1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU NHÂN vật TRONG TRUYỆN KIỀU

99 292 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình nghiên cứu Truyện Kiều của mỗi người, bao giờ các tác giả cũng dành những trang viết về những thành công trong nghệ thuật của Nguyễn Du như: nghệ thuật xây dựng nhân vậ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

TRẦN THỊ HẢI MSSV: 6075419

NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU NHÂN VẬT

TRONG TRUYỆN KIỀU

Luận văn tốt nghiệp Đại học

Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: Lê Thị Ngọc Bích

Cần Thơ, 5-2011

Trang 2

PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích, yêu cầu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1 10

VÀI NÉT VỀ NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG VÀ NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU NHÂN VẬT 10 1 Ngôn ngữ văn chương 10

1.1 Tìm hiểu khái niệm về ngôn ngữ văn chương 10

1.2 Một số đặc trưng của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn học 12

1.2.1 Tính hình tượng từ trong nội dung của lời nói 12

1.2.2 Tính tổ chức cao 13

1.2.3 Tính hàm súc 15

1.2.4 Tính biểu cảm 15

1.2.5 Tính chính xác 15

2 Ngôn ngữ văn chương trong Truyện Kiều 16

3 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học 27

3.1 nhân vật văn học là gì? 27

3.2 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học 29

Chương 2 32

NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU NHÂN VẬT CỦA NGUYỄN DU TRONG TRUYỆN KIỀU 32

1 Nhận xét chung về ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều 32 2 Phân loại ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” 34

2.1 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật chính diện 34

2.1.1 Sử dụng ngôn ngữ tác giả 34

2.1.1.1 Motip từ “có”( �) 34

2.1.1.2 Motip từ “là”( ) 36

2.1.2 Sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, chủ yếu dùng từ Hán Việt 37

2.2 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật phản diện 38

2.2.1 Sử dụng ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm qua Motip từ “thấy” (体) 38

2.2.2 Sử dụng bút pháp tả thực, chủ yếu dùng từ Thuần Việt 40

Chương 3 42

NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU MỘT SỐ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU 42

1 Vài nét về Tác giả, Tác phẩm 42

1.1 Tác giả Nguyễn Du (阮 攸) 42

1.2 Tác phẩm Truyện Kiều (傳 翹) 47

1.2.1 Giá trị nội dung 47

1.2.2 Giá trị nghệ thuật 50

Trang 3

2.1 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật Thúy Vân- Thúy Kiều 51

2.2 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải 57

2.2.1 Kim Trọng 57

2.2.2 Thúc Sinh 61

2.2.3 Từ Hải 62

2.3 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh 66

2.3.1 Mã Giám Sinh 66

2.3.2 Tú Bà 68

2.3.3 Sở Khanh 70

2.4 Ngôn ngữ giới thiệu của một số nhân vật khác 74

2.4.1 Đạm Tiên 74

2.4.2 Hồ Tôn Hiến 76

PHẦN KẾT LUẬN 78

PHỤ LỤC 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài

Truyện Kiều là một kiệt tác văn chương của Việt Nam và thế giới, từ lâu đã được

khẳng định là tập đại thành của ngôn ngữ thơ ca Phạm Quỳnh khi tranh luận về Truyện

Kiều đã nhấn mạnh: “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” Điều đó

cho ta thấy được vai trò của Tiếng Việt cũng như ngôn ngữ Truyện Kiều là rất quan trọng

nó là niềm tự hào của người Việt Nam qua bao thế hệ

Ngay từ khi ra đời cho đến mãi về sau Truyện Kiều vẫn được độc giả yêu thích Bởi lẽ với người Việt Nam, Truyện Kiều đã đi sâu vào lòng họ như một khúc hát ru với lời thơ dìu dặt, giọng thơ da diết Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều đã sống chan hoà

trong đời sống của toàn dân tộc Không riêng gì Văn học Việt Nam, mà trong Văn học thế giới cũng hiếm có tác phẩm nào chinh phục được rộng rãi tình cảm của đông đảo người đọc, từ già đến trẻ, từ người có học đến quần chúng bình dân trước đây phần lớn bị thất

học, như Truyện Kiều Truyện Kiều khẳng định sức ảnh hưởng của mình ngay trong ca

dao, dân ca: “Đàn ông chớ kể Phan Trần / Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều ”. Sở có sự

ảnh hưởng sâu rộng như thế là vì ngoài nội dung phong phú và sâu sắc của, Truyện Kiều

còn là một tác phẩm chứa đựng tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc

Bên cạnh đó Truyện Kiều còn là một tác phẩm có giá trị như một thông điệp cho

con người giao cảm với thế giới vô hình, dạt dào cảm xúc mơ mà như thực, lung linh

huyền ảo mà minh bạch lạ lùng Nói đến Truyện Kiều có lẽ không ai không thừa nhận sự thành công vô cùng rực rỡ về cả hai mặt nội dung và hình thức Từ sau khi Truyện Kiều ra

đời cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào khai thác giá trị nội dung cũng như hình thức của tác phẩm Trên bình diện nghệ thuật, các tác giả cố gắng khơi nên

cái hay, cái đẹp cho những dòng thơ lục bát và đã nâng nội dung Truyện Kiều lên đến độ

thăng hoa Tuy nhiên có vài khía cạnh chỉ mới được xem xét trên bình diện tổng quát, chưa kịp đi vào tìm hiểu cụ thể, một trong số đó là giá trị ngôn ngữ giới thiệu nhân vật

trong Truyện Kiều

Trang 6

Trong một tác phẩm, đặc biệt là tác phẩm tự sự, xây dựng hệ thống các nhân vật là điều vô cùng quan trọng mà đòi hỏi tác giả phải bỏ công, dụng sức Để xây dựng hình tượng nhân vật thành công thì việc sử dụng ngôn ngữ giới thiệu nhân vật là rất quan

trọng, nhưng không phải nhà văn , nhà thơ nào cũng làm được điều đó Chỉ ở Truyện Kiều của Nguyễn Du ta mới thấy hết được các độc đáo trong việc vận dụng từ ngữ vào việc

giới thiệu nhân vật Chính điều này đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của tác phẩm ngiên cứu về đề tài này người viết gặp phải không ít khó khăn trong việc tìm kiếm

tài liệu, vì đây là vấn đề ít được nhắc đến Nhưng chính vì lòng yêu mến Truyện kiều cũng như tác giả Nguyễn Du đã giúp tôi mạnh dạn chọn đề tài này với mong muốn cố gắng đào sâu, tiếp xúc kỹ hơn với Truyện Kiều ở nhiều khía cạnh khác nhau nhất là về mặt ngôn ngữ Qua đó thể hiện rõ hơn tài năng của đại thi hào Nguyễn Du trong việc thừa kế và

phát huy vốn ngôn ngữ của dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

Truyện Kiều ra đời đã làm dấy lên một loạt các hình thức văn học, từ phê bình đến

sáng tác một cách sâu rộng lâu dài, mang lại cho nhân dân ta một đời sống văn học mới, phong phú và đa dạng hơn Từ tầng lớp trí thức cho đến những người bình dân, tất cả đều

say mê nghiên cứu Truyện kiều Các hình thức bình Kiều, đố Kiều, bói Kiều, lẩy Kiều,… diễn ra sôi nổi Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều ra đời là

bộ phận quan trọng chứng minh cho ảnh hưởng và sức sống vĩnh cửu của tác phẩm việc

nghiên cứu Truyện Kiều vẫn đang diễn ra và còn tiếp tục Thư mục nghiên cứu Truyện

Kiều đã lên đến hàng mấy trăm, có cả những công trình nghiên cứu của các tác giả nước

ngoài Đó là chưa kể đến những bài báo, tạp chí, và cả những ý định của nhiều người vẫn còn dang dở

Nói về nghiên cứu Truyện Kiều, từ xưa đến nay chia thành nhiều giai đoạn với

những ý kiến khác nhau Giai đoạn từ năm 1952 trở về trước, các tác giả chủ yếu bàn về nội dung tác phẩm và dựa trên nền tảng đạo đức với các ý kiến khác nhau Nhưng từ năm

1952 trở đi, khi đi vào nghiên cứu Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu đã đi vào phân tích,

đánh giá toàn vẹn hơn cả về nội dung lẫn nghệ thuật của tác phẩm Các tác giả giai đoạn này thể hiện tư tưởng mới mẻ hơn so với các tác giả trước đây, đó là họ không đặt tác

Trang 7

phẩm trong mối quan hệ với đạo đức để đánh giá phẩm chất nhân vật, hay tư tưởng của

Nguyễn Du trong tác phẩm mà xoáy sâu vào từng câu chữ để tìm cái hay trong nội dung

và cái độc đáo trong nghệ thuật Và từ giai đoạn này trở đi nội dung và nghệ thuật của

Truyện Kiều được nhìn nhận trong sự nhất trí của hầu hết tác giả

Cả về nội dung lẫn nghệ thuật, hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định

những đóng góp to lớn của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Về nội dung đó là giá trị nhân

đạo và giá tri hiện thực của tác phẩm, còn về nghệ thuật luôn thu hút được sự chú ý của

rất nhiều nhà nghiên cứu Trong công trình nghiên cứu Truyện Kiều của mỗi người, bao

giờ các tác giả cũng dành những trang viết về những thành công trong nghệ thuật của

Nguyễn Du như: nghệ thuật xây dựng nhân vật, tả cảnh ngụ tình, diễn biến tâm lí nhân

vật, phương pháp sáng tác,… và đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ Truyện Kiều Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong Truyện Kiều là một thành công tiêu biểu và đặc sắc, góp

phần nâng tác phẩm lên hàng kiệt tác Đồng thời còn là sự khẳng định tài năng của

Nguyễn Du Các bài nghiên cứu của rất nhiều tác giả đều chứng minh cho ngôn ngữ Truyện Kiều ở các khía cạnh; “sự phong phú về từ vựng, đa dạng về lớp từ; ngôn ngữ trong sáng giàu hình ảnh, giàu sức gợi, truyền cảm; ngôn ngữ được sử dụng một cách cân nhắc có chọn lựa; cú pháp câu thơ cũng mang tính chất thơ ca rõ rệt” [19; 85,86]

Chính sự đặc sắc ở nhiều khía cạnh của ngôn ngữ Truyện Kiều đã góp phần làm lên sự thành công của tác phẩm, mà nghệ thuật giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du trong tác

[33;53] Ở Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ một cách tài tình để giới thiệu những nhân vật lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm Các truyện thơ khác như “Hoa

Tiên”, “Phan Trần”, “Nhị Độ Mai”,…có rất nhiều nhân vật được đưa vào truyện một

cách đột ngột, làm cho người đọc không biết nhân vật từ đâu ra, thậm chí có nhân vật khi

Trang 8

mới xuất hiện phải thêm lời trích dẫn ở dưới Nhưng ở Truyện Kiều, Nguyễn Du không những thành công ở ngôn ngữ xây dựng nhân vật hay ngôn ngữ kể chuyện mà Truyện

Kiều của Nguyễn Du được biết đến như thiên tuyệt bút về nghệ thuật ngôn từ Chính vì

vậy ngay cả việc sử dụng ngôn ngữ để giới thiệu nhân vật Nguyễn Du cũng thể hiện sâu

sắc tài năng của mình Bỏ qua qui luật vần điệu của truyện thơ, Truyện Kiều đã có nhiều

nhân vật được giới thiệu rất thành công Cũng trong bài viết của mình một lần nữa Lý

Toàn Thắng đưa nhận xét: “mặc dù Truyện Kiều là một truyện thơ cần phải đảm bảo

những qui luật âm vận nhất định, nhưng hầu hết tất cả các nhân vật trong tác phẩm từ chính đến phụ đều được Nguyễn Du dẫn dắt vào truyện một cách có chuẩn bị, một cách

tự nhiên và lạ lùng ”[33; 54]

G.S Trần Đình Sử trong công trình Thi pháp Truyện Kiều cũng đã khẳng định tài

năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Ở bài viết “Nguyễn Du - nghệ

sĩ ngôn từ” G.S đã gọi Nguyễn Du là “nhà nghệ sĩ ngôn từ” và còn khái quát nên “công việc” của nhà nghệ sĩ ấy: “Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du với tư cách nghệ sĩ, ông đã đập vỡ cấu trúc ngôn ngữ hàng ngày để tạo thành ngôn từ nghệ thuật”(28; 308) Chính

sự gọt giũa của bàn tay nghệ sĩ khéo léo ấy đã làm cho những trang Truyện Kiều trở thành

bất hủ

Ngoài ra còn một số ý kiến khác của các nhà nghiên cứu về Truyện Kiều Điển

hình như tác phẩm Truyện Kiều những lời bình của Hoài Hương Đó là tuyển tập những

bài viết của các tác giả, trong đó tập trung, xoáy sâu vào nghiên cứu, đánh giá nội dung tác phẩm, tác phẩm được đánh giá bình luận và nhìn nhận trên nhiều phương diện cũng

như nhiều góc độ khác nhau Bài viết khẳng định tài năng của Nguyễn Du trong cách diễn

đạt từ, ngữ, câu và nghệ thuật thể hiện tâm lí nhân vật Hay ý kiến của Lê Xuân Lít trong

200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều Tác giả đã bỏ công tổng hợp toàn bộ những

bài viết, những bài phê bình, bình luận trong khoảng 200 năm nghiên cứu về Truyện kiều

đó là những bài viết tiêu biểu nhất, nghiên cứu Truyện Kiều một cách gần như toàn diện

nhất ở rất nhiều quan điểm khác nhau Các bài viết chủ yếu tập trung thể hiện những phát

hiện mới, những nội dung cụ thể giúp người đọc hiểu sâu hơn về Truyện Kiều ở những

phương diện cụ thể như: ngôn ngữ, vấn đề dị bản, nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật…,

Trang 9

nhưng cũng chưa có bài viết nào đi vào nghiên cứu một cách cụ thể và sâu sắc ngôn ngữ

giới thiệu nhân vật trong Truyện Kiều

Nhìn chung, viết về ngôn ngữ Truyện kiều đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và hầu hết đều ca ngợi Truyện kiều Tài năng của Nguyễn Du được khẳng định là ông đã rất

khéo léo khi vận dụng ngôn ngữ một cách tài tình trong tác phẩm của mình, đặc biệt là

Truyện Kiều Chính điều đó đã góp một phần lớn tạo lên sự thành công của tác phẩm vận

dụng ngôn ngữ trong việc diễn biến tâm lí nhân vật, trong việc xây dựng hình tượng nhân

vật hay trong cách giới thiệu nhân vật,… tất cả đều rất tài tình Truyện Kiều đã đánh dấu

một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Tiếng Việt, nó góp phần làm cho Tiếng Việt thêm giàu đẹp, thêm uyển chuyển và trở nên chính xác và xúc tích lạ thường Tuy nhiên, việc đi

vào tìm hiểu ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong Truyện Kiều hầu như chưa có một công

trình thật sự chuyên sâu, có chăng cũng chỉ là một số nhận xét lẻ tẻ để góp phần nghiên

cứu ngôn ngữ Truyện kiều

3 Mục đích, yêu cầu

Khi thực hiện đề tài này, người viết vươn tới đạt được những mục đích – yêu cầu sau:

- Trình bày những quan niệm về ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ văn chương

trong Truyện kiều, và đặc biệt cố gắng đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ giới thiệu nhân

vật

- Khái quát tác giả Nguyễn Du, về cuộc đời cũng như các sáng tác của ông Đồng thời khái quát một cách chính xác nhất về tác phẩm Truyện Kiều để thấy được tài năng kiệt xuất của Nguyễn Du

- Phân tích các phương thức giới thiệu nhân vật trong Truyện Kiều

- Góp phần nghiên cứu một cách cụ thể hơn về ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong Truyện kiều Qua đó giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong Truyện

Kiều” Từ những gợi ý của các nhà nghiên cứu, người viết sẽ chọn ra những phương thức

giới thiệu nhân vật để nghiên cứu và làm nổi bật vấn đề

Và để thực hiện đề tài này, người viết dựa trên văn bản Truyện Kiều của hai tác giả

Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính, trong quyển Nguyễn Du - tác phẩm và lịch sử

văn bản - NXB TP Hồ Chí Minh- 2000 và người viết căn cứ vào chú giải ở quyển Nguyễn Du- Truyện Kiều (chú thích, chú giải và những tư liệu gốc) - NXB văn hóa thông tin Hà

Nội- 2000 của hai tác giả Hà Huy Giáp và Nguyễn Thạch Giang

Do hạn chế về thời gian và tài liệu tham khảo cho nên người viết chỉ phân tích một

cách khái quát, chưa được sâu sắc lắm về “ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong truyện

kiều”, chỉ mong góp phần làm phong phú thêm các nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều

để thấy được tài năng kiêt xuất của Nguyễn Du

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đi vào nghiên cứu đề tài “ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du trong

Truyện Kiều” người viết phải sử dung rất nhiều phương pháp như: phương pháp lịch sử,

thống kê, hệ thống, đối chiếu so sánh, tổng hợp,…

- Phương pháp lịch sử

Để đi vào nghiên cứu ngôn ngữ văn chương cũng như ngôn ngữ giới thiệu

nhân vật trong Truyện Kiều Theo người viết trước hết chúng ta phải tìm hiểu đôi nét về

ngôn ngữ văn chương, về nguồn gốc lịch sử- xã hội để hình thành nên ngôn ngữ văn chương cũng như ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong một tác phẩm, các phương thức được sử dụng để giới thiệu nhân vật, vị trí của ngôn ngữ văn chương trong kho ngôn ngữ của Tiếng Việt,… Phương pháp lịch sử giúp người viết nắm bắt được nội dung cơ bản của yếu tố này

- Phương pháp phân tích

Trang 11

Phương pháp phân tích được người viết sử dụng để đi vào phân tích các

phương thức ngôn ngữ được Nguyễn Du sử dụng để giới thiệu nhân vật trong Truyện

Kiều Qua đó làm nổi bật giá trị nghệ thuật cũng như giá trị nội dung của tác phẩm, đồng

thời khẳng định tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du

- Phương pháp đối chiếu so sánh

Trong quá trình nghiên cứu người viết sử dụng phương pháp này để đối chiếu so sánh nhiều ý kiến của các tác giả để có được những đánh giá chính xác nhất về ngôn ngữ văn chương cũng như ngôn ngữ giới thiệu nhân vật Bên cạnh đó người viết còn

đối chiếu so sánh việc sử dụng ngôn ngữ để giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du so với các

Số lượng nhân vật trong Truyện Kiều khá nhiều, gần 30 nhân vật Người

viết không thể đi vào phân tích ngôn ngữ giới thiệu của từng nhân vật được Do đó người

viết hệ thống lại theo từng phương thức ngôn ngữ mà Nguyễn Du đã sử dụng Chẳng hạn

như sử dụng ngôn ngữ của tác giả, ngôn ngữ của nhân vật, lớp từ Hán Việt, Thuần Việt,… để giới thiệu nhân vật

- Phương pháp tổng hợp

Sau khi phân tích, chọn lọc, so sánh đối chiếu, người viết tổng hợp để khẳng định lại vấn đề mà mình đã trình bày

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

Trang 13

Chương 1

VÀI NÉT VỀ NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG VÀ NGÔN NGỮ GIỚI

THIỆU NHÂN VẬT

1 Ngôn ngữ văn chương

1.1 Tìm hiểu khái niệm về ngôn ngữ văn chương

Ngôn ngữ là công cụ chuyển thể ý tưởng của một cá thể này đến cá thể khác Cho nên ngôn ngữ chỉ hình thành trong một quần thể Giả thiết chỉ có một cá thể tồn tại thì ta không cần và cũng không có ngôn ngữ Căn bản để có được ngôn ngữ là mối quan hệ sống giữa người và người, tự thân ngôn ngữ nói lên mối gắn kết sống còn này Ngay khi thầm nói với chính mình, ta không thể dùng một tín hiệu tự tạo, lẻ loi và độc lập nhưng phải dựa trên ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ, tức là có và nhờ người khác cấu tạo được phương tiện này Vì thế, ngôn ngữ nói hay viết là nói với người khác hay viết cho người

khác Khi nói với chính mình cũng có nghĩa là đặt mình thành "người khác" để suy nghĩ

hay trần tình Vậy, dù bất cứ ở hình thức nào, ngôn ngữ là một thể hiện tính kết nối cao nhất giữa người với người Vắng bóng mối liên kết này, ngôn ngữ sẽ bị triệt tiêu ngay từ khởi điểm, hay nói khác đi, ngôn ngữ không có được và không tồn tại được Không có được là vì không đủ điều kiện để hìmh thành ngôn ngữ Và không tồn tại được là vì không ai để giao tiếp

Từ khái niệm trên, chúng ta trở lại vấn đề về hiện tượng trong ngôn ngữ văn chương để thấy rõ nét hơn Nhà văn hay thi nhân thường mã hoá hình tượng, cảm nghĩ của họ thông qua ngôn ngữ viết Bởi vì hiện tượng mà họ muốn mã hoá vô cùng phong

phú và còn đầy ẩn số mời gọi họ vén màn cho nên lúc nào họ cũng bị “nhiễu” trong cách

sử dụng ngôn ngữ Mỗi lần tri giác nó, dường như họ khám phá thêm một hiện tượng, một điều mới lạ và mãi mãi như thế, không bao giờ vét cạn ý nghĩa của đối tượng được

Trang 14

Những rung cảm, góc nhìn, ý tưởng v.v… của họ không sao mã hoá trọn vẹn qua ngôn ngữ Vì thế, niềm vui, nỗi buồn, thẩm mỹ, tình yêu… Là những hiện tượng muôn thưở phơi bày diện mạo mới lạ mà nhà văn không bao giờ viết cạn, vẽ đủ Chính vì lối mòn

chật chội của ngôn ngữ mà họ luôn luôn nỗ lực sáng tạo ra những “mã” mới để tránh bị

“nhiễu” Và “nhiễu” là điều mà họ không bao giờ thoát được Nếu họ đã vét cạn được

hiện tượng mà họ muốn chuyển tải thì đối tượng đã dừng lại trong dòng thời gian, nghĩa

là đã chết trong đầy đủ và cạn kiệt, không cần phải nói thêm điều gì nữa vì không còn là

ẩn số mời gọi khám phá thêm điều gì mới mẻ

Những nhà văn hay thi sĩ quá lớn thường mã hoá hiện tượng bằng hình tượng ngôn ngữ vượt lên lối sáo mòn cũ và có thể thay đổi cả dòng văn học sau này Họ là

người sáng tạo “mã” mới và làm giàu cho ngôn ngữ Chẳng hạn như người Anh thường đặt ra vấn đề văn chương sau Shakespeare Cũng thế, ta có thể đặt ra vấn đề thi ca sau

Nguyễn Du Nói thế không có nghĩa là thi nhân đi sau phải xếp hàng bước theo đúng dấu

chân của Nguyễn Du nhưng qua hình tượng ngôn ngữ, Nguyễn Du chỉ cho họ cách mã hoá hiện tượng phong phú hơn, trọn vẹn hơn và giảm thiểu được “nhiễu” trong mã hoá nó

nhiều hơn

Ngôn ngữ trong tất cả tính chất thẩm mĩ của nó là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Không có ngôn từ thì không thể có tác phẩm văn học (phi ngôn ngữ bất thành văn) Trong tác phẩm văn học, ngôn từ là phương tiện để cụ thể hoá và vật chất hoá sự biểu hiện chủ đề và tư tưởng tác phẩm, tính cách nhân vật và

cốt truyện v.v Nguyễn Tuân đã định nghĩa về nghề văn như sau: "Nghề văn là nghề của

chữ - chữ với tất cả mọi nghĩa mà mỗi chữ phải có được trong một câu, nhiều câu Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa mà sinh sự để sự sinh" Bàn về ngôn từ trong văn học, M.Goocki

cho rằng: "Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học"

Bên cạnh đó, ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn học là ngôn từ toàn dân đã được nghệ thuật hoá Ngôn từ đã được chọn lọc, gọt dũa, trau chuốt, và đặc biệt ngôn từ

ấy phải đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ, xúc cảm được nhận biết thông qua những rung động tình cảm Điều đó khác hẳn với những xúc cảm khoa học - những

Trang 15

rung động thông qua suy lý và chứng minh Ví dụ bài thơ "Lũ ngẩn ngơ" (Hồ Xuân

Hương); "Núi đôi" (Vũ Cao), v.v

Ngôn từ của tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật Bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng đều được viết hoặc được kể bằng lời (văn học viết hoặc văn học dân gian - truyền miệng) Ở phương diện thể loại văn học có lời thơ, lời văn ở phương diện chức năng và các thành phần cấu tạo của lời văn nghệ thuật có lời tác giả, lời nhân vật, lời trực tiếp, lời gián tiếp nói chung gọi là lời văn Lời văn là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học

Lời văn thực chất là một dạng ngôn từ tự nhiên đã được nhà văn tổ chức theo quy luật nghệ thuật về mặt nội dung, phương pháp, phong cách, thể loại, được đưa vào hệ thống giao tiếp khác mang chức năng khác (không phải giao tiếp thông thường như lời nói thông thường)

1.2 Một số đặc trưng của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn học

1.2.1 Tính hình tượng từ trong nội dung của lời nói

Tính hình tượng không phải chỉ có trong ngôn từ văn học mà còn có cả trong ngôn từ thực tế đời sống Song đặc trưng này thể hiện hoàn toàn khác nhau giữa ngôn từ văn học và ngôn từ trong thực tế đời sống

Trong thực tế, tác giả lời nói và chủ thể lời nói là một, là đồng nhất và người nghe phải hiểu nó một cách rất thực tế nghĩa là phải chú ý xem tác giả lời nói đó là

ai, nói trong trường hợp nào, nhằm mục đích gì Như vậy, tác giả lời nói giữ vai trò quan trọng, quyết định, cho nên dân gian có câu: "Miệng người sang có gang có thép" hoặc

"Vai mang túi bạc kè kè Nói ấm nói ớ người nghe ầm ầm", tức là địa vị xã hội cao hoặc thấp, tình trạng giàu hoặc nghèo của tác giả lời nói có ý nghĩa quyết định

Trong văn học, tác giả lời nói và chủ thể lời nói không phải là một và điều quan trọng là chủ thể lời nói (không phải tác giả lời nói như lời thực tế trong đời sống) Tính hình tượng của ngôn từ văn học bắt nguồn từ lời của chủ thể hình tượng, chủ thể tư tưởng thẩm mỹ xã hội có tầm khái quát, có ý nghãi đại diện cho tư tưởng, tình cảm, tâm

trạng của một tầng lớp giai cấp, của một thế hệ nào đó Ngay cả khi nhà thơ xưng "ta"

Trang 16

hoặc "tôi" đấy nhưng cũng không phải là lời của tác giả, của một người thực tế mà là lời

của chủ thể hình tượng, chủ thể tư tưởng thẩm mỹ mang ý nghĩa đại diện Ví dụ khi Lê

Anh Xuân viết: "Tay cầm nắm đất cha ông Nghe thiêng liêng ngọn lửa hồng trong tay"

(Về Bến Tre) thì đây không phải là lời của một Lê Anh Xuân trong thực tế mà là lời của

nhân vật trữ tình có ý nghĩa đại diện cho tư tưởng, tình cảm của hàng nghìn thanh niên sau khi tập kết từ miền Bắc được trở về quê hương miền Nam tiếp tục chiến đấu, suy nghĩ sâu xa về lẽ sống, về trách nhiệm của mình đối với quê hương đất nước, với dân tộc

Tính hình tượng của ngôn từ văn học không chỉ biểu hiện ở các biện pháp tu

từ, các phương thức chuyển nghĩa (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, nhân hoá, ngoa dụ ) mang tính chất cục bộ bề ngoài mà còn nằm sâu trong bản chất hình tượng của sáng

tác Trong khi tái hiện đời sống, ngôn từ văn học không chỉ miêu tả sự "vận động" và

"động tác" của các sự vật, hiện tượng mà còn tái hiện trạng thái tinh thần của toàn bộ sự

vật và con người trong những thời khắc nhất định Theo A.Tônxtôi, mọi vật trên thế giới đều có cái động tác hành động và vận động riêng của nó trong một thời điểm nào đó, không chỉ là tác động của cơ thể mà còn là tác động của tâm hồn, của tình cảm

1.2.2 Tính tổ chức cao

Nói chung, ngôn từ trong các loại hình văn bản đều đòi hỏi phải có tính tổ chức cao Song do đặc thù của mỗi loại văn bản, tính tổ chức cao thực hiện những chức năng khác nhau

Văn bản khoa học, lời văn khoa học tổ chức cao để đảm bảo nội dung, khái niệm của từ trong tư duy lôgíc chính xác, chặt chẽ

Văn bản nghệ thuật, lời văn nghệ thuật tổ chức cao để giải phóng tính hình tượng của từ Tính tổ chức cao của lời thơ thể hiện rõ ở vần nhịp, niêm đối chặt chẽ Tính

tổ chức cao của lời văn xuôi thể hiện ở cách dùng từ, sắp xếp các từ ngữ vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, uyển chuyển nhưng không phải rời rạc, xuôi xuôi Tính tổ chức cao trong ngôn

từ văn học không chỉ thể hiện ở việc sử dụng từ ngữ mà còn thể hiện ở cả dấu câu - một yếu tố tưởng chừng rất nhỏ trong sử dụng ngôn từ cũng có ý nghĩa rất quan trọng

Trang 17

Trong một hội thảo khoa học, khi nói về dấu câu, nhà văn Tô Hoài rất có lý

khi cho rằng: "Dấu câu là hình thức của chữ, của từ Thật ra không phải chỉ có dấu câu

mà ngay cả cách ngắt nhịp cũng cần được xem là một từ đa nghĩa, một từ đặc biệt (không

có vỏ âm thanh) trong vốn ngôn từ chung của nhân loại"

Tính tổ chức cao của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn học còn thể hiện ở sự linh hoạt, uyển chuyển đặc biệt là ngôn từ tiểu thuyết - một thể loại văn học mới

mẻ, hiện đại, luôn luôn biến chuyển cho phép nhà văn vận dụng linh hoạt, sáng tạo tất cả các loại hình ngôn từ, các cách diễn đạt khác nhau Đó là những lối nói khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ, những từ địa phương, những từ nước ngoài, những từ mới phát sinh Thậm chí ngôn từ tiểu thuyết có thể dung nạp được cả ngôn từ của các loại hình văn bản khác như nhật ký, thư từ, những tư liệu sự kiện có tính chất báo chí thể hiện trạng thái đa ngữ của thế giới hiện thực, của cuộc sống và con người trong thời hiện đại, nói như nhà

nghiên cứu văn học Xô viết M.Bakhtin thì đó là hiện tượng "phá rào" của ngôn từ tiểu

thuyết, nó có thể bước qua mọi ranh giới, đặc trưng của văn học nghệ thuật

Riêng đối với ngôn từ địa phương có một vấn đề mà nhà văn cần phải quan tâm Đó là vấn đề sử dụng ngôn từ địa phương như thế nào, ở mức độ nào trong mỗi tác phẩm Tác dụng của tiếng địa phương là nêu bật được hình tượng, sự kiện, con người tạo ra được những sắc thái địa phương trong tác phẩm, đóng góp cho sự phong phú chung của ngôn từ dân tộc Song người viết vẫn phải hết sức chú ý bên cạnh những từ địa phương được sử dụng rộng rãi với tần số xuất hiện rất lớn đã gần như được phổ thông hoá, ai cũng có thể hiểu được còn có nhiều từ ngữ địa phương chỉ được sử dụng trong một phạm vi hạn hẹp, một vùng miền nào đó Do vậy, khi sử dụng từ ngữ địa phương cần phải

có sự cân nhắc thận trọng Chỉ sử dụng trong những trường hợp cần thiết và cũng không nên dùng quá nhiều từ ngữ địa phương trong một tác phẩm Nếu lạm dụng từ ngữ địa phương sẽ dễ tạo ra những cản trở trong tâm lý tiếp nhận của công chúng độc giả, không những không giúp ích gì cho việc cảm thụ thẩm mỹ tác phẩm mà ngược lại còn làm hạn chế phạm vi ảnh hưởng của tác phẩm

Trang 18

1.2.3 Tính hàm súc

Xuất phát từ yêu cầu về mặt thông tin của tác phẩm văn học, với tư cách là một văn bản thông tin, bằng một lượng ngôn từ hạn hẹp, tác phẩm văn học cần phải cung cấp cho người đọc những lượng thông tin lớn nhất, không có độ dư thừa Nếu hiểu hàm súc là súc tích, ngắn gọn hàm chứa nhiều ý nghĩa thì tính hàm súc là khả năng của ngôn từ văn học có thể miêu tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói

được nhiều ý, ý ở ngoài lời, "ý tại ngôn ngoại" Một từ trong ngôn ngữ văn học có khả

năng gợi được một ý nghĩa lớn hơn nó, tràn ra ngoài nó

Hiện nay, nhu cầu gia tăng thông tin đang đặt ra như một đòi hỏi tất yếu và chính đáng trong thời đại bùng nổ thông tin liên quan đến cả nhịp điệu của cuộc sống hiện đại Nhu cầu gia tăng thông tin trong ngôn từ văn học hay nói cách khác là rút ngắn con đường dẫn đến thông tin là một trong những nhu cầu mới của công chúng văn học ngày hôm nay

1.2.4 Tính biểu cảm

Tính biểu cảm là khả năng của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn học

có thể biểu hiện cảm xúc của đối tượng được miêu tả trong tác phẩm Có thể tác động tới tình cảm của người đọc, truyền đạt được những tình cảm, xúc cảm tới người đọc, người nghe Nghệ thuật là quy luật của tình cảm Văn học là một loại hình nghệ thuật nên ngôn

từ văn học không thể thiếu tính biểu cảm Văn học tác động tới cuộc sống bằng con đường tình cảm, con đường của trái tim Để dẫn dắt người đọc tới những bến bờ xa xôi của lý trí thì trước hết văn học phải tác động tới trái tim người đọc, có những câu văn, câu

thơ có khẳ năng "làm tổ" trong trái tim người đọc, để giúp người đọc, người nghe cảm thụ đời sống một cách mới mẻ hơn theo quy luật của cái đẹp Ví dụ: "Bên đường chiến

tranh", "Cỏ lau" (Nguyễn Minh Châu), "Ánh trăng" (Nguyễn Duy) v.v

1.2.5 Tính chính xác

Một yêu cầu rất quan trọng của văn học là phản ánh hiện thực một cách

chân thực, như nhà bác học Lê Quý Đôn nói: “văn muốn hay trước hết phải đúng” Nói

một cách chính xác, đây chính là khả năng của ngôn ngữ văn học có thể biểu hiện đúng

Trang 19

điều nhà văn muốn nói, miêu tả đúng hiện thực mà nhà văn cần tái hiện Một từ bình thường được dùng đúng lúc, đúng chỗ sẽ đem lại hiệu quả thẩm mĩ và giá trị hiện thức rất cao cho người đọc, giúp người đọc tưởng tượngvà cảm thụ một cách đúng đắn về đối tượng được miêu tả

Tính chính xác trong văn học khác với trong khoa học Trong văn bản khoa học, tính chính xác của ngôn từ dựa trên tính đơn nghĩa của từ ngữ, thuật ngữ Ngược lại trong tác phẩm văn học tính chính xác của ngôn từ dựa trên tính hình tượng, giàu tính hàm ẩn Chính xác trong văn nghệ thuật là vẽ đúng nét sinh động của đối tượng miêu tả theo quan niệm của tác giả và theo yêu cầu riêng của văn học Có nghĩa là phải chọn đúng

từ, đặt đúng chỗ,…có như thế mới đạt được hiệu quả trong miêu tả Chẳng hạn trong

Truyện Kiều vẫn là miêu tả diễn biến tâm trạng Thúy Kiều song mỗi hoàn cảnh Kiều lại

có diễn biến tâm trạng khác nhau, những nỗi niềm khác nhau: tâm trạng kiều gặp Thúc Sinh ở màn báo ân báo oán khác với lúc gặp Kim Trọng ở màn đoàn viên Hay trong tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Lý là một nhân vật có tính cách rất phong phú, đầy cá tính, dễ đổi thay thì ngôn ngữ của Lý luôn thay đổi giọng điệu, sắc thái biểu cảm thể hiện đúng tính cách của chị: lúc thì đay nghiến, cay nghiệt,… nhưng có lúc lại hết sức mượt mà, tình cảm, đầm ấm,…Nghĩa là hình tượng nhân vật như thế nào thì ngôn ngữ thể hiện phải như thế Ngôn ngữ chính xác sẽ tạo cơ hội cho nhà văn dựng lên được những chân dung sinh động, khắc họa được những tính cách điển hình, sắc nét, góp phần đưa tác phẩm gặt hái được nhiều thành công

2 Ngôn ngữ văn chương trong Truyện Kiều

Trong các vấn đề tranh luận về Truyện kiều xưa nay, dường như một ý kiến duy

nhất không có mấy ý kiến trái ngược Đó là vấn đề những thành tựu về ngôn ngữ của

Nguyễn Du trong Truyện Kiều Đa số các nhà nghiên cứu, bình luận Truyện Kiều đều

khẳng định Nguyễn Du là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn ngữ của thời đại ông, là người đã nâng ngôn ngữ dân tộc lên một đỉnh cao chói lọi Đào

Nguyên Phổ đánh giá Truyện Kiều là “một khúc Nam âm tuyệt xướng” Đặng Thai Mai cho Truyện Kiều chỉ kém Kinh Thánh trong việc chinh phục lòng tin của độc giả Ngay trong Lời đầu sách Từ điển Truyện Kiều, Đào Duy Anh viết: "Trong lịch sử ngôn ngữ và

Trang 20

lịch sử văn học VN, nếu Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du với Truyện Kiều lại là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước ta Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, có thể nói rằng ngôn ngữ VN đã trải qua một cuộc thay đổi về chất và đã tỏ rõ khả năng biểu hiện đầy đủ

và sâu sắc Nguyễn Du sinh quán ở Thăng Long, tổ quán ở Nghệ-Tĩnh, mẫu quán ở Bắc Ninh, đã nhờ những điều kiện ấy mà dựng lên được một ngôn ngữ có thể nói là gồm được đặc sắc của cả ba khu vực quan trọng nhất của của văn hóa nước ta thời trước".[1; 16]

Thành công của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ có một ý nghĩa hết sức to lớn đối với lịch sử, cùng với Nguyễn Trãi trước kia, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Công Trứ,….cùng thời Nguyễn Du đã khẳng định đầy sức thuyết phục sự phong phú và khả năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc qua sáng tác văn học Chính nhờ những tác gia cùng với những tác phẩm của mình như: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến,… mà trong suốt tám mươi năm dưới ách thống trị đô hộ của thực dân Pháp, tiếng Pháp vẫn không thay thế được tiếng Việt trong đời sống văn hóa cũng như các sáng tác văn học của dân tộc Nền văn học của chúng ta vẫn là nền văn học sáng tác bằng tiếng Việt Đó là điều hầu hết các nước có cảnh ngộ như chúng ta không có được

Truyện Kiều đã đem lại lòng tin cho mọi người về khả năng phong phú của tiếng

Việt, và Truyện Kiều đã có công khai sáng cho nhiều nhà văn, nhà thơ đời sau về phương

diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn chương

Cũng giống như tất cả các tác phẩm văn học đương thời, ngôn ngữ trong Truyện

Kiều gồm hai thành phần thuần Việt và Hán Việt Dùng từ Hán Việt một cách phổ biến

trong tác phẩm văn học giai đoạn này là một phong cách có tính chất thời đại Theo thống

kê của tổ tư liệu Viện Ngôn ngữ thì trong số 3412 từ của Truyện Kiều, có 1310 từ Hán

Việt, tức là từ Hán Việt chiếm tỉ lệ 35% trong tổng số từ của tác phẩm Một tỉ lệ như thế

so với tác phẩm cùng thời không phải là cao Nhưng vấn đề quan trọng không phải là tỉ lệ cao hay thấp mà là cách nhà văn sử dụng như thế nào? Sự phát truyển ngôn ngữ của bất

cứ nước nào cũng vậy, để làm phong phú cho mình, nó sẵn sàng vay mượn không những

từ của tiếng nước ngoài mà cả cấu trúc ngữ pháp nữa, sự vay mượn như thế có khả năng

Trang 21

làm giàu cho ngôn ngữ nếu đi đúng hướng và ngược lại có thể làm cho ngôn ngữ trở thành lai căng, hỗn tạp Thời đại Nguyễn Du chưa có những lý thuyết về tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài, nhưng với sự hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ dân tộc, và một sự nhạy bén

có tính chất ngôn ngữ học, thực tiễn việc sử dụng từ Hán Việt của Nguyễn Du trong

Truyện Kiều, chứng tỏ nhà thơ đi đúng hướng Chỉ riêng việc Truyện Kiều được truyền bá

hết sức rộng rãi, được thuộc lòng trong quần chúng lao động, đủ để chứng tỏ không

những sức sống của Truyện Kiều nói chung, mà chứng tỏ cả sức sống của ngôn ngữ

Truyện Kiều; chứng tỏ ngôn ngữ của Truyện Kiều là gần gũi, quen thuộc đối với họ

Việc sử dụng điển cố lấy từ văn học cổ Trung quốc cũng có thể coi như một khía

cạnh của việc sử dụng từ Hán Việt Trong Truyện Kiều, chúng ta thấy những điển cố mà

Nguyễn Du sử dụng nếu không phải là quen thuộc đối với mọi người, thì nhà thơ thường

bố trí nó vào những văn cảnh nhất định, mà người đọc dù không hiểu điển cố, do tương quan về văn cảnh vẫn có thể hiểu câu thơ Chẳng hạn như những câu:

“ Khen tài nhả ngọc phun châu, Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này.”

Dù không ai biết nàng Ban, ả Tạ là những cô gái nào Tống Ngọc, Tràng Khanh là

ai, nhưng xét theo văn cảnh của câu thơ vẫn có thể hiểu và rung cảm được

Ngoài những phương diện vừa nói trên, việc dùng từ Hán Việt của Nguyễn Du còn

do một nhu cầu có tính chất tu từ học trong thơ Trong Truyện Kiều không hiếm những

hiện tượng dùng song song những từ thuần Việt với những từ Hán Việt có cùng một ý

nghĩa Cùng với khái niệm “bố mẹ”, trong Truyện Kiều có những từ: hai thân, song thân,

Trang 22

hai đường; cùng một khái niệm “người mối lái”, Truyện Kiều có những từ: nhà băng, băng nhân, mối; cùng với khái niệm “mặt trăng”, Truyện Kiều có những từ: vành trăng, cung trăng, cung Quảng, gương nga, bóng nga, chị Hằng,…Trong những trường hợp này,

rõ ràng Nguyễn Du hoàn toàn có thể dùng từ thuần Việt thay cho từ Hán Việt, hoặc có thể Việt hóa từ Hán Việt Nhưng Nguyễn Du lại dùng tất cả các kiểu, vừa thuần Việt, vừa Hán Việt, vừa Hán Việt được Việt hóa bằng cách dịch, là để làm giàu thêm kho từ vựng của mình Đó cũng là một biểu hiện về sự phong phú của ngôn ngữ Nguyễn Du, nó có ý nghĩa quan trọng trong sáng tác nói chung, đặc biệt là sáng tác thơ Với một khối lượng phong phú những từ đồng nghĩa bao gồm từ thuần Việt, từ Hán Việt, và từ Hán Việt được Việt Hóa bằng cách dịch, nhà thơ có thể tránh được bệnh trùng lặp, đơn điệu, có thể gieo vần một cách uyển chuyển, có thể làm cho âm hưởng của câu thơ được dồi dào sinh động

Bên cạnh từ Hán Việt, từ thuần Việt cũng được Nguyễn Du sử dụng không kém

phần đặc sắc Bộ phận từ thuần Việt trong Truyện Kiều thường xuất hiện từ hai nguồn:

một nguồn từ ca dao, tục ngữ, thành ngữ, nghĩa một thứ ngôn ngữ đã được trau truốt, đúc kết, ngôn ngữ của quần chúng Và một nguồn lấy trực tiếp từ lời ăn tiếng nói hằng ngày ở phương diện này, Nguyễn Du đã có những tìm tòi, những đóng góp hết sức độc đáo

Xuất thân từ tầng lớp quý tộc nhưng Nguyễn Du lại rất chú ý ca dao, dân ca, đến ngôn ngữ của quần chúng Điều đó có thể là do nhà thơ chịu ảnh hưởng của mẹ từ bé với những bài hát ru, những khúc dân ca quan họ Về sau lớn lên lăn lộn trong cuộc sống, nhà thơ lại có dịp gần gũi quần chúng, tham gia sinh hoạt văn hóa, văn nghệ với họ Thơ ca dân gian và những hình thức văn nghệ quần chúng có một ảnh hưởng to lớn đối với sự hiểu biết và sự hình thành tài năng của Nguyễn Du

Ngay từ những sáng tác đầu tiên, khuynh hướng học tập ca dao, dân ca, học tập

ngôn ngữ quần chúng ở Nguyễn Du thể hiện khá rõ Đặc biệt trong hai bài Thác lời con

quần chúng, cách nói của quần chúng, dùng những tiếng địa phương để phản ánh tâm tư sinh hoạt của họ

Trang 23

Và trong Truyện Kiều, ca dao được Nguyễn Du sử dụng một cách đặc sắc, như một

thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không phải như những trích dẫn Không có câu nào dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn, cấu tạo lại cho phù hợp với phong cách chung trong

tác phẩm Có thể nói, việc học tập thơ ca dân gian ở Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu

và Thác lời con trai phường nón làm cho nhà thơ ở chừng mực nào bị đồng hóa vào thơ

ca dân gian, thì với Truyện kiều trái lại thơ ca dân gian hoàn toàn bị nhà thơ đồng hóa

Truyện Kiều có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra

ảnh hưởng của ca dao

“Xót thay huyên cõi xuân già, Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?

Chốc đà mười mấy năm trời, Còn ra khi đã da mồi tóc sương

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng, Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng

Duyên em dù nối chỉ hồng May ra khi đã tay bồng tay mang

Tấc lòng cố quốc tha hương, Đường kia lối nọ ngổn ngang bời bời.”

Bên cạnh đó Nguyễn Du sử dụng rất nhiều tục ngữ và thành ngữ Nguyễn Du sử dụng cách tổ chức ngôn ngữ trong thành ngữ và tục ngữ để tạo ra những thành ngữ, tục ngữ mới Có trường hợp thật khó phân biệt đâu là thành ngữ, tục ngữ Nguyễn Du lấy từ dân gian, và đâu là thành ngữ, tục ngữ nhà thơ tạo ra Kết cấu của thành ngữ, tục ngữ thường chặt chẽ, điều đó quy định cách sử dụng của nó trong tác phẩm, thường là phải

dùng liền một khối Trong Truyện Kiều, có trường hợp Nguyễn Du cũng dùng như vậy

mà câu thơ vẫn uyển chuyển:

“Ra tuồng mèo mả gà đồng,

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào…

Trang 24

Bề ngoài thơn thớt nói cười,

Mà trong nham hiểm giết người không dao

Ở đây tai vách mạch rừng, Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi.”

Nhưng nhiều trường hợp, nhà thơ thường tách Tục ngữ, Thành ngữ ra từng bộ phận và xen vào những yếu tố phụ, hoặc để nhấn mạnh ý nghĩa của Thành ngữ, Tục ngữ,

hoặc để làm cho nó phù hợp với vần điệu của câu thơ Những Thành ngữ: trong ấm ngoài

êm, tình sông nghĩa bể, khổ tận cam lai, đau như dần, ai khảo mà xưng, rút dây động rừng,… được dùng rất khéo léo trong những câu thơ sau:

“Nàng rằng: “non nước xa khơi”

Sao cho “trong ấm thì ngoài mới êm”

Một nhà sum hợp trúc mai, Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông

Tẻ vui bởi tại lòng nay, Hay là khổ tận đến ngày cam lai

Nghĩ đà bưng kín miệng bình, Nào ai có khảo mà mình lại xưng

Những là e ấp dùng dằng, Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi…”

Do đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt, không những ca dao, mà ngay cả tục ngữ, thành ngữ là những tổ hợp ngôn ngữ chặt chẽ, thường cũng được cấu tạo có vần có nhịp điệu Vì vậy học tập ca dao, tục ngữ, thành ngữ và đưa nó vào thơ, xét ở mức độ nào đó

có những thuận lợi nhất định Cái khó hơn đối với một nhà thơ là đưa lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân vào tác phẩm Công khai sáng của Nguyễn Du có lẽ đáng chú ý hơn là về phương diện này

Trang 25

Cũng giống như Hồ Xuân Hương, đối với Nguyễn Du, thơ ca không tự bó mình trong một vương quốc của ngôn ngữ Không có sự phân biệt nào về nguyên tắc giữa ngôn ngữ thơ vầ ngôn ngữ đời sống Đối với ông bất cứ một từ ngữ nào cũng có thể trở thành

từ ngữ của thơ, miễn là phải dùng nó một cách có nghệ thuật Trong Truyện Kiều có biết

bao tiếng nói thông thường, những cách nói trên của miệng của quần chúng, mà vẫn rất thơ, rất nghệ thuật Trong khuôn khổ của thơ lục bát ông vẫn có thể viết những câu hết sức giản dị và gần gũi:

“Nàng rằng: “Thôi thế thì thôi, Rằng không thì cũng vâng lời rằng không.”

Còn tiên Tích Việt trên tay,

Rõ ràng mặt ấy mặt này chứ ai…”

Điều dễ nhận thấy là ngôn ngữ trong Truyện Kiều hết sức phong phú và điêu luyện

Bên cạnh việc vận dụng cao dao, tục ngữ, thành ngữ một cách sáng tạo và tài tình thì việc vận dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày nhà thơ cũng có những sáng tạo độc đáo Bắt nguồn

từ vốn sống dân gian trực tiếp và kế thừa tinh hoa văn hoá của dân tộc, Nguyễn Du có ý thức sử dụng giá trị biểu đạt của vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh Thống kê số liệu cho thấy ông đã sử dụng 197 lượt từ địa phương xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm Như vậy, vốn từ địa phương là một trong những phương tiện nghệ thuật giúp Nguyễn Du

thể hiện tối ưu nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều bên cạnh Thành ngữ, Tục ngữ,

điển cố, từ Hán Việt…Điều đó cũng là một cứ liệu chứng tỏ ông là bậc thầy về ngôn ngữ đời thường và đầy sức sáng tạo trong việc gắn kết một cách nhuần nhuyễn chữ Nôm với chữ Hán Tài năng của ông đã đưa tiếng nói bình dân lên tầm bác học, rất tinh nhạy trong

Trang 26

việc khám phá ra bao điều kỳ diệu trong tiếng mẹ đẻ của mình Phải có một tầm văn hoá cao, ý thức dân tộc mạnh mẽ và tài năng nghệ thuật tuyệt vời, Nguyễn Du mới làm được điều đó Nhờ vai trò của ngôn ngữ và văn hoá mà Nguyễn Du đã chuyển được từ một cốt

truyện giản đơn - Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc thành một truyện thơ đặc sắc,

phù hợp với tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam Từ đó nhân dân ta, đặc biệt dân xứ

Nghệ dường như không ai không biết Truyện Kiều và có nhiều người thuộc Truyện Kiều

Nguyễn Du cũng từng nói ông học ngôn ngữ của người trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, đó là

sự thực Qua Hát phường vải, bài ca Nhi nữ Trường Lưu và Truyện Kiều, ông đã sử

dụng lời ăn tiếng nói của bình dân bên cạnh các điển tích, điển cố một cách nhuần nhị, giản dị mà vẫn không hề lạc điệu Ông đã nâng địa vị của chữ Nôm lên ngang tầm chữ Hán trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, tâm trạng nhân vật…

Bước đầu, một vài cứ liệu vừa dẫn cũng có thể chứng tỏ Nguyễn Du đã khai thác khả năng biểu đạt và biểu cảm độc đáo của vốn từ địa phương, đồng thời vẫn giữ được âm hưởng, giọng điệu của câu thơ lục bát Chính ngôn ngữ địa phương đã góp phần làm giàu

thế giới tâm trạng, khắc hoạ tính cách nhân vật, nâng Truyện Kiều lên tầm tiểu thuyết tâm

lí hiện đại Trước đây một số người coi thường tiếng địa phương, nhưng với nhà thơ nhân dân tài hoa như cụ Tiền Điền, vốn từ địa phương đã góp phần không nhỏ trong việc chuyển một cốt truyện có nguồn gốc từ nước ngoài thành một câu chuyện bằng thơ tràn đầy sức sống mới, trở nên gần gũi với tâm tư, tình cảm, cách ứng xử của con người Việt

Nam Điều đó chứng tỏ Truyện Kiều là một tác phẩm giàu bản sắc văn hoá dân tộc chắc

chắn sẽ sống mãi với thời gian

Ca dao, tục ngữ, thành ngữ và ngôn ngữ địa phương đi vào thơ Nguyễn Du chan hòa, tan biến trong phong cách của nhà thơ Nhìn chung trong việc vận dụng thơ ca dân gian và ngôn ngữ quần chúng, ta thấy Nguyễn Du thường lấy chất liệu từ ca dao, hoặc chịu ảnh hưởng của ca dao khi nhà thơ miêu tả thiên nhiên và tâm trạng trữ tình của nhân vật

Ở trên, ta vừa nói đến đặc điểm của các thành phần trong ngôn ngữ Truyện Kiều,

và ít nhiều có đề cập đến phong cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong Truyện

Trang 27

Kiều Cần phải nói thêm đặc điểm của phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều là sự

phong phú về từ vững và đa dạng trong lớp từ Theo thống kê của tổ ngôn ngữ viện văn

học thì Truyện Kiều có 3412 từ Số từ phong phú này càng trở nên phong phú hơn bởi vì

Nguyễn Du có nhiều biện pháp phát triển thêm vốn từ như: Phát triển các từ nhiều nghĩa, đồng nghĩa, Nguyễn Du sử dụng nhiều lớp từ, đáng chú ý nhất là hai lớp từ: lớp từ bình

dân và bác học Thêm vào đó, Truyện Kiều còn có thứ ngôn ngữ nhóm tức là thứ ngôn

ngữ nghề nghiệp chẳng hạn ngôn ngữ của bọn buôn thịt bán người Vốn từ phong phú và

đa dạng nói trên đã giúp Nguyễn Du dựng lại một bức tranh xã hội rộng lớn, phức tạp với nhiều hạng người khác nhau Nhờ có vốn từ phong phú nên tình huống dù có phức tạp đến mấy ông cũng tìm được cách nói hay nhất, chính xác nhất

Bên cạnh đó, một đặc điểm của phong cách ngôn ngữ Nguyễn Du trong Truyện

Kiều còn là sự súc tích, chính xác, là sự giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, Nguyễn Du có thể

bằng một vài câu thơ khắc họa lên nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu

tả một biến cố, một cảnh ngộ, một sự di chuyển về không gian, hay một sự vận động của thời gian Nguyễn Du có thể bằng một từ hay một vài từ bộc lộ được tất cả thái độ đánh giá của ông đối với một con người nào đó hay một hiện tượng nào đó Nhà thơ Tố Hữu

cho câu “Trông lên mặt sắt đen sì” của Nguyễn du tả viên quan sử kiện là “một trong

những câu hay nhất Truyện Kiều” Tố Hữu phân tích: “Tại sao là “trông lên” mà không phải là “trông ngang, trông vào, trông ra?” Ở đây tác giả đứng về phía nhân dân bị áp bức mà “trông lên” bọn thống trị ngồi trên đầu họ Nhưng rồi, đốp một cái: “mặt sắt” và tiếp theo “đen sì” Thật không có từ ngữ nào miêu tả bọn thống trị một cách gọn mà sắc hơn “Mặt sắt” lạnh lùng không còn một chút tình người, đạo lý Và “đen sì” đến ghê tởm không chỉ là nghĩa của chữ, mà âm của của chữ “sắt”, chữ “sì” chỉ nghe thôi cũng

đủ thấy tàn ác, thấy ghê người! tác giả “đưa lên” để “quật xuống” Văn như thế thật tuyệt” [15; 46] Trong câu thơ của Nguyễn Du, tất cả các từ đều có ý nghĩa, có chức năng,

có vị trí của nó, không có hiện tượng dùng từ chỉ nhằm mục đích duy nhất và để ghép vần, hay làm cho câu thơ đúng luận bằng trắc Rất nhiều trường hợp, câu thơ của Nguyễn

Du trong toàn bài là một mắt xích của một chỉnh thể hoàn chỉnh, nhưng khi tách riêng ra,

Trang 28

nó lại trở thành một chỉnh thể hoàn chỉnh riêng của nó, và ý nghĩa có khi được mở rộng, được nhân lên Đó là một biểu hiện của tính chất súc tích

Câu thơ Truyện Kiều đã trở lên phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của con người,

khi tiễn đưa một người đi xa, hẹn một ngày trở lại, đọc câu thơ sau đây vừa hợp lý lại chứa đựng tình tứ thâm trầm:

“Chén đưa nhớ buổi hôm nay, Chén mừng xin đợi ngày này năm sau ”

Nói về tình yêu tan vỡ ta có thể đề tặng người yêu câu thơ:

“Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta”

Trong văn học Việt Nam, không có một tác phẩm thứ hai nào mà những câu thơ lại

có một vận mệnh, một cuộc sống dồi dào như câu thơ Truyện Kiều Ngôn ngữ Truyện

Kiều vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu Đối với

Nguyễn Du, dường như ngôn ngữ thơ lý tưởng bao giờ cũng kết hợp với âm nhạc, với hội họa

Thể thơ lục bát chất chứa những khả năng tu từ to lớn Khả năng tu từ trong thơ lục bát chủ yếu thể hiện ở sự kết hợp những từ thanh bằng với những từ thanh trắc, ở cách gieo vần, cách đối và cách ngắt nhịp của nó Dưới ngòi bút của Nguyễn Du, thể lục bát

trong Truyện Kiều thiên biến vạn hóa

Về luật bằng trắc, thể thơ lục bát qui định trong câu sáu, những chữ 2,4,6 dứt khoát theo đúng luật bằng- trắc- bằng, còn trong câu tám, những chữ 2,4,6,8 dứt khoát theo đúng luật bằng- trắc- bằng- bằng Nguyễn Du đã triệt để sử dụng những chữ bằng trắc linh hoạt ấy, để tùy trường hợp cụ thể, do nhu cầu diễn đạt, nhà thơ có thể viết những câu

êm ái gồm nhiều từ thanh bằng, hoặc những câu gồ ghề, gồm nhiều từ thanh trắc Cảnh mùa xuân tươi đẹp, liễu rũ thướt tha, Nguyễn Du tả bằng câu thơ gồm rất nhiều từ thanh bằng:

“Lơ thơ tơ liễu buông mành”

Trang 29

Trái lại khi tả cảnh Thúy Kiều miễn cưỡng lên xe về nhà Mã Giám Sinh thì Nguyễn Du dồn dập dùng nhiều từ thanh trắc:

“Đoạn trường thay lúc phân kỳ,

Vó câu khấp khểnh, bánh xe ghập ghềnh”

Về cách ngắt nhịp, do đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt là có những từ song âm tiết, cho nên trong thơ lục bát, có xu hướng kết hai từ đi liền nhau thành một nhịp Đấy là trường hợp những câu lục bát bình thường, các từ trong câu có ý nghĩa đều đều, sắc thái

tu tu không có gì nổi bật Trường hợp câu thơ có những từ có ý nghĩa cần nhấn mạnh, hoặc có sắc thái tu từ độc đáo, có tính cách bộc lộ nội dung, thì nhịp câu thơ được tổ chức lại theo ý nghĩa và để bộc lộ ý nghĩa Trong trường hợp này thì cách nghắt nhịp của nó hết

sức đa dạng Truyện Kiều của Nguyễn Du kết hợp được một cách hài hòa, dùng việc ngắt

nhịp như một biện pháp tu từ để bộc lộ ý nghĩa, bộc lộ nội dung Trong câu sáu của Nguyễn Du có những kiểu ngắt nhịp như: 2-2-2; 2-4; 3-3; 4-2; 1-5;…và trong câu tám: 2-2-2-2; 3-5; 4-4; 2-6,…

Ví dụ:

“Rằng/ trăm năm/ cũng tư đây” (1-2-3)

“Rằng/ như hẳn có thế thì” (1-5)

Hay

“Nửa chừng xuân/ thoắt/ gãy cành thiên hương” (3-1-4)

“Hiếu/ tình/ khôn dễ/ hai bề vẹn hai” (1-1-2-4)

Vần và đối trong câu thơ cũng được Nguyễn Du khai thác triệt để Không có một

truyện thơ dài nào cũng được gieo vần rất chỉnh như Truyện Kiều Truyện Kiều hoàn toàn

không có hiện tượng túng vần, phải gieo vần bằng những hư từ như thường thấy trong khá nhiều truyện Nôm khác, nhất là loại truyện Nôm bình dân Đây cũng là một biểu hiện nữa

về sự phong phú của ngôn ngữ Nguyễn Du Nguyễn Du sử dụng vần không phải chỉ để

Trang 30

móc nối các câu thơ lại với nhau, mà vần của Nguyễn Du thường có âm hưởng Vì vậy

mà khi cần thiết nhà thơ nhân vần lên bằng cách sử dụng nhiều từ trùng điệp, từ đồng âm

Về đối, Nguyễn Du cũng rất linh hoạt Thơ cổ nói chung rất chú trọng đối Cung

oán ngâm khúc sử dụng đối làm cho bài thơ trở thành trang trọng, đồng thời cũng nặng

nề Truyện Kiều trái lại, sử dụng đối làm cho câu thơ uyển chuyển Nguyễn Du sử dụng

đối như một nghệ sĩ tài ba Dưới ngòi bút của ông, nhờ biện pháp đối mà các thành phần cũng như các từ ngữ trong câu, trong đoạn, có dịp kết hợp với nhau tạo ra cái nhạc, cái họa, cái sáng tạo của câu thơ

Trên đây chúng ta tách riêng mặt ngôn ngữ của Truyện Kiều ra để phân tích Trong

Truyện kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du tất cả các mặt ấy có khả năng thể hiện tổng

hợp ngay ở từng câu thơ Do đó mà ở từng câu thơ của Truyện Kiều dường như chỗ nào

cũng mượt mà, óng ánh Nó vừa thỏa mãn được tình cảm, vừa thỏa mãn được trí tuệ, lại vừa thỏa mãn được mỹ cảm của người đọc

Truyện Kiều là một tác phẩm văn học kiệt xuất, không những ở tầm cỡ quốc gia

mà còn ở tầm cỡ thế giới Thành tựu của nó bắt nguồn từ sự thống nhất giữa nội dung tác phẩm với ngôn ngữ thi ca đạt đến trình độ mẫu mực của thơ ca cổ điển Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Không có ngôn ngữ, không có tác phẩm văn học, bởi vì chính ngôn ngữ chứ không phải là cái gì khác đã cụ thể hoá, vật chất hoá sự biểu hiện chủ đề của tác phẩm và hệ thống hình tượng phong phú của đời sống con người Nguyễn Du đã tài tình thâu tóm được trong tác phẩm của mình tinh hoa của ngôn ngữ ấy, đã nhào nặn, sáng tạo và góp phần nâng cao nó Công đóng góp của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ là vô cùng to lớn trong lịch sử dân tộc

3 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học

3.1 nhân vật văn học là gì?

Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay

Trang 31

không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm

Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm Cám, Thúy Vân, Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng ), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan, mụ quản gia ) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình- ta trong Ca dao ) Khái niệm con người này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên 2 phương diện: số lượng: hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của con người Về chất lượng: dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người

Trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn, người ta thường nói đến

nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòa bình của L Tônxtôi,

ca cao là nhân vật chính trong Ðất dữ của G Amađô, chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan Tô Hoài nhận xét về Chiếc quan tài:

"Trong truyện ngắn Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan, nhân vật không phải là

người mà là một chiếc quan tài Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một

sự thê thảm, một bản án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc Như vậy, chiếc quan tài cũng là một thứ nhân vật" Tuy vậy, nhìn chung, nhân vật vẫn là hình tượng của con

người trong tác phẩm văn học

Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu

để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó Việc giới thiệu Thúy Vân, Thúy Kiều khác nhau dường như cũng báo trước về số phận của mỗi người:

“Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Trang 32

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Hay việc giới thiệu Hoạn Thư:

“Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già”

Gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về sau của nhân vật

Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó

3.2 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học

Trong đời sống thực tại, sự xuất hiện của một số nhân vật mới có thể được ta cảm nhận đồng thời bằng các giác quan: mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi vv…Nhưng từ đời sống thực và các loại hình nghệ thuật, sự cảm nhận đó đã thu hẹp đi nhiều Trong phim, kịch ta vẫn có thể nhìn và nghe thấy sự xuất hiện của một nhân vật mới nào đó ( trên màn hình hay trên sân khấu) Đến hội họa và âm nhạc thì đã khác- ta chỉ còn hoặc nhìn thấy hoặc nghe thấy mà thôi Bước vào địa hạt văn học lại càng đặc biệt: ở đây mọi cái đều phải gián tiếp hình dung qua ngôn từ của người dẫn dắt, người đưa nhân vật mới vào truyện (người đó có thể là chính tác giả, có thể là một nhân vật khác của chuyện) Đối với ngôn ngữ của toàn bộ một tác phẩm, cái phần giới thiệu nhân vật mới vào chuyện này không phải là không có vấn đề , để các nhà văn học và các nhà nghiên cứu

Trang 33

Giới thiệu nhân vật là một công việc quan trọng hàng đầu đối với bất cứ tác phẩm nào Nếu giới thiệu nhân vật không được thực hiện rất khéo léo, giá trị của tác phẩm không được khẳng định vì ngay từ đầu người đọc khó có thể chấp nhận một tác phẩm không hấp dẫn họ Để đạt được điều này không phải nhà văn, nhà thơ nào cũng làm được Phải rất khéo léo mới được người đọc tiếp nhận và làm nên thành công ban đầu của tác phẩm

Cách giới thiệu nhân vật tốt nhất phải đảm bảo thu hút được cả hướng nhìn lẫn tình cảm của người đọc Phải làm sao để qua việc giới thiệu nhân vật mới tác giả chuyển tải đến người đọc cả về ngoại hình, quê quán,… đến tính cách và ngay cả phẩm chất cũng như tâm trạng của nhân vật cũng được bộc lộ Điều đó không mấy tác giả làm được,

nhưng ở Truyện Kiều, Nguyễn Du đã rất thành công trong việc giới thiệu nhân vật khi

nhân vật lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm

Điều quan trọng đầu tiên khi đi vào giới thiệu một nhân vật mới là đưa ra một ấn tượng mạnh mẽ đầu tiên mà không có nhiều chi tiết, cụm từ đơn giản chỉ là để giữ chặt các nhân vật trong tâm trí của người đọc Nhà văn lựa chọn để tạo ra một ấn tượng đầu tiên, làm nổi bật khía cạnh quan trọng nhất của nhân vật Ở đây nhà văn có thể đi vào miêu tả một đặc điểm nổi bật hay một cá tính, một phẩm chất nào đó của nhân vật Ví dụ

như khi đi vào giới thiệu nhân vật Tú Bà trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết “thoắt trông

nhờn nhợt màu da/ Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”, chỉ bằng cái nhìn thoáng qua Nguyễn

Du đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một mụ chủ chứa đặc trưng về ngoại hình và bẩn thỉu về nhân cách Điều này giúp cho người đọc hình thành lên một bản tóm tắt nhân vật trong tâm trí của mình Đặc biệt trong văn học trung đại các nhà văn thường đưa nhân vật của mình trở thành điển hình, và trở nên lý tưởng hóa ở các nhân vật chính

Để làm được điều đó các nhà văn đã sử dụng rất nhiều phương pháp, có người đưa nhân vật vào truyện một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp Qua ngôn ngữ độc thoại hay đối thoại Giới thiệu nhân vật qua việc sử dụng ngôn ngữ đối thoại của chính nhân vật, hoặc của các nhân vật khác trong truyện là một trong những phương pháp xây dựng tác phẩm

Trang 34

một cách tài tình, khéo léo Nó đã trở thành một phương tiện đặc sắc vừa gây kích thích, lôi cuốn sự hiệu kỳ của độc giả vừa tránh được sự đơn điệu nếu như không dùng ngôn ngữ nhân vật mà dùng ngôn ngữ của tác giả Bên cạnh đó việc sử dung ngôn ngữ tác giả

để giới thiệu nhân vật một cách trực tiếp sẽ làm cho người đọc không khó khăn để nắm bắt và dễ dàng hình dung ra nhân vật một cách chính xác nhất theo chủ đích của tác giả Chính vì vậy để tạo nên thành công cho nhân vật mình miêu tả điều quan trọng là ở phương pháp sử dụng ngôn ngữ của tác giả Ở truyện thơ Nôm không phải tác phẩm nào

cũng giới thiệu nhân vật thành công Những tác phẩm cùng loại như: Hoa Tiên, Phan

Trần, Nhị Độ Mai,… bên cạnh những nhân vật được giới thiệu thành công , có rất nhiều

nhân vật khác được đưa vào truyện một cách đột ngột, làm cho người đọc nhiều khi

không hiểu nhân vật đó từ đâu ra, là nhân vật mới hay nhân vật cũ đã nói ở trên

Nhìn chung chưa có một nhà nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu sâu sắc về ngôn ngữ giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học Vấn đề này cần được quan tâm nghiên cứu một cách cụ thể hơn Người viết chỉ đưa ra một vài nhận định ban đầu về ngôn ngữ giới thiệu nhân vật, và sẽ phân tích cụ thể hơn trong chương sau của đề tài qua tác phẩm

Truyện Kiều

Trang 35

Chương 2

NGÔN NGỮ GIỚI THIỆU NHÂN VẬT CỦA NGUYỄN DU

TRONG TRUYỆN KIỀU

1 Nhận xét chung về ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du trong

Truyện Kiều

Một trong những thành công của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn ngữ đó

chính là việc giới thiệu nhân vật mới trong Truyện Kiều Từ khía cạnh những thủ pháp

ngôn ngữ mà Nguyễn Du đã sử dụng để giới thiệu sự xuất hiện lần đầu tiên của các nhân vật trong tác phẩm Không như những truyện thơ Nôm khác, những nhân vật trong

Truyện Kiều được giới thiệu một cách tự nhiên, logic và rất khéo léo Để làm được điều

đó Nguyễn Du đã sử dụng rất tài tình những thủ pháp đặc sắc của thủ pháp tiếng Việt, vốn rất phù hợp với những phương thức tự sự của truyện nôm

Nhìn trên đại thể những thủ pháp này có thể qui vào hai loại: một loại chuyên dùng

cho phong cách “thuật” là phong cách trong đó tác giả thường trực tiếp kể lại lai lịch,

hình dánh của nhân vật mới ( cá biệt như trường hợp Đạm Tiên là do Vương Công kể lại)

Còn một loại chuyên dùng cho phong cách “tả”, là phong cách trong đó nhân vật mới

được giới thiệu thông qua cảm quan trực tiếp của một nhân vật đã xuất hiện trước đó, thường là nhân vật chính- Thúy Kiều

Điển hình cho phong cách “thuật”, nguyễn Du chủ yếu dùng những kết cấu ngữ pháp được xây dựng theo mô thức của động từ “có”, với tần số xuất hiện khá nhiều

- “Lầu xanh có mụ Tú Bà”

- “Bầy vai có ả Mã Kiều vv…”

Trang 36

Trong một chừng mực hạn chế hơn, Nguyễn Du cũng dùng mô thức của từ “là”

- “Một trai con thứ rốt lòng, Vương Quan là chữ nối dòng nho gia

Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.”

- “Vốn dòng họ Hoạn danh gia,

Con quan lại bộ tên là Hoạn Thư.”

So với phong cách “thuật”, trong Truyện Kiều phong cách “tả” dùng ít hơn hẳn, với mô thức của từ “thấy”

- “Trông chừng thấy một văn nhân”

- “Bên trong thấy một mụ ra vội vàng”

- “Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.”

Nếu đi vào chi tiết thì sự thật cùng với một vài nhân vật được giới thiệu bằng cả hai phong cách ( lần đầu là thuật, lần sau là tả) như Đạm Tiên và Tú Bà:

- Rèm trong đã thấy một người bước ra.”

Việc sử dụng các từ “có”, “là”, “thấy” ( đặc biệt là tần số suất hiện rất cao của tứ

“có”) trong cách giới thiệu nhân vật trong Truyện Kiều không phải là tình cờ, nếu ta xem

xét vấn đề bằng con mắt ngôn ngữ học hiện đại Trong ngôn ngữ học hiên đại cho rằng: bên cạnh việc xem xét tổ chức của câu nói về mặt cú pháp ( phân chia ra thành chủ ngữ

vị ngữ, bổ ngữ, vv…) cần phải nghiên cứu nó cả về mặt nội dung thông tin, từ góc độ chức năng Xét từ góc dộ này, một câu nói- trong những điều kiện bình thường của sự giao tiếp- bao giờ cũng được xây dựng theo một quy tắc nhất định có cội nguồn sâu xa

Trang 37

trong trình tự tư duy của con người Qui tắc đó là: người viết kể từ trong quá trình suy nghĩ trước khi hạ bút thành lời thường bao giờ cũng diễn đạt các ý tứ trong câu văn trong một theo một chủ đích thông tin nhất định Chủ đích này được thể hiện, một mặt, ở cái kiểu loại thông tin mà người viết chọn lựa để diễn đạt nội dung câu văn: đó có thể là kiểu nhận định chung về một sự kiện nào đó của thực tế khách quan, đó có thể là kiểu mô tả cụ thể về một sự vật , một hiện tượng nào đó được nói đến Mặt khác, chủ đích này được thể hiện ở cái cách thức trình bầy các ý tứ của câu văn thứ tự đi từ điều đã biết, đã được xác định, đi từ một thông tin cũ đến thông tin mới

Qui tắc vừa nêu trên chi phối rất nhiều hiện tượng ngôn ngữ, trong đó có trật tự trước sau của các từ trong câu và đáng chú ý là hiện tượng sau: danh từ không xác định ( nói về một chủ thể phiếm định) thường đi sau động từ, trong những câu thông báo chung

về một sự kiện nào đó

Nhưng tình hình sẽ khác, nếu phần chủ ngữ nói về một hiện tượng, hay một sự vật

đã được người viết nhắc đến ở thời điểm trước đó và bây giờ người viết muốn mô tả cụ thể về sự vật đó, hiện tượng đó Khi đó danh từ chủ thể thường được đặt trước động từ và được xác định , được cá thể hóa nhờ vào từ phụ đi sau

Bên cạnh đó Nguyễn Du còn sử dụng một số lượng không nhỏ từ Hán Việt và Thuần Việt trong việc giới thiệu về ngoại hình nhân vật lần đầu xuất hiện trong tác phẩm Với nhân vật chính Nguyễn Du chủ yếu sử dụng từ Hán Việt với bút pháp ước lệ tượng trưng để giới thiệu về ngoại hình qua đó làm nổi bật tính cách và phẩm chất của nhân vật Còn đối với nhân vật phản diện Nguyễn Du thành công ở bút pháp tả thực trong việc sử dụng từ thuần Việt một cách đặc sắc để giới thiệu làm lộ rõ bản chất của nhân vật

2 Phân loại ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”

2.1 Ngôn ngữ giới thiệu nhân vật chính diện

2.1.1 Sử dụng ngôn ngữ tác giả

2.1.1.1 Motip từ “có”( )

Trang 38

Sự khác nhau của hai phong cách “thuật” và “tả” nói trên được phản ánh

rất rõ ràng trong những thủ pháp ngôn ngữ mà Nguyễn Du đã sử dụng Khi cho nhân vật mới xuất hiện với phong cách “thuật”, nguyễn Du chủ yếu dùng những kết cấu ngữ pháp được xây dựng theo mô thức của động từ “có” đây là cách giới thiệu phổ biến nhất trong Truyện Kiều, cho hàng loạt nhân vật từ chính đến phụ:

- “Có nhà viên ngoại họ Vương”

- “Có nhà họ Bạc bên kia”

Trong ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của các tác phẩm văn học, một nhân vật mới xuất hiện hiển nhiên phải là một chủ thể phiếm định, chưa được người đọc biết đến Theo qui tắc, danh từ chỉ nhân vật đó phải đứng sau động từ của câu Không thể giới thiệu

Từ Hải một cách tự nhiên uyển chuyển, nếu viết khác đi, chẳng hạn , bỏ từ “có”:

“Bỗng khách tự bên đình / / sang chơi.”

Bởi vì trái với quy tắc, trong câu thơ này chủ thể phiếm định (người khách) lại đứng trước động từ Nhưng vấn đề là ở chỗ trong tiếng Việt không phải động từ nào cũng cho phép danh từ chủ ngữ đi sau nó

Một động từ có nghĩa hành động như “đến” không có khả năng như vậy: nếu có, hẳn là rất có thể Nguyễn Du sẽ giới thiệu sự xuất hiện của Thúc Sinh theo cách khác:

“Khách du bỗng đến một người”

Ở đây chỉ có thể là một động từ mang ý nghĩa “tồn tại” vì nó vừa cho phép

đằng sau nó là một chủ thể phiếm định, lại vừa nói lên được sự hiện hữu của chủ đề đó Trong tiếng Việt, cũng như ở một số ngôn ngữ khác, đây là trường hợp của một động từ

rất đặc sắc và thú vị: động từ “có”

Đến đây ta có thể hiểu tại sao động từ “có” lại xuất hiện nhiều đến thế trong ngôn ngữ giới thiệu nhân vật mới của Truyện Kiều Nhưng còn một lí do khác, cũng là nét riêng biệt của “nó” Động từ này có khả năng tạo ra những cấu trúc “móc xích” cho phép

một chủ thể phiếm định vừa đi được sau nó, lại vừa đứng được trước một động từ khác (

Trang 39

nên không vi phạm quy tắc thông tin đã nêu ở trên) theo sơ đồ “có”- chủ thể phiếm định-

động từ Điều này đặc biệt thuận tiện cho ngôn ngữ giới thiệu nhân vật vốn hay dùng những kết cấu xây dựng theo sơ đồ đó, ví dụ:

- “Có / / người dân Việt/ lên chơi cửa già”

- “Có / / quan tổng đốc trọng thần/ /

Là Hồ Tôn Hiến / / kinh lân gồm tài”

Cái áp lực đứng sau động từ thường là chủ thể phiếm định mạnh đến mức là ngay những từ riêng ( vốn là những danh từ luôn luôn mang tính chất chất xác định) khi đứng sau “có” trong ngôn ngữ giới thiệu nhân vật cũng trở nên có ấn tượng nói trống, nói không xác định:

- “Lầu xanh có mụ Tú Bà”

- “Có nhà họ Bạc bên kia”

và nhất là, như đã nhận xét ở trên, động từ “ có” được sử dụng rất hạn chế Thay vào đó,

các tác phẩm truyện thơ Nôm khác tác giả có khi đặt ngay tên riêng của nhân vật và trước động từ, mặc dù lần đầu tiên nhắc đến nhân vật đó:

- “Thái Cơ nghe nói dỡ lời”

( Hoa Tiên)

2.1.1.2 Motip từ “là”( )

Khác với động từ “có”, từ “là” chỉ có tác dụng như một dấu bằng nối hai

vế được đồng nhất của câu Nó không có được cái nghĩa “tồn tại” cũng như những đặc trưng ngữ pháp theo kiểu của từ “có”, vì thế nó không có khả năng đột ngột giới thiệu

ngay một nhân vật mới, mà bao giờ cũng có một đoạn chuẩn bị, đoạn nhập đề ở trên Chẳng hạn khi giới thiệu về Thúy Kiều, Thúy Vân, Vương Quan, thì mở đầu đã phải dùng

đến mô thức của từ “có” để nói về viên ngoại :

“Có nhà viên ngại họ Vương”

Rồi mới dẫn sang truyện viên ngoại có con trai “thứ , rốt lòng”:

Trang 40

“Vương Quan là chữ nối dòng nho gia”

Và hai “ả tố nga”, trong đó:

“Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”

Điều này có thể thấy rất rõ ngay trong phạm vi một câu thơ như:

- “(Dạo quanh chợt thấy) mé sao có nhà

Là nhà Ngô Việt thương gia”

- “Có quan tổng đốc trọng thần

Là Hồ Tôn Hiến ( kinh luân gồm tài)”

Sự thật nhân vật mới ở đây đã xuất hiện từ trước khi có từ “là”, với từ “là”

nhân vật chỉ được làm rõ thêm tên tuổi hoạc nghề nghiệp mà thôi Đây chính là lí do ít dùng từ “là” để giới thiệu những nhân vật lần đầu được đưa vào truyện…

2.1.2 Sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, chủ yếu dùng từ Hán Việt

Nói đến hệ thống nhân vật trong tác phẩm trung đại, người ta nghĩ ngay đến khuôn mẫu đã được định sẵn với một công thức chung đó là: Nói đến người con giái là nói đến tuyết đến mai Dáng điệu phải yểu điệu, thướt tha như mai liễu; tâm hồn thì trắng trong như sương, như tuyết Còn người con trai thì vững trãi hiên ngang như cây bách, cây tùng và song toàn cả văn lẫn võ Ngoại hình của nhân vật được xây dựng bằng bút pháp ước lệ nên các nhân vật mang vẻ đẹp chung, mơ hồ, trừu tượng, ít có sự phân biệt Nhưng đó lại là chuẩn mực chung của văn chương trung đại khi xây dựng ngoại hình nhân vật Truyện Kiều của Nguyễn Du nhìn chung cũng thế, nhà thơ đã rất thành công khi

đi vào giới thiệu nhân vật chính diện qua bút pháp ước lệ tượng trưng đặc biệt trong việc

sử dụng từ Hán Việt

Từ Hán việt có màu sắc ước lệ, trang trọng nên thường để khắc họa nhân vật, trước hết là ở ngoại hình, sau đó là tính cách, tâm trạng của nhân vật Đều đó được thể hiện không ít qua ngôn ngữ giới thiệu nhân vật của Nguyễn Du, đa phần là nhân vật chính diện Nhân vật cao quý phải được vẽ bằng nét bút thanh cao, trang trọng Khi đi vào miêu

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm