1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn một số BIỆN PHÁP GIÚP học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN KHI học tác PHẨM của NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

81 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan Trọng Luận đã cho ra đời các công trình nghiên cứu như: “Phương pháp dạy học văn” 1963, “Phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường” 1977, “Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Thời gian 4 năm được ngồi trên ghế nhà trường là khoảng thời gian may mắn cũng

là khoảng thời gian để lại trong lòng người viết nhiều kỉ niệm khó phai Một thời sinh

viên có những đêm thức trắng bên những quyển giáo trình, những hoạt động tập thể hào

hứng và quên làm sao được những giờ lên lớp cảm nhận sự nhiệt tâm của thầy cô khi

truyền thụ cho chúng em kiến thức cần thiết sau này, những lời dặn dò mộc mạc nhưng

đầy ý nghĩa Cám ơn thầy cô đã cố công góp nhặt từng mảng kiến thức để bồi đắp cho

chúng em qua những giờ lên lớp Cám ơn thầy Trần Đình Thích và các thầy cô đã tận tình

chỉ dẫn chúng em trong quá trình tìm và thực hiện đề tài luận văn Chúng em sẽ cố gắng

rèn luyện và trao dồi thêm kiến thức để có thể đạt được hy vọng của thầy cô “ Không lan

thì cũng phải hồng” chứ “Không làm cỏ dại đau lòng thầy cô”

Luận văn là một thử thách lớn đối với sinh viên Với vốn kiến thức còn hạn hẹp,

khả năng khái quát vấn đề của người viết còn kém nên luận văn còn rất nhiều hạn chế

Mong thầy cô và các bạn góp thêm ý kiến để người viết có thể hoàn thành tốt đề tài:

“Những biện pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương

của Nguyễn Đình Chiểu”

********

Trang 3

5 Phương hướng và phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Những vấn đề chung

1.1 Vài nét về văn học trung đại

1.1.1 Những đặc điểm về nội dung

1.1.1.1 Chủ nghĩa yêu nước

1.1.1.2 Chủ nghĩa nhân đạo

1.1.2 Những đặc điểm về hình thức

1.1.2.1 Yếu tố Hán và yêu cầu dân tộc hóa hình thức văn học

1.1.2.2 Tính quy phạm và việc phá vỡ tính quy phạm

1.2 Vấn đề tiếp nhận văn học

1.3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu

1.3.1 Cuộc đời và con người của Nguyễn Đình Chiểu

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

1.3.3 Vị trí của tác giả và các tác phẩm được chọn giảng trong trường

Chương 2: Những biện pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn khi học tác phẩm

văn chương của Nguyễn Đình Chiểu

2.1 Những khó khăn khi học sinh tiếp cận tác phẩm văn chương

2.1.1 Những khó khăn xuất phát từ tác phẩm

2.1.1.1 Thể loại văn học

a Thơ

Trang 4

b Văn tế

2.1.1.2 Điển cố

2.1.1.3 Hình ảnh ước lệ tượng trưng

2.1.1.4 Nhìn nhận các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu một cách toàn diện

2.1.2 Những khó khăn xuất phát từ phía học sinh

2.1.2.1 Sự cách biệt về thời đại

2.1.2.2 Sự khác biệt về quan niệm văn học

2.1.2.3 Sự khác biệt về quan niệm thẩm mĩ

2.1.2.4 Sự khác biệt trong cách đánh giá con người, cách đánh giá các giá trị đời sống

xã hội

2.1.2.5 Hạn chế về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thưởng thức văn chương

2.1.3 Những khó khăn xuất phát từ phía giáo viên

2.2.1 Biện pháp khắc phục khó khăn dựa vào tác phẩm

2.2.1.1 Dựa vào những kiến thức về thể loại

2.2.1.2 Dựa vào đặc trưng ngôn ngữ

2.2.1.3 Giúp học sinh nhìn nhận các tác phẩm của nguyễn Đình Chiểu một cách toàn

diện

2.2.2 Những biện pháp giúp học sinh tích cực hóa hoạt động tiếp nhận của học sinh

trong giờ học tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu

2.2.2.1 Tái hiện lại bối cảnh lịch sử của tác phẩm và xây dựng bầu không khí văn

chương trong một tiết học

a Tái hiện lại bối cảnh lịch sử của tác phẩm

b Xây dựng bầu không khí văn chương trong một tiết học

2.2.2.2 Phát triển năng lực cảm thụ tác phẩm văn học của học sinh

2.2.2.3 Dạy học nêu vấn đề

Trang 5

2.2.2.4 Ứng dụng các phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong

tiết giảng

2.2.2.5 Mô hình thiết kế thể nghiệm các bài giáo án phục vụ cho việc giảng dạy các

tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường

PHẦN KẾT LUẬN

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

“Văn học là nhân học” câu nói của Makxim Gocki đã được cô giáo dạy môn Ngữ

Văn lớp 11 của tôi mở đầu thật ấn tượng trong tiết dạy đầu tiên của năm học mới Ước

mơ trở thành giáo viên dạy môn Ngữ Văn giống cô lớn lên trong tôi mỗi ngày Tôi cố

gắng từng bước để thực hiện ước mơ ấy nhưng khi có cơ hội xuống trường phổ thông, tôi

bàng hoàng nhận ra rằng học sinh ngày nay không mặn mà lắm với môn Ngữ Văn Việc

tiếp nhận văn học của học sinh hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn

Chúng ta đều biết môn Ngữ Văn có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong giáo dục

cũng như trong đời sống xã hội Nó vừa cung cấp nguồn tri thức về văn hóa, xã hội, con

người,…trong cuộc sống vừa là công cụ rèn luyện tư duy và góp phần bồi dưỡng

nhân cách, tâm hồn, tình cảm của học sinh Học Ngữ Văn là “Quá trình rèn luyện toàn

diện” Song, thực tế chất lượng dạy học Ngữ Văn của ta lại khác, tình trạng học sinh chán

học Ngữ Văn, không đồng cảm được với số phận nhân vật văn học và tiếng nói tâm tình

của tác giả nhất là các tác giả sáng tác trong giai đoạn văn học trung đại Vấn đề đặt ra là:

Nguyên nhân do đâu? Biện pháp nào để khắc phục?

Dạy tốt và giúp học sinh học tốt tác phẩm văn chương đối với người giáo viên

là cả một vấn đề lớn Mỗi thầy giáo, cô giáo đều trăn trở suy nghĩ để đưa ra những biện

pháp khắc phục kịp thời trong quá trình giảng dạy, những thủ thuật để truyền đạt đến các

em những kiến thức của bài học, giúp các em nâng cao nhận thức đồng thời bồi dưỡng

cho các em tư tưởng tình cảm lành mạnh từ nội dung bài giảng Muốn đạt được thành

công đó bên cạnh yêu cầu về nội dung bài học còn đòi hỏi phải có phương pháp thích

hợp Phương pháp dạy học Ngữ Văn rất cần thiết cho công việc giảng dạy sau này và

mang lại thuận lợi cho học sinh khi tiếp cận với tác tác phẩm Người giáo viên có được

phương pháp giảng dạy khoa học nghĩa là đã nắm vững trong tay “chìa khóa vạn năng”

để mở cánh cửa tri thức của nhân loại và chiếm lĩnh nó như có lần cô giáo nói, Khổng Tử

đã dạy: “Nếu bạn cho anh ta một con cá, bạn chỉ nuôi anh ta được một ngày Nếu bạn dạy

một người câu cá, bạn nuôi anh ấy cả đời” Đây là lí do người viết chọn làm luận văn

chuyên ngành phương pháp

Trang 7

Mặt khác, Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học nước nhà

Cụ Đồ là một nhà thơ có lòng tin vững chắc vào sức mạnh của quần chúng, là ngọn cờ

của dòng văn học yêu nước Điều đó cũng có nghĩa là Nguyễn Đình Chiểu là người nói

lên được tiếng nói của thời đại, nói lên được vấn đề bao quát của cả một giai đoạn lịch sử

đương thời

Trên đây là lí do người viết chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh trung học

phổ thông khắc phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình

Chiểu”

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Sự phát triển của khoa học về phương pháp dạy học Ngữ văn đã làm thay đổi hoàn

toàn vị trí của người dạy và người học như lời nhận định: “Cái quan trọng nhất trong

giảng dạy nói chung và trong dạy văn nói riêng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương

pháp suy nghĩ, phương pháp tra cứu, phương pháp tìm tòi, phương pháp vận dụng kiến

thức của mình” (Phạm Văn Đồng)

Để có sự thay đổi tích cực đó, những chuyên gia đầu ngành về phương pháp đã có

những đóng góp không nhỏ Phan Trọng Luận đã cho ra đời các công trình nghiên cứu

như: “Phương pháp dạy học văn” (1963), “Phân tích tác phẩm văn chương trong nhà

trường” (1977), “Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” (1978), “Cảm thụ văn học và

giảng dạy văn học” (1983), “Phương pháp dạy học văn” (1988), “Văn chương bạn đọc

sáng tạo” (2003),… Nguyễn Thị Thanh Hương với công trình nghiên cứu “Dạy học văn ở

trường phổ thông” (2001), tác giả Đặng Thai Mai với: “Trên đường nghiên cứu và giảng

dạy tác phẩm văn chương” (2002), tác giả Trịnh Xuân Vũ với công trình: “Văn chương và

phương pháp giảng dạy văn chương”, công trình: “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học

theo loại thể” của nhiều tác giả, “Lí luận dạy học văn” (2003) của nhiều tác giả,… Khi

đọc các công trình nghiên cứu này, ta nhận thấy các tác giả chủ yếu cung cấp những

phương pháp dạy học Ngữ Văn ở tầm khái quát hoặc chỉ dừng lại ở giai đoạn văn học chứ

chưa đi sâu vào tìm hiểu “Một số biện pháp giúp học sinh trung học phổ thông khắc

phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu” nhưng tác giả

vẫn có một vài ý kiến về đề tài này

Trang 8

Trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” (1988) Phan Trọng Luận và Nguyễn Thanh

Hùng đã đưa ra rất nhiều phương pháp học tích cực như đọc diễn cảm, dạy học nêu vấn

đề, phương pháp gợi mở, giảng bình,… Theo các tác giả, phương pháp tổ chức một giờ

học như thế nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức vững chắc có tính hệ thống

Trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” (2005) các tác giả Phan Trọng Luận, Trương

Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt đã đưa ra phương pháp dạy học bộ môn cụ

thể là: Phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông trung học, phương pháp dạy học tác

phẩm văn chương trong nhà trường, người giáo viên văn học, Các tác giả đã đưa ra

những luận điểm và những nguyên tắc, phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong

nhà trường trong đó lấy học sinh làm trung tâm, phương pháp tiếp cận phân tích giảng

dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường

Trong cuốn “Dạy học văn ở trường phổ thông” (2001) tác giả Nguyễn Thị Thanh

Hương đã nêu lên cách xây dựng bầu không khí văn chương, xây dựng câu hỏi chuẩn bị

bài, giải thích cắt nghĩa những từ khó

Trong cuốn “Lí luận dạy học Ngữ Văn” (2003) nhóm các tác giả gồm: Nguyễn Thị

Hồng Nam, Nguyễn Minh Chính, Trần Đình Thích, Hà Hồng Vân của trường Đại học Cần

Thơ đã đưa ra những khó khăn và biện pháp khắc phục những khó khăn của học sinh

trong quá trình tiếp nhận văn học Những khó khăn cụ thể như: Khó khăn xuất phát từ tác

phẩm: Từ cổ, điển cố văn học, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ, cấu trúc ngữ pháp của câu,

hình ảnh ẩn dụ,… Khó khăn do khách quan như: Về quan niệm văn chương, quan niệm

thẩm mĩ, khác biệt về lối sống, văn hóa, tập quán, kinh nghiệm sống của học sinh,… Các

biện pháp mà các tác giả đưa ra nhằm giải quyết những khó khăn trên là: Trình bày những

hoàn cảnh lịch sử mà tác phẩm ra đời, cung cấp những quan niệm của tác giả khi viết tác

phẩm, giải nghĩa từ khó, hướng dẫn học sinh suy luận dựa vào hoàn cảnh cụ thể”

Bên cạnh những tài liệu về phương pháp còn có những tài liệu viết về tác gia

Nguyễn Đình Chiểu cần thiết cho đề tài luận văn này Đầu tiên phải kể đến cuốn: “Sách

giáo khoa Ngữ Văn 11”, tập 1(Bộ cơ bản), nhà xuất bản giáo dục, do Phan Trọng Luận

tổng chủ biên, in xong và nộp lưu chiểu tháng 6 năm 2007

Sách có viết về các tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu Hệ thống các phần

trong bài học từ tiểu dẫn, văn bản, chú thích, câu hỏi hướng dẫn học bài có thể giúp các

Trang 9

em phần nào khắc phục khó khăn bước đầu khi tiếp nhận văn chương của Nguyễn Đình

Chiểu

Về tác giả Nguyễn Đình Chiểu, từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu

về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông Các công trình nghiên cứu

về Nguyễn Đình Chiểu như: “Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân

tộc”của Phạm Văn Đồng; “Nguyễn Đình Chiểu, nhà yêu nước lớn của nhân dân Việt

Nam” của Đặng Thai Mai; “Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn, một tấm gương chói

ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam” của Hoài Thanh; “Nguyễn Đình Chiểu,

đạo làm người” của Trần Văn Giàu; “Những cống hiến đặc sắc của Nguyễn Đình Chiểu

trong lịch sử văn học dân tộc” của Nguyễn Lộc;… Chúng ta thấy các nhà nghiên cứu đưa

ra những nhận định thấu đáo

Đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh trung học phổ thông khắc phục khó khăn

khi học tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu” là đề tài tiếp nối nhưng không

lặp lại Ta nói như vậy là vì người thực hiện tìm hiểu và vận dụng những công trình

nghiên cứu để tạo đà tiến hành lồng ghép, vận dụng những kiến thức ấy vào việc giúp học

sinh trung học phổ thông khắc phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương của Nguyễn

Đình Chiểu

Nói tóm lại, việc tìm hiểu lịch sử vấn đề là khâu quan trọng giúp người thực hiện

có cái nhìn bao quát hơn về nội dung, yếu tố có liên quan đến đề tài đã chọn

3 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU

Đây là đề tài thuộc về phương pháp dạy học Ngữ Văn nên phải giải đáp ba câu hỏi cơ

bản: Môn Ngữ Văn là gì? Dạy học môn Ngữ Văn để làm gì? Dạy học Ngữ Văn như thế

nào? Cũng trên tinh thần như vậy, người thực hiện đề tài: “Một số biện pháp giúp học

sinh trung học phổ thông khắc phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương Nguyễn

Đình Chiểu” đề ra những mục đích như sau:

 Thông qua đề tài, chúng ta sẽ có kiến thức sâu hơn về nền văn học trung đại nói

chung, tác giả Nguyễn Đình Chiểu nói riêng, vấn đề tiếp nhận văn học để làm nền

tảng cho việc dạy và học tốt văn chương Nguyễn Đình Chiểu trong chương trình

Ngữ văn lớp 11, tập 1

Trang 10

 Chúng ta đi sâu vào tìm hiểu những khó khăn mà học sinh trung học phổ thông vấp

phải khi học môn Ngữ Văn để từ đó có những biện pháp khắc phục phù hợp giúp

học sinh học tốt môn Ngữ Văn trong nhà trường Đây là vấn đề trăn trở của nhiều

giáo viên và cũng là mục đích quan trọng mà người thực hiện đề tài cần đạt được

Để đạt được những mục đích như vậy thì người thực hiện đề tài cần có sự thâm nhập

thực tế để hiểu được ở giáo viên và học sinh có những khó khăn ra sao trong quá trình dạy

và học tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Văn học trung đại là một thời kì văn học kéo dài từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX với sự

đa dạng về thể loại, phong phú về tác phẩm Do đây là đề tài về phương pháp lại tìm hiểu

về một tác giả cụ thể nên người thực hiện không đi vào chi tiết cặn kẽ những đặc điểm

của văn học trung đại mà chỉ điểm qua những đặc điểm chung của nền văn học trung đại

để làm nền cho việc nghiên cứu về tác gia cùng các tác phẩm thơ văn của Nguyễn Đình

Chiểu được chọn giảng trong chương trình Ngữ văn ở bậc trung học phổ thông, nghiên

cứu những biện pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương của

Nguyễn Đình Chiểu

Với đề tài này, người thực hiện sẽ đi sâu vào nghiên cứu phương pháp dạy học văn

trong nhà trường hiện nay, đồng thời kết hợp với sách giáo khoa tập thiết kế bài giảng các

tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu được chọn giảng trong nhà trường

5 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương hướng nghiên cứu:

Người thực hiện tiến hành khái quát về đặc điểm của nền văn học trung đại, vấn đề

tiếp nhận văn học, tác giả Nguyễn Đình Chiểu, tìm hiểu những nguyên nhân chủ quan

và khách quan tạo nên khó khăn khi học sinh trung học phổ thông học tác phẩm văn

chương của Nguyễn Đình Chiểu để đề ra một số biện pháp khắc phục những khó khăn đó

5.2 Đề tài này đòi hỏi người thực hiện phải sử dụng nhiều thao tác như:

 Khảo sát thực tế

Trang 11

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Thông qua đề tài này, người thực hiện mong có thể góp một phần nhỏ giải quyết

những trăn trở của giáo viên trung học phổ thông trong những tiết giảng về tác phẩm văn

chương của Nguyễn Đình Chiểu Người thực hiện mong đạt được mục tiêu giúp học sinh

dễ dàng tiếp cận, hiểu và yêu thích tác phẩm văn chương của tác gia Nguyễn Đình Chiểu

PHẦN NỘI DUNG

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 VÀI NÉT VỀ NỀN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Thuật ngữ “Văn học Việt Nam trung đại” xuất hiện lần đầu tiên do tiến sĩ Niculin, nhà

nghiên cứu Nga về văn học Việt Nam gọi Cách gọi này đã đi vào sách giáo khoa Thời kì

văn học Việt Nam trung đại trải dài từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX Văn học Việt Nam

trung đại hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của dân tộc

Nền văn học này nảy sinh từ chính quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của

dân tộc, đồng thời lại là sức mạnh tham gia vào quá trình đấu tranh ấy Chính từ trong văn

học trung đại, những truyền thống lớn trong văn học dân tộc đã hình thành, phát triển và

ảnh hưởng rõ đến sự vận động của văn học hiện đại

1.1.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG

1.1.1.1 Chủ nghĩa yêu nước

Văn hóa Đại Việt, văn chương Đại Việt khởi nguồn từ truyền thống sản xuất

và chiến đấu của tổ tiên, từ những thành tựu văn hóa và từ thực tiễn hàng nghìn năm đấu

tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc

Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh

chống giặc ngoại xâm như dân tộc Việt Nam Nhà Tiền Lê, nhà Lý chống Tống Nhà

Trần chống Nguyên Mông Nhà Hậu Lê chống giặc Minh Quang Trung chống giặc

Thanh Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường kì lịch sử

nhằm bảo vệ độc lập, thống nhất của tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh của dân tộc

mà còn góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu

nước

Đặc điểm lịch sử đó đã quy định cho hướng phát triển của văn học là phải luôn quan

tâm đến việc ca ngợi ý chí quật cường, khát vọng chiến đấu, chiến thắng, lòng căm thù

giặc sâu sắc, ý thức trách nhiệm của những tấm gương yêu nước, những anh hùng dân tộc

quên mình vì nghĩa lớn Có thể nói, đặc điểm này phản ánh rõ nét mối quan hệ biện chứng

giữa lịch sử dân tộc và văn học dân tộc

Trang 13

Quá trình đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển văn học, bồi đắp và

phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ Cho nên, chế độ phong kiến có

thể hưng thịnh hay suy vong nhưng nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển

không ngừng

Tác phẩm văn học yêu nước thời kì này tập trung thể hiện các khía cạnh tiêu biểu như:

 Tình yêu quê hương

 Lòng căm thù giặc

 Ý thức trách nhiệm

 Tinh thần vượt khó, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc

 Ý chí quyết chiến, quyết thắng

 Đề cao chính nghĩa của người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến

1.1.1.2 Chủ nghĩa nhân đạo

Văn học do con người sáng tạo nên và tất yếu nó phải phục vụ trở lại con người

Vì vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần có để tác phẩm đó tồn tại Điều này

cũng có nghĩa là trong xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, văn học Việt

Nam trung đại vẫn hướng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:

 Khát vọng hòa bình

 Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trước hết đối với những tầng lớp thấp

hèn trong xã hội phân chia giai cấp

 Đấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách thống trị

của chế độ phong kiến

 Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động

 Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống thế lực phi nhân

Tóm lại, nội dung chủ yếu của tác phẩm văn học Việt Nam trung đại qua các giai

đoạn thể hiện rõ đặc điểm của nền văn học luôn gắn bó với vận mệnh đất nước và số phận

con người

1.1.2.NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ HÌNH THỨC

1.1.2.1 Yếu tố Hán và yêu cầu dân tộc hóa hình thức văn học

Trang 14

Nền văn học nước ta ngay từ buổi đầu ra đời đã chịu ảnh hưởng sâu sắc nhiều yếu tố

văn học Hán, văn hóa Hán Dù giặc phương Bắc không đồng hóa được dân tộc ta, song cơ

bản Việt Nam cũng chịu ít nhiều những ảnh hưởng nhất định của các phong tục tập quán,

văn hóa, lối sống của người Trung Quốc

Về phương diện văn học, sự ảnh hưởng này thể hiện trên các mặt như: Chữ viết, thể

loại, hình ảnh ước lệ tượng trưng, địa danh,… Cụ thể, về chữ viết trong giai đoạn này, dân

tộc ta sử dụng chữ Hán Thể loại sáng tác: thơ Đường luật, phú, hịch, …trong văn vần hay

tự, ký, truyện trong văn xuôi đều là của Trung Quốc

Nhưng dần dần dân tộc hóa hình thức văn học đã manh nha và dần dần trở thành một yêu

cầu cấp thiết Vì thế, sau khi giành độc lập, nhà nước phong kiến đã có ý thức xây dựng

một nền văn học mang đậm bản sắc dân tộc, chống lại âm mưu đồng hóa của quân xâm

lược phương Bắc và nâng cao lòng tự hào dân tộc Tiêu biểu cho quá trình dân tộc hóa

hình thức văn học là sự ra đời của chữ Nôm Khi chữ Nôm ra đời, nó đã khẳng định sự

phát triển ngày càng cao của ý thức dân tộc, lòng tự hào, ý thức bảo vệ ngôn ngữ, văn hóa

dân tộc, chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ thù Thể thơ Đường luật vốn khắt khe đã

được các tác giả vận dụng một cách sáng tạo đưa không khí bình dị của đời sống vào

trong thơ Ngoài ra, việc tìm ra thể loại thơ lục bát, song thất lục bát cùng các biến thể của

chúng là những cố gắng đáng kể của ông cha ta trên con đường dân tộc hóa hình thức dân

tộc

1.1.2.2 Tính quy phạm và việc phá vỡ tính quy phạm

Quy phạm là những quy định đảm bảo một nơi nào đó hoạt động có tổ chức, nề nếp,

đạt hiệu quả cao Trong văn chương, tính quy phạm thể hiện ở quan điểm nghệ thuật coi

trọng tính giáo huấn của văn học qua những kiểu mẫu nghệ thuật đã thành công thức Nó

biểu hiện qua đề tài, kết cấu, hình tượng nghệ thuật,…

Về hình thức, tính quy phạm thể hiện cụ thể trong các thể loại văn học có kết cấu,

nêm luật chặt chẽ,… Rõ nét nhất là việc sử dụng điển tích, các hình ảnh tượng trưng ước

lệ Tính quy phạm còn được thể hiện ở chỗ đề cao phép đối như: đối ý, đối từ loại, đối âm

bằng trắc,…

Mặc dù, tính quy phạm khá chặt chẽ nhưng ông cha ta vẫn có những áng văn da diết

làm xao động lòng người, giàu cảm hứng nhân đạo

Trang 15

Tuy nhiên, trên con đường sáng tạo văn học, ông cha ta đã sáng tạo ra thể thơ lục bát,

song thất lục bát,…để thể hiện hồn thơ, hồn văn của mình thêm phong phú Cũng chính

từ đây, tính quy phạm dần bị phá vỡ

1.2 VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC

Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, tiếp nhận văn học được định nghĩa là “hoạt

động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm

thụ văn bản, ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi

đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch,

chuyển thể,…”[6, tr 325]

Tiếp nhận văn học mang những đặc trưng như:

 Tiếp nhận văn học là cuộc giao tiếp đối thoại đa chiều Một mặt, tiếp nhận văn học

là cuộc giao tiếp đối thoại giữa tác giả văn học với người tiếp nhận văn học thông

qua tác phẩm Mặt khác, tiếp nhận văn học là cuộc giao tiếp đối thoại giữa những

người tiếp nhận về tác phẩm văn học

 Tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị thẩm mĩ, tư tưởng của tác

phẩm văn học Đây là hoạt động tự giác vận dụng các năng lực nhận thức ở người

tiếp nhận như: liên tưởng, tưởng tượng,…

 Tiếp nhận văn học có tính đa dạng và tính không thống nhất Không phải một tác

phẩm văn học bao giờ cũng được tiếp nhận giống nhau, vấn đề tiếp nhận tùy thuộc

vào: thời đại, lứa tuổi, trình độ học vấn, nền văn hóa,…của người tiếp nhận

 Tiếp nhận văn học còn mang tính khách quan và tính chủ quan Tính chủ quan thể

hiện ở khía cạnh tiếp nhận văn học phụ thuộc vào tính cách, quan niệm tư tưởng, thị

hiếu thẩm mĩ, năng lực tiếp nhận, vốn sống của người tiếp nhận Tính khách quan

thể hiện ở chỗ mỗi tác phẩm tư thân nó có mang một giá trị về nội dung và nghệ

thuật mà dù được tiếp nhận ở những đối tượng khác nhau, trong những điều kiện lịch

sử khác nhau cũng đều có một ấn tượng chung đồng nhất về một nhân vật, một giá

trị nào đó của tác phẩm Như với “Lục Vân Tiên” dù ở thời điểm nào thì Lục Vân

Tiên cũng là bậc anh hùng, nhân nghĩa còn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm là những kẻ xấu

xa, độc ác

Trang 16

1.3 VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

1.3.1 CUỘC ĐỜI VÀ CON NGƯỜI CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

1.3.1.1 Thân thế

Nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu, ta nghĩ ngay đến một khí phách chiến đấu, một tinh

thần yêu nước bất khuất

Nguyễn Đình Chiểu tục gọi là cụ Đồ Chiểu, tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ,

sau bị mù đổi thành Hối Trai Ông sinh giờ Dậu, ngày Bính Tuất, mười ba tháng năm,

năm Nhâm Ngọ tức ngày 01 tháng 7 năm 1822 tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tổng Bình Trị

Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí

Minh) Quê quán ông vốn ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là

Thưa thiên – Huế)

Cha là Nguyễn Đình Huy, giữ chức thơ lại nơi văn hàn ty của tả quân Lê Văn Duyệt Mẹ

là Nguyễn Thị Thiệt, vợ thứ của Nguyễn Đình Huy

13.1.2 Cuộc đời

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là cuộc đấu tranh gay go để chống lại hoàn cảnh khắc

nghiệt Ông đã chứng kiến những ngày tháng đau thương của đất nước

Năm 1833, cha bị cách chức Nguyễn Đình Chiểu phải lưu lạc ra Huế ở nhờ nhà quan

Thái Phó, vốn là bạn thân của ông Nguyễn Đình Huy Hàng ngày, Nguyễn Đình Chiểu

vừa lo việc điếu đãi vừa học tập

Năm 1840, Nguyễn Đình Chiểu trở về Gia Định ôn luyện chuẩn bị cho kì thi năm

1843 Một nhà giàu trong vùng thấy ông có diện mạo khôi ngô, đức hạnh lại học giỏi hứa

gả con gái cho Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường Gia Định

Năm 1847, Nguyễn Đình Chiểu ra Huế chuẩn bị cho kì thi hương năm Kỉ Dậu Kì thi

gần kề, Ông nhận được tin đau lòng: mẹ qua đời Vì chữ hiếu, Nguyễn Đình Chiểu đã bỏ

thi, trở về quê chịu tang mẹ trên đường về vì khóc thương mẹ và đường xá xa xôi nên

Ông bị đau mắt nặng Nguyễn Đình Chiểu phải xin vào nghỉ ở nhà của ông thầy ngự y ở

Quãng Nam để chữa bệnh nhưng do bệnh quá nặng nên đôi mắt của Nguyễn Đình Chiểu

vĩnh viễn không còn nhìn thấy được nữa Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu cũng tranh

thủ học thêm nghề thuốc

Trang 17

Năm 1948, Nguyễn Đình Chiểu về đến nhà, đóng cửa chịu tang mẹ Từ đây,

Nguyễn Đình Chiểu phải gánh vác việc gia đình Ông mở trường dạy học ở Gia Định

Ngoài việc dạy học, Ông còn làm nghề bốc thuốc, chữa bệnh và sáng tác thơ văn

Thấy Nguyễn Đình Chiểu bị mù nên gia đình hứa hôn lúc trước bội ước Khi đó,

người học trò của Ông thưa với cha mẹ gả em gái mình là Lê Thị Điền cho Nguyễn Đình

Chiểu

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu tưởng chừng sẽ bình lặng thì xảy ra sự kiện năm 1858

thực dân Pháp xâm lược nước ta Cũng từ đây, quyển sách cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu

thêm những trang đời lưu lạc

Năm 1861, thành Gia Định thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình về sống ở quê vợ:

làng Thanh Ba – Gia Định Tất cả tâm trạng, suy nghĩ của ông trong giai đoạn này được

gửi gắm trong tác phẩm “Lục Vân Tiên”

Năm 1862, khi ba tỉnh miền Đông Nam Kì và Cần Giuộc rơi vào tay giặc, Nguyễn

Đình Chiểu nhất quyết không sống trong vùng giặc chiếm nên Ông cùng gia đình về sống

ở Ba Tri (Bến Tre) Tại đây, Ông tiếp tục nghề dạy học và chữa bệnh giúp người

Hoàn cảnh đất nước và cuộc đời riêng càng khó khăn, đen tối thì càng làm ngời sáng

khí tiết của cụ Đồ Chiểu Điều này thể hiện rõ qua việc Nguyễn Đình Chiểu vẫn thường

xuyên quan hệ với lãnh tụ nghĩa quân Trương Định, cùng Phan Văn Trị xướng họa để tố

cáo tội ác của thực dân Pháp và phê phán những nhà nho làm tay sai cho giặc Ta càng

kính trọng cụ Đồ Chiểu hơn khi Cụ một mực từ chối làm việc cho Pháp dù chúng nhiều

lần mời, rồi dùng tiền mua chuộc,… Nhân cách cao quý, tinh thần chiến đấu anh dũng

được Nguyễn Đình Chiểu giữ mãi cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng vào ngày 03 tháng 7

năm 1888

1.3.2 SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC VÀ ĐẶC ĐIỂM THƠ VĂN CỦA

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

a.Sự nghiệp sáng tác

Cuộc đời khí tiết của Nguyễn Đình Chiểu đã làm nên một sự nghiệp vẻ vang – sự

nghiệp văn chương chiến đấu đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng,

sự nghiệp của một chiến sĩ kiên cường không biết mệt mỏi trên mặt trận văn hóa dân tộc,

trọn đời hi sinh vì một nghĩa lớn

Trang 18

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có thể chia làm hai thời kì sáng tác

tương ứng với hai giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng của ông

Giai đoạn đầu là giai đoạn những năm 50 của thế kỉ XIX Trong giai đoạn này, ngoài việc

dạy học và làm thuốc, Ông đã sáng tác hai tập truyện dài là “ Lục Vân Tiên” và “Dương

Từ - Hà Mậu” Đây là thời kì tiếp tục hoàn thành và khẳng định tư tưởng yêu nước yêu

dân, tư tưởng nhân nghĩa coi như một bộ phận triết lí nhân sinh của ông

* “Lục Vân Tiên” là tác phẩm thơ nôm đầu tiên, trong đó thông qua những mối

quan hệ tích cực và tiêu cực trong gia đình và xã hội, thông qua những nhân vật lý tưởng

như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, Tiểu đồng, những người lao động giàu

lòng nhân nghĩa như vợ chồng ông Ngư, ông Tiều,… Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng

định cuộc sống con người tương thân tương ái với nhau trên cơ sở nhân nghĩa Tác phẩm

“Lục Vân Tiên” đã đáp ứng được tinh thần dũng cảm, trọng nghĩa, khinh tài, ghét gian ác

của người nông dân miền Nam mà cũng là của mọi người dân Việt Nam “Lục Vân Tiên”

là một tác phẩm chiến đấu, thuộc một nền văn học chiến đấu của một tác giả đứng hẳn

vào hàng ngũ chiến sĩ của nhân dân đấu tranh để thực hiện lí tưởng, hoài bão nhân nghĩa

công bằng của nhân dân

Tác phẩm “Lục Vân Tiên” có tác dụng giáo dục mạnh mẽ Con người Lục tỉnh, nhất là

tầng lớp thanh niên luôn lấy Vân Tiên là nhân vật lí tưởng, ước mơ làm một Vân Tiên

trong cuộc đời, coi mối tình Vân Tiên – Nguyệt Nga là tuyệt đẹp, coi tình bạn giữa Vân

Tiên, Hớn Minh, Tử Trực là cao quý

* “Dương Từ - Hà Mậu” có thể được soạn từ năm 1851 và hoàn chỉnh vào những

năm trước khi thành Gia Định rơi vào tay giặc Pháp Đây là một tác phẩm lớn toát ra một

tinh thần yêu nước và căm thù giặc sâu sắc Trước nguy cơ đổ vỡ cả nền đạo đức cố hữu

do ý đồ của kẻ thù xâm lược thì tác phẩm như là một lời kêu gọi mọi người trở về với

chính đạo, đủ tạo ra một sức mạnh chống giặc cứu nguy cho đất nước Tác phẩm chỉ ra

một chân lí sáng ngời là phải biết tiếp thu truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà

Ông mệnh danh là “chính đạo” để tu dưỡng nhằm đạt tới một sự thống nhất tư tưởng, biết

yêu lẽ chính, ghét cái tà để hành động cho sự tiến bộ của xã hội

Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển cao và rực rỡ của sự nghiệp văn chương

Nguyễn Đình Chiểu Giai đoạn này mở đầu từ những ngày giặc Pháp mới tràn vào sông

Trang 19

Bến Nghé cho đến khi toàn cõi Lục tỉnh Nam Kì bị chiếm đóng, tức là vào những năm 60

và 70 của thế kỉ XIX

Trong giai đoạn thứ hai này, Ông đã sáng tác một số bài thơ, văn tế và một tập truyện

dài là Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca

Thơ, văn tế của Nguyễn Đình Chiểu mang tính chất thời sự, tính chiến đấu sôi nổi Thông

qua những bài văn tế như: “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục

tỉnh”, “Văn tế Trương Định” và những bài thơ như: “Chạy tây”, “Xúc cảnh”,… Ông đã

vạch trần tội ác của giặc cùng tay sai, nói lên ước mơ nước nhà được giải phóng của nhân

dân trước cảnh nhà tan nước mất, nói lên lòng căm thù vô hạn của quần chúng nhân dân

đối với bọn giặc xâm lược Nó làm sống lại trong tâm trí chúng ta phong trào kháng Pháp

oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ trong suốt cả giai đoạn này Qua những trang

viết, ta thấy Nguyễn Đình Chiểu đã nhận thấy được mối quan hệ giữa lãnh tụ nghĩa quân

với quần chúng, tình thương của quân sĩ đối với lãnh tụ cũng như lòng ưu ái của lãnh tụ

đối với quân sĩ Đây là quan niệm rất mới về anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu, rất khác

với quan niệm phong kiến về trung quân ái quốc

* Tập truyện dài “Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca” được sáng tác từ khi Nguyễn

Đình Chiểu về Ba Tri (1862), có lẽ vào năm 1867, khi cả miền đất đai rộng lớn của tổ

quốc rơi vào tay giặc Pháp Đây là một quyển văn vần dạy nghề thuốc chữa bệnh kể

chuyện Thê Triền, Tử Phược đi tìm thầy học chữa bệnh cứu dân mà cũng là tìm thầy học

đạo cứu đời, cứu nước Nguyễn Đình Chiểu đã mượn lời các nhân vật tượng trưng của tập

truyện để diễn tả ngay nỗi lòng của Ông Đó là một tấc lòng lúc nào cũng lo đạo thương

dân, một mảnh hồn nhẹ nhàng, trong sáng và một niềm tin vĩ đại vào tương lai

Tóm lại, sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã đưa Ông lên địa vị của một

người mở đầu cho dòng văn học yêu nước Giá trị lớn lao mà cụ Đồ Chiểu để lại cho con

cháu chính là ánh hào quang tư tưởng chiếu tỏ từ những tác phẩm ưu tú Đó là đạo đức

nhân nghĩa yêu nước kết tinh nguyện vọng và ý chí của những người lao động đã từng hi

sinh xương máu để dựng nước và giữ nước, ước mơ vươn tới một xã hội công bằng và

nhân đạo

Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là “Ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc” như

lời nhận xét của thủ tướng Phạm Văn Đồng

Trang 20

b.Đặc điểm thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

Văn chương Đồ Chiểu là một thành tựu xuất sắc của loại văn chương đạo lí Sức mạnh

của nó trước hết là sức mạnh của cảm xúc trữ tình với một cường độ mãnh liệt, phi

thường

Cụ Đồ đã tuyên truyền đạo lí bao gồm tư tưởng nhân nghĩa và chủ nghĩa yêu nước Vẻ

đẹp của văn chương Đồ Chiểu chủ yếu không phải là ở sự lung linh kì ảo mà trước hết là

ở sự chân chất, chắc nịch mà giàu sinh khí Chính điều này đã giúp cho các tác phẩm của

Nguyễn Đình Chiểu đi sâu được vào lòng quần chúng nhân dân nhất là đồng bào ở miền

Nam

1.3.1.3 VỊ TRÍ CỦA TÁC GIẢ VÀ CÁC TÁC PHẨM ĐƯỢC CHỌN

GIẢNG TRONG NHÀ TRƯỜNG

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của dân tộc Đời sống và sự nghiệp của ông là một

tấm gương sáng nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao sứ mệnh của

người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng Ông có một lòng tin vững chắc vào sức

mạnh của quần chúng, Ông là ngọn cờ của dòng thơ văn yêu nước trong giai đoạn thế kỉ

XIX Điều này thể hiện Ông là người nói lên được tiếng nói của thời đại, nói lên những

vấn đề bao quát của của cả một giai đoạn lịch sử đương thời như cuộc kháng chiến chống

giặc cứu nước của nhân dân ta và nhu cầu cấp thiết phải thống nhất tư tưởng và ý chí hành

động để có thể tập trung mọi cố gắng nhằm tạo ra một sức mạnh đủ để đương đầu với

quân xâm lược cứu nguy cho dân tộc Vì vậy, các nhà biên soạn sách giáo khoa giảng dạy

bậc phổ thông trung học đã đặt Nguyễn Đình Chiểu vào vị trí quan trọng với nhiều tác

phẩm được chọn giảng trong nhà trường như:

1 Đoạn trích: “Lẽ ghét thương” (trích truyện Lục Vân Tiên)

2 Tác phẩm: “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

Chương 2

Trang 21

NHỮNG BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN KHI HỌC CÁC TÁC PHẨM

VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

2.1 NHỮNG KHÓ KHĂN KHI HỌC SINH TIẾP CẬN CÁC TÁC PHẨM

Trong từ điển “Thuật ngữ văn học” định nghĩa thể loại văn học là: “Dạng thức của tác

phẩm văn học, được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện ở

sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời

sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng

đời sống ấy Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng những phương pháp

chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khác nhau đối với hiện

thực, có những cách thức xây dựng hình tượng nghệ thuật khác nhau Các phương thức

ấy ứng với những dạng thức hoạt động khác nhau của con người – hoặc trầm tư, chiêm

nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung đột,… Làm cho tác phẩm văn học bao

giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân

vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn Người ta tập hợp thành từng nhóm những tác

phẩm văn học giống nhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại chỉnh thể ấy”[6, tr

299]

a Thơ

Từ điển “Thuật ngữ văn học” định nghĩa thơ là: “Hình thức sáng tác văn học phản

ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm

súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”[6, tr 309]

Tác phẩm “Lục Vân Tiên” là một truyện thơ nôm đặc sắc Đối với người đương thời

thì tác phẩm này dễ tiếp nhận và cảm một cách sâu sắc Tác phẩm “Lục Vân Tiên” được

Trang 22

Nguyễn Đình Chiểu viết bằng thể thơ lục bát Đây là thể thơ dân tộc do đó người đọc đặc

biệt là người bình dân dễ dàng tiếp nhận Trong chương trình sách giáo khoa lớp 11 thì

khi đi vào tiết giảng đoạn trích của tác phẩm này giáo viên cần chú ý phân tích cho các

em hiểu rõ về đặc trưng của thể loại thơ lục bát, cách gieo vần, ngắt nhịp Một số học sinh

chưa rõ luật thơ do đó các em sẽ không thể phân biệt được thơ tự do, thơ Đường và thơ

lục bát của dân tộc như thế nào Từ đó, học sinh có tâm lý “sợ” thơ

b Văn tế

Văn tế là: “Một loại văn gắn với phong tục tang lễ chủ yếu nhằm bày tỏ sự thương tiếc

của tác giả và của những người thân đối với người đã mất Nội dung văn tế thường xoay

quanh hai ý chính: một là kể về cuộc đời người quá cố; hai là bộc lộ tình cảm, thái độ của

người sống trong giờ phút vĩnh biệt Mặc dù trong văn tế có những đoạn tự sự, kể về

người quá cố, nhưng căn bản nó thuộc thể loại trữ tình Âm điệu chung của nó là bi

thương” [6, tr 421]

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là tác phẩm được giảng dạy trong chương trình sách giáo

khoa lớp 11 Bài: “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là loại văn tế thể phú, mang tính chất

chính luận bi tráng Đây là tác phẩm tác động sâu sắc đến người tiếp nhận đương thời

nhưng đây là thể loại văn tế khá lạ so với học sinh trung học phổ thông nên học sinh khó

tiếp cận và hiểu về thể loại này một cách tường tận về hình thức diễn đạt, bố cục của bài

văn tế nên học sinh thường tỏ ra không hiểu gì hoặc chỉ nắm nội dung tác phẩm một cách

lờ mờ

2.1.1.2 Điển cố

Điển cố hay còn gọi là điển tích là những chuyện xưa cũ thường là của Trung Quốc,

kể về các tấm gương hiếu thảo, anh hùng liệt nữ và các tấm gương đạo đức khác trong

lịch sử cũng thường là lịch sử Trung Quốc Những tác giả Trung Quốc và Việt Nam xưa

hoặc theo phong cách cổ điển thường coi việc biện dẫn điển cố vừa là một cách khẳng

định sự hiểu biết của mình vừa là chuẩn mực cho việc viết văn làm thơ Khi sử dụng điển

cố, các tác giả thời trung đại có thể đạt được hiệu quả nghệ thuật như: Tăng cường tính cô

đọng, hàm súc của ngôn từ nghệ thuật trong các tác phẩm có dung lượng ngắn hoặc cực

ngắn Tăng tính thuyết phục cho lập luận bằng những tấm gương mẫu mực trong lịch sử,

một biểu hiện rõ nét của tinh thần trọng cổ Tăng cường tính uyên bác, hàn lâm cho tác

Trang 23

phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu vận dụng kho tri thức phong phú mà người sáng tạo tích

lũy được trong quá trình học tập Mặc khác, khi tiếp xúc với điển cố, người đọc càng tích

lũy được nhiều tri thức càng có khả năng liên tưởng, phát hiện những lượng nghĩa hàm

chứa phong phú trong điển cố Hứng thú thẩm mĩ ở người tiếp nhận nhờ vậy cũng được

tăng cường tỉ lệ thuận với quá trình liên tưởng, phát hiện đó

Nếu như điển cố không xa lạ với những người có học thời xưa thì nó lại gây khó khăn

cho người tiếp nhận văn học thời nay Nói như vậy là vì, điển cố trong văn học trung đại

thường được lấy từ những trang sách sử Trung Quốc Người xưa thường mượn điển cố để

diễn một ý ngắn gọn nhằm nâng cao khả năng biểu hiện hình ảnh và làm cho câu văn trở

nên cô đọng, hàm súc Trong thơ văn trung đại, điển cố được sử dụng như một biện pháp

nghệ thuật, một chuẩn mực trong sáng tác

Đến thế kỉ XIX, trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu ta vẫn thấy điển cố xuất hiện

khá nhiều Điều này thể hiện qua đọan trích: “Lẽ ghét thương” có hàng loạt các điển cố

như: Kiệt, Trụ; U, Lệ; Ngũ bá; Thúc quý; Thánh nhân; Tống, Vệ, Trần, Khuông; Nhan tử;

Gia Cát; Đổng tử; Nguyên Lượng; Hàn Dũ; Liêm, Lạc Trong tác phẩm: “Văn tế nghĩa sĩ

Cần Giuộc” tác giả có sử dụng điển cố: Chém rắn đuổi hưu Vào giai đoạn này, việc sử

dụng điển cố của tác giả không nhằm mục đích khẳng định tài năng của mình hay bắt

người đọc phải biết điển cố đó là gì mà chỉ sử dụng để nhằm tăng tính thuyết phục cho tác

phẩm Nói như vậy không có nghĩa là người đọc không cần biết hay quan tâm đến điển

cố Học sinh biết điển cố sẽ góp phần làm tăng sự yêu thích văn chương của bản thân

Học sinh sẽ cảm thấy không mệt mỏi khi học đoạn trích hay bài văn tế có sử dụng điển

cố Hiểu điển để từng bước đi đến yêu thích tác phẩm văn chương là một việc làm khó

khăn đối với học sinh lớp 11

2.1.1.3 Hình ảnh ước lệ tượng trưng

Trong quá trình miêu tả, biểu hiện, các tác giả thời trung đại nói chung và tác

giả Nguyễn Đình Chiểu nói riêng luôn có xu hướng sử dụng những hình ảnh tượng trưng

được xem là mẫu mực mà qua nhiều thời kì đã được mặc nhiên chấp nhận Trong tác

phẩm “Lục Vân Tiên” cùng với cảnh non nước, làng mạc, dòng sông là hình ảnh ông Ngư,

ông Tiều, ông Quán Nhân vật chính diện thường được miêu tả là những người anh hùng

như Lục Vân Tiên văn võ song toàn,… Đó là các hình ảnh ước lệ được sử dụng phổ biến

Trang 24

tới mức trở thành nét đặc trưng riêng của nghệ thuật miêu tả, biểu hiện trong văn chương

thời trung đại

Quan điểm ước lệ không chú ý đến logic đời sống, đến mối quan hệ thực tế của các

hình ảnh mang tính chất mẫu mực, công thức Vì thế, khi phân tích các hình ảnh ước lệ,

chúng ta không cần đặt vấn đề có hay không có lí, đúng hay không đúng thực tế mà chỉ

xem xét sức mạnh khơi gợi của hình ảnh có sâu sắc hay không, hình ảnh có được dùng

đúng tình đúng cảnh và thể hiện được tư tưởng tình cảm của tác giả hay không Vấn đề

này là một yêu cầu không phải dễ đối với học sinh trung học phổ thông hiện nay, khi các

em đã quen tiếp xúc với lối viết phóng túng, ít gò bó, gần gũi với thực tế

2.1.1.4 Nhìn nhận các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu một cách toàn diện

Để nghiên cứu khoa học tiến thêm một bước mới, đã đến lúc phải xử lí toàn bộ tư liệu

có thể chứ không phải là lựa chọn lấy những tư liệu phù hợp với những kết luận sẵn có

Chúng ta phải tôn trọng đều Nguyễn Đình Chiểu tâm huyết, khẳng định, phải phân tích kĩ

lưỡng tất cả những gì Ông kiên trì bảo vệ và cả những đổ vỡ, những giới hạn mà Nguyễn

Đình Chiểu không thể vượt qua trong sáng tác Chúng ta phải đặt Nguyễn Đình Chiểu

trong mối quan hệ với cuộc đời và tác phẩm để phân tích, lí giải về Ông không chỉ với tư

cách của một người dùng ngòi bút để chiến đấu mà xem xét vị trí của Nguyễn Đình Chiểu

trong cả tiến trình văn học Thông qua các tác phẩm của tác giả, chúng ta không chỉ nhìn

ra những mặt tích cực, mặt mạnh mà còn nhìn nhận cho được những giới hạn đã dẫn đến

bế tắc

2.1.2 NHỮNG KHÓ KHĂN XUẤT PHÁT TỪ PHÍA HỌC SINH

2.1.2.1 Sự cách biệt về thời đại

Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, học sinh cần nắm vững những thông tin

về hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh lịch sử, quan niệm sống của thời đại lúc tác phẩm văn

học ra đời,… Nếu học sinh thiếu hoặc chưa có đầy đủ những thông tin về các vấn đề này

thì tiếp nhận tác phẩm văn học sẽ không trọn vẹn, thậm chí hiểu lệch, hiểu sai ý nghĩa tư

tưởng nội dung tác phẩm là một điều rất dễ xảy ra

Một tác phẩm ra đời muốn hay không muốn đều bị tác động và ảnh hưởng của xã hội

đương thời Nói như vậy là vì, tác phẩm là đứa con đẻ của tác giả mà tác giả lại sống

trong những mối quan hệ với cộng đồng nên một tác giả văn học khi sáng tác tác phẩm

Trang 25

đều ít nhiều bị tác động của xã hội, bao giờ cũng có mối liên hệ với tư tưởng xã hội Tác

phẩm càng có tầm vóc thời đại, sức khái quát lớn, phản ánh cả chiều rộng và chiều sâu

của cuộc sống xã hội, con người thì càng bị tác động của tư tưởng xã hội càng cao Vì

vậy, Chúng ta có thể nói, tác phẩm là cuộc sống rộng lớn, đa dạng, phong phú của xã hội

con người được nhà văn thể hiện qua ngòi bút của mình

Sự cách biệt về thời đại có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học

Học sinh lớp 11 với vốn sống còn hạn chế và khi chưa có đủ thông tin về tác phẩm văn

học thì sẽ rất khó khăn khi đi vào phân tích ý nghĩa nội dung tư tưởng của tác phẩm văn

học cần tìm hiểu

Khi học đoạn trích: “Lẽ ghét thương” trích trong tác phẩm: “Lục Vân Tiên” mà học

sinh không nắm được những bước thăng trầm trong chặng đường của cuộc đời cũng như

quan niệm sống tác giả Nguyễn Đình Chiểu thì sẽ khó nắm hết nội dung tư tưởng của

đoạn trích nói riêng và của cả tác phẩm “Lục Vân Tiên” nói chung Hay tác phẩm “Văn tế

nghĩa sĩ Cần Giuộc”, nếu học sinh không nắm những thông tin đầy đủ về hoàn cảnh sáng

tác bài văn tế là khóc cho những người nghĩa sĩ Cần Giuộc với vũ khí thô sơ, họ đã vùng

lên đánh giặc Pháp, hi sinh anh dũng thì sẽ không hiểu hết tình cảm của tác giả cũng như

thấy được tượng đài bất khuất về người anh hùng nông dân Cần Giuộc nói riêng và người

dân Nam Bộ chống giặc cứu nước nói chung

2.1.2.2 Sự khác biệt về quan niệm văn học

Quan niệm văn học của thời trung đại chủ yếu là quan niệm nho giáo “Văn dĩ tải

đạo”, “Thi ngôn chí” Các nhà nho coi văn chương là hình thức, là cái để chứa, để chuyên

chở đạo lí và sáng tác văn chương là để “lập công”, “lập chí”, “lập ngôn” Tư tưởng của

Nguyễn Đình Chiểu là tư tưởng của một nhà nho, nhưng trong sạch theo đạo lí Thánh,

Hiền là mong muốn đất nước thịnh trị chứ không phải quá chú trọng về lối văn phù phiếm

của các đời Tống, Đường về sau

Nguyễn Đình Chiểu muốn đem cái mình học được để phò dân giúp nước nhưng

không may Ông bị tật nên tư tưởng ấy không đạt và đã phải kí thác vào những vần thơ

cùng tác phẩm lớn như Lục Vân Tiên Tư tưởng của cụ Đồ Chiểu còn được thể hiện rõ nét

qua những ngày giờ bão táp của lịch sử, những phút sống còn của dân tộc Trong hoàn

Trang 26

cảnh ấy, tư tưởng của cụ Đồ thể hiện ở lập trường đạo đức, thủy chung trước sau như một

của người sĩ phu yêu nước, tiêu biểu cho các sĩ phu nho học cùng thời

Tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu lấy triết lý của Khổng Mạnh là gốc, lấy Phật giáo

làm căn Ông tin vào luật nhân quả và nói đến nhân quả rất nhiều trong tác phẩm Lục Vân

Tiên như kẻ hiền gặp lành, kẻ ác gặp dữ, thiện giả thiện lại, ác giả ác đáo,…

Học sinh ngày nay với cái nhìn của con người hiện đại, quan niệm của các em có phần

khác biệt khá xa so với các quan niệm nho, phật nên việc tiếp cận với các tác phẩm theo

các quan niệm này cũng gặp nhiều khó khăn

2.1.2.3 Sự khác biệt về quan niệm thẩm mĩ

Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa thị hiếu thẩm mĩ là: “một hiện tượng xã

hội, lịch sử kết hợp biện chứng trong bản thân nó những yếu tố mang tính dân tộc, giai

cấp và nhân loại Thị hiếu thẩm mĩ của cá nhân là cái tâm thế thẩm mĩ được hình thành

trong kinh nghiệm thẩm mĩ và đến lượt mình, nó bao hàm thêm những kinh nghiệm mới

thông qua những tiếp nhận và trải nghiệm thẩm mĩ mới”.[6, tr 308]

Ở mỗi giai đoạn lịch sử, con người có những quan niệm khác nhau về cái đẹp trong

văn chương Người xưa cho rằng cái đẹp toát lên từ sự cân đối hài hòa, cách gieo vần, bố

cục,… Cái đẹp không chỉ là cái đẹp của hình ảnh thơ mà còn là cái đẹp hiện lên từ một

kết cấu cân đối Tuy nhiên, con người ngày nay quan niệm cái đẹp mang tính phóng

khoáng, không bị gò bó vào bất kì một khuôn phép nào

Một hiện tượng khá phổ biến trong các tác phẩm thời trung đại là sử dụng điển cố thể hiện

tư tưởng “sùng cổ” của con người thời kì này Đây là quan niệm ít tồn tại ở con người

trong thời kì hiện đại Nếu chúng ta cứ máy móc đặt trong quan niệm thẩm mĩ thời nay để

đánh giá thì sẽ không thấy được tài hoa uyên bác của các tác giả trung đại nói chung của

Nguyễn Đình Chiểu nói riêng

Nói tóm lại, học sinh muốn hiểu được tác phẩm văn học trung đại một trong yếu tố

cần thiết là phải hiểu được quan niệm thẩm mĩ thời kì này Nếu không, cái hay của các tác

phẩm văn chương Nguyễn Đình Chiểu nói riêng của nền văn học trung đại nói chung sẽ

mãi là ẩn số đối với người tiếp nhận

Trang 27

2.1.2.4 Sự khác biệt trong cách đánh giá con người, cách đánh giá các giá trị đời

sống xã hội

Con người ngày nay với cái nhìn, quan niệm thẩm mĩ khác so với con người thời

trung đại nên cách nhìn nhận, đánh giá của con người ngày nay khác so với con người

trong thời trung đại Mặc khác, trong cùng một thời đại nhưng mỗi người lại có cách cảm,

cách nghĩ khác nhau cho nên cách đánh giá về con người, về các giá trị của đời sống xã

hội cũng có sự khác nhau

Với tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu, trong mối tương

quan giữa một bên là hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc với vũ khí thô sơ, không quen

chiến đấu và một bên là thực dân Pháp với trang bị vũ khí kĩ thuật tối tân còn binh lính

được huấn luyện qua trường lớp, học sinh có thể có cái nhìn không tích cực về người

nghĩa sĩ Cần Giuộc Học sinh có thể xem hành động của người nghĩa sĩ là hành động dại

dột của những người liều lĩnh Thậm chí, học sinh có thể nghĩ đây là những người không

biết lượng sức mình khi quyết định xông trận nên cái chết là kết quả hiển nhiên không có

gì đáng ngợi ca

Học sinh cũng có thể nghĩ rằng đoạn trích “Lẽ ghét thương” (trích truyện “Lục Vân

Tiên”) chỉ là lời nói của một con người bình thường thể hiện thái độ yêu, ghét của mình

chứ không có giá trị gì lớn lao

Để tránh học sinh có cái nhìn lệch lạc về những hình ảnh, những chi tiết trong tác phẩm

và đi đến đánh giá một cách tùy tiện thì học sinh cần có cái nhìn, góc độ tiếp cận tác phẩm

phù hợp Đây cũng là khó khăn mà người giáo viên cần giúp học sinh khắc phục

2.1.2.5 Hạn chế về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thưởng thức văn chương

Đối tượng tiếp nhận tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường

phổ thông là học sinh lớp 11 Học sinh lớp 11 chỉ ở độ tuổi từ 16 đến 18 Cuộc sống của

các em chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình – nhà trường và một xã hội thu nhỏ ở xung

quanh các em là xóm làng Kinh nghiệm sống của học sinh còn nhiều hạn chế do chưa

tiếp xúc nhiều với xã hội phức tạp Để hiểu được cái ghét, cái thương của ông Quán trong

đoạn trích “Lẽ ghét thương” một cách sâu sắc là một vấn đề khó khăn đối với học sinh

Hay đối với tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” để học sinh hiểu được thấu đáo tấm

lòng yêu nước của cụ Đồ Chiểu trong cảnh nước mất nhà tan là đều không dễ

Trang 28

Mặc khác, khi sáng tác tác phẩm văn học, tác giả luôn tìm cách xây dựng nhân vật

vượt lên trên giới hạn của cuộc sống riêng, kinh nghiệm riêng để hòa vào cuộc sống

chung để tạo nên nhân vật điển hình Cho nên, mỗi hình tượng nghệ thuật là kết quả của

cả một quá trình tìm tòi, sáng tạo, khái quát thực tiễn của tác giả Để tạo nên đứa con tinh

thần của mình, tác giả không ngừng trao dồi vốn sống, vốn kinh nghiệm ở nhiều phương

diện như: Từ ngữ, mĩ học, đạo đức, giáo dục, văn hóa,… Nếu học sinh không có kinh

nghiệm thưởng thức tác phẩm văn học sẽ không thể cảm nhận được hết các giá trị về nội

dung và nghệ thuật của tác phẩm

2.1.3 NHỮNG KHÓ KHĂN XUẤT PHÁT TỪ PHÍA GIÁO VIÊN

2.1.3.1 Sợ cháy giáo án

Thời gian của một tiết học tại các trường trung học phổ thông là 45 phút Với thời

gian như vậy, người giáo viên phải làm đủ hết các bước của tiến trình dạy học như: Ổn

định lớp, kiểm tra bài cũ, dẫn dắt học sinh vào bài mới, tiểu dẫn, đọc tác phẩm rồi đi vào

phân tích giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của một tác phẩm, tổng kết, củng cố và mở

rộng kiến thức cho học sinh Mỗi tiết như vậy giảng dung lượng bao nhiêu đã được quy

định sẵn nên người giáo viên thường chạy theo thời gian mà dàn trải kiến thức Giáo viên

thường “sợ” học sinh làm mất nhiều thời gian của mình nên ít khi gọi học sinh đọc tác

phẩm, phân tích một hình ảnh nghệ thuật hay so sánh với một hình ảnh nghệ thuật khác

Từ nguyên nhân này dẫn đến nhiều hậu quả như bài giảng không sâu, học sinh nắm không

vững nội dung bài học, tạo nên tâm lí “chán” học văn của học sinh, học sinh bị suy giảm

khả năng cảm thụ và phân tích tác phẩm

2.1.3.2 Hạn chế trong từng giáo viên

Hầu hết các giáo viên đều thấy được trao dồi các phương pháp dạy học mới là đều cần

thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của học sinh Nhưng khi tiến hành áp dụng các

phương pháp dạy học mới thì giáo viên cũng gặp không ít khó khăn Đổi mới phương

pháp dạy học có nghĩa là giáo viên phải bỏ giáo án cũ, bỏ mọi kĩ năng, kĩ xảo dạy học đã

thành thói quen để ngồi hàng giờ mài mò, tham khảo, xây dựng, thử nghiệm phương pháp

giáo dục mới Thành công cũng chẳng ai khen, thất bại thì coi như phải làm lại từ đầu còn

nếu không thực hiện phương pháp dạy học mới thì cũng chẳng ai chê Vì lí do nêu trên

mà đa số giáo viên chọn cho mình con đường an toàn là giữ nguyên cách dạy cũ

Trang 29

Hạn chế thứ hai là do một số giáo viên còn hạn chế về chất giọng, cách đọc, cách

diễn đạt, kiến thức chuyên môn Điều này rất quan trọng trong công tác giảng dạy Bởi

người giáo viên như người nghệ sĩ cần phải nói tốt, đọc tốt, có chất giọng tốt, có sức thể

hiện và biểu cảm cao trong ngôn ngữ Điều đặc biệt là người đi xem hát có thể lựa chọn

cho mình vở diễn nhưng giáo viên và học sinh không có sự lựa chọn lẫn nhau Người giáo

viên hình thành nhân cách của học sinh giống như một nhà điêu khắc tạo ra tác phẩm của

mình bằng một chất liệu sống nên việc tự bồi dưỡng cho bản thân khả năng sư phạm và

kiến thức chuyên môn là một việc làm vô cùng cần thiết mà mỗi giao viên phải thực hiện

2.1.3.3 Bệnh thành tích trong giáo dục

Bệnh thành tích là một căn bệnh đang tồn tại trong nền giáo dục của nước ta hiện nay

Ngày nay, chúng ta thấy có rất nhiều học sinh sai lỗi chính tả đầy rẫy, một số em đi thi

tuyển sinh Đại học khối C mà lại nhầm lẫn sông Tiền Đường bên Trung Quốc với sông

Tiền Giang ở Việt Nam, hay bình ngây ngô một tác phẩm nào đó đến mức không thể chấp

nhận được Thế nhưng, kết quả học tập của các em này lại cao tới mức không thể tin nổi

Đều này phải nhìn nhận chính xác rằng nguyên nhân không phải do giáo viên không có

khả năng đánh giá mà do tìm cách nâng điểm cho học sinh do chỉ tiêu thi đua của trường

khống chế Căn bệnh này để lại một di chứng vô cùng nghiêm trọng là tạo ra một chất

lượng ảo, học sinh học tập ngày càng yếu kém hơn và có tâm lí ỉ lại vào giáo viên sẽ nâng

điểm cho mình Giáo viên dễ bị thui chột tài năng, lòng nhiệt tình, không mặn mà với sự

đổi mới Căn bệnh này muốn giải quyết triệt để là một vấn đề khó khăn cần có sự chung

tay góp sức của nhiều giáo viên có tâm huyết với ngành giáo dục

Trang 30

2.2 NHỮNG BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN KHI HỌC CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN

ĐÌNH CHIỂU

2.2.1 BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN DỰA VÀO TÁC PHẨM

2.2.1.1 Dựa vào những kiến thức về thể loại

Bất kì một tác phẩm nào cũng tồn tại dưới một thể loại nhất định, mỗi thể loại có

những quy phạm riêng Các thể loại tồn tại dưới tác động của nhiều yếu tố nên sẽ có nhiều

biến chuyển tạo nên khoảng cách trong cùng một thể loại ở những thời kì khác nhau

Chính điều này tạo nên khoảng cách gây khó khăn cho người tiếp nhận văn học nói chung

và cho học sinh nói riêng Vì vậy, người giáo viên cần phải hiểu đặc trưng thể loại và giúp

học sinh khai thác những đặc trưng đó nhằm góp phần làm cho bài học trở nên khoa học

hơn, hiệu quả hơn

Văn chương của Nguyễn Đình Chiểu được đưa vào giảng dạy trong chương trình sách

giáo khoa lớp 11 gồm đoạn trích “Lẽ ghét thương” (Trích trong tác phẩm “Lục Vân

Tiên”) và tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” Đối với học sinh lớp 11 thì hai thể loại

thơ lục bát và văn tế này vừa lạ lại vừa quen Do đó, khi dạy giáo viên cần dựa vào đặc

điểm của từng thể loại để phân tích, nhận xét, đánh giá

Tác phẩm “Lục Vân Tiên” là một truyện thơ nôm và tác phẩm này được đưa vào

chương trình học dưới hình thức đoạn trích Học sinh sẽ gặp khó khăn khi tiếp cận đoạn

trích “Lẽ ghét thương” là điều không thể tránh khỏi Để giúp học sinh khắc phục khó khăn

thì trước hết người giáo viên phải cung cấp cho học sinh kiến thức về thể thơ lục bát cho

học sinh nắm

Thơ lục bát là thể tổ hợp giữa câu sáu và câu tám Số câu không cố định, ít thì hai câu

thành một cặp (thường gặp trong ca dao, tục ngữ) chủ yếu mỗi bài gồm bốn câu và nhiều

câu Ở mỗi bài nhiều câu, cách phân chia khổ thơ cũng linh hoạt Trong thơ lục bát có sự

kết hợp giữa hai loại vần chân và vần lưng và thường được gieo ở số chữ chẵn Vần bằng:

chữ thứ sáu câu sáu vần với chữ thứ sáu câu tám và chữ thứ tám câu tám vần với chữ thứ

sáu câu sáu tiếp theo Đây là cách gieo vần phổ biến

“Quán rằng: ghét việc tầm phào

Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”

Trang 31

(Lục Vân Tiên)

Có khi ngoại lệ như chữ thứ sáu câu sáu vần với chữ thứ tư câu tám

“Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm

Để dân đến nổi sa hầm sẩy hang”

(Lục Vân Tiên)

Vần trắc: Thường xuất hiện ở một số bài ca dao, cần chú ý khi gieo vần ở câu tám (vần

bằng) là chữ thứ sáu và chữ thứ tám (trong cách gieo vần phổ biến) và chữ thứ tư và chữ

thứ tám trong cách gieo vần ngoại lệ tuy là thanh bằng cả nhưng không được trùng thanh

mà phải một thanh huyền một thanh ngang Nếu chữ thứ sáu là thanh huyền thì chữ thứ

tám phải là thanh ngang và ngược lại, nếu chữ thứ sáu là thanh ngang thì chữ thứ tám là

thanh huyền Về nhịp: Thơ lục bát chủ yếu ngắt nhịp 2:

“Quán rằng:/ ghét việc/ tầm phào

Ghét cay,/ ghét đắng,/ ghét vào/ tận tâm”

(Lục Vân Tiên)

Có khi ngắt nhịp hỗn hợp cho thích ứng với nội dung cảm xúc:

“Thương/ là thương/ đức thánh nhân

Khi nơi/ Tống,/ Vệ/ lúc Trần,/ lúc Khuông”

(Lục Vân Tiên)

Học sinh nắm được đặc trưng của thể thơ lục bát sẽ dễ dàng tiếp cận đoạn trích và các tác

phẩm khác có thể thơ lục bát như thế trong chương trình học về sau

Văn tế là một thể loại của văn chương trung đại mà có không ít học sinh chưa hiểu

nhiều về thể loại này

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu là tác phẩm thuộc thể loại văn tế

phỏng theo phú Đường luật Về bố cục của một bài văn tế thường có bốn đoạn: Đoạn mở

đầu (lung khởi) luận chung về sống chết, thường khởi xướng bằng những từ “thương ôi!,

hỡi ôi!”, đoạn thứ hai (thích thực) kể công đức, phẩm hạnh, cuộc đời của người đã khuất,

thường bắt đầu bằng cụm từ “nhớ linh xưa”, đoạn thứ ba (ai vãn) nói lên niềm thương tiếc

đối với người đã chết, đoạn thứ tư (kết) bày tỏ lòng tiếc thương và lời cầu nguyện của

người đứng tế

Trang 32

Giọng điệu của bài văn tế thường là giọng lâm li, thống thiết, sử dụng nhiều thán

từ và những từ ngữ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh Trong tiết giảng, giáo viên cho

học sinh biết cách đọc của bài văn tế và gọi học sinh thực hành Cách đọc của bài: “Văn tế

nghĩa sĩ Cần Giuộc” là:

Đoạn 1: Lung khởi (câu 1,2): Khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý

nghĩa cái chết bất tử của người nông dân cũng là của người nghĩa sĩ Cần đọc với giọng

trang trọng, âm vang

Đoạn 2: Thích thực (từ câu 3 đến câu 15): Tái hiện chân thực hình ảnh người nông

dân từ cuộc đời lao động vất vả, tủi cực đến phút vươn mình thành dũng sĩ, đánh giặc và

lập chiến công Đoạn này từ trầm lắng khi hồi tưởng chuyển sang giọng hào hứng, sảng

khoái khi kể lại chiến công

Đoạn 3: Ai vãn (từ câu 16 đến câu 28): Bày tỏ lòng tiếc thương, sự cảm phục của tác

giả và của nhân dân đối với người nghĩa sĩ Đoạn này cần đọc với giọng trầm buồn, sâu

lắng, có những câu học sinh cần thể hiện sự xót xa đau đớn, có lúc như nức nở ai oán đến

nghẹn ngào (câu 24,25)

Đoạn 4: Kết (2 câu cuối): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ Cần đoạc giọng

thành kính trang nghiêm, âm điệu trầm hùng

Tóm lại, nắm được đặc trưng thể loại, học sinh sẽ có cơ sở vững chắc đi vào tìm hiểu

tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu

2.2.1.2 Dựa vào đặc trưng ngôn ngữ

Từ là bộ phận quan trọng để cấu thành nên ngữ, câu, đoạn,… Nên việc dạy đúng

nghĩa của từ là điều rất cần thiết Học sinh cần hiểu tất cả ý nghĩa của từ, nghĩa sâu xa, sự

phong phú về nghĩa của từ thì mới đi vào hiểu tác phẩm văn chương được Phạm Văn

Đồng cũng từng khẳng định vai trò quan trọng của từ: “Tôi cho rằng dạy văn thì từ là rất

quan trọng”

Tác phẩm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu được chọn giảng trong nhà trường phổ

thông có nhiều lớp từ cần phải cắt nghĩa, giải thích Ví dụ như: Điển cố, từ Hán Việt, từ

cổ, tượng trưng, ước lệ,…

Từ ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cần trong chương trình giảng dạy ở trung học

phổ thông xếp theo thứ tự chữ cái:

Trang 33

7 Án cướp án gian: Phải tội vì cướp bóc gian tà

8 Ăn gan cắn cổ: Nói lòng căm thù giặc xâm lược, muốn cắn cổ, phanh thây ăn

gan quân cướp nước

9 Bao tấu bầu ngòi: Bao đựng dao mã tấu (bao tấu), và bầu đựng thuốc đạn, ngòi

nổ

10 Bát cơm manh áo: Nó chung cái ăn thức mặc

11 Bòng bong: Vải bạt hoặc đệm buồm kết lại để che nắng Chỉ những lều vải bạt

của giặc

12 Con đỏ: Trẻ mới sinh ra nước da còn đỏ, được dùng để chỉ nhân dân với ý nhân

dân cần được săn sóc bảo vệ như con trẻ sơ sinh

13 Côi cút: Con mất cha hay mẹ, một mình cô quạnh

14 Cơ binh: Chỉ các đơn vị quân lính nói chung

15 Dao tu nón gõ: Dao lưỡi dài sắc bén buộc theo lưng để đốn cây, giết giặc gọi là

dao tu, nón lính đội vừa đủ che đầu là nón gõ

16 Địch khái: Nói chí căm thù chống giặc

17 Đoạn kình bộ hổ: Chém cá kình, bắt hổ Ý nói ra sức tiêu diệt giặc

18 Đồ sộ: Rất to lớn

19 Đồn bảo: công sự phòng ngự có quân đóng giữ

20 Đổng Tử: Tức Đổng Trọng Thư đời Hán, học rộng tài cao, nhưng không có

điều kiện phát huy tài sở học của mình Theo Hán thư, Ông người đất Quảng Xuyên,

chuyên nghiên cứu kinh Xuân thu từ thuổ nhỏ, buông màng đọc sách dạy học trò, ba

năm liền không dòm ngó gì tới vườn tược Học trò đến thụ nghiệp người trước

truyền cho người sau, nhiều người không biết mặt thầy Ông đi đứng, cử chỉ đều có

khuôn phép, kẻ sĩ đương thời đều tôn ông làm bậc thầy

21 Đời thúc quí: Đời suy loạn, sắp bị diệt vong Phú Chu Hy: Tại thúc quí nhi thả

nhiên, thẩn hưu minh chi cảnh vận: Ở đời suy loạn mà còn được thế, huống hồ ở

thời buổi thịnh trị (tốt sáng) Lời sớ sách Tả truyện nói: “Chính sự suy gọi là thúc thế

(đời suy loạn) Đời thúc thế còn hơn đời quý thế là đời sắp bị diệt vong”

22 Đời U, Lệ: Hai đời vua U vương và Lệ vương nhà Chu làm nhiều việc bạo

ngược, vô đạo U vương say đắm Bao Tự, tìm đủ mọi cách để chiều vợ Bao Tự

Trang 34

thích nghe tiếng xé lụa U vương truyền cho quân giữ kho mỗi ngày dâng trăm tấm

lụa, sai bọn cung nữ khỏe mạnh đứng xé cho Bao Tự nghe Bao Tự không hay cười

U vương tìm đủ mọi cách cho nàng cười mà vẫn không được Có kẻ nịnh thần tâu:

“Tiên vương ngày xưa có lập ra hơn hai mươi hỏa đài ở Ly Sơn, lại có chế mấy chục

cái trống lớn phòng khi có giặc thì đốt lửa hay đánh trống để các chư hầu biết mà

đến cứu Nếu nhà vua muốn cho vương hậu cười thì xin nhà vua cùng vương hậu ra

chơi Ly Sơn đốt lửa lên để chư hầu kéo quân đến Rồi đến mà không có giặc thì tất

nhiên vương hậu trông thấy phải bật cười” U vương cho là phải, bèn cùng Bao Tự

ra chơi Ly Sơn rồi truyền đốt lửa Các nước chư hầu thấy lửa tưởng là có biến, bôn

ba đem quân kéo về Ly Sơn Bao Tự đứng trên lầu thấy các nước chư hầu kéo tất cả

kéo đến mà chẳng có việc gì cả, mới thích thú vỗ tay cười ầm lên U vương thỏa

thích khen: “Một tiếng cười của ái khanh đủ trăm vẻ đẹp” Về sau khi kinh đô có

biến thực, đốt lửa, chư hầu sợ lại bị lừa nên không ai đến cứu cả U vương bị giết

chết ở chân núi Ly Sơn (Thông chí) Cung trung bảo huấn: Ly Sơn cười một phút,

Bao Tự kia lầm hết chư hầu, Vị Thủy tắm đòi phen, Dương Phi nọ độc hòa thiên hạ

23 Ghét cay ghét đắng: Ghét sâu đậm với thái độ dứt khoát không thay đổi

24 Gia Cát: Tức Gia Cát Lượng, người đất Dương Đô, quận Lang Nha đời Thục

Hán (Tam Quốc), tự Khổng Minh, mồ côi từ thuở bé, tị nạn sang Kinh Châu rồi đến

đất Nam Dương thuộc vùng Long Trung, chỗ ở có trái núi Ngọa Long Cương, nhân

thế tự gọi Ngọa Long tiên sinh, tự mình cày ruộng, thích làm ca từ theo khúc Lương

phủ ngâm Khi Lưu Bị ở Tân Dã có đến Tư Mã Đức Tháo bàn việc thiên hạ Tháo có

nói: “Bọn nho sinh ngày nay chỉ là một phường tục sĩ, hạng tuấn kiệt chỉ có hai

người, đó là Phục Long và Phụng Sồ Phục Long tức Gia Cát Khổng Minh, Phụng

Sồ tức Bàng Thống tự Sĩ Nguyên” Lưu Bị ba lần thân đến Long Trung mời Khổng

Minh ra giúp, tôn ông làm quân sư Khổng Minh đã giúp Lưu Bị đánh bại Tào Tháo

ở Xích Bích, lấy Kinh Châu, định Ích Châu, Hán trung, dựng nước ở đất Thục, cùng

với Ngụy ở phía bắc, Ngô ở phía tây làm thành thế chân vạc Lưu Bị lên ngôi hoàng

đế, Khổng Minh giữ chức thừa tướng, một lòng khôi phục lại cơ nghiệp nhà Hán,

phía đông hòa Tôn Quyền, phía nam bình Mạnh Hoạch, nhưng cho đến năm 54 tuổi

ông mất mà vẫn không trung hưng được nhà Hán, nước vẫn ở cái thế chân vạc

Trang 35

25 Giáo dân: Dạy dân

26 Hàn Dũ: Ông người đất Xương Lê đời Đường, tự Thối Chi, mồ côi sớm, chăm

học, tinh thông lục kinh, bách gia chư tử, đỗ tiến sĩ, làm chức thị lang bộ lại Thời

vua Lê Hiến Tông mê tín đạo phật, cho rước xương Phật vào cung cấm, ông dâng sớ

cực lực can ngăn Vì thế, ông bị đày ra làm quan thứ sử đất Triều Châu Ông là

người có đạo đức, văn chương nổi tiếng

27 Hỏa mai: Mồi lửa dùng vào việc bắn súng thời xưa

28 Kiệt Trụ: Vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương, hai vua bạo ngược vô đạo

hoang dâm nhất trong lịch sử các vua chúa Trung Quốc Kiệt say mê Muỗi Hỷ, Trụ

say mê Đát Kỹ Theo Sử Ký, vua Trụ lấy rượu chứa thành ao, lấy thịt treo thành

rừng, rồi cho bọn con trai con gái trần truồng đuổi nhau ở trong đó, ăn thịt uống rượu

suốt đêm Lời chú sách Lục Thao của Thái Công chép: “Vua Trụ làm tửu trì, bã

rượu (tao) chuyển chất thành núi, trai gái xuống ao uống rượu phải cúi rạp mình

xuống mà bò như trâu gọi là ngưu ẩm Kiệt Trụ bị nhân dân oán ghét mà mất ngôi”

29 Kinh sử: Chỉ chung các kinh điển và sách lịch sử thời xưa phải học để đi thi

30 Lằng nhằng: Dây dưa không dứt khoát, dính dấp vào không gỡ ra được

31 Lầm than: Trong cảnh tối tăm, đau khổ

32 Liều mình: Liều chết thân mình

33 Lụy: nước mắt

34 Ma ní: Lính thuộc địa Phi Luật Tân Ma ní là tên phiên âm thủ đô Phi Luật Tân

Manila

35 Mã tà: Lính cảnh sát, phiên âm theo tiếng Mã Lai mata

36 Man di: Từ ngữ Trung Hoa gọi chung tất cả các tộc người văn hóa còn kém

phát triển

37 Một mối xa thư: Chỉ sự thống nhất thiên hạ về một mối, một triều đại Trung

dung: Kiêm thiên hạ, xa đồng quỹ, thư đồng văn, hành đồng luân: Nay thiên hạ, đi

xe cùng một cỡ bánh, sách viết cùng một lối chữ, đi đường cùng theo một thứ tự

trước sau phải trái, văn là lối chữ viết, ba cái giống nhau đó là sự thống nhất thiên

hạ Thiên Nam minh giám: Xưng Hùng vương cha truyền con nối, mười lăm đời một

mối xa thư

Trang 36

38 Nghĩa sĩ: Chiến sĩ chiến đấu vì việc nghĩa

39 Ngũ bá: Cuối đời nhà Chu thời Xuân Thu, năm vua chư hầu là Tề Hoàn công,

Tấn Văn công, Tống Tương công, Tần Mục công, Sở Trang vương kế tiếp nổi lên

làm bá chủ một thời gọi là ngũ bá Ngũ bá đều dựa trên uy lực, giả dối, nhân nghĩa,

kéo bè nước này đánh nước kia, nhân dân phải chịu lầm than điêu đứng

40 Nguyên Lượng: Tên tự của Đào Tiềm, người đời Tấn Theo Tấn thư, Đào

Tiềm người đất Sài Tang, còn có tên tự là Uyên Minh, tính tình cao thượng, không

cầu danh lợi ham học, giỏi thơ văn Nhà nghèo có cha mẹ già, ông có ra làm chức

quan nhotrong huyện nhưng không chịu được sự gò bó nên ông đã từ quan về nhà

Về sau, ông lại ra làm huyện lệnh Bành Trạch, được hơn tám mươi ngày, nhân cuối

năm, phái viên đốc bưu đến huyện Nha lại khuyên ông ăn mặc chỉnh tề để đón đốc

bưu Ông ngậm ngùi than rằng: “Ngã khải năng vị ngũ đấu mễ chiết yêu quyển

quyển sự hương lý tiểu nhân da?”: Tại sao ta lại có thể vì năm đấu gạo mà phải chịu

còng lưng thờ bọn tiểu nhân nơi thôn xóm này ru: Rồi ngay hôm ấy, ông trả ấn bỏ

quan mà về Về nhà, ông vui trong cảnh an bần lạc đạo, lấy tiếng đàn, câu thơ, chén

rượu làm vui Tính ông chuộng cúc

41 Quân cơ quân vệ: Quân lính ở các đơn vị quân đội thời xưa Cơ là tiểu đội, Vệ

là tiểu đoàn

42 Rơm con cúi: Rơm đánh thành từng cuộn dài để mồi lửa

43 Sớm đầu tối đánh: Nói tinh thần chiến đấu kém, đánh đó rồi đầu hàng giặc đó

44 Tả đạo: Tiếng gọi đạo Thiên chúa, cho đạo này là tà vậy, bậy bạ

45 Tiếng phong hạc: Tức phong hạc lệ là tiếng gió thổi, tiếng hạc kêu Chỉ sự

ngóng trông chờ đợi Tấn thư: Phù Kiên đem trăm vạn quân dàn trận ở Phí Thủy Tạ

Huyền dẫn tám nghìn quân tinh nhuệ vượt sông đánh giặc Quân Phù Kiên tan vỡ,

vứt giáp chạy tán loạn, nghe tiếng gió thổi, tiếng chim hạc kêu cũng tưởng là quân

đến cứu viện

46 Tinh chiên (mùi): Mùi tanh hôi của loài dê chó Chỉ mùi giặc Pháp

47 Tổ phụ: Ông, nói cha ông nói chung

48 Treo dê bán chó: Thành ngữ Treo đầu dê bán thịt chó, nói trò lừa bịp giả dối

49 Trốn ngược trốn xuôi: Giấu mình khắp mọi nơi

Trang 37

50 Việc cuốc việc cày: Những công việc của người nông

2.2.1.3 Giúp học sinh nhìn nhận các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu một cách

toàn diện

Nội dung thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu bao gồm đạo đức học, triết học, tôn giáo

học và khoa học được trình bày trong một dạng hỗn hợp với hình thức thơ ca quen thuộc

Vì vậy, chúng ta cần xem lại sự vận động tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu

trong khối hữu cơ giữa nội dung và hình thức của nó, nghĩa là về phương diện loại hình

lịch sử của nó chứ không phải trong từng câu văn với nghĩa tĩnh tại và riêng lẻ

Nguyễn Đình Chiểu không chỉ ca lên bài ca yêu nước, bài ca thương dân, bài ca

nhân đạo làm xúc động lòng người mà Ông còn muốn phổ biến văn hóa bằng hình thức

thơ lục bát quen thuộc với quần chúng Ông muốn mọi người thấm nhuần phương châm

đạo đức làm người, quán triệt trong nội dung văn hóa và thực hành nó triệt để Cụ Đồ

chuyên tâm xây dựng, thực hành, phổ biến văn hóa theo cách của cụ Cụ phê phán chủ

nghĩa hình thức hư danh của văn hóa giáo dục phong kiến suy đồi, chủ nghĩa trục lợi và

mê tín ngu dân hại nòi của các tôn giáo và y lý huyền bí

Trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu, ta thấy cụ đã duyệt lại những chỗ mạnh

chỗ yếu của văn hóa cổ truyền phương đông Cụ phê phán, gạn lọc nó thành bài học đạo

đức thực tiễn, làm sao có ích cho việc cứu nước cứu dân khỏi cảnh lầm than, ngu tối Cụ

Đồ cũng duy trì những tình cảm vô tư và việc hành thiện không vụ lợi Cụ sử dụng những

uy lực thiêng liêng sẵn sàng phù trợ hoặc cải tử hoàn sinh cho những người có chính

nghĩa Riêng đạo Nho, Nguyễn Đình Chiểu phê phán sự sa đọa mất gốc của nó diễn ra ở

các đời sau, nó kích thích mê dâm, cường quyền và bạo lực Thái độ của ông Quán trong

đoạn trích “Lẽ ghét thương” đã thể hiện rất rõ

Tuy nhiên, xét về phương diện lịch sử tư tưởng văn hóa thì Nguyễn Đình Chiểu chưa

vượt ra khỏi những thành kiến, những giới hạn hẹp hòi của thời đại ông Nhưng trên con

đường tất yếu phải chuyển mình của văn hóa Việt Nam trước cuộc đọ sức với văn hóa

phương tây, Cụ Đồ Chiểu mù hai mắt nhưng vẫn sáng suốt, hiên ngang, cao lớn lạ thường

một tinh thần yêu nước bất khuất

Tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu là sự vận động của tình cảm tự nhiên, của đạo đức

thực tiễn bắt nguồn từ lao động, của nguyện vọng dân chủ và lòng yêu nước, đoàn kết dân

Trang 38

tộc mà người nông dân Việt Nam đã tích lũy Trong các tác phẩm của Nuyễn Đình Chiểu,

ta thấy bức tường ngăn cách xã hội đã bị phá vỡ

Mặt khác, ta thấy cái thế vận động mãnh liệt của sự đời và lòng đạo trong tác phẩm

của Cụ chưa từng có trong văn học phong kiến Chính điều này đã làm cho loại hình và

ngôn ngữ của ông cũng có nhiều biến chuyển bất ngờ trong cái vẻ cổ truyền bề ngoài

dường như bất biến “Vẫn là truyện nôm ấy, bài văn tế ấy, bài thơ Đường luật ấy…,

nhưng nghe sao khác lạ” [20, tr 267] Tinh thần dân tộc, tình cảm dân chủ và lòng yêu

nước ấy thật thắm thiết trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, dứt khoát như lời ông Quán

trong đoạn trích “Lẽ ghét thương” Giáo viên cần giúp học sinh nhận ra: Nguyễn Đình

Chiểu là ý thức dân tộc chuyển mình, là lương tâm dân tộc trỗi dậy, đã đấu tranh kiên

cường chống mọi kẻ thù chính trị và văn hóa đương thời của dân tộc

2.2.2 NHỮNG BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TÍCH CỰC HÓA HOẠT

ĐỘNG TRONG GIỜ HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN

ĐÌNH CHIỂU

2.2.2.1 Tái hiện lại bối cảnh lịch sử của tác phẩm và xây dựng bầu không khí

văn chương trong một tiết học

a Tái hiện lại bối cảnh lịch sử của tác phẩm:

Để giúp học sinh khắc phục khó khăn do sự cách biệt về thời đại, trong quá trình

giảng dạy giáo viên cần đặt tác phẩm vào hoàn cảnh xã hội mà nó ra đời Tuy nhiên, giáo

viên phải linh hoạt nếu không sẽ đưa học sinh vào một thế giới mà ở đó toàn là những vấn

đề chính trị hết sức xa lạ, khó hiểu

Giáo viên có thể kể cho học sinh nghe những giai thoại, những mẫu chuyện liên quan

đến bài học, cuộc đời, thời đại, quê hương của cụ Nguyễn Đình Chiểu thì chất lượng

giờ học sẽ được nâng cao hơn Mặt khác, giáo viên có thể sử dụng những hình ảnh trực

quan có liên quan đến bài học để giúp học sinh đặt mình trong thời đại của tác phẩm ra

đời

b Xây dựng bầu không khí văn chương trong một tiết học:

Người giáo viên cần tạo nên tiết học Ngữ Văn thêm hay và lôi cuốn học sinh Bầu

không khí văn chương là một trong những thành tố tạo nên sự thành công của tiết dạy và

học Bầu không khí tốt khi giáo viên và học sinh cùng bình đẳng, cùng thảo luận về một

Trang 39

vấn đề, một hiện tượng văn học hay một nhân vật nào đó trong một tác phẩm cụ thể

Trong quá trình thảo luận, thầy và trò không chỉ khẳng định suông những kết luận quen

thuộc mà phải hướng suy nghĩ theo một hướng mới, biến cuộc thảo luận thành cuộc đi tìm

chân lý Giáo viên cần tạo cho học sinh tâm lý hứng thú, muốn khẳng định những suy

nghĩ, phát hiện độc đáo của mình phù hợp với nội dung của bài học Muốn làm được như

vậy, giáo viên cần xác định kiến thức trọng tâm, cơ bản trong bài học mà học sinh phải

tiếp thu

Trong quá trình tạo ra bầu không khí văn chương, giáo viên đóng vai trò là người thiết

kế, tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh Học sinh đóng vai trò chủ động, tích cực

nắm bắt và nêu ra ý kiến sáng tạo

Bên cạnh đó, trong tiết giảng đoạn trích “Lẽ ghét thương”, giáo viên có thể tạo nên

bầu không khí văn chương bằng cách cho học sinh vận dụng các hình thức hát Vân Tiên,

nói thơ Vân Tiên như:

“Vân Tiên cõng mẹ chạy ra

Gặp phải cái nhà cõng mẹ chạy vô”

để tạo nên tâm lý tích cực học đoạn trích của học sinh

Ngoài ra, giáo viên có thể tái hiện lại bối cảnh thời đại bằng các hình thức như: minh

họa bài học bằng các hình ảnh có giá trị lịch sử có liên quan, hình tác giả, nếu có điều

kiện có thể cho học sinh tham quan những địa danh có liên quan đến bài học như: sông

Cần Giuộc, chùa Tông Thạnh, chợ Trường Bình, sông Bến Nghé, đất Đồng Nai, trong tác

phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

Chúng ta đều biết những nhà văn khi sáng tác không phải chỉ do tiếng gọi thôi thúc

trong lòng mà còn do tiếng gọi của thời đại Vì vậy, Giáo viên cần tìm cách tái hiện không

khí sáng tác tác phẩm bằng cách giới thiệu ngắn gọn những vấn đề nóng bỏng của thời đại

đã từng tạo nên cảm hứng sáng tác của tác giả Trong quá trình tái hiện, giáo viên có thể

sử dụng những giáo cụ trực quan như: tranh ảnh, phim, nhạc,… để minh họa cho những

vấn đề nổi bật có liên quan đến tác phẩm Tuy nhiên, giáo viên không nên sa vào chi tiết

rườm rà, tránh hư cấu mà phải căn cứ vào tài liệu lịch sử chính xác để dựng nên mối liên

tưởng hợp lí cho học sinh

Trang 40

2.2.2.2 Phát triển năng lực cảm thụ tác phẩm văn học của học sinh

Cảm thụ tác phẩm văn học là một hoạt động sáng tạo, một quá trình tích cực vận động

vốn sống và những năng lực tư duy của học sinh Cảm thụ văn học là một hoạt động tinh

thần có những quy luật riêng do đặc thù của đối tượng cảm thụ quy định

Trong cùng một lớp học, tác động của một tác phẩm cụ thể đến cảm nhận của các em

cũng không giống nhau Học đoạn trích “Lẽ ghét thương” của Nguyễn Đình Chiểu nhiều

học sinh có ý thức về cách ứng xử trong xã hội giống như quan niệm “ghét” và “thương”

của ông Quán, có học sinh quyết tâm chống lại những thói xấu qua những lời bày tỏ thái

độ ghét của ông Quán, có học sinh lại tỏ ra ngưỡng mộ những bậc hiền triết mà ông Quán

nhắc đến, có học sinh lại cho rằng những lời ghét thương đó chỉ bình thường không có gì

đáng quan tâm,… Chúng ta thấy cảm nhận văn học là một vấn đề phức tạp, mới xem qua

tưởng như hoàn toàn có tính chất chủ quan, tùy tiện Cảm thụ văn học có tầm quan trọng

không chỉ trong phương diện lý luận, phê bình nghiên cứu, sáng tác văn học mà còn là

một vấn đề căn bản trong phương pháp dạy học văn Học sinh trong nhà trường là những

đối tượng cụ thể có những đặc điểm, tâm lý văn học riêng nên trong quá trình tiếp nhận

tác phẩm văn học học sinh vẫn chịu sự chi phối của những quy luật tâm lý sư phạm

Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần chú ý vấn đề cảm thụ bằng tình cảm của học

sinh, khêu gợi cảm xúc, rung động tâm hồn, tình cảm học sinh là bước đầu của sự lĩnh hội

toàn diện và sâu sắc tác phẩm Muốn làm thật tốt thì giáo viên phải điều tra nắm tình hình

tư tưởng của đối tượng mình phải giảng dạy Mặt khác, trong tiết giảng học sinh có thể có

nhiều em cảm thụ tác phẩm ở những mức độ khác nhau nên giáo viên phải làm sao thỏa

mãn được và hướng các em đi có những suy nghĩ sáng tạo theo đúng tinh thần của bài

học Giáo viên phải biết khơi gợi trí tưởng tượng, liên tưởng của học sinh Giáo viên đọc

diễn cảm, mô tả, liên hệ, đối chiếu, gợi mở, đàm thoại, tìm mọi cách để cuộc sống trong

sách dựng lên trong trí óc học sinh như sống dậy, như hoạt động thực sự với những con

người, những tâm trạng phong phú Bên cạnh đó, học sinh cần chuẩn bị trước ở nhà, ví dụ

như trước khi học tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, thì học sinh chuẩn bị bằng cách

đọc tác phẩm, trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa rồi chuẩn bị một bài văn chu đáo

viết về suy nghĩ của bản thân về hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc Việc làm này có

tác dụng quan trọng đến việc lĩnh hội của bản thân học sinh trên lớp Quá trình chuẩn bị

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Chí Dũng, Tính cách Việt Nam trong thơ nôm luật đường, NXB Văn học, (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cách Việt Nam trong thơ nôm luật đường
Nhà XB: NXB Văn học
3. Trần Thanh Đạm, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn, HOàng Như Mai, Huỳnh Lý, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, NXB Giáo dục, (1978) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
5. Phan Huy Đông, Truyện điển tích, NXB Văn hóa dân tộc, (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện điển tích
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
6. Nguyễn Thạch Giang, Từ ngữ- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB tp. Hồ Chí Minh, (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: NXB tp. Hồ Chí Minh
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Hồ Sĩ Hiệp cùng một số giáo viên chuyên văn sưu tập và biên soạn, Nguyễn Đình Chiểu, NXB Văn nghệ tp. Hồ Chí Minh, (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: NXB Văn nghệ tp. Hồ Chí Minh
9. Phan Văn Hùm, Đỗ Phương Quế, Nỗi lòng Đồ Chiểu, NXB Văn học, (1963) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi lòng Đồ Chiểu
Nhà XB: NXB Văn học
10. Nguyễn Thị Thanh Hương, Dạy học văn ở trường phổ thông, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,(2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
11. Mã Giang Lân, Tìm hiểu thơ, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thơ
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
12. Vũ Đình Liên, Nguyễn Sĩ Lâm, Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB Văn học, (1963) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Nhà XB: NXB Văn học
13. Phan Trọng Luận, Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn, NXB Giáo dục, (1978) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Phan Trọng Luận, Xã hội văn học nhà trường, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội văn học nhà trường
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
15. Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt, Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
16. Phan Trọng Luận, Văn chương- Bạn đọc sáng tạo, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương- Bạn đọc sáng tạo
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
17. Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt đồng chủ biên, Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
18. Đặng Thai Mai, Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương, NXB Giáo dục, (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý đồng chủ biên, Từ điển tác giả, tác phẩm văn học dùng cho nhà trường, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội.(2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác giả, tác phẩm văn học dùng cho nhà trường
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
20. Trần Đình Sử, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
21. Tuấn Thành, Anh Vũ tuyển chọn, Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và lời bình
Nhà XB: NXB Văn học

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w