1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn GIỌNG điệu THƠ NGUYỄN BÍNH

112 687 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian này hàng loạt tập thơ Nguyễn Bính được in ấn và ra mắt công chúng như: Bức thư nhà, Đêm sao sáng, Tuyển thơ Nguyễn Bính, Thơ tình Nguyễn Bính, Cây đàn tỳ bà, Chân quê,…

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN



NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LUYẾN

Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cần Thơ, 5 - 2012

Trang 2

Đề tài: Giọng điệu thơ Nguyễn Bính

1.1.4 Đặc điểm thơ Nguyễn Bính

1.2 Lí luận chung về giọng điệu

1.2.1 Khái niệm giọng điệu

1.2.2 Giọng điệu – một biểu hiện nghệ thuật

1.2.3 Vai trò của giọng điệu

1.2.3.1 Giọng điệu – một trong những yếu tố tạo nên phong cách tác giả 1.2.3.2 Giọng điệu góp phần tạo nên nét đặc sắc cho tác phẩm

1.2.3.3 Giọng điệu góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm

1.3 Thơ Mới 1932 – 1945 góp phần tạo nên sự phong phú cho giọng điệu thơ Việt Nam hiện đại

Chương 2: Thơ Nguyễn Bính giàu giọng điệu

2.1 Những giọng điệu trong thơ Nguyễn Bính

2.1.1 Giọng thơ chân chất, “quê mùa”

2.1.2 Giọng thơ bâng khuâng, lưu luyến

2.1.3 Giọng thơ lấp lửng, ngập ngừng

2.1.4 Giọng thơ buồn bã, lỡ làng

2.1.5 Giọng thơ chua cay, khinh bạc

2.2 Giọng điệu chủ đạo trong thơ Nguyễn Bính

Trang 3

2.2.1 Giọng trữ tình đằm thắm, tha thiết, ngọt ngào

2.2.2 Cơ sở của giọng trữ tình đằm thắm, tha thiết, ngọt ngào

Chương 3: Những yếu tố hình thức nghệ thuật tạo nên giọng điệu thơ Nguyễn Bính

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Trong dàn hợp xướng thơ Mới, Nguyễn Bính hiện lên như một hiện tượng văn học đặc biệt Giữa bao nhiêu giọng, bao nhiêu thanh của dàn hợp tấu ấy, Nguyễn Bính

đã tạo cho mình một “cõi riêng” hẳn hoi Tuy sáng tác trong phong trào thơ Mới,

nhưng đa số những bài thơ của ông lại đậm chất trữ tình dân gian cả về nội dung lẫn

hình thức nghệ thuật Trong bài Khối tình lỡ của người chân quê, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng : “Đứng từ phương diện cấu trúc mà nói, thơ Mới làm thành ba ngôi: Xuân

Diệu “mới nhất”, Hàn Mặc Tử “lạ nhất”, và Nguyễn Bính “quê nhất” [16;355]

Sự thực thì Nguyễn Bính đã tạo được cho mình một hồn thơ ấn tượng – vừa có nét mới mẻ, lại vừa truyền thống Nói điều này để thấy rằng chính sự kết hợp hài hòa

đó trong thơ Nguyễn Bính đã thu hút biết bao thế hệ bạn đọc đến với thơ ông Không những người đương thời, mà cho đến ngày hôm nay thơ Nguyễn Bính vẫn hấp dẫn đông đảo bạn đọc và tạo được niềm say mê đối với nhiều nhà nghiên cứu

Từ khi Nguyễn Bính bước chân vào thi đàn những năm đầu thế kỉ trước, ông đã trở thành mối quan tâm lớn của nhiều nhà nghiên cứu Các nhà phê bình đã bình luận, nghiên cứu, khám phá thơ ông ở hầu hết các khía cạnh cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật

Trong số những vấn đề về nghệ thuật, nhiều chuyên gia nghiên cứu đã quan tâm đến vấn đề giọng điệu thơ Nguyễn Bính – Đây là vấn đề thực sự hấp dẫn và thú vị, tuy nhiên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa được tập trung tìm hiểu một cách toàn diện, sâu sắc Nhiều bài nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở mức độ gợi ý hoặc phân tích

một giọng điệu riêng Chính vì vậy, “Giọng điệu thơ Nguyễn Bính” vẫn là một đề tài còn khá mới mẻ, cần nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu Bởi lẽ giọng điệu “là

thước đo không thể thiếu để xác định tài năng và phong cách độc đáo của người nghệ sĩ” [8;11] Thiết nghĩ, khám phá thơ Nguyễn Bính thì không thể bỏ qua yếu tố quan

trọng này

Là một sinh viên ngành Văn, yêu thích thơ Nguyễn Bính, người viết chọn

“Giọng điệu thơ Nguyễn Bính” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình Và trong

một chừng mực nhất định, với luận văn này người viết mong muốn khám phá thêm

Trang 5

một khía cạnh rất nhỏ trong việc tìm hiểu thơ Nguyễn Bính, cũng như hiểu thêm được đôi nét về phong cách thơ Nguyễn Bính

Đó là tất cả những lí do đã thôi thúc người viết đến với đề tài “Giọng điệu thơ

Nguyễn Bính”

2 Lịch sử vấn đề:

Vào những năm 30 của thế kỉ trước, ngay sau khi “trình làng” bài thơ Cô hái

mơ, Nguyễn Bính đã sớm tạo được mối quan tâm đối với đông đảo bạn đọc và nhiều

nhà lí luận, phê bình Tiếp sau đó là những vần thơ hết sức ấn tượng Lỡ bước sang

ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941) Cũng từ đó, xuất hiện rất

nhiều công trình nghiên cứu đời và thơ Nguyễn Bính với quy mô và hướng tiếp cận khác nhau

Trước cách mạng tháng Tám (1930 -1945), có khá nhiều công trình nghiên

cứu về thơ Nguyễn Bính, trong số đó phải kể đến Một lần đi (Tô Hoài), Bóng giai

nhân (Yến Lan), Hà Bắc hải đăng (Vũ Hoàng Chương)…, và thẩm định về thơ

Nguyễn Bính đáng kể hơn cả phải nhắc đến Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài

Chân Công trình này đã góp phần rất lớn trong việc định hình và gợi ra đúng chất

giọng “chân quê” trong thơ Nguyễn Bính, đồng thời Hoài Thanh cũng cắt nghĩa về sự quan tâm chưa thích đáng của giới nghiên cứu thơ Nguyễn Bính: “Cái đẹp kín đáo của

những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc nhưng khó lọt vào con mắt của các nhà thông thái thời nay Tình cờ đọc thơ Nguyễn Bính, họ

sẽ bảo: “Thơ như thế này thì có gì?” Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu bằng lí trí, một điều đáng quý vô ngần “hồn xưa đất nước” [27; 371,

372]

Trong kháng chiến chống Pháp (giai đoạn từ 1946 – 1954), do sự chi phối

của hoàn cảnh đất nước có chiến tranh nên vấn đề nghiên cứu thơ Nguyễn Bính có phần bị hạn chế Hầu như giai đoạn này những nhà xuất bản chỉ cho tái bản những tập thơ của thi nhân Cụ thể, năm 1951, nhà xuất bản Hương Sơn liên tiếp cho tái bản hai

tập thơ Hương cố nhân và Mây tần của Nguyễn Bính

Đến giai đoạn từ 1955 – 1975, do điều kiện lịch sử xã hội – chiến tranh liên

tiếp, nên việc giới thiệu và nghiên cứu thơ Mới, trong đó có thơ Nguyễn Bính vẫn chưa được chú trọng đầu tư ở miền Bắc Tuy nhiên ở miền Nam, thơ Nguyễn Bính lại

được tái bản và được giới thiệu trong giáo trình Thế hệ 1932 của Đại học Văn khoa Sài

Trang 6

Gòn, đồng thời cũng được đưa vào hàng những đại diện tiêu biểu trong Việt Nam thi

nhân tiền chiến của Nguyễn Tấn Long Thời kì này cũng có nhiều công trình khác chú

ý đưa ra nhiều ý kiến nhận xét, phê bình, nhìn nhận tài thơ Nguyễn Bính như: Việt

Nam văn học sử - giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, do Quốc học Tùng thư xuất

bản năm 1961, bài Cuộc đời Nguyễn Bính đi trong khói lửa chiến chinh của Sơn Nam

in trong Tập san Văn, số 60, ra ngày 14-6-1966, cũng đưa ra sự đánh giá thú vị:

“Nguyễn Bính đã thành công lớn trong giai đoạn mà ít ai thành công” Bên cạnh đó

Vũ Bằng cũng ra mắt bạn đọc xa gần bài Nguyễn Bính, một thi sĩ suốt đời mắc bệnh

tương tư

Từ sau 1975, nhất là từ khi đất nước đổi mới, cuộc đời và sự nghiệp thơ văn

của Nguyễn Bính đã chứng tỏ sức hút đối với đông đảo bạn đọc và các chuyên gia

nghiên cứu Thơ Nguyễn Bính thực sự hồi sinh sau 1975

Trong thời gian này hàng loạt tập thơ Nguyễn Bính được in ấn và ra mắt công

chúng như: Bức thư nhà, Đêm sao sáng, Tuyển thơ Nguyễn Bính, Thơ tình Nguyễn

Bính, Cây đàn tỳ bà, Chân quê,… Nguyễn Bính cũng đã giành được một vị trí hết sức

xứng đáng trong Từ điển văn học (NXB Khoa học xã hội, 1984) và được đánh giá cao:

“Trong khi phần lớn các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây, thì Nguyễn Bính vẫn tha thiết với điệu thơ dân tộc…thơ ông được nhiều người yêu thích”

[11; 49]

Bên cạnh đó, đời thơ Nguyễn Bính cũng được nhắc nhiều trong các chuyên luận

văn chương: Phong trào thơ Mới của Phan Cự Đệ (NXB Khoa học xã hội, 1966), Bốn

mươi năm văn học (NXB Tác phẩm mới, 1986), Thơ lãng mạn Việt Nam, các tác giả tiêu biểu của Lê Bảo (NXB Hội Nhà văn 1992), Nguyễn Bính – thi sĩ của thương yêu

do Hoài Việt sưu tầm và biên soạn (NXB Hội Nhà văn, 1992), Thơ Mới – những bước

thăng trầm của Lê Đình Kỵ (NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1993), Nguyễn Bính, đường về chân quê của Đỗ Lai Thúy, Giọng điệu trong thơ trữ tình của Nguyễn

Đăng Điệp (NXB Văn học, 2002), Nguyễn Bính, thơ và đời do Hoàng Xuân tuyển chọn (NXB Văn học, 2005), Nguyễn Bính – Hành trình sáng tạo thi ca của Đoàn Đức Phương (NXB Giáo dục, 2006), Nguyễn Bính, về tác gia và tác phẩm do Hà Minh Đức

– Đoàn Đức Phương tuyển chọn và giới thiệu (NXB Giáo dục, 2007)….Những công trình này đã tạo sự thu hút lớn đối với nhiều người yêu thơ Nguyễn Bính Đó là chưa

kể đến hàng loạt bài viết của Lại Nguyên Ân, Đoàn Hương, Phương Lan…Thơ

Trang 7

Nguyễn Bính cho đến nay đã trở thành đề tài nghiên cứu cho các khóa luận, luận văn, luận án trong cả nước

Rõ ràng, thơ Nguyễn Bính đã chiếm được một vị trí rất quan trọng trong thi đàn dân tộc, tài thơ của thi nhân được giới phê bình trân trọng, được khám phá, tìm hiểu ở nhiều hướng, đôi khi có những khác biệt, song, dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Bính cũng

được xem là nhà thơ của “chân quê”, “hồn quê”, “tình quê”

Riêng với giọng điệu thơ Nguyễn Bính, tuy chưa có công trình nào nghiên cứu

chuyên biệt thành một vấn đề chuyên sâu, cụ thể và hệ thống, nhưng trong rất nhiều bài bình luận, trong nhiều tạp chí khoa học, trong các công trình thì vấn đề giọng điệu thơ Nguyễn Bính ít nhiều đã được đề cập

Nói riêng về giọng chân chất, “quê mùa” thì phải kể đến Thi nhân Việt Nam Khi nhận xét về yếu tố “chân quê” trong sáng tác của thi nhân, Hoài Thanh viết:

“…Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường Tôi muốn nói Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng chúng ta Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta, và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm” [27; 371] Rõ

ràng, Hoài Thanh đã sớm nhận ra giọng điệu chân quê, mộc mạc trong thơ Nguyễn Bính

Năm 1942, trên tạp chí Tri Tân (số 54) Phạm Mạnh Phan cũng đã bước đầu

nhắc đến giọng thơ đằm thắm ngọt ngào của tiếng thơ Nguyễn Bính Trong bài Đọc

“Hương cố nhân” của Nguyễn Bính, ông có đưa ra nhận xét: Nguyễn Bính có “tâm hồn thi sĩ, biết cảm những cái nên thơ, biết du dương lòng mình trong những phút đau thương bằng những vần điệu êm đềm, nhè nhẹ” [14;409] Có thể nói tác giả bài viết

này đã bước đầu phát hiện ra chất giọng đằm thắm, sâu lắng trong thơ Nguyễn Bính

Năm 1983, trong bài viết chuẩn bị Kỷ niệm 70 năm ngày sinh Nguyễn Bính (1988), Đỗ Đình Thọ khi đọc thơ Nguyễn Bính đã góp lời nhận xét về giọng điệu thơ

Nguyễn Bính: “Đọc lên ta thấy chất thơ của Nguyễn Bính có cái đậm đà, tinh tế, ý nhị

của ca dao,…Thơ Nguyễn Bính mượt mà, dung dị và ít có sự ồn ào” [10;296,299]

Đến năm 1990, trong bài Nguyễn Bính – thi sĩ của thương yêu (NXB Hội nhà văn), Hoài Việt viết: “Khó có thể tìm thấy trong thơ anh cái giọng hằn học hay rên

rẩm, bi thiết, tuy có phẫn nộ, đắng cay, chua chát Cơ bản vẫn là của thương yêu

Trang 8

….Thơ Nguyễn Bính đẹp về lời, dạt dào về âm thanh nhưng trước hết và sau cùng vẫn

là tình nghĩa ” [30;198,199] Hoài Việt đã nhận thấy bên cạnh giọng tha thiết yêu

thương, tiếng thơ Nguyễn Bính vẫn có những dư âm của giọng đắng cay, chua chát

Năm 1991 trong bài viết về Nguyễn Bính, Lê Bảo cũng đã có lời nhận định rất

hay về giọng thơ chân quê của Nguyễn Bính, ông cho rằng: giọng điệu thơ Nguyễn

Bính “là một chân giọng riêng: dung dị, hồn nhiên, là cái đạm sau khi đã nồng, sự

trong trẻo bản năng rất xa lạ với những cầu kì, đẽo gọt Chính là chất giọng này chuyển tải những đam mê, khẳng định một cốt cách…một giọng đơn ca không dễ có”

[1;114]

Năm 1993, trong bài viết Nguyễn Bính, nhà thơ chân quê (trích “Nhìn lại một

cuộc cách mạng trong thi ca”, NXB Giáo dục), Đoàn Thị Đặng Hương viết: “cái giọng thơ riêng của ông rõ ràng không thể trộn lẫn vào các nhà thơ khác: cái chất, cái hồn quê Việt Nam nguyên vẹn, đậm đà như trong các bài ca dân gian” [30;36]

Cả Đoàn Hương và Lê Bảo đều khẳng định giọng thơ Nguyễn Bính là một

“chân giọng riêng” không dễ có và cũng không thể lẫn vào đâu được Làm nên cái

riêng ấy là bởi thơ ông có một chất giọng chân quê hồn nhiên dung dị, và cái ngọt ngào, đậm đà bản sắc dân gian

Giọng thơ chân chất quê mùa của Nguyễn Bính thật sự đi vào lòng đông đảo

quần chúng và đã chiếm được cảm tình sâu sắc, mà nói như Văn Tâm “Quảng đại

quần chúng độc giả tìm đến thơ tình Nguyễn Bính còn vì những bài thơ mang tình tứ gần gũi với tâm hồn, tính cách người Việt ấy đã được thể hiện bằng một thứ ngữ điệu (giọng) thân quen: giọng ca dao dân ca dịu ngọt [18;232] Văn Tâm không chỉ thấy

được cái giọng quê mùa hồn hậu trong thơ Nguyễn Bính mà ông còn nhận ra ở tiếng thơ này một chất giọng mượt mà, ngọt ngào thân quen

Và trong số nhiều bài nghiên cứu bàn về giọng điệu thơ Nguyễn Bính, có lẽ

công trình nghiên cứu “Giọng điệu trong thơ trữ tình” (NXB Văn học, HN, 2002) của

Nguyễn Đăng Điệp là ấn tượng hơn cả Trong công trình này, Nguyễn Đăng Điệp dành cho giọng điệu thơ Nguyễn Bính một vị trí hết sức xứng đáng, ông đánh giá Nguyễn

Bính rất cao, và xem nhà thơ là một trong “tứ bất tử” (cùng với Xuân Diệu, Huy Cận,

Hàn Mặc Tử), làm nên những giọng điệu riêng biệt và nổi bật nhất trong phong trào thơ Mới Ông nhận ra trong thơ Nguyễn Bính giọng điệu nổi trội hơn cả chính là giọng

thơ “quê mùa”, “có thể nói, giọng điệu quê mùa đã giúp Nguyễn Bính thể hiện được

Trang 9

chiều sâu của hồn quê…Đi đến tận cùng tình yêu hồn quê, chạm vào kí ức văn hóa dân tộc, Nguyễn Bính đã tạo nên giọng quê mùa độc đáo Cái chất giọng ấy không ồn ào

mà lặng lẽ thấm vào tâm linh người đọc”[8;334]

Trong những bài nghiên cứu Những mặt tích cực và tiến bộ của phong trào

“thơ Mới” lãng mạn, (2002) Phan Cự Đệ cũng nhận thấy “Nguyễn Bính mang đến cho thơ Mới cái hương vị đậm đà của làng quê và ít nhiều không khí quen thuộc trong ca dao” [6;134]

Hầu hết các ý kiến, nhận xét đã góp phần phát hiện một điều hết sức quan trọng khi bàn đến giọng điệu thơ Nguyễn Bính: Giữa phong trào thơ Mới rộn ràng, Nguyễn Bính vẫn giữ riêng cho mình một lối thơ Thơ Nguyễn Bính không quá Tây, không quá

mới lạ, cũng không phải “đào nguyên lạc lối”, mà lại đậm đà phong vị quê hương Chất giọng “quê mùa” hồn hậu, mộc mạc là tất cả cái đặc sắc của thơ Nguyễn Bính

Và nổi bật lên giữa cái chân quê dung dị ấy là chất giọng ngọt ngào, sâu lắng mà hầu hết các nhà nghiên cứu đều đã phát hiện và nói đến, khiến ta có cảm tưởng mỗi bài thơ, lời thơ của Nguyễn Bính như một khúc hát tình quê đằm thắm, thiết tha

Tựu trung lại, các nhà nghiên cứu đều đã “bắt trúng” những sắc điệu thơ

Nguyễn Bính: chân chất, mộc mạc và đằm thắm, tha thiết Tuy vậy hầu như những nhận xét của họ về giọng thơ chân quê và giọng trữ tình ngọt ngào chưa có sự tách bạch, vẫn thấy nhập nhằng giữa hai sắc thái giọng điệu này Bên cạnh đó, chất giọng lưu luyến, bâng khuâng hay lấp lửng, ngập ngừng vẫn chưa được phát hiện và nói đến

Tuy nhiên không chỉ có giọng “quê mùa”, giọng ngọt ngào, thơ Nguyễn Bính

còn man mác bởi giọng thơ buồn bã lỡ làng Lịch sử nghiên cứu thơ Nguyễn Bính đã minh chứng điều này:

Năm 1968, Trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển thượng), Nguyễn Tấn Long đã thấy được “Nguyễn Bính đã đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời

ngang trái, dở dang, phân cách, bẽ bàng Có thể nói, với ngòi bút thi nhân, Nguyễn Bính đã tả chân được một nỗi u buồn trầm lặng, giải tỏa được tiếng kêu bi thương của những tâm hồn mộc mạc” [tr.315]

Năm 1991, khi bình một bài thơ của Nguyễn Bính – Xa cách, Chu Văn Sơn đã thấy được “Hồn thơ Nguyễn Bính là sự đồng thể theo một kiểu nào đó của hồn quê

(yếu tố dân gian) với khối tình lỡ (yếu tố thơ mới) đó Sự hòa quyện này làm cho nỗi tủi hờn phổ biến trong các câu ca dao than thân thuở trước nhập vào nỗi tủi sầu hiện

Trang 10

đại, nó cứ nghẹn ngào, da diết suốt mọi tiếng thơ của nhà thơ mới chân quê này”

[10;490]

Trong Khối tình lỡ của người chân quê in trên Tạp chí Văn học số 5, 1994,

Nguyễn Đăng Điệp cũng chỉ ra trong thơ Nguyễn Bính còn có một “giọng thơ buồn

chán, lỡ làng” Khi Nguyễn Bính “Đem rắc cái khối tình lỡ kia vào sự trinh bạch,

nguyên sơ của những mối tình quê, Nguyễn Bính đã làm bật lên những âm điệu nghẹn ngào của hồn quê những năm 30” [16;357]

Có thể thấy, chất giọng buồn bã, lỡ làng với những âm điệu nghẹn ngào đã được thẩm định một cách tinh tế Mỗi nhà nghiên cứu như lần lượt phát hiện và định hình chất giọng ấy ở một góc độ, một sắc thái, một cung bậc:

Trong Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê (NXB Giáo dục, H 1998), Hà Minh Đức viết “ở Nguyễn Bính dường như có nhiều giọng điệu thi ca, có niềm vui với khung

cảnh tươi đẹp của làng quê và cũng có nhiều nỗi buồn, phần ở cuộc đời, phần là của riêng mình Nhưng có lẽ giai điệu buồn ở Nguyễn Bính gây ấn tượng hơn cả Những

cô gái lỡ làng duyên phận, những bi kịch trong đời sống gia đình và tình yêu đôi lứa được kể lại và biểu hiện với một giọng điệu thi ca gợi cảm và ai oán” “Tác giả nói đến những đau khổ trong tâm trạng nhân vật nhưng nhiều khi đẩy đến mức cực đoan Nguyễn Bính đã khéo léo tạo tình huống bi kịch, giọng điệu thơ ca của ông trong nhiều bài là giọng than vãn.”[18;41]

Thanh Việt trong “Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính” (Trích Thơ Nguyễn Bính –

Những lời bình, 1999) đã viết: “Thơ tình Nguyễn Bính – chính là những tình duyên lỡ

dở của bản thân ông rất chân thật và xúc động Có lẽ vì lỡ dở nên bao trùm lên hầu hết là giọng điệu buồn…Thơ Nguyễn Bính là tiếng lòng buồn bã, lỡ làng của một trái tim đang thổn thức yêu đương.” [30;162]

Đặt biệt với “Nguyễn Bính, hành trình sáng tạo thi ca” (2005), Đoàn Đức

Phương đã dành hơn hai trang sách để bàn về giọng điệu thơ Nguyễn Bính, ông nhận

thấy “Bất cứ nói đến điều gì, thơ Nguyễn Bính cũng phảng phất giọng điệu buồn, buồn

vì tình yêu, buồn vì tha hương, buồn vì cuộc đời dâu bể…”, ngoài ra còn có “những câu thơ mang giọng điệu than vãn ai oán, não nùng….”, và “đáng phải nhấn mạnh là giọng điệu ca dao dân ca trong thơ Nguyễn Bính Thơ Nguyễn Bính đến với người mỗi người Việt Nam như một người bạn tri âm trước hết có lẽ là do kiểu tư duy và giọng điệu dân gian”[25;102-104]

Trang 11

Những nhận định trên đây cho thấy các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được nhiều sắc thái trong giọng điệu của thơ Nguyễn Bính, và hầu hết họ đều gặp nhau ở những phát hiện về các giọng điệu cơ bản: đó là những giọng thơ rất riêng thuộc về Nguyễn Bính

– Có chất giọng mượt mà, ngọt ngào, đằm thắm; có giọng chất phác “quê mùa”, có

giọng buồn bã, lỡ làng đến mức bi phẫn chua cay

Nhìn suốt những chặng đường thơ Nguyễn Bính có thể thấy, sự uyển chuyển linh hoạt của các giọng điệu trong thơ ông Bao trùm toàn bộ tiếng thơ ấy là giọng điệu

trữ tình, đằm thắm, dẫu có “quê mùa” hay “buồn bã lỡ làng” thì giọng thơ ấy vẫn thuần hậu, vẫn dạt dào, tha thiết Riêng với giọng điệu buồn bã lỡ làng, nếu “Dõi theo

hành trình thơ Nguyễn Bính, ta nhận thấy hai chặng rất rõ: trước 1940, thơ Nguyễn Bính buồn hiu hắt, trong sáng; sau 1940, tiếng thơ ông nghiêng về não nề, bi phẫn”

[8;334] Và có lẽ, buồn ảm đạm nhất vẫn phải kể đến giọng thơ của Nguyễn Bính giai đoạn trước cách mạng (1932 -1945) Giọng điệu buồn này đã hòa vào cái buồn chung của những nhà thơ Mới cùng thời làm thành nỗi buồn thời đại

Tóm lại các bài viết của những tác giả kể trên đã có những phát hiện, nhận định mới mẻ về các khía cạnh thuộc giọng điệu thơ Nguyễn Bính Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ đề cập đến giọng điệu thơ Nguyễn Bính như là để minh họa, dẫn chứng cho những phát hiện về các vấn đề lớn như thế giới nghệ thuật thơ, phong cách thơ, bản sắc thơ…chưa có công trình nào dành riêng cho việc nghiên cứu giọng điệu thơ Nguyễn Bính một cách cụ thể, có hệ thống

Trên cơ sở đó, lựa chọn đề tài “Giọng điệu thơ Nguyễn Bính”, người viết sẽ cố

gắng đi sâu tìm hiểu giọng điệu thơ Nguyễn Bính một cách có hệ thống và làm bật nổi giọng điệu chủ đạo và các giọng điệu khác trong thơ Nguyễn Bính

3 Mục đích, yêu cầu:

Tìm hiểu “Giọng điệu thơ Nguyễn Bính”, đòi hỏi người viết:

- Nhận diện được các giọng điệu trong thơ Nguyễn Bính

- Chỉ ra được đâu là giọng điệu chủ đạo trong di sản thơ Nguyễn Bính

- Đi sâu phân tích để làm rõ các sắc thái giọng điệu

- Phân tích và làm rõ các yếu tố hình thức nghệ thuật góp phần tạo nên giọng điệu thơ Nguyễn Bính

Trang 12

Việc thực hiện những yêu cầu nêu trên giúp người viết hiểu nhiều về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính, đi sâu vào các tác phẩm cụ thể thấy được những biểu hiện cụ thể của giọng điệu và vai trò của giọng điệu đối với thơ Nguyễn Bính

4 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu thơ Nguyễn Bính từ lúc nhà thơ bước chân vào thi đàn cho đến những sáng tác cuối đời nhà thơ, tuy nhiên do thời gian và điều kiện tư liệu có hạn nên người viết chủ yếu tìm hiểu thơ Nguyễn Bính trước cách mạng tháng Tám, giai đoạn sáng tác sung sức nhất, dồi dào nhất của đời thơ Nguyễn Bính

Riêng phần thơ Nguyễn Bính sáng tác sau cách mạng tháng Tám, người viết chỉ khảo sát những bài thơ được chọn lọc đưa vào tuyển tập Nguyễn Bính

Từ đó thấy được sự giống và khác nhau trong giọng điệu thơ Nguyễn Bính ở từng thời kì, cũng như những đóng góp của thi sĩ vào vào phong trào thơ Mới nói riêng

và thơ ca dân tộc nói chung

Ngoài ra ở một số phần, người viết có khảo sát thêm những tác phẩm của các tác giả cùng thời như: Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân…cùng một vài tác giả trước và sau Nguyễn Bính, để so sánh, đối chiếu và có cái nhìn tổng quát hơn, nhằm làm rõ vấn đề muốn hướng đến

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu vấn đề “Giọng điệu thơ Nguyễn Bính”, người viết thực hiện các

phương pháp:

- Phương pháp lịch sử: nghiên cứu thơ Nguyễn Bính trong mối quan hệ với xã hội, với cuộc đời nhà thơ, và với hoàn cảnh sáng tác để có cái nhìn toàn diện khi lí giải giọng điệu thơ Nguyễn Bính

- Phương pháp so sánh: trong quá trình phân tích các giọng điệu thơ Nguyễn Bính, người viết vận dụng phương pháp so sánh thơ Nguyễn Bính với một số tác phẩm của các tác giả khác để làm nổi bật giọng điệu thơ Nguyễn Bính, đồng thời thấy được những đóng góp của Nguyễn Bính cho nền văn học nước nhà

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: người viết vận dụng phương pháp này để phân tích các đặc điểm, sắc thái giọng điệu, những yếu tố hình thức góp phần làm nên giọng điệu thơ Nguyễn Bính, trên cơ sở đó tổng hợp để đưa ra những nhận định

Kết hợp với việc vận dụng các thao tác bình luận, phân tích,…người viết rút ra

những nhận xét chung nhất để làm sáng rõ vấn đề “Giọng điệu thơ Nguyễn Bính”

Trang 13

Chương 1: Một số giới thuyết chung liên quan đến đề tài 1.1 Tác gia Nguyễn Bính

“Nhà ta coi chữ hơn vàng Coi tài hơn cả giàu sang ở đời”

Nguyễn Bính sớm mồ côi mẹ, từ lúc mới sinh được vài ba tháng, ông đã từng

viết: “Còn tôi sống sót là may - Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ” Dường như chính

việc thiếu vắng tình mẫu tử thiêng liêng đã góp phần không nhỏ làm nên những vần thơ trữ tình tha thiết về người mẹ:

“Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều

Mẹ tôi lo liệu đã trăm chiều

… Xong ba ngày Tết mẹ tôi lại Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con.”

(Tết của mẹ tôi)

Và hình ảnh người mẹ vẫn cứ trở đi trở lại trong nhiều sáng tác của ông như:

Mưa xuân, Lòng mẹ, Lỡ bước sang Ngang,…

Tuổi thơ Nguyễn Bính gắn với quê mẹ, thôn Vân - một vùng đồng chiêm trũng với đủ mọi thứ, mọi thức như chính Nguyễn Bính đã từng viết:

“Thôn Vân có biếc có hồng Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều

Đê cao có đất thả diều Trời cao lăm lắm, có nhiều chim bay Quả lành trĩu nặng từng cây Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen

Trang 14

Hiu hiu gió quạt giăng đèn…

Quê mẹ yên ả, thanh bình chính là chiếc nôi êm đềm nuôi dưỡng tâm hồn thơ Nguyễn Bính Ấn tượng về cuộc sống sinh hoạt làng quê về sau đã được Nguyễn Bính đưa vào những trang thơ thật bình dị, thân thuộc

Truyền thống gia đình và truyền thống quê hương đã góp phần không nhỏ hun đúc nên hồn thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính có năng khiếu thơ từ rất sớm, năm 13 tuổi đã được giải nhất trong một cuộc thi thơ đầu xuân ở hội làng

Vì gia cảnh túng thiếu nên từ khi mới hơn 10 tuổi, Nguyễn Bính đã rời quê đi kiếm sống Trước tiên là theo một người bạn lên Thái Nguyên dạy học, trong thời kì kinh tế khủng hoảng 1932 – 1933 Sau đó, Nguyễn Bính rời Đồng Hỷ (Thái Nguyên) trở về Hà Nội sống với anh ruột là Nguyễn Mạnh Phác (tức Trúc Đường) Có lúc Nguyễn Bính đã đi bán báo ở phố Hàng Bồ

Năm 1937, bài thơ Cô hái mơ được chú ý cũng là thời điểm Nguyễn Trọng Bính kí tên là Nguyễn Bính và bắt đầu theo đuổi nghiệp văn chương

Năm 1943, Nguyễn Bính cùng Tô Hoài, Vũ Trọng Can vào Nam Bộ

Đầu năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và được giữ những trách nhiệm trọng yếu Theo

Chu Văn, trên tập san Văn số 60 (14/6/1964), thì chính Nguyễn Bính đã “khởi xướng

việc thành lập đoàn Văn hóa cứu quốc tỉnh Rạch Giá” và sau đó trở thành người phụ

trách Hội này – tức Hội văn nghệ cứu quốc tỉnh Rạch Giá

Nguyễn Bính giữ chức Phó chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Rạch Giá, sau làm ở ban văn nghệ thuộc phòng tuyên huấn Quân khu Tám

Vào khoảng 1952, Nguyễn Bính trở về rừng U Minh, cưới vợ là Hồng Châu và

mở tiệm làm đại lí sách báo Ông có hai người con gái là Hồng Cầu và Mai Hương

Tháng 11 năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, để lại vợ con trong niềm đau chia cắt

Năm 1956, Nguyễn Bính làm chủ bút tuần báo Trăm hoa

Đầu năm 1964, Nguyễn Bính về công tác ở Ty văn hóa Hà Nam

Trong dịp đến thăm nhà một người bạn ở xã Hòa Lí, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Bính mất đột ngột vào một ngày cuối năm Ất Tỵ, tức ngày 20/01/1966, khi chưa kịp bước sang tuổi 49

Trang 15

Có thể nói sau Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính là người thực hiện nhiều chuyến

“giang hồ vặt” ấn tượng hơn cả Cuộc đời nhà thơ là sự song hành giữa cuộc hành

trình cách mạng và hành trình lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ Riêng với hành trình lao động nghệ thuật, trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện thơ Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho

sự nghiệp thi ca Ông được đông đảo độc giả công nhận là một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại

1.1.2 Quan niệm về thơ:

Cuộc đời Nguyễn Bính đã khép lại trên thi đàn nhưng cho đến mãi hôm nay, tình của ông, thơ của ông vẫn còn mãi và sáng ngời những “chân giá trị” Hơn 30 năm cầm bút, một khoảng thời gian không quá dài nhưng cũng không quá ngắn, đủ để Nguyễn Bính làm say lòng người và nêu lên những quan niệm nghệ thuật đáng trân trọng

Nguyễn Bính từng nói: “tôi chủ trương thơ Việt viết cho người Việt, trước hết

phải mang sắc thái và phong cách Việt, do đó, ngôn từ dân tộc là một điểm rất quan trọng Điều cốt lõi là phải giản dị, giản dị không đồng nghĩa với dễ dãi, tầm thường”

[1;10], Nguyễn Bính ý thức về tinh thần dân tộc rõ ràng trong thơ Với Nguyễn Bính, thơ phải thể hiện được tinh thần dân tộc, không cần phải cầu kì, đẽo gọt, cốt lõi chỉ là giản dị, mà giản dị ở đây không đồng nghĩa với tầm thường Trong hầu hết các sáng tác của mình, Nguyễn Bính đã thể hiện được điều ông nói, thơ ông - mỗi bài, mỗi câu

đều đượm tinh thần dân tộc cả về nội dung lẫn thi pháp Trong khi phần lớn các thi sĩ

thơ Mới chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây thì Nguyễn Bính vẫn thiết tha với điệu thơ dân tộc, với lối ví von duyên dáng, ý nhị mà mộc mạc của ca dao, nên thơ ông được nhiều người yêu thích” [11;49]

Nguyễn Bính thấy được rằng: “thơ là tiếng lòng phát đi từ trái tim mình, nhất

thiết phải tới trái tim người khác Nếu trái tim người khác hờ hững, thì dù cho là

“tiếng lòng” của mình chăng nữa cũng không phải là thơ” [1;129] Sự thật thì đấy

cũng là điều mà Tố Hữu về sau cũng nhận thấy, thơ chính là “điệu tâm hồn đi tìm

những tâm hồn đồng điệu” Nguyễn Bính đã đúng khi chọn cho mình một hướng đi,

ông đã đi trên con đường lớn của thơ, từ trái tim đến với trái tim, chọn đúng và làm được điều đó, nên thơ ông đã tìm được những tiếng yêu mến đồng vọng của bao thế hệ bạn đọc

Trang 16

Với Nguyễn Bính, ngoài sự tài năng của nhà thơ, sự đồng điệu của người tiếp nhận thơ với trái tim thi sĩ, yêu cầu cần thiết phải nhắc đến là yêu cầu về thơ Nguyễn

Bính khẳng định “thơ phải mang tính chân thật, càng chân thật càng tốt” [1;10] Nhà

thơ cho rằng chân thật là yêu cầu đầu tiên đối với thơ Nguyễn Bính đã chủ trương thơ

phải chân thật, và chính ông cũng tâm sự “toàn bộ thơ tôi từ trước tới nay và chắc

chắn sau này cũng vậy, sẽ mãi mãi trung thực với lòng mình” [1;10] Lời tâm sự của

nhà thơ cũng chính là tâm huyết cho sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của ông

Theo nhiều tài liệu thì Nguyễn Bính không hề phát biểu công khai hay tham gia bất cứ một cuộc tranh luận về thơ nào trong sự náo nhiệt một thời, nhưng nhà thơ đã

có một quan niệm rõ ràng nhất quán, đáng để học hỏi

1.1.3 Sự nghiệp sáng tác:

Tuy bước vào “làng thơ” với vẻ khiêm tốn của một “người nhà quê” nhưng

Nguyễn Bính lại nhanh chóng chiếm được cảm tình của đông đảo bạn đọc

Ngay từ khi mới 13 tuổi, Nguyễn Bính đã bộc lộ tài thơ trong cuộc thi thơ ở hội

làng, tiếp sau đó vào năm 1937, lại “trình làng” thi phẩm Cô hái mơ Bài thơ ra đời

tạo nên tên tuổi Nguyễn Bính, và cũng từ khi ấy, Nguyễn Bính chọn văn chương là nghiệp của cuộc đời mình

Năm 19 tuổi, Nguyễn Bính gửi tập thơ Tâm hồn tôi dự thi và nhận giải khuyến

khích của Tự lực văn đoàn

Nguyễn Bính trở nên thật sự nổi tiếng khi bài thơ Lỡ bước sang Ngang được

đăng trên Tiểu thuyết thứ Năm Và tựa đề bài thơ này về sau cũng trở thành tên một tập thơ của Nguyễn Bính, xuất bản năm 1940 Sau đó thì hàng loạt các bài thơ của Nguyễn Bính lần lượt xuất hiện trước công chúng

Năm 1941, Nguyễn Bính cho ra mắt hai tập thơ Một nghìn cửa sổ và ấn tượng hơn cả là tập Hương cố nhân

Năm 1942 đánh dấu sự ra đời của ba tập thơ liên tiếp: Người con gái ở lầu hoa,

Mười hai bến nước, Mây tần Đây cũng là năm có một sự kiện đáng nhớ: Vở kịch thơ Bóng giai nhân của Nguyễn Bính được dựng và biểu diễn ở nhà hát Lớn Hà Nội, Hải

Trang 17

Thơ luôn là người bạn đồng hành trong suốt cuộc đời Nguyễn Bính

Từ 1943, trong sáng tác của Nguyễn Bính đã có sự xuất hiện của nhiều thể loại:

kịch thơ Nguyễn Trãi, truyện thơ Cô gái Ba Tư, thơ Xuân tha hương, Anh về quê cũ…

Năm 1944, Nguyễn Bính chuyển mạnh sang truyện thơ và văn xuôi, trong đó có

Thạch xương bồ, Không đất cắm dùi, truyện thơ Cây đàn tỳ bà

Từ những năm 46 , trong hành trình đi cùng Cách mạng, Nguyễn Bính cho ra

mắt Tập thơ yêu nước Khi về làm việc ở Quân khu Tám, Nguyễn Bính sáng tác Sóng

biển cỏ và bài thơ Tiểu đoàn 307 (sau được Hữu Trí phổ nhạc)

Năm 1953, nhà thơ tiếp tục cho ra đời các tập: Ông lão mài gươm, Trăng kia đã

đứng ngang đầu, Dòng tâm huyết, Mừng Đảng ra đời

Năm 1955, Nguyễn Bính sáng tác: Đồng Tháp Mười, Trả ta về, Gửi người vợ

miền Nam

Năm 1958 đánh dấu sự ra đời của hai truyện thơ: Tiếng trống đêm xuân và

Trong bóng cờ bay Đồng thời Nguyễn Bính cũng giới thiệu đến đông đảo bạn đọc tập Nước giếng thơi Tiếp sau đó là Tình nghĩa đôi ta (1960) và Đêm sao sáng (1962) –

hai tập thơ này chủ yếu hướng về khát vọng thống nhất đất nước

Năm 1965, Nguyễn Bính viết Bài thơ quê hương – chuẩn bị cho một cuộc khởi sắc “về chân quê” Sau đó không lâu, nhà thơ viết Kính gửi cụ Nguyễn Du với truyện

Kiều – Đây cũng chính là bài thơ cuối cùng khép lại trang thơ trang đời Nguyễn Bính

Nguyễn Bính đã lao động nghệ thuật một cách chăm chỉ đến miệt mài, ông đã sống hết mình và viết rất đều tay

- Người con gái ở lầu hoa (1942)

- Mười hai bến nước (1942)

- Tập thơ yêu nước (1947)

- Sóng biển cỏ (1947)

Trang 18

- Ông lão mài gươm (1947)

- Trăng kia đã đứng ngang đầu (1953)

- Những dòng tâm huyết ((1953)

- Mừng Đảng ra đời (1953)

- Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)

- Trả ta về (1955)

- Gửi người vợ miền Nam (1955)

- Nước giếng thơi (1957)

Nhìn tổng quát, các sáng tác của Nguyễn Bính trải ra trên nhiều thể loại nhưng

dễ thấy rằng Nguyễn Bính có duyên với thơ ca hơn cả và đã bộc lộ được tài năng của mình trên lĩnh vực này Dù có đến hai chặng đường sáng tác, trước và sau Cách mạng, nhưng hai chặng đường ấy vẫn thể hiện một tài năng – Nguyễn Bính

1.1.4 Đặc điểm thơ Nguyễn Bính :

Trang 19

Nguyễn Bính luôn thể hiện sâu sắc nỗi day dứt đến không yên của tâm hồn thiết tha với những giá trị cổ truyền đang có nguy cơ mai một Nhà thơ thấy được thực tại:

“Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”

(Chân quê)

Và không ngừng mong mỏi “van em, em hãy giữ nguyên quê mùa”

Chính vì vậy, thơ Nguyễn Bính luôn thể hiện vẻ đẹp chân quê và phảng phất hồn xưa đất nước Trong thời kì 1930 – 1945, hiếm có một nhà thơ nào viết về làng quê, và càng hiếm người viết hay như Nguyễn Bính Hình ảnh làng quê, người làng quê trong thơ Nguyễn Bính mang những nét điển hình, tiêu biểu cho làng quê, người quê ở mọi thời Nguyễn Bính viết về những sinh hoạt văn hóa truyền thống với tất cả

sự trân trọng, quý mến

Không chỉ viết về vẻ đẹp văn hóa làng quê, mà những mối quan hệ truyền thống trong gia đình, làng xóm, tình yêu…tất cả đều được Nguyễn Bính ghi lại trong những trang thơ dạt dào tình đời

Về thể thơ, có thể thấy có rất nhiều thể thơ được Nguyễn Bính sử dụng để sáng tác, song Nguyễn Bính thành công nhất vẫn ở thể lục bát truyền thống Mạch thơ luôn gắn liền với dân tộc, với đất nước, với quê hương Và cảm hứng về dân tộc lại được thể hiện bằng hình thức thơ truyền thống – thơ lục bát Chính vì vậy thơ của Nguyễn Bính rất gần với ca dao, gần với lời ăn tiếng nói của người làng quê

Tuy trở về với thi pháp ca dao nhưng thơ Nguyễn Bính có sự sáng tạo, cách tân

về nhiều mặt Ngôn ngữ thơ vốn là ngôn ngữ đời thường nhưng đi vào thơ Nguyễn Bính một cách mượt mà, duyên dáng, chân chất mà điêu luyện Nguyễn Bính luôn có cách nói ví von, ngẫu hứng, ông thường sử dụng nhiều điệp từ, điệp ngữ, cách ngắt

nhịp linh hoạt, tạo sự luyến láy… Có thể nói, “ông là người đầu tiên trên thi đàn thơ

hiện đại của thế kỉ này đã dùng hình thức của thơ ca dân gian để chuyển tải nội dung thẩm mĩ của thơ Mới.” [23;26]

1.2 Lí luận chung về giọng điệu:

1.2.1 Khái niệm giọng điệu:

Trang 20

Từ lâu, khái niệm giọng điệu đã được nhắc đến trong mĩ học phương Đông qua các khái niệm gần gũi như hơi văn, điệu văn, khí văn…Đây là một yếu tố nghệ thuật

có ý nghĩa quan trọng đối với thi pháp nhưng lại khó xác định về mặt lí thuyết Trong giao tiếp, giọng điệu cũng rất quan trọng nhiều khi có vai trò quyết định ý nghĩa câu nói hơn cả từ ngữ Với những thái độ khác nhau người ta lại có những giọng điệu khác

nhau mặc dù có cùng một nội dung thông báo Lấy ví dụ “hai từ “cám ơn”, “xin lỗi”

vốn để diễn tả sự biết ơn, một thái độ lịch sự…nhưng chỉ cần phát ra với một ngữ điệu nào đó, chẳng hạn, nhấn giọng hay kéo dài ra…là lập tức nó sẽ trở thành mỉa mai hay khinh bỉ” [21; 52] Như vậy, đủ có thế thấy, giọng điệu rất quan trọng trong giao tiếp

Trong văn chương, giọng điệu đặc biệt quan trọng, “phân tích tác phẩm văn

chương mà bỏ qua giọng điệu tức là tước đi cái phần rất quan trọng tạo nên bản sắc độc đáo của tác phẩm” [21; 53] Chính vì vậy, trong không ít các công trình, nhiều

nhà nghiên cứu văn chương đã đề cập đến vấn đề “giọng điệu”

Trần Đình Sử trong Thi pháp truyện Kiều ( Chuyên luận, NXB Giáo dục, H, 2001), quan niệm “giọng điệu là biểu hiện của thái độ, cảm xúc của chủ thể đối với

đời sống” [tr 248], và “đối với các sự vật, hiện tượng thấp kém, tầm thường, người ta

có giọng điệu mỉa mai, cười cợt; đối với các sự việc đáng tiếc, mất mát, thương tổn, người ta có giọng điệu buồn thương ngậm ngùi” [tr.248] Trần Đình Sử xem “giọng

điệu” là một đơn vị của văn học hiện đại khi ông cho rằng: “đối với văn học hiện đại,

để phù hợp với một sự diễn tả mới mẻ, sống động, đầy ắp, ngôn ngữ phải là tiếng nói

Từ đó xuất hiện một đơn vị nghệ thuật mới: giọng điệu Như vậy chất liệu của văn học không chỉ là từ, là giọng, là lời của văn bản.” [tr 137] Và đơn vị nghệ thuật ấy thuộc

về hình thức nghệ thuật Từ đó, ông đưa ra nhận xét chung nhất: “Thực chất giọng

điệu của nhà thơ không phải giản đơn là chất giọng trời phú tự nhiên của một danh

ca, cũng không phải chỉ là giọng quê hương mang theo từ nơi chôn nhau cắt rốn mà là…do chính nhà thơ tạo ra mang một tầm khái quát xã hội nhất định.”[tr.229]

Ở một công trình khác, Trần Đình Sử cho rằng: Giọng điệu “là một hiện tượng

nghệ thuật, không nên đồng nhất với giọng điệụ tác giả vốn có ngoài đời”, và “Giọng điệu thể hiện ở cách xưng hô, cách dùng từ ngữ nhằm biểu hiện thành kính, thân mật hay xa lạ, khinh bỉ, châm biếm, giễu nhại Một tiếng “chàng”, “nàng” trong văn hay một tiếng xưng hô “hắn”, “thị” trong truyện đã tạo ra cả một trường từ vựng tương ứng và đặt người đọc vào cái không khí đặc trưng do tác giả tạo ra Trong Truyện

Trang 21

Kiều của Nguyễn Du, nổi bật lên giọng cảm thương, than oán, đau xót Nổi bật trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là giọng trào lộng, hài hước Nổi bật trong truyện Thạch Lam là giọng đồng cảm, trữ tình ” [26;64]

Như vậy, Trần Đình Sử đã cho chúng ta hình dung phần nào về giọng điệu trong văn chương Giọng điệu trong văn chương rõ ràng không phải tự nhiên mà có, tác giả phải tài năng, tâm huyết mới tạo được giọng điệu độc đáo Muốn thật sự hiểu

tác phẩm người đọc không thể bỏ qua yếu tố “giọng điệu”

Nguyễn Thị Dư Khánh lại quan niệm: “Trong văn học, khái niệm giọng điệu

vừa được biểu hiện ở phương diện ngữ âm: trầm, bổng, trong, đục, nhanh, chậm, dài ngắn,…vừa được biểu hiện ở phương diện phong cách: nóng, lạnh, nhu, cương; khoan thai hay dồn dập, sôi nổi; trân trọng hay mỉa mai, khinh bỉ; phê phán hay ca ngợi; yêu thương hay căm giận; mềm mại, dịu dàng hay cứng cỏi, kiên quyết; tha thiết gắn bó hay thờ ơ lãnh đạm…” [21; 52] Và đứng ở bình diện thi pháp, chủ yếu chúng ta tìm

hiểu “Giọng điệu gắn liền với…cái giai điệu, cái hồn chi phối toàn bộ tác phẩm” [21;53] Tác giả công trình nghiên cứu này cũng cho rằng giọng điệu “Chính là yếu tố

quan trọng nhất để phân biệt cái “cổ họng” – nét bút của nhà văn này so với nhà văn khác để tạo thành phong cách nhà văn”[21;53]

Ngoài những cách hiểu trên đây, các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa giọng điệu là “Thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng đạo đức của nhà văn đối

với hiện tượng được miêu tả trong lời văn, quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ…”[13; 111] Thêm vào đó, giọng điệu có tác dụng

“Phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ, có vai trò rất lớn tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc” [13;111] Giọng

điệu trong tác phẩm thường đa dạng và “có nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu

cơ bản chủ đạo” [13;111]

Trong Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nguyễn Đăng Điệp đã trình bày một cách

có hệ thống và chặt chẽ về “giọng điệu” Theo Nguyễn Đăng Điệp, nói đến giọng điệu

là nói đến một “hiện tượng nghệ thuật”, một “yếu tố cơ bản tạo thành phong cách

nghệ thuật”, bởi “giọng điệu biểu thị thái độ, cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật” [8;34], và là “kết quả của một quá trình sáng tạo thực thụ”

[8; 31] Nguyễn Đăng Điệp cũng khẳng định “một tác phẩm có thể có nhiều giọng

điệu” [8;51], và ông chỉ rõ “giọng điệu bài thơ, một mặt, chi phối cách lựa chọn từ

Trang 22

ngữ, khẩu khí, ngữ điệu, cách tổ chức lời văn, mặt khác, được thể hiện qua những yếu

tố này” [8;73] Đáng lưu ý là bản thân giọng điệu thuộc về một hệ thống và “tự nó cũng là một hệ thống, một “tổ hợp” bao gồm nhiều yếu tố” [8;40] Vì vậy mà giọng

điệu toát lên từ toàn bộ tác phẩm, nó không nằm riêng rẽ ở một thành tố nào

Trong công trình này, Nguyễn Đăng Điệp cũng đề cập đến các cấp độ của giọng điệu: giọng điệu tác phẩm, giọng điệu nhà văn, giọng điệu thời đại Trong số đó, giọng

điệu nhà văn phải được coi là đơn vị cơ bản nhất, vì “giọng điệu tác phẩm là biểu hiện

cụ thể của giọng điệu nhà văn, và đến lượt mình, giọng điệu nhà văn là cơ sở tạo nên

âm hưởng chung của một thời đại văn học.”[8;342]

Không chỉ dừng lại ở đó, Nguyễn Đăng Điệp cũng đi sâu làm rõ sự khác nhau giữa giọng điệu và các yếu tố hình thức nghệ thuật khác mà nhiều người vẫn lầm tưởng với giọng điệu như: ngữ điệu, nhịp điệu, nhạc điệu (nhất là ngữ điệu)

Với công trình này, người đọc có thể có cái nhìn hoàn chỉnh hơn về giọng điệu Qua phân tích trên đây, có thể thấy đã có nhiều ý kiến từ những góc nhìn khác

nhau của các nhà nghiên cứu bàn về “giọng điệu” Bên cạnh đó, vẫn có những ý kiến

chưa hoàn toàn thống nhất với nhau Điều này cho thấy sự phức tạp trong việc nghiên cứu lí thuyết giọng điệu Tuy vậy, các nhà nghiên cứu đã nói được những nét cơ bản

về giọng điệu Và người viết luận văn này cũng dựa trên cách hiểu của PGS TS Nguyễn Đăng Điệp về giọng điệu mà triển khai, làm rõ vấn đề

Giọng điệu thể hiện thái độ, cảm xúc, lập trường, cách nhìn, tư thế của chủ thể phát ngôn về đối tượng được nói đến và đối tượng mà nhà văn hướng tới.[8;341]

Tóm lại, giọng điệu là một phạm trù thi pháp học, gắn liền với nhiệm vụ miêu

tả nghệ thuật, phù hợp với đối tượng thể hiện Giọng điệu trong tác phẩm rất đa dạng, độc đáo và mang tính tính tổng hợp cao Giọng điệu còn thể hiện cả nhận thức, thái độ

và cả nội lực của nhà thơ Và chính giọng điệu sẽ chi phối trực tiếp cách lựa chọn từ ngữ, tổ chức lời thơ trong tác phẩm Có thể nói, giọng điệu đóng một vai trò rất quan trọng trong tác phẩm Khi tiếp xúc với tác phẩm, nếu ta hiểu sai giọng điệu thì đã xem như hiểu sai ý đồ nghệ thuật của tác giả

1.2.2 Giọng điệu – một biểu hiện nghệ thuật:

Giọng điệu thực ra là một khái niệm trừu tượng, “giọng điệu không nằm trong

một thành tố nào, đọng lại trong một khu vực cục bộ nào mà được toát lên từ toàn bộ tác phẩm” [8;342] Không giống như như ngôn ngữ thơ, nhịp điệu, hình ảnh,…có thể

Trang 23

tìm thấy ngay trên bề mặt văn bản, trên bề mặt câu chữ, nghiên cứu giọng điệu thực chất là tìm hiểu sự hô ứng của nhiều yếu tố cấu thành Chúng ta chỉ có thể tìm hiểu qua những yếu tố cấu thành như thể thơ, ngôn ngữ thơ, nhịp điệu, hình ảnh,…tất cả những yếu tố này hô ứng tạo nên một hiện tượng giọng điệu trong tác phẩm

Giọng điệu là một yếu tố thuộc bình diện nghệ thuật nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc bộc lộ tư tưởng, tình cảm của tác giả cũng như nội dung tác phẩm Câu chữ trong tác phẩm có thể khó hiểu, thậm chí người đọc không hiểu hoàn toàn nhưng qua giọng điệu, chúng ta có thể nắm bắt nội dung, hiểu được ý đồ nghệ thuật của tác giả Nói như vậy để thấy rằng các hình thức nghệ thuật luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung của tác phẩm, chúng ta không thể tách rời hai bình diện để phân tích Phân tích tác phẩm thực chất là đi phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nội

dung và hình thức của tác phẩm Và “Thực tế cho thấy là chỉ trên cơ sở nắm vững

những vấn đề nội dung thời đại, của thế giới quan, nhân sinh quan nhà văn…ta mới có thể khai thác các vẻ đẹp về nghệ thuật một cách phù hợp và đúng hướng Ngược lại, chính việc đi sâu phân tích các thủ pháp nghệ thuật, giúp ta chiếm lĩnh nội dung tác phẩm sâu sắc hơn” [21;51]

Đồng thời, chúng ta cần phân biệt giọng điệu và ngữ điệụ, giọng điệu có quan

hệ với ngữ điệu nhưng hai khái niệm này không phải là một Giọng điệu là một phạm trù của thi pháp học, trong khi ngữ điệu là một phạm trù của ngôn ngữ học Như vậy,

nếu ngữ điệu thuộc phạm vi câu, thì giọng điệu lại “phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật

của tác phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả và của thời đại” [8;40] Rõ ràng

ngữ điệu sẽ góp phần biểu lộ giọng điệu.Giọng điệu sẽ chi phối sự lựa chọn ngữ điệu Mối quan hệ giữa ngữ điệu là mối quan hệ chi phối và phụ thuộc Việc đồng nhất hai khái niệm này hoàn toàn không hợp lí

Giọng điệu chịu ảnh hưởng không chỉ của tâm hồn nghệ sĩ, sở trường ngôn ngữ, phương thức thể hiện, mà còn ảnh hưởng bởi đối tượng được nói đến và cũng ít nhiều chịu áp lực của thể loại

Do cấu trúc và đặc điểm thể loại, giọng điệu trong thơ khác với giọng điệu văn xuôi Nếu giọng điệu trong văn xuôi thường mang tính khách quan, lạnh lùng thì giọng

điệu thơ ca lại thấm đẫm tính chủ quan “Đọc một bài thơ ta thường bắt gặp một tiếng

nói độc bạch “thầm thì”, trong khi đó đọc một tác phẩm văn xuôi ta thường bắt gặp

Trang 24

một tổng phổ giọng điệu với nhiều tiếng nói khác nhau” [8; 341, 342] – mà nhiều

người vẫn gọi là hiện tượng đa thanh

Thêm vào đó, không phải bất kì tác phẩm nào cũng có một giọng điệu riêng biệt, hẳn hòi Có khi trong một tác phẩm lại có sự đan dệt từ nhiều giọng điệu khác

nhau Ví như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, giọng thơ cảm thương đối với thân

phận nàng Kiều – kiếp tài hoa mệnh bac, là giọng nổi bật, giọng chủ đạo ấy thể hiện qua những lời than thống thiết, qua sự ưu ái, trân trọng của tác giả với nhân vật chính – Thúy Kiều, song song đó, trong tác phẩm còn có sự xuất hiện của giọng đay nghiến, đả kích khi nói về mụ Tú Bà, Sở Khanh, những kẻ lưu manh, xảo quyệt và những hành động của bọn họ, lại còn có giọng mỉa mai châm biếm…Chỉ có thể nói, trong tác phẩm

sẽ có một giọng điệu chủ đạo, nổi bật và những giọng điệu phụ làm nên “dải phổ

giọng điệu” (Chữ dùng của Nguyễn Đăng Điệp) cho tác phẩm đó Chính vì vậy mà

việc phân chia rạch ròi ranh giới giữa các giọng điệu không phải là điều giản đơn Thiết nghĩ sự tương hỗ nhau của các giọng điệu sẽ khiến việc phân chia này mang tính tương đối

1.2.3 Vai trò của giọng điệu:

1.2.3.1 Giọng điệu – một trong những yếu tố tạo nên phong cách tác giả:

Bàn về phong cách tác giả, cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến tồn tại Phan Ngọc

trong Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều (NXB Thanh niên, 2001) đã xác định “Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu,

hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả” [tr.31], thêm vào đó,

Phan Ngọc cũng cho biết “hiện tượng phong cách tác giả lại càng hiếm hơn nữa”

Một người nghệ sĩ có được phong cách riêng khi đọc một vài câu, người ta đã đoán biết tác giả là ai, và điều cần thiết là người nghệ sĩ phải có cái gan thoát ra cái truyền thống và trên cơ sở đó xây dựng một truyền thống mới cho riêng mình.Với nhiều tác

giả trong Thường thức lí luận văn học (NXB Giáo dục, 1976) thì “Phong cách là chỗ

độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú”[tr.130] Nó đòi hỏi người nghệ sĩ trước hết phải đem lại

tiếng nói mới cho văn học, tiếng nói của riêng mình Mà nếu người nghệ sĩ không tạo được tiếng nói riêng biệt ấy cho tác phẩm thì tác phẩm hẳn sẽ rơi vào quên lãng Vì lẽ

Trang 25

đó mà Nguyễn Đình Thi đã từng khẳng định “Nghệ sĩ tìm đến cuộc sống không phải

để chép lại mà để nói một điều gì mới mẻ, để gửi tới mọi người một tiếng nói”.[tr.130]

Có thể nói, điều cơ bản nhất trong phong cách tác giả là khả năng tạo được nét riêng, tiếng nói riêng, điều đó bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, tính chủ thể của người nghệ sĩ trong sáng tác, kinh nghiệm và sở trường nghệ thuật của họ Và

lẽ đương nhiên thì phong cách tác giả được thể hiện ở nhiều yếu tố trong tác phẩm như: cách lựa chọn và xây dựng hình tượng, cách tổ chức, vận dụng các phương tiện nghệ thuật, cách miêu tả, cách kết cấu tác phẩm,… trong đó không thể bỏ qua yếu tố giọng điệu, bởi nếu cá tính nhà văn mờ nhạt, không tạo ra được tiếng nói riêng, giọng

điệu riêng thì đó là một “sự tự sát” trong văn học Nhiều tác giả trong Từ điển thuật

ngữ văn học cũng đã đề cập đến vấn đề này khi khẳng định “Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn” [13;111] Khi phân tích một tác phẩm mà bỏ qua giọng điệu

cũng đồng nghĩa với việc tước đi cái phần quan trọng tạo nên bản sắc độc đáo của tác phẩm Và tùy theo quan điểm, tư tưởng, thị hiếu, tình cảm khác nhau của tác giả với đối tượng sẽ làm nên những chất giọng - giọng điệu khác nhau Chẳng hạn, có biết bao bài thơ về mẹ, về bầm nhưng chúng ta vẫn nhận ra được giọng điệu thơ của Tố Hữu:

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

(Bầm ơi)

Thơ Tố Hữu xúc động chúng ta cố nhiên trước hết là bởi ý thơ dạt dào tình đời

và nó còn xúc động chúng ta vì cái giọng riêng của ông Chất trữ tình chính trị trong tiếng thơ Tố Hữu đã cảm được nhiều tâm hồn yêu thơ, và được biết đến như một đặc điểm nổi bật của hồn thơ này Một số bài thơ thật nhuần nhuyễn của Tố Hữu hình như nếu đọc nhỏ lại thì hiệu quả thẩm mĩ sẽ cao hơn:

“Không gì thương bằng đôi mắt đen Của người yêu nhìn ta đăm đăm Không gì thân bằng những ngọn đèn Trên đường đêm canh trời thăm thẳm…

…Đã mấy đêm rồi, xuân lại đông Ngọn đèn như mắt của ai trông Ngọn đèn như trái tim thương nước

Trang 26

Soi bước ta đi rực lửa nồng.”

(Những ngọn đèn)

Vì nhìn tổng thể, thơ Tố Hữu mang cái giọng tâm tình, ngọt ngào những yêu thương Đó là giọng điệu trữ tình chính trị, ngọt ngào, tha thiết – giọng điệu chủ đạo trong suốt sáng tác của Tố Hữu, mang nét duyên riêng của nhà thơ xứ Huế Như vậy giọng điệu riêng của nhà văn, nhà thơ là điều kiện cần chứ chưa đủ để làm nên phong cách mà giọng điệu ấy phải bền vững trong quá trình sáng tác, hay ít nhất cũng phải trong nhiều tác phẩm

Với Chế Lan Viên, chúng ta tìm thấy một giọng điệu đầy chất triết lí nhưng có khi cũng mềm mại như lời ru của mẹ, như câu hò, điệu hát có sức ngân nga, thấm sâu vào lòng người đọc Vì lẽ đó, ở thơ Chế Lan Viên, người đọc nhận thấy sự hài hòa giữa trí tuệ sắc sảo và cảm xúc nồng cháy mãnh liệt:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn

(Tiếng hát con tàu)

Như thế tìm cho mình một giọng điệu phù hợp, tạo được ấn tượng độc đáo là đã góp phần rất lớn làm nên phong cách tác giả Viết về tình yêu, đề tài quen thuộc trong văn chương, nhưng tiếng thơ Xuân Quỳnh có một nét đặc sắc riêng, không thể lẫn vào những dòng thơ tình của Xuân Diệu

Nếu Xuân Diệu yêu mãnh liệt bằng một giọng cuồng si, rạo rực:

“Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ thật êm Hôn êm đềm, mãi mãi

Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt”

(Biển)

Thì Xuân Quỳnh lại thu hút hồn người bằng một giọng thơ hồn nhiên, pha lẫn ngọt ngào, tâm tình, thủ thỉ dễ gần, và lại rất nữ tính:

“Sóng bắt đầu từ gió

Trang 27

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt biển

Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được”

(Sóng)

Nhà văn, nhà thơ muốn tạo được dấu ấn phải đem lại tiếng nói mới cho văn chương, tiếng nói của riêng mình, nhất thiết phải tìm cho mình giọng điệu mới chứ không thể sống gửi vào hay bắt chước giọng điệu văn chương của người đi trước

Phong cách nghệ thuật cho thấy sự độc đáo của từng nghệ sĩ trong cách cảm

nhận thế giới và trong việc xây dựng giọng điệu cá nhân Thật vậy, “giọng điệu là

thước đo không thể thiếu để xác định tài năng và phong cách độc đáo của người nghệ sĩ” [8;11]

1.2.3.2 Giọng điệu góp phần tạo nên nét đặc sắc cho tác phẩm:

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, nhưng không phải cứ trau chuốt, dùng từ hay là đủ, nhưng bên cạnh đó, một tác phẩm muốn hay cần phải có được giọng điệu thích hợp, độc đáo và tạo được ấn tượng Cái đậm đà, sâu lắng của tác phẩm văn chương là ở chỗ có hồn, có giọng Cho dù tác giả cố chọn từ ngữ có nội dung thông báo nhiều nhưng không có giọng thì tác phẩm văn chương hẳn sẽ trở nên rất nhạt nhẽo, vô vị Lâu nay, nhiều người không đồng tình với cái tục, với cách dùng từ quá táo bạo trong thơ Hồ Xuân Hương nhưng người ta đều công nhận ở đấy giọng điệu hóm hỉnh nhưng mạnh mẽ, đầy cá tính của một người phụ nữ dám chống lại những luật lệ, ràng buộc khắt khe, những kẻ tầm thường trong chế độ phong kiến Chính giọng điệu ấy đã trở thành nét đặc sắc trong những sáng tác của nữ sĩ:

“Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo Kìa đền Thái thú đứng cheo leo”

(Đề đền Sầm Nghi Đống)

Với một giọng thơ mạnh mẽ, ngang tàng, nữ sĩ họ Hồ đã thể hiện được thái độ ngạo mạn, khinh thường tên tướng giặc, đồng thời góp lời mỉa mai đối với bọn đàn ông không ra gì mà cứ nghĩ mình là những người dời non, lấp bể Với giọng điệu hóm

Trang 28

hỉnh cùng cái cười châm biếm, Hồ Xuân Hương đã tạo nên nhiều thi phẩm đặc sắc cho văn chương Việt Nam, không chỉ thời bà sống mà đến tận ngày nay

Nói điều này không thể không nhắc đến nhiều vần thơ lãng mạn trong phong

trào thơ Mới Trong đó, Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử hẳn đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người yêu thơ Thơ Mới có cả một vườn xuân: Xuân ý của Huy Cận,

Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính,…nhưng Hàn Mặc Tử đã tạo được cho mình một Mùa xuân chín riêng biệt bằng nét bút tinh diệu, chấm phá, những hình ảnh trong trẻo,

lối hữu hình hóa âm thanh, lời hát bằng từ láy…và nhất là bằng sự chuyển đổi giọng điệu rất tinh tế Đọc bài thơ ta nghe được giọng rạo rực của mùa xuân, của lòng người,

và rồi trong đỉnh cao của niềm rạo rực, say mê, nỗi buồn đã ló dạng, giọng thơ vì thế chuyển hẳn sang tiếc nuối, và lõi cốt bên trong của giọng thơ hoài tiếc kia là nỗi bâng khuâng, buồn thương trong sáng, thiết tha, khắc khoải đến lạ lùng Rõ ràng, chính những biến hóa của giọng điệu thơ đã diễn tả những xúc cảm vô hình một cách thần tình, và làm nên cái đặc sắc của mỗi bài thơ

Nhiều lúc có cảm giác như chính giọng điệu có thể làm nên cái hồn của một bài thơ Có thể thấy, nét độc đáo trong nhiều bài thơ Huy Cận là tâm trạng buồn thấm đẫm không gian, được thể hiện bằng chính những hình ảnh về không gian, đặc biệt là sự góp mặt của giọng điệu chủ đạo – giọng ảo não, dịu thấm Không gian và giọng điệu

của Chiều xưa là một điển hình như thế:

“Đồn xa quằn quại bóng cờ Phất phơ buồn từ thuở xưa thổi về Ngàn năm sực tỉnh lê thê Trên thành son nhạt - Chiều tê cuối đầu.”

Nét bút chấm phá kiểu thi họa phương Đông của Huy Cận đã dựng lại được một chiều xưa biên ải, có đồn xa, có bóng cờ Những lũy thành xưa thật đìu hiu! Làm nên

sự hoang tàn của cảnh vật không chỉ bởi những hình ảnh thơ, bởi cách dùng từ láy, mà cái thần của cảnh còn được gợi lên bởi nhịp thơ chậm rãi, giọng điệu nhẹ nhàng, trầm buồn – tất cả diễn tả nổi buồn đìu hiu một cách tinh tế

Người ta vẫn thường nói đến tầm quan trọng của câu mở đầu tác phẩm có ý

nghĩa quyết định cảm hứng chủ đạo và toàn bộ nội dung tác phẩm Thử đến với Đây

mùa thu tới của Xuân Diệu thì sẽ thấy, bao trùm bài thơ là cái nhìn của Xuân Diệu: thu

đẹp nhưng buồn, và chính hai câu thơ mở đầu đã xác lập giọng điệu của thi phẩm:

Trang 29

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang – Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng” Thực sự

thì một khi đã bắt đúng giọng thì không còn đơn giản là viết nữa, người nghệ sĩ mặc sức vẫy vùng múa lượn trên đỉnh cao sáng tạo nghệ thuật Nhà văn Colombia,

Marquez có thuật lại, sau khi viết xong truyện Giờ rủi ro ông đã đủ tư liệu để viết

Trăm năm cô đơn, nhưng vẫn chưa thể nào cầm bút viết được vì chưa tìm được giọng,

mãi năm năm sau ông mới tìm được giọng thích hợp Như vậy, giọng điệu nhiều khi còn quan trọng hơn cả nội dung cốt truyện Bởi thế, khi phân tích tác phẩm văn

chương mà bỏ sót yếu tố giọng điệu là vô tình tước mất phần hồn của tác phẩm Bài

thơ Chuyện cổ tích về loài người của Xuân Quỳnh đặc sắc ở giọng kể mang màu sắc

huyền thoại của cổ tích, nhưng nếu bỏ qua giọng điệu thì nó dễ trở thành một câu

chuyện kể đậm chất tự sự Hay trong Tiếng chổi tre của Tố Hữu, giọng điệu tâm tình

giữ vai trò chủ đạo, nhưng nếu không kể đến giọng điệu thì bài thơ rất dễ trở thành lời răn dạy, lên lớp

Nói tóm lại, người nghệ sĩ trước khi bắt tay vào viết phải chọn được giọng điệu thích hợp với nội dung cần chuyển tải Còn đối với người nghiên cứu, chỉ khi nào bắt

được giọng của tác phẩm thì khi ấy mới thấy được cái “thần”, cái “hồn” hiện lên qua

tác phẩm Và cũng chính vì vậy, có thể khẳng định giọng điệu có vai trò làm nên nét đặc sắc cho tác phẩm

1.2.3.3 Giọng điệu góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm:

Giọng điệu có khả năng tác động mạnh mẽ đối với người đọc do nhà văn

thường cố gắng làm thế nào để giọng của tác phẩm vừa diễn đạt được “không khí” của

sự kiện, tình cảm của tác giả, vừa kích thích ở người đọc những cảm xúc tương tự Mỗi tác giả sẽ tìm cho mình giọng điệu riêng để thể hiện những vấn đề thuộc về chủ

đề, tư tưởng muốn đề cập trong tác phẩm Thử đọc những dòng thơ Tự tình của Hồ

Xuân Hương:

“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom Oán hận trông ra khắp mọi chòm”

Điểm chốt trong hai câu đầu là oán hận Tính từ này đã được danh từ hóa, đặt ở

đầu câu, và cũng đã thâu tóm mạch cảm xúc chủ đạo của cả bài thơ Bên cạnh đó, phải thấy rằng, chính giọng điệu oán thán đã góp phần làm bật nổi chủ đề của cả bài thơ ,

giúp độc giả nhận thấy cảnh ngộ và tâm trạng của người phụ nữ “phận ẩm duyên ôi”

trong xã hội Phong kiến

Trang 30

Với Tố Hữu, lúc cần bộc lộ niềm vui sướng say mê khi bắt gặp lí tưởng Cộng sản, và nói đến ý nghĩa của lí tưởng đối với cuộc đời mình, Tố Hữu nói một cách mạnh dạn với thái độ trân trọng Chủ đề bài thơ không chỉ được thể hiện qua những hình ảnh thơ, những biện pháp tu từ mà quan trọng hơn, chủ đề đó còn được diễn tả bằng giọng điệu thơ sôi nổi, lạc quan, tin yêu:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim”

(Từ ấy)

Hay khi cần thể hiện sự căm thù đối với bọn xâm lăng, cướp nước thì ta bắt gặp giọng điệu hùng hồn, mạnh mẽ:

“Má hét lớn: “Tụi bây đồ chó Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!”

(Bà má Hậu Giang)

Phải nói rằng, giọng điệu có tác dụng rất lớn trong việc thể hiện tư tưởng, chủ

đề tác phẩm Người nghệ sĩ sẽ không thể hiện được trọn vẹn chủ đề của tác phẩm nếu không chọn được giọng điệu phù hợp để diễn tả

Đôi khi nhà văn sử dụng thủ pháp nghệ thuật “giấu mình”, tình cảm nồng nàn

nhưng lại được thể hiện với giọng văn lãnh đạm Chẳng hạn, nhiều truyện ngắn của

Nam Cao: Chí Phèo, Đời thừa, Một bữa no,… đằng sau giọng văn sắc sảo, lạnh lùng

là tấm lòng với cuộc sống, là trái tim dạt dào tình yêu thương đối với những con người cùng khổ Cũng giống như vậy, nhiều bài thơ trong phong trào thơ Mới được viết bằng giọng thơ buồn não, chán chường nhưng ẩn sau đó lại là lòng ham sống, yêu đời tha thiết, cháy bỏng của người thi sĩ:

“Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian Những sông vắng lê mình trong bóng tối Những tượng Chàm lở lói rên rỉ than”

(Chế Lan Viên – Trên đường về)

Trong tác phẩm, giọng điệu có liên quan chặt chẽ với cảm hứng sáng tạo Tùy theo cảm hứng sáng tác, chủ đề tác phẩm, tác giả lựa chọn giọng điệu phù hợp Tìm

hiểu tác phẩm Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta sẽ thấy cách kể dường như lộn xộn với cái giọng rời rạc, nhát gừng kiểu “ông bảo”, “tôi bảo”, “cha tôi

Trang 31

bảo”…được lặp lạo nhiều lần “Chính cái giọng rời rạc, cộc lốc này góp phần diễn tả khá đậm nét thực chất mối quan hệ tình cảm đã trở nên hết sức lỏng lẻo, rời rạc của những con người trong gia đình Tướng về hưu Từng con người ở đây đã trở thành một thế giới cô độc, dường như không có mối giao cảm gì với chung quanh, ngay cả với những người thân thiết.”[21;53].Tác phẩm nói đến sự rạn vỡ không tránh khỏi của

đạo lí truyền thống khi có sự thâm nhập của yếu tố thực dụng theo mọi kiểu Chủ đề ấy được thể hiện phần lớn nhờ vào giọng điệu chủ đạo trong tác phẩm bên cạnh những yếu tố nghệ thuật khác

Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, trước khi tìm hiểu hình ảnh bếp lửa và nội dung trữ tình của bài thơ, “Phải xác định được giọng điệu tâm tình, hoài niệm của người

cháu đối với người bà của mình với cả lòng biết ơn, thương nhớ” [21;54] Giọng điệu

ấy còn quan trọng hơn cả những câu chữ của tác phẩm trong việc thể hiện tình cảm của cháu với bà Dù ở xa, hình ảnh người bà vẫn luôn hiện diện trong trái tim người cháu với những chi tiết sống động Giọng đối thoại kết hợp với giọng độc thoại trong chính mình đã tạo nên sắc thái trữ tình độc đáo cho bài thơ

Như vậy, trong tác phẩm, giọng điệu luôn là yếu tố góp phần nêu bật chủ đề tư tưởng của tác giả, dù trực tiếp hay gián tiếp Vai trò của giọng điệu trong tác phẩm văn chương là rất quan trọng Chính vì thế, giọng điệu cần được nghiên cứu cẩn thận về mặt lí thuyết và cũng như không thể bỏ qua khi tìm hiểu tác phẩm văn chương

1.3 Thơ Mới 1932-1945 góp phần tạo nên sự phong phú cho thơ Việt Nam hiện đại:

Trong Con mắt thơ, Đỗ Lai Thúy đã so sánh phong trào thơ Mới 1932-1945 như “một cây nấm lạ” trong gia phả thơ Việt Nam, khi viết: “Thơ Mới lâu nay thường

được coi như một chiếc nấm lạ trên cây gia hệ văn học dân tộc.”.[28;11] Phải nói

rằng, sự ra đời của thơ Mới đã làm thay đổi rất nhiều diện mạo thơ Việt Nam hiện đại Nhất là ở bình diện giọng điệu thơ

Có thể nói, thơ Mới là cuộc cách mạng to lớn cho sự trỗi dậy của cái tôi cá nhân Mỗi nhà thơ Mới luôn tìm cách thể hiện, phô diễn cái tôi của mình theo một phương thức riêng, và chính điều này đã làm nên sự phong phú, đa dạng cho giọng điệu thơ thời kì này nói riêng, và cả văn học Việt Nam hiện đại nói chung

Hầu như không ai giống ai, mỗi nhà thơ một giọng riêng: Bên cạnh một Quách

Tấn say sưa với Mùa cổ điển thì Hàn Mặc Tử luôn gửi lòng mình trong trường thơ

Trang 32

loạn, Nguyễn Bính lại tìm về chân quê để thưởng ngoạn, bên một Huy Cận sầu vạn cổ

là một Xuân Diệu luôn nồng si, tươi trẻ và Vội vàng…Sự đa thanh của phong trào thơ Mới khiến Hoài Thanh cũng phải công nhận: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt

Nam, chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [27;31] Đọc Thi nhân Việt Nam, ta dễ nhận thấy: ám ảnh lớn nhất đối với Hoài Thanh là giọng điệu Hoài

Thanh đã “bắt mạch” giọng điệu các nhà thơ Mới một cách hết sức tinh tế Thật vậy,

chính phong cách, giọng điệu riêng của mỗi nhà thơ đã góp phần tạo nên sự đa âm trong dàn hợp ca thơ Mới Và cũng chính điều này đã góp phần không nhỏ, nếu không muốn nói là một bước khởi đầu quan trọng làm nên sự phong phú cho giọng điệu thơ Việt Nam hiện đại

Chỉ xét về nỗi buồn trong thơ Mới đã có thể thấy sự giàu giọng điệu, sự lung linh, nhiều sắc màu.Với Huy Cận, thì:

“Tai nương nước giọt mái nhà Nghe trời nặng nặng nghe ta buồn buồn”

(Buồn đêm mưa)

Xuân Diệu lại buồn một cách vu vơ:

“Hôm nay trời nhẹ lên cao Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”

(Chiều)

Hay như Vũ Hoàng Chương thống thiết:

“Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ, Một đôi người u uất nỗi chơ vơ, Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị, Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ”

(Phương xa)

Cũng là buồn, chán, nhưng mỗi nhà thơ trong phong trào thơ Mới lại viết về nó với một giọng điệu khác nhau, nỗi buồn ấy hóa thành những dạng thức khác nhau:

Buồn điệp điệp, sầu trăm ngã,… Sợi buồn con nhện giăng mau (Huy Cận), Dòng nước

buồn thiu hoa bắp lay (Hàn Mặc Tử)…

Trang 33

Tuy nhiên, không phải chỉ có buồn đau, u sầu, thơ Mới còn có sự xuất hiện của những giọng thơ nhẹ nhàng, tươi vui, yêu đời, mà Nguyễn Đăng Điệp gọi đó là những

“nghịch âm” Ví như những vần thơ:

“Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên Cây me ríu rít cặp chim chuyền

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.”

(Thơ duyên – Xuân Diệu)

Hay trong Mùa Xuân chín của Hàn Mặc Tử:

“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý Bóng xuân sang.”

Rõ ràng, “sự đa dạng của thơ Mới hiện ra trong từng mao mạch li ti của thế

giới ngôn từ” [8;209], cho đến những giọng điệu, những phong cách Những minh

chứng trên đây đã phần nào chứng thực sự đa âm, đa giọng của phong trào thơ Mới nói riêng, thơ Việt Nam hiện đại nói chung Cái nhìn tổng thể về thơ Mới cho ta thấy được

sự đa giọng điệu, nhưng tựu trung lại, có thể thấy rằng giọng điệu cơ bản của thơ Mới vẫn là giọng u buồn, buồn đến day dứt khôn nguôi Không nói đến nguyên nhân, chỉ điểm qua những sắc thái khi viết về nỗi buồn cũng có thể nhận ra sự phong phú, đa dạng của giọng điệu thơ thời kì này

Việc lí giải tại sao phong trào thơ Mới lại phong phú đến thế về phong cách và giọng điệu Thiết nghĩ, có thể kể đến những nguyên nhân sau:

Trước hết, thơ Mới là sản phẩm của cuộc hội ngộ lớn giữa văn hóa phương Đông và phương Tây Chính bằng thực tiễn sáng tác của mỗi cá nhân, các nhà thơ Mới, một mặt biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, một mặt lại biết giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, điều này đã tạo nên quá trình tiếp thu văn hóa làm mới nền thơ ca nước nhà, và biến chuyển nó phù hợp với quá trình vận động của lịch

sử thơ ca dân tộc

Bên cạnh đó, phải thấy rằng ở thời đại thơ Mới, sự ngự trị của cái tôi cá nhân đạt đến tầm cao, khiến các nhà thơ có cơ hội giải phóng triệt để cá tính sáng tạo Khi

Trang 34

đó, văn chương có được cái riêng cá nhân, đây chính là tinh thần dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật, và theo đó, tạo được những giọng điệu văn chương riêng rẽ đích thực

Sự sáng tạo của thơ Mới không nằm ngoài quy luật kế thừa truyền thống và phát huy những tinh hoa thơ ca dân tộc Vì vậy, có thể khẳng định đó là sự sáng tạo với tinh thần dân tộc, sự đổi mới tư duy nghệ thuật để tạo nên một mặt bằng hiện đại hơn về lượng lẫn về chất

Thêm vào đó, những cây bút tiên phong trong phong trào thơ Mới là những cây bút trẻ, mang trong mình hoài bão cách tân, luôn muốn thoát ra những định kiến và không ngừng đổi mới, sáng tạo Chính nhờ điều này nên văn chương giai đoạn này có những cách tân nghệ thuật táo bạo

Đồng thời cũng phải nhìn nhận rằng, đây là thời đại tập trung mật độ tài năng dồi dào, những cây bút tên tuổi như Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính,… với nhiều kiệt tác thơ ca

Sự góp mặt của nhiều giọng điệu thi ca đã góp đã biến thời đại Thơ Mới

1932-1945 thành một “nền thơ đa phong cách, đa giọng điệu” [8;344]

Đóng góp của thơ Mới với văn học nước nhà vẫn nằm ở điểm cốt yếu: nó để lại hàng trăm thi phẩm xuất sắc, nhiều nhà thơ tài năng và góp phần tạo nên sự phong phú giọng điệu thơ Việt Nam hiện đại

Chương 2: Thơ Nguyễn Bính giàu giọng điệu 2.1 Những giọng điệu trong thơ Nguyễn Bính:

2.1.1 Giọng điệu chân chất, “quê mùa”:

Hầu như thời kì nào, tác giả nào khi nghiên cứu thơ ca Nguyễn Bính cũng

không thể phủ nhận nguyễn Bính là nhà thơ của Chân quê, Hồn quê, Tình quê Sự thật thì suốt hành trình thơ Nguyễn Bính, giọng điệu chân chất, “quê mùa” hiện lên như

nốt chấm phá đầu tiên và để lại ấn tượng rất đặc biệt đối với đông đảo bạn đọc Vì khi nhắc đến Nguyễn Bính người ta lại nhắc đến bằng một thái độ yêu mến và hết sức trân

trọng - “nhà thơ chân quê”

Và Chân quê cũng chính là khúc hát ân tình rất thật, rất chất phác mà Nguyễn

Bính gửi cho đời và giữ giùm đời Khi chàng trai chân quê trong thơ Nguyễn Bính cất lời:

“…Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Trang 35

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh”

Cái tư thế của chàng trai ở đây đã khác hẳn, đấy là van xin, cùng với tư thế ấy

là thái độ và một thông điệp hết sức thực tế: van em “giữ nguyên quê mùa” Nhưng thực ra thì “hương đồng gió nội” đã “bay đi ít nhiều” Từ thực tế xã hội đương thời,

có thể thấy Chân quê vừa là tiếng lòng, vừa là tuyên ngôn nghệ thuật của hành trình

sáng tác thơ nguyễn Bính

Nguyễn Bính viết về làng quê khi đã bắt đầu lên tỉnh: “Bỏ lại vườn cam, bỏ mái

gianh - Tôi đi dan díu với kinh thành” (Hoa với rượu) Nhà thơ không thoát ra được

những kỉ niệm về làng quê thân yêu, nên dù có sống giữa thị thành thì hình ảnh của

làng mạc vẫn cứ in dấu đậm nét trong tâm trí nhà thơ Thế nên mới có một “Hà Nội cơ

hồ loạn tiếng ve - Nắng dâng làm lụt cả trưa hè” (Nhớ người trong nắng) Cả Sài Gòn,

Huế cũng bảng lảng khí vị đồng nội Dường như lúc nào cũng có một làng quê giữa lòng thành thị trong thơ Nguyễn Bính Xa quê hương ra đi, con thuyền thơ Nguyễn Bính lênh đênh đến những bến bờ xa lạ, song hình ảnh quê hương vẫn ngày đêm đăm đắm trong nỗi nhớ và trở thành biểu tượng sâu sắc trong suốt đời thơ của ông Quê hương trở thành điểm tựa tinh thần cho người con xa quê - Nguyễn Bính

Phải nói rằng, Nguyễn Bính viết về quê hương bằng một niềm say mê đến lạ kì, ông viết bằng chất giọng chân chất, thật thà Điều đó góp phần rất lớn giúp Nguyễn Bính tái hiện sinh động cuộc sống làng quê

Làng quê ấy là những buổi hội hè, đình đám:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “thôn Đoài hát tối nay”

Để “tôi” và “em” cùng xem “Phường chèo đóng Nhị Độ Mai” Tất cả những

lễ hội truyền thống, những giá trị tinh thần của cuộc sống làng quê đi vào thơ Nguyễn Bính một cách tự nhiên và gần gũi

Trang 36

Thơ Nguyễn Bính làm sống dậy những khung cảnh đời thường hết sức thân quen Những đêm:

“Sáng giăng chia nửa vườn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau

(Thời trước)

Hình ảnh một ngôi chùa quê đi vào thơ với đầy đủ sự vắng vẻ đến nao lòng:

“Gió chiều cầu nguyện đâu đây, Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu

Sư già quét lá sau chùa,

Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông.”

(Trường huyện)

Hay cả những sự việc hết sức đời thường cũng đi vào thơ, và lời thơ cứ như lời

ăn tiếng nói hằng ngày:

“Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn”

(Người hàng xóm)

Mỗi vần thơ Nguyễn Bính đều in bóng làng quê Viết về cuộc sống thôn dã, Nguyễn Bính chú ý nhiều đến mối quan hệ giữa người với người, hướng đến văn hóa

Trang 37

làng quê Quê hương được cảm nhận trực tiếp qua những chất liệu và hình ảnh cụ thể trong kí ức, hay gián tiếp qua nỗi nhớ và sự xa cách trong không gian, thời gian Chính

vì thế mà hình ảnh và cảm xúc về làng quê trong thơ Nguyễn Bính có nhiều lớp: lớp trực tiếp (Đêm cuối cùng), lớp gián tiếp (Mưa xuân), lớp hư ảo (Xóm Ngự Viên), lớp

tượng trưng (Truyện cổ tích) Thế nên Kiều Văn đã dám khẳng định “Nguyễn Bính là

người con đích thực của làng quê Việt Nam, nhưng là người con xuất chúng” [29;281]

Sự kết hợp hài hòa giữa tài năng và tấm lòng nặng ân tình với quê hương xứ sở,

đã giúp Nguyễn Bính tạo được một “cõi thơ” riêng – về làng quê Giọng quê, chất

quê khởi nguồn từ cõi thơ ấy cho đến nay đã được rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình như: Hà Minh Đức, Tô Hoài, Đỗ Lai Thúy, Đoàn Hương…thẩm định một cách tinh tế, sắc sảo Cõi thơ Nguyễn Bính đa màu sắc, đa giọng điệu, tuy nhiên, giọng điệu chân chất, quê mùa lại chiếm một vị trí đặc biệt ấn tượng làm nên tên tuổi Nguyễn Bính Bởi lẽ, trong phong trào thơ Mới, nhánh thơ viết về làng quê không chỉ có riêng Nguyễn Bính mà còn có sự góp mặt của những thi sĩ tài năng: Anh Thơ, Bàng Bá Lân,

Đoàn Văn Cừ…Thế nhưng, điểm qua một buổi “trưa hè” trong thơ Bàng Bá Lân:

“Dưới gốc đa già trong vũng bóng Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai

Ve ve rung cánh, ruồi say nắng

Gà gáy trong thôn những tiếng dài.”

(Trưa hè)

và một mùa “tết quê bà” của Anh Thơ:

“Bà tôi ở một túp lều tre

Có một hàng cau chạy trước hè Một mảnh vườn bên rào giậu nứa Xuân về hoa cải nở vàng hoe.”

(Tết quê bà)

dễ thấy rằng Bàng Bá Lân, Anh Thơ và cả Đoàn Văn Cừ đều quan tâm miêu tả nhiều chi tiết xác thực của cảnh vật quê hương Các nhà thơ đã tạo dựng không khí làng quê bằng chính cái thực của hình ảnh, âm thanh, động tác Trong khi họ thưởng ngoạn cảnh quê và tập trung khắc họa bức tranh quê thì thơ Nguyễn Bính đi theo một hướng khác; thơ Nguyễn Bính cũng đậm đà màu sắc cuộc sống làng quê với khung cảnh thân quen và thi vị khi xuân về:

Trang 38

“Thong thả dân gian nghỉ việc đồng Lúa thì con gái mượt như nhung Đầy vườn hoa bưởi, hoa cam rụng Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng”

(Xuân về)

Cái xôn xao của một buổi trưa hè:

Trưa hè một buổi nắng to, Gió tây nổi, cánh đồng ngô rào rào Con đường thấp, con đê cao, Bọn người đi chợ rẽ vào đồng ngô Tiếng cười chen tiếng nói to, Dáng chừng trong bọn có cô chưa chồng

(Trưa hè)

Song, Nguyễn Bính không dừng lại ở cảnh quê mà cảnh quê ấy hiện ra để tạo

không khí nền cho tình quê được bộc lộ, mà nói như Nguyễn Đăng Điệp thì “Nguyễn

Bính đi xa hơn nhiều: ông chạm tới linh hồn làng mạc” [8;321] Bức tranh quê hiện

lên trở thành cái cớ để nhân vật trữ tình bộc lộ nỗi lòng, và có khi bức tranh ấy gợi sự liên tưởng cho người đọc và nói hộ nỗi lòng nhân vật trữ tình Ví như, trong bài thơ

Qua nhà, Nguyễn Bính miêu tả khung cảnh:

“Lợn không nuôi đặc ao bèo Giầu không dây chẳng buồn leo vào giàn Giếng thơi mưa ngập nước tràn

Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều”

Rõ ràng, trong thơ Nguyễn Bính, cảnh và tình đã hòa hợp, đan quyện vào nhau đến độ khó có thể tách bạch, điều này cùng với giọng thơ mộc mạc, dung dị, chân quê

đã tạo nên những vần thơ đẹp, hấp dẫn và gợi biết bao bồi hồi nhớ thương Hầu như những chất liệu thơ ca quen thuộc như: giàn trầu, khung cửi, vườn chanh…không còn

là cảnh vật đơn thuần mà mở ra không gian liên tưởng mới Vì vậy, Vũ Quần Phương

cho rằng “người ta khó tìm thấy đời sống hiện thực trong thơ Nguyễn Bính, dù rằng có

thể gặp cảnh hiện thực, tâm lí hiện thực anh là nhà thơ lãng mạn, cái nhìn lãng mạn tài hoa của anh đã giữ lại vẻ đẹp cố hữu của thời nào không biết nhưng rất làng mạc Việt Nam”[23;173]

Trang 39

Không phải đến những năm gần đây ở thế kỉ này, người ta mới nhận ra giọng điệu chân quê trong thơ Nguyễn Bính, mà ngay từ khi nhà thơ bước chân vào thi đàn,

Hoài Thanh đã sớm nhìn ra chất giọng ấy, khi ông viết “Cái đẹp kín đáo của những

vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vào con mắt các nhà thông thái thời nay Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính, họ sẽ bảo: “Thơ như thế này thì có gì?” Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu bằng lí trí, một điều quý vô ngần: Hồn xưa của đất nước.” [27;372] Trong Thi nhân Việt Nam, chính Hoài Thanh cũng đã phần nào lí giải khả năng và căn nguyên hình

thành nên giọng thơ “quê mùa” của Nguyễn Bính Trước hết là bởi vì trong sự hỗn loạn của thực trạng xã hội – Tây Tàu nhố nhăng, văn hóa phương Tây đang thâm nhập

vào từng ngõ ngách đời sống thì “người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên

sống như thường” Và chính sức sống mãnh liệt của người nhà quê ấy đã kéo theo điệu

hồn Nguyễn Bính, làm nên một giọng điệu thơ – mộc mạc, chân phương, đủ sức

“đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng chúng ta” Mặt khác, so với nhiều

nhà thơ cùng thời thì Nguyễn Bính “nhà quê hơn cả” Như vậy, điểm xuất phát để tạo nên giọng điệu “quê mùa” trong thơ Nguyễn Bính nằm ở “bản chất nhà quê” hãy còn

“nhiều lắm” trong con người ông Bởi thế, nếu nói Nguyễn Bính tìm “đường về chân quê” thì đây vừa là sự lựa chọn có ý thức, vừa là sự xui khiến có tính chất tự nhiên

Giọng điệu chân chất, “quê mùa” trong thơ Nguyễn Bính thể hiện rõ nét trên

nhiều bình diện: ngôn ngữ thơ, cách tổ chức lời thơ và sự vận dụng sáng tạo tư duy nghệ thuật dân gian

Thơ Nguyễn Bính là thơ của lời ăn tiếng nói dân quê Tiếng thơ ấy thể hiện chân thực và trọn vẹn sự chất phác, cách nghĩ phóng túng, giản đơn của những con người lam lũ, những con người quanh năm gắn với ruộng vườn Thử nghe người quê trong thơ Nguyễn Bính tỏ bày thì sẽ rõ:

“Ví như nhớ có như tơ nhỉ

Em thử quay xem được mấy vòng

Trang 40

Hay cái tình yêu mãnh liệt, mà nguyên sơ, e dè của một cô thôn nữ cũng được Nguyễn Bính thể hiện hết sức thần tình:

“Láng giềng đã đỏ đèn đâu Chờ em chừng dập miếng giầu em sang

Đôi ta cùng ở một làng Cùng chung một ngõ vội vàng chi anh

Em nghe họ nói mong manh Hình như họ biết chúng mình với nhau”

(Chờ nhau)

Nguyễn Bính mượn lời một cô gái quê mà cứ như lời tỏ bày của một người con

gái quê thật sự Cách nói: “nghe họ nói mong manh”, “hình như họ biết chúng mình

với nhau”…thì thật là lời của người quê! Cả cái cách tính thời gian cũng hết sức đời

thường Bằng giọng thơ chân chất, bình dị, Nguyễn Bính đã làm nên cái dễ thương và rất thật của một mối tình quê mà sau Nguyễn Bính, chưa có ai làm được những câu thơ như thế

Lời tâm sự của chàng trai si tình cũng hết sức thân thương:

“Cái ngày cô chưa có chồng Đường gần tôi cứ đi vòng cho xa Lối này lắm bưởi nhiều hoa (Đi vòng để được qua nhà đấy thôi).”

(Qua nhà)

Và cả cái ghen của người đang yêu cũng mang đậm nét duyên quê:

“Cô nhân tình bé của tôi ơi Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười Những lúc có tôi và mắt chỉ Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi.”

(Ghen)

Nét đặc sắc của giọng thơ chân quê Nguyễn Bính một phần cũng biểu hiện ở

cách kể chuyện tâm tình của người quê Chính Tô Hoài đã phải thốt lên “Nguyễn Bính

chẳng khác một người tài kể chuyện, cứ nhẩn nha nói về những thứ quen thuộc quanh mình mà khiến ta phải chú ý” [3;22] Nguyễn Bính nhập vai vào nhân vật, có khi là

một người mẹ có con lấy chồng xa: nỗi niềm đau xót biết mấy mà vẫn phải vờ:

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w