bổ tố hay vị ngữ và có thể làm chủ ngữ trong câu:

Ví dụ:

Đáng lẽ vấn đề được trình bày rõ ràng, gãy gọn thì anh đã nói một cách úp mở,

lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Chính anh, anh cũng cảm thấy thế

Trang 31

Năm 23 tuổi, cụ Võ An Ninh đã có những bức ảnh đầu tiên đăng trên báo Từ

đó đến nay, tác giả đã đi khắp đất nước nước say mê ghi lại hình ảnh quê hương với một tình yêu tha thiết Ảnh phong cảnh của nghệ sĩ giàu chất thơ đã rất quen thuộc với

mọi người

(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm) Nếu A là chủ tố ở chủ ngôn, B là danh từ bậc trên làm thế tố ở kết ngôn thì ta có

mô hình:

A (chủ ngôn) B (kết ngôn)

Danh từ riêng Danh từ bậc trên thay thế cho A

Ở trường hợp này, thế tố thường giữ vai trò là chủ ngữ trong kết ngôn

Ví dụ:

Dì Hảo cũng nghĩ đúng như thế ấy: dì làm và nuôi hắn Người vợ đảm đang ấy

kiếm mỗi ngày được hai hào, dì ăn năm xu Còn một hào thì hắn dùng uống rượu

(Nam Cao – Dì Hảo)

Nếu A là chủ tố ở chủ ngôn, B là danh ngữ miêu tả làm thế tố ở kết ngôn thì ta

có mô hình:

A (chủ ngôn) B (kết ngôn)

Danh từ danh ngữ miêu tả thay thế cho A

Ở trường hợp này, thế tố thường giữ vai trò chủ ngữ trong kết ngôn Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp thế tố là bổ tố hoặc định tố trong kết ngôn

Ví dụ:

Cai lệ tát vào mặt chị cái bốp (…) Chị Dậu nghiến hai hàm răng (…) túm lấy cổ

hắn, ấn giúi ra cửa Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất

(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm)

2.3.2.4 Thế danh ngữ khái quát

Thế danh ngữ khái quát là kiểu thế trong đó thế tố là một danh ngữ mang ý nghĩa khái quát có quan hệ bao hàm chủ tố Thế tố là danh ngữ có ngoại diện rộng hơn

so với chủ tố và thường dùng kèm với các đại từ này, ấy, đó,…

Trang 32

(Nguyễn Tuân – Trên đỉnh non Tản)

Nếu A là chủ tố trong chủ ngôn, B là danh ngữ khái quát làm thế tố trong kết ngôn thì ta có mô hình:

A (chủ ngôn) B (kết ngôn)

Từ, ngữ, cú Danh ngữ khái quát thay thế cho A

Tương tự như những dạng thức khác, thế tố ở trường hợp này giữ vị trí chủ yếu

là chủ ngữ trong kết ngôn

3 Chức năng của phép thế

Trước tiên phải nói đến chức năng liên kết văn bản của phép thế Theo Trần

Ngọc Thêm, phép thế làm cho sự kết hợp các câu trở thành “một mạng lưới” Hay theo Chim Văn Bé, phép thế tạo “mối quan hệ gắn bó, ràng buộc giữa các cấp độ ngôn ngữ dưới bậc” Như vậy phép thế tạo sự gắn bó về mặt hình thức các câu trong văn bản;

đồng thời triển khai, biểu đạt những đặc tính của đối tượng được đề cập

Trời đã tang tảng, bà kéo cái dây hạ chuồng gà trên cành xoan xuống Cho đến lúc có ánh nắng, bà Ảng mới thả đàn gà Rồi bà dạo xem qua các giàn bí đỏ, thấy quả nào đã già mặt, bà cất đem đặt lên phơi nắng trên các tảng đá Sau, bà sang nương sắn xem đêm qua có nhím nào đào sắn hay không Đấy là những công việc đều đặn mỗi sáng của người trông nương

(Tô Hoài – Truyện Tây Bắc)

Đoạn văn trên, đối tượng được đề cập là bà Ảng và nói về những công việc đều

đặn mỗi buổi sáng của bà Ở các câu của đoạn, Bà Ảng được thay thế bằng đại từ bà và danh ngữ người trông nương Những công việc của bà Ảng được thay thế bằng đại từ chỉ định đấy Như vậy, đoạn văn trên cùng đề cập một đối tượng và có sự kết hợp gắn

(Nguyễn Khải – Mùa lạc)

(b) Đào thuộc loại người gặp một lần có thể nhớ mãi rất dễ phân biệt với người chị em khác (…) Đứng cạnh Đào là Huấn (…)

Trang 33

Ở ví dụ (a) tác giả dùng người đàn bà ít duyên ấy thay thế cho Đào Việc thay

thế này làm cho câu văn trở nên hay hơn, giá trị biểu đạt cao hơn so với việc lặp từ ở (b) Dĩ nhiên, để câu văn hay còn phù thuộc nhiều yếu tố

Gắn với chức năng tránh lặp từ vựng, Trần Ngọc Thêm còn đề cập đến chức năng rút gọn văn bản

Đáng lẽ vấn đề phải được trình bày rõ ràng, gãy gọn thì anh đã nói một cách úp

mở và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Chính anh, anh cũng tự cảm thấy thế Và

khi đã biết thế, anh càng hoang mang

(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm)

Đoạn văn trên, đại từ chỉ định thế thay thế cho ngữ đoạn anh đã nói một cách úp

mở và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Và điều này làm cho đoạn văn trên trở nên ngắn gọn hơn rất nhiều Giả định đoạn văn trên nếu không dùng đại từ chỉ định thế để

thay thế thì:

Đáng lẽ vấn đề phải được trình bày rõ ràng, gãy gọn thì anh đã nói một cách úp

mở và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Chính anh, anh cũng tự cảm thấy là anh đã nói một cách úp mở và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Và khi đã biết là anh đã nói một cách úp mở và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ, anh càng hoang mang

Bên cạnh đó, phép thế làm cho văn bản có được sự đa dạng

Tin chiến thắng của quân bạn làm cho anh em nức lòng phấn khởi Cái hào

hứng của những người đã góp cả sinh mệnh mình vào chiến thắng

(Anh Đức)

Theo Trần Ngọc Thêm, phép thế còn có chức năng “định loại chủ tố”, tức là

chức năng cung cấp thêm thông tin phụ Sự thay thế cho các đối tượng cũng mang một thông tin nhất định cho người đọc về đối tượng đề cập Từ đó, ta thấy được thái độ đánh giá của người viết đối với chủ tố

cắt, chị Dậu nắm ngay được gậy của hắn Hai người giằng co nhau, đu đẩy nhau, rồi ai

nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau Hai đứa trẻ con kêu khóc om sòm Kết cục, anh

chàng hầu cận ông lí yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc lẳng đi một

cái, ngã nhào ra thềm

(Ngô Tất Tố – Tắt đèn) Người nhà lí trưởng được định danh bởi anh chàng hầu cận ông lí, con chị Dậu được định danh là chị chàng con mọn Sự định danh này cung cấp thêm thông tin phụ

về thái độ của tác giả đối với hai nhân vật trên Anh người nhà lí trưởng thức chất chỉ là tên tay sai chuyên nịnh bợ tên lí trưởng, hắn chẳng có tài cán gì cả Đến khi phải ẩu đả với người phụ nữ dù đã sinh đẻ không bao lâu thì hắn vẫn ngã nhào ra thềm Thái độ đối với tên người nhà lí trưởng là chế giễu, mỉa mai, châm biếm Riêng đối với chị Dậu,

Trang 34

tác giả trân trọng, cảm thông và ca ngợi sự đấu tranh, phản kháng trước thế lực áp bức,

dù vẫn còn là tự phát

Như vậy, phép thế vẫn có chức năng biểu thị tình thái Đó là thái độ nhìn nhận, đánh giá của người viết đối với đối tượng, sự việc được đề cập Tình thái được nhìn nhận có thể ở cấp độ dương tính (cảm thông, ca ngợi, đồng cảm, xót thương,…) hoặc cấp âm tính (chế giễu, mỉa mai, khinh miệt,…) Tình thái đôi khi biểu hiện một cách rõ ràng (hiển ngôn) nhưng đôi khi cũng biểu hiện dưới dạng hàm ẩn (hàm ngôn)

CHƯƠNG II

Trang 35

PHÉP THẾ TRONG VANG BÓNG MỘT THỜI CỦA NGUYỄN

TUÂN

1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Tuân và Vang bóng một thời

1.1 Tiểu sử, con người

1 1.1 Nguyễn Tuân sinh ngày 10 – 7 – 1910 tại phố Hàng Bạc, Hà Nội trong một gia

đình có truyền thống Nho học Cha ông là cụ Nguyễn An Lan hay còn gọi là ông Tú Hải Văn, một Tú Tài của Khoa thi cuối cùng Thời kì này, Nho học đã thất thế và phải nhường lại vị trí cho Tây học Cả một thế hệ nhà Nho cảm thấy lạc lõng trước xã hội có

sự pha tạp giữa Tây – Tàu một cách nhố nhăng Bối cảnh xã hội và hoàn cảnh gia đình

đã có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng cũng như phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân

Tuy quê ở Hà Nội, nhưng từ nhỏ Nguyễn Tuân đã sống nhiều ở các tỉnh miền Trung: Khánh Hòa, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Huế, Hà Tĩnh và nhất là Thanh Hóa

Năm 1928, Nguyễn Tuân đang học năm thứ tư bậc Thành trung trường Nam Định thì bị đuổi học và không được làm việc ở bất cứ công sở nào ở Đông Dương do tham gia bãi khóa chống giáo viên Pháp xúc phạm đến người Việt Nam Sau đó, ông còn một nhóm bạn vượt biên giới sang Lào rồi sang Thái Lan; bị bắt ở Băng-Cốc, đưa

về giam Thanh Hóa năm 1930 Ở tù ra, ông bắt đầu cầm bút và có các tác phẩm đăng trên tờ báo Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy,… với các bút danh Nguyễn Tuân, Ngột Lôi Quật, Nhất Lang, Tuấn Thừa Sắc, Thanh Hà, Ân Ngũ Tuyên,… Sau đó, ông có ý định xê dịch trái phép vào Sài Gòn nhưng mới đến Vinh ông đã bị bắt và quản thúc ở Thanh Hóa Từ đó, ông rơi vào khủng hoảng trầm trọng và lao vào ăn chơi trụy lạc Năm 1938, Nguyễn Tuân Tham gia đoàn làm phim

Cánh đồng ma được quay tại Hương Cảng Năm 1941, ông lại bị bắt giam ở trại tập

trung Vụ Bản, Nho Quan, Ninh Bình vì có giao du với một người thân Nhật

Ông rơi vào tình trạng suy sụp nghiêm trọng và đã có ý muốn tự tử Nhưng Cánh mạng tháng Tám 1945 nổ ra đã cứu lấy cuộc đời ông Ông đã hăng hái tham gia vào lực lượng cách mạng Năm 1950, Nguyễn Tuân được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương Từ năm 1948 đến năm 1958, ông giữ chức Tổng bí thư Hội văn nghệ Việt Nam Ông mất ngày 28 – 7 – 1987 tại Hà Nội Ông nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996

1.1.2 Nguyễn Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Ông là một

trong những nhà văn đã tìm hiểu nghiêm túc nhiều giá trị văn nghệ cổ truyền: tuồng, chèo, hát ả đào, hội họa cổ điển,… Ông am hiểu và sống nhiều với nền văn học cổ điển dân tộc, trong đó, không phải chỉ những vần thơ của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương,… mà còn những lời ca điệu hát của nhân dân lao động Ngoài ra, ông còn gắn

bó với những phong tục cổ truyền của dân tộc mình như những thú vui đài các, tao nhã như uống trà, nhắm rượu, chơi hoa, chơi chữ đẹp, đánh bạc bằng thơ

Trang 36

Nguyễn Tuân là một người rất mực tài hoa và uyên bác Ngoài văn chương, ông còn am hiểu rất nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật khác Chính vì vậy trên từng trang viết của mình, ông thường vận dụng nhiều góc nhìn ở từ các khía cạnh khác nhau để tăng cường biểu đạt của ngôn từ Người đọc không chỉ thấy được sự hấp dẫn từ ngôn từ của nhà văn mà còn thấy được những tri thức phong phú về âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điện ảnh, lịch sử, địa lý

Nguyễn Tuân là một người có thái độ ngông nghênh phóng túng Thái độ này là

sự hài hòa giữa tư tưởng Nho gia và tư tưởng phương Tây Ông am tường cả Hán học lẫn Tây học tuy nhiên ông vẫn giữ tiếng nói và ngôn ngữ của dân tộc trong trang viết của mình Ông rất mực đề cao nhân cách của con người, đặc biệt là người nghệ sĩ Chính vì vậy, ông là người có ý thức cá nhân rất cao

1.2 Sự nghiệp sáng tác

Quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân có thể chia ra làm hai giai đoạn:

Trước cách mạng có các tác phẩm: Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1939), Ngọn đèn dầu lạc (1939), Thiếu quê hương (1940), Tàn đèn dầu lạc (1941), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Tùy bút I (1941), Tùy bút II (1943), Tóc chị Hoài (1943), Nguyễn (1945)

Sau cách mạng có các tác phẩm: Chùa Đàn (1946), Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Thắng càn (1963), Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập I/1955, tập II/1956), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ (1972), Ký (1976), Hương vị và cảnh sắc đất nước (1978), Tuyển tập Nguyễn Tuân (1994), Nguyễn Tuân toàn tập (2000)

1.2.1 Trước năm 1937, Nguyễn Tuân thử sức ở các thể loại trước khi thành công ở thể

tùy bút Những tác phẩm của ông lúc này còn chịu ảnh hưởng nhiều của Hán học nên

hầu hết được viết theo bút pháp cổ điển Tiêu biểu như Giang hồ hành (thơ), Vườn xuân lan tạ chủ (truyện ngắn), Chơi thành Cổ Loa (tùy bút)

Đến năm 1937, Nguyễn Tuân xuất hiện với những truyện ngắn hiện thực trào

phúng với nụ cười châm biếm nhẹ nhàng như Đánh mất ví, Gỡ cái vạ vịt, Một vụ bắt rượu, Mười năm trời mới gặp lại cố nhân, Răng người tình, Dù không tạo được tiếng

vang nhưng các tác phẩm đó đã có dấu hiệu của một lối văn cầu kì uyên bác hơn người

Nguyễn Tuân chỉ thật sự được công nhận như một phong cách văn chương độc

đáo kể từ tùy bút – du ký Một chuyến đi, năm 1938 Tác phẩm tập hợp những trang viết

từ chuyến đi sang Hương Cảng (Hồng Kông) đóng phim Đến đấy, nhà văn mới tìm ra được giọng điệu riêng của mình – giọng điệu phóng túng, biến hóa linh hoạt

Năm 1939, bằng tập truyện Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân đã đạt được đỉnh

cao trong sáng tạo nghệ thuật

Thiếu quê hương được tác giả viết năm 1940 là tác phẩm viết về chủ nghĩa xê

dịch của nhân vật Bạch Nhân vật này bị chứng bệnh thêm đi Dù là cổ xúy cho sự ra đi trốn tránh trách nhiệm nhưng phần nào thể hiện sự bế tắc trong tư tưởng của nhà văn

Trang 37

Đến năm 1941, Chiếc lư đồng mắt cua ra đời Tác phẩm viết về đời sống của

những kẻ trụy lạc Đây cũng được xem như một khuynh hướng thoát ly tiêu cực của các nghệ sĩ lãng mạn lúc bấy giờ Nhân vật chính là Thông Phu, chủ một nhà hát ả đào Ông

là một con người rất nghĩa khí, sống hết mình vì nghệ thuật và ông đã chết khi đang

đánh cờ tướng

Sau Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân lâm vào khủng hoảng trầm trọng Ông tìm hướng thoát ly mới ở thế giới của yêu tính ma quái như: Xác ngọc lan, Đới roi, Rượu bệnh, Loạn âm,

Do có những quan niệm chưa thật sự đúng đắn nên ông lâm vào suy sụp nghiêm trọng và đôi khi rủ bỏ tất cả để đến với cuộc sống trụy lạc Tuy nhiên, ở ông, ta vẫn thấy được sự chân thành đối với đất nước Chính sự chân thành cũng như nhân cách cao cả

đã giúp ông vượt lên trên mọi nhem nhuốc của cuộc đời

1.2.2 Sau cách mạng thánh Tám 1945, ngoài vài tùy bút ngắn ghi lại những hy vọng

mới, Nguyễn Tuân còn thành công ở Chùa Đàn Tác phẩm này ông đã rất tâm huyết

Đó là con đường chuyển hóa tư tưởng của nhân vật Lãnh Út cũng như tác giả để đón nhận một lí tưởng mới của cuộc đời Và người đọc vẫn nhận ra mẫu nhân vật luôn luôn suốt đời gắn bó vì nghệ thuật Dù quá trình đổi mới tư tưởng còn giản đơn nhưng vẫn phải ghi nhận sự nỗ lực đổi mới của ông

Hai tập tùy bút Đường vui (1949) và Tình chiến dịch (1950) ghi lại những

chuyển biến thật sự sâu sắc trong tư tưởng Nguyễn Tuân hăng hái vác ba lô lên vai dấn thân vào những nẻo đưởng chiến dịch để từ đó ông tìm được cái Đẹp hiện hữu ngay trong đời thực Ông say mê trước những hạnh phúc ấy Ông đón nhận chất liệu hiện thực và chia sẻ những cảm xúc trên những trang viết tinh vi, tài ba Những tác phẩm

đậm đà bản sắc văn hóa ra đời như Phở, Cây Hà Nội, Con hồ thủ đô,… Những tác

phẩm này một phần thể hiện sự say mê những giá trị tinh thần, một mặt thể hiện uyên bác của Nguyễn Tuân trong việc lý giải, phân tích vấn đề văn hóa

Nếu như đỉnh cao nghệ thuật của ông trước cách mạng là tập truyện Vang bóng một thời thì đến năm 1960, ông vươn lên một tầm cao mới với tập tùy bút Sông Đà

Tác phẩm là kết quả chuyến đi thực tế nhiều ngày của nhà văn lên vùng Tây Bắc Tác phẩm đã khẳng định tài năng của ông thêm một lần nữa về thể loại tùy bút

Sau Sông Đà, Nguyễn Tuân tiếp tục đi và viết nhiều nhưng chủ yếu hai đề tài: ca

ngợi cuộc sống xây dựng xã hội mới và chiến đấu chống Mĩ Các tác phẩm tiêu biểu

như Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Hương vị và cảnh sắc đất nước (1976),…

Trang 38

Nguyễn Tuân, mọi thứ bỗng trở nên lấp lánh với nhiều giá trị mới Với những cái nhìn mới mẻ ấy, một mặt người đọc thấy say sưa trước cảnh, tình và tri thức phong phú từ cái đẹp; mặt khác làm cho người đọc cảm thấy tự hào về dân tộc, về thời đại mình đang sống Những đề tài đó không nhằm mục đích thỏa mãn tính hiếu kỳ, hời hợt mà nhằm khơi gợi những ý nghĩa có tính nhân văn

Hệ thống nhân vật bao giờ cũng mang vẻ độc đáo và tài hoa của nhân cách Ở cả hai giai đoạn sáng tác, nhà văn luôn trân trọng những kẻ sĩ và say mê miêu tả họ Mỗi nhân vật thường có những tài hoa riêng đầy nghệ thuật Đó là Cụ Sáu, cụ Nghè Móm, Lão Phó sứ, cụ Kép, ông Cử Hai, hai anh em Đầu Xứ,… là những bậc thầy về nghệ

thuật uống trà, uống rượu, đánh thơ, chơi đèn kéo quân, (Vang bóng một thời) là ông Thông Phu lắm tài nhiều tật cuối cùng chết trên ván cờ đất vì thua cuộc (Chiếc lư đồng mắt cua) Tài hoa đi kèm với khí phách hơn người cũng được nhà văn khai thác như Huấn Cao trong Chữ người tử tù Sau năm 1975, nhà văn say mê đón nhận cuộc sống

mới nhưng nhân vật tài hoa vẫn xuất hiện trong trang viết của nhà văn Ông lái đò trên sông Đà là một nghệ sĩ trên dòng sông hung bạo và trữ tình Ông đã sống và chiến đấu

cả đời với con sông Đà Ở ông, sức mạnh chinh phục thiên nhiên và sự tài hoa được bật nổi lên rõ rệt

Nguyễn Tuân tìm đến thể loại tùy bút như một lẽ tất nhiên, bởi đây là thể loại phù hợp với ông nhất Chính nhà văn đã đưa thể loại tùy bút lên đến đỉnh cao Thể loại này chấp nhận sự tự do và những cảm xúc đậm màu sắc chủ quan Có nhiều chi tiết tưởng bình thường nhưng bằng giọng điệu độc đáo, khả năng quan sát sắc sảo, thông minh, hóm hỉnh cộng với những lý lẽ thuyết phục và triết lý, nhà văn đã khiến nó trở nên lung linh kỳ ảo, gợi mở những ý tưởng mới lạ

Nguyễn Tuân có kho từ vựng hết sức phong phú do cần cù tích lũy cả đời và sự say mê tiếng nói của dân tộc Không chỉ viết ra những điều đã có, ông còn sáng tạo những từ mới cũng như những cách dùng từ mới Ngoài ra để làm phong phú thêm vốn

từ, nhà văn còn sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau như: chuyển đổi từ loại,

từ nghĩa, sự hài hòa giữa những từ ngữ cổ điển và hiện đại,… Câu văn thật linh hoạt, uyển chuyển, in đậm dấu ấn của sự sáng tạo

Tóm lại, với phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Đăng

Mạnh có nhận xét: “ Hạt nhân của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể gói gọn trong một chữ ngông Cái ngông vừa có màu sắc cổ điển, kế thừa truyền thống tài hoa đất bắc cưa những Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà và trực tiếp hơn là cụ Tú Lan, thân sinh nhà văn, vừa mang vẻ hiện đại, ảnh hưởng từ các hệ thống triết lý nổi loạn của xã hội tư sản phương Tây như triết lý siêu như nhân, quan niệm về con người cao đẳng, thuyết hiện sinh…”

1.4 Vài nét về Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân

Trang 39

Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn và tập truyện Vang bóng một thời đỉnh cao

nghệ thuật của ông trước cách mạng tháng Tám 1945 Tập truyện được sáng tác vào năm 1939 trong phong trào phục cổ do thực dân Pháp khởi xướng lúc bấy giờ Tuy

nhiên, Vang bóng một thời không đơn giản chỉ là hoài cổ mà nó còn có những giá trị về

tư tưởng và nghệ thuật riêng, có được một sức sống lâu bền

Tập truyện gồm 12 truyện ngắn: Bữa rượu máu (Chém treo ngành), Những chiếc

ấm đất, Thả thơ, Đánh thơ, Ngôi mả cũ, Hương cuội, Chữ người tử tù, Một đám bất đắc chí (Ném bút chì), Chén trà sương, Đèn đêm thu, Trên đỉnh non Tản, Khoa thi cuối cùng Vang bóng một thời vẽ lại những vẻ đẹp xưa còn “vang bóng” Tác phẩm hướng

đến cái đẹp trong những thú vui của những ông Nghè, ông Tú như uống trà, uống rượu, ngắm hoa, thưởng nguyệt Nhưng tất cả thú vui đó được thưởng thức với một tấm lòng thành kính đến thiêng liêng Những vẻ đẹp ấy đang đứng trước nguy cơ bị mất đi và nhà văn rất đau xót cho những giá trị văn hóa của dân tộc dần bị thay thế bởi những nét

văn hóa phương Tây

Nhân vật trong Vang bóng một thời đa dạng nhưng họ đều là người nghệ sĩ và rất

chân thành cho lý tưởng của mình Do sinh ra trong thời đại bất ổn, họ dường như là những con người sinh “bất phùng thời” Cái vui nhất của họ là những lúc được hưởng thú an nhàn lúc về già Ông cụ Sáu luôn mong muốn có thể uống được tuần trà tàu được pha bằng nước lấy từ giếng chùa Đồi Mai Hay cụ Ấm với chén trà sương sớm và ngâm bình với bài Trà ca Đó là cụ Kép với bữa rượu “Thạch lan hương” ngày tết Trong tác phẩm cũng xuất hiện mẫu nhân vật thích xê dịch với sự tài hoa của bản thân mình Vợ chồng Phó sứ bằng tài hoa của mình đã đi khắp đại giang Nam Bắc và không dừng lại nơi nào lâu Ông Cử Hai thì cũng vẫn tính xê dịch nhưng vẫn có những giây phút vui

vầy cùng gia đình Tất cả những nhân vật trong Vang bóng một thời đều có một thú vui

riêng và họ đều nâng chúng lên thành nghệ thuật và họ chính là một nghệ sĩ chân chính

Đó cũng là một trong những biểu hiện của sự phản ứng trước thực tại cuộc sống không được tự do, ngột ngạt

Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, người

ta cũng có một cảm tưởng gần giống như những cảm tưởng trong khi ngắm một bức cổ họa” [11;tr.256] Để tạo ra một cảm giác giống như bức cổ họa, Nguyễn Tuân đã huy

động vốn ngôn ngữ cổ kính của mình Từ ngôn ngữ, đến hình ảnh, không gian, thời gian, nghệ thuật miêu tả nhân vật đề bật nổi lên vẻ đẹp “vang bóng” một thời Tuy

nhiên, Vang bóng một thời vẫn mang nét hiện đại Từ việc thoát khỏi lối văn biền ngẫu

đã “theo suốt” nền văn học nước ta gần mười thế kỉ, Vang bóng một thời đã góp phần

vào quá trình hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam

2 Các dạng thức của phép thế trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân

Trong Vang bóng một thời, tác giả đã sử dụng phép thế hầu như ở tất cả tập

truyện trong các trường hợp khác nhau để tạo ra những hiệu quả nghệ thuật Chúng tôi

Trang 40

đã lập bảng thống kê (phụ lục) về những trường hợp cụ thể của các dạng thức của phép thế Số lượng cụ thể là:

nhà văn sử dụng nhiều hơn Trong thế đồng quy chiếu, thế đại từ được sử dụng nhiều

nhất trong từng tác phẩm cũng như trong toàn tập truyện Vang bóng một thời

2.1 Thế đồng quy chiếu

2.1.1 Thế đại từ

Như đã đề cập, thế đại từ là kiểu thế thể hiện ở việc dùng các đại từ và những từ đại từ hóa (từ có tính chất đại từ) làm thế tố để thay thế cho đối tượng được đề cập ở chủ ngôn Thế đại từ có chức năng liên kết rõ rệt và được nhà văn sử dụng nhiều hơn so

với các dạng thức khác

Ví dụ:

Viên quản ngục nhìn mặt chữ khô lần Y sung sướng vì giữ được dòng chữ quý

(Chữ người tử tù)

Y vốn là một đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít và thay thế cho đối tượng đề cập

ở chủ ngôn là nhân vật viên quản ngục Trong trường hợp này, chủ tố là viên quản ngục được thay thế bởi thế tố là y

Trong thế đại từ, như lý thuyết chúng tôi đã nêu, tác giả cũng sử dụng các phương tiện thế như thế đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, thế bằng từ đại từ hóa và thế đại

từ chỉ định

* Ở dạng thức này, chúng tôi có thống kê bảng số liệu:

Thế đại từ Số lần xuất hiện Tỉ lệ (%)

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w