hơn nghệ thuật miêu tả tính cách đặc sắc của thiên tài Nguyễn Du, mà còn giúp người viết vận dụng được những kiến thức lí luận văn học chung về nghệ thuật miêu tả nhân vật, tính cách nhâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ KIM VÂN
NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÍNH CÁCH NHÂN VẬT CỦA
NGUYỄN DU TRONG TRUYỆN KIỀU
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cần Thơ, 4 - 2011
Trang 2Chương 1: Một số vấn đề chung về miêu tả và nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật
1 Nghệ thuật miêu tả trong văn học
1.1 Khái niệm văn miêu tả
1.2 Đặc điểm văn miêu tả
1.3 Nghệ thuật miêu tả trong văn học
2 Nhân vật văn học
2.1 Khái niệm về nhân vật văn học
2.1.1 Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện văn học
2.1.2 Nhân vật văn học là phương tiện khái quát hiện thực
2.2 Loại hình nhân vật văn học
2.3 Đặc điểm của nhân vật văn học
2.4 Tính cách nhân vật văn học
3 Phân loại hệ thống nhân vật trong Truyện Kiều
4 Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
4.1 Các phương thức nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du
trong Truyện Kiều
4.1.1 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua ngoại hình
4.1.2 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua hành động
4.1.3 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ
4.1.4 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua nội tâm
4.2 Nhận xét
Chương 2: Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
1 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua ngoại hình
2 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua hành động
3 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ
4 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua nội tâm
Chương 3: Hiệu quả sử dụng nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du
trong Truyện Kiều
1 Thể hiện chân thật, hoàn chỉnh và sắc nét tính cách riêng của từng nhân vật
2 Thể hiện sự sáng tạo, điêu luyện trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc của Nguyễn Du
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khi sáng tác một tác phẩm văn chương, vấn đề thường được độc giả quan tâm đó là những hình tượng nhân vật trong tác phẩm Có thể nói, đây là yếu tố đầu tiên để đánh giá sự thành công hay hạn chế của một nhà văn Vì vậy, ta có thể khẳng định nhân vật chính là linh hồn của tác phẩm văn học Bởi nhân vật là phương tiện để truyền tải nội dung tác phẩm, tư tưởng, tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm Bên cạnh đó, nhân vật còn là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Muốn hiểu được tác phẩm văn học một cách đầy đủ, trọn vẹn thì chúng ta phải nắm bắt được thế giới nhân vật mà cụ thể là phải đi sâu, khai thác tính cách nhân vật bởi đó cũng chính là phát ngôn của tác phẩm
Thiết nghĩ, con người ngoài xã hội đi vào tác phẩm văn học sẽ bị chi phối bởi lăng kính chủ quan và ý đồ nghệ thuật của tác giả Muốn cho nhân vật có hồn thì nhà văn phải có biện pháp nghệ thuật độc đáo trong việc khắc họa nhân vật Có nhiều cách khác nhau để thể hiện nhân vật Ở đây người viết quan tâm hơn cả là nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật, bởi tính cách có vai trò rất quan trọng đối với cả nội dung lẫn hình thức của một tác phẩm văn học Đúng như Hêghen đã nói:
“Tính cách là điểm trung tâm của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức’’[2; tr 345] và Đôxtôiepxki cũng đã từng khẳng định:“Đối với nhà văn, toàn bộ vấn đề là
ở tính cách” [2; tr.346]
Tính cách nhân vật được xây dựng trên nhiều phương diện nghệ thuật khác nhau Tính cách có thể được thể hiện thông qua việc miêu tả ngoại hình, nội tâm, thông qua cử chỉ, hành động lời nói hoặc thông qua mối quan hệ với các nhân vật khác Vì vậy, có thể nói, việc đi vào tìm hiểu một tác phẩm văn học để khám phá tính cách nhân vật là rất cần thiết đối với cả người học lẫn người dạy Đối với người học, khám phá đúng và đầy đủ về nhân vật, tính cách nhân vật là chìa khóa
để mở cửa bước vào thế giới của tác phẩm, khám phá những kho báu bên trong Còn đối với người giáo viên dạy văn, việc cần có kiến thức đầy đủ, vững vàng về tính cách nhân vật sẽ giúp giáo viên có định hướng đúng đắn cho học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học
Xét về tác phẩm văn học thì Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm
lớn của dân tộc Đây là một tiểu thuyết bằng thơ thuộc loại hình truyện Nôm thế kỉ
XVIII, XIX Khi vừa xuất hiện Truyện Kiều đã làm cho thi đàn xôn xao hẳn lên,
người ta bình luận, khen chê, các nhà nghiên cứu đã tốn biết bao giấy mực cho
Truyện Kiều Còn đối với nhân dân, Truyện Kiều là một món ăn tinh thần không thể
thiếu trong cuộc sống thường ngày Họ ngâm Kiều, bình Kiều, xem Truyện Kiều
như một đề tài bất tận, họ nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ bằng những câu Kiều như
dòng sữa ngọt ngào của mẹ Qua đó, ta thấy Truyện Kiều đã chiếm một vị trí trọng
yếu trong lịch sử văn học Việt Nam Đúng như Đặng Thai Mai – Chủ tịch Hội liên
hiệp văn học Việt Nam đã khẳng định: “Không ai có thể phủ nhận rằng trong toàn
bộ văn học ngày xưa, Truyện Kiều là một thành công vĩ đại nhất, là áng văn chương tiêu biểu hơn hết” [15; tr.1141]
Từ những lý do trên, người viết đã chọn Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân
vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều làm đề tài nghiên cứu Đề tài này không
những giúp cho người viết tiếp thu được những kiến thức về văn học, tìm hiểu sâu
Trang 4hơn nghệ thuật miêu tả tính cách đặc sắc của thiên tài Nguyễn Du, mà còn giúp người viết vận dụng được những kiến thức lí luận văn học chung về nghệ thuật miêu tả nhân vật, tính cách nhân vật vào một tác phẩm văn học cụ thể Bằng sự hiểu biết ít ỏi của mình, người viết chỉ mong sẽ góp một phần nhỏ trong việc khám phá thêm một khía cạnh đặc sắc về nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du nói riêng và của thơ ca nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong tác phẩm là một trong những bình diện thể hiện rõ tài năng của nhà văn Khi xây dựng tính cách nhân vật trong tác phẩm, không chỉ đòi hỏi nhà văn phải có sự am hiểu tường tận về nhân vật mà còn phải tìm được cách thể hiện riêng cho tính cách của từng nhân vật mà mình sẽ viết Nếu chỉ có vốn hiểu biết mà cách thể hiện không độc đáo thì tính cách nhân vật cũng hóa ra tầm thường, không tạo được sức hút đối với người đọc
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về nhân vật và tính cách nhân vật của các nhà lí luận, cũng như những công trình nghiên cứu có liên quan đến nghệ
thuật miêu tả tính cách nhân vật trong Truyện Kiều của các nhà phê bình văn học Người viết đã chọn lựa và lấy làm cơ sở để thực hiện đề tài Nghệ thuật miêu tả tính
cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều một cách có hệ thống hơn
Bàn về nhân vật và tính cách nhân vật, trong quyển Lí luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, tác giả Đoàn Đức Phương trong chương III, phần Nhân vật và
tính cách đã nêu lên rất đầy đủ và chi tiết Ông đã đưa ra khái niệm về nhân vật văn
học rất cụ thể: “Nhân vật trong văn học là một hiện tượng mang tính ước lệ, đó
không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách” [5;
tr.126] Theo đó, ông cho rằng nhân vật không chỉ là những con người có tên hoặc
không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm
mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của
con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người
Đồng thời, ông còn nhận định về vai trò, tầm quan trọng của nhân vật trong tác
phẩm văn học Theo ông, “Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là
phương diện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng” [5;
tr.126]
Cũng trong chương này, tác giả Đoàn Đức Phương đã đi vào việc phân chia loại hình nhân vật Ông đưa ra hai tiêu chí để phân loại Xét về vai trò nhân vật trong tác phẩm, ông chia nhân vật thành ba tuyến: nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm; còn xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lí tưởng xã hội thì ông lại chia nhân vật ra thành hai tuyến: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Theo đó, ông đã đưa ra những cơ sở rất thuyết phục để chứng minh cho luận điểm của mình Bàn về tính cách, ông cũng đã nêu lên một vài khía
cạnh: “Tính cách là bản sắc riêng, độc đáo của một con người cá biệt, cụ thể
nhưng lại mang những nét chung, tiêu biểu cho nhiều người khác ở mức độ nhất
định, đồng thời nó có một quá trình phát triển hợp với lôgic cuộc sống” [5; tr.129]
Không dừng lại ở đó, ông còn đi sâu nghiên cứu đặc điểm của tính cách ở nhiều phương diện khác nhau như: tính chung, tính riêng, tính lôgic… Từ đó rút ra kết
luận: “Tính cách có một vai trò hết sức quan trọng đối với cả nội dung và hình
thức của một tác phẩm văn học” [5; tr.129]
Trong quyển Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên, khi đề cập đến nhân vật và tính cách nhân vật, trong chương III - Nhân vật trong tác phẩm văn học, các
Trang 5tác giả cho rằng: “Nhân vật văn học là con người được thể hiện bằng phương tiện
văn học” [13; tr.278] Đồng thời, các tác giả cũng đã nêu lên vai trò của nhân vật
trong tác phẩm văn học Nhân vật có hai vai trò chính: Thứ nhất, nhân vật văn học
là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện văn học nhằm tái hiện
đời sống, đóng vai trò như những “tấm gương của cuộc đời” [13; tr.278] Thứ hai:
nhân vật là phương tiện khái quát hiện thực Tức là nhà văn sáng tạo văn học là để thể hiện những cá nhân của xã hội và những quan niệm về cá nhân đó Bên cạnh đó, các tác giả cũng khẳng định, ý nghĩa của nhân vật được thể hiện qua tính cách Tính cách này, vừa là tính cách xã hội lịch sử, vừa là quan niệm về tính cách và tư tưởng
mà tác giả muốn thể hiện Đồng thời, các tác giả cũng phân chia các loại hình nhân vật văn học dựa trên nhiều phương diện bao gồm: kết cấu, hệ tư tưởng, cấu trúc Từ
đó, các tác giả cũng nêu lên các phương thức, phương tiện và biện pháp thể hiện tính cách nhân vật
Lại Nguyên Ân, trong quyển 150 thuật ngữ văn học khi nghiên cứu về nhân
vật và tính cách nhân vật cũng đã trình bày một vài khía cạnh Ông cho rằng nhân
vật văn học là “Hình tượng nghệ thuật về con người” [1; tr.249], là các con vật, loài
cây… được nhân cách hóa Theo ông, nhân vật văn học in dấu những xu hướng tiến hóa của tư duy nghệ thuật như nhân vật lý tưởng hóa (sử thi), nhân vật mặt nạ, cố định (chủ nghĩa cổ điển), nhân vật là người anh hùng mới (chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa)…
Bên cạnh những kiểu nhân vật đã nêu, Lại Nguyên Ân còn đưa ra các phương
tiện để xếp loại nhân vật Dựa vào vai trò của nhân vật trong tác phẩm ta có “nhân
vật chính”, “nhân vật phụ”; dựa vào việc thể hiện lí tưởng ta lại có “nhân vật chính diện” (tích cực), “nhân vật phản diện” (tiêu cực); xuất phát từ thể loại, ta
phân ra: “nhân vật tự sự”, “nhân vật trữ tình”, “nhân vật kịch”… Tiêu chí phân loại của Lại Nguyên Ân gần như thống nhất với các tác giả của quyển Lí luận văn
học do Phương Lựu chủ biên được đề cập ở trên
Riêng về tính cách, Lại Nguyên Ân đã nêu lên khái niệm khá cụ thể: “Tính
cách là hình ảnh con người, được phác họa đến mức đủ rõ và đủ tính xác định, thông qua đó, làm bộc lộ kiểu ứng xử (hành vi, suy nghĩ, lời nói) có căn cứ lịch sử,
đồng thời cũng làm bộc lộ quan niệm của tác giả về tồn tại con người” [1; tr.332]
Ông còn cho rằng, sự hình dung về tính cách còn được thể hiện qua những biểu hiện bề ngoài lẫn bên trong cá nhân nhân vật
Nói chung, lí luận về nhân vật, tính cách nhân vật mỗi tác giả khi lí giải đều nêu lên những ý kiến rất riêng, độc đáo với những dẫn chứng cụ thể, sinh động và cũng đầy thuyết phục
Trên đây là những công trình tiêu biểu về nhân vật và tính cách nhân vật văn học của các nhà lí luận Về vấn đề nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du, người viết nhận thấy đây cũng là vấn đề được nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm, nhận xét và đánh giá Họ đã tìm thấy ở Truyện Kiều
những giá trị nghệ thuật đặc sắc, góp phần làm nên cái hay, nét độc đáo cho nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du
Theo Hoài Thanh trong Tạp chí văn học bình luận số 6 tháng 12/1965 khi bàn
về nghệ thuật miêu tả của Nguyễn Du ông đã nói: “Cách dùng chữ của Nguyễn Du
bao giờ cũng đúng lúc, đúng chỗ, đúng tình, đúng cảnh”, ông còn nói thêm: “Về mặt miêu tả, Nguyễn Du có sẵn vốn từ ngữ không một nhà văn nào khác có thể sánh kịp trong lịch sử văn học Việt Nam” [4; tr.1140] Hay trong bài luận Nguyễn
Du và quyền sống con người bên cạnh việc nêu lên vấn đề về quyền sống của con
Trang 6người trong Truyện Kiều, ông còn đưa ra những nhận xét về phương diện nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nhân vật: “Cái chính của nghệ thuật Nguyễn
Du là ở chỗ đã nhào nặn lại, sáng tạo ra cả một thế giới nhân vật có thật” [4;
tr.1263]
Như vậy, ông không chỉ cho rằng Nguyễn Du là một bậc thầy về nghệ thuật miêu tả nhân vật, trong đó bao gồm cả nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật bởi một nhân vật chỉ có thật khi nó mang trong mình những nét tính cách riêng biệt, độc đáo Đồng thời, ông còn khẳng định tầm vóc của Nguyễn Du trong nền văn học dân tộc
Đến Dương Quảng Hàm trong quyển Việt Nam văn học sử yếu, khi bàn đến văn chương Truyện Kiều cũng có nhận xét: “Tả cảnh thì theo lối phác họa, mà
cảnh nào cũng linh hoạt khiến cho người đọc cảm thấy cái thú vị của mỗi cảnh Tả người thì vai nào rõ ra tính cách của vai nấy, chỉ một vài nét mà như vẽ thành bức truyền thần của mỗi vai, khám phá được tâm lí của vai ấy, khiến cho nhiều vai như
Sở Khanh, Tú Bà đã thành những nhân vật làm mô dạng cho đời sau” [7; tr.68] Nhìn chung, cũng như Hoài Thanh, ông đã khẳng định với nghệ thuật miêu tả,
đặc biệt là miêu tả tính cách thì Nguyễn Du xứng đáng là một thiên tài Dù chưa đi vào phân tích cụ thể nhưng những nhận định mới và có hướng gợi mở này đã tạo nền tảng, tiền đề cho người viết, giúp người viết có cái nhìn hoàn chỉnh hơn về
nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Bàn về nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong Truyện Kiều, tác giả Đỗ Minh Tuấn trong chuyên luận Nghệ thuật trữ tình của Nguyễn Du trong Truyện
Kiều đã đưa ra vài nhận định: “Nguyễn Du đã khai thác các yếu tố màu sắc, âm thanh và tình cảm trong ngôn ngữ để thể hiện chính xác và tinh vi những sắc thái tình cảm khác nhau nhất, tế nhị, mơ hồ và xao động nhất” [19; tr.161] Như vậy, ta
thấy ông không chỉ nghiên cứu, tìm hiểu bút pháp trữ tình của Nguyễn Du trong
Truyện Kiều mà còn quan tâm đến nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ để miêu tả tâm lí,
tính cách nhân vật Ông khẳng định: “Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ trữ tình có
chọn lọc trên cơ sở phù hợp với tính cách của nhân vật, với trạng thái tâm hồn nhân vật” [19; tr.189]
Nhìn chung, ông đã đưa ra được những đặc điểm cơ bản trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ để miêu tả tính cách nhân vật, đồng thời cũng đưa ra những cơ sở lập luận rất thuyết phục bằng cách đi vào phân tích một số câu thơ có sự xuất hiện
của ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều Thế nhưng, ông chưa đi sâu vào phân
tích và làm rõ vấn đề mà chỉ dừng lại ở một khía cạnh nhỏ là miêu tả tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ mà chủ yếu là từ láy
Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong quyển Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp
đã đưa ra nhận xét về tính cách nhân vật trong Truyện Kiều như sau: “Nhân vật gặp
tình huống có kịch tính cao Tình huống ấy được phản ánh vào nội tâm thành bi kịch Những âm mưu tính toán của nhân vật chính là bộc lộ tính cách bên trong của nhân vật” [8; tr.232] Ta thấy, tác giả đã đề cập đến một vấn đề đó là nghệ thuật
miêu tả nội tâm của nhân vật để làm bộc lộ tính cách của từng nhân vật Đây là một nét mới, độc đáo trong việc phát hiện thêm một khía cạnh về miêu tả tính cách nhân
vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Tuy nhiên, công trình của ông chỉ dừng lại ở vấn đề phân tích nội tâm nhân vật để làm nổi bật tính cách nhân vật chứ chưa khai thác sâu ở những khía cạnh khác như nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động… để làm nổi bật nghệ thuật
miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Trang 7Đến với quyển Tìm hiểu phong cách của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, giáo
sư Phan Ngọc cũng đã góp một vài ý kiến về phương diện nghệ thuật Ở công trình này, bên cạnh việc tập trung khảo sát phong cách nghệ thuật của Nguyễn Du trong
Truyện Kiều, ông còn nghiên cứu thủ pháp phân tích tâm lí nhân vật, ngôn ngữ
nhân vật nhằm làm nổi bật tính cách của từng nhân vật Trong chương IV – Tiểu
thuyết phân tích tâm lí, ông đã chứng minh được bút pháp miêu tả diễn biến nội
tâm nhân vật bậc thầy của Nguyễn Du khi đi vào phân tích tâm lí của hầu hết các
nhân vật, ông cho rằng: “Đây là lối phân tích thật sự khoa học” [16; tr.172] nhằm
mục đích bộc lộ tính cách của từng nhân vật Về ngôn ngữ nhân vật, ông khẳng
định: “Đây là ngôn ngữ “đục mờ”, vì đằng sau sự giao tiếp thực tiễn, có một thông
báo riêng nhằm mục đích nêu bật tính cách của từng nhân vật” [16; tr.159]
Trong quá trình phân tích ta thấy, ông đã tiến hành so sánh, đối chiếu với tác
phẩm Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và đã chứng minh được rằng: “Ngôn ngữ nhân vật có cú pháp riêng, từ vựng riêng, không lặp lại ở một
người nào khác” [16; tr.160] Có thể nói, công trình này đã đóng góp thêm cho
nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều nhiều nét
đặc sắc, mới lạ Tuy nhiên, ông cũng chưa đi sâu vào nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật mà chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh tiêu biểu
Bàn về nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện
Kiều, Giáo sư Lê Trí viễn trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam – tập 3 cũng có vài
nhận định Tiêu biểu ở phần 4 - Một vài nét về bút pháp của Nguyễn Du, ông đã khẳng định: “Cái tạo nên nét đặc sắc trong nghệ thuật Truyện Kiều là đã sáng tạo
nên những con người, những con người thật hơn người thật” [23; tr.167] Để làm
sáng tỏ cho những nhận định của mình, ông đã đi vào phân tích các nhân vật trong
Truyện Kiều từ Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng đến Mã Giám Sinh, Tú bà, Hoạn
Thư… Đặc biệt, ông còn chú ý đến bút pháp phân tích nội tâm nhân vật, mà chủ yếu là nhân vật Thúy Kiều nhằm bộc lộ tính cách của nhân vật trong từng hoàn
cảnh cụ thể Từ những cơ sở trên, ông khẳng định: “Có vài nhân vật Nguyễn Du
chỉ vẽ bằng một vài nét mà người nào ra người ấy, bề ngoài và bên trong khít khao làm cho tính cách nổi bật” [23; tr.167]
Những nghiên cứu của giáo sư Lê Trí Viễn ở phương diện nghệ thuật miêu tả
tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều tuy chỉ mang tính khái quát,
chưa thật sự đi sâu vào từng khía cạnh, nhưng những gợi ý của ông cũng đã mở ra hướng nghiên cứu cho người viết, giúp người viết có cái nhìn toàn diện hơn về đề tài của mình
Trên đây là những nhận định về nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của
Nguyễn Du trong Truyện Kiều Tuy nhiên, những nhận định trên vẫn còn chưa sâu, chưa làm nổi bật được vấn đề Bàn về Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của
Nguyễn Du trong Truyện Kiều ta có thể kể đến hai công trình tiêu biểu sau:
Trước tiên là công trình của giáo sư Lê Đình Kỵ Trong quyển Truyện Kiều và
chủ nghĩa hiện thực, ông đã đánh giá Nguyễn Du trên cả hai phương diện: cái tài và
cái tâm của người nghệ sĩ Về phương diện nghệ thuật, ông đã chứng minh cái tài của Nguyễn Du thể hiện ở tất cả các khía cạnh từ bút pháp miêu tả không gian nghệ thuật điêu luyện đến bút pháp phân tích tính cách nhân vật biến hóa, đa dạng Đặc biệt, ông đã đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật miêu tả nội tâm để làm bộc lộ tính
cách của các nhân vật trong Truyện Kiều Trong chương I, phần 3 Nhân vật và tính
cách ông đã dụng công rất lớn để phân tích, chứng minh bút pháp miêu tả đời sống
nội tâm phong phú và phức tạp của các nhân vật qua đó làm nổi bật tính cách của
Trang 8từng nhân vật Ông khẳng định: “Nhân vật Truyện Kiều nói chung hiện ra trong sự
tác động lẫn nhau và chịu sự tác động của hoàn cảnh cụ thể” [10; tr.285] và
Nguyễn Du đã khai thác nhân vật theo hướng “Soi sáng hoạt động tâm lý để bộc lộ
tính cách nhân vật” [10; tr.231] Từ đó, ông đi đến kết luận: “Nguyễn Du đã làm cho tính cách nhân vật của mình rõ nét lên rất nhiều” [10; tr.233]
Bên cạnh đó, ông còn khái quát lại nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong tác phẩm từ những nhân vật chính diện đến hệ thống nhân vật phản diện Ông cho
rằng, mỗi nhân vật đều có ngoại hình riêng, tâm lí riêng… không ai giống ai:
“Nhân vật sống được là khi có giá trị xã hội và tâm lí toát ra từ diện mạo riêng biệt không lẫn lộn được” [10; tr.235] Trên cơ sở đó, ông đã tiến hành so sánh, đối
chiếu Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân để người đọc thấy được sự sáng tạo của Nguyễn Du trong nghệ thuật miêu tả
tính cách nhân vật: “Tính cách các nhân vật Truyện Kiều được xác định và có tính
thống nhất chặt chẽ Nguyễn Du đã lược bỏ chi tiết này, nhấn mạnh một mặt kia, sáng tạo thêm những nét khác cốt soi sáng nhân vật từ bên trong” [10; tr.231] Qua
đó, ông đã nêu lên nhận định: “Nguyễn Du đã biết thông qua các chi tiết ngoại
hình để soi rọi vào tâm lý bên trong của nhân vật Đối với Nguyễn Du một nét mặt, một màu da, một dáng điệu, một cử chỉ, một tư thế, không chỉ là cái bên ngoài mà thông qua đó có thể làm hiển hiện ra thần thái của nhân vật” [10; tr.245]
Nhìn chung, giáo sư Lê Đình Kỵ đã đưa ra được những cơ sở rất thuyết phục nhằm khẳng định sự sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du khi miêu tả tính cách nhân
vật trong Truyện Kiều
Tiếp đến là công trình nghiên cứu của giáo sư Đặng Thanh Lê với quyển
Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm Trong quyển này bà đề cập nhiều đến nhân vật
cũng như đã quan tâm đến nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong Truyện Kiều Trong chương III, phần Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Truyện Kiều, bà
đã đi sâu nghiên cứu về phương diện miêu tả tính cách nhân vật ở những khía cạnh như: môi trường hoạt động của nhân vật, ngoại hình, ngôn ngữ, hành động… Bà
cho rằng: “Nguyễn Du đã để cho các nhân vật xuất hiện với nhiều loại tính cách
tiêu biểu cho nhiều loại người trong xã hội Không phải nhân vật nào trong Truyện Kiều cũng đều được Nguyễn Du theo dõi toàn bộ cuộc đời nhưng nhân vật nào cũng được Nguyễn Du khắc họa thành một con người tiêu biểu” [11; tr.263] Và bà
đã khẳng định: “Hầu hết các nhân vật Truyện Kiều đều là những nhân vật hoàn
chỉnh trong những nét tính cách cơ bản dù vận mệnh không hoàn chỉnh” [11;
tr.263]
Đi sâu hơn vào nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật, ở công trình này bà cho
rằng các nhân vật trong Truyện Kiều không chỉ được miêu tả làm bộc lộ tính cách
mà còn có sự phát triển tính cách trong từng nhân vật Đây cũng là một khía cạnh
mới trong nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Ta thấy, bà đã đặt nhân vật vào từng hoàn cảnh cụ thể của tác phẩm rồi tiến hành
phân tích, đánh giá Cuối cùng, bà đưa ra kết luận: “Sự hình thành và phát triển
của các tính cách nhân vật Truyện Kiều rất nhất quán, phong phú, hợp lí” [11;
tr.263]
Từ những cơ sở trên, bà đã đi sâu vào phân tích và chứng minh cho những
luận điểm của mình bằng cách so sánh Truyện Kiều với các truyện thơ Nôm khác
Từ đó, bà khẳng định với nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã trở thành một thiên tài: “Với Nguyễn Du, miêu tả nội tâm nhân vật,
trình bày trạng thái tâm hồn của con người trở thành một yếu tố đặc biệt quan
Trang 9trọng để xây dựng tính cách nhân vật và đồng thời là một thành tựu rực rỡ của nghệ thuật Truyện Kiều” [11; tr.250]
Có thể nói, hai công trình nghiên cứu của giáo sư Lê Đình Kỵ và giáo sư Đặng Thanh Lê đã đưa ra những cơ sở có hệ thống hơn về nghệ thuật miêu tả tính
cách nhân vật trong Truyện Kiều Dù chưa nghiên cứu, xây dựng thành một hệ
thống nhưng so với các tác giả khác đây là hai công trình có phần đào sâu hơn, chăm chút hơn về nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong
Truyện Kiều
Trên đây là những ý kiến, nhận xét có liên quan đến đề tài mà nguời viết đang nghiên cứu Nhìn chung, các tác giả đã chứng minh được ngòi bút thiên tài của
Nguyễn Du trong việc miêu tả tính cách các nhân vật trong Truyện Kiều ở từng
khía cạnh như: cách dùng từ, sử dụng ngôn ngữ hay cách Nguyễn Du miêu tả nội tâm, ngoại hình, hành động của nhân vật nhằm bộc lộ tính cách nhân vật Thế
nhưng, vấn đề Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện
Kiều thì vẫn chưa có một công trình nào mang tính hệ thống, chuyên biệt Dù vậy,
những ý kiến, nhận định trên vẫn là những tiền đề giúp người viết bắt đầu khái quát
được vấn đề của mình để tổng hợp và khái quát lại nhằm thực hiện đề tài Nghệ
thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều thuận lợi và có
cơ sở vững chắc hơn
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du
trong Truyện Kiều, trước hết, người viết muốn tìm hiểu những biện pháp nghệ thuật
miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Từ đó sẽ thấy được
tài năng nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Du một cách tập trung hơn, có hệ thống hơn
Bên cạnh đó, người viết cũng mong muốn mình sẽ hiểu rõ hơn những cơ sở
lí luận về nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật, có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm văn học chữ Nôm một cách sâu sắc hơn Việc tìm hiểu này sẽ giúp cho người viết hiểu thêm về giá trị của nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong tác phẩm của văn học Đồng thời, đây cũng là cơ hội để người viết có thể vận dụng những kiến thức về lí luận vào việc phân tích tác phẩm cụ thể nhằm thể hiện khả năng phân tích và năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương của mình Đây cũng
là điều kiện để người viết có thể tích lũy thêm vốn kiến thức nhằm phục vụ cho quá trình giảng dạy sau này
4 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà người viết nghiên cứu ở đây là Nghệ thuật miêu tả tính cách
nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống
hơn những phương thức nghệ thuật mà Nguyễn Du đã sử dụng để miêu tả tính cách nhân vật như: miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, nội tâm nhằm làm bộc lộ
tính cách nhân vật Do trong Truyện Kiều có khá nhiều nhân vật (khoảng 30 nhân
vật) nên người viết sẽ chỉ tìm hiểu ở hai tuyến nhân vật, nhân vật chính diện: Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúy Vân, Từ Hải và nhân vật phản diện: Mã Giám sinh, Tú Bà,
Sở Khanh, Hoạn Thư
Để thực hiện đề tài này, người viết chọn Truyện Kiều – Đối chiếu chữ Nôm
quốc ngữ của nhà xuất bản Viện bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh năm 1992
làm tư liệu tham khảo chính Đồng thời người viết còn nghiên cứu thêm những cơ
sở lí luận về nhân vật và tính cách nhân vật cũng như các biện pháp, cách thức thể hiện nhân vật văn học của các nhà lí luận, những ý kiến của các tác giả xung quanh
Trang 10Truyện Kiều và những tác phẩm truyện thơ Nôm khác có liên quan để so sánh
nhằm làm nổi bật vấn đề cần thực hiện
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đáp ứng những mục tiêu mà đề tài đặt ra trước hết người viết tìm đọc những tư liệu lí luận về nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật Bên cạnh đó, người
viết cũng sẽ tìm đọc những tài liệu về Nguyễn Du và Truyện Kiều của các nhà
nghiên cứu Trong đó, người viết đặc biệt chú ý đến những công trình có đề cập
đến nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều để
nắm vững kiến thức nhằm tạo cơ sở vững chắc giúp người viết đi sâu vào tìm hiểu
Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Trên cơ sở những tài liệu đó, người viết sẽ sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh để thấy được giá trị đặc sắc cũng như tài năng của Nguyễn Du trong nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật Trong quá trình thực hiện đề tài người viết có kết hợp thao tác giải thích, chứng minh và phân tích Đây cũng là phương pháp chính trong quá trình thực hiện nhằm làm nổi bật vấn đề Bên cạnh đó, người viết cũng có liên hệ với một số ý kiến cụ thể của các tác giả và trích dẫn một số dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm và các sách tham khảo để bài viết có cơ sở vững chắc hơn Luận văn đi từ khái quát đến cụ thể sau đó sẽ khái quát tổng hợp lại vấn đề đã trình
bày trên cơ sở cái nhìn chung về Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn
Du trong Truyện Kiều
Trang 11PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIÊU TẢ VÀ
NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÍNH CÁCH NHÂN VẬT
1 Nghệ thuật miêu tả trong văn học
1.1 Khái niệm văn miêu tả
Theo ông Bùi Tất Tươm trong Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt:
“Miêu tả là thao tác dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác hình dung được sự vật, sự việc” [22; tr.385]
Theo đó, ông đưa ra khái niệm văn miêu tả là “văn bản dùng ngôn ngữ làm
cho người nghe, người đọc hình dung được sự vật, sự việc hoặc tính chất của một nhân vật nào đó” [22; tr.385]
Ông Đỗ Ngọc Thống trong quyển Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông thì cho rằng: “Văn miêu tả là một trong những văn bản rất quen thuộc và phổ biến
trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương Đây là loại văn có tác dụng rất lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét đánh giá của con người” [18; tr.3] Và ông nhận
định mục đích của văn miêu tả là làm cho đối tượng miêu tả được hiện lên trước mắt người đọc càng cụ thể càng tốt
Đến với các tác giả trong quyển Sách giáo khoa Làm văn lớp 10 thì: “Văn
miêu tả là dùng lời nói hay lời văn làm sống lại một sự vật, một cảnh tượng, một con người, làm sao cho người nghe, người đọc có thể tưởng tượng điều đó như
đang ở trước mắt” [3; tr.5] Bên cạnh đó, các tác giả cũng cho rằng văn miêu tả hay
thường có nhân tố tự sự, nó sẽ làm sống dậy con người và cuộc sống (con người từ ngoại hình đến nội tâm, cuộc sống từ thiên nhiên đến xã hội) Từ đó, các tác giả
khẳng định văn miêu tả rất phong phú: “kể chuyện cũng là tả, tả cảnh, tả tình, tả
tâm lí, tả hành động của con người” [3; tr.5]
Bàn về văn miêu tả, tác giả Nguyễn Công Lý trong quyển Tập làm văn –
Giáo trình dành cho sinh viên khoa ngữ văn cao đẳng và đại học đại cương cũng
đã nêu lên rất đầy đủ và chi tiết Theo ông, “Văn miêu tả thường được hiểu là thể
văn dùng ngôn ngữ (lời nói, lời văn) để làm sống lại, tái hiện lại một sự vật, một cảnh tượng, một con người… một cách sinh động, cụ thể, chân thực như nó vốn có, làm cho người đọc, người nghe có thể tưởng tượng đối tượng được tả như đang ở trước mắt mình” [14; tr.47] Từ khái niệm đó ông cho rằng quá trình miêu tả là quá
trình tái tạo hiện thực khách quan Và bất kì một hiện tượng nào trong hiện thực khách quan cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả
Nhìn chung, qua những khái niệm về văn miêu tả trên, người viết nhận thấy các tác giả đều có một điểm chung là: Văn miêu tả là một văn bản dùng ngôn ngữ
để làm sống lại một cách sinh động, cụ thể, chân thật một sự vật, một cảnh tượng, một con người làm sao cho người đọc, người nghe có thể tưởng tượng đối tượng được tả như đang ở trước mắt
1.2 Đặc điểm văn miêu tả
Theo ông Đỗ Ngọc Thống trong quyển Văn miêu tả trong nhà trường phổ
thông khi tìm hiểu về đặc điểm văn miêu tả ta thấy có những đặc điểm cơ bản sau
Trước tiên là về khả năng của người viết văn miêu tả bởi: “Muốn có một văn bản
miêu tả đầy sinh khí, người viết phải có sự quan sát tinh tế cùng óc tưởng tượng,
Trang 12liên tưởng phong phú” [18; tr.49] Vì vậy, quan sát là yếu tố số một không thể thiếu
trong quá trình miêu tả Nhưng quan sát kĩ cũng chưa là điều kiện quyết định để có một văn bản miêu tả hấp dẫn mà người viết cần phải có một sự quan sát tính tế, óc tưởng tượng – liên tưởng phong phú và sâu sắc, sự sáng tạo dồi dào Có như vậy thì mới có thể viết được một văn bản đầy sức sống, mang tính chân thực, sinh động và tràn ngập hơi thở của hiện thực cuộc sống
Một đặc điểm khác của văn miêu tả là: “Văn miêu tả không chỉ để tả, để
nhằm thông báo một cách khách quan, đầy lí trí mà là tả cảnh ngụ tình, để gởi gắm tâm tư, tình cảm của mình đối với đối tượng được tả” [18; tr.49] Vậy, văn miêu tả
phải là loại văn chứa đầy tình cảm của người viết, có thể bộc lộ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua ngôn ngữ miêu tả
Thứ đến, văn miêu tả thường sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm Để tái hiện đối tượng được miêu tả sinh động, y như nó vốn có ngoài cuộc sống, các nhà văn thường dùng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh Ngoài
ra, trong văn bản miêu tả, ngườc đọc sẽ dễ nhận thấy ở trong đó sự phong phú và
đa dạng của tính từ Vì tả không chỉ để tả, nhằm thông báo mà để ngụ tình nên khi viết người viết thường sử dụng hàng loạt tính từ chỉ màu sắc, dáng vẻ, tính chất, giàu hình tượng để đánh giá, bình phẩm thì văn miêu tả mới có sức lôi cuốn, hấp dẫn người đọc Cũng nhờ vậy mà văn miêu tả mới có thể vừa bộc lộ tình cảm của tác giả lại vừa bộc lộ được tính chất của đối tượng được tả
Không chỉ thế, trong văn miêu tả, mà đặc biệt ở các kiểu bài tả đồ vật, tả loài vật, tả phong cảnh, các tác giả thường sử dụng biện pháp tu từ Trước hết là so sánh, nhờ biện pháp này mà đối tượng được miêu tả trở nên sống động hơn, cụ thể hơn Một biện pháp cũng rất phổ biến nữa là biện pháp tu từ nhân hóa Với biện pháp này, đối tượng được miêu tả sẽ có hồn hơn, có sự sống và gần gũi với con người hơn
Một đặc điểm quan trọng trong văn miêu tả nữa là, trong văn miêu tả người viết không chỉ đơn thuần dùng văn để miêu tả mà còn phải biết kết hợp với ngôn gữ của văn kể chuyện trong miêu tả Bởi lẽ, vừa tường thuật, vừa tả, vừa kể thì mới tạo cho bài văn có sinh khí và hấp dẫn hơn
1.3 Nghệ thuật miêu tả trong văn học
“Nghệ thuật – đó là kiểu tư duy bằng hình tượng” [18; tr.12] và sáng tạo
nghệ thuật là một quá trình bao gồm cả nhận thức và thể hiện Hoạt động sáng tác
của nhà văn là một hoạt động “chiếm lĩnh” thực tại Nghĩa là, nhà văn sẽ hướng
đến những đối tượng, những phương diện nào đó của đời sống mà mình thực sự
hiểu biết, quan tâm và xúc động, để cho cả trí tuệ và tâm hồn “nung chảy” đối
tượng, lắng nghe cho đến lúc tìm được tiếng nói của riêng mình Khi nhà văn tìm thấy cái thái độ chủ quan của mình đối với cuộc sống, đối với những người khác, đối với sự vật đang nói đến và thể hiện cái thái độ đó bằng những từ ngữ riêng giúp người đọc hiểu và cảm nhận được vấn đề mà mình đang muốn nói đến, lúc đó nhà văn đã tạo nên nghệ thuật, nghệ thuật miêu tả trong văn học
“Nếu như hội họa sử dụng đường nét, màu sắc…; âm nhạc sử dụng âm thanh; điêu khắc sử dụng hình khối… thì văn chương sử dụng ngôn ngữ để miêu tả” [18; tr.11] Vì sử dụng ngôn ngữ nên “bức tranh” mà văn miêu tả “vẽ” nên
không thể được người đọc nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, sờ mó thấy… một cách trực tiếp như với các bức tranh, các bản nhạc hay các pho tượng Người đọc chỉ có thể cảm nhận được tất cả những điều đó một cách gián tiếp thông qua trí tưởng tượng của mình Và chính điều đó đã làm cho miêu tả trong văn chương trở thành
Trang 13một nghệ thuật Nó không đặt ra nhiệm vụ miêu tả sao cho thật chính xác, khách quan càng tỉ mỉ càng tốt mà nó chỉ yêu cầu người viết văn miêu tả phải lựa chọn được các chi tiết đặc sắc sao cho với một số ít chi tiết, đối tượng miêu tả phải được
“hiện lên” một cách sinh động và có hồn
2 Nhân vật văn học
2.1 Khái niệm về nhân vật văn học
2.1.1 Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học
bằng phương tiện văn học
Văn hào Đức W Goethe có nói: “Con người là điều thú vị nhất đối với con
người, và con người cũng chỉ hứng thú đối với con người” [21; tr.73] Và trong văn
học, con người cũng là nội dung quan trọng nhất của văn học Theo Trần Đình Sử:
“Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [21; tr.73]
Khi đọc bất cứ văn bản nào, trước hết người đọc đều bắt gặp những con người được miêu tả, trần thuật cụ thể Đó chính là những nhân vật văn học Có thể đó là những nhân vật có tên như: Thúy Kiều, Kim Trọng, Chí Phèo, Chị Dậu, A Phủ, Mị, Tràng… Có thể đó là những nhân vật không có danh tính nhưng vẫn được biết đến
nhờ cái “tên” mà nhà văn đặt ra một cách ước lệ: người đưa tin trong những vở bi kịch Hi Lạp cổ, thằng bán tơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, chị vợ nhặt trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân Nhân vật còn là những con vật trong truyện cổ tích,
thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những đồ vật Chúng được gọi
là nhân vật khi chúng mang tính cách của con người
Bên cạnh đó, nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau
Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như những nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình Khái niệm nhân vật đôi khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ thấy như một hình tượng nổi bật trong tác
phẩm Chẳng hạn, nói nhân dân là nhân vật chính của Chiến tranh và hòa bình của Lep - Tônxtôi, chiếc quan tài là nhân vật chính của truyện Chiếc quan tài của Nguyễn
Công Hoan,nhưng chủ yếu vẫn là chỉ hình tượng con người trong tác phẩm
Đồng thời, ta có thể hiểu nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật ước lệ,
có những dấu hiệu để ta nhận ra Thông thường, nhân vật được thông qua bằng những cái tên xác định như: Chị Sứ, Nguyệt, Lãm, Độ, Hoàng, Núp… Đó là các dấu hiệu tiểu
sử, nghề nghiệp hoặc đặc điểm riêng như: chàng mồ côi, anh lính, thằng ngốc, hai anh
em sinh đôi… Sâu hơn là các đặc điểm tính cách như: ông tư sản học làm sang, tên đạo đức giả, tên sở khanh, kẻ keo kiệt… Các dấu hiệu, đặc điểm ấy thường được đúc
kết thành các “công thức” giới thiệu nhân vật Các công thức ấy được chứng thực
trong các quan hệ, được bộc lộ, phát triển hoặc điều chỉnh trong các xung đột, và cuối cùng ta có một hình tượng hoàn chỉnh về nhân vật văn học
Nhân vật văn học khác với nhân vật trong hội họa, điêu khắc, nó được bộc lộ trong hành động (hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các ngôn ngữ) và quá trình Nó luôn hứa hẹn những điều sẽ xảy ra, những điều chưa biết trong quá trình giao tiếp Đồng thời, nhân vật văn học còn mang tính chất hồi cố, bởi vì mỗi bước phát triển đều làm nhớ lại công thức nhận biết ban đầu, đều làm cho nó thêm sâu, hoặc điều chỉnh cho nó xác đáng, nhưng không bao giờ bỏ quên hay rời xa cái chuẩn ban đầu
Trang 142.1.2 Nhân vật văn học là phương tiện khái quát hiện thực
Nhân vật là điều kiện thiết yếu đảm bảo cho sự miêu tả thế giới văn học có được chiều sâu và tính hình tượng Một tác phẩm cá biệt có thể vắng nhân vật, nhưng văn học nói chúng thì không thể thiếu nhân vật Khi nhân vật xuất hiện, cái gọi là
“hiện thực cuộc sống” không còn tồn tại như một khái niệm khô khan, trừu tượng nữa
mà trở nên có hình khối rõ ràng, có đủ “ba chiều” để mời gọi người đọc tưởng tượng, khám phá và suy ngẫm Hơn thế, nhân vật nhiều khi trở thành “đối tác” sống động của
độc giả, có thể khơi lên những chủ đề đối thoại thực sự có ý nghĩa về cuộc đời và con người
Đầu tiên, nhân vật có chức năng miêu tả và khái quát các loại tính cách xã hội Với chức năng này, nhân vật đã chứng tỏ được ưu thế của văn học trong việc phản ánh bản chất của đời sống xã hội qua hình tượng mang tính chất kết tinh là tính cách Trong đời sống, ta được tiếp xúc với rất nhiều loại tính cách khác nhau Đây chính là một hiện tượng thú vị của cuộc sống khách quan, đòi hỏi được văn học nghiên cứu và thể hiện Tìm hiểu các nhân vật được xây dựng một cách thành công, trước hết, ta vừa
có cảm tưởng như được gặp lại những con người của đời sống thực, rất rõ nét, sau nữa,
ta nhận thấy nhiều mối tương quan cơ bản và có tính lịch sử của thực tại được tái hiện sinh động trong đó Đó là do bản chất riêng, nổi bật và bền vững của một con người, là sản phẩm của sự kết hợp theo quy luật nhất định vô số yếu tố vừa chủ quan, vừa khách quan
Ngoài việc thể hiện tính cách, nhân vật văn học còn có chức năng tương tự chức năng của một chiếc chìa khóa giúp nhà văn mở cánh cửa bước vào hiện thực rộng lớn, tiếp cận những đề tài, chủ đề mới mẻ Theo một góc nhìn nào đó, có thể nói, đề tài
miền núi trong văn học Việt Nam sau nam 1945 đã “đẻ ra” một loại nhân vật mới mà trước đây chưa từng gặp như: Mỵ, A Phủ, Ính, Sạ… trong Truyện Tây Bắc của Tô
Hoài Nhưng có thể nói ngược lại, chính những nhân vật trên đã tạo nên tiền đề quan trọng giúp nhà văn đi vào khám phá đề tài cuộc sống của các dân tộc vùng cao – một
đề tài lớn còn ít được quan tâm, do vậy mà hứa hẹn nhiều đóng góp có ý nghĩa
Không chỉ thế, nhân vật còn là một hình tượng thẩm mĩ, vì vậy, nhân vật còn có chức năng nữa là góp phần biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới, con người Dĩ nhiên, quan niệm nghệ thuật về thế giới, con người của nhà văn không chỉ được biểu hiện qua nhân vật mà qua tổng hợp toàn bộ các yếu tố hợp thành một tác phẩm hay một sự nghiệp sáng tác Phải thừa nhận rằng, với các nhân vật cụ thể, thái độ đánh giá về các tính cách, về các vấn đề xã hội của nhà văn có được điều kiện để bộc
lộ tốt hơn Cần khẳng định thêm là dù nhân vật được xây dựng theo “mô hình xác
thực” hay theo “mô hình hư cấu”, phần chủ quan của người viết luôn chiếm tỉ trọng
lớn, và nó phải là yếu tố có tính thứ nhất mà ta cần quan tâm tới khi phân tích nhân vật văn học Như vậy, khi bước vào thế giới của tác phẩm văn học, ta sẽ mắc sai lầm nếu
xem xét nhân vật như những con người có thật, rồi đem tiêu chuẩn “giống như thật”
ra để xem xét, đoán giá trị của nó
Sau cùng, ta có thể nói tới chức năng của nhân vật văn học trong việc tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm và cái vẫn thường gọi là cốt truyện Một phần lớn nhờ nhân vật mà kết cấu nhiều tác phẩm đạt được sự thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ và nhiều tiềm năng biểu đạt của các phương tiện ngôn từ được phát lộ, rồi tự chúng trở thành những phương tiện nghệ thuật độc lập, có thể được nghiên cứu riêng như một đối tượng thẩm mĩ chuyên biệt
Trang 152.2 Loại hình nhân vật văn học
Xét trên nhiều phương diện khác nhau thì loại hình nhân vật cũng rất phong phú và đa dạng Về phương diện thể loại: nhân vật trong truyền thuyết, truyện cổ tích, thần thoại… đều mang những đặc điểm khác nhau Nhân vật trong truyền thuyết là những nhân vật có thật trong lịch sử: An Dương Vương, Nguyễn Huệ, chàng Lía, Quận He… được tác giả nhân gian hư cấu thêm những chi tiết làm cho nhân vật trở nên phi thường Nhân vật trong truyện cổ tích có thể là con người hay thế giới loài vật, đồ vật… được nhân hóa mang tính cách như con người Nhân vật
cổ tích thể hiện niềm tin, ước mơ của nhân dân nên thiện và ác là hai giới tuyến được tác giả phân biệt rõ ràng Ngoài ra, nhân vật trong các sáng tác trữ tình cũng không giống nhân vật trong những sáng tác tự sự hay sáng tác kịch Nếu nhân vật trong sáng tác tự sự được thể hiện thông qua hoàn cảnh xuất thân, ngoại hình, diễn biến tâm trạng… thì nhân vật kịch được thể hiện chủ yếu qua ngôn ngữ, hành động, còn nhân vật trong tác phẩm trữ tình được hiện lên qua dòng cảm xúc Sự khác biệt này là do đặc trưng về thể loại mang lại
Bên cạnh sự khác nhau về thể loại, sự khác biệt về phương pháp sáng tác cũng làm cho nhân vật có đặc điểm khác nhau Nhân vật trong chủ nghĩa cổ điển đa phần là giai cấp quý tộc, thượng lưu Họ đại diện cho cộng đồng, sống vì lợi ích của cộng đồng hơn là vì lợi ích của cá nhân Còn nhân vật trong chủ nghĩa lãng
mạn lại để cho tiếng nói của cái “Tôi” lên ngôi, chi phối mọi mặt từ suy nghĩ, tình
cảm, đến hành động Riêng về nhân vật trong chủ nghĩa hiện thực thì lại trở về cuộc sống với bề bộn những vui buồn, những lo toan cơm, áo, gạo, tiền; những bất công trong xã hội đương thời… Chính vì vậy, nhân vật trong chủ nghĩa hiện thực là những con người gần gũi với thế giới của cuộc đời thực
Ngoài những phương diện đã nêu, loại hình nhân vật chủ yếu còn được xem xét, phân biệt ở ba khía cạnh: Kết cấu, ý thức hệ và cấu trúc
Xét về phương diện kết cấu: trong một tác phẩm văn học có thể có một hoặc nhiều nhân vật Riêng trong tác phẩm tự sự và tác phẩm kịch thường có nhiều nhân vật tùy vào vai trò của nhân vật đối với cốt truyện, tùy vào sự xuất hiện thường xuyên hay chỉ xuất hiện thoáng qua, được tác giả miêu tả cụ thể, chi tiết hay chỉ được nhắc đến người ta phân nhân vật thành: nhân vật trung tâm, nhân vật chính, nhân vật phụ
Xét về mặt cấu trúc thì ta lại có: nhân vật chức năng, nhân vật mặt nạ, nhân
vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng Nhân vật chức năng là “cái
tượng trưng cho đời sống tinh thần được hình thức hóa trong sáng tác” [21; tr.77]
Nhân vật này thường xuất hiện phổ biến trong văn học cổ đại và trung đại Các nhân vật này thường không có đời sống nội tâm, các phẩm chất, các đặc điểm của nhân vật là cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối Hơn nữa, sự tồn tại và hoạt động của các nhân vật này chỉ nhằm thực hiện một số chức năng nhất định, đóng vai trò nhất định
Xét về mặt ý thức hệ: về hệ tư tưởng, quan hệ đối với lý tưởng, nhân vật được chia làm hai loại: nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) Có những thể loại nói chung chuyên viết về nhân vật chính diện: tụng ca, sử thi, bi kịch… Lại có những thể loại chuyên thể hiện nhân vật phản diện: thơ châm biếm, truyện cười, hài kịch…
“Nhân vật chính diện là nhân vật mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng cao
đẹp của tác giả, của thời đại” [2; tr.73] Đó là tấm gương để ca ngợi, khẳng định
giá trị của con người Nhìn chung, nhân vật chính diện thường được tác giả đề cao,
Trang 16khi nhân vật này có ý nghĩa mẫu mực cao độ cho lối sống của một tầng lớp, một giai cấp, một dân tộc thì nó được gọi là nhân vật lí tưởng Số lượng nhân vật chính diện trong tác phẩm nhiều, ít khác nhau tùy thuộc vào thể loại và mỗi nhân vật chính diện lại có vai trò và tầm quan trọng khác nhau
Bàn về nhân vật phản diện theo Lê Bá Hán trong Từ điển thuật ngữ văn học thì “nhân vật phản diện là nhân vật văn học mang những bản chất xấu xa, trái với đạo lí và lí tưởng của con người, được miêu tả trong tác phẩm với thái độ chế giễu,
lên án, phủ định” [6; tr.194] Như vậy, các tác giả đã dựa vào hành động, tư tưởng,
đạo đức của từng nhân vật để phân loại nhân vật chính diện và nhân vật phản diện
Các tác giả trong Lí luận văn học – Tập 2 do Phương Lựu chủ biên cũng có cùng ý kiến trên Họ khẳng định: “Nhân vật phản diện là những nhân vật mang
những phẩm chất xấu xa, trái với đạo lí và lí tưởng, đáng lên án và đáng phủ định”
[13; tr.285] Như vậy, theo các ý kiến trên thì nhân vật phản diện có những đặc trưng tính cách trái với nhân vật chính diện
Như vậy, các tác giả đều cho rằng nhân vật phản diện là nhân vật đối lập, trái ngược hoàn toàn với nhân vật chính diện Tuy nhiên, các tác giả cũng thống nhất rằng: việc phân loại nhân vật chính diện và nhân vật phản diện chỉ có tính chất tương đối chứ không hoàn toàn tuyệt đối Sự phân loại này còn phụ thuộc vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau Đặc biệt là trong văn học cận hiên đại thì sự phân biệt này càng có nhiều phức tạp, nhân vật phản diện không hẳn hoàn toàn có những
phẩm chất xấu và ngược lại Theo Bakhtin, nhân vật tiểu thuyết “cần phải thống
nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn đặc điểm phản diện, vừa
có cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc” Do đó
việc phân loại nhân vật chính diện và nhân vật phản diện có trường hợp chí mang tính ước lệ, tương đối Khi xếp nhân vật vào phạm trù nào, chủ yếu là xét cái khuynh hướng và phẩm chất cơ bản của nó
Nhìn chung, những sự phân biệt loại hình nhân vật này còn rất tương đối, loại hình này bao hàm yếu tố của loại kia Các loại hình nhân vật này tuy phân bố không đồng đều, nhưng vẫn có thể song song tồn tại trong một nền văn học, một thời kì văn học thậm chí một tác phẩm văn học Chủ yếu là chúng ta cần thấy được nét ưu trội trong cấu trúc của từng loại Nhà văn sáng tạo ra nhân vật là để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống Cho nên, nhân vật nhiều lúc là bóng dáng của tác giả, phát ngôn của nhân vật chính là phát ngôn của tác giả Chúng ta tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu tác giả Bởi tình cảm, cái nhìn, suy nghĩ của nhân vật trong tác phẩm cũng chính là cái nhìn, suy nghĩ của tác giả đối với cuộc đời
2.3 Đặc điểm của nhân vật văn học
Trước hết ta thấy, nhân vật văn học không phải là bản sao của con người ngoài đời Nó là một hiện tượng, một đơn vị nghệ thuật, được sáng tạo theo những ước lệ của văn học Ngay cả khi nhà văn xây dựng nhân vật khá sát vào nguyên mẫu, thậm chí giữ lại cả danh tánh của nguyên mẫu thì ta cũng không thể đồng nhất hai hiện tượng đó lại với nhau
Mỗi nhân vật văn học thường có một chùm dấu hiệu khu biệt để người đọc
có thể nhận biết dễ dàng Dấu hiệu đầu tiên là cái tên của nó hay cái “tên” ước định
mà tác giả hoặc người kể chuyện tạm đặt Những dấu hiệu khác là đặc điểm diện mạo, tiểu sử, tính cách, lời nói, hành động và số phận nhân vật Chính nhờ có chùm dấu hiệu khu biệt này mà ta có thể tính, đếm được số lượng nhân vật có tróng tác phẩm, cũng như có thể tách riêng từng nhân vật ra để phân tích Một điều đáng chú
ý là các dấu hiệu xác định đường nét riêng của nhân vật luôn có mối quan hệ chặt
Trang 17chẽ với nhau, xoay quanh điểm trung tâm là tính cách Ngoài đời, giữa cái tên của một con người với đặc điểm tính cách con người có thể không có mối liên hệ tất yếu Nhưng trong tác phẩm văn học, đôi khi nhà văn làm cho chúng trở thành tất
yếu Trong truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, những cái
tên nhân vật như: Lãm, Nguyệt, Tính, Nguyệt lão không hề được gọi ra một cách ngẫu nhiên Chúng báo hiệu những đặc điểm riêng của tính cách cũng như chức năng cụ thể của từng nhân vật mà tác giả sẽ miêu tả chi tiết hoặc làm nổi bật trong tác phẩm
Bên cạnh việc đặt tên, khi xây dựng nhân vật, nhà văn cũng hết sức chú ý làm sáng tỏ quan hệ logic giữa các phương diện như: hành xử, nói năng, số phận, tính cách Nếu không đảm bảo logic đó, nhân vật văn học rất dễ rơi vào tình trạng giả tạo, khó được độc giả chấp nhận
Ngoài ra, nhân vật văn học còn có những điểm đặc thù, phân biệt rất rõ với nhân vật được thể hiện trong một số loại hình nghệ thuật khác như: hội họa, điêu khắc Văn học là nghệ thuật ngôn từ và hình tượng văn học là hình tượng phi vật
thể Bởi vậy muốn “thấy” được nhân vật văn học, người đọc buộc phải phát động
hết mọi khả năng liên tưởng, tưởng tượng của mình Xem một bức tranh có nhân vật, hay một bức tượng người, hoạt động liên tưởng và tưởng tượng của người xem diễn ra khá thuân lợi vì hình ảnh nhân vật có tính chất hữu hình, đập ngay vào mắt Trong giây lát, ta có thể lĩnh hội tính toàn vẹn của nó Ở tác phẩm văn học, câu chữ
được triển khai đều đặn theo thời gian, vì thế “chân dung” nhân vật cũng chỉ được
hiện hình dần trong tâm trí độc giả Dĩ nhiên, trong lúc đọc, độc giả vừa phải nhớ
những chi tiết miêu tả nhân vật mà mình đã “đi qua” nằm rải rác trong tác phẩm,
vừa phải biết ráp nối, xâu chuỗi chúng lại với nhau để có được một ý niệm hoàn chỉnh về nhân vật Chính do đặc điểm này của hoạt động nhận thức về nhân vật văn học, người ta nói rằng nhân vật văn học là loại hình nhân vật quá trình Điều cần nói thêm là sự hình dung về một nhân vật cụ thể ở từng người là không giống nhau
Từ điểm này, người ta có thể nghĩ rằng “sức tải” ý nghĩa, tư tưởng của một nhân vật văn học về cơ bản phong phú hơn “sức tải” ý nghĩa, tư tưởng của một nnhân
vật trong tác phẩm thuộc nghệ thuật tạo hình
2.4 Tính cách nhân vật văn học
Tính cách là một hiện tượng lịch sử xã hội, xuất hiện trong hiện thực khách
quan Theo Lại Nguyên Ân trong quyển 150 thuật ngữ văn học “tính cách là hình ảnh con người được phát họa đến mức đủ rõ và đủ xác định Thông qua đó làm bộc
lộ một kiểu ứng xử” [1; tr.333] Trong thực tế, có bao nhiêu con người thì có bấy
nhiêu tính cách Trong văn học cũng vậy, mỗi nhân vật có một tính cách khác nhau
Nó là dấu ấn cá nhân của mỗi con người, là đặc điểm để phân biệt người này với người khác, nhân vật này với nhân vật khác Tính cách là biểu hiện ở phương thức,
hành vi ổn định, lặp đi lặp lại nhiều lần Chẳng hạn như Tào Tháo trong Tam quốc
diễn nghĩa của La Quán Trung là một con người đa nghi, gian hùng, hết lần này
đến lần khác sự đa nghi khiến hắn giết lầm những trung thần nhưng hắn vẫn khẳng
định “thà giết lầm, còn hơn bỏ sót”
Đồng thời, ta còn thấy, tính cách nhân vật văn học thường mang tính ước lệ Tính cách đó có thể được miêu tả đơn điệu, phiến diện hay nhiều mặt, phong phú
Nó có thể được lí tưởng hóa hoàn toàn như cô Tấm trong Tấm Cám, Nguyệt trong
Mảnh trăng cuối rừng… Hoặc khắc họa như những con người vốn có trong đời
sống như chị Dậu trong Tắt đèn, Chí Phèo trong Chí Phèo… Tính cách nhân vật
văn học có thể là một kiểu bắt chước máy móc của anh con rễ đối với bố vợ, hoặc
Trang 18keo kiệt đến mức thà chết chứ không chịu mất ba quan, hoặc ứng xử đầy mâu thuẫn như những nhân vật trong những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa
Bên cạnh đó, tính cách nhân vật còn được thể hiện qua cách hành động, giao tiếp, suy nghĩ của nhân vật Việc xây dựng các xung đột, miêu tả ngoại hình hay hành động, khắc họa nội tâm, lựa chọn ngôn ngữ là những phương tiện không thể
thiếu để khắc họa tính cách Theo Lê Bá Hán trong Từ điển thuật ngữ văn học thì
“Chỉ có một sức sáng tạo tài năng, vốn sống phong phú, phát hiện sâu sắc mới thực
sự làm cho tính cách văn học có được sức sống trên trang sách” [6; tr.346]
Trong tác phẩm văn học, tính cách có một vai trò hết sức quan trọng đối với
cả nội dung và hình thức của tác phẩm Đối với nội dung tính cách có nhiệm vụ cụ thể chủ đề, tư tưởng tác phẩm hay nói cụ thể hơn, thông qua sự hoạt động và mối quan hệ của tính cách, người đọc sẽ đi đến một sự nhận thức khái quát về mặt tư tưởng Tính cách cũng là nhân tố chủ yếu tạo nên diễn biến của quá trình phát triển cốt truyện Cũng qua hệ thống tính cách, người đọc có thể đánh giá khả năng biểu hiện nội dung của các yếu tố hình thức: ngôn ngữ, kết cấu, những quy luật loại thể
Nói chung tính cách được hiểu như là đặc điểm của nhân vật, khuynh hướng
xã hội và là quy luật hành động của nhân vật Đồng thời tính cách văn học còn là
“một hiện tượng khái quát nghệ thuật, thể hiện cách hiểu biết, cách đánh giá và lí
tưởng của tác phẩm” [13; tr.345]
3 Phân loại hệ thống nhân vật trong Truyện Kiều
Trong quyển Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm giáo sư Đặng Thanh Lê đã thống kê: “Trong Truyện Kiều có khoảng ba mươi nhân vật, đó là tác phẩm có số
lượng nhân vật cao nhất của văn học cổ Việt Nam” [11; tr.208] Điều đó hoàn toàn
chính xác bởi, khi so sánh Truyện Kiều với các truyện cổ tích và các truyện thơ Nôm khác, chúng ta thấy Truyện Kiều và Phạm Công Cúc Hoa là hai tác phẩm đứng đầu với ba mươi nhân vật kế đó đến Nhị Độ Mai với hai mươi nhân vật,
Thạch Sanh với mười nhân vật, Hoàng Trù, Phan Trần, Sọ Dừa với bảy nhân vật,
và Cây khế với hai nhân vật
Theo nhà nghiên cứu Đặng Thanh Lê, khi thống kê trong Truyện Kiều có ba
mươi nhân vật thì việc thống kê đó chỉ có ý nghĩa tương đối do quan niệm thống kê Bởi vì nhân vật được thống kê là những nhân vật trực diện xuất hiện Ba mươi nhân vật trực diện xuất hiện đó được nhà nghiên cứu Đặng Thanh Lê sắp xếp theo hai hệ thống chính đó là hệ thống nhân vật chính diện: Vương Ông, Vương Bà, Thúy Kiều, Thúy Vân, Từ Hải, Kim Trọng, Đạm Tiên, Mã Kiều , mụ quản gia, sư Giác Duyên,
sư Tam Hợp Hệ thống nhân vật phản diện gồm: Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư, Hoạn Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh, Hồ Tôn Hiến, Đạo Cô, thằng bán tơ, mụ mối, cha Thúc Sinh, Ưng Khuyển, quan lại, Tôn Thổ Quan Sự phân chia này theo
bà Đặng Thanh Lê là “dựa trên chức năng chủ yếu trong tương quan với nhân vật
chính và có ý nghĩa tương đối” [11; tr.208]
Ngoài việc phân chia nhân vật Truyện Kiều ra hai tuyến chính diện và phản diện, bà Đặng Thanh Lê còn quan niệm trong Truyện Kiều còn có tuyến nhân vật thứ ba – tuyến nhân vật trung gian Bà cho rằng: “Có trường hợp nhân vật có thể
sắp xếp được thuộc cả hai loại vị trí chức năng một và hai” [11; tr.208] Bởi theo
bà, trong Truyện Kiều có những nhân vật không hoàn toàn tuân thủ theo sự phân
chia đó mà có thể có nhân vật biểu hiện tính cách trung gian Ví dụ điển hình là nhân vật Thúc Sinh Xếp Thúc Sinh vào hệ thống nhân vật chính diện khi người ta nhìn nhận công lao của chàng đối với Thúy Kiều bởi Thúc Sinh là ân nhân của Thúy Kiều, đã chuộc nàng ra khỏi lầu xanh Thế nhưng, không thể xếp Thúc Sinh
Trang 19vào hệ thống nhân vật chính diện khi nhân vật này thuộc loại khách làng chơi, đi tìm cuộc sống hưởng thụ ở chốn lầu xanh Điều đó trái với quan niệm của nhân dân
về mẫu người chính diện Mặt khác, Thúc Sinh là người gián tiếp đẩy Thúy Kiều vào lầu xanh lần thứ hai khi chàng trở nên nhu nhược trước Hoạn Thư
Như vậy, ta thấy trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã xây dựng nhiều nhân vật
có tính cách khác nhau, nằm trong những hệ thống khác nhau, hoạt động trong các giới hạn phạm vi khác nhau… Tất cả đã góp phần tạo nên giá trị tác phẩm Trên cơ
sở đó, tác giả đã tập trung vào việc “trình bày tính cách và vận mệnh của nhân vật
Thúy Kiều đồng thời khắc họa rõ nét những hình tượng nhân vật đó” [11; tr.216]
Người có cùng quan điểm với nhà nghiên cứu Đặng Thanh Lê là giáo sư Lê
Đình Kỵ Trong Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực giáo sư Lê Đình Kỵ cũng phân chia nhân vật Truyện Kiều theo hai hệ thống chính diện và phản diện Thế nhưng, cách phân chia của ông có phần cụ thể hơn, bởi ông cho rằng: “Trong
Truyện Kiều không chỉ có hai loại nhân vật đại diện cho chính nghĩa và gian tà
đưa ra từ đầu theo lối tiên nghiệm chủ nghĩa Cũng là nhân vật phản diện mà Tú
Bà, Sở Khanh, Mã Giám Sinh lập thành một tuyến nhân vật, song song với tuyến nhân vật khác là Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến, Thúy Kiều là nhân vật chính diện nhưng cũng không cùng tuyến với Kim Trọng” [10; 208] Như vậy, trong hệ thống chính
diện và phản diện, ông Lê Đình Kỵ lại chia theo tuyến nhỏ hơn Và chính điều này
đã giúp ông đi sâu vào tìm hiểu từng nhân vật, làm nổi bật tính chất hiện thực trong mỗi nhân vật đó Bên cạnh đó, ông cũng cùng ý kiến với bà Đặng Thanh Lê khi quan niệm về nhân vật trung gian bởi, theo ông Thúc Sinh cũng là nhân vật thuộc
tuyến này Ông cho rằng: “Trong người Thúc Sinh có cái mầm Kim Trọng lẫn Sở
Khanh… hai cái mầm trái ngược ấy dựa vào nhau mà làm nên Thúc Sinh Tùy theo từng hoàn cảnh như thế nào mà cái này sẽ lấn át cái kia” [10; tr.264]
Tóm lại, ông Lê Đình Kỵ và bà Đặng Thanh Lê đều dựa trên “sự tương
quan” với nhận vật chính để phân loại nhân vật Truyện Kiều
Ở khuynh hướng thứ hai, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử quan niệm “Các
nhân vật trong Truyện Kiều đều được miêu tả theo quan niệm đấng, bậc của ý thức
hệ phong kiến Kiều là “bậc bố Kinh”, là “bậc tài danh”, Từ là “đấng anh hùng”,
Đạm Tiên là “đấng tài hoa”, …Các nhân vật phản diện là quân vô loài Đối với
nhân vật “đấng, bậc” thì cảm nhận và miêu tả theo phong cách trang trọng, tao nhã Đối với “quân vô loài” thì tả theo bút pháp tả thực” [20; tr.37] Như vậy, ta
thấy cách phân chia của ông Trần Đình Sử cũng gồm hai tuyến: một bên là “đấng
bậc”, một bên là “quân vô loài” Ta thấy cách phân chia hệ thống nhân vật của nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử rất mới mẽ Tuy nhiên, đó chỉ là những gợi ý ban đầu chứ thật sự là một phương pháp nghiên cứu được phổ biến rộng rãi Vì vậy, dù là một hướng nghiên cứu mới, giúp chúng ta phát hiện ra những cái độc đáo trong nghệ
thuật xây dựng nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng chúng ta vẫn
không thể xem đó là một phương pháp tối ưu được
Riêng cách phân chia hệ thống nhân vật của giáo sư Lê Đình Kỵ và Đặng Thanh Lê tuy là phương pháp cổ điển nhưng nó lại có tầm khái quát rộng và là hướng nghiên cứu cơ bản nhất Hướng nghiên cứu này giúp ta phân biệt rõ ràng hai
tuyến nhân vật chính diện và phản diện trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Qua đó
cũng cho ta thấy rõ thái độ yêu ghét của tác giả với mỗi nhân vật Nhưng nhược
điểm của cách phân chia này là như đã trình bày, nhân vật trong Truyện Kiều rất
phong phú, đa dạng nên những nhân vật mang tính chất trung gian rất khó phân loại Tuy nhiên, cách phân chia nhân vật theo hướng nghiên cứu này vẫn đóng vai trò rất
Trang 20quan trọng trong việc tiếp cận Truyện Kiều, giúp người viết tìm hiểu về nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều một cách có hệ thống
hơn
Như vậy, cho đến nay hướng nghiên cứu nhân vật Truyện Kiều theo tuyến
nhân vật chính diện và phản diện của giáo sư Lê Đình Kỵ và giáo sư Đặng Thanh
Lê là hướng nghiên cứu có tầm phổ quát Người viết sẽ dựa trên hướng nghiên cứu này để thống kê từ đó tìm hiểu sâu hơn về nghệ thuật miêu tả tính cách từng nhân
vật nhằm rút ra được Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong
Truyện Kiều Ở đây, người viết tập trung hướng nghiên cứu nghệ thuật miêu tả tính
cách của các nhân vật chính diện: Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúy Vân, Từ Hải và các nhân vật phản diện: Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư Người viết
hy vọng qua việc nghiên cứu này sẽ khái quát được nghệ thuật miêu tả tính cách
nhân vật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều để góp phần tạo nên những kiến thức
bổ ích cho công tác giảng dạy sau này
4 Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của Nguyễn Du trong
nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ và nội tâm nhân vật
4.1.1 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua ngoại hình
Ngoại hình nhân vật chính là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm những yếu tố như: hình dáng, trang phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo… Nói chung, ngoại hình là những gì liên quan đến con người mà chúng ta nhìn thấy được Đối với Nguyễn Du, khi miêu tả nhân vật thì ngoại hình luôn là yếu tố quan trọng được ông đặc biệt quan tâm bởi đó cũng chính là cơ sở để bộc lộ tính cách nhân vật
Nếu như trong văn học hiện đại, khi miêu tả ngoại hình nhân vật, các tác giả thường hướng đến những chi tiết chân thực, cụ thể, sinh động thì trong văn học cổ điển các tác giả lại hướng tới những chi tiết mang tính ước lệ, tượng trưng, thường chỉ điểm sơ qua một vài nét tiêu biểu Và Nguyễn Du cũng là một trong những tác
giả chịu ảnh hưởng của khuynh hướng này Với Truyện Kiều, ông đã phác họa nên
những nhân vật với ngoại hình riêng biệt Chính vì vậy mà ngoại hình của các nhân
vật trong Truyện Kiều đã được ông thể hiện rất sinh động, mỗi nhân vật đều hiện
lên với diện mạo không lầm lẫn với ai Từ đó, làm cho tính cách nhân vật được bộc
lộ một cách cụ thể, sinh động nhất Tuy nhiên, Nguyễn Du vẫn có sự cách tân, sáng tạo độc đáo, ông đã thổi vào đó khá nhiều chất liệu của đời sống Khi miêu tả ngoại hình nhân vật, Nguyễn Du đã lựa chọn và tìm ra những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật giúp cho người đọc dễ dàng nắm bắt đựoc những nét riêng biệt, cá thể của nhân vật Đồng thời, nắm bắt được những đặc điểm ẩn bên trong của tính cách nhân vật Đây cũng chính là biểu hiện sự thống nhất giữa hình thức bên ngoài với tính cách bên trong của nhân vật góp phần tạo nên phong cách riêng của Nguyễn
Du
Nói chung, với nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong Truyện Kiều thì
phương thức miêu tả ngoại hình là một yếu tố rất quan trọng nhằm góp phần bộc lộ tính cách nhân vật Đồng thời, cũng giúp cho người đọc nắm bắt được dễ dàng những nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, giúp cho việc cảm thụ tác phẩm rõ ràng hơn, sâu sắc hơn
Trang 214.1.2 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua hành động
Có thể nói, nhân vật trong Truyện Kiều thường được miêu tả nhiều nhất
thông qua hành động Ở đây, hành động chính là những việc làm cụ thể của nhân vật trong quan hệ ứng xử với các nhân vật khác, trong những tình huống khác nhau nhằm thúc đẩy sự chuyển biến của cốt truyện Với Nguyễn Du, hành động nhân vật cũng chính là một trong những phương diện quan trọng nhằm thể hiện tính cách của nhân vật
Ta thấy, khi miêu tả hành động nhân vật, Nguyễn Du thường kết hợp với những biểu hiện nội tâm Vì khi muốn làm một việc gì đó, bao giờ ông cũng để cho nhân vật suy nghĩ hoặc cần phải có một động cơ nào đó, có như thế thì hành động
đó mới bộc lộ được tính cách của nhân vật Dùng nội tâm để lí giải cho hành động,
sử dụng hành động dể làm sáng tỏ nội tâm, cả hai yếu tố này đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bộc lộ rõ hơn tính cách của từng nhân vật Các hành động của
nhân vật trong Truyện Kiều cũng được ông thể hiện một phần qua ngôn ngữ người
kể chuyện hoặc qua ngôn ngữ của các nhân vật khác Ông đã để cho nhân vật của mình hành động và thông qua những hành động đó nhân vật sẽ tự bộc lộ tính cách của mình Đó là những hành động đã được ông miêu tả thật nhất quán, xuyên suốt trong tác phẩm, chính điều đó đã tạo nên giá trị nghệ thuật cho tác phẩm
4.1.3 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ
Xét về ngôn ngữ thì đây cũng được xem là một yếu tố không kém phần quan
trọng trong nghệ thuật miêu tả tính cách của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Trong
tác phẩm, ngôn ngữ chính là lời nói của nhân vật được thể hiện ở hình thức đó là: các nhân vật tự đối thoại với nhau Thông qua những lời nói đó, tính cách nhân vật
sẽ được bộc lộ rất cụ thể và sinh động Có thể nói, trong Truyện Kiều ngôn ngữ có
một căn cứ quan trọng để biểu đạt phẩm chất và tính cách của các nhân vật Nó đóng vai trò chủ yếu góp phần xây dựng nên một hình tượng nhân vật đậm nét, mang tính chất riêng biệt
Có nhiều cách biểu hiện ngôn ngữ của nhân vật Trong Truyện Kiều,
Nguyễn Du đã dùng cách biểu hiện ngôn ngữ nhân vật thông qua ngôn ngữ của chính mình với tư cách là người kể chuyện nhưng đặc sắc nhất vẫn là qua ngôn ngữ đối thoại trực tiếp của các nhân vật Mỗi nhân vật khi đối thoại đều có cách nói riêng của mình, không ai giống ai, đó chính là nét riêng tạo nên sự cá biệt cho tính cách của từng nhân vật Ta thấy, mỗi ngôn ngữ của các nhân vật được ông chọn lọc
và sử dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh và tính cách riêng của từng nhân vật Đây là một yếu tố quan trọng góp phần đem đến sự thành công cho nghệ thuật miêu
tả tính cách nhân vật của ông trong Truyện Kiều
4.1.4 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua nội tâm
Nói đến nội tâm là chỉ toàn bộ cuộc sống bên trong của nhân vật Đó là những tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác; những phản ứng tâm lí của nhân vật trước cảnh ngộ, tình huống mà nhân vật chứng kiến hoặc thể hiện trên bước đường đời của mình Đi vào xây dựng hình tượng nhân vật thì Nguyễn Du cũng đã không
bỏ qua việc khám phá và thể hiện đời sống nội tâm của nhân vật Trong Truyện
Kiều ta luôn bắt gặp những con người cảm nghĩ, đây là một phương thức chủ yếu
được Nguyễn Du chú trọng khai thác Bằng ngòi bút độc đáo của mình Nguyễn Du
đã miêu tả sinh động, đa dạng và sâu sắc đời sống nội tâm của nhân vật, qua đó làm nổi bật những nét tính cách mà nhân vật đó thể hiện trong đời sống Bao giờ ông cũng đặt lên hàng đầu việc soi rọi vào nội tâm nhân vật Vì thế việc miêu tả nội tâm
Trang 22nhân vật đã trở thành một yếu tố đặc biệt quan trọng để làm bộc lộ tính cách của
các nhân vật trong Truyện Kiều
4.2 Nhận xét
Có thể nói, các phương thức thể hiện tính cách nhân vật trong Truyện Kiều rất
đa dạng và phong phú bởi việc miêu tả tính cách nhân vật “không phải đơn giản chỉ là
xếp đặt lại cái khuôn, vuốt nặn lại một số hình ảnh với vài tiểu xảo kĩ thuật” [20; tr.71]
mà nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật là “sự sáng tạo bởi những câu chữ tài tình
không bao giờ nảy ra ở một cái khuôn sẵn” [20; tr.71] Đó là cả một nghệ thuật để
Nguyễn Du khẳng định tài năng cũng như những sáng tạo của mình
Trong Truyện Kiều các nhân vật đều được miêu tả bằng những chi tiết Theo Hêghen: “Chi tiết như những con mắt chỗ những cửa sổ để người ta nhìn vào nhân
vật” [20; tr.75] Và Nguyễn Du đã dùng những chi tiết như ngoại hình, hành động,
ngôn ngữ, nội tâm để thông qua đó làm nổi bật lên tính cách của từng nhân vật Bằng cách kết hợp một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt các chi tiết đó Nguyễn Du đã làm cho chúng tác động lẫn nhau, không thể tách rời nhau, từ đó làm nổi bật lên tính cách của từng nhân vật Để làm được điều đó, thiết nghĩ, Nguyễn Du phải có một sự hiểu biết sâu sắc, đầy đủ và chính xác về những nhân vật mà mình sẽ xây dựng trong tác phẩm Đồng thời, ông cũng phải có tài năng thật sự, đó là một yếu tố không thể thiếu trong việc đem đến sự thành công vượt bật trong nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật của
ông trong Truyện Kiều
Trang 23Chương 2: NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÍNH CÁCH NHÂN VẬT
CỦA NGUYỄN DU TRONG TRUYỆN KIỀU
1 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua ngoại hình
Có thể nói, nét cơ bản nhất để phân biệt giữa người này với người khác là nhìn vào diện mạo, trang phục, cử chỉ… của mỗi người Nó sẽ giúp ta phân biệt được
một cách dễ dàng giữa người này với người kia Dân gian cũng hay nói: “Nhìn mặt
bắt hình dong”, nghĩa là nhìn một người từ bên ngoài ít nhiều ta sẽ đoán được tính
cách, phẩm chất của người đó Nói như vậy để chúng ta thấy được rằng, vẻ bề ngoài của một người là rất quan trọng, đồng thời, nó cũng mang một yếu tố quyết định nào
đó khi người khác nhìn vào Trong đời sống xã hội thì như vậy, còn trong tác phẩm văn học thì sao? Văn học phản ánh cuộc đời và từ cuộc đời mà có, vì thế, trong tác phẩm văn học khi xây dựng hình tượng nhân vật nhà văn cũng đặc biệt chú ý đến ngoại hình của nhân vật, nhằm cá thể hóa nhân vật, làm cho nhân vật mang những nét riêng Vì vậy, ngoại hình được xem là một phương diện không kém phần quan trọng trong việc khắc họa hình tượng nhân vật Bởi thông qua ngoại hình, nhà văn không chỉ tạo cho nhân vật những nét riêng, không lẫn lộn với ai, giúp người đọc phân biệt các nhân vật dễ dàng mà thông qua đó nhà văn còn bộc lộ nét tính cách riêng của từng nhân vật
Qua khảo sát người viết nhận thấy, trong Truyện Kiều có khoảng tám nhân vật
được Nguyễn Du miêu tả ngoại hình Nhân vật đầu tiên mà Nguyễn Du miêu tả là Thúy Vân – một thiếu nữ mang vẻ đẹp phúc hậu
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.(19 – 22)
Bằng bút pháp tượng trưng, Nguyễn Du đã cực tả vẻ đẹp của Thúy Vân – một
vẻ đẹp được xem là khuôn mẫu cho vẻ đẹp của người phụ nữ thời phong kiến Từ
nhàng, thanh thoát thể hiện được phong thái ung dung, đúng mực của Thúy Vân, làm toát lên vẻ đẹp sang trọng, quý phái, hiền thục của nàng Cùng với hai từ thuần Việt
“đầy đặn” và “nở nang” , khuôn mặt Thúy Vân hiện lên là
một khuôn mặt trái xoan, tròn trịa, xinh xắn tạo nên sự cân đối hài hòa Trên khuôn
mặt “đầy đặn” đó lại nổi lên nét cong cong hình bán nguyệt của đường lông mày
“nở nang” càng làm cho khuôn mặt Thúy Vân thêm phần rạng rỡ, gợi cho
người đọc liên tưởng đến sự tròn đầy viên mãn, đẹp như ánh trăng rằm Đồng thời,
Trang 24theo quan niệm của ông cha ta ngày xưa thì “Cái răng cái tóc là gốc con người”
Nghĩa là, khi nhìn vào ngoại hình của một người thì hàm răng và mái tóc là hai yếu
tố rất quan trọng đế đánh giá một con người Và Nguyễn Du cũng đã dựa vào tiêu
chuẩn ấy để miêu tả Thuý Vân Miệng nàng cười được Nguyễn Du ví như “hoa” và
ẩn bên trong là những chiếc răng trắng đều như “ngọc” Như ta đã biết thì “hoa” và
“ngọc” đều tượng trưng cho cái đẹp, cái quý và Nguyễn Du đã dùng nó để miêu tả
vẻ đẹp của Thuý Vân thì không còn gì thích hợp hơn Đâu chỉ thế, Thúy Vân còn có một mái tóc mà mây cũng phải thua, một làn da mà tuyết cũng phải nhường Đứng
trước sắc đẹp của Thúy Vân, thiên nhiên cũng phải cúi nhường, “mây” và “tuyết” đã
bằng lòng chấp nhận sự thua kém của mình đối với Thúy Vân, nghĩa là vẻ đẹp của nàng đã được xã hội và tạo hóa thừa nhận
Chỉ với bốn câu thơ, Nguyễn Du đã vẽ nên chân dung Thúy Vân từ khuôn mặt, làn da, mái tóc, nụ cười, giọng nói… tất cả đều đoan trang, dịu dàng Như vậy, khi miêu tả ngoại hình của Thúy Vân, Nguyễn Du đã quy định cho tính cách của nàng
Đó là một người đoan trang, thùy mị, trang nhã, quý phái, có một tâm hồn trong trắng, cao thượng Một vẻ đẹp như thế, thiết nghĩ không ai có thể sánh kịp Thế nhưng, đó lại chỉ là cái nền để Nguyễn Du tô vẽ, làm bật lên vẻ đẹp của Thúy Kiều
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.(23 – 26)
Thúy Kiều đẹp, nhưng vẻ đẹp của nàng lại khác hẳn với cô em gái Nếu Thúy
Vân càng “trang trọng”, “đoan trang” bao nhiêu thì Thúy Kiều càng “sắc sảo”,
“mặn mà” bấy nhiêu Từ “sắc sảo” gợi lên sự lanh lợi, tinh khôn, còn từ
“mặn mà” thể hiện sự đậm đà, mạnh mẽ, đa tình Nhưng tính cách đa tình của Kiều không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là đa tình trong tình yêu mà cần được hiểu theo nghĩa rộng, đó là sự thiết tha với tình cảm, với cuộc sống đặc biệt là với những người thân Không tô vẽ chi tiết, Nguyễn Du chỉ tả Kiều bằng một nét vẽ duy
nhất “Làn thu thuỷ nét xuân sơn” Chỉ với một câu thơ thế nhưng Kiều lại hiện lên
không chỉ đẹp mà còn rất có hồn Có lẽ vì muốn nhấn mạnh hơn nữa cái tính cách đa sầu đa cảm của Kiều nên khi miêu tả vẻ đẹp của nàng Nguyễn Du chỉ tập trung khắc
hoạ đôi mắt Nguyễn Du rất có lí, vì người xưa thường quan niệm rằng: “Đôi mắt là
cửa sổ tâm hồn” Cụm từ “làn thu thuỷ” cho thấy đôi mắt Kiều trong
như nước mùa thu, trên cái làn nước ấy có cả sóng xao động, và “nét xuân sơn”
cho thấy chân mày nàng đẹp như dáng núi mùa xuân Không cần dài dòng, chỉ với một câu thơ Nguyễn Du đã cho ta thấy vẻ đẹp của Kiều vượt bật, hơn
hẳn vẻ đẹp của Thuý Vân, và rồi ông khẳng định: “So bề tài sắc lại là phần hơn”
Trang 25Chính cái “phần hơn”, cái đẹp lộng lẫy, rực rỡ về tài sắc mà Kiều đã bị thiên nhiên
“ghen” vì “thua thắm”, “hờn” vì “kém xanh” Hai từ “ghen” , “hờn”
với cấu tạo đều có bộ tâm chỉ ý cho thấy thiên nhiên đã đem lòng đố kỵ sắc đẹp
và tài hoa của nàng Như vậy, Nguyễn Du đã miêu tả được nhan sắc rực rỡ của Thúy
Kiều – một vẻ đẹp mà thiên nhiên cũng phải ghen ghét chớ không còn là “thua”,
“nhường” nữa
Bên cạnh đó, ngoại hình của Thúy Kiều còn được Nguyễn Du miêu tả với những thay đổi khác nhau gắn liền với sự thay đổi của vận mệnh và sự trưởng thành của tính cách Khi gặp Thúc Sinh ở lầu xanh là lúc Kiều mang sức hấp dẫn, quyến rũ,
nàng đã đem theo sóng gió cuộc đời vào nhan sắc của mình vì “Ngày xuân càng gió,
càng mưa, càng nồng” Đến đây ta thấy ngòi bút Nguyễn Du thật táo bạo khi miêu tả
vẻ đẹp hình thể của Thúy Kiều
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên (1312 – 1313)
Ngoại hình của Thúy Kiều được nhìn qua con mắt của Thúc Sinh với những
nét thật cụ thể qua hai từ “rõ ràng” và “dày dày” nằm ở vị trí đầu câu thơ Từ “rõ
ràng” vừa thể hiện nét tâm lí ngỡ ngàng, thích thú của anh chàng Thúc
Sinh, vừa tạo cho câu thơ âm hưởng mạnh mẽ Kết hợp với từ láy “dày dày”
, Nguyễn Du đã phô bày được vẻ đẹp thân thể của nàng, cái vẻ đẹp đó “trong” như “ngọc”, “trắng” như “ngà” và Nguyễn Du đã ví nó như một “tòa thiên nhiên”
Chính vì miêu tả như vậy mà hai câu thơ này của Nguyễn Du đã làm cho nhiều nhà nho lúc bấy giờ phải ngoảnh mặt quay đi Có thể nói, Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp
của Kiều bằng tất cả niềm ưu ái, bằng tất cả mọi vẻ đẹp Đó là một vẻ đẹp “sắc sảo”,
vừa mạnh mẽ, lại vừa trầm ấm Vẻ đẹp của Kiều không lạ vì nó nằm trong hệ thống
vẻ đẹp của các tài tử giai nhân trong truyện Nôm truyền thống Đó là vẻ đẹp của Dao Tiên
Dưới trăng lộng lẫy một cành mẫu đơn, Mặn mà chìm cá, rơi nhàn
(Truyện Hoa Tiên – Nguyễn Huy Tự)
Hay vẻ đẹp của người cung nữ
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn, Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ say
(Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều)
Tuy nhiên, vẻ đẹp của Dao Tiên, của người cung nữ chỉ làm cảnh vật say đắm, ngẩn ngơ còn vẻ đẹp của nàng Kiều lại làm cho thiên nhiên phải ghen ghét Rõ ràng cái đặc sắc của Nguyễn Du không phải ở chỗ vẽ ra trước mắt người đọc một giai nhân tuyệt thế vì điều này đã quá quen thuộc trong văn chương truyền thống Cái hay của Nguyễn Du là khi miêu tả ngoại hình của Thuý Kiều, ông đã chú ý khắc họa tính cách thông minh, tài trí, thanh quý, sắc tài, và rất mực khôn ngoan của nàng
Khi miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều và Thúy Vân Nguyễn Du đã tả rất đúng, rất đặc trưng, sắc thì sắc nhất, tài thì tài nhất Đến lượt Kim Trọng Nguyễn Du cũng
Trang 26không qua loa, phớt lờ, ông đã đi tìm những chi tiết tiêu biểu nhất để khắc họa hình
ảnh một chàng thư sinh nho nhã Trước khi Kim Trọng xuất hiện, đã nghe được tiếng
nhạc ngựa, rồi chàng Kim hiện ra với phong thái của một chàng nho sĩ
Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng
Đề huề lưng túi gió trăng, (135 – 137)
Từ “khấu” theo từ điển của chữ nho nghĩa là kéo con ngựa lại, không
cho nó tiến lên Ở đây, Nguyễn Du dùng “lỏng buông tay khấu” nghĩa là cầm lỏng
dây cương cho ngựa đi thong thả, gợi lên dáng vẻ khoan thai, từ tốn của chàng thư
sinh Kim Trọng Bên cạnh đó, Nguyễn Du còn sử dụng hình ảnh “lưng túi gió
trăng” dịch từ câu “Bán nang phong nguyệt” (nửa túi gió trăng) nói về cách đi chơi
của người phong lưu, khi đi chỉ mang theo gió trăng, tức là đi tay không để chỉ
phong thái tao nhã của chàng Sự tao nhã này còn thể hiện qua các câu thơ miêu tả
ngoại hình
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao (143 – 144)
Những câu thơ trên đã khắc họa được một bức chân dung tuyệt đẹp của Kim
Trọng, sắc ngựa câu in trên tuyết, chiếc áo chàng mặc “nhuộm non da trời”, bước đi
của chàng chậm rãi từ tốn hiện lên qua hình ảnh ẩn dụ “hài văn lần bước dặm xanh”
Sự xuất hiện của Kim Trọng đã làm bừng sáng cả một vùng đến nỗi Nguyễn Du đã
so sánh “như thể cây quỳnh cành giao” Phong thái ung dung đỉnh đạc, sự thông
minh, tài trí của Kim Trọng đã được Nguyễn Du khen ngợi
Thiên tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.(151 – 152)
Bằng từ “tót vời” Nguyễn Du đã đánh giá cái phong thái, cái
dáng vẻ ung dung, nho nhã của Kim Trọng Chỉ với vài nét miêu tả rất thanh tú,
Nguyễn Du đã gây cho người đọc ấn tượng sâu sắc về một chàng trai hào hoa, cao
quý Mọi thứ gắn với chàng đều trang nhã, từ những người đày tớ “con con”, nhỏ bé
đến chú ngựa câu chàng cưỡi cũng có sắc trắng như tuyết, chàng mặc chiếc áo màu
xanh giản dị, bước những bước đi thật từ tốn, nhẹ nhàng mang phong thái của một
người thảnh thơi, nhàn hạ Qua những nét miêu tả ngoại hình Kim Trọng cho thấy
đây là một văn nhân có tính cách đằm thắm, thích sự giản dị, không cầu kì, không ăn
diện phô trương
Trang 27Nếu Kim Trọng là một nho sinh tao nhã thì Từ Hải là một nhân vật mang khát vọng công lí Từ Hải là một người anh hùng, suốt cuộc đời Từ Hải chỉ đấu tranh cho công lí, cho chính nghĩa nên Nguyễn Du đã miêu tả Từ Hải với một dáng vẻ oai phong, lẫm liệt
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao
Đường đường một đấng anh hào (2167 – 2169)
Bức chân dung Từ Hải cũng là kiệt tác trong rất nhiều bức chân dung nhân vật
trong Truyện Kiều Cũng như các tác giả văn học trung đại khác, khi miêu tả Từ Hải – một người anh hùng, Nguyễn Du cũng dùng bút pháp tượng trưng:“Râu hùm, hàm
én, mày ngài” để thể hiện ngoại hình mạnh mẽ của chàng Vẻ mạnh mẽ đó lại được
Nguyễn Du nâng lên cao hơn khi ông miêu tả dáng vẻ bằng cách nói quá sự thật “Vai
năm tấc rộng thân mười thước cao” Hai câu thơ trên tạo cho nhân vật một vẻ oai
hùng kì lạ Vẫn là những bút pháp ước lệ, tượng trưng kết hợp với từ Hán Việt
“đường đường” nghĩa là đàng hoàng đã vẽ nên chân dung một anh hùng xuất chúng với tài năng phi thường và dáng vẻ cao to vượt ra ngoài khuôn khổ cuộc sống tầm thường, nhỏ hẹp, khác hẳn với người anh hùng trong thơ của Nguyễn Đình Chiểu
Mình cao sồ sộ dị kì rất hung (Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Miêu tả Từ Hải với ngoại hình như thế Nguyễn Du nhằm nhấn mạnh tính cách không sợ uy quyền của Từ Hải – một con người chỉ muốn làm những chuyện lớn lao, phi thường Đó chính là khí khái anh hùng, cái hơn người của nhân vật Và tính cách phi thường của Từ Hải sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc qua dáng đứng oai nghi lẫm liệt của chàng khi đã chết:
Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng (2519 – 2520)
Hay:
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.(2528 – 2529)
“Nhơn nhơn” là trạng thái không động đậy, còn “trơ trơ”
là trạng thái chết cứng, bất động không dời đổi dù trong mưa bom, bão đạn
Trang 28được Nguyễn Du sử dụng nhằm làm tăng lên cái khí phách anh hùng của Từ Hải Cái chết đứng giữa trận tiền của Từ Hải là sự khẳng định cho tính cách của một người anh hùng phi thường, một nhân cách cao đẹp, một con người anh hùng cho đến hơi thở cuối cùng Từ Hải là nhân vật mà Nguyễn Du gởi gắm vào đó bao khát vọng, ước
mơ Vì lẽ đó, ông miêu tả ngoại hình của nhân vật thật dũng mãnh, oai phong để từ
đó toát lên tính ngang tàng, trí dũng, sống vì công lí, vì khát vọng giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của xã hội phong kiến
Ta thấy, với những nhân vật chính diện bằng bút pháp tượng trưng, ước lệ, Nguyễn Du đã dụng công rất lớn để tô vẽ nên những con người xinh đẹp, tài hoa, anh hùng Ngay từ ngoại hình đã toát lên sự thanh cao, đáng quý ở mỗi nhân vật Tuy nhiên, ở những nhân vật phản diện Nguyễn Du lại thổi vào chất liệu đời sống nhiều hơn Có thể kể đế trước tiên là Mã Giám Sinh – kẻ đầu tiên xuất hiện làm hoen ố cuộc đời Kiều Hắn là một tên ăn chơi, cờ bạc, một tên buôn người Chính vì cuộc sống ra vào ở chốn thanh lâu nên hắn đã cố gắng hết sức để che đậy tung tích và
trang bị cho mình cho mình cái vẻ bề ngoài trang trọng Trong Kim Vân Kiều Truyện,
Thanh Tâm Tài Nhân đã để cho Mã Giám Sinh đi lẫn trong đám người cùng đi với
hắn, ngoại hình của hắn cũng chưa có gì là cụ thể Thanh Tâm viết “Mụ Hàm nói
xong đi ra, hồi lâu đưa mấy người đến, trong bọn có một người ăn mặc đẹp đẽ, bước tới chào và ngắm nghía Thúy Kiều mãi” [16; tr.84] Nguyễn Du không như thế, ông
không giới thiệu nhân vật một cách chung chung mà đi vào đặc tả chân dung Mã Giám Sinh
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.(627 – 628)
Từ “nhẵn nhụi” có nghĩa là trơn tru, sạch sẽ, còn từ “bảnh bao”
có nghĩa là bảnh trai, đẹp trai Câu thơ “Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh
bao” gợi cho ta hình dung Mã Giám Sinh là một người mặt mày cạo nhẵn, ăn mặc
gọn gẽ Có lẽ hắn đã tốn rất nhiều thời gian và công sức để trang trí và chu tất cho cái
vẻ ngoài của mình được bóng loáng đến thế Nếu hai từ này được dùng để miêu tả một người trẻ tuổi thì không có gì phải nói, nhưng ở đây, Nguyễn Du lại dùng hai từ
ấy để miêu tả một ông ngoài bốn mươi thì còn mai mỉa nào bằng Vì rằng, ở thời Nguyễn Du những người đàn ông ở tuổi của Mã Giám Sinh đều râu dài, tóc búi vậy
mà hắn cứ muốn phô diễn cái vẻ “thanh niên” của mình Với câu lục, Nguyễn Du đã
miêu tả Mã Giám Sinh một cách khá trang trọng do sự có mặt của các từ Hán Việt
“Quá niên trạc ngoại tứ tuần” Nhưng liền sau đó, Nguyễn Du đã hạ bệ họ Mã bằng
một câu bát gồm các từ ngữ thuần Nôm, ý vị mỉa mai được nảy sinh từ chính sự tương quan đối lập này
Nhìn qua ngoại hình của Mã Giám Sinh ta thấy cái bản chất ti tiện, vô liêm sỉ của gã đã hiện ra Gã là một kẻ sống vì tiền, vì nhục dục thấp hèn cho nên gã đã cố
dụng công để tô điểm cho cái “mã ngoài” của mình nhằm che mắt thế gian Nhưng
càng cố che đậy thì cái bản chất xấu xa đê tiện của hắn lại càng lộ ra bên ngoài bởi cái mặt nạ quá ư giả tạo của mình
Trang 29Gắn liền với tên buôn người Mã Giám Sinh là mụ chủ nhà chứa Tú Bà Hắn
và Tú Bà đã:
Chung lưng mở một ngôi hàng,
Quanh năm buôn phấn, bán hương đã lề (813 – 814)
Nếu Mã Giám Sinh là một tên lưu manh thì Tú Bà lại là một trùm lưu manh Điều đó được thể hiện rất rõ qua cái nhìn của Thúy Kiều về ngoại hình của bà:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da,
Ăn gì cao lớn, đẫy đà làm sao? (923 – 924)
Khi miêu tả Tú Bà, Nguyễn Du đã bỏ qua tất cả những chi tiết vụng vặt xung quanh mụ mà chỉ tập trung vào miêu tả cái màu da và thân hình của mụ Ngoại hình
của mụ được hiện lên với cái màu da “nhờn nhợt”, với thân thể “đẫy đà” Thế
đễ nhận thấy, đó chính là do nghề nghiệp của mụ Từ khi làm gái lầu xanh cho đến khi trở thành một chủ nhà chứa, bà đã sống bằng đêm, lấy đêm làm ngày, một cuộc
sống không lao động lại thiếu ánh sáng cho nên da dẻ của mụ mới “nhờn nhợt” như vậy Bên cạnh đó, mụ còn có thân hình to béo, phì nộn rất “đẫy đà” Đây là một sự kết hợp rất tài tình, độc đáo của tác giả, cái màu da “nhờn nhợt” ấy hoàn toàn phù
hợp với dáng điệu đẫy đà của mụ Là một chủ nhà chứa chuyên sống bằng nghề buôn bán xác thịt của phụ nữ, lắm tiền nhiều của, một cuộc sống ung dung, phè phỡn thì
đến một thân hình nặng nề, to béo nhưng có chút không bình thường Nhưng làm sao bình thường cho được bởi đó đâu phải là sự béo tốt của một người khỏe mạnh, mà là
sự béo bệu, béo bệch của một người chuyên sống bằng thứ nghề bẩn thỉu Vì thế tác
giả mới đặt câu hỏi “Ăn gì cao lớn, đẫy đà làm sao?” Câu hỏi ở đây cũng chính câu
khẳng định, khẳng định cái nghề nghiệp bẩn thỉu hôi tanh của mụ Nét đặc trưng ngoại hình của Tú Bà đã khiến cho người đọc liên tưởng đến môi trường sống và nghề nghiệp của mụ Thông qua đó, giúp người đọc khái quát được toàn bộ bản chất của con người mụ, một bà chủ nhà chứa, với rất nhiều mưu mô, xảo quyệt luôn sẵn sàng đẩy người khác đến đường cùng, chỉ cốt sao có lợi cho mình
Một tên tay sai đắc lực nữa trong ngôi hàng của Tú Bà phải kể đến là Sở Khanh Tên này cũng là một tên ăn chơi không kém gì Mã Giám Sinh, hắn cũng là
một kẻ “Bạc tình nổi tiếng lầu xanh” Hắn xuất đầu lộ diện vào lúc Kiều bị giam
lỏng ở lầu Ngưng Bích và sẵn sàng trốn thoát bằng bất cứ cách nào Hắn cũng có một
chút tài “họa vần” khi nghe bài thơ của người khác Như vậy, ít ra hắn cũng là một
nho sĩ, thế nhưng hắn lại xuất hiện trong một bộ dạng làm nhiều người phải kinh ngạc:
Một chàng vừa trạc thanh xuân,
Trang 30Hình dung chải chuốt, áo khăn dịu dàng (1059 – 1060)
So với Mã Giám Sinh, hắn có vẻ trẻ hơn “trạc thanh xuân” nên cái bóng láng của gã đôi khi cũng chấp nhận được Hai từ “chải chuốt” , “dịu dàng” đặt vào một
câu thơ mà lại dành cho một tên ăn chơi, bạc tình thì nghe có vẻ hơi bất hợp lí Tuy
nhiên, đây lại chính là điều hợp lí nhất “Chải chuốt” là sự dọn dẹp, tỉa tót vừa gợi lên chất trai tơ, vừa diễn tả được sự trau tria, sửa soạn quá mức của Sở Khanh nhằm tạo ra cái mã bên ngoài, cốt che đậy bản chất lừa bịp, tráo trở, xấu xa
bên trong “Chải chuốt” thôi chưa đủ, hắn còn cố tạo cho mình một dáng vẻ “dịu
dàng” thật khó mà tin được Thường thì “dịu dàng” chỉ dành để tả vẻ đẹp duyên dáng, hiền thục, mềm mỏng của người con gái Nhưng ở đây, Nguyễn Du lại dành riêng để tả ngoại hình của Sở Khanh Sao lại có sự nghịch lí như thế? Không phải là Nguyễn Du dùng từ sai, hay không tìm được từ phù hợp mà đây chính là sự
dụng công tài tình của tác giả Đặt từ láy “dịu dàng” vào một thân hình “chải chuốt”
của Sở Khanh, Nguyễn Du cố ý chỉ trích, châm biếm, phê phán hắn Đồng thời, lên
án con người của hắn và cái nghề đê hèn của hắn, cái bề ngoài “chải chuốt”, “dịu
dàng” của Sở Khanh được Nguyễn Du miêu tả đã tạo nên hình tượng có tính khái
quát cao Ẩn bên trong dáng vẻ bề ngoài sạch sẽ, bóng loáng đó lại là một kẻ bạc tình, chuyên lừa gạt những người phụ nữ trẻ lòng, non dạ Cũng chính cái ngoại hình đó
mà trong phút đầu gặp gỡ hắn đã tạo cho Kiều một cảm giác tin tưởng Thế nhưng, dáng dấp lịch thiệp ấy vẫn không che đậy được sự thấp hèn, bẩn thỉu của Sở Khanh, bởi sau khi đã lừa gạt được Kiều thì:
Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào (1170)
Tất cả những lớp sống áo che đậy, Nguyễn Du đã trút xuống hết để lộ ra cái
“mặt mo” Từ “mặt mo” được sử dụng ở đây thật là xác đáng bởi đây là
từ chỉ những kẻ “mặt dạn mày dày” không biết xấu hổ Và Sở Khanh cũng không
“đi vào” như bao nhiêu người khác mà hắn lại “dẫn vào” Câu thơ đã thể hiện được
thái độ mỉa mai, chua cay của tác giả
Ta thấy cả ba nhân vật Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh dưới ngòi bút của Nguyễn Du hiện lên thật phong phú, mỗi người một vẻ không ai giống ai Thế nhưng,
cả ba đều có chung một tính cách tiêu biểu là hám tiền Đồng tiền xoay quanh mọi mưu mô, xảo quyệt của chúng, biến chúng trở thành những tên buôn người bỉ ổi, xấu
xa, giả tạo Khi miêu tả ngoại hình của chúng, Nguyễn Du chỉ khắc họa trong một vài câu thơ Thế nhưng, qua đó tính cách đê tiện của chúng lại hiện lên rất rõ, cụ thể
và không kém phần sinh động
Một nhân vật phản diện nữa cũng được Nguyễn Du miêu tả ngoại hình đó là Hoạn Thư Đối với nhân vật này, Nguyễn Du cũng chỉ giới thiệu
Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao (1815 – 1816)
Trang 31Chỉ với câu thơ “Bề ngoài thơn thớt nói cười”, Nguyễn Du đã miêu tả được toàn bộ diện mạo của cô tiểu thư họ Hoạn “Thơn thớt” là từ chỉ vẻ ngọt ngào bên ngoài nhưng không thật ở bên trong, cho ta thấy Hoạn Thư là một người
nham hiểm Bề ngoài Hoạn Thư luôn nói cười vui vẻ nhưng bên trong thì lại “giết
người không dao”, lại luôn sắp đặt những mưu kế để hại người Khi miêu tả Hoạn
Thư, ta thấy, Nguyễn Du đã có phần nể nang nhân vật này bởi cô là một người đầy
bản lĩnh, rất thông minh “nói điều ràng buộc thì tay cũng già” Qua cái vẻ bề ngoài
đó, cho thấy được cô là một người luôn chủ động trong mọi việc, những gì mà cô muốn làm thì nhất định phải làm cho kì được dù phải dùng bất cứ thủ đoạn nào
Bên cạnh các nhân vật trên còn có những nhân vật khác nhưng Nguyễn Du không đi vào miêu tả ngoại hình hoặc chỉ giới thiệu điểm qua, nên ở đây người viết
không đề cập đến Như vậy, trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã quan tâm đến việc
miêu tả ngoại hình nhân vật Với ngòi bút của mình, Nguyễn Du đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp ước lệ tượng trưng và bút pháp tả thực Để rồi, qua ngoại hình
đó, ông lại làm nổi bật lên cái thần sắc riêng của từng nhân vật, tính cách các nhân
vật từ đó cũng được bộc lộ một cách rõ nét, đúng như nhận định: “Truyện Kiều phản
ánh rõ nét những bước đi truyền thống của một nhà thơ phong kiến chính thống và những cách tân bước đầu của một tài năng muốn vượt ra khỏi khuôn khổ ước lệ, đi vào cuộc sống chân thật khi xây dựng ngoại hình nhân vật” [10; tr.227]
2 Miêu tả tính cách nhân vật thông qua hành động
Có thể nói tính cách nhân vật được bộc lộ chủ yếu thông qua hành động là chân thật nhất Bởi nếu như nhìn vào ngoại hình ta có thể đoán được tâm lí, tính cách bên trong của nhân vật thì hành động lại càng giúp ta có cơ sở để khẳng định hơn vì hành động là những việc làm thể hiện trực tiếp ra ngoài, đó là sự thật hiển nhiên
không thể chối cãi được cũng như không thể thay đổi được Vì vậy, trong Truyện
Kiều, ta thấy thông qua hành động của nhân vật, Nguyễn Du đã để cho tính cách của
các nhân vật được bộc lộ gần như là chân thật nhất
Trong Truyện Kiều, nhân vật được Nguyễn Du ưu ái nhất đó là Thúy Kiều,
chính vì vậy Thúy Kiều được xem là nhân vật trung tâm của câu chuyện Miêu tả hành động của Thúy Kiều để bộc lộ tính cách của nàng là một yếu tố rất quan trọng
tạo nên sự thành công cho nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật trong Truyện Kiều
Trong tác phẩm, Thúy Kiều không chỉ là một cô gái tài sắc mà còn là một cô gái đa sầu, đa cảm Khi nghe Vương Quan kể về cuộc đời bạc mệnh của Đạm Tiên thì Kiều
đã chạnh lòng và:
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa (82)
Qua những giọt nước mặt “đầm đầm” của Kiều cho ta thấy nàng Kiều rất dễ
cảm thông trước những bất hạnh của người khác, nàng là người giàu lòng nhân hậu, hay suy nghĩ, đa sầu, đa cảm Thế nhưng trong tình yêu nàng lại là một cô gái rất
mạnh mẽ Trong Truyện Kiều, mối tình Kim – Kiều là một mối tình tuyệt đẹp Họ
yêu nhau ngay từ phút đầu gặp gỡ, mặc dù chưa nói với nhau một lời nhưng trái tim đôi lứa đã thật sự rung động Cả hai đã vượt qua mọi rào cản khắt khe của lễ giáo phong kiến, chủ động đến với nhau và tự quyết định hạnh phúc cho mình Đây cũng
là một bước đột phá trong tình yêu Kim – Kiều, một quan niệm rất mới mẽ về tình
yêu mà Nguyễn Du muốn gởi gắm qua Truyện Kiều Hành động chủ động đến tự tình
cùng Kim Trọng của Kiều thật táo bạo.
Trang 32Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường (378)
Cái “gót sen thoăn thoắt” của Kiều quả thật đã làm ngơ ngác rất nhiều thiếu
cho ta hình ảnh nàng Kiều với những bước đi rất nhanh, gọn, liên tục Đó chính là bước đi đầy vẻ tự tin, rạo rực của Kiều khi đang vội vã sang nhà người yêu sau bao ngày nhớ nhung, trông ngóng Hành động táo bạo và liều lĩnh của Kiều đã thể hiện một khía cạnh đặc sắc trong tính cách của nàng đó chính là khát vọng về một tình yêu tự do và hạnh phúc Cũng chính khát vọng ấy, một lần nữa nàng đã làm cho người đọc phải hết sức ngỡ ngàng khi nàng lại tiếp tục:
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình (432)
Tình yêu là thế, nó làm cho người ta không thể ngồi yên một chỗ mà luôn phải hành động, luôn tìm mọi cách để đến với người mình yêu và tình yêu của Kiều cũng
Kiều đi một mạch, không rón rén, không nhìn trước đón sau, đi thẳng đến nơi mà mình đã định Cái đáng sợ nhất là dư luận, là những quan niệm khắc khe của lễ giáo phong kiến mà Kiều cũng không sợ Kiều đã hoàn toàn đi theo tiếng gọi của tình yêu, hành động này của Kiều quả là không có trong quan niệm của lễ giáo phong kiến
Hành động “xăm xăm” trong đêm tối sang nhà người yêu để tự tình của một cô gái
khuê các như Kiều thật là liều lĩnh, táo bạo Điều này đã nói lên tính cách mạnh mẽ của Kiều, thể hiện được sự chống đối quyết liệt với quan niệm khắt khe của lễ giáo phong kiến và chống đối cả thói xấu xa, áp bức, cường quyền của xã hội đương thời
Không chỉ mạnh mẽ trong tình yêu, khi gia đình gặp cơn tai biến Kiều đã sẵn
sàng quên đi tình riêng với Kim Trọng để bán mình chuộc cha “Liều đem tấc cỏ
quyết đền ba xuân” Qua hành động này ta thấy nàng là một người con rất mực hiếu
thảo, không suy tính thiệt hơn dù rằng lời nguyện ước với Kim Trọng vẫn luôn khắc sâu trong tim mình Thế nhưng, nàng đã chấp nhận hi sinh tình yêu để đền bồi ơn sinh thành của cha mẹ Để rồi bi kịch của cuộc đời Kiều cũng bắt đầu từ đấy, trong suốt mười lăm năm lưu lạc, bị lừa gạt, bị sỉ nhục, bị chà đạp thế nhưng Kiều vẫn không khuất phục, vẫn quyết liệt đấu tranh Trong cuộc sống đó, ta thấy Kiều luôn vùng dậy đấu tranh khi có thể Tính cách mạnh mẽ, sự tự ý thức của Kiều càng bộc
lộ rõ khi Kiều quyết định kết thúc cuộc đời mình trên sông Tiền Đường và khi Kiều
từ chối tình cảm của Kim Trọng trong buổi đoàn viên Kiều đã mạnh mẽ, đã không cho phép mình tiếp tục gánh chịu những đau khổ, tủi nhục nữa Nàng đã đấu tranh,
mãi đấu tranh đến cuối cùng nàng lựa chọn đổi tình ”cầm sắc” sang “cầm cờ” Dẫu rằng trong tình “cầm cờ” đó Kiều biết rằng mình cũng không có được bao nhiêu
hạnh phúc, nhưng Kiều biết rằng chỉ có như vậy thì những người thân yêu của nàng mới yên ổn, vui vẻ và hạnh phúc Ta thấy, ngay đến cuối tác phẩm Kiều vẫn là một người giàu đức hi sinh, luôn muốn đem lại hạnh phúc cho những người thân yêu xung quanh mình Mỗi hành động, quyết định của Kiều đều cho ta thấy được tính mạnh mẽ, quyết đoán cũng như tấm lòng hiều thảo, giàu đức hi sinh ở nàng
Có thể nói trong tình yêu Kim – Kiều, Thúy Kiều thì hồn nhiên sôi nổi, táo bạo, mãnh liệt như vậy, còn Kim Trọng thì sao? Kim Trọng cũng tương tư nàng không kém Chàng đã quên cả những thú vui hàng ngày, với chàng lúc này tình yêu
Trang 33là tất cả Vì thế, chàng cũng đâu thể ngồi yên một chỗ, chàng đã quyết định đi tìm Kiều và hành động tìm đến tình yêu của chàng cũng rất quyết liệt
Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang (265 – 266)
Câu thơ rất sinh động nhịp thơ 2/2/2/2 gợi cảm giác liên tục, đều đặn kết hợp
đi thật nhanh để tìm đến với Kiều Chàng đang chăm chăm, chúi chúi đi tìm cái bóng ảnh mộng mơ, hình ảnh của Kiều đã che khuất tất cả Chàng không còn biết gì xung quanh, lúc này đây chàng chỉ biết có Kiều và tìm đến Kiều bất chấp mọi luật lệ phong kiến Hành động này cũng đã thể hiện tính cách của Kim Trọng, chàng cũng là người mạnh mẽ, quyết liệt và không kém phần táo bạo trong tình yêu Bên cạnh đó,
ta thấy Kim Trọng cũng là một người si tình, son sắc, thủy chung qua hành động đi tìm Kiều của chàng
Đinh ninh mài lệ chép thư,
Cắt người tìm cõi đưa tờ nhắn nhe (2826 – 2827)
Thẩn thơ lúc tỉnh, lúc mê,
Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao (2836 – 2837) Nguyễn Du đã miêu tả hành động của Kim Trọng để khẳng định cho sự trong trắng, cao quý trong tâm hồn Kiều, để mang lại sự thừa nhận của xã hội, bù đắp những bất hạnh cho đời Kiều Có thể nói, Kim Trọng với những hành động của mình
là nhân vật thể hiện khát vọng giải phóng tình cảm, thể hiện một cách nhìn mới về tình yêu
Nếu như việc miêu tả hành động của Thúy Kiều và Kim Trọng, Nguyễn Du
đã làm nổi bật lên những tính cách cao đẹp của họ thì khi miêu tả hành động của Từ Hải Nguyễn Du cũng cho ta thấy được nét tính cách của khí phách anh hùng
Đội trời, đạp đất, ở đời, (2171)
Qua câu thơ, Từ Hải hiện lên là một người trí dũng song toàn, khí phách bất
khuất, câu thơ với ba động từ “đội”, “đạp”, “ở” đã lột tả được điều đó Phía sau cái
ngoại hình oai phong của Từ Hải là một con người tài trí với tính cách ngang tàng, không sợ uy quyền Từ Hải xuất hiện với tư cách là một người anh hùng thế nên vừa xuất hiện đã cho thấy đây là một người anh hùng với hành động
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Trang 34Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo (2173 – 2174)
“Vẫy vùng” với từ “vẫy” có bộ thủ nghĩa là cái tay chỉ ý đã gợi
lên tính khí thích sự tự do hoạt động, mặc sức tung hoành, cho thấy Từ Hải là một người thích ngang dọc, tự do, phạm vi hoạt động của Từ rất rộng, dọc ngang khắp non sông Tính cách anh hùng, mạnh mẽ của Từ Hải còn được thể hiện rất cụ thể qua hành động
Nghênh ngang một cõi biên thùy (2448)
ngang tàng, không sợ một ai của người võ tướng Từ Hải Ta thử so sánh nếu ta thay
thế từ “nghênh ngang” bằng từ “ngông nghênh” thì giá trị biểu cảm của câu thơ sẽ như thế nào? Khi sử dụng từ “ngông nghênh” ta vẫn đảm bảo được âm điệu cho câu
thơ, nhưng rõ ràng ý nghĩa của câu thơ đã thay đổi, từ đó sẽ làm cho ta hiểu sai về
tính cách của Từ Hải Nguyễn Du dùng từ “nghênh ngang” với thái độ trân trọng,
cảm phục tính cách ngang tàng của Từ Hải, cho thấy đây là hành động của một người
anh hùng luôn ngẩng cao đầu trước mọi khó khăn, thử thách Còn từ “ngông
nghênh” lại mang sắc thái âm tính, có ý chỉ trích, phê phán, nó chỉ dùng để miêu tả
những người luôn ra vẻ tự đắc, coi thường người khác và có những hành vi, cử chỉ khó chịu Nó không phù hợp để nói về hành động của một người anh hùng như Từ Hải Như vậy, ta thấy khi miêu tả hành động của nhân vật, Nguyễn Du cũng đã rất tỉ
mỉ trong việc lựa chọn ngôn ngữ để miêu tả nhằm phù hợp và làm nổi bật tính cách nhân vật
Sau này, từ láy “vẫy vùng” còn được Nguyễn Du sử dụng để nói lên sự khâm
phục, kính trọng của Thúc Sinh dành cho Từ Hải
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,
Làm cho động địa, kinh thiên đùng đùng.(2926 – 2925)
Từ láy “vẫy vùng” kết hợp với phép điệp phụ âm đầu “đ” đã gợi nên hình
ảnh, âm thanh những việc làm anh hùng của Từ Hải, tạo nên sự vững chắc, uy nghi, mạnh mẽ cho hành động của Từ Hải, chàng không chịu bó buộc trong khuôn khổ mà chỉ muốn làm những chuyện lớn lao, phi thường Đó chính là khí khái hơn người của
Từ Hải Cốt cách anh hùng, phóng khoáng của chàng còn thể hiện ngay trong hành động:
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn (2208)
Để chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh và cưới nàng làm vợ, ta thấy, Từ Hải không
có sự ti tiện “cò kè bớt một thêm hai” như Mã Giám Sinh và cũng không tính toán
“Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông” như Thúc Sinh Chàng đến với Kiều vì
chàng biết đây chính là người tri kỉ của mình, là người xứng đáng để “nâng khăn sửa
túi” cho mình Thế nhưng, vốn là một người anh hùng, tình yêu của Kiều không thể
Trang 35giữ chân Từ Hải lâu, bởi chỉ có thiên nhiên rộng lớn mới có thể chứa đựng cái chí khí anh hùng của Từ Hải Chàng quyết định phải ra đi, phải lập được sự nghiệp lớn lao
Quyết lời dứt áo ra đi, (2230)
ra đi quyết liệt của Từ Hải cho thấy chàng là một con người mạnh mẽ, quyết đoán
Người chinh phu trong Chinh phụ ngâm cũng mạnh mẽ, quyết liệt như thế
Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị ào ào gió thu
(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)
Thế nhưng bên trong cái vỏ bọc hiên ngang kia lại là một tâm hồn yếu đuối, lòng chàng đã nén đi những giọt nước mắt của người vợ trẻ:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai
(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)
Trước cuộc chia ly người chinh phụ còn vương vấn, quyến luyến người vợ
thân yêu, còn Từ Hải chàng ra đi không hề ngoảnh lại Hai từ “dứt áo” đã thể được hành động dứt khoát, mạnh mẽ của chàng, ra đi để “gây dựng cơ đồ”, để tạo cho
mình một cõi biên thùy riêng Đến cuối tác phẩm, khi bị rơi vào bẫy chiêu hàng của
Hồ Tôn Hiến, Nguyễn Du vẫn để cho chàng vẫy vùng lần cuối
Tử sinh liều giữa trận tiền,
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân (2517 – 2518)
“Dạn dày” gợi cho ta cảm giác Từ Hải đã trải qua rất nhiều thử thách nên đã rèn luyện được sự chịu đựng, sức chống chịu trước nghịch cảnh Có thể nói, Từ Hải là một nhân vật anh hùng được Nguyễn Du ca ngợi rất mực Hành động của Từ Hải như ánh sao băng sáng rực trên bầu trời mang đến cho cuộc đời Kiều ánh sáng của hạnh phúc, của công lý và mang lại cho Kiều âm hưởng của một khúc ca anh hùng bi tráng xen giữa những tiếng đau thương, tuy bị dập tắt nhưng vẫn còn sức ngân vang mãi cho đến ngàn sau
Trong các nhân vật chính diện của Truyện Kiều, Thúy Vân có thể được xem là
nhân vật xuất hiện ít Thế nhưng khi miêu tả hành động của nàng Nguyễn Du cũng
đã làm toát lên tính cách của một người con gái dịu dàng, vô tư Nàng chưa bao giờ phải lo nghĩ điều gì, ngay cả khi gia đình gặp tai biến, chị phải bán mình nhưng nàng vẫn ngủ ngon lành Hành động này cho thấy nàng là một cô gái rất vô tư Thế nhưng,
khi đã “tỉnh giấc xuân” nàng cũng liền đến bên Thúy Kiều và:
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han (714)
Trang 36Hành động “ân cần” chu đáo, tha thiết của Thúy Vân đã giúp Kiều
được an ủi phần nào, qua đó cho thấy nàng cũng là một cô gái biết quan tâm và tỏ ra
am hiểu tâm sự của người khác Sau này, khi gia đình đoàn tụ, một lần nữa Vân lại
thể hiện sự quan tâm của mình Trong bữa tiệc đoàn viên, nàng là người đầu tiên lên
tiếng giúp cho Kim Trọng và Thúy Kiều trở lại với nhau
Tàng tàng chén cúc dở say,
Đứng lên Vân mới giãi bày một hai (3062 – 3063)
Những hành động của Vân phần nhiều là cảm tính cho thấy nàng là một cô gái
rất đơn giản, không có những giây phút giằng co giữa lí trí và tình cảm Có thể nói,
Thúy Vân là nhân vật điển hình cho tính cách giản đơn, chấp nhận hoàn cảnh chính
vì thế mà cuộc đời nàng hạnh phúc Nàng đã đem tấm lòng đôn hậu của mình ra cư
xử với mọi người Nếu Kiều hi sinh chữ “tình” để giữ tròn chữ “hiếu” thì Vân cũng
hi sinh chữ “tình” để sống cho vẹn “nghĩa” với người chị đáng thương Chắc chắn
Vân cũng có những tình cảm riêng tư nhưng với tư chất thầm lặng, kín đáo nàng đã
chấp nhận làm cái bóng của Kiều mà sống cùng Kim Trọng Trong suốt cuộc sống
vợ chồng,Vân đã nhớ Kiều cùng nỗi nhớ của Kim Trọng, đã cùng chàng đi tìm Kiều
bằng tấm lòng của người em Kiều đã bán mình để cứu gia đình thoát khỏi cơn tai
biến thì Vân cũng đã quên mình để xoa dịu nỗi đau của những người thân Xã hội
phong kiến rất thích những con người như Vân vì không có sự xung đột, phản kháng,
chấp nhận sự sắp đặt một cách tự nguyện, không do dự Có lẽ trong cái xã hội rối ren
ấy, tính cách vô tư không lo âu, phiền muộn, sống thảnh thơi, an nhàn như Vân lại là
một phương án tối ưu
Bên cạnh việc miêu tả hành động những nhân vật chính diện, Nguyễn Du
cũng chú trọng đến việc miêu tả hành động những nhân vật phản diện nhằm bộc lộ
những phẩm chất xấu xa, thấp hèn Mã Giám Sinh xuất hiện trước nhà Kiều với một
đám tớ thầy hỗn độn
Trước thầy sau tớ xôn xao, (629)
thấy Mã Giám Sinh đang cố gắng hết sức để phô trương sự sang trọng của mình Thế
nhưng, nó khác hẳn cái không khí vui tươi, trang nhã khi Kim Trọng xuất hiện: “Sau
chân theo một vài thằng con con” Chính sự giả tạo đã làm cho hắn trở nên vô học,
thầy không ra thầy, tớ không ra tớ mà cả đám cứ nhốn nháo cả lên Một gã lưu manh
như hắn, cho dù có cố che đậy tung tích bằng cái vẻ bề ngoài trang trọng thì những
hành động của hắn đã phơi bày bản chất thật của mình Hành động:
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, (631)
Đó là hành động của một tên vô học muốn ra vẻ ta đây Ngồi “sỗ sàng”
là kiểu ngồi không ý tứ, không giữ lễ phép, có sức gợi hình cao lại kết hợp với
Trang 37động từ “tót” đã lột trần bản chất thấp kém, thô bỉ, trơ tráo đến trắng trợn của
Mã Giám Sinh Giả danh là một thư sinh đi hỏi vợ nhưng hành động của hắn chẳng khác gì một tên vô học đang tỏ rõ vị thế của mình Trong văn chương truyền thống ta
bắt gặp rất nhiều kiểu ngồi Đó là dáng ngồi “nhấp nhổm” lên xuống không ổn định
của những thầy đồ lo lắng vì đạo học ngày càng xuống dốc
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi (Than đạo học – Trần Tế Xương)
Hay cách ngồi chênh vênh, không vững vàng của tên sư Hổ Mang được nữ sĩ Xuân Hương miêu tả
Tu lâu nên có lẽ lên sư cụ, Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà
(Sư Hổ Mang – Hồ Xuân Hương)
Qua cách ngồi của các nhân vật trên ta thấy được tâm trạng của họ, còn qua cách ngồi của Mã Giám Sinh ta có thể khẳng định được bản chất của hắn Cách ngồi
đó chỉ có ở những kẻ hạ lưu cậy có tiền rồi vênh váo coi thường người khác, chuyên làm nghề bỉ ổi, lừa gạt người khác
Là một tên buôn keo kiệt, luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu, hắn xem Kiều như
một món hàng nên sau khi đã “Ép cung cầm nguyệt, thủ bài quạt thơ” hắn liền bắt
đầu
Cò kè bớt một thêm hai (647)
“Cò kè” gợi lên hình ảnh Mã Giám Sinh đang mặc cả, thêm bớt
từng ly từng tí để mua được Kiều với giá thấp nhất nhằm thu lợi cho mình Hành động này không chỉ có giá trị tố cáo mạnh mẽ sự đen tối của thế lực đồng tiền mà còn thể hiện tính cách vô liêm sỉ, keo kiệt của Mã Giám Sinh Ngay sau khi có được Kiều, hành động của hắn càng bộc lộ rõ ràng hơn
Khi vào dúng dắng khi ra vội vàng
Khi ăn, khi nói lỡ làng,
Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh (884 – 886)
Thái độ của hắn lúc nào cũng dùng dằng, do dự, không dứt khoát còn hành động thì vội vàng hấp tấp, ăn nói thì không đâu ra đâu, chủ tớ thì lộn xộn, với hành
động này, hắn đã tự làm rơi cái mặt nạ của mình để Kiều khẳng định rằng: “Ngẫm ra
cho kĩ như hình con buôn”
Đến lượt Tú Bà cũng thế, hành động của mụ cũng phục vụ đắc lực cho việc thể hiện tính cách
Trước xe lơi lả han chào, (925)
Trang 38“Lơi lả” thể hiện hành động cợt nhã, thiếu đứng đắn trong cách
chào hỏi, chứng tỏ Tú Bà là một người không đàng hoàng Đó còn là hành động của
những người chuyên làm nghề “buôn phấn bán hương”, họ cần phải có cái lả lơi để
mời chào khách Cũng như Mã Giám Sinh, Tú Bà cũng có cách ngồi thật đặc biệt
Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay.(950)
thích người khác phải phục tùng mình Qua cái cách lả lơi chào hỏi khi lần đầu tiên
gặp mặt cũng như kiểu ngồi “vắt nóc” của mụ đã phơi bày bản chất một mụ già gian
manh, đầy mưu mô, xảo quyệt Chỉ có những người đanh đá, nanh độc như thế mới
có thể làm chủ lầu xanh, mới có đủ bản lĩnh trừng trị những người làm trái ý mụ, cả
gan chống đối mụ Bản chất xảo quyệt của mụ càng được phơi bày khi Kiều tự tử,
mụ trở nên mềm mỏng
Tú Bà chực sẵn bên màn,
Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần (1003 – 1004)
Tú Bà đang áp dụng chiêu “mềm nắn, rắn buông”, trước tình thế đang có
chiều hướng bất lợi cho mình, mụ sẵn sàng nhún nhường, vuốt ve, mơn trớn để
thuyết phục Kiều Thế nhưng, đằng sau sự nhún nhường đó lại là những mưu mô
thấp hèn Chính mụ đã dàn dựng lên vở kịch “anh hùng cứu mĩ nhân” cho Sở Khanh
đưa Kiều đi trốn, để mụ xuất hiện thật kịp thời
Tú Bà tốc thẳng đến nơi,
Hằm hằm áp điệu một hơi lại nhà
Hung hăng chẳng hỏi, chẳng tra,
Đang tay vùi liễu, dập hoa tơi bời (1133 – 1136)
Thừa cơ thắng thế, Tú Bà liền giở những hành động thô bạo, tàn ác, đánh đập
một người đang giận dữ, trông thật dữ tợn, đáng sợ lại thêm thái độ “hung hăng” đã
góp phần biểu đạt tính cách dữ tợn, nóng nảy của bà Miêu tả hành động của Tú Bà,
Nguyễn Du đã lột trần bản chất hung ác, xảo quyệt, đanh đá, tào bạo của mụ Thật
không còn từ nào để diễn tả được thói lưu manh đầy trò bịp bợm của mụ Tú Bà quả
là một người điển hình có một không hai cho những người “Máu ham hễ thấy hơi
đồng thì mê”
Cùng một hạng người như Mã Giám Sinh và Tú Bà phải kể đến là Sở Khanh
Đóng vai một hiệp khách, hắn tìm đến Kiều như một người anh hùng đến để giải