1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn dạy học THƠ mới GIAI đoạn 1932 1942 TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ văn lớp 11 tập HAI

118 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và để có thể thấy được rõ hơn tầm quan trọng của thơ mới trong nhà trường hiện nay, chúng ta không thể bỏ qua việc xem xét phương pháp giảng dạy thơ mới trong nhà trường phổ thông cũng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

TRẦN KIM KHOA

DẠY HỌC THƠ MỚI GIAI ĐOẠN

1932 -1942 TRONG SÁCH GIÁO KHOA

Trang 2

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tìm hiểu chung về thơ mới

1.1 Khái niệm về thơ mới

1.2 Đặc điểm của thơ mới

1.3 Vài nét về thơ ca trung đại trong cái nhìn so sánh với thơ ca hiện đại 1.4 Vị trí, ý nghĩa của thơ mới

2 Các xu hướng dạy học hiện đại

2.1 Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học

2.2 Những định hướng trong quá trình dạy học của Marzano

2.2.1 Thái độ nhận thức tích cực về việc học

2.2.2 Thu nhận và tổng hợp kiến thức

2.2.3 Mở rộng và tinh lọc kiến thức

2.2.4 Sử dụng kiến thức có hiệu quả

2.2.5 Rèn luyện thói quen tư duy

3 Dạy học hợp tác

3.1 Khái niệm dạy học hợp tác

3.2 Cách chia nhóm

3.3 Loại hình nhóm

Trang 3

3.3.1 Nhóm cố định

3.3.2 Nhóm không cố định

3.4 Vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên trong dạy học hợp tác

3.5 Thiết kế bài tập thảo luận nhóm

3.6 Các dạng bài tập thảo luận nhóm

3.7 Quy trình tổ chức thảo luận nhóm

3.8 Tác dụng của học hợp tác

3.8.1 Đối với học sinh

3.8.2 Đối với giáo viên

4 Các phương pháp dạy học ngữ văn

4.1 Phương pháp đọc

4.2 Phương pháp đàm thoại

4.3 Phương pháp trực quan

4.4 Phương pháp dạy học nêu vấn đề

Chương II THIẾT KẾ GIÁO ÁN CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI GIAI ĐOẠN 1932-1942 TRONG SGK NGỮ VĂN LỚP 11

1 Lý thuyết soạn giáo án

2 Giới thiệu thơ mới trong chương trình môn Ngữ văn ở THPT

3 Thiết kế giáo án các tác phẩm thơ mới giai đoạn 1932-1942 trong SGK

Ngữ văn lớp 11

- Vội vàng _ Xuân Diệu (1 tiết )

- Tràng giang _ Huy Cận ( 1 tiết )

- Đây thôn Vĩ Dạ_ Hàn Mặc Tử (2 tiết )

- Chiều tối _ Hồ Chí Minh (1 tiết )

- Từ ấy _ Tố Hữu (1 tiết )

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỤC LỤC

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn chương là vẻ đẹp của tâm hồn Và tôi chắc hẳn rằng những ai có tâm hồn yêu văn chương lại không phải là một người dạt dào tình cảm, yêu cái đẹp, đặc biệt hơn đó là tình yêu quê hương, đất nước Từ thưở còn nằm nôi chúng ta đã được nghe

mẹ ru những bài ca mộc mạc, cho đến khi lớn lên, lúc chúng ta có thể ý thức rằng:

“Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người”

( Bài học đầu cho con_Đỗ Trung Quân)

Là khi đó ta đã trưởng thành, biết được những gì quý giá của cuộc sống Và tất

cả những tình cảm thiêng liêng đó chỉ có thể bắt đầu từ một con người biết trân trọng, biết yêu quý cuộc sống, biết rằng cuộc sống đã mang đến cho chúng ta một cuộc đời Chỉ có người biết nâng niu, quý trọng cuộc sống mới có được một tâm hồn yêu cái đẹp Và văn chương chính là vẻ đẹp của tâm hồn Không gì hơn, đó cũng chính là vẻ đẹp đáng trân trọng nhất ở mỗi con người Bởi vì vẻ đẹp tâm hồn là vẻ đẹp vĩnh hằng, bất biến Và chỉ có thơ văn mới thật sự là một món quà xứng đáng, tuyệt vời nhất đáp lại vẻ đẹp ấy Chính vì thế thơ văn đã nghiễm nhiên đi vào tâm hồn tôi để dạy cho tôi biết được nhiều điều trong cuộc sống , mang đến cho tôi nhiều bài học giá trị về cuộc đời, giúp cho tôi có được tâm hồn thanh cao hơn và một tấm lòng biết chia sẻ hơn Thơ văn còn giúp tôi có được những tình cảm với cuộc sống, có được những cái nhìn thánh thiện với đời, với người Tôi yêu thơ văn bởi vì nó giúp tôi biết quý trọng cuộc sống, biết yêu quê hương, yêu đất nước, biết nhìn ngắm cái đẹp và biết hưởng thụ cái đẹp, cũng như biết trân trọng và biết gìn giữ cái đẹp Quan trọng hơn đó chính là việc truyền thụ cái đẹp, mang đến vẻ đẹp tâm hồn cho mọi người Và giai đoạn quan trọng sắp tới đó là một nhà giáo như tôi phải biết làm sao đào tạo ra những tâm hồn biết yêu cái đẹp, cũng như biết nhận thức sâu sắc về cuộc sống Đó không là ai khác, mà chính

là những thế hệ trẻ đang còn ngồi trên ghế nhà trường Để hiện thực hóa ước mơ của mình, từ việc yêu thơ văn ở bản thân, thì học sinh chính là mầm sống tươi tốt nhất để đáp ứng cho việc truyền thụ kiến thức, trau dồi tình yêu đối với thơ văn Và đó cũng là

lí do để tôi quyết định gắn bó làm luận văn, với đề tài “ Dạy học thơ mới giai đoạn 1932-1942 trong sách giáo khoa lớp 11, tập hai (bộ cơ bản)”

Ngoài lí do chọn đề tài nêu trên thì qua đề tài này người viết còn muốn giới thiệu cho học sinh biết được sự thay đổi rực rỡ của thơ ca dân tộc, cũng như là những tác phẩm thơ mới giai đoạn (1932-1942) Mỗi chặng đường đi qua, thơ ca điều mang mỗi màu sắc riêng, cái hay riêng Và điều quan trọng là, qua mỗi vần thơ đó nó sẽ giúp ích cho ta có được một tâm hồn cảm nhận thơ văn và tình yêu thơ văn

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

Văn học Việt Nam đã có những bước thăng trầm đáng kể cùng với sự biến thiên của lịch sử Có thể nói văn học đã vận động một cách nhanh chóng để đạt đến thành tựu của nó, đó là sự thay đổi và sự kế thừa truyền thống của văn học nói chung

và lĩnh vực thơ ca nói riêng Tác giả Trần Đình Sử đã nhìn nhận sự thay đổi ấy bằng

cái bắt gặp “ từ một nền văn học mang tính chất tri thức quý tộc, chuyển sang một nền văn học đại chúng bình dân Từ văn chương chữ Hán chủ yếu chuyển sang nền văn học tiếng Việt hiện đại” [22; tr 35] Hay tác giả Đặng Thai Mai cũng nhận xét rằng các tác giả “ chưa hề nhận thức rõ mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung, giữa hình thức cũ và nội dung mới Họ chưa hề tính đến việc giải quyết vấn đề đại chúng hóa tư tưởng cách mạng, họ đã viết văn làm thơ cách mạng nhưng họ không nghĩ đến chuyện cần thiết phải làm cách mạng văn học, một công việc mà phong trào thơ Mới và sáng tác tiểu thuyết giai đoạn 1930-1945 sẽ làm” [18; tr37] chính vì thế mà “phong trào Thơ mới dấy lên từ những năm ba mươi đã thực sự là một phong trào cách mạng văn học không chỉ dẫn đến bước ngoặt trong đổi mới thi ca Việt Nam, còn thúc đẩy sự hình thành một chất lượng mới trong ngôn từ và hình thức của cả nền văn học” Hay

“ sự đổi mới văn học cách mạng đó đòi hỏi một cá tính văn học có khái niệm khuynh hướng tư tưởng, tình cảm cách mạng với hình thức văn học mới” [ 18; tr37] Có thể

nói tác giả đã khẳng định được sự thay đổi của nền văn học là tất yếu, hiển nhiên, và

thơ mới cũng thế, nó cũng có quy luật vận động và phát triển của riêng nó Hay “ có thể nói, với tôi, cả phong trào thơ mới với những diễn biến phong phú, phức tạp, những thành tựu to lớn của nó luôn được nhìn qua con mắt của các tác giả “ Thi Nhân Việt Nam” Cùng với Hoài Thanh và Hoài Chân, tôi được sống lại những ngày đầu của cuộc cách mạng thơ ca rầm rộ và giàu kịch tính bậc nhất thế kỉ này” [21; tr

108] Có thể thấy rằng dòng văn học lãng mạn ở giai đoạn 1930-1945 nói chung và mười năm thịnh vượng của phong trào thơ mới nói riêng 1932-1942 là một bước đáng

kể cho nền văn học của dân tộc, nó đánh dấu một màu sắc mới, một dáng dấp mới cho tiến trình lịch sử phát triển của văn học nước nhà Có thể nói đây là giai đoạn rực rỡ huy hoàng cho một sự chuyển mình đáng kể của văn học, từ một nền văn chương mang thi pháp trung đại sang một nền văn chương mang thi pháp hiện đại Và thơ mới

là một sự ươm mầm làm sống dậy “ Cả một thời đại thi ca”, nó mang một màu áo

mới xanh tươi và giàu sức sống cho văn học nói chung và thơ ca nói riêng Có thể thấy rằng sự ra đời của thơ mới không chỉ bởi nhu cầu của xã hội mà còn do nhu cầu nội sinh từ bên trong nền thơ ca dân tộc Trong khi thơ cũ đang lâm vào tình trạng bế tắc,

bị đóng kén trong một hình thức cổ điển gò bó, tẻ nhạt, không lối thoát thì thơ mới xuất hiện Sự xuất hiện của thơ mới đã đem lại sinh khí mới cho nền thơ ca hiện đại của dân tộc Phong trào thơ mới đã thanh xuân hóa nền thơ ca dân tộc Nó đã “ đứng lên” gánh vác sứ mệnh thiêng liêng mà lịch sử văn chương giao phó, để vực dậy nền thơ ca Việt Nam để nền thơ ca Việt Nam trở thành một con tuấn mã băng mình trên đường thiên lý: hiện đại hóa Do vậy, có thể khẳng định thơ mới đã phục sinh và phục

Trang 6

hưng cho nền thơ ca dân tộc Phan Khôi là tác giả đầu tiên định danh cho thơ mới

Trong bài viết “ một lối thơ trình chánh giữa làng thơ”, tác giả phát biểu “ đó là bài thơ tôi làm trước đây mấy tháng (bài: Tình Già) mà tôi kêu là một lối “ thơ mới”, sở

dĩ ông đi theo “Con đường thơ mới” bởi “ chẳng phải vì tôi thiếu sự nhưng và tôi hết chỗ lãnh đạo trong thơ cũ, tôi phải đi kiếm miếng đất mới mà miếng đất tôi kiếm đó chẳng biết có được không nên mới đem ra trình chánh giữa làng thơ…nhưng tôi tin rằng cái lối thơ cũ ta đã hết chỗ hay rồi, chẳng khác một chế độ mà vượng khí đã tiêu trầm, ta phải kiếm nơi khác mà đóng đô Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi sẽ thất bại nhưng tôi tin rằng sau nàỳ có người làm như tôi mà thành công” [02; tr 7] Thơ mới như là một thể thơ tự do : “ đem ý thật ở trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết”, [02 ; tr 49] Không những thế vẫn còn có ý kiến nhìn nhận về thơ mới theo một cách khác, theo tác giả “ Thi nhân Việt Nam”- Hoài Thanh thì thơ mới đã trải qua “ những bước thăng trầm” Ngay từ khi ra

đời cho đến nay thơ mới vẫn là một hiện tượng phức tạp Và tác giả còn nhận định về

thơ mới rằng “ tình chúng tôi đổi mới thì thơ chúng ta phải đổi mới Vậy cái khát vọng đổi mới cho thơ ca chỉ là khát vọng nói rõ những điều tín nhiệm, u uất, cái khát vọng được thành thật, một khát vọng khẩn thiết, đau đớn” [23; tr 14], tác giả cũng nhận định thêm rằng“ thơ cũ hoặc là tinh hoa của mấy ngàn năm văn học, hoặc là cặn bã một lối thơ đến lúc tàn” còn tên gọi thì tác giả khẳng định “ danh từ này vốn mới đặt

ra, người ta trao cho nó nghĩa gì thì nó sẽ có nghĩa ấy” và “ phong trào thơ mới trước hết là một cuộc thí nghiệm để định lại giá trị những khuôn phép xưa” và tác giả còn khẳng định tiếp “ tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này, chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…và thiết tha rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”, [23; tr 29] Không bỏ qua, tác giả Phan Cư Đệ thì bày tỏ ý kiến về thơ mới, theo tác giả “ Thơ mới ở đây là phong trào thơ ca lãng mạn 1932-1945, mang ý thức

hệ tư sản và quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật( chứ không bao gồm thơ mới cách mạng như thơ Tố Hữu)” [05; tr 33] Dù thơ mới đã được nhìn nhận như thế nào đi

chăng nữa thì một điều rằng chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng và vị trí của

nó trong phong trào thơ ca của dân tộc, “ đã thế không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện lập dị do một bọn dốt nát bày đặt ra để tìm kiếm chỗ ngồi trong làng thơ

Nó là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại” [ 23; tr 22] Và

“1935, cái năm đại náo trong làng thơ đi qua bước sang 1936 sự toàn thắng thơ mới

đã rõ rệt” [23;tr 30] Và để có thể thấy được rõ hơn tầm quan trọng của thơ mới trong

nhà trường hiện nay, chúng ta không thể bỏ qua việc xem xét phương pháp giảng dạy thơ mới trong nhà trường phổ thông cũng như cách rèn luyện cho học sinh ý thức được việc học và tiếp nhận thơ mới một cách tốt hơn, hiệu quả hơn Bên cạnh đó là việc áp dụng phương pháp giảng dạy của người giáo viên sao cho hiệu quả

Trang 7

Trải qua từng chặng đường phát triển của lịch sử nước nhà cùng với những đổi mới của xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa thì việc đổi mới giáo dục càng trở nên là một nhu cầu tất yếu, hiển nhiên Chính vì thế phương pháp cải cách giáo dục được đặt

ra hàng đầu Tuy nhiên trong quá trình đổi mới vẫn còn nhiều bắt cập, thiếu sót chưa thật sự đi vào quỹ đạo chung của sự phát triển đất nước Có nhiều công trình nghiên

cứu đã vạch ra nguyên nhân của việc sa sút trong giảng dạy như trong quyển “ văn chương nhìn từ góc sân trường” của tác giả Nguyễn Minh Hùng đã khẳng định “ thầy giáo dạy văn chưa thu hút học sinh vào bài học là một trong những nguyên nhân chủ yếu biến tiết học văn thành nhàm chán” [08; tr:147] Và cũng có nhiều công trình

nghiên cứu đề ra phương án giải quyết, cuối cùng các vấn đề đó vẫn còn nằm ở tình trạng lý thuyết, khó có thể áp dụng Cho đến cuối thập niên 60 thì hàng loạt những nghiên cứu mới được nâng lên một bước về chất lượng, nhiều chuyên luận ra đời như : Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học (1969) của Phan Trọng Luận; Vấn đề giảng dạy văn học theo thể loại (1970) của Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Huỳnh Lý, Đàm Gia Cẩn; Phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường (1977) của Phan Trọng Luận; Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn (1978) của Phan Trọng Luận; Tu từ học với vấn đề giảng dạy ngữ văn (1979) của Đinh Trọng Lạc; Dạy văn dạy cái hay cái đẹp (1983) của Nguyễn Duy Bình; Cảm thụ văn học giảng dạy văn

học(1983) của Phan Trọng Luận… khi viết quyển “ xã hội văn học nhà trường” tác

giả Phan Trọng Luận đã nêu lên tầm quan trọng của việc giảng dạy văn chương, tác

giả đã bày tỏ “ dạy văn, học văn không còn là công việc riêng của nhà giáo và nhà trường Nó trực tiếp liên quan đến chiến lược con người, đến sinh mệnh của chế độ ta

và cả dời sống văn học của xã hội” [ 15; tr 10] Tác giả còn nhấn mạnh việc dạy và học văn là một chiến lược vô cùng to lớn “ vì đây không phải là chuyện văn chương đơn thuần mà là chuyện đời, càng không phải chỉ là câu chuyện về những cậu học trò thơ ngây mà là chuyện của những con người sắp thay thế cha anh làm chủ thế kỉ XXI; đây không phải là chyện chữ nghĩa mà là linh hồn của chiến lược con người” [15;tr 13] Vì thế đã đến lúc chúng ta cần nhìn ra thực tế trước mắt là “ đã đến lúc, dù quá muộn cần có một cái nhìn toàn diện tổng thể về thực trạng dạy học văn trong nhà trường theo đòi hỏi gay gắt, cấp bách của bản thân đời sống xã hội, và đời sống sư phạm để tìm ra một hướng giải quyết bài toán cực kì phức tạp có nhiều nghịch lý và nhiều lời giải khác nhau nhưng vẫn chưa tìm ra được đáp số tối ưu” [15;tr 13] Thấy

được nhu cầu cấp thiết của việc giảng dạy văn ở nhà trường hiện nay, vấn đề đặt ra là phải đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho đạt hiệu quả tốt hơn Điều đó có nghĩa

là người giáo viên cần thấy rõ “ cái khuôn mẫu khô cứng của giờ giảng văn cần được phá vỡ để giải phóng cho sự tiếp nhận sáng tạo của học sinh, để cho giờ văn thực sự

là một giờ văn đúng nghĩa của nó, và cũng để cho tác phẩm văn chương vào tay giáo viên không biến thành “ bát canh nhạt nhẽo”( Tvadopki)” [15;tr 22] Và thực tế ngày nay chúng ta thấy “ tình trạng học sinh học văn một cách ít hứng thú đã trở thành khá phổ biến Tiếng phàn nàn về việc giảng văn trong nhà trường từ các giới xã hội cho

Trang 8

đến nay hầu như đã trở thành một dư luận, một nhận định tương đối phổ biến và nhất trí [ 12; tr 29] Hay trong quyển “ con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” tác giả Phan Trọng Luận cũng đã nêu ra nhận định “ phương pháp dạy của thầy, có buộc học sinh suy nghĩ, có tạo điều kiện phát triển trí tuệ học sinh hay không là tiêu chuẩn cơ bản phân biệt phương pháp tích cực hay thụ động, tiến bộ hay lạc hậu” [ 09; tr 44] Có thể

thấy để cho việc học tốt hơn thì người giáo viên cần phải đặt ra tiêu chí và định hướng

đúng đắn hơn trong quá trình giảng dạy, phải nhận thức được rằng “ giáo viên không cảm thụ hộ mà là người đứng ra tổ chức quá trình học sinh tiếp nhận, chiếm lĩnh kiến thức” [12;tr 46] Chính vì thế mà vấn đề giảng dạy ngày càng trăn trở hơn, suy ngẫm hơn sao cho phù hợp, và trong quyển “ phương pháp dạy học văn” tác giả đã đưa ra ý kiến “ chất lượng học văn trong nhà trường phổ thông đang giảm sút nghiêm trọng Nhiều vấn đề có ý nghĩa thời sự đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu phương pháp cũng như đông đảo anh chị em giáo viên ngữ văn cùng giải đáp” [ 11; tr 11] Chính

điều này buộc ta phải bắt kịp giáo dục phải đi đôi, song song với thời đại và thấy được

rằng “ nhịp độ phát triển của khoa học - kĩ thuật hiện đại đòi hỏi một sự đổi mới cao

độ phương pháp dạy học để nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin, đồng thời có thể xây dựng được những con người sáng tạo làm chủ khoa học - kĩ thuật hiện đại” [ 13;

tr 271] Điều đó có nghĩa là đòi hỏi sự linh động, sáng tạo ở vai trò của người thầy trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng đường, đó nhằm mục đích phục vụ cho việc giảng dạy được tốt hơn, hiện đại hơn mang lại hiệu quả hơn Mặc khác đó còn là tiêu chí đánh giá phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại hóa vai trò của người thầy Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là khoa học công nghệ chiếm lĩnh toàn bộ vai trò của người thầy mà đó chỉ là phương tiện hỗ trợ cho việc giảng dạy

được tiện lợi và tốt hơn Bởi trong quyển “ văn học giáo dục thế kỉ XXI”, tác giả Phan Trọng Luận đã khẳng định rằng “ mục đích giờ dạy học tác phẩm văn chương theo phương pháp mới không phải là giáo viên truyền thụ lời giảng của mình Mục đích cao nhất là làm sao cho chủ thể học sinh, dưới sự hướng dẫn của thầy, cảm nhận, khám phá chiếm lĩnh tác phẩm Do đó tạo được sự phát triển toàn diện về vị trí tâm hồn, nhân cách và năng lực” [ 14; tr 291], và tác giả cũng khẳng định giáo viên chính

là người “ tạo cho học sinh trao đổi, bộc lộ những cảm nghĩ của mình về bài văn hoặc một nhà văn” và cũng “ khêu gợi, kích thích và nuôi dưỡng phát triển ở học sinh nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận thức cái mới qua các hình tượng, tính cách nhân vật” [ 12; tr 31] Tiếp đó, trong quyển “ con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” Phan Trọng Luận lại khẳng định vai trò của người giáo viên “ người giáo viên không thể không vận dụng quy luật nhận thức vào trong quá trình giảng dạy của mình vốn là một quá trình vận động theo quy luật” và cũng “ có thể nói người giáo viên có tài năng sư phạm là người biết xử lí một cách khéo léo những mối quan hệ mâu thuẫn trong quá trình nhận thức của học sinh để truyền thụ kiến thức,làm cho kiến thức hình thành một cách sinh động và vững chắc” [ 09; tr 13], hơn thế tác giả còn đề cao vai trò của người giáo viên trong việc đào tạo thế hệ trẻ “ văn học là vũ khí, người giáo viên

Trang 9

dạy văn là người đào tạo con người bằng vũ khí văn học Quan điểm dạy văn là dạy người đã trở thành nguyên tắc khoa học và tình cảm nghề nghiệp” [ 09; tr 27] Hay trong quyển “ phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế xã hội” , tác giả Phạm Minh Hạc cũng đưa ra ý kiến “ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phụ thuộc phần lớn vào kết quả giáo dục trong những năm tới” [ 07; tr 64] Quả thật công việc “trăm năm trồng người” là một trọng trách vô cùng to lớn đối với

người giáo viên, bởi lẽ ngừơi giáo viên không chỉ đảm nhận trách nhiệm dạy chữ mà còn dạy người, và đó không phải là một công việc đơn giản, điều này đã được khẳng

định ngay trong quyển “ con đường nâng cao hiệu quả dạy văn” là “ nói đến văn học

là nói đến khoa học về con người” [ 09; tr 21] hay trong quyển “ phương pháp dạy học văn” tác giả cũng khẳng định “ dạy văn là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhiều tìm tòi sáng tạo của cá nhân người lên lớp” [10; tr 97] Từ những lí luận trên ta thấy

rằng vai trò của người thầy là vô cùng quan trọng và quan trọng hơn nữa đó chính là phương pháp giảng dạy được áp dụng trong nhà trường Và để đạt được điều đó không chỉ đòi hỏi ở người giáo viên về năng lực sư phạm mà còn phải có tâm huyết và yêu

nghề Trong quyển “ bàn về giáo dục việt nam” năm 2002 tác giả Nguyễn Cảnh Toàn

đã khẳng định vai trò của người giáo viên “ người giáo viên giỏi phải là người yêu nghề” và “ lòng yêu nghề” sự giác ngộ chính trị về nghề, lòng hứng thú đối với khoa học nghề nghiệp và hiệu quả lao động sư phạm” [ 26; tr 397], ngoài ra tác giả còn cho rằng đó là vấn đề phụ thuộc vào phương pháp của người giảng dạy, bởi “ dạy giỏi là làm sao cho ngừơi học phát huy tính chủ động tìm tòi, tự học một cách thông minh sáng tạo, biết gắn với hành” [ 26; tr 72]

Từ các lí luận trên cho ta thấy để dạy giỏi người giáo viên không chỉ trang bị cho mình kiến thức mà quan trọng là phải biến vận dụng kiến thức đó như thế nào để tác động vào đối tượng tiếp nhận một cách tốt nhất Và để làm được điều đó đòi hỏi người giáo viên phải có khả năng truyền đạt kiến thức sao cho học sinh chiếm lĩnh nhanh chóng và có thể áp dụng vào thực tiễn một cách năng động, sáng tạo và khả quan hơn Từ thực tiễn đó tác giả Phan Trọng Luận đã chỉ ra sự khác nhau giữa cách

dạy học truyền thống và cách dạy học hiện đại, cơ bản là “ đổi mới về vị trí chức năng, người giáo viên cũng như học sinh trong cơ chế giảng văn, đổi mới về phương pháp truyền thụ thụ động sang tích cực, sáng tạo trong tiếp nhận và tiếp nhận tác phẩm ở học sinh trong quá trình giảng văn” [ 13; tr 267], tác giả còn cho biết “ cái quan trọng nhất trong giảng dạy văn nói riêng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp tìm tòi, phương pháp vận dụng kiến thức của mình” [ 13; tr 24]

Ta thấy rõ ràng trong bất cứ môi trường giáo dục nào, thì việc đào tạo học sinh có thể

tư duy, phát triển trí tuệ là một điều được xem trọng đặc biệt khi phương pháp giáo dục đang dần đổi mới thì vấn đề này càng được xem trọng hơn và trở thành một trong những tiêu chí hàng đầu trong quá trình giảng dạy, vai trò chủ đạo đúng hướng của

người giáo viên là làm sao có thể khẳng định “ học sinh chính là chủ thể tích cực tham gia vào quá trình khám phá tác phẩm bài văn” [ 13; tr:267] Trong quyển “ văn học

Trang 10

giáo dục thế kỉ XXI”, tác giả Phan Trọng Luận đã nhấn mạnh “ vai trò của người giáo viên cực kì quan trọng, khi giáo viên dẫn dắt học sinh đi đến những tình huống

có vấn đề không kém phần phức tạp” [ 14; tr 378], và tác giả còn nói thêm rằng “ con đường đổi mới phương pháp giảng dạy văn học từ thông tin - tiếp thu sang phương pháp sáng tạo là một quá trình tìm tòi thể nghiệm khá phức tạp và công phu” [ 14; tr 319], điều đó có nghĩa là dù người giáo viên có đạt về chuyên môn nhưng nếu “ một khi chưa nắm được tư tưởng chiến lược của phương pháp dạy văn học mới thì không thể tránh khỏi tình trạng vận dụng một cách máy móc, mù mờ một số thủ pháp, biện pháp trong giảng dạy” [ 14; tr 287], khi “ không lĩnh hội được những tinh hoa của giáo dục tiên tiến sẽ rất khó để thực hiện nhiệm vụ phát triển và hội nhập mà chúng ta đang theo đuổi” vì thế một yêu cầu cấp thiết đặt ra là “ cải cách giáo dục là cải tiến phương pháp dạy” [ 19; tr 07], và có một điều chúng ta không thể chối cãi về nhận thức “ tính sư phạm được thể hiện trong nội dung và phương pháp dạy học theo mục đích chung của chương trình môn học Giáo viên là người chịu trách nhiệm khởi động

tổ chức và hoàn thiện quy trình sư phạm đó trong từng giờ học, bài học cụ thể” [ 16;

tr 73]

Chúng ta thấy rằng từ những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra phương pháp dạy học của người giáo viên đóng một vai trò không thể phủ nhận Bởi việc đào tạo con người là một quá trình miệt mài, tìm tòi và sáng tạo Nó đòi hỏi người giáo viên

phải đầy đủ bản lĩnh và tri thức trên con đường định hướng “ con thuyền tri thức” đến được với “bến bờ tri thức” Có như thế người giáo viên phải định hướng rõ ràng và

chỉ dẫn nhiệt tình để “con thuyền” có được kiến thức vững vàng thì từ đó mới có thể vững chãi, năng động tiến đến “bến bờ” Vì thực chất ngày nay trong việc dạy và học

cả hai điều đòi hỏi cả ngừơi giáo viên lẫn học sinh phải không ngừng sáng tạo, đặc

biệt là “ vai trò chủ động, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học tập có

ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức và hoàn thiện nhân cách của bản thân với ý nghĩa là chủ thể sáng tạo không thể thay thế” [ 01; tr 50] và chúng ta có thể thấy rằng “ trong giờ văn học nhiều nhiệm vụ về mặt sư phạm và mặt phương pháp hệ hòa lẫn với nhau” [ 27; tr 05] Vì thế yêu cầu đặt ra là “ giáo viên kết hợp vừa trình bày tài liệu hoặc phân tích một hiện tượng, sự kiện văn học, một tác phẩm; vừa lưu ý nhấn mạnh phương pháp trình bày, phương pháp phân tích, cần hướng dẫn học sinh vận dụng phương pháp phân tích đó đối với hiện tượng văn học hoặc tác phẩm tương tự để các em có dịp rèn luyện kỹ năng” [ 16; tr 91] Ngoài ra

giáo viên cần phải xác định rõ ràng từng phương pháp để đưa vào ứng dụng cho phù

hợp, bởi vì “ vai trò của một phương pháp có được xác nhận và đề cao hay không trước hết phải do hiệu lực riêng của bản thân phương pháp, nhưng phương pháp bao giờ cũng gắn liền với người sử dụng phương pháp” [ 16; tr 158] Bên cạnh đổi mới

phương pháp giảng dạy, đổi mới tư duy ở người giáo viên đó là việc phải đổi mới cách nhìn về sách giáo khoa Điều đó có nghĩa là chúng ta hãy nên gạt đi suy nghĩ sách giáo khoa là tài liệu duy nhất đúng cung cấp thông tin trong quá trình học Bởi vì

Trang 11

thực tế từ lâu trong nhà trường điều xem sách giáo khoa là phương tiện cố hữu duy nhất đúng để bám lấy mà quên đi việc phát triển mở rộng vốn tri thức sẵn có trong suy nghĩ Điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến việc giảng dạy của giáo viên và làm hạn chế tư

duy của học sinh Vì vậy mà trong quyển “ văn học giáo dục thế kỉ XXI ” tác giả đã kêu gọi “ cần nâng cao chất lượng phương pháp tổ chức học sinh tự chiếm lĩnh tri thức lên một bước để sách giáo khoa thực sự trở thành công cụ cho học sinh tự học tập và phát triển nhân cách” [14; tr 125], ngoài ra tác giả còn nhắc “ tác giả sách giáo khoa phải bước xa hơn ra ngoài địa hạt khoa học cơ bản, để nắm bắt được đầy

đủ yêu cầu sư phạm của một cuốn sách giáo khoa đúng với ý nghĩa đích thực của nó”

[ 14; tr 125] Bên cạnh đó việc soạn giáo án của người giáo viên giữ vai trò không kém phần quan trọng Bởi vì, dù nguồn sách giáo khoa có phong phú đa dạng đến đâu hay khoa học kĩ thuật có tiến bộ cách mấy thì vẫn không thay thế được vai trò của người giáo viên trong việc tạo ra “ đứa con tinh thần” của mình Giáo án chính là sản phẩm cuối cùng, và không chỉ là bằng tâm huyết, bằng cả trái tim của người giáo viên

trong việc biên soạn mà nó còn là “ thước đo mức độ chuyển biến nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phát triển tư duy của học sinh đồng thời giáo án lại là điều kiện giúp giáo viên thể hiện quan niệm của mình về giảng dạy”, ngoài ra “ giáo án tập dượt cho giáo viên thành thục cho việc vận dụng quan niệm tiến bộ về vấn đề tư duy cho học sinh” chính vì thế chúng ta cần đặt “ vấn đề cải tiến cách soạn giáo án cho phù hợp với yêu cầu phát triển và rèn luyện tư duy cho học sinh một công việc cần thiết và hữu ích” [17; tr 29]

Không thể bỏ qua, cùng quan tâm đến những vấn đề trên nhóm tác giả: Nguyễn minh Chính, Nguyễn Thị Hồng Nam, Trần Đình Thích, Hà Hồng Vân, thuộc bộ môn Ngữ văn khoa Sư phạm trường Đại học Cần Thơ cũng đã đóng góp hết sức thiết thực

và hữu ích trong việc biên soạn giáo án bài giảng “ Lí luận dạy học Ngữ văn”, nhằm đưa ra một số xu hướng dạy học hiện đại cùng với các phương pháp dạy học Ngữ văn

để có thể giúp ích cho những giáo viên trong tương lai có được kiến thức vững vàng trong sự nghiệp giảng dạy nói chung và môn văn nói riêng

3 Mục đích yêu cầu

- Mục đích : khi bắt tay vào nghiên cứu đề tài “ dạy học thơ mới giai đoạn

1932-1942 trong SGK Ngữ văn 11 tập hai” mục đích của người viết là:

+ Có thể truyền đạt mảng kiến thức về thơ mới ( giai đoạn 1932-1942) đến người học

+ Có thể thiết kế một giáo án đảm bảo đầy đủ về nội dung môn học mà lại ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn

+ Rèn luyện cho học sinh cách đánh giá và tiếp nhận một tác phẩm văn chương nói chung và mảng thơ ca nói riêng

Trang 12

+ Giúp học sinh cảm thụ được cái hay cái đẹp của mảng thơ ca hiện đại

+ Bồi dưỡng cho học sinh có cái nhìn tích cực và thích thú với mảng thơ ca hiện đại

-Yêu cầu :

+ Người viết phải trang bị cho mình đầy đủ về mặt kiến thức cũng như kỹ năng + Vận dụng những phương pháp dạy học tích cực và hiện đại theo xu hướng hiện đại hóa việc học

+ Áp dụng quan điểm lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học

+ Áp dụng những định hướng dạy học của Marzano một cách hiệu quả

4 Phạm vi nghiên cứu

Do yêu cầu của đề tài và giới hạn của thời gian nên người viết chỉ chú trọng đi sâu vào tìm hiểu những phương pháp dạy học tích cực vào việc thiết kế giáo án những tác phẩm thơ giai đoạn 1932-1942 trong SGK Ngữ văn lớp 11 tập hai Cụ thể gồm các bài:

- Vội vàng _ Xuân Diệu (1 tiết)

- Tràng giang _ Huy Cận (1 tiết)

- Đây thôn Vĩ Dạ _ Hàn Mặc Tử (2 tiết)

- Chiều tối _ Hồ Chí Minh (1 tiết)

- Từ ấy _Tố Hữu (1 tiết)

5 Phương hướng và phương pháp nghiên cứu

Phương hướng: để đạt được sự hoàn thiện, trước tiên đi vào nghiên cứu đề tài người viết đã tìm tòi, tham khảo, sưu tầm những tài liệu có liên quan đến đề tài Tiếp theo người viết tiến hành soạn đề cương tổng quát, đề cương chi tiết và cuối cùng là chỉnh sửa để hoàn thiện hơn Trong quá trình thực hiện, mỗi bước người viết điều suy nghĩ, cân nhắc và chọn lọc kiến thức Điều quan trọng là mỗi bước thực hiện người viết đều thông qua sự chỉ dẫn cũng như sự đóng góp ý kiến của giáo viên hướng dẫn Phương pháp: Từ phương hướng trên, để góp phần hoàn thành tốt đề tài luận văn người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như : tham khảo, sưu tầm, chọn lọc, hệ thống hóa tài liệu Từ cơ sở đó người viết đi vào vận dụng những phương pháp như: phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp…

PHẦN NỘI DUNG

Trang 13

Chương I TÌM HIỂU CHUNG VỀ THƠ MỚI VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY

HỌC THƠ MỚI

1 Tìm hiểu chung về thơ mới

1.1 Khái niệm thơ mới

“ Thơ mới ở đây là phong trào thơ ca lãng mạn 1932-1945 mang ý thức hệ tư sản và quan điểm “ nghệ thuật vị nghệ thuật” (chứ không bao gồm thơ mới cách mạng như thơ Tố Hữu)” [06; tr 33] Hay đơn giản thơ mới được xem là một thể thơ tự

do “ đem ý thật trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” [02; tr 49] Hay trong “ Thi nhân Việt Nam” thì tác giả lại nhận định “ phong trào thơ mới trước hết là một cuộc thí nghiệm để định lại giá trị những khuôn phép xưa” [23; tr 29]

Đó là một số quan điểm, nhận định về thơ mới Tuy nhiên khi nói đến phong trào thơ mới thì chúng ta không thể chỉ nghĩ đến thơ ca lãng mạn Điều đó có nghĩa là thơ mới ở đây bao gồm cả thơ ca lãng mạn và thơ ca cách mạng Bởi lẽ nói về thơ mới

thì tác giả “ Thi nhân Việt Nam” nhận định “ danh từ này vốn mới đặt ra, người ta trao cho nó nghĩa gì thì nó sẽ có nghĩa ấy” [23; tr 29]

1.2 Đặc điểm thơ mới

Thơ mới là một sự vận động và phát triển từ nền thơ ca truyền thống Bước nhảy vọt của thơ mới đã đưa nền thơ ca Việt Nam đi đến một đỉnh cao của nghệ thuật Tuy nhiên bên cạnh việc kế thừa và phát triển ở thơ ca truyền thống thì thơ mới còn có những đặc điểm riêng của nó

Nếu ở giai đoạn 1932-1936 thể thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh, gần với lối cổ

phong Một số bài thơ của Hàn Mặc Tử trong tập “ gái quê” hay của Phan Văn Dật trong “buâng khuâng” vẫn còn giữ nhạc điệu lối ngũ ngôn cổ phong xưa, nghệ thuật:

bằng, trắc, đối ý, đối chữ vẫn được duy trì, thì ở thể thơ mới tuy vẫn còn sử dụng lối ngũ ngôn, thất ngôn nhưng đã mềm mại và uyển chuyển hơn so với thơ cổ phong Thể thơ lục bát được nâng niu Một số tác giả như Huy Cận, Nguyễn Bính đã mang đến cho lục bát một khuôn khổ mới, đó chính là sự cách tân Có thể nói nhờ ảnh hưởng của thơ Pháp, thơ mới đã sử dụng những hình ảnh khá phong phú và linh hoạt Thơ mới có khả năng diễn đạt sinh động hơn lối thơ cũ bằng việc sử dụng cách hiệp vần phong phú, lối ngắt nhịp sinh động, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình tượng, nhạc điệu dồi dào Nếu ở thơ cũ ta thường bắt gặp cách gieo vần ở cuối câu đầu và câu chẵn, hiệp vần bằng hình thức độc vận và chỉ dùng một loại vần thì ở thơ mới cách thể hiện khác hơn ở cuối mỗi câu đều có gieo vần và có nhiều cách hiệp vần chịu ảnh hưởng

Trang 14

của thơ Pháp Số câu chữ trong thơ mới không nhất định, thường mỗi bài chia làm nhiều khổ, đoạn

Ngoài ra thơ mới còn cách tân về nhạc điệu Song song bên cạnh vừa duy trì nhạc điệu quen thuộc của dân tộc vừa tiếp thu, học tập những thành tựu về nhạc điệu trong thơ Đường và thơ Pháp Ta thường bắt gặp trong thơ cổ của dân tộc cũng có cách gieo vần lưng nhưng đến thơ mới thì vần lưng được sử dụng nhiều hơn

Thơ cổ : “ Đứng chéo trông theo cảnh hắt heo

Đường đi thiên thẹo quán cheo leo”

Hai câu thơ trên trong bài “ Quán sứ ” của nữ sĩ Xuân Hương diễn tả sự chông chênh, gập ghềnh, heo hút của con đường dẫn đến chùa Quán Sứ, nhưng cái buồn hiu hắt đó chỉ thiên về cảnh vật Nhà thơ miêu tả cảnh để ngạo người, ngạo đời mà thôi Thì đến thơ mới ta còn có thể bắt gặp được tâm trạng của nhà thơ:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”

Vần lưng trong hai câu thơ trên của Xuân Diệu cũng diễn tả nỗi buồn heo hút, lạnh lẽo, song có một sắc thái riêng, mang đầy tâm trạng của nhà thơ

Thơ mới mặc dù phá vỡ khuôn khổ của thơ Đường song ít nhiều vẫn còn lối đối thanh ( bằng, trắc) của thơ Đường giữa những chữ trong hai câu thơ Chẳng hạn thơ Đường:

“ Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu Nhất hoàng bạch lộ thướng thanh thiên”

( Tuyệt cú_Đỗ Phủ ) Thì ở thơ mới vẫn có sự tương đồng:

“ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

( Đây thôn Vĩ Dạ_Hàn Mặc Tử ) Thơ mới thường diễn tả những tình cảm buồn, sâu kín nên thường nghiêng về thanh bằng:

“ Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng”

( Tràng giang _Huy Cận ) Hay :

“ Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Trang 15

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”

( Tinh huyết _ Bích Khê )

Ở thơ mới ta thường thấy cách phối âm đặc biệt, nhất là thường sử dụng những phụ âm vang: a, an, ang, ưng…

Ở thơ cũ, cách ngắt nhịp nói chung không thay đổi, thường : ngũ ngôn ngắt theo nhịp 2/3 hoặc 1/3, thất ngôn thì ngắt theo nhịp 4/3 hoặc 2/5 còn trong thơ mới có lối ngắt nhịp linh hoạt và độc đáo hơn :

“Thu lạnh/ càng thêm nguyệt tỏ ngời, Đàn ghê như nước/lạnh trời ơi!

Long lanh tiếng sỏi/vang vang hận, Trăng nhớ Tầm Dương/ nhạc nhớ người”

( Nguyệt cầm _ Xuân Diệu ) Bên cạnh những nét trên thì phương tiện xây dựng ngôn từ trong thơ mới giàu hình tượng và gợi cảm khác với lối nói ước lệ, sáo rỗng trong thơ cũ Bằng cách sử dụng tính từ, hình dung từ, các biện pháp tu từ mới mẻ theo phong cách của phương Tây, thơ mới đã mang vào thơ Việt Nam một lối thơ giàu hình tượng và khả năng gợi cảm cao Sự xuất hiện khả năng kết hợp giữa các từ rất mới:

“ Hãy tuôn âu yếm lùa mơn trớn Huy hoàng trăng rộng, nguy nga gió”

(Xuân Diệu) Rất nhiều hình dung ngữ xuất hiện:

“ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

( Vội vàng _ Xuân Diệu ) Hay:

“Nắng nhỏ buâng khuâng chiều lỡ thì”

( Thu _ Xuân Diệu )

Sử dụng lối nhân cách hóa:

“ Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác

Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay”

( Sang thu _Anh Thơ ) Ngoài ra còn sử dụng lối nói ví von:

“ Ta vừa thấy bóng nàng trên cỏ biếc Suối tóc dài êm chảy giữa dòng trăng”

( Mộng _ Chế Lan Viên )

Trang 16

Tóm lại ta thấy trong thơ mới đã có những thay đổi đáng kể Cùng kế thừa những tinh hoa thơ ca của dân tộc thì song song đó là sự vận động, phát triển và đổi

mới bắt kịp với thời đại Có thể nói “ phong trào thơ mới là một cuộc đánh giá lại các thể thơ cũ, tiếp thu những cái tốt đẹp của truyền thống cũ, đồng thời học tập một cách

có sáng tạo thơ ca nước ngoài nhất là thơ Pháp”[04; tr 263], và “ Thơ mới trước hết

là một cuộc thí nghiệm táo bạo để định lại giá trị những khuôn phép xưa” [03; tr 227]

1.3 Vài nét về thơ ca trung đại trong cái nhìn so sánh với thơ ca hiện đại

Để có thể thấy rõ hơn về đặc điểm của thơ ca trung đại và thơ ca hiện đại trong cái nhìn so sánh thì người viết đã tiếp tục nghiên cứu thêm một vài nét cơ bản, tuy nhiên do giới hạn đề tài và thời gian nghiên cứu nên người viết chỉ sơ lược đôi nét về nội dung cũng như nghệ thuật của mảng thơ ca hiện đại trong cái nhìn so sánh với thơ

ca trung đại để thấy rõ sự thay đổi đáng chú ý ở mảng thơ ca hiện đại giai đoạn ( 1930-1945) nói chung và khoảng mười năm đáng nói ( 1932-1942) nói riêng

Có thể thấy rằng “ trong thơ mới lãng mạn, chúng ta bắt gặp chủ đề “nỗi cô đơn” trong hàng loạt bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử,

Vũ Hoàng Chương…dưới những sắc thái khác nhau” [05: tr 20]

Cái tôi trong thơ mới thể hiện rất cụ thể và rõ ràng, trong Lửa Thiêng của Huy Cận tác giả thổ lộ :

“ Trước thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt Trái tim đau khô héo thuở trần gian Tôi sẽ nói:

Này đây là nước mắt

Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan…”

Và Huy Cận còn nói tiếp “ cái buồn của các nhà thơ là cái buồn yếu đuối nhưng không trốn dân tộc, một thứ yếu đuối có mang tinh thần dân tộc Họ có những nỗi niềm cần nói chứ sung sướng gì mà làm nghề thơ mới Đó là nỗi niềm của một anh trí thức mất nước, tâm trạng của một thế hệ thanh niên đau xót vì mất nước ( rất

có ý thức chứ không phải mơ màng)”, [05 : tr 21], và tác giả còn khẳng định “ không phải nỗi buồn nào trong thơ mới cũng mang ý nghĩa thoát ly cuộc sống”, [05; tr 22] Bởi vì “ các nhà văn lãng mạn Việt Nam cũng mang tâm trạng cô đơn, họ là kẻ lữ khách “ lẽo đẽo đi trong gió bụi đời”, ( Nguyễn Bính) là “ một kẻ bộ hành ngơ ngác” (Thế Lữ) trên con đường xa vắng, một “con nai vàng ngơ ngác” ( Lưu Trọng Lư), trong rừng thu, “ một con nai bị chiều đánh lưới” ( Xuân Diệu), “không biết đi đâu đứng sầu một tối” Nỗi buồn cô đơn như dàn trải bao khắp một vùng trời thơ mới, cái

tôi lúc nào cũng phơi bày trần trụi với cuộc đời để mong tìm được sự đồng điệu, sự

giao cảm và ước mơ một điều gì tươi sáng hơn Có thể thấy rằng “ cái tôi trong thơ

Trang 17

mới là một bước tiến quan trọng so với cái ta của văn học trung đại Trong xã hội phong kiến cái tôi cá nhân hầu như không có địa vị trong đời sống xã hội Cá nhân bị hòa tan trong cái chung, trong cộng đồng Nhiều nhà nghiên cứu đã nhắc đến tính phi ngã gần như chiếm ưu thế trong những tác phẩm văn học trung đại lệ thuộc vào ý thức hệ phong kiến Những tài năng như: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát không được chính quyền phong kiến trọng dụng, thậm chí có người

bị tru di tam tộc ( Cao Bá Quát) Những năm 30 của thế kỉ trước, có thể nói là thời kỳ đổi mới tư duy, từ cái ta cộng đồng của văn học trung đại sang “ cái tôi” cá nhân của văn học hiện đại, chuyển từ hệ tư tưởng phong kiến sang hệ tư tưởng tư sản Thời kỳ này đã dẫn đến một “ cuộc cách mạng trong thi ca” ( Hoài Thanh) góp phần đẩy nhanh nền văn học trên con đường hiện đại hóa” [23: tr 25]

Có thể thấy sự sáng tạo nghệ thuật là công việc chủ yếu của những cá nhân, mang phong cách riêng biệt của từng cá nhân Cho nên cái tôi của chủ thể sáng tạo được giải phóng sẽ làm xuất hiện hàng loạt phong cách nghệ thuật độc đáo trong thi ca

hiện đại “ tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo nảo như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu”

[23; tr 25] Cái tôi xuất hiện cũng dẫn đến một màu sắc cá thể hóa trong cảm thụ thẫm

mỹ, trước đó ta bắt gặp trong thơ đường nhiều vầng trăng chung chung, vĩnh cửu:

“ Trăng vẫn năm năm sông nước giãi:

Soi ai nào biết được lòng trăng Chỉ thấy sông dài như nước chảy”

(Trương Nhược Hư _ Xuân giang hoa nguyệt dạ)

Nhưng trong thơ mới thì chỉ có những vầng trăng cá thể hóa: “trăng mờ thổn thức” trong thơ Lư Trọng Lư, hay “ vầng trăng tự ngẩn ngơ”, “ trăng vú mộng muôn đời thi sĩ” trong thơ Xuân Diệu, “trăng ghì trăng siết cả làn da” trong thơ Chế Lan Viên ”[23; tr 25] Có thể nói các nhà thơ mới đã ý thức rằng “ đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu” [23; tr 27]

Và, nếu“ trong thơ ca trung đại con người được coi là một thành viên có mối quan hệ hài hòa đối với các thành viên khác trong vũ trụ Các nhà thơ cổ điển luôn vương tới sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, cá nhân với cộng đồng [23; tr 27] thì ở “ các nhà thơ mới không chỉ là kẻ bộ hành ngơ ngác, là kẻ “lạc loài” ngay giữa quê hương của mình mà họ còn mang tâm trạng cô đơn, rợn ngợp của một cá thể trước không gian mênh mông và thời gian xa thẳm” [23 ; tr 28]

Trang 18

Thơ mới ra đời bên cạnh sự xuất hiện của cái tôi mang sức sống mới còn có những cách tân về mặt phương tiện sáng tạo nghệ thuật Các thi sĩ thơ mới tìm tòi, sáng tạo những thể thơ mới, cách gieo vần, cách ngắt nhịp mới

Thể thơ lục bát được nhiều thi sĩ thơ mới sử dụng nhưng thành công hơn cả là thơ lục bát của Huy Cận và Nguyễn Bính Câu thơ lục bát cũ thường dòng lục là một mệnh đề, dòng bát là một mệnh đề, cả hai dòng lục bát mới tạo thành một câu:

“Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

(Truyện kiều_Nguyễn Du) Câu thơ lục bát của thơ mới thường mỗi dòng lục là một câu:

“Lòng tôi như chiếc thuyền nan Tình cô như khách sang ngang một chiều”

(Sang ngang _ Nguyễn Bính) Câu thơ thất ngôn, ngũ ngôn không còn độc tôn, thơ mới không hạn chế số câu trong mỗi bài thơ, không quy định số từ bắt buộc cho mỗi dòng thơ Có những câu thơ chỉ có hai chữ:

“Sương rơi Nặng trĩu Trên cành Dương liễu…”

(Sương rơi_Nguyễn Vỹ) Hay có những câu thơ có bốn chữ:

“Xuân gọi tràn đầy Giữa lòng hoan lạc Trên mình hoa cây Đâm trồi hy vọng

Trang 19

(Nhớ rừng _Thế Lữ) Với thơ tự do đi từ 3,4,5 đến 8,9 chữ

“ Tiếng địch thổi đâu đây

Cớ sao nghe réo rắt

Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt

Mây bay gió quyến mây bay

( Tiếng trúc tuyệt vời_Thế Lữ)

Về cách hiệp vần thì so với thơ cũ, thơ mới đã có sự thay đổi trong cách gieo vần Nếu như thơ cũ chỉ gieo vần ở cuối câu đầu và cuối câu chẵn thì thơ mới thường gieo vần ở từ cuối mỗi câu thơ Các nhà thơ đã kết hợp sáng tạo giữa nghệ thuật gieo vần truyền thống với cách gieo vần mới để tạo nên những giá trị nghệ thuật đặc sắc trong thơ

Có khi những câu thơ sử dụng vần liên tiếp:

“Đường trong làng : hoa dại với mùi rơm Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng Đất thiêu nắng bóng tre rồi bóng phượng”

(Đi giữa đường thơm_Huy Cận) Vần gián cách thường được sử dụng ở những bài thơ nhiều khổ và mỗi khổ có bốn câu:

“ Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách

Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu

Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách

Ông lái buồn để gió lén mơn râu”

(Bến My Lăng_Yến Lan)

Vần ôm cũng là vần thường gặp trong thơ mới:

Trang 20

“ Em là gái trong khung cửa

Anh là mây bốn phương trời

Anh theo cánh gió chơi vơi

Em vẫn nằm trong nhung lụa”

( Một mùa đông_ Lưu Trọng Lư) Vần chân được sử dụng phổ biến trong thơ mới, theo một số biểu hiện như trên nhưng cũng có khi thi sĩ sử dụng kết hợp cách gieo vần trong cùng một đoạn thơ hay

cả bài thơ:

“Xuân vừa chớm tuổi Bướm vừa quen hoa

Em nhỏ hơn ta

Tình như áo mới

Hôm nay ngày cưới Của đôi chim khuyên Hôm nay mùa duyên

Của đôi làng nhỏ”

(Xuân ở quê em_ Hồ Dzếnh)

Vần lưng ít thấy trong thơ mới nhưng vẫn có sức sống:

“Ôi những cánh hồng thơm rung rinh điệu ngọc Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở điều trong sương

Màu trắng không gian như gờn gợn sóng”

(Nhạc_Bích Khê) Một trong những thành tựu to lớn khá nổi bật của thơ mới là vận dụng nhịp điệu để diễn tả tình cảm Tính đối và luật bằng trắc đã bị phá vỡ nhường chỗ cho sự phối thanh linh hoạt, đa dạng tùy theo phong cách và trạng thái cảm xúc của nhà thơ Thơ mới ưa diễn tả những tình cảm buồn, sâu kín nên thường dùng nhiều thanh bằng:

“ Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”

(Nhị hồ_ Xuân Diệu)

Trang 21

Ngoài ra thơ mới còn vận dụng lối ngắt nhịp diễn tả tình cảm, ngắt nhịp tạo nên tiết tấu thơ, tức là một phần tạo nên tiết tấu của nhạc thơ Trong thơ cũ cách ngắt nhịp nhìn chung không thay đổi Ngũ ngôn thường ngắt theo nhịp 2/3 hoặc 1/3, thất ngôn thì ngắt 4/3 hoặc 2/5 Nhưng trong thơ mới, cách ngắt nhịp linh hoạt hơn, tùy theo tình cảm diễn tả trong câu thơ, chẳng hạn nhịp thơ chậm là để ứng với cái dài rộng, trống vắng của không gian và của nỗi lòng:

“ Gió theo trăng / từ biển thổi qua non Buồn theo gió / lan xa từng thoáng rợn”

(Lời kĩ nữ_Xuân Diệu)

Có khi nhịp thơ trở nên dồn dập, giục giã, hối thúc:

“Anh nhớ tiếng / anh nhớ hình / anh nhớ ảnh”

(Tương tư chiều_Xuân Diệu) Hay có khi nhịp thơ ngắt quãng thật ngắn như thể hiện bước chân vội vã trong trạng thái nồng nhiệt tha thiết:

“Yêu / yêu / yêu mãi thế này

Ta như một kẻ / sa lầy trong yêu Cao bao nhiêu / thấp bao nhiêu Một/ hai/ ba / bốn/ năm chiều rồi thôi”

(Lòng yêu đương _ Nguyễn Bính)

Về phương diện xây dựng ngôn ngữ dân tộc, thơ mới đã có nhiều đóng góp Khác với lối nói ước lệ, sáo rỗng của thơ cũ, ngôn ngữ thơ mới giàu hình tượng và cảm xúc Thơ mới đã mang đến khả năng kết hợp giữa các từ rất mới:

“ Long lanh tiếng sỏi vang vang hận”

(Nguyệt cầm_Xuân Diệu) Thơ mới đã có những thành công trong việc sử dụng nghệ thuật hòa âm, láy âm:

“Những luồng run rẩy rung rinh lá”

(Đây mùa thu tới_Xuân Diệu) Nếu trước kia trong thơ ca Việt Nam các thi sĩ vận dụng các biện pháp tu từ nhưng chưa ý thức rõ rệt về vai trò và tác dụng của chúng, thì thơ mới đã kế thừa những thủ pháp nghệ thuật thơ ca trung đại để mang lại những giá trị nghệ thuật độc đáo mới mẻ cho thơ mới

Trang 22

Nghệ thuật so sánh đạt đến độ điêu luyện và đầy tính sáng tạo Ta bắt gặp ở thơ Nguyễn Bính lối so sánh hiện đại nhưng cũng gần gũi với ca dao:

“Ví chăng nhớ có đủ như tơ vậy

Em thử quay xem được mấy vòng

Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ

Em thử bào xem được mấy thư”

(Nhớ_Nguyễn Bính) Đặc biệt trong thơ mới nghiêng về tả cảm xúc, rất nhiều trạng thái cảm xúc trừu tượng so sánh trở nên cụ thể:

“Lòng ta trắng lắm, lòng ta sụp Như túp nhà không bốn vách xiêu”

(Bên ấy, Bên này_Xuân Diệu) Ngoài ra nghệ thuật nhân hóa trong thơ mới không còn rơi vào sáo mòn như trong thơ ca giai đoạn trước Thiên nhiên mang cả tâm hồn nhà thơ:

“ Tôi thâu tê tái trong da thịt Hương đất hương đồng chẳng ngớt tuôn”

(Lời con đường quê_Tế Hanh) Trong thơ mới còn xuất hiện những hình ảnh ẩn dụ mang tính chất chuyển đổi cảm giác tạo nên những câu thơ tuyệt vời:

“ Này lắng nghe em khúc nhạc thơm”

(Huyền diệu_Xuân Diệu)

Ở đây đã có sự chuyển đổi cảm giác từ thính giác sang khứu giác

Đảo ngữ cũng là một nét mới trong thơ mới, thường bắt gặp ở những tính từ, động từ, trạng từ chỉ cảm giác, cảm xúc để gây ấn tượng:

“Đêm qua mưa gió lạnh lung trời Anh ơi, em đi lạnh lẽo người”

(Hết ngày - hết tháng_Xuân Diệu) Tóm lại sự cách tân trong thơ mới nói chung và giai đoạn (1932-1942) nói riêng là cả một hệ thống gồm nhiều yếu tố Trên đây chỉ là một vài yếu tố cách tân trong thơ mới về nội dung và nghệ thuật để nhằm thấy được những điểm đổi mới của thơ mới so với thơ ca trung đại trước đó Nhìn chung, thành tựu của phong trào thơ mới là kết quả của cuộc cách mạng toàn diện trong thơ ca Cuộc cách mạng ấy vừa

Trang 23

mang lại cho nền thơ ca Việt Nam một diện mạo mới, vừa làm nền tảng cho sự phát triển của thơ ca ở những giai đoạn tiếp theo

1.4 Vị trí ý nghĩa của thơ mới

Thơ mới chiếm giữ một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của văn học Trước hết bởi vì đó là kết quả của quá trính vận động, đổi mới và phát triển của thơ ca Có thể nói sự ra đời của thơ mới đã đánh dấu được một thành quả vô cùng to

lớn kể từ trước tới nay “ đã thế không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện lập

dị do một bọn dốt nát bày đặt ra để tìm kiếm chỗ ngồi trong làng thơ Nó là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại” [ 23; tr 22] Và “1935, cái năm đại náo trong làng thơ đi qua bước sang 1936 sự toàn thắng thơ mới đã rõ rệt” [23;tr

30] Ngoài việc có ý nghĩa kết thúc thơ ca cũ thì thơ mới còn khẳng định được vị trí của mình trong diễn đàn văn chương Vậy, một điều không thể phủ nhận rằng thơ mới

là kết tinh, kế thừa và phát triển của nền thơ ca cũ Nó là sản phẩm biến đổi về chất Chính vì thế nhìn theo tiến trình của lịch sử văn học thì phải công nhận rằng thơ mới giữ một vai trò thiết yếu và tất yếu của nhu cầu thời đại

Phong trào thơ mới ra đời và phát triển là một sự kiện nổi bật của văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1932-1942 trên con đường hiện đại hóa Sự kiện này đã tạo cho nền thơ ca Việt Nam một diện mạo mới Từ đây thơ ca Việt Nam thực sự có một bước phát triển đột biến, nhảy vọt Trong tiến trình lịch sử văn chương dân tộc nói chung và thơ ca nói riêng, trước khi phong trào thơ mới ra đời, trải qua hàng chục thế

kỷ, chưa hề có một sự kiện nào tạo nên được những biến đổi to lớn cho thơ ca như phong trào thơ mới Phong trào thơ mới là sự kiện khởi sắc của nền thơ ca dân tộc Nó

là một bước ngoặt quan trọng, mở ra một kỉ nguyên mới cho thơ ca, nâng thơ ca Việt

Nam lên ngang tầm với nền thơ ca hiện đại thế giới, bởi lẽ “thơ mới trước hết là một cuộc thí nghiệm táo bạo để định lại giá trị những khuôn phép xưa” [03; tr 227] và “ trong khoảng thời gian 1932 đến 1936 thơ mới đã làm một việc định giá lại các thể thơ cũ” [04;tr 263]

Ngoài ra thơ mới còn mang một ý nghĩa quan trọng trong việc giảng dạy trong nhà trường Đây là vấn đề truyền đạt kiến thức ở người giáo viên đến học sinh Nó đòi hỏi người giáo viên phải sơ lược và tổng hợp quá trình vận động và phát triển của nền thơ ca, từ đó đưa ra cái nhìn về thơ mới, có như thế học sinh mới có thể thấy được tầm quan trọng sâu sắc của thơ mới như thế nào đối với việc học tập ở nhà trường hiện nay Từ đó có được sự hiểu biết và trình độ nhận thức đúng đắn về thơ mới

Việc giảng dạy văn học nói chung và mảng thơ mới nói riêng ở nhà trường phổ thông hiện nay đòi hỏi làm thế nào để có thể cho học sinh thấy được những mặt tích cực, những thành tựu đạt được của thơ ca trong nền văn học của dân tộc Để hiểu hết ý nghĩa và thấy rõ tầm quan trọng của việc lĩnh hội dòng thơ mới thì một điều chắc chắn rằng không thể không giới thiệu mảng thơ ca hiện đại đến với học sinh Chính vì

Trang 24

thế mà thơ ca hiện đại giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong nền thơ ca của dân tộc

và trong việc giảng dạy thơ ca trong nhà trường hiện nay

2 Các xu hướng dạy học hiện đại

2.1 Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học

Ngày nay việc dạy và học đã từng bước được đổi mới, phù hợp với sự phát triển của xã hội Chính vì thế phải đặt ra yêu cầu mới hơn về việc giảng dạy trong nhà trường hiện nay, đó là dạy học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm Xem học sinh là chủ thể của quá trình nhận thức, chiếm lĩnh tri thức bằng cách không chỉ tiếp nhận mà còn lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sáng tạo Trong khi đó, giáo viên giờ đây chỉ giữ vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh và phát triển kiến thức một cách tốt nhất Như vậy giáo viên là chủ thể tổ chức điều khiển tiến trình dạy học, học sinh vừa là đối tượng của quá trình tổ chức vừa là chủ thể tự giác và tích cực trong quá trình nhận thức, đồng thời vừa rèn luyện kỹ năng hoạt động sống Giáo viên và học sinh giờ đây cùng tồn tại song song, hoạt động phối hợp nhịp nhàng với nhau, tuy nhiên đóng vai trò trung tâm đó chính là học sinh

Nhìn chung mô hình này chủ yếu là mô hình về phương pháp dạy học, đó là

hệ phương pháp tự học hay là phương pháp dạy học tích cực theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm Hệ thống phương pháp này chính là hệ thống phương pháp tổng hợp và tích hợp nhiều phương pháp gần gũi như nhau, như : phương pháp tích cực, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề và một phần nào đó của phương pháp chương trình hóa

Việc dạy, lấy học sinh làm trung tâm có nghĩa người học, chủ thể của hoạt động học tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách tìm ra kiến thức bằng chính hành động của mình Tự đặt mình trước các tình huống, các vấn đề thực tiễn cụ thể và sinh động của cuộc sống Có nghĩa người học tự tìm tòi quan sát, mô tả, giải thích các vấn

đề, tự tìm ra kiến thức mới và tạo ra sản phẩm ban đầu có tính chất cá nhân (cá nhân hóa việc học) Phương pháp dạy học tích cực còn phát huy các mối quan hệ giữa trò-lớp-thầy, trong đó trò là chủ thể Điều đó có nghĩa là trò là chủ thể tự kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh căn cứ vào sự hợp tác, trao đổi , thảo luận với các bạn và thông qua kết luận của giáo viên Người thầy giờ đây chỉ kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học sinh trên cơ sở đánh giá và điều chỉnh

Đặc biệt phương pháp dạy học tích cực đã có sự đổi mới và hiện đại hơn bởi người thầy không còn là người độc quyền đánh giá tiến trình học tập cũng như kết quả học tập của học sinh mà việc đánh giá thể hiện ở ba góc độ: thầy đánh giá trò, trò đánh giá trò, và trò tự đánh giá bản thân mình Nhìn chung quan điểm dạy học hiện đại xem học sinh là trung tâm nghĩa là lấy học sinh làm tiêu chuẩn phấn đấu cho sự nghiệp giáo dục và lấy học sinh làm động lực chính để tiến hành toàn bộ quá trình dạy học Học sinh vừa là mục tiêu, vừa là động lực, đây cũng là bản chất của quan điểm giáo

Trang 25

dục mới, đúng đắn, hợp lí và khách quan Là quá trình vừa có ý nghĩa lí luận vừa có ý nghĩa thực tiễn to lớn và là một cách nhìn chiến lược đối với toàn bộ tiến trình tổ chức giáo dục và đào tạo

Tóm lại khơi dậy và phát huy tối đa khả năng tự học sáng tạo của người học vừa là mục tiêu vừa là phương pháp giáo dục Truyền thống tự học, học nữa học mãi,

đó là con đường tự đào tạo suốt đời của mỗi người trong điều kiện kinh tế-xã hội nước

ta hiện nay và cả mai sau Đó là truyền thống quý báo của dân tộc Việt Nam Có tự học tốt mới phát huy được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập mới có được tư duy phê phán, có khái niệm phát hiện vấn đề và nhờ đó mới có tư duy sáng tạo Người học giỏi là người biết cách tự học Người dạy giỏi là người biết làm cho học sinh tự học tốt

2.2 Những định hướng trong quá trình dạy học của Marzano

2.2.1 Thái độ nhận thức tích cực về việc học

Đây là định hướng cơ sở giúp học sinh thực hiện tốt quá trình học Hai nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học của học sinh là không khí lớp học và nhiệm vụ học tập được giao Học sinh sẽ cảm thấy thoải mái, dễ chịu khi được sự quan tâm, tôn trọng của giáo viên và bạn bè trong lớp, cùng với một trật tự lớp hợp lí, khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh sẽ cao hơn Giáo viên cần tạo sự thoải mái trong lớp học với thái độ cởi mở, thân thiện, tạo tinh thần hợp tác trong học tập giữa các học sinh thông qua những bài tập thảo luận nhóm, động viên, khuyến khích các em trong quá trình học tập

2.2.2 Thu nhận và tổng hợp kiến thức

Mục đích chính của định hướng này là cung cấp kiến thức cho học sinh tìm ra phương pháp giúp học sinh thu nhận và tổng hợp kiến thức một cách có hiệu hiệu quả Marzano phân chia kiến thức nội dung làm hai kiểu : kiến thức thông báo và kiến thức qui trình Giáo viên phải giúp học sinh xây dựng ý nghĩa bằng cách đưa ra câu hỏi liên quan đến nội dung bài học, định hướng, dẫn dắt, hệ thống những kiến thức đã học vào nội dung của bài học Để học sinh có thể nhớ và khắc sâu kiến thức Còn kiến thức qui trình là cách làm thí nghiệm, cách giải một bài toán, cách đặt câu giáo viên phải làm mẫu cho học sinh theo dõi, nhớ, tái hiện lại tiến trình ấy Đây được xem như giai đoạn định hình kiến thức

2.2.3 Mở rộng và tinh lọc kiến thức

Trước sự biến đổi của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật ngày một phát triển, những kiến thức, kĩ năng mà học sinh thu nhận nhanh chóng trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với thời đại Vì vậy, học sinh không thể tiếp thu kiến thức một cách rập khuôn, máy móc mà phải phát huy khả năng mở rộng và tinh lọc kiến thức: phương pháp sử dụng các loại câu hỏi (so sánh, phân loại, qui nạp,…) phương pháp hướng dẫn

Trang 26

học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức bằng các hoạt động (so sánh, phân loại, qui nạp,…) Điều này buộc học sinh phải tư duy để giải quyết các vấn đề mà giáo viên đưa ra, học sinh sẽ nắm và hiểu kiến thức vững hơn, quan trọng là học sinh biết cách

sử dụng những kiến thức ấy như thế nào là phù hợp Giáo viên sẽ là người rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy, sáng tạo, tự học để giúp học sinh hiểu bài tốt và sâu sắc hơn

2.2.4 Sử dụng kiến thức có hiệu quả

Trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức

mà điều quan trọng là giúp học sinh vận dụng những kiến thức đó có hiệu quả Giáo viên có thể đưa các dạng bài tập đảm bảo về độ khó, hay các dạng bài tập thực hành đòi hỏi học sinh phải tư duy sáng tạo mới có thể giải quyết được Qua việc giải quyết các bài tập, học sinh sẽ tiến hành các hoạt động điều tra, kiểm chứng bằng thực nghiệm, giả quyết vấn đề và phát minh

Trong năm định hướng thì định hướng bốn là yếu tố then chốt, mục đích cũng

là rèn luyện cho học sinh vận dụng kiến thức để xem xét – giải quyết vấn đề một cách

có hiệu quả

2.2.5 Rèn luyện thói quen tư duy

Rèn luyện thói quen tư duy cho học sinh không phải là vấn đề diễn ra một sớm một chiều, trong một môn học hay một cấp học mà đó là cả một quá trình rèn luyện lâu dài Thói quen này sẽ giúp học sinh có thể tự học bất cứ thứ gì họ muốn ở bất cứ nơi nào, khi nào Vì thế, trên thực tế, giáo viên phải rèn luyện cho học sinh ba thói quen tư duy: tư duy tự điều chỉnh, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo

- Tư duy tự điều chỉnh: Có khả năng nhận thức, biết lập kế hoạch cho công việc, nhạy bén, tự đánh giá hiệu quả các hoạt động của bản thân

- Tư duy phê phán: Nhận biết sự chính xác và tìm kiếm sự chính xác, không bảo thủ, không bốc đồng, biết bảo vệ quan điểm đúng, nhạy bén với những suy nghĩ của người khác…

- Tư duy sáng tạo: Tiến hành công việc một cách mạnh bạo ngay cả khi chưa

có câu trả lời, biết mở rộng kiến thức…

Năm định hướng trong quá trình dạy học của Marzano có một vị trí, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hỗ trợ về mặt phương pháp cho học sinh Năm định hướng được sử dụng một cách đan xen, tùy theo từng phân môn, từng tiết học trong những điều kiện cho phép mà giáo viên có thể sử dụng linh hoạt các định hướng khác nhau

3 Dạy học hợp tác

3.1 Khái niệm dạy học hợp tác

Trang 27

“Học hợp tác là một hình thức tổ chức dạy học trong đó các nhóm học sinh cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên nêu ra từ đó rút ra bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên”.[20; tr 02]

3.2 Cách chia nhóm

Có hai cách chia nhóm: Ngẫu nhiên và chỉ định Chia nhóm ngẫu nhiên có nghĩa là tùy thuộc vào số thành viên trong mỗi nhóm, giáo viên cho học sinh điểm số, những em cùng số sẽ thuộc về một nhóm Còn chia nóm theo kiểu chỉ định là cho những em ngồi gần nhau thành một nhóm Dù chia lớp theo cách nào thì giáo viên cũng cần phải lưu ý các vấn đề sau:

+ Các thành viên trong nhóm phải gồm các học sinh đủ mọi trình độ cũng như là không phân biệt giới tính

+ Khi chia nhóm phải chú ý đến thời lượng của tiết học, nội dung bài dạy và

số lượng học sinh lẫn bàn ghế trong lớp

+ Giáo viên nên hạn chế sử dụng loại hình trên bảy học sinh, vì như thế sẽ có

sự lạc lõng giữa các mối quan hệ của các học sinh

+ Khi chia nhóm giáo viên phải phân công cụ thể, rõ ràng cho từng thành viên và các học sinh cùng hợp tác để giải quyết vấn đề

+ Đặc biệt không nên lạm dụng quá nhiều việc thảo luận nhóm trong một tiết học Chỉ nên cho học sinh thảo luận những vấn đề trọng tâm, phức tạp, những câu hỏi khó với mục đích buộc học sinh khám phá kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm, rèn luyện năng lực hợp tác

3.3 Loại hình nhóm:

3.3.1 Nhóm cố định

Là loại hình nhóm hoạt động cùng nhau trong suốt một thời gian từ một tuần đến vài tuần lễ thậm chí một học kỳ, có nhiệm vụ thực hiện một bài tập lớn, phức tạp mang tính nghiên cứu

3.3.2 Nhóm không cố định

Là loại hình nhóm gồm những học sinh cùng nhau làm việc từ một vài phút đến một tiết học và có thể được thành lập nhiều lần trong một giờ học, số lượng thành viên trong nhóm là 3 hay 4,5 tùy thuộc vào số lượng học sinh trong lớp

Có nhiều loại hình nhóm khác nhau: Nhóm hai học sinh, nhóm 4,5 học sinh, nhóm ghép, nhóm kim tự tháp và nhóm trà trộn

3.4 Vai trò nhiệm vụ của người giáo viên trong dạy học hợp tác

Trang 28

Học hợp tác là một hình thức của dạy học tích cực theo quan điểm “ học sinh là

trung tâm của quá trình dạy học” Do đó vai trò của người giáo viên trong các giờ học hợp tác là tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm kiếm, khám phá kiến thức, đánh giá hoạt động học tập của mình và động viên, khuyến khích học sinh tự học chứ không làm thay cho học sinh Đồng thời dạy học sinh kỹ năng học hợp tác

Trước tiên người giáo viên cần phải thiết kế các bài tập, các vấn đề, các tình huống cho các nhóm giải quyết Muốn cho việc học hợp tác có hiệu quả thì người giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh cảm thấy thích thú, có thể bày tỏ được ý kiến, quan điểm của riêng mình, tránh trường hợp tạo không khí căng thẳng gây sợ hãi khi phải đóng góp ý kiến Do vậy nhiệm vụ của người giáo viên là phải tạo ra bầu không khí học tập sao cho thoải mái, thân thiện cởi mở đồng thời dạy học sinh cách tạo bầu không khí này Và để tạo được bầu không khí thoải mái của lớp học như thế giáo viên cần phải có cách bày trí lớp học có sự phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong lớp bằng cách giao nhiệm vụ cho cả nhóm cùng nhau giải quyết, và để cho các em tránh tình trạng ỷ lại vào nhóm mà lơ là việc hợp tác thì giáo viên cần phân công từng nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm, vai trò của các thành viên phải được chuyển đổi trong mỗi lần thảo luận Trong khi học sinh thảo luận những vấn đề được giao, thì giáo viên phải đến gần các nhóm để nhắc nhở vấn đề thời gian, giải đáp thắc mắc, lắng nghe ý kiến đóng góp của học sinh , những vấn đề nảy sinh trong quá trình thảo luận, những ý kiến hay của học sinh và yêu cầu học sinh đó phát biểu lại ý kiến trước cả lớp Bên cạnh đó, giáo viên phải chú ý quan sát tinh thần, thái độ làm việc của các học sinh Điều này giúp giáo viên có thể đánh giá từng học sinh và đánh giá các nhóm công bằng hơn

Dạy học theo hình thức thảo luận nhóm đòi hỏi giáo viên phải sáng tạo trong việc xây dựng bài tập thảo luận, linh hoạt trong việc tổ chức thảo luận Thiếu những phẩm chất này, việc áp dụng thảo luận nhóm trong dạy học khó có thể thành công, và

đó cũng nhằm xác định vai trò và nhiệm vụ của người giáo viên trong việc tổ chức học hợp tác

3.5 Thiết kế bài tập thảo luận nhóm

Thiết kế bài tập cho học sinh thảo luận là một thử thách lớn đố với người giáo viên Để làm được điều này đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững kiến thức của bài học, trình độ của học sinh Nói cách khác đây là hình thức dạy học khám phá, đòi hỏi giáo viên phải thiết kế được các nhiệm vụ học tập cho học sinh tự khám phá kiến thức Điều đó được thể hiện ở nội dung và hình thức của việc thiết kế bài tập thảo luận

+ Yêu cầu về nội dung : Cần tránh những câu hỏi mà học sinh không cần tư duy hoặc câu trả lời đã có sẵn trong sách giáo khoa Đồng thời các nhiệm vụ khám phá phải được xây dựng xoay quanh những nội dung trọng tâm của bài học, sao cho quá trình giải quyết các nhiệm vụ này, học sinh sẽ tự rút ra được bài học

Trang 29

+ Yêu cầu về hình thức : Hình thức bài tập khám phá đa dạng Nhiệm vụ khám phá có thể là câu hỏi, yêu cầu giải thích, giải thích sơ đồ, mô hình, điền vào biểu bảng…

Tùy vào thời gian cho phép mà người giáo viên sử dụng các cách giao bài tập khác nhau

3.6 Các dạng bài tập thảo luận nhóm:

- Các bài tập định hướng bài học: Với dạng bài tập này thì giáo viên có thể sử dụng hình thức hỏi đáp, yêu cầu học sinh đọc bài sắp học và ghi những câu hỏi về những vấn đề của bài học Hay giáo viên có thể sử dụng hình thức thuyết trình bằng cách cho mỗi nhóm học sinh chuẩn bị một vấn đề trong bài sắp học và sau đó thuyết trình trên lớp Ngoài ra giáo viên còn có thể cho học sinh sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh, sách tham khảo, hoặc thu thập thông tin từ những người có hiểu biết về những vấn đề liên quan đến bài học

- Các bài tập giúp học sinh khám phá kiến thức mới, trong quá trình dạy bài mới giáo viên có thể sử dụng một số dạng bài tập như :

+ So sánh: yêu cầu học sinh so sánh, rút ra những điểm giống, khác nhau giữa hai sự kiện, hai vấn đề

+ Phân tích: giáo viên yêu cầu học sinh phân tích một số vấn đề của bài học như kết cấu ngữ pháp của một câu, cấu trúc một văn bản, hay phân tích tính cách một nhân vật…

+ Tổng hợp: giáo viên yêu cầu các nhóm, hoặc cá nhân khái quát lên một vấn

+ Viết: bằng cách chia nhóm và cho mỗi nhóm một đề tài, các nhóm thảo luận xây dựng dàn ý cho bài viết Sau đó cả nhóm cùng viết bài

+ Biên tập: giáo viên sẽ yêu cầu học sinh viết bài, sau đó trao đổi bài viết của mình cho các bạn trong nhóm nhận xét, đánh giá theo tiêu chí chung

+ Sửa sai: giáo viên có thể ra một bài tập sai sau đó yêu cầu các nhóm phát hiện lỗi và điều chỉnh lại cho đúng

- Các bài tập củng cố - ôn tập kiến thức: Để giúp học sinh củng cố lại kiến thức vào cuối giờ học hoặc ôn lại kiến thức trong giờ ôn tập, giáo viên có thể sử dụng một số dạng bài tập sau:

Trang 30

+ Tóm tắt bài học: giáo viên yêu cầu hai hoặc ba học sinh nhớ lại và tóm tắt những điểm chính của bài học bằng nhiều cách khác nhau như vẽ sơ đồ, biểu bảng… + Hỏi-đáp: giáo viên chia mỗi nhóm hai học sinh, sau đó cho câu hỏi và tự hai học sinh sẽ hỏi đáp, hoán đổi vị trí

+ Viết bài: yêu cầu học sinh viết bài thu hoạch ngắn trong khoảng thời gian nhất định

+ Ghép đôi: yêu cầu học sinh nối kết hai cột thông tin cho sẵn sao cho đúng, tương tự như hình thức trắc nghiệm ghép đôi

+ Phiếu ôn tập: hình thức này áp dụng cho cuối học kỳ hoặc cuối năm nhằm giúp học sinh củng cố lại những kiến thức

Sự phân chia ba loại bài tập trên chỉ mang tính chất tương đối Vì thế giáo viên còn có thể sử dụng một số dạng bài tập khác như bài tập thuyết trình, phân tích, tổng hợp…

3.7 Quy trình tổ chức thảo luận nhóm

Mỗi hoạt động tổ chức thảo luận nhóm trải qua những bước sau:

Bước 1: Giáo viên chia nhóm

Bước 2: Giao vấn đề cho các nhóm thảo luận, quy định thời gian thảo luận Bước 3: Quản lí nhóm, giáo viên phải theo dõi, nhắc nhở các nhóm về thời gian cũng như nhắc nhở những học sinh thụ động

Bước 4: Học sinh báo cáo kết quả, giáo viên đánh giá và ghi lại những ý đúng

3.8.Tác dụng của học hợp tác

3.8.1 Đối với học sinh

+ Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh trong lớp

+ Rèn luyện tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm

+ Phát huy tinh chủ động sáng tạo năng lực tư duy cho học sinh

+ Tập cho học sinh khả năng nhận xét, đánh giá một vấn đề

+ Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ được những suy nghĩa, chính kiến của mình + Tạo điều kiện cho tất cả mọi học sinh có cơ hội tham gia vào các hoạt động học tập trong lớp

+ Tăng cơ hội học hỏi cho học sinh

+ Học sinh có thể bổ sung khuyết điểm cho nhau về tri thức, thái độ

+ Rèn luyện năng lực diễn đạt, cách trình bày một vấn đề

+ Rèn luyện được sự tự tin, lòng tự trọng

+ Có cơ hội tự điều chỉnh phương pháp học ở bản thân

Trang 31

3.8.2 Đối với giáo viên

+ Có thể đánh giá chính xác mức độ nhận thức, năng lực tư duy của học sinh + Có thể điều chỉnh phương pháp dạy học

+ Ghi nhận một số đóng góp ý kiến của học sinh mà trước đó giáo viên chưa nghĩ đến

4 Các phương pháp dạy học ngữ văn

4.1 Phương pháp đọc

Đây là phương pháp quan trọng trong dạy ngữ văn Bao gồm phương pháp đọc tác phẩm và đọc diễn cảm Ta cần biết đọc là một hình thức giảng dạy trực tiếp tác động đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người nghe, làm sống dậy những ngôn từ chết, làm cho người nghe nhìn thấy những thứ mà đã được nghe Có thể rèn luyện năng lực tri giác, tái tạo âm thanh, năng lực nhận thức và kĩ năng truyền đạt hình tượng tác phẩm Có rèn luyện cách đọc, học sinh mới biết được cách đọc sáng tạo, cách tiếp cận tích cực và hướng đến việc tiếp nhận cái hay, cái đẹp trong tác phẩm văn chương Một trong cách rèn luyện hay nhất, hiệu quả nhất là đọc diễn cảm, tức là học sinh phải đọc đúng, đọc hay, phát huy ưu thế và chất giọng, sử dụng mọi sắc thái tình cảm của giọng đọc vui – buồn, ca ngợi – mỉa mai,… và cách ngắt giọng, nhấn mạnh trọng âm,… Mỗi cách đọc đều hướng tới một mục đích nhất định Muốn phát huy phương pháp đọc trong dạy – học văn, thì người giáo viên cần chú ý bồi dưỡng cho

học sinh về ý thức và kĩ năng đọc “ các nhà nghiên cứu điều quan niệm rằng đọc diễn cảm tác phẩm văn chương là một “ phương pháp nhận thức khoa học chân thực

và sinh động nhất” [28; tr 92] Bởi vì đọc diễn cảm “ cũng là một hình thức khảo sát tác phẩm văn chương” [28;tr 92] Nó kích thích hoạt động tưởng tượng và gây hứng

thú cho học sinh, giúp học sinh có những ấn tượng sâu sắc, những xúc cảm nghệ thuật không thể nào quên

4.2 Phương pháp đàm thoại

Đàm thoại là phương pháp giáo viên xậy dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh trả lời hoặc trao đổi, tranh luận với sự chỉ đạo của giáo viên Để qua đó, học sinh có thể tiếp nhận được kiến thức Sử dụng câu hỏi trong đàm thoại là một trong những cách thức tiện lợi nhất để kích thích học sinh học tập tích cực Nhưng đây là một thách thức đối với giáo viên Cho nên, giáo viên cần chuẩn bị kĩ giáo án, nắm vững nội dung bài học và những câu hỏi giáo viên đưa ra phải có tính hệ thống, phải ngắn gọn,

rõ ràng, phù hợp với từng đối tượng học sinh Câu hỏi giáo viên nêu lên chỉ là định hướng, gợi mở khả năng khám phá tri thức chứ không nên là sự lặp lại

4.3 Phương pháp trực quan

Trang 32

Trực quan là một trong những phương pháp dạy học cơ bản “ trăm nghe không bằng một thấy ” Con người tiếp nhận thông tin bằng nhiều kênh : thị giác, thính giác,

xúc giác Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức của giáo viên sưu tầm, thiết kế học sinh ít được cơ hội nhìn, được sờ hình ảnh, vật mẫu, làm thí nghiệm,…Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản giúp học sinh hệ thống hóa, khát quát hóa, cụ thể hóa kiến thức

Khi áp dụng phương pháp trực quan, giáo viên có thể sử dụng các trang thiết

bị, công cụ thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin để giúp cho quá trình dạy học đạt kết quả cao nhất Mặc dù sử dụng các phương tiện trực quan sẽ mang đến nhiều thuận lợi, hữu ích cho cả giáo viên và học sinh, nhưng nếu lạm dụng phương tiện trực quan vào quá trình dạy học sẽ gây nhiều bất cập Như thế, sẽ làm mất đi ý nghĩa của ngôn từ, làm hạn chế tầm liên tưởng, sự tư duy tưởng tượng,…Nên vấn đề đặt ra ở đây là giáo viên cần phải cân nhắc khi sử dụng phương tiện trực quan với mức độ hợp lí, đúng lúc, đúng mục đích bài học

4.4 Phương pháp dạy học nêu vấn đề

Ngày nay phương pháp nêu vấn đề đã được sử dụng rộng rãi trong việc giảng dạy nói chung và môn văn nói riêng Phương pháp này được xây dựng trên một luận điểm độc đáo, duy nhất là phải tạo ra được những tình huống có vấn đề Đặc biệt đối với phương pháp nêu vấn đề cần chú ý đến hệ thống câu hỏi cho một tình huống có

vấn đề, đó không phải là những câu hỏi thông thường mà “ nó là hệ thống những câu hỏi, vừa tạo những tình huống bất ngờ và vừa nêu được những vấn đề không thể không giải quyết” [28 ;tr 95] Đều đáng chú ý nữa là những tình huống có vấn đề ấy

sẽ được học sinh đón nhận bằng những con đường khác nhau để tìm tòi, khám phá Trong quá trình giải quyết vấn đề, giáo viên luôn đi bên cạnh học sinh với tư cách của

người dẫn truyện, người “phản biện” hay người “trọng tài”…nhằm thực hiện “các chức năng của phương pháp này là đào tạo những con người có thói quen tham gia các hoạt động sáng tạo và các năng lực tự nhận thức trong những điều kiện mới của

xã hội hiện đại” [28;tr 94]

Bên cạnh việc nêu vấn đề, thì việc giải quyết vấn đề phải được đặt trong những điều kiện cho phép của những tri thức về văn chương nghệ thuật, về các hình thức

nghệ thuật, và thể loại văn chương mà học sinh đã lĩnh hội vì “ giải quyết một tình huống có vấn đề là một quá trình rèn luyện các thao tác tư duy và các hoạt động sáng tạo của học sinh” [28; tr 94]

Trang 33

Chương II THIẾT KẾ GIÁO ÁN CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI GIAI ĐOẠN (1932-1942) TRONG SGK NGỮ VĂN LỚP 11 TẬP 2

1 Lý thuyết soạn giáo án

“Giáo án là sự hình dung trước những công việc mà người giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh học tập trên lớp”[25; tr 155]

Việc soạn giáo án là một công việc rất thường xuyên và liên tục của người giáo viên Chính vì thế nó đòi hỏi ở người giáo viên sự tận tâm tận lực hết mình với công việc để làm nên những giáo án cho chính bản thân mình nhằm phục vụ cho công việc

giảng dạy Vì “ không thể có một giáo án chung Chỉ có thể nêu lên những định hướng lớn, những nội dung cơ bản mà tất cả giáo viên khi soạn giáo án cần chú ý” [25;tr

156]

Điều này thể hiện rõ trong sách giáo viên, đó là những định hướng, những gợi ý cần thiết để giáo viên có thể tham khảo, mở rộng kiến thức và lựa chọn cách tổ chức học tập sao cho phù hợp Khi soạn giáo án giáo viên cần chú ý trong quá trình thiết kế

giáo án sao cho phù hợp với đặc trưng từng thể loại, bởi vì “ mỗi loại bài học đòi hỏi một giáo án tương ứng: giờ đọc văn, tiếng việt và giờ tập làm văn (lí thuyết và thực hành) [25;tr 156]

Như đã nói giáo án là một sự hình dung trước những công việc mà người giáo viên sẽ đảm nhiệm thực hiện trên lớp Chính vì thế người giáo viên phải nắm được toàn bộ tiến trình trên lớp cũng như nắm rõ cấu trúc từng tiết dạy, để làm cơ sở cho việc soạn giáo án dễ dàng hơn Thông thường một giờ dạy trên lớp được chia làm bốn giai đoạn, mỗi một giai đoạn điều mang ý nghĩa nhất định về lí luận dạy học:

- Giai đoạn mở đầu tiết học: thời gian cho giai đoạn này khá ít, khoảng 7 phút Mục đích của giai đoạn này là chuẩn bị kiến thức cũng như tâm lí thoải mái cho học sinh bước vào bài học mới Các công việc kiểm tra đầu giờ và mở bài Việc kiểm tra đầu giờ vừa đánh giá việc học của học sinh vừa là công việc chuẩn bị tri thức cho học sinh bước vào bài học mới Theo đó giáo viên có thể có nhiều phương pháp để mở đầu bài giảng như : phương pháp kể chuyện, phương pháp xây dựng tình hướng có vấn

đề…đôi khi có thể dùng vấn đề kiểm tra để đi vào bài mới, vì “ việc mở đầu bài giảng một cách tự nhiên sẽ tạo bầu không khí vui tươi, thoải mái, làm cho học sinh bước vào bài mới một cách tự tin” [ 25; tr 10]

- Giai đoạn nghiên cứu tài liệu mới: Đây là giai đoạn chính của tiết học, vì vậy thời gian dành cho giai đoạn này sẽ chiếm phần lớn trong tiết học, khoảng 35 phút Mọi phương pháp điều có thể vận dụng vào để khai thác tài liệu mới Bên cạnh việc kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy ở giai đoạn này không kém phần quan trọng,

Trang 34

mục đích nhằm để không gây sự nhàm chán, mất hứng thú học ở học sinh Làm tăng

sự sinh động cho tiết học

- Giai đoạn củng cố kiến thức: Giai đoạn này nhằm hệ thống lại khối kiến thức vừa được học, nhấn mạnh kiến thức trọng tâm, thời gian cho giai đoạn này khá ít khoảng 3 phút Tương ứng với giai đoạn này là phương pháp củng cố và phương pháp

hệ thống hóa

- Giai đoạn giao nhiệm vụ về nhà: Tuy thời gian dành cho giai đoạn này không nhiều, nhưng không thể thiếu Giáo viên ra bài tập cho học sinh về nhà làm, hoặc nêu câu hỏi cho học sinh chuẩn bị, nhằm giúp học sinh ôn lại kiến thức vừa được học đồng thời chuẩn bị kiến thức mới nhằm phục vụ cho tiết học sau được tốt hơn

Tóm lại, dựa vào cấu trúc của bài dạy giáo viên sẽ có cơ sở trong việc soạn giáo án Xác định được các công việc thông qua các giai đoạn cấu trúc của bài dạy từ

đó nắm được nội dung trọng tâm của bài học cũng như giai đoạn chính của tiết học để

có cách kết hợp tốt các phương pháp dạy học sao cho hiệu quả Ngoài ra, bên cạnh đó phải tổ chức, bố trí thời gian cho hợp lí, chặt chẽ để cho tiết học đạt hiệu quả cao hơn

2 Giới thiệu thơ mới trong chương trình môn Ngữ văn ở THPH

Trong chương trình SGK Ngữ văn 11(bộ cơ bản) tập trung những tác phẩm thơ mới hiện đại Việt Nam từ nửa đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8/1945 Cùng với

sự chuyển biến của tình hình xã hội, văn học thời kì này, đặt biệt là từ những năm

1930 trở đi đã phát triển nhanh chóng

Tác phẩm thơ mới hiện đại Việt Nam theo phân phối chương trình lớp 11 gồm các bài và số tiết cụ thể:

- Vội vàng _ Xuân Diệu (1 tiết )

- Tràng giang _ Huy Cận ( 1 tiết )

- Đây thôn vĩ dạ_ Hàn Mặc Tử (2 tiết )

- Chiều tối _ Hồ Chí Minh (1 tiết )

- Từ ấy _ Tố Hữu (1 tiết )

Trang 35

3 Thiết kế giáo án các tác phẩm thơ mới giai đoạn (1932-1942) trong SGK Ngữ văn lớp 11 tập 2.

- Thấy được sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc mãnh liệt, dồi dào và mạch luân lí chặt chẽ, cùng với những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của nhà thơ

2 Kỹ năng

- Rèn luyện cho học sinh đọc diễn cảm và hiểu được văn bản thơ

- Hình thành cho học sinh tính chủ động, tích cực trong học tập

- Có thể phân tích nội dung tác phẩm nói chung và tác phẩm thơ nói riêng

- Giúp học sinh biết cách mở rộng và tinh lọc kiến thức có hiệu quả

3 Thái độ

-Thấy được tài hoa và tấm lòng của Xuân Diệu đối với tình yêu cuộc sống

-Từ đó biết trân trọng tài năng và thêm yêu cuộc sống

II Kiến thức trọng tâm

-Về nội dung: Tìm hiểu những cụm từ thể hiện niềm khao khát sống mãnh liệt, đặc biệt là thái độ sống “ gấp gáp” muốn thâu tóm làm chủ thiên nhiên

-Về nghệ thuật: Vận dụng một số biện pháp tu từ như:

+ Điệp từ, điệp ngữ

+ So sánh, ẩn dụ, động từ mạnh

+ Sử dụng những hình ảnh thơ sáng tạo mới lạ

III Phương pháp dạy học

+ Diễn giảng

+ Phát vấn

+ Trực quan

Trang 36

+ Thảo luận nhóm

+ Đọc diễn cảm

IV Phương tiện và đồ dùng dạy học

- SGK, SGV, giáo án, bảng phụ, sơ đồ trực quan

V Tiến trình dạy học : (5 phút)

1 Ổn định lớp

2 Kiểm tra bài cũ

3 Vào bài mới

Trong “ Thi nhân Việt Nam” nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận xét về Xuân

Diệu : “ đó là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới…” Hay nhắc đến Xuân

Diệu là người ta nghĩ ngay đến ông hoàng thơ tình với giọng thơ say đắm men tình, tha thiết với cuộc sống, muốn tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn Tại sao Xuân Diệu được mệnh danh như thế? Để hiểu rõ điều đó chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu bài thơ

danh là Trảo Nha

- Quê quán: Gò Bồi, xã

Tùng Giản, huyện Tuy

Phước, tỉnh Bình Định

- Xuân Diệu được biết

đến như là một nhà thơ

lãng mạn trữ tình, “nhà

thơ mới nhất trong các

nhà thơ mới”, hay

“ông hoàng của thơ

tình”

- Tác phẩm tiêu biểu:

Thơ thơ (1938), Gửi

hương cho gió (1945),

Truyện ngắn Phấn

thông vàng (1939)…

Gọi HS đọc phần tiểu dẫn trong SGK

? Hãy cho biết một vài nét chính về cuộc đời của Xuân Diệu?

Giáo viên nhận xét và dặn học sinh về nhà tìm hiêu thêm trong SGK

? Quá trình sáng tác của Xuân Diệu chia làm mấy giai đoạn? (cho HS nêu tên một số tập thơ trước

và sau Cách Mạng tháng Tám)

HS đọc tiểu dẫn

HS phát biểu ý kiến(tóm tắt)

ĐHTL: Sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu gồm các tập thơ Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Thanh ca (1982), cùng một số bài văn xuôi và một

Trang 37

đi của thời gian

2 Bố cục:Bài thơ chia

tiếp theo : Nỗi băn

khoăn ngắn ngủi của

kiếp người trước sự

qua đi nhanh chóng

của thời gian

+ Phần ba: Lời giục giã

GV giới thiệu đôi nét về

tập thơ “Thơ thơ ”

? Gọi HS đọc diễn cảm bài thơ và sau đó nhận xét góp ý ?

? Em hãy cho biết ý nghĩa

nhan đề của bài thơ “Vội vàng”?

Bài thơ là một thái

độ sống hết sức tích cực

và đáng trân trọng của Xuân Diệu trước cuộc đời

và bước đi của thời gian

? Em hãy cho biết bố cục của bài thơ ? Và nêu ý chính từng phần ?

GV nhận xét và nêu

ý chính từng đoạn

? Em hãy cho biết những

từ ngữ nào thể hiện thái

số bài nghiên cứu phê bình văn học

ĐHTL:Nằm trong tập

“Thơ thơ ” (1938)

HS đọc diễn cảm bài thơ

ĐHTL: Bài thơ là thái độ sống hết sức tích cực của nhà thơ trước thời gian và cuộc đời Biết trân trọng, níu kéo và nắm giữ những khoảnh khắc thay đổi từng giây từng phút của thiên nhiên của tạo hóa Qua đó thể hiện tấm lòng luôn biết trân trọng những gì đang có và những điều mới mẻ sẽ đến

ĐHTL: Bài thơ được chia làm ba phần: + Phần một gồm 13 câu đầu: đó là một tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết + Phần hai gồm 15 câu tiếp theo : đó là nỗi băn khoăn ngắn ngủi của kiếp người trước sự qua đi nhanh chóng của thời gian + Phần ba : Đó là lời giục giã sống vội vàng để tận hưởng hạnh phúc

HS trả lời

Trang 38

- Bài thơ mở đầu với

những câu thơ đầy hoài

vọng: “ tôi muốn………

bay đi”

+ Điệp ngữ : “tôi

muốn”→thể hiện nỗi

khát khao níu kéo bước

đi của thời gian, cuộc

quyết tâm mãnh liệt

=>Ý tưởng táo bạo của

nhà thơ, một thái độ

muốn níu giữ thời gian

bất tận đầy tâm huyết,

muốn thay đổi quy luật

của tự nhiên bằng

chính niềm khao khát

ước muốn của mình,

thời gian hãy dừng lại,

tạo hóa hãy đứng yên

đó như thế nào?

? Qua tâm trạng “vội vàng” của Xuân Diệu em

có suy nghĩ gì về thái độ sống của nhà thơ ?

GV nhận xét và diễn giảng

? Hai từ “tôi muốn” được

lặp lại hai lần thể hiện điều gì ở nhà thơ ?

GV nhận xét và diễn

giảng: Hai từ “tôi muốn”

như nói lên sự tiếc nuối nhưng đồng thời đó cũng

là nỗi khát khao muốn níu giữ thời gian của nhà thơ,

dù biết là sẽ bất lực trước thực tại, cũng như không

ai có thể níu giữ được bước chân của thời gian bao giờ → đó là tình yêu cuộc sống mãnh liệt của tác giả

? Tìm một số biện pháp nghệ thuật trong bốn câu thơ đầu?

GV nhận xét và diễn giảng

HS trả lời ĐHTL: Đó là một thái độ sống tích cực, biết trân trọng thời gian, ý thức được quy luật vĩnh hằng của tạo hóa, thời gian qua đi thì sẽ không bao giờ trở lại

ĐHTL: Hai từ “tôi muốn” như nói lên sự

tiếc nuối nhưng đồng thời đó cũng là nỗi khát khao muốn níu giữ thời gian của nhà thơ, dù biết là sẽ bất lực trước thực tại, cũng như không ai có thể níu giữ được bước chân của thời gian bao giờ Qua đó cho thấy tâm hồn yêu cuộc sống thật mãnh liệt của tác giả

ĐHTL: Nghệ thuật qua 13 câu thơ trên:

+ Điệp ngữ: “ tôi muốn”

=> Thể hiện sự khát khao muốn níu kéo

và kìm hãm sự phát triển quy luật của tạo hóa

Trang 39

Thảo luận nhóm ( từ 5

- 6 HS, 3 phút): em hãy tìm những từ ngữ miêu tả bức tranh thiên nhiên ở khổ 1? Và có nhận xét gì

về những hình ảnh đó?

GV nhận xét và diễn giảng: Bằng sự liên tưởng độc đáo và hình ảnh so sánh mới lạ, nhà thơ đã làm hiện lên bức tranh thiên nhiên vô cùng sinh động và nó mang một vẻ đẹp vô cùng quyến rũ, vẻ đẹp lí tưởng hóa

? Qua đoạn thơ trên thì câu thơ nào cho chúng ta

về sự liên tưởng về tình yêu đôi lứa ? ( cho nhiều học sinh trả lời và lấy ý kiến khách quan )

ĐHTL: Thể thơ ngủ ngôn, cách ngắt nhịp 3/2 làm cho câu thơ vừa ngắn ngọn, rõ ràng vừa thể hiện được sự dồn dập, gấp gáp “vội vàng” của nhà thơ

▲ HS thảo luận và trả lời

ĐHTL: Những hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên:

+“Của ong… …tuần tháng mật”

+ “Hoa của….…xanh rì”

+ “ Lá cành tơ” +“ Yến anh…….khúc tình si”

+“Ánh sáng…… thần Vui”

+“Tháng giêng…môi gần”

=>Nhà thơ sử dụng từ ngữ hết sức linh hoạt

và sinh động, với những hình ảnh so sánh táo bạo làm bật lên bức tranh thiên nhiên mang mau sắc tươi vui, phấn khởi ĐHTL: Câu thơ gợi lên sự liên tưởng về tình yêu đôi lứa:

+ “Của ong….mật”→

thể hiện niềm hạnh phúc ngọt ngào của lứa đôi

+ “ Của yến…si”→

thể hiện sự khắng khít như chim liền cánh cây liền cành

Trang 40

táo bạo, làm bật lên

được nét quyến rũ, say

mê, nồng nàn của mùa

xuân và của tình yêu

tuổi trẻ

→Tác giả đã lấy cái cụ

thể để diễn tả cái trừu

và tình yêu thiên nhiên

tha thiết của nhà thơ,

=>Thể hiện niềm say

mê vui sướng với đời,

qua câu thơ “Tháng giêng ngon như…môi gần” ?

? Em hãy cho biết nhà thơ đã cảm nhận mùa xuân bằng những phương tiện gì? ( gợi ý: các giác quan nào) Qua đó bộc lộ được điều gì ?

? Tìm những biện pháp nghệ thuật qua khổ thơ trên ? Cho biết tác dụng ?

GV nhận xét và diễn giảng: Bằng những biện pháp nghệ thuật điệp từ, điệp ngữ, từ láy, nhân hóa… tác giả đã làm hiện lên bức tranh thiên nhiên

vô cùng màu sắc và tràn đầy sức sống Đó còn là thái độ sung sướng của nhà thơ khi “ phát hiện”

ra vẻ đẹp của mùa xuân

và niềm hân hoan, vui

+ “Tháng giêng môi gần”→ một tháng

đẹp nhất mùa xuân, thể hiện sự ấm áp, gần kề, tha thiết nhất của tình yêu

ĐHTL: Đó là một sự

so sánh hết sức độc đáo và táo bạo, tác giả đã lấy hình ảnh

của cái cụ thể “ cặp môi gần” để so sánh

với cái trừu tượng

“tháng giêng”, một

sự liên tượng giàu trí tưởng tượng

ĐHTL: Nhà thơ cảm nhận bức tranh thiên nhiên bằng tất cả các giác quan như: khứu giác,vị giác, xúc giác, thính giác và thị giác Qua đó bộc lộ được tình cảm nồng nhiệt, tha thiết, say mê với đời của nhà thơ Tình yêu thiên nhiên bằng

cả trái tim và tâm hồn, muốn được hòa nhập để tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp của đất trời

ĐHTL:Các biện pháp nghệ thuật như: điệp ngữ, điệp từ, từ láy…

+ Điệp ngữ: “ Này đây” được lặp lại

năm lần kết hợp với

từ “của”→ thể hiện

một sự khám phá, khẳng định, vui sướng, ngạc nhiên về

vẻ đẹp của thiên nhiên của mùa xuân, như muốn giới thiệu

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Ngọc Đạt, Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
2. Hà Minh Đức, Một cuộc cách mạng trong thi ca, NXB Giáo dục, 1997 3. Hà Minh Đức, Thơ mới tác phẩm và dư luận, NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cuộc cách mạng trong thi ca", NXB Giáo dục, 1997 3. Hà Minh Đức, "Thơ mới tác phẩm và dư luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Phan Cư Đệ, Thơ mới tác phẩm và dư luận, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới tác phẩm và dư luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Phan Cư Đệ, Về một cuộc cách mạng trong thi ca, phong trào thơ mới, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một cuộc cách mạng trong thi ca, phong trào thơ mới
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Phan Cư Đệ, Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945, NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945
Nhà XB: NXB văn học
7. Phạm Minh Hạc, Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế xã hội, NXB văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Nhà XB: NXB văn hóa Hà Nội
8. Nguy ễn Minh Hùng, Văn chương nhìn từ góc sân trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Hùng
9. Phan Trọng Luận, Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn, NXB Giáo dục Hà Nội 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội 1978
10. Phan Trọng Luận ( chủ biên) Phương pháp dạy h ọc tập 1, NXB Đại học Sư phạm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tập 1
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm 2007
11. Phan Trọng Luận – Trương Dĩnh, Phương pháp dạy học văn tập 2, NXB Đại học Sư phạm, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn tập 2
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
12. Phan Trọng Luận, Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông tập 1, NXB Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Phan Trọng Luận, Văn chương bạn đọc sáng tạo, NXB Giáo dục Quốc gia Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương bạn đọc sáng tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Quốc gia Hà Nội
14. Phan Trọng Luận, Văn học thế kỉ XXI , NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thế kỉ XXI
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Phan Trọng Luận – Nguy ễn Thanh Hùng, Phương pháp dạy học văn tập 1, NXB Giáo dục 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục 1988
17. Phan Trọng Luận, Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học, NXB Giáo dục Hà Nội, 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
18. Đặng Thai Mai, Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương, NXB Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Nguy ễn Thị Hồng Nam, Tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn, Đại học Cần Thơ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ văn
22. Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Tố Hữu
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
23. Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: NXB văn học
24. Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam 1932-1945, NXB văn học trung tâm văn hóa ngôn ngữ đông tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam 1932-1945
Nhà XB: NXB văn học trung tâm văn hóa ngôn ngữ đông tây

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm