Là một người con của Nam Bộ, có hạnh phúc và tự hào nào bằng khi được nói về quê hương mình, nói về những hình tượng thân quen — những hình tượng mà thiên nhiên đã ban tận và gắn bó với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÀN THƠ
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
va LL a
Thwa quy thay cé cing tat cd cdc ban sinh vién than mén! Trong suét bốn năm học có thể nói luận văn tốt nghiệp là một trong những công trình nghiên cứu mà ai cũng mong muốn được thực hiện Bởi qua đó, chúng ta vừa tổng hợp và thực hành những kiến thức đã học tập được trong bốn năm, vừa tiếp thu thêm nhiễu kiến thức mới, đề sau khi ra trường có thể làm việc tốt hon Voi tôi, ngoài những ý nghĩa trên, đến với công trình nghiên cứu này, tôi còn học thêm rất nhiêu điều cả về kiến thức học tập và kiến thức cuộc sống
Trong đó, tôi cảm nhận được sự thân thiện, quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ của thay cô, của bạn bè nhiều hơn Qua đây, cho tôi gửi lời cám ơn chân thành nhất và sâu sắc đến tắt
cả mọi người, đặc biệt cô Lê Thị Diệu Hà đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành tốt công trình nghiên cứu của mình Cám ơn các cán bộ quản lý thư viện của truong, cua khoa da tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tìm kiếm tài liệu nghiên cứu Dù rất cô gắng trong suốt quá trình nghiên cứu, nhưng sẽ không tránh khỏi những sai sót nhỏ trong luận văn này Rất mong quý thầy cô, cùng tất cả các bạn sinh viên đọc và đóng góp ý kiến Để cho những công trình nghiên cứu tiếp theo sẽ hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn! Cuối lời xin chúc quý thầy cô, cùng tất cả các bạn sinh viên, luôn đôi dào sức khỏe, luôn thành đạt trong công việc và cuộc sống
Trân trọng!
Tác giả
Trang 3PHÁN MỞ ĐẦU
Trang 41 Lý do chọn đề tài
*., Theo cơn gió, theo con nuodc
Tôi đi về phương Nam xa xôi
Bông bênh dòng sông mênh mông sóng nước, Bầu trời trong xanh bao la thấp thoáng
Nắng - gió bát ngát say lòng người!
Về phương Nam, ngắm con sông dài, Ngắm lục bình trôi, nghe bìm bịp kêu
Nước ròng nước lớn
Về đây nghe, tình anh bán chiếu
Nghe thơ ông đô, Nghe ho xé xang, xé cong u liéu
Người phương Nam, chân chất thật thà
Mộc mạc như, một khúc dân ca `
Vâng, đó là ca từ của bài hát “Nắng Gió Phương Nam” do nhạc sĩ Nhất Sinh sáng tác
nên Một bài hát mà tôi thích nghe nhất, bởi không chỉ ca từ mộc mạc, gần gũi — nhịp điệu tươi sáng, trữ tình sâu lắng mà bài hát còn mang lại cho tôi niềm tự hào về con người, về
cảnh sắc thiên nhiên và quê hương của tôi Đó chính là Nam Bộ miền đất Cửu Long với chín nhánh sông hiền hòa, đăm thắm, trữ tình
Chính nơi đây, đã động mãi trong ký ức của tôi về một thời thơ ấu đẹp — về niềm tự hào với cảnh sắc thiên nhiên sông nước mang nặng phù sa hòa quyện với miền đất màu mỡ
và hơn bao giờ hết chính là tính tình thật tha, chất phát cũng như bản sắc của con người Nam Bộ - con người quê hương tôi Thích lắm, nhớ lắm với biết bao buổi chiều được đắm mình dưới dòng sông quê, cùng những đứa bạn chơi trò lặn trên Rồi những lúc cùng nhau
đi thả câu, bắt cá; những lúc rủ nhau đi lượm ban chín rụng dọc dưới bờ sông, về cùng chia nhau mà ăn Là một người con của Nam Bộ, có hạnh phúc và tự hào nào bằng khi được
nói về quê hương mình, nói về những hình tượng thân quen — những hình tượng mà thiên nhiên đã ban tận và gắn bó với miền sông nước, cũng như nó đã đi vào những tác phẩm văn
học, đi vào ca đao và đặc biệt đi vào tiềm thức của mỗi con người quê hương tôi Cho nên,
đó là lý do làm tôi thích và chọn đề tài này !!!
2 Lịch sử vân đê.
Trang 5Như chúng ta biết, Ca dao Nam Bộ là một phân quan trọng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và Văn học dân gian nói chung Chính vì vậy, mà có rất nhiều công trình nghiên cứu về nó Những công trình tiêu biểu và đáng kế đó là: các sách sưu tầm, các
đề tài nghiên cứu, các bài viết - bài cảm nhận nói về ca dao Nam Bộ Con voi dé tài “ hình
tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca đao Nam Bộ ” mặc đù là đề tương đỗi mới, song cũng có không ít tác giả đã khảo sát các vấn đề mà nội dung có liên quan khá lớn đến
hai bình diện (định tính và định lượng) Tác giả dẫn chứng nhiều bài ca dao có chứa các
hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước Nhìn chung ở quyên sách này, tác giả đã tông hợp và giới thiệu được nội dung, nghệ thuật của các biểu trưng trong ca dao Nam Bộ, cũng như những đặc trưng văn hóa Nam Bộ Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào phân tích “ hình
,
tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ ” một cách độc lập, mà còn
đang xen giữa các yếu tổ liên quan sông nước thuộc về vật thể nhân tạo
Còn trong bài viết “Hình tượng sông nước trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ” của tác giả Trần Thị Diễm Thúy cũng có nhiều phân tích — tông hợp sâu và rộng hơn Đó là: “ Hình tượng sông khơi dậy ý niệm một cái gì đó mênh mông vô tận nên xu hướng phổ biến nhất là lấy đặc điểm hình thể: dài, rộng, sâu, bao la của sông để gợi liên tưởng về sự
xa cách, sự bên vững, về cái lớn lao, vô tận `|2Š ; Tr.2] Hay: “ Xu hướng mượn những
sự vật có liên quan với sông để gợi những liên tưởng khác nhau về thân phận con người,
về đời người ”|28; Tr.3] Hoặc: “Xu hướng mượn hình tượng sông làm biểu tượng về
chính con người, tình cảm con người ` [28; Tr.4] Mặc dù, ở bài viết này tác giả chỉ
xoay quanh hình tượng “sông” chưa khảo sát các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước khác trong ca dao Nam Bộ Nhưng qua đó tác giả cho chúng ta thấy được giá trị biểu trưng của hình tượng “sông” nó rất rộng, cụ thể, hợp logic cả về nội dung và nghệ thuật
Ở góc nhìn nội dung và nghệ thuật, tôi rất đồng tình với tác giả và sẽ tiếp nhận làm cơ sở
cho đê tài của mình
Trang 6Hay trong bài viết “ Ngôn ngữ vùng sông nước Nam Bộ ” của tác giả Trần Kiều Quang cũng có đề cập đến giá trị biêu trưng của một số hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước như: hình tượng cá sặc răn ( trong ngôn ngữ nhằm nói người thợ cắt tóc mới ra nghề), hình tượng nước lớn ròng (trong ngôn ngữ nhăm nói những giai đoạn thăng trầm của con người), hình tượng cây điên điển ( trong ngôn ngữ nhăm nói về những chàng rễ mà vị trí của họ thấp bé, không có nghĩa gì, có cũng như không trong gia đình vợ) Nhưng chưa
thay tac gia dẫn một bài ca dao nào có chứa các hình tượng cụ thể Mặc dù vậy, tác giả cũng
có liệt kê khá kỹ về các từ định danh cho hình tượng dòng nước như: sông, ñ8ÒIi, tương, máng, lạch, kinh, ao, hồ, rạch, xéo, ngọn, rọc, don, lang, lung, bung, biên, dung, dam, dia,
trap vũng, trũng, tắc, gành, xáng, doi, vịnh, bàu Hay các từ miêu tả sự vận động của dòng
nước như: ⁄Óc ròng, nước rong, nước kém, nudc trôi, nuoc SUl, HƯỚC dénh, nuoc giut, nước bò, nước chảy, nước đứng, nước nắm, nước chừng, nước nhung, nudc wong, nudc chét, nuoc sdt, nudc rac, nudc cường, nước ghẻ, nước nhảy, nước tha, nudc ngua, nudc trốt, nước xuôi, nước răm [25; Tr.4] Đó cũng là một trong những khảo sát hay, có tính
tông hợp và có đóng góp cho các để tài nghiên cứu sau này, về ngôn ngữ và hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ
Còn tác giả Nguyễn Phương Thảo trong quyên “Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo” cũng đề cập một vài nội dung có liên quan đến đề tài này Cụ thể tác giả có phát hiện về tác động của hình tượng “sông” và “nước” trong đặc trưng văn hóa của con người Nam Bộ Ấy là văn hóa định cư, lập làng của họ Nhưng tác giả chỉ khảo sát ở góc nhìn văn hóa, chưa thấy tác giả đi sâu vào các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca
dao Nam Bộ ở các khía cạnh Và chưa thay tac gia dẫn một bai ca dao có các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước Cho nên, phát hiện này chỉ nhằm phục vụ cho khía cạnh thể hiện đặc trưng văn hóa Nam Bộ
Nói tóm lại, qua các công trình nghiên cứu vừa nêu ở trên, ta có thể khăng định nó có những phát hiện — những khám mới Tuy nhiên, so với đề tài “ hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ” nó vẫn còn thiêu, vẫn chưa phải là một công trình nghiên cứu trọng tâm nhắm vào đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Ở những công trình nghiên cứu trước đây, khi nói về hình tượng liên quan về sông nước trong ca dao Nam Bộ Thường chúng ta thấy, người nghiên cứu “ứổng hợp” chung các hình tượng lại với nhau đê phân tích, so sánh, đôi chiêu rôi rút ra giá trị nội dung và nghệ
Trang 7thuật của nó Chứ chưa thấy người nghiên cứu, tách chúng ra riêng theo hai đối tượng Thứ
nhất, đối tượng nghiên cứu là những hình tượng là vật thể thiên nhiên liên quan đến sông
nước trong ca dao Nam Bộ Thứ hai, đối tượng nghiên cứu là những hình tượng là vật thê nhân tạo liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ
Vì vậy, mục đích nghiên cứu của đẻ tài này là cỗ găng tập hợp có hệ thống những hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ Sau đó, phân tích làm rõ được giá trị nội dung theo chủ đề và biểu hiện nghệ thuật của chúng trong ca dao Nam Bộ: đồng thời qua những hình tượng đó khái quát lên được những nét đặc trưng của văn hóa Nam Bộ
4 Phạm vỉ nghiên cứu
Ca dao Nam Bộ là ca dao của vùng sông nước - miệt vườn Chính vì vậy, số lượng hình tượng thiên nhiên liên quan đến vùng sông nước — miệt vườn rất phong phú và đa dạng Cho nên, để nghiên cứu hết tất cả các hình tượng đó là vẫn đề rất rộng Trong khuôn khổ cho phép, ở đề tài này tôi chỉ khảo sát, nghiên cứu những hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước Và trong phạm vị thuộc ca dao Nam Bộ
Tuy nhiên, vẫn có sự liên hệ so sánh với ca dao cô truyền, ca dao của các vùng miễn khác trong một số trường hợp cụ thẻ, để rút ra được những đặc trưng của các hình tượng mà
đề tài đang nghiên cứu Vẻ tài liệu tham khảo chính trong đề tài này gồm thứ tự ba tài liệu
như sau: Quyền “ Ca đao Đồng Tháp Mười ” là tài liệu thứ nhất (TLI), Quyên “Cảm nhận
Ca dao Nam Bộ ` là tài liệu thứ hai (T2), Quyền * Tĩnh hoa Văn hóa dân gian người Việt —
Ca dao quyền I,VII ” là tài liệu thứ ba (TL3) Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, đề tài còn tiếp nhận và trích dẫn một số tài liệu phụ khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Giống như các công trình nghiên cứu trước, tôi cũng dùng các phương pháp quen
thuộc như: Liệt kê, so sánh, phân tích, đối chiếu, liên ngành Nhưng trước đó, tôi bám sát
vào ba tài liệu chính là: “Ca dao Đông Tháp Mười, Cảm nhận Ca dao Nam Bộ, Tỉnh Hoa
Văn hóa dân gian người Việt ” và đùng phương pháp thông kê để tập hợp các hình tượng,
gom chúng về chung một bảng hệ thống các hình tương thiên nhiên liên quan sông nước trong ca đao Nam Bộ Trong đó, các hình tượng được sắp xếp theo trật tự của từng mảng hệ thống các hình tượng: cụ thê theo ba mảng hệ thống hình tượng sau day: “ Hé thong hinh tượng thiên nhiên liên quan sông nước là địa lý, hệ thông hình tượng thiên nhiên liên quan
sông nước là thực vật và hệ thong hình tượng thiên nhiên là động vát ” ; thứ tự của từng
hình tượng trong môi mảng sẽ do tân sô xuât hiện của nó quyêt định Với những tân sô thu
Trang 8được từ bảng thống kê theo từng mảng của hệ thống hình tượng, tôi sẽ tiếp tục đi sâu vào
phân tích giá trị nội dung theo chủ đề cũng như biểu hiện nghệ thuật của các hình tượng
trong các bài ca dao Nam Bộ
Thí dụ:
Hình tượng “sông” trong mảng hệ thống hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước
là địa lý, vậy biểu hiện giá trị nội dung theo chủ đề và biểu trưng nghệ thuật của nó như thế
nào trong ca dao Nam Bộ chăng hạn? Hay qua hình tượng “sông” nó có ý nghĩa gì đến những nét đặc trưng của văn hóa Nam Bộ?
Nói chung, phương pháp chính ở đề tài này là khảo sát (thống kê) và xoáy sâu (so
sánh, phân tích, liên ngành ) vào các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca
dao Nam Bộ Đề làm nỗi bật giá trị nội dung và nghệ thuật của các hình tượng Cho nên, đề
tài hạn chế sử dụng các hình tượng năm ngoài hệ thống, hay nó rõ hơn đó là hình tượng thuộc về vật thể nhân tạo liên quan sông nước Nếu có đó cũng chỉ là những hình tượng
mang tính chất hỗ trợ, nhằm làm nỗi bật cho hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước,
theo ý định của người nghiên cứu
Trang 9PHAN NOI DUNG
KHAI QUAT CAC HINH TUONG THIEN NHIEN LIEN QUAN SONG NUOC TRONG CA DAO NAM BO
1.1 Khái quát về ca dao Nam Bộ
1.1.1 Khái quát về vùng đất và con người Nam Bộ
a Vùng đất Nam Bộ
Trang 10Chúng ta biết, Nam Bộ là vùng đất mới, ngay từ thế kỉ XVI — XVII cư dân người Việt đã sớm đặt chân lên vùng đất phía Nam này Cuộc khai khân ấy được chính thức bắt đầu từ thời chúa Nguyễn và có thể nói, năm 1698 là cái mốc chính thức quan trọng về mặt nhà nước chủ quyên của cư dân người Việt trên đất đai mà họ đã bỏ công khai phá và xây dựng, khi mà Nguyễn Hữu Cảnh được lệnh vào Nam lập phủ Gia Định
Năm 1679, Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Dịch đã di cư người Hoa đến cù lao phố
- Biên Hòa - Đồng Nai; cù lao phố này là đệ nhất thương cảng lúc bấy giờ
Năm 1680, Mạc Cửu mở mang đất Hà Tiên cùng với người Khơme bản địa chinh phục thiên nhiên và xây dựng kinh tế lâu dài ở trên chính vùng đất này Công cuộc khân hoang ấy diễn ra khắp nơi ở vùng đất Nam Bộ và cũng đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ,
được chia làm các thời kì:
- Từ chúa Nguyễn đến những năm cuối đời Gia Long: Khai khẩn vùng đất phù sa tốt, đất giồng ven sông, đất cù lao theo nhu câu phát triển của xứ Đàng Trong, phục vụ quốc gia
và củng cố quốc gia
- Từ cuối đời Gia Long đến cuối đời Minh Mạng khai khẩn phía Sông Hậu Giang, nối
qua vùng núi Thất Sơn vì nhu cầu xác định vùng biên giới Việt - Miên
- Từ thời Triệu Trị đến thời Tự Đức khai khẩn những điểm chiến lược nhằm dé phòng
nội loạn ở phía Sông Hậu Giang, chính sách đồn điền được thúc đây mạnh
Đầu tiên, vùng đất Nam Bộ có tên gọi là Đồng Nai, sau đó đối lại là Gia Định Đến
đời vua Minh Mạng gọi là lục tỉnh Nam Bộ gồm hai khu vực lớn là: Đông Nam Bộ & Tây
Nam Bộ, nối liền chúng đó là thành phố Hỗ Chí Minh Trước khi cư dân người Việt đến
đây, Nam Bộ còn là một vùng đất hoang vắng hiểm trở, cư dân Khơme sống rất thưa thớt và
họ chỉ mới khai khẩn một phân nhỏ thôi Mà ca dao Nam Bộ ghi nhận thực tế đó như sau:
“Chèo ghe sợ sấu cắn chưn Xung bưng sợ đĩa lên rừng sợ ma”
[19; Tr 17]
Thiên nhiên ở vùng đất Nam B6 budi dau 14 nhu thé day, ndi danh 1a ving “ ma thiéng
nước độc” Do đó, việc đầu tiên của những cư dân mới đến đây là ra sức chống lại và thích nghi bằng được với thiên nhiên, khi chúng còn hoang sơ và khắc nghiệt, nơi mà họ sẽ sống
- lập nghiệp và chính là quê hương của họ Buổi đâu, họ chọn những gò đất cao, những con giỗng làm đất đứng chân Dân dẫn, các cư dân mới di chuyên tiến xuống đầm lay, dat tring
để khai phá Nhờ vào ý chí và nghị lực của chính mình, cộng thêm sự ưu đãi của thiên nhiên
Trang 11vùng đất mới này ban tặng cho họ Cho nên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cải tạo
của các cư dân trên vùng đất này Làm cho vùng đất Nam Bộ từ hoang sơ, khắc nghiệt trở nên phì nhiêu màu mỡ và khoáng đạt đây tiềm năng phát triển hơn Nên cư dân Nam Bộ thường vui miệng nói với nhau về vùng đất Nam Bộ : “Làm chơi ăn thiệt” Đây không phải
là cách nói quá của họ, vì thực tế Nam Bộ là vậy; mà nhất là Đồng bằng sông Cửu Long có mạng lưới sông ngòi chẳng chịt, phù sa bồi đắp quanh năm Bên cạnh đời sống thiên nhiên phong phú đây thuận lợi thì mảnh đất Nam Bộ cũng trải qua những thử thách của giặc ngoại xâm Đáng chú ý nhất là cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Nam Bộ rất anh dũng Kẻ thù dùng mọi cách để chiếm vùng đất này làm thuộc địa, nhưng với lòng quyết tâm, ý chí sắt đá, con người Nam Bộ đã vùng lên chống lại ách thống trị của chúng Biết bao tâm gương anh hùng đã năm xuống trên vùng đất yêu thương này như: Trương Định , Nguyễn Trung Trực, Phạm Hùng, Trân Văn Thời, Phan Ngọc Hién ho đã lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa làm nên nhiều chiến thắng oai hùng,
chi danh vào lịch sử và được nhân dân ca ngợi, tôn thờ, mà ca dao Nam Bộ đã ghi nhận:
“Vĩnh Long có cặp rong vang, Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan công thân”
Chính nhờ họ mà vùng đất này được bảo vệ, giữ gìn và phát huy cho đến ngày nay
Ngoài ra, Nam Bộ còn là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ, nhà văn tài ba chính nhờ họ mà
bản sắc văn hóa vùng đất Nam Bộ được nhiều người biết đến với những áng thơ văn bất hủ, với những tác gia lớn và là cái hồn của văn hóa nghệ thuật Nam Bộ như: Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa Hơn thê một trong những người đáng được tôn vinh, ca ngợi không
thể quên được đó chính là tất cả các cư dân Nam Bộ Chính nhờ họ mà văn học dân gian
Nam Bộ phát triển, trong đó có ca dao Nam Bộ; chính những lời tâm tình, những câu hát chân thành, mộc mạc nhưng rất nặng nghĩa tình của con người nơi đây, đã góp phân thêm những giá trị đặc sắc nhất vào tiếng nói chung của dân tộc
Nhìn chung, Nam Bộ là vùng đất mới có quá trình hình thành và phát triển tròn ba
thê kỷ Nhưng nó đã trải qua rât nhiêu biên đôi thăng trâm của lịch sử, song nó vân là vùng
Trang 12dat trù phú, là nơi dung nạp nhiều cư dân khác nhau từ mọi vùng miền của đất nước đến đây
sinh sống và lập nghiệp Cho nên, có thể khăng định đây là vùng “đất lành chứn đậu”
Chính thực tiễn sinh động ấy hòa quyện với những gì mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này, đã góp phần làm phong phú, đa dạng cho đời sống vật chất và tinh thần của họ Trong lời ăn tiếng nói, trong văn hóa ứng xử và đặc biệt trong những khúc hát dân gian nói riêng
và ca dao Nam Bộ nói chung
b Con người Nam Bộ
Trước khi khai khẩn, Nam Bộ rất thưa thớt người, chỉ có một số ít cư dân bản địa
như: Khơme, Chăm, Hoa Trong quá trình khai phá tạo lập, vùng đất này đã thu hút nhiều lưu dân đến đây Họ đến từ nhiều nơi khác nhau: từ những phủ huyện của Bắc Bộ và Trung
Bộ bao gồm những người phạm tội ở bị đưa vào Nam làm lính, hoặc có một số cư dân đến
đây sớm hơn, họ vốn là nông dân siêu tán, thợ thủ công cùng khổ, dưới sự áp bức bóc lột của giai cấp phong kiến, của chiến tranh, thiên tai, buộc họ phải rời bỏ xóm làng vào Nam lập nghiệp Điều đáng quí ở họ là sống chan hòa cùng với người dân bản địa, giúp đỡ, tương trợ, cùng xây dựng làng xóm giữ gìn an ninh Vì thế, người Nam Bộ gồm những dân tộc khác nhau như: Khơme, Lào, Hoa và Việt Họ đến đây định cư và mang theo những giá trị truyền thống văn hóa riêng Do đó, cùng với quá trình hòa nhập với thiên nhiên — với cộng động là quá trình hòa nhập văn hóa riêng Cho nên, đây là nơi diễn ra quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Đồng thời, bên cạnh những truyền thống văn hóa riêng đó thì hoàn cảnh tự nhiên địa hình, những sinh hoạt xã hội đặc thù đã góp phân tạo nên những nét riêng trong đời sống, tính cách của con người Nam Bộ
Do nhu cau khan hoang, đất Nam Bộ luôn đón nhận những vị khách từ xa đến như một
nhu câu tất yếu Con người ở đây cần có bạn nên lòng hiếu khách của họ cũng xuất phát từ
đó, rất nồng nhiệt và chân thành Cùng với việc mở làng — lập ấp thì nhu cầu giao lưu buôn bán với nước ngoài cũng được diễn ra, người Nam Bộ học hỏi những điều mới lạ Từ đó, họ
có tính cách phóng khoáng, cởi mở, cảm thấy tự do, không thích ràng buộc Khi nói đến
tính cách của con người Nam Bộ thì một trong tính cách tiêu biểu nhất của họ, mà ta thường
đề cập nhất đó chính là lòng yêu nước nông nàn, tính hiên ngang không chịu khuất phục cường quyền Những lớp cư dân mang trong mình tất cả sức lực, ý chí, với lưỡi cuốc lưỡi cày, phá hoang bờ cõi là việc quan trọng nhất của tất cả mọi người thời ấy Họ lao động hết mình để có được mảnh đất cây lành trái ngọt Do đó, ta còn thấy, toát lên ở họ là tính cần cù chịu thương, chịu khó, biết yêu lao động và cuộc sống Hơn thế nữa, họ còn biết tập trung
Trang 13sức mạnh đoàn kết của cộng đồng Mà quan các tác phẩm văn học, qua sử sách chúng ta
cảm nhận được điều đó Cụ thê qua bài “Văn té Nghĩa sĩ Cẩn Giuộc” của Nguyễn Đình
Chiếu ta phần nào hiểu điều đó Chính lòng yêu nước nồng nàn, tinh thân đấu tranh kiên
cường bất khuất những người nông dân ấy bồng phút chốc trở thành những người nghĩa sĩ bất tử trong lòng mọi người Họ đoàn kết để đấu tranh giành lại sự bình yên cho cuộc sống hôm nay Đó là tinh thần yêu nước, là phâm chất cao quý của họ Nhắc đến cư dân Nam Bộ không thể không nhắc đến cá tính của họ Ấy là cá tính sống ở lại, sống phóng túng, ít suy nghĩ xa, ăn nói bộc trực, thắng thắng, ít văn chương hoa mĩ, không rào trước đón sau, nghĩ sao nói vậy Tác giả Nguyễn văn Bễng có nhận xét hết sức độc đáo về tính cách người dân Nam Bộ như sau: “ Đất nước ta càng về phương Nam, càng làm đất mới( ) Con người đến đây là con người liễu, con người ngang tàn nghĩa khí, tính mạng coi nhẹ long hông, tiên tài
coi khinh như rơm rác Đối với họ nghĩa khí là trọng Họ không cần có nhà đẹp( ) Họ chẳng cần mặc sang( ) Ho vo vap hiểu khách, vì cuộc đời của họ buôn lam réi Ho chi con
có tình cảm là đậm đà với nhau Họ sẵn sang nhường cơm sẻ áo, vì họ đã từng biết cái cực, cái nhục của đói khổ như thế nào Và hơn hết, họ rất căm thù Đừng dung đến ho [24; Tr
218]
Tóm lại: Nét đẹp văn hóa của con người Nam Bộ thể hiện qua nhiều phương diện,
nhưng suy cho cùng nó vẫn mang chung một giá trị của cộng đồng Nói rõ hơn, nó vừa mang giá trị truyền thống dân tộc vừa mang giá trị của riêng bản thân nó trong quá trình
hình thành và phát triển Nét đẹp đó, tính cách đó không chỉ thể hiện bên ngoài cuộc sống
lao động của con người nơi đây, mà còn hiện hữu trực tiếp qua ca dao Nam Bộ nói riêng và
đi sâu vào Văn học dân gian nói chung
1.1 2 Khái quát về ca dao Nam Bộ
a Khái niệm về ca dao
Ca dao là một bộ phận quan trọng của nền Văn học dân gian Chính vì vậy, đã có rất
nhiều người quan tâm, sưu tầm, nghiên cứu, bình giải và phân tích về nó Hầu hết những người nghiên cứu, luôn cố gắng khai thác và khám phá những điều mới lạ về ca dao đó là điểm chung nhất Nhưng ở điểm khác nhau cơ bản đó là cách tiếp cận ca dao thì mỗi người
mỗi khác Có người dựa vào biểu nội dung theo chủ đề, có người bám sát đặc trưng thi
pháp Đặc biệt cách “Khái miệm về ca đao” của họ cũng không giống nhau Vậy ca dao là øì? Với khái niệm của các tác giả sau đây :
Trang 14Trước hết với Dương Quảng Hàm thì ông cho rằng: Cø đao ( ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn được lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân” |6; Tr 9j
Còn theo Đinh Gia Khánh thì: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Theo cách hiểu
thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca”.[12; Tr.436]
Tac gia Nguyén Xuan Kinh khai niém thi hoi khac:“ Ca đao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi được lưu truyền qua nhiêu thể hệ mang những đặc điểm nhất định và bên vững về mặt phong cách ” [11 ;Tr.56]
Nói tóm lại, có rất nhiều quan niệm khác nhau trong cách “Khái miệm về ca dao”,
song nhìn chung lại ca dao: là những tiếng nói tâm tư, tình cảm của con Việt Nam với tất cả các khía cạnh của cuộc sống nói chung Nó là những sáng tác có vần điệu được lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác Cụ thể để miêu tả những suy nghĩ, quyết đoán trong việc lựa chọn nơi gửi gắm tình yêu của mình, những đôi trai gái thường nói với nhau bang bai ca dao sau đây:
“ Ta vé ta tam ao ta,
Du trong du đục, ao nhà là hơn ”
|6; Tr 6]
Qua đó, cho ta thay được ca dao luôn là một thê loại được dân tộc sáng tạo và sử dụng
như món ăn tinh thần trong đời sống, lao động của họ Cho nên, ngôn ngữ dân gian ngày càng phát triển, ngôn ngữ văn học Việt Nam ngày càng phong phú và đa dạng là vậy
b Khái niệm về ca dao Nam Bộ
Ca dao Nam Bộ là những bài có hoặc không có chương khúc Phân lớn được người Nam Bộ sáng tác dựa trên thể văn vẫn dân tộc và những biến thể phù hợp với phương ngữ Nam Bộ: nhằm thê hiện tâm tư, tình cảm và những nét đặc trưng truyền thông văn hóa của con người nơi đây Cụ thể như bài ca dao sau:
“ Cân Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về ”
[10; Tr.18]
Tir thuc té, ma cu thé do 1a tir ving dat “gao trang nvéc trong” Can Thơ đã đi vào ca
dao Nam Bộ với hai câu ca dao bất hủ ấy Nói thật, nói thăng và nói một cách tự hào đó
Trang 15chính nhờ vào sự ưu đãi của thiên nhiên đã ban tặng, hòa quyện với đôi bàn tay lao động của con người nơi đây Qua bài ca dao làm cho mọi người thích hơn — yêu hơn vùng đất Tây
Đô này Bởi thiên nhiên trù phú — bởi tính cách, nét đẹp văn hóa, lòng hiểu khách của con
người Cần Thơ nói riêng và cư dân lao động Nam Bộ nói chung
1.2 Khái quát hình tượng trong ca dao và ca dao Nam Bộ
1.2.1 Khái niệm hình tượng
a Khái niệm hình ảnh
“Hình ảnh chính là hình thức bên ngoài của một sự vật nào đó, mà qua frực quan người
1”
ta có thể nhận dạng ra, chưa thể hiện được nội dung bên trong.” Theo nhận xét của Thay
Phan Văn Ngọ cựu giáo viên môn ngữ văn trường THPT Châu Văn Liêm Thành Phố Cần Thơ Hay ý kiến của các nhà lý luận văn học trước đây cũng vậy: “Những gì hiện lên trước
mắt bạn, cảm nhận được bằng trực quan không can tu duy đó là hình ảnh” Thực ra, khái
niệm về hình ảnh thì có rất nhiều; nhưng dựa trên cơ sở logic, khách quan ta có thê nói:
“Hình ảnh là chính bản thân của sự vật hiện hữu ngoài thực tế có thể trực tiếp cảm nhận mà
không cần tư duy ”
Thí dụ: Khi nói hình ảnh Chiếc thuyền, cây câu chẳng hạn Không cần tư duy người ta cũng biết ý nghĩa qua tên gọi đó nhằm chỉ cái gì Thật chất, nó là vật thể nhân tạo do con người làm ra để phục vụ việc giao thông đường thủy
b Khái niệm về hình tượng
Khái niệm về hình tượng là một trong những vấn để tương đối phức tạp Bởi có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau vẻ vẫn đề này Trước hết, theo quan niệm của triết học thì khái niệm về hình tượng được hiểu là: “ bất kì sự phản ánh nào về ngoại giới vào trong ý thức
con người là hình tượng ”[1; Tr 98] Nêu nói như vậy, thì “hình tượng” đồng nghĩa với
“hình ảnh” Cho nên quan niệm này, tôi thấy chưa khoa học và thuyết phục Bởi chưa chắc
sự vật nào phản ánh trong ý thức của con người đều là “hình tượng” hết Đôi khi nó chỉ là
một hình ảnh bình thường của thực tế khách quan mà thôi Còn theo thầy Phan Văn Ngọ thì:
“Hình tượng cuộc sống nói chung, nó phải vượt lên trên mức của một hình ảnh bình thường Nói cụ thể hơn, nó phải đảm bảo được hai yếu tổ đó là: hình thức biểu hiện bên ngoài và giá trị biểu tượng của nội dung bên trong.” Theo quan niệm này, cá nhân tôi nhận thấy hợp lý và khách quan hơn Cụ thê đó là hình tượng “Bác Hồ” đứng ở ngay một trung
tâm thành phó, hay công viên thành phố nào đó chắng hạn Thì hình tượng Bác, hiện hữu
trong mặt mọi người dân Việt Nam đó là một vị cha già kính yêu của dân tộc với “râu dai,
Trang 16tóc bạc, dáng người bình dị, vững chắc và chan chứa niềm tin yêu Mặc dù, thực tế hình tượng đó là đồng là sắt được con người đúc lên Nhưng hình tượng đó đã vượt lên tất cả Để trở thành một hình tượng bắt tử luôn sống mãi trong lòng mọi con người Việt Nam
Nói tóm lại, hình tượng của cuộc sống nói chung là những gì vượt trên mức độ một
hình ánh bình thường Nó là cái chung nhất, cái quen thuộc nhất trong tiềm thức - suy nghĩ cũng như trong thắm mĩ của tất cả mọi người Hơn thế nữa, nó được cuộc sống, dân tộc và
thời đại sinh ra
c Khái niệm hình tượng trong ca dao
Theo các nhà lý luận văn học phát biểu thì: “Hình tượng văn chương đó là những con người, những cảnh đời, những tâm trạng, những phong cảnh thiên nhiên được xây dựng bằng chất liệu ngôn ngữ, dựa trên biện pháp hư cấu, vừa có tính cá biệt cụ thể - cảm tính, vừa mang ý nghĩa khái quát và có giá trị thâm mĩ.” [1; Tr 97] Hay: “ cái chung nhất, cái quen thuộc nhất, cái thường gặp hàng nghìn triệu lần đấy là hình tượng.” [1;Tr 95] Thật vậy, ca dao là một phần của văn học dân gian đồng thời cũng là một tác phẩm văn chương
Mà là tác phẩm văn chương nói chung, đã đi vào cuộc sống thì nhất thiết phải có hình tượng Hình tượng ở đây, không phải là điều huyền bí quá xa xôi so với tác giả mà là những
gì gân gũi bên họ và gần gũi với cuộc sống Vẫn đề là ở họ - họ có khả năng sáng tạo những điều đó trở thành một hình tượng chung của của sông hay không? Phần lớn còn phụ thuộc vào trình độ, tư duy và kinh nghiệm ở mỗi tác giả Đối với ca dao thì sao? Tác giả là một tập
thể thì họ sẽ thể hiện như thế nào? Vâng, với ca dao đó là tong hợp một sức mạnh cộng
đồng, một khám phá có giá trị sâu sắc, giàu kinh nghiệm hơn bao giờ hết Hình tượng ở đây
là hình tượng của cộng đồng, của cái chung nhất Mà nó đi vào ca dao, phải có cả chiều sâu
và chiều rộng, cả không gian và thời gian Không chỉ nói về cuộc sống, mà nó còn là một biểu tượng của cuộc sống Cụ thể qua hình tượng “cøn cò” ở các bài ca dao sau:
Trang 17[26; Tr 143]
Ca dao có rất nhiều bài nói về hình tượng này, nhưng dù thể hiện đậm hay nhạt, thể
hiện theo kiểu nào đi nữa, nó vẫn có chung một giá trỊ biểu trưng Đó chính là sự vất vả, tần
tảo hy sinh của người vợ - người mẹ trong cuộc sống nói riêng Đó là tinh thần ngợi ca cho phẩm chất cao đẹp và thiêng liêng của người phụ nữ Việt Nam nói chung
Tóm lại, hình tượng là giá trị biểu trưng chung nhất, quan trọng nhất và không thể thiếu được trong một tác phẩm văn chương Nó vừa là nhân tổ làm nên tác phẩm, vừa thể hiện quan điểm nội dung và nghệ thuật của chính tác giả Với ca dao nói riêng — Van học dân gian nói chung Hình tượng cũng xuất hiện và thể hiện đúng vị trí - vai trò của nó Để hiểu
rõ thêm vấn đề, chúng ta thử khảo sát một vài hình tượng thuộc hai loại hình tượng tiếp sau
đầy
- Hình tượng là vật thể nhân tạo:
Trước khi nói về hình tượng là vật thể nhân tạo liên quan sông nước trong ca dao Ta
cần hiểu được hình tượng là vật thể nhân tạo có nghĩa là gì? Thật ra, hình tượng này có
nghĩa là: từ một vật thê ban đầu do con người tạo ra và được tác giả dân gian sáng tạo thành cái biêu trưng chung nhất, khi nó đi vào một tác phâm ca dao cụ thể Các hình tượng có thê
kế đến là: Hình tượng thuộc nhóm phương tiện di lại trên sông nước như: (thuyền, che,
xuống, đò, câu, chèo ); Hình tượng thuộc nhóm phương tiện đánh bắt thủy sản như: (chài,
lưới, câu, nôm ) Ở phân này, tôi chỉ khảo sát một vài hình tượng tiêu biểu để thấy giá tri
biểu trưng của chúng trong ca dao cô truyên
+ Hình tượng “thuyén”:
“Thuyên” là hình tượng đặc biệt được rất nhiều bài ca dao nói đến, mà phân lớn tập
trung thê hiện những cung bậc trong tình cảm — sự giao duyên của những đôi trai gái yêu nhau :
“ Thuyén ai lo lửng ngoài khơi, Thuyén vao trong bén cho toi sang nhờ
Thuyén ngược anh ước gió nằm, Thuyén xuôi anh ước mưa nguồn gió lên ”
[2; Tr 426]
+ Hình tượng “ Cau”:
Trang 18Chiếc cầu là hình tượng khá quen thuộc với ca dao dân ca cô truyền, bởi giá trị biểu trưng của nó rất rộng Một trong những giá trị biểu trưng đáng kế đến mà ca dao ghi nhận
đó là:
“Cầu” là hình tượng nói lên sự xa cách - hiểm trở giữa hai bờ thương nhớ, giữa những người yêu nhau:
“ Cau cao mong van gio rung,
Em sang không được đợi cùng duyên anh
Cầu cao ván yếu gió rung,
Em qua không động, cậy cùng có anh `
[ 29; Tr 133]
Đồng thời nó còn là vật chứng minh, vật thề hẹn thủy chung son sắt — cho tình yêu của những chàng trai và cô gái khi yêu:
“ Cầu Ô Thước trắm năm giữ vẹn,
Sông Ngân Hà ta nguyện đừng phai
Sợ em ham chốn tiền tài,
Đứt đường nhân ngãi lâu dai bo anh.”
[ 2; Tr 77]
Tóm lại, hình tượng là vật thể nhân tạo liên quan sông nước trong ca dao rất phong phú và đa dạng Hơn thế nữa nó rất gần gũi với người dân lao động, chính vì vậy nó luôn mang một giá trị chung nhất, luôn tôn tại trong nhận thức của con người
- Hình tượng là vật thể thiên nhiên:
Cũng như phần trên, để hiểu được hình tượng là vật thể thiên nhiên là gì? Ta cần khái niệm về nó Thật ra, hình tượng là vật thê thiên nhiên là hình tượng thuộc vẻ tự nhiên, được
tac gia dan gian dân chọn lựa và sáng tạo thành một biểu trưng khi nó được đưa vào ca dao
Hình tượng là vật thể thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao cô truyền rất phong phú
và đa dạng Bởi đặc thù của Việt Nam là một nước có mạng lưới sông ngòi dày đặc Các
hình tượng được ca dao ghi nhận thường thấy nhất là: Sông, nước, sóng, gió, rạch, vàm,
bến, bờ; cá, tôm, cò Chúng xuất hiện và thể hiện khá nhiều nội dung trong ca dao cổ
truyền cụ thê một số hình tượng sau:
+ Hình tượng “sông”:
“Sông” là vật ngăn cách, sự chờ đợi mòn mỏi của những đôi trai gái yêu nhau :
“ Sông sâu cá lội mát tăm,
Trang 19Chín tháng cũng đợi, mười năm cũng cho ”
[ 2; Tr 392]
“ $ông” được dùng để so sánh nói lên lòng dạ nông — sâu của con người:
“ Sông sâu còn có kẻ do,
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng?”
“Nước ” thể hiện vẻ đẹp thanh khiết của thiên nhiên và cuộc sống:
*“ Nước Ngọc Sơn vừa trong vừa mái, Đường Nam Giang lắm cát dễ đi.”
[2; Tr.359]
Mặt khác, “nước” còn thể hiện thân phận của người dân lao động trong xã hội xưa:
* Nước giữa dòng chê trong chê đục, Vững trâu đâm hì hục khen ngon ”
Tóm lại, qua khảo sát các hình tượng là vật thể nhân tạo cũng như các hình tượng là
vật thê thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao cô truyền cho chúng ta một kết luận như sau: Thứ nhất, khi đi vào ca dao nói chung, chúng đã thể hiện sinh động được những
Trang 20giá trị biểu trưng mà tác giả dân gian muốn nói đến Ấy là tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương và nói về người dân lao động Ấy là những nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung Thứ hai, xét về số lượng thì hình tượng ở ca dao cô truyền hết sức phong phú và đa
dạng Chính việc khảo sát, phân tích và đi đến kết luận như vậy có ý nghĩa rất lớn đối với
đề tài này Nó làm cơ sở để chúng ta so sánh, đối chiếu và rút ra những nét đặc trưng của các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ
d Khái niệm về hình tượng trong ca dao Nam Bộ
Nam Bộ là vùng đất mà mạng lưới sông ngòi xếp vào bậc nhất của Việt Nam Đây
cũng là cái nôi của văn học dân gian với nhiều thể loại: Truyện địa danh, Truyện cười, tục
ngữ, hát lý trong đó ca dao Ca dao Nam Bộ ra đời song song với quá trình khai sinh vùng đất mới, tưởng chừng nó còn non yếu và nghèo nàn lắm Nhưng ngược lại, nó phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu rực rỡ, góp phân làm phong phú — đa dạng, làm giàu
thêm cho nên văn học dân gian nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Đề làm được điều
đó, tác giả dân gian Nam Bộ đã đắn đo, suy nghĩ — đã nhàu nặn và sáng tạo ra những hình tượng chung nhất Để nó đi vào ca dao và phản ánh được cuộc sống Những hình tượng đó,
nó rất gần gũi với chúng ta, ngoài chức năng là một hình tượng nghệ thuật trong ca dao Nam Bộ nói riêng, nó còn là biểu tượng thể hiện những vẫn đề của cuộc sống người dân lao
động nơi đây nói chung O phan này, tôi khảo sát hình tượng ở hai mảng lớn đó là: “7hể
giới hình tượng liên quan sông nước là vật thể nhân tạo” và “Thế giới hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước ” trong ca dao Nam Bộ
- Thế giới hình tượng liên quan sông nước là vật thể nhân tạo:
Thế giới hình tượng liên quan sông nước là vật thể nhân tạo trong ca dao Nam Bộ tương đối phong phú và đa dạng Thực chất, nó chính là những vật thể do cư dân Nam Bộ tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống và lao động của họ Chính quá trình gần gũi và gắn bó với nó, cho nên dần dân những hình ảnh thân quen ấy: đã đi vào những câu hát của những buỗi trưa cày đồng, những lúc kéo chài Và đi vào ca dao, trở thành một hình tượng nghệ thuật Ca dao Nam Bộ ghi nhận hình tượng đó qua các nhóm sau:
+ Nhóm hình tượng là vật thể nhân tạo làm phương tiện đi lại trên sông nước như:
Trang 21dân lao động
Câu tre, câu dừa => Thê hiện sự ngăn cách, trắc trở trong tình yêu và cuộc sông
Mà ca dao Nam Bộ ghi nhận hình tượng đó như sau:
“ Bước xuống ghe quạt che tay ngoắi, Cất mái chèo ruột thắt từng cơn ”
“ Chéo ghe di ban ca v6,
Nuéc chay 6 6 chang thay ai mua
Chèo ghe đi bán lòng tong, Nước chảy ròng ròng chăng tháy ai mua ”
[19; Tr S3]
Tiếp theo, nhóm hình tượng là vật thể nhân tạo làm phương tiện khai thác thủy sản: Tên hình tượng Ý nghĩa
Cau: cau nhap, cau => Thé hién chiéu hướng chọn lựa của chàng trai hoặc cô gái
rê, câu dầm, câu trong tình yêu Sự trách móc hay lòng nhắn nại của nhân vật trữ căm, câu giăng tình trong ca đao Nam Bộ
Chai, lưới, lờ, lộp | => Thẻ hiện sự tiếc nuối, lâm lỡ trong tình yêu Đông thời thể
hiện nét đẹp văn hóa lao động của con người vùng sông nước
* Câu ” một trong những hình tượng được ca dao Nam Bộ ghi nhận nhiêu nhật:
Boi cau anh cam, cau ngãi câu nhân ”
“Cá không ăn câu thật là con cá dại, Vác câu về nghĩ lại con cá khôn ”
Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn ”
Đó là khảo sát sơ lược một vài hình tượng tiêu biểu trong thế giới hình tượng liên quan
sông nước là vật thể nhân tạo Sau đây, chúng ta sẽ đến với thế giới hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ
Trang 22- Thể giới hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước :
Con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau Chính thiên nhiên ban tặng cho con người cuộc sống, đồng thời con người cũng cải tạo, phát triển cuộc sống từ thiên nhiên và luôn đôi mới nó Với con người Nam Bộ, cuộc sống của họ gắn liền với thiên
nhiên sông nước Cho nên, xét về mặt văn hóa tỉnh thần, đặc biệt là ca dao, thì các yêu tố
sông nước tác động trực tiếp, làm chất liệu xây dựng nên một tác phẩm nghệ thuật của con người nơi đây Ấy chính là, những hình tượng thuộc về thiên nhiên sông nước, mang giá trị biểu trưng, thê hiện đời sống, tâm tư, tình cảm của người dân lao động Nam Bộ nói chung
Qua khảo sát gân 720 câu, của 280 bài, và thu nhận được 28 hình tượng thiên nhiên liên
quan sông nước trong ca đao Nam Bộ Nó được chia theo hệ thống ba nhóm hình tượng như sau:
+ Thứ nhất, nhóm hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước là địa hình như: sông,
nước, sóng, gió, rạch, vàm, bở, cù lao, cồn, kinh, ao Trong đó, hình tượng nồi bật nhất là
sông xuất hiện 150 lần và nước là 140 lần, nó xuất hiện với kết câu đây đủ nhất Mà ở chương tiếp theo, khi nói về nghệ thuật của hình tượng tôi sẽ nói rõ hơn Ca dao Nam Bộ,
ghi nhận nhóm hình tượng này có nhiều đặc trưng riêng biệt hơn so ca dao các vùng miền
khác Cụ thể chỉ một hình tượng “sông”, mà nó thê hiện được : fình yêu quê hương đất nước
_ tỉnh thân đấu tranh bất khuất, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, nét đặc trưng văn hóa
của con người và vùng đất Nam Bộ
“§ông ” thê hiện tình yêu quê hương đất nước - tinh thần đấu tranh bất khuất của con người Nam Bộ:
“ Sông Bên Nghé tàu phun khói mịt, Chợ Bến Thành súng bắn nồ vang ”
“ #ông” còn là hình tượng thể hiện tình cảm gia đình — tình yêu đôi lứa:
“Ra dime co dan do,
Sông sâu con đừng lội, đò đây con đừng qua.”
[25;Tr 2]
Trang 23[26; Tr 24]
“ Câu tre vắt nhịp qua sông,
Ai qua Tân Mỹ lòng không muốn về ”
[26;Tr 25]
+ Thứ hai, nhóm hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước là thực vật như: Bông
súng — bông sen, ban, bòo, lục bình, hông, tram, bình bát Trong đó, hình tượng bông súng —
bông sen chiếm tỉ lệ cao nhất xuất hiện14 lần, với kết cấu gần đầy đủ như hình tượng sông
và nước ở trên Thường tập trung nhiều nhất ở ca dao Đồng Tháp Mười, vì đặc thù thiên nhiên ở đây có rất nhiều thực vật này Khi chúng đi vào Ca dao Nam Bộ nói chung, giá trị biểu trưng của chúng khá rộng ở các chủ đề Cụ thê như sau:
* Bông súng — bông sen” là biểu tượng ca ngợi, niềm tự hào về Bác Hé, thé hién tinh
yêu quê hương đất nước son sắt, nồng nàn của con người Nam Bộ
“ Tháp Mười đẹp nhất bông sen,
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Ho.”
[26; Tr 138]
Hay:
“ Nơi đâu vang tiếng hát cười,
Như đất Tháp Mười sen thắm, tram xanh
Trải qua hai cuộc chiến tranh Người dân Đông Tháp nêu danh anh hùng ”
Trang 24[26;Tr.27]
“Anh đlI, anh nhớ Tháp Mười
Nhớ canh bông súng, nhớ nụ cười Mỹ An ”
[26;Tr 25]
Hay:
Ai về Đông Tháp mà xem Bông sen, bông súng nở chen lúa vàng
[26; Tr.24]
+ Thứ ba, chúng ta nói về nhóm hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước là động vật đáng kế đến trong ca dao Nam Bộ như: Cá, ôm, còng cọc, nghêu, đỉa, bìm bịp, cò, cua cong,
răn, muối Trong số những hình tượng thuộc nhóm này, thì hình tượng “cá” xuất hiện 127
lần chiếm tỉ lệ cao nhất Nó hiện diện trong ca dao Nam Bộ với kết cấu đây đủ Các hình
tượng khác trong nhóm chiếm tỉ lệ nhỏ còn lại Điều này, không có gì quá ngạc nhiên khi
mà thiên nhiên sông nước Nam Bộ đã tác động tích cực vào đời sống và đặc biệt tác động vào ca dao Thực tế cho thấy, thủy sản ở Nam Bộ mà đặc biệt là “cđ — ôm” chiếm số
lượng rất lớn Nó là nguồn thức ăn chính cho cư dân nơi này, ngoài ra nó còn phục vụ cho kinh tế thông qua việc xuất khẩu thủy sản sang các vùng miền và nước khác Hơn thế nữa,
nó còn là những hình tượng nghệ thuật của ca dao Nam Bộ nói riêng và Ca dao Việt Nam
nói chung Sau đây, chúng ta khảo sát một vài giá trị biểu trưng của hình tượng “cá” trong
ca dao Nam Bộ xem nó biểu hiện như thế nào:
“Cá” là hình tượng biết góp công cùng chiến đấu với con người Nam Bộ:
“ Tháp Mười cá lội đây sông, Đồng sâu lúa chín góp công diệt thù ”
Trang 25Hơn thế nữa, trong ca dao Nam Bộ hình tượng này còn thể hiện những cung bậc cảm xúc của tình yêu đôi lứa:
“ Cá sâu, cá trở đâu đuôi
Người sâu lên ngược, xuống xuôi cũng sâu ”
Để có cách nhìn sơ lược về các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ, mời chúng ta tham khảo qua bảng hệ thống dưới đây
1.2.2 Hệ thống các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ
a Hệ thống các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước là địa lý trong ca dao Nam Bo:
hình tượng trong ca dao Nam Bộ xuất hiện khảo sát
Sông (Ba Lai, Trước, Sau, Cứu Long, Tiên, Hậu, Bến Nghé, Cái, bao nhiêu, đài, sâu, cạn, mênh TL1,TL2,
Ol Sông mông, bỏ văng, tắm mát, còn, 150 TL3
cung, rong, litng dting, lo do, cũng lộ, xa xa, nào, tôm, ăn cá, sáu lội, nước chảy, cá chốt, )
Nước (mênh mông, chảy xuôi,
chảy lở đở, chảy ròng ròng, chảy
đá mòn, chảy vòng cung, chảy re
Trang 26vol day, sáng, lạnh, cạn, phèn, TL3
trong, duc, rong, xao, trang lai
trong, nọ, sâu, ngược, đi xa, hồi, phèn, nguồn, giữa dòng, độc, bùn, biéc,can, cá.)
- Gió (lay, đưa, đây, chiêu, xuôi,
04 Song - S6ng ( dôn cuồn cuon, than, bia,
dap, ba dao, bao nhiéu gon ) 6 TL1, TL2
05 Rạch Rach (Gia, Gam, Chanh, Già) 4 TLI,TL2,TL3
06 Kinh Kinh (xáng, cạn, dài, vĩnh tế ) 4 TL1,TL2,TL3
09 Cù lao Cù lao (Ông Chưởng, mới nồi) 2 TL1,TL2
STT | Tên hình Biêu hiện của hình tượng Số lần Tài liệu
tượng trong ca dao Nam Bộ xuất hiện khảo sát
Bông súng, sen (mùa hạ, nở chen,
Ol | B.súng, sen thắm, tỏa, dong phén,voi cu co, 14 TLI
tàn, nở hoa, trang, mam kho )
bóng mái, ven bãi phù sa ) 5 T3
03 Lụcbìnhh | Lực Đình (trôi ríu rít, may kiép, 3 TLI
Trang 2707 Binh bat | Bình bát (mảng cầu) 1 TLI
STT | Tên hình Biêu hiện của hình tượng Số lần Tài liệu
tượng trong ca dao Nam Bộ xuất hiện khảo sát
Cá (Không, dại, mắc, khôn, vay
Ol Ca vung, ở đìa, lưỡi trâu, trèn, sâu, 127 TL] TL2
van vo, lia thia, no, chau, Idi, o cạn, ở ao, long tong, cho chim, lên, khô, nấu canh, won, mot nhảy ra,đdưới sông, gan bo, lac
02 Cua còng | Cưa, còng (mà muốn kẹp, không 4 TLI,TL3
Sợ, sáu con, làm mam )
04 Nghêu | Nghêu (Côn Lợi,Thạnh Phú ) 2 TL3
05 Dia Dia (bu, lội) 2 TL2
06 Muỗi Muôi (căn, kêu ) 2 TL1,TL2
08 Cong coc | Cong coc (bat cd) 1 TLI
10 Bim bip | Bờn bịp (kêu hoài) 1 TLI
* Nhìn chung: Qua quá trình khảo sát 720 câu, thuộc trên 289 bài ca dao Nam Bộ có “hình
tượng thiên nhiên liên quan sông nước” Ta thu nhận về được 28 hình tượng với những tần
số và biểu hiện khác nhau Cụ thé giá trị nội dung và nghệ thuật của chúng trong ca dao
Nam Bộ như thế nào? Sẽ được nói rõ hơn trong những phân tiếp theo !!!
CHƯƠNG 2
BIEU HIEN CUA CÁC HÌNH TƯỢNG
THIÊN NHIÊN LIÊN QUAN SÔNG NƯỚC
THEO CHU DE TRONG CA DAO NAM BỘ VÀ SỰ
Trang 28THE HIEN NHUNG DAC TRUNG VAN HOA CUA NAM BO
2.1 Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và tỉnh thần đấu tranh bất khuắt, ước mơ - khát vọng cuộc sống của con người Nam Bộ
Ngược dòng thời gian, theo từng trang lịch sử, ta như được quay về với những chiến công oai hùng của ông ta ngày xưa đã đấu tranh bảo vệ vùng đất này Để có được những chiến công lịch sử ấy, có được vùng đất an lành như ngày hôm nay, phải đánh đôi biết bao xương máu của các thế hệ cha anh đã nằm xuống, để cho chúng ta được cuộc sống độc lập —
tự do và hạnh phúc Cho nên, trong mỗi chúng ta ai cũng tự hào vì mình được sinh ra và lớn lên trên chính vùng đất Nam Bộ Một vùng đất, kiên cường bất khuất, một vùng đất có biết bao tâm gương anh dũng, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cuộc sống độc lập,
tự do và sự bình yên cho quê hương — đất nước Đề làm được điều đó! Hơn bao giờ hết con người Nam Bộ phải có được một tình yêu quê hương — đất nước, một tinh thần đấu tranh bất khuất cũng như ước mơ — khát vọng cuộc sống bình yên ở họ luôn trào dâng mãnh liệt, thiêng liêng cao cả và vượt trên mức bình thường Cho nên, nó sẽ mãi mãi là giá trị truyền
thống tốt đẹp và cao quý nhất của dân tộc Việt Nam Đặc biệt giá trỊ ay, luôn hiện hữu —
luôn sống mãi trong ca dao Nam Bộ nói riêng và trong tiềm thức của mỗi con người chúng
ta nói chung
2.1.1 Thể hiện tình yêu quê hương — đất nước của con người Nam Bộ
a Thể hiện tình yêu quê hương đất — nước của con người Nam Bộ qua lòng ca ngợi Đảng — Bac Ho
Nói về tình yêu quê hương — dat nuéc phai khang định răng con người Nam Bộ của chúng ta, có tình yêu quê hương — đất nước mạnh mẽ và lòng thủy chung son sắt Tình
yêu đó trước hết, là lòng ca ngợi về Đảng — Bác Hỗ Nó không chỉ thê hiện bằng hành động,
băng lời nói ngoài đời sống và trong chiến đâu, mà còn thê hiện trực tiếp qua ca dao Nam
Bộ:
“ Tháp Mười đẹp nhất bông sen,
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Ho.”
Hay:
“ Tháp Mười vẫn nở bông sen Tám lòng dân của bưng biên xưa nay
Trang 29Trông trời, trông đất, trong may Tréng ngay don Cu, sum vay Bac Nam.”
[26; Tr.138]
Bác Hồ là vị cha già của dân tộc Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng Người là ánh sáng soi đường cho cách mạng dân tộc đi đến con đường giải phóng, độc lập, tự do và thống nhất đất nước Cả thế giới đều yêu mến người, với Nam Bộ ai ai cũng vậy luôn dành
cho người một tình cảm đặc biệt, một trái tim yêu thương chân thành và sâu sắt nhất Mà ca
dao Nam Bộ đã ghi nhận một cách chân thành vẻ tình cảm đó: “ Tháp Mười đẹp nhất bông
sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” Hình tượng bông sen là biểu tượng cho vẻ đẹp
thanh cao, vẻ đẹp tinh khiết nhất của một loài hoa “ Gẩn bàn mà chẳng hôi tanh mii bin”
lại được so sánh với tên của người thật ý nghĩa vô cùng !
Bởi cá cuộc đời người hy sinh cho quê hương, cho đất nước Ngày ra đi tìm đường cứu nước người phải trải qua rất —- rất nhiều năm tháng sống thăng trầm, vất vả - cơ cực Nhưng
vì độc lập, tự do, vì vận mệnh của cả dân tộc mình, người chấp nhận vượt qua tat ca ké
những khi bị bắt giam người vẫn giữ trọn vẹn phẩm chat và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản Việt Nam Đến khi thành lập Đảng, Đảng đứng lên lãnh đạo nhân dân
đánh đuổi thực dân Pháp thắng lợi, dù là chủ tịch nước nhưng người vẫn giữ nguyên phẩm
chất tốt đẹp của một người chiến sĩ cộng sản: “cần — kiệm — liêm — chính — chí — công — vô
tư ” Khi đất nước còn chia cắt, trái tìm “người” luôn hướng về đồng bào miền Nam thân
yêu Cho nên, tác giả ca dao Nam Bộ mượn so sánh hình tượng “ Đông sen” với tên
“người” Không phải là một cách so sánh ngẫu nhiên bình thường, không chỉ nói lên vẻ đẹp thanh cao, nhân cách tốt đẹp của người Mà qua nó còn thê hiện tình cảm thiêng liêng, lòng thành kính sâu sắt nhất dành cho người Đồng thời thê hiện được tình yêu quê hương — dat nước, lòng thủy chung son sắt của họ với Đảng và cũng như với “người” — Chủ tịch Hồ Chí Minh Không dừng lại đó, tác giả ca dao Nam Bộ còn dành trọn tâm lòng, trọn trái tim cua mình để ca ngợi “người” , lấy hình ảnh sao Rua để so sánh với tâm gương của “ người”:
“ Cụ Hồ như thể sao Rua,
Sáng khap séng nii co dé Viét Nam.”
Hay:
“ Nước Cứu Long sóng dôn cuỗn cuộn Đất miễn Nam bão cuốn lên rồi Hương sen tỏa khắp đất trời
Trang 30Bác ơi! Tên Bác sáng ngời lòng tin ”
[26; Tr.137]
‹
Hình tượng “ ñsưở¡” thật vĩ đại, thật thiêng liêng, cao cả và độc đáo làm sao!
“Người” không chỉ những là một “hoa sen” mà còn cả một “ /rởi sen thơm ngát” VỚI VỆ đẹp vĩnh hằng, thanh cao, bình đị muôn đời và mãi mãi “ Người” không chỉ là “nội ngôi
sao sáng” trên bầu trời, mà còn là cả “£hể sao Rua tỏa sáng” khắp sông núi và cơ đồ Việt
Nam Thật chăng có ai sánh được với “người” Đây là cách so sánh vừa tinh túy, vừa độc
đáo Khăng định một cách mạnh mẽ tình cảm của tất cả chúng ta dành cho “người” Đó là
niềm tự hào nhất, là niềm tin vững chắc nhất và là ánh dương soi sáng nhất của con người
Nam Bộ nói riêng và của cả thời đại — của cả dân tộc Việt Nam nói chung
b Thể hiện tình yêu quê hương — đất nước của người Nam Bộ qua lòng ca ngợi những tắm gương anh hùng
“Tháp Mười cá lội đây sông, Đồng sâu lúa chín góp công diệt thù”
thiên nhiên ban tặng cho con người Nam Bộ, không được thực hiện đúng sứ mệnh của nó là
cho “cuộc sống”; mà cho “chiến tranh” do kẻ thù mang lại Những hình tượng rất thân quen và gần gủi ấy tưởng chừng như đơn giản nhưng lại làm nên lịch sử, lại “góp công diệt
thà” Qua hình tượng “cá”, hình tượng “sông” cũng cho ta thay duoc su khan khit, su hoa
quyện của thiên nhiên với cuộc sống và chiến đấu của con người nơi đây
Thiên nhiên còn biết hòa quyện, khăng khít với nhau, biết góp sức mình vào chiến
công chung của con người đó là “diệt thù” thì thật là điều đáng khen ngợi hơn bao giờ hết
Đó là thiên nhiên, thế thì câu hỏi được đặt ra, con người vùng đất này thể hiện tình yêu quê hương — yêu nước của họ như thế nào? Tình yêu đó thê hiện ở mức độ ra sao? Vâng, sở dĩ
lây hình tượng thiên nhiên ở bài ca dao trên để khơi gợi vẫn đề không phải là ngẫu nhiên, vì
thiên nhiên luôn là nhân tô tác động đên con người Thiên nhiên trù phú, mênh mông, sẽ sản
Trang 31sinh ra tính cách con người rất phóng khoáng, đặc biệt chất anh hùng ở họ rất mạnh mẽ, rất
dữ dội:
“Tiên Giang sông nước mênh mông Sông bao nhiêu nước, trai hùng bấy nhiêu”
[26; Tr 148]
Hình tượng “sông” lai di song déi voi “nudc” rat tinh té va hop ly Vi ndi dén “sdng
nước ” thì sâu lắm, mênh mông và bao la lắm! Nó đã thuộc vẻ thiên nhiên, thì đường như là
vô tận Cái hay của tác giả ca dao Nam Bộ là ở chỗ ấy Họ yêu nước nông nàn và họ luôn tự hào, luôn tôn vinh chính những con người làm nên lịch sử đó Thật ra, Tiền Giang hay nơi
nào khác của Nam Bộ, trai hùng thì kế không sao hết Đó là sự thật, vì hầu như những chàng
trai trên miền đất này, họ luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng hy sinh vì quê hương —
đất nước Họ ra đi vì tình yêu thiêng liêng và bất tử nhất Chính sự hy sinh đó, họ trở thành
những chàng “rai hàng” hay “ những anh hùng” đáng được quê hương — đất nước tôn vinh, ca ngợi và đời đời ghi nhớ công ơn
* Tháp Mười có Thiên Hộ Dương, Dựng cờ khởi nghĩa nêu gương anh hùng
Tháp Mười sông nước mênh mông, Sông bao nhiêu nước, trai hùng bấy nhiêu ”
[26; Tr 150]
Anh hùng trong tiềm thức và suy nghĩ của người Nam Bộ là người anh hùng biết xung phong “ Dựng cờ khởi nghĩa nêu gương anh hùng”, biết đứng lên đẫu tranh vì chính nghĩa, vì sự bình yên của quê hương — đất nước Phải làm tắm gương cho chiến sĩ và đồng bào mình noi theo Những tâm gương anh hùng đó được ca ngợi trong Ca dao là nhưng tâm
ương rất hiện thực ( Tiên Giang, Tháp Mười ) Được so sánh với thiên nhiên ở tầm cao to
lớn “ Sông bao nhiêu nước, trai hàng bấy nhiêu ” dường như trở thành motip trong cach so sánh về những tắm gương anh hùng trong ca dao Nam Bộ Không dừng lại đó, tác giả ca dao Nam Bộ còn dành hết lời ca ngợi cho người phụ nữ Nam Bộ như một tắm gương soi sáng thể hiện tình yêu quê hương — đất nước của họ:
“ Sông Tiên nước chảy lờ đò,
Anh đi cứu nước em chờ đợi anh ”
[26; Tr 149]
Trang 32Nếu như, tắm gương anh hùng ở những bài ca dao trước đó là những chàng trai với sức trẻ hào hùng Thì ở đây, lại là một người con gái, và với mỗi việc là động viên người yêu đi cứu nước và chờ đợi người yêu trở về “ Anh đi cứu nước em chờ đợi anh” Thật ra, nói nghe thì nhẹ nhàng lắm và ai mà chẳng nói được Nhưng chưa chắc ai cũng giữ được lời hứa và làm được như những gì mình đã nói Vì chúng ta biết, chiến tranh thì không ai biết trước ngày trở về Có những người mãi đợi hai năm, ba năm thâm chí hai mươi năm nhưng vẫn chưa thấy người yêu mình trở về Có người sống, có người hy sinh Những vết thương chiến tranh mang lại cho họ là điều khó có gì bù đắp được Rất — rat nhiều mối tình,
rất — rất nhiều mái âm gia đình phải ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại Vợ xa chồng, con
xa cha, những hẹn ước cũng in xa nơi chiến trường mãi mãi Thế vậy mà, nhân vật em trong bài ca dao này thật thản nhiên và xem như không có chuyện gì? Phải chăng đó là một người con gái có tâm hồn thơ ngây, hôn nhiên và vô tư đến thế Điều làm ta ngạc nhiên hơn nữa khi hình tượng “sông, nước” ở đây mang mác nỗi buồn luyến lưu cho buổi tiễn đưa này “ Sông Tiên nước chảy lờ đờ ”, ở trên thì “sông nước mênh mông”, còn đây sông lại chảy lờ
đờ Không còn mạnh mẽ mà là chậm chạp lại, dường như dòng sông và con nước bắt đầu buôn vơi xuống rồi đây
Bởi thật chất, nhân vật em cũng buôn lắm chứ, vì có mấy ai muốn xa người mình yêu Biết rồi đây, nơi chiến trường ác liệt người yêu mình sẽ ra sao Nhưng cuối cùng tình yêu quê hương — đất nước, ý thức dân tộc đã giành chiến thắng trong suy nghĩ của họ Khi họ đã biết hòa quyện tình yêu nhỏ nhoi của mình với tình yêu lớn nhất, tình yêu của đất nước Đó
là suy nghĩ đúng, suy nghĩ tích cực rất cân trong mọi thời đại Cho nên, tác giả ca dao Nam
Bộ dành hết lời khen ngợi nhân vật trữ tình của mình là điều đáng ghi nhận Chính vì vậy,
qua nhân vật em cũng như hòa quyện với hình tượng “ sông — nước” trữ tình và sâu lắng trong bai ca dao Tác giả ca dao Nam Bộ đã bộc lộ trực tiếp quan điểm, đồng thời ca ngợi mạnh mẽ nói lên được phẩm chất cao quý của người phụ nữ nói riêng và người lao động Nam Bộ nói chung Ấy là họ biết hy sinh, biết hòa quyện tình cảm riêng tư của mình vì một tình yêu thiêng liêng và cao cả Ấy là tình yêu quê hương — đất nước trong mỗi một trái tim của con người Nam Bộ nói chung
Tóm lại, hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ đã thê hiện chủ đề tình yêu quê hương — đất nước một cách sâu sắc và sinh động Trước hết, đó là tắm lòng thành kính biết ơn, lòng ngợi ca, thủy chung son sắt của con người Nam Bộ đối với Đảng với cách mạng và Bác Hô vĩ đại Kê tiệp, đó là lòng biệt ơn chân thành sâu sắt, niêm
Trang 33tự hào, ngợi ca những tâm gương anh hùng Nam Bộ Tắt cả đã làm nên lịch sử cho vùng đất Nam Bộ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung thêm phan giá trị và ý nghĩa của nó mãi được lưu giữ về sau
2.1.2 Thể hiện tỉnh than đấu tranh bất khuất và ước mơ — khát vọng cuộc sống
của con người Nam Bộ
a Thể hiện tỉnh thần đấu tranh bất khuất của con người Nam Bộ
Từ xa xưa, vùng đất Nam Bộ đã là điểm nhắm xâm lược của các nước phương Tây trong đó có thực dân Pháp Pháp là một nước có tham vọng nhiều nhất muốn biến nơi đây
trở thành thuộc địa, để khai thác thiên nhiên và đem lại lợi nhuận kinh tế cho chúng Nhưng
đó chỉ là một giấc mơ, bởi ngay buôi đầu khi đặt chân đến đây, chúng đã phải chịu sự kháng
cự quyết liệt của con người Nam Bộ
“ Sông Bên Nghé tàu phun khói mịt, Chợ Bến Thành súng bắn nỗ vang,
Cả tiếng kêu các tổng các làng, Đứng lên đuối bọn xâm loàn về Tây ”
[19; Tr 38]
Nhắc đến kẻ thù thực dân, trong suy nghĩ của người dân Nam Bộ, họ căm phân chúng
vô cùng, xem chúng là “ bọn xâm loàn” Họ ghét cay, ghét đăng chúng Ngay khi chúng vừa đến, đã bị đáp trả bằng sức mình cộng động “ Ca tiéng kêu các tổng các làng Đứng
lên đuổi bọn xâm loàn về Tây” Nó vừa thể hiện ý thức dân tộc sâu sắc, vừa tinh thân đấu
tranh bất khuất của họ Không dừng lại đó, ý thức, tinh thần đấu tranh bất khuất ấy đã được được đúc kết từ câu nói bất tử của anh hùng Nguyễn Trung Trực trước mặt người Pháp “ Bao giờ đất nây hết cỏ, dân Nam mới hết người đánh Tây” [19; Tr 40] Rồi được dân gian hóa thành cầu ca dao sau:
“ Bao giờ hết cỏ Tháp Mười, Thì dân Nam mới hết người đánh Tây ”
Trang 34Đánh chìm tàu Pháp tại sông Bình Thành”
[26; Tr 149]
Nếu hình tượng “ sông” ở trước đó là nơi khơi gợi bước chân xâm lược của thục
dân Pháp, thì hình tượng “ sông” ở bài thơ này lại là nơi chứng kiến thất bại của chúng Và
1a noi ghi dau ấn lịch sử cho những chiến công oai hùng của quân và dân Nam Bộ “Sông” Bình Thành chỉ là đại diện cho nhiều con sông ở Nam Bộ ghi vào chiến tích lịch sử nơi đây
Ngoài tinh thần đấu tranh bất khuất, con người còn được thiên nhiên, đặc biệt hệ thống sông
ngòi Nam Bộ ủng hộ đánh Tây Qua đó, con thể hiện nghệ thuật quân sự của quân và dân Nam Bộ Họ là những chiến sĩ sông — nước đặc biệt và đẳng cấp nhất
“Bao giờ cạn nước Đông Nai Sụt chân đất Tháp, mới sai lời nguyễn ”
[26; Tr.13]
Không dừng lại đó, tinh thần đấu tranh bất khuất ấy còn biểu hiên qua những lời thê, những lời nguyên, lòng thủy chung son sắt một lòng với Đảng và với cách mạng Chính tác
giả dần gian Nam Bộ đã khắc họa một cách sâu đậm qua hình tượng “Nước” với giả thiết
rất mạnh mẽ và dứt khoát “Bao giờ cạn nước Đồng Nai” và “Sụt chân đất Tháp”, thì “mới
sai lời nguyên” Đó là khang định một cách không có gì thay đôi được Để làm gi? Dé chứng minh được tinh thần đấu tranh bất khuất của họ “ Lởi nguyễn” ở đây phải chăng là
lời thề cùng nhau đấu tranh, cùng nhau đánh đuôi kẻ thù, không chịu làm nô lệ cho giặc? Phải chăng đó là ý chí quyết tâm, tinh thân đấu tranh kiên cường bắt khuất của con người Nam Bộ Vâng đó là tâm huyết, là mạch sống sôi sục ý chí dân tộc, căm ghé kẻ thù của quân
và dân Nam Bộ nói chung
Nhắc đến đây, ta lại nhớ đến câu nói bất tử của một người con gái Nam Bộ “ còn cái lai quân cũng đánh” chính câu nói của chị Út Tịch ngày ấy, đã khẳng định phân nào phẩm chất kiên cường, bất khuất của con người Nam Bộ
Hay chính thi hào Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiều đã từng khăng định:
“ Tha dui ma gitt dao nhà, Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ ”
[19; Tr 37]
Qua đó, cho ta thấy được tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất vì quê hương vì đất nước của con người Nam Bộ nói chung Nó luôn là chât thép, là ngọn lửa sôi sục trong tiêm
Trang 35thức và trái tim của mỗi con người ở hôm nay và mãi mãi về sau trên chính vùng đất sông nước — lich su nay
b Thể hiện ước mơ và khát vọng cuộc sống của con người Nam Bộ
Từ tinh thần đấu tranh bất khuất ấy, chúng ta đễ cảm nhận được ước mơ và khát vọng của con người Nam Bộ xưa Họ chiến đấu vì tình yêu quê hương - đất nước, chứ không bao giờ muốn bỏ cuốc - cày; bỏ ruộng — vườn và bỏ gia đình thân yêu để tay ôm lây súng mà ra chiến trường Đó là phẩm chất cao đẹp - phẩm chất yêu chuộng hòa bình của
con người Nam Bộ nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung Ca dao Nam Bộ cũng thể
hiện ước mơ và khát vọng đó qua những hình tượng rất thân quen như:
* Lá tràm xanh che anh Giải phóng Đánh quân thu, sạch bóng xâm lăng ”
[26; Tr 146]
Khảo sát bài ca đao này, chúng ta phần nào cảm nhận được ước mơ và khát vọng đó
Hình tượng thiên nhiên “? tram xanh” lại xuất hiện làm tô thắm thêm cho hình tượng
người chiến sĩ “anh givi phóng” qua động từ “che” Một điều kì diệu và hết sức độc đáo,
cho người chiến sĩ Nam Bộ trong thời chiến, đó chính là những rừng tràm, nhánh tràm xanh
mà thiên nhiên ban tặng chính nhờ nó mà người chiến sĩ mới ngụy trang và chiến thắng
được kẻ thù
Cho nên, hình tượng cây tràm đã đi vào tâm thức của mỗi người dân nơi này Tôi còn
nhớ có một nhạc sĩ viết rất hay về “Rừng tràm U Minh”, và thật hạnh phúc khi chúng ta
được đến đó, để thoáng ngửi hương thơm ngào ngạt của hoa tràm nở rộ, nhìn ong — bướm
đua nhau hút mật, nghe tiếng chim kêu ríu rít bên tai thì còn gì bằng Dù là loại thực vật
không kêu sa, gắn liền với thiên nhiên sông nước Nam Bộ Nhưng giá trị của nó thật lớn, thật đáng ca ngợi và cần gìn giữ phát huy Bởi nó không chỉ làm nhiệm vụ cân băng sinh thái tự nhiên, mà nó còn biết hòa quyện với con người Nam Bộ làm nên chiến công, làm nên lịch sử “Đánh quân thà, sạch bóng xâm lăng” Không dừng lại đó khi nói về hình tượng
này, tác giả dân gian Nam Bộ còn tự hào và ca ngợi một cách mạnh mẽ:
“Rừng trầm xanh tốt bao la Tây vô mắt vía, Mỹ qua mất hồn ”
[26; Tr.149]
Họ luôn tự hào vì thiên nhiên cũng biết chiến đấu và biết chiến thắng Thực tế mà nói,
“ràm” chỉ dừng lại là một hình ảnh với đúng tên gọi của nó Nhưng với tác gia dan gian
Trang 36Nam Bộ nói chung nó không đơn thuân là vậy; nó đã là cái đặc trưng nhất khiến cho kẻ thù phải “mất vía — mắt hôn”: nó là hình tượng phi thường hơn các loài thực vật khác Phải
chăng, tác giả dân gian đã nhân hóa một cách cao độ về hình tượng này? Phải chăng màu xanh ấy không chỉ là màu xanh của “Rửng fràm”, mà còn là ước mơ và khát vọng của con người Nam Bộ về cuộc sống bình yên — an lành và hạnh phúc Hơn thế nữa, đó ước mơ và
là khát khao về một vùng quê tự do với sự trù phú của thiên nhiên sông nước, một vùng quê
đậm tình của con người Nam Bộ:
“ Ruộng đồng, kinh xáng quê ta Dân tôi thích một bài ca Tháp Mười Tháp Mười, này Tháp Mười ơi!
Đẹp trời, đẹp nước, đẹp đời tự do ”
[26; Tr 29]
Tóm lai: Tinh than đấu tranh bất khuất và ước mơ — khát khao cuộc sống của con
người Nam Bộ là một chủ đẻ thu hút khá nhiêu bài ca dao nói đến Riêng với các hình tượng
thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ nói chung, đã thể hiện một cách đầy
đủ và độc đáo về chủ đề này Ấy là những tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, quyết tử vì tô quốc
quyết sinh Ấy là ước mơ — khát vọng về một cuộc sống thanh bình, ấm no và hạnh phúc
của con người Nam Bộ nói chung
Nhìn chung lại: Tình yêu hương - đất nước và tinh thần đấu tranh bất khuất, ước mơ — khát vọng cuộc sông của con người Nam Bộ là một trong những chủ đề lớn Được các hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước trong ca dao Nam Bộ thể hiện khá sâu sắc và đầy đủ Qua đó cho chúng ta thấy được, chính tác giả ca dao Nam Bộ là những người có ý thức rất
rõ về tình yêu quê hương — đất nước cũng như tinh thần đấu tranh bất khuất, ước mơ — khát vọng cuộc sống nhất Bởi họ đã thê hiện tất cả những tâm tình, tình cảm thiêng liêng của mình cho quê hương — đất nước và đồng thời nói lên được phẩm chất tốt đẹp — cao quý của người dân lao động Nam Bộ nói chung
2.2 Thể hiện tình yêu đôi lứa
Tình yêu đôi lứa, là một trong những chủ đề thu hút khá nhiều bài ca dao nói đến
Với ca dao cô truyền, có nhiều hình tượng miêu tả nói về chủ đề này ở nhiều khía cạnh, nhiều cung bậc khác nhau Riêng với ca dao Nam Bộ, do đặc thù đây là vùng sông nước miệt vườn, nên cũng không ít bài ca dao nói về tình yêu đôi lứa mà hình tượng “?rữ fình” có liên quan với thiên nhiên sông nước Chính cuộc sông lao động, bên những cánh đông, bên
Trang 37những dòng sông với những câu hò đối đáp buôi trưa cày đồng các đôi trai gái Nam Bộ đã
thể hiện được tâm tư tình cảm của mình Mặc dù, là thê hiện tâm tư, tình cảm của riêng
mình Song qua đó, cũng cho chúng ta thấy được nét đẹp văn hóa ứng xử trong tình yêu của những đôi trai gái vùng sông nước miệt vườn Nam Bộ nói chung
2.2.1 Thể hiện tình yêu đôi lứa trong buổi đầu gặp gỡ
a Thể hiện phong cách giao duyên tỏ tình
Tình yêu trong buôi đầu gặp gỡ, thường người ta rất e ngại, không đám mở lời tỏ ý với người mình yêu Nhưng với những đôi trai gái Nam Bộ, ngay buổi đầu ấy họ không chỉ thể hiện được tình cảm của mình, mà họ còn ghi lại dâu ẫn với người yêu bằng một phong cách giao duyên hết sức độc đáo và trên cả tuyệt vời Ca dao Nam Bộ ghi nhận điều đó như sau:
“Thấy anh hay chữ, em đây hỏi thứ đôi lời
Đường từ Châu Đốc, Hà Tiên
Kinh nào chạy thẳng nối liền hai nơi?
Đất nào lắm đất nhiễu đổi Đèn nào cao nhất tiếng đời đều nghe?
Sông nào tấp nập thuyên bè
Hồ nào với biển cập kè bên nhau?
Trai nào nổi tiếng anh hào Anh mà đáp đặng, má đào em trao
-Nghe em nói tức anh đây nói phứt cho rồi
Đường lên Châu Đốc, Hà Tiên
Có kinh Vĩnh TẾ nối liền hai nơi
Đất Nam Vang lắm đất nhiêu đôi Đèn cao Châu Đắc mọi người đều nghe Sông Cửu Long tấp nập thuyên bè Biển Hồ hai chữ cập kè bên nhau Trai Việt Nam nổi tiếng anh hào Anh đà đáp đặng, vậy má đào em trao đây ”
[10;Tr 55-56]
Phong cách giao duyên tỏ tình ở đây không phải là cách bộc lộ tình cảm một cách vội
vàng trực tiếp Mà thường thì những đôi trai gái Nam Bộ hỏi đối đáp nhau về những gì gần
Trang 38gũi với cuộc sống lao động của họ Cụ thể trong bài ca dao trên, ta thấy cô gái rất khéo léo
1”
hỏi “Đất nào, đường nào, hồ nào, kinh nào, sông nào, đèn nào ` và chàng trai trả lời rất
hay Cho ta thấy được tính chất giao duyên, tính mượt mà trong cách thê hiện tình cảm yêu thương của họ trong buổi ban đâu gặp gỡ Thật ra, những hình tượng như: Đất, đường, sông, kinh và hô .là những hình tượng không mấy øì xa lạ với chàng trai Chính vì vậy nó
dễ gần, dễ nói và dễ thăm dò tình cảm của đối tượng mà cô gái muốn ngỏ lời Dù biết là người mình sẽ yêu đã biết hết, nhưng vẫn hỏi Hỏi để làm gì? Hỏi để quen nhau, hỏi để hiểu
nhau và rồi họ yêu nhau nhiều hơn
Hon thế nữa, cách thể hiện tình yêu của những đôi trai gái Nam Bộ, thường có chung một đặc điểm đó là : “người này mượn người kia giúp một cái việc gì đó”, đễ rồi
man ơn, để rồi muốn trả ơn và đặc biệt muốn gan bó trở thành tri kỉ:
“Áo anh khét nắng hôi bùn Mượn em đi giặt nước nguôn cho trong ”
[1; Tr.59]
Ở bài ca dao này, ta dễ cảm nhận lời tỏ tình của chàng trai một cách khéo léo Sở đĩ
nói như vậy, là vì “Áo anh khét nắng hôi bùn”: trước hết chàng trai là người lao động “khéf năng hôi bùn” nói lên tính siêng năng, chịu khó, cần cù của anh Hình ảnh chàng trai đại
diện cho phẩm chất tốt đẹp của người lao động Nam Bộ nói chung Cái hay của tác giả dân gian là ở đó Muốn tỏ tình - muốn giao duyên - muốn sự giúp đỡ và muốn gắn bó bên lâu, thì phải có niềm tin — phải có tình yêu thật sự của trái tim Và hình ảnh chàng trai đã làm được điều đó, tin chắc rằng nhân vật “em” trong bài ca đao này sẽ rung động và yêu thương
chàng trai nhiều hơn Không dừng lại đó, tác giả dần gian Nam Bộ lại thể hiện độc đáo hơn
qua từ“ Muon” mét tir mà nghe sao ngại ngùng quá, khách sáo quá, nhưng đó là biểu hiện trang thai tam ly của tình yêu Mượn là gì? Là động từ chăng? Nhưng “Mfượn giặt áo nước
nguon cho trong” thi thật là tỉnh tế, cũng là cách nhờ vả người khác, thế nhưng nó là một
cách nhờ vả thật dễ chịu, đễ làm và lần nữa làm cho nhân vật em trong bài ca dao thương lại
càng thêm thương, khi nghe chàng trai “mượn giặt áo” Vì sao? Vì chàng trai lấy cớ tỏ tình quá hay, quá khôn khéo Bởi Nam Bộ là vùng sông nước thì có khó gì để tìm một nơi có nguồn nước trong để giặt sạch áo Nhưng qua đó, cho ta thấy được không đơn thuần là việc
“muon gidt do”, mà muốn thể hiện sự gắng bó bên lâu cũng như tình yêu của họ: “ Em giặt
áo cho anh, mai mốt ai giặt áo cho anh, thôi em hãy bằng lòng làm vợ anh, để mai này mình
hạnh phúc có nhau ” “Bùn — Nước ” là hai hình tượng thuộc về thiên nhiên sông nước, nó
Trang 39có thê hòa quyện vào nhau để làm cho một trong hai sáng trong, lắng đọng và tươi đẹp hơn
Chính hai hình tượng khá tinh tế đó, đã thể hiện được khát vọng yêu thương của nhân vật
trữ tình trong bài ca dao nói riêng và người Nam Bộ nói chung Nó bình dị nhưng thiêng liêng cao cả, nó mộc mạc nhưng gân gũi và đáng yêu làm sao! Hơn thế nữa, từ nền tảng cơ
sở của lời tở tình thuận lợi trong buôi ban đầy gặp gỡ ấy, họ đã để lại ân tượng lưu luyến và
trái tim của họ đã thật sự thuộc về nhau Mà ca dao Nam Bộ đã thừa nhận điều đó như sau:
* Nước sâu sóng búa láng bờ, Thương anh vì bởi câu hò có duyên ”
[26; Tr 106]
Hình tượng “zước sâu — sóng búa” thê hiện một điều gì đó hiểm trở lắm Có thể
trong tình yêu đó là những gian nan, trắc trở Nhưng nhân vật trữ tình đã yêu rồi! Yêu từ cách anh nói, từ điệu hò mà anh đã mang đến và làm đắm say trái tim em Dù có khó khăn, cách trở gì cũng không bằng anh và khi trái tim em đã yêu thương anh rồi!
“ Chiêu chiêu ra ngắm Tiên Giang, Sông bao nhiêu nước, em thương chàng bấy nhiêu ”
[26; Tr 73]
Hình tượng “sông — nước” lại là hình tượng dùng để so sánh cho tình yêu mà cô gái dành cho chàng trai Thật hay, thật đẹp và độc đáo vô cùng Bởi nó là hình tượng thuộc
về thiên nhiên và là vô tận Qua đó cho ta thấy được, tình yêu vô bờ bến, không có gì là giới
hạn được với một trái tim yêu thương đang dâng trào và chớm nở của những đôi trai gái trong buổi đầu gặp gỡ và yêu nhau
b Thể hiện sự nhớ nhung — chờ đợi
Tình yêu luôn đi kèm với nỗi nhớ nhung - chờ đợi Không ai yêu mà không từng nhung nhớ hay mòn mỏi đợi chờ hướng về người mình yêu Trong buổi đầu gặp gỡ ấy, gần nhau, thân nhau và rồi yêu nhau Những đôi trái gái Nam Bộ cũng vậy, họ bắt đầu một tình yêu thực sự với những cảm xúc nhớ nhung — chờ đợi ban đâu:
“ Chiều chiều ra đựng đâu kinh,
Thương mình mà chẳng thấy mình nơi đâu ”
[26; Tr 73]
Những đôi trai gái Nam Bộ, họ yêu nhau rồi thường có biếu hiện là cỗ dấu nỗi nhớ
của mình về người yêu Họ thường mượn một nơi nào đó để đứng mà suy nghĩ và mong nhớ
vê người yêu “chiêu chiêu ra đứng đâu kinh”, hình tượng “ kính” ở đầy chính là nơi đê
Trang 40nhân vật trữ tình đứng ngóng trông, chờ đợi người yêu Và chính nơi ấy, sẽ in dấu biết bao
nhiêu là kỷ niệm đẹp với họ Nhưng ở bài ca dao trên, hình tượng “ kh” lại là nơi mà nhân vật trữ tình chờ đợi trong sự thầm lặng và mỏi mòn “ Thương mình mà chẳng thấy mình nơi
đâu ” Không dừng lại đó, cấp độ nhớ nhung, chờ đợi ấy lại được gia tăng lên, nhưng càng thay thêm phần vô vọng:
“ Chiều chiều xuống bến ngôi trông, Gió xuôi nước lặng, sao không thấy người ”
[26; Tr 73]
Không chỉ có “bến” mà còn có “gió và mước” cả ba hình tượng gom góp vào nỗi buôn, nổi nhớ mong của nhân vật trữ tình Cũng buổi chiều ấy, nhưng ở đây lại là buôi chiều đượm buôn hơn Bởi chờ, bởi trông từ “gió ngược đến khi gió xuôi”, từ “nước còn
chảy mà giờ nước đã lặng rồi” nhưng “sao không thấy người” Tình yêu bản chất nó là như
thế, càng yêu nhau người ta càng nhớ thương về nhau nhiều hơn Dù có xa cách, nhưng họ vẫn có niềm tin vào tình yêu của mình Ca dao Nam Bộ đã khẳng định sự thủy chung, son sắt chờ đợi trong tình yêu của những đôi trai gái Nam Bộ một cách mạnh mẽ:
“ Sông dài cá lội biệt tăm,
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ ”
[ 19; Tr 187]
Qua các hình tượng đã phân tích ở trên không chỉ thể hiện được sự nhớ nhung, chờ
đợi của những đôi trai gái Nam Bộ khi yêu nhau, mà còn thê hiện được những trạng thái tâm
lý trong tình yêu của họ Hơn hết, tình yêu đó, sự nhớ nhung — chờ đợi đó luôn gắn liền với những hình tượng thiên nhiên liên quan sông nước và những đặc trưng của văn hóa vùng đất
đau, xót xa khi tình duyên lỡ làng Ca dao Nam Bộ thêm một lần nữa thê hiện tỉnh tế, sâu
sắc những cung bậc cảm xúc đó
a Thê hiện tâm trạng buôn đau - u sâu khỉ gặp trắc trở và tan vỡ.