2.2 Mục tiêu riêng của phần thơ hiện đại trong SGK lớp 12 bộ cơ bản - Thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 được xếp vào chương trình sách giáo khoa lớp 12 với phần nhiều là nhữn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
DẠY HỌC PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI LỚP 12
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN (BỘ CƠ BẢN)
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.s TRẦN ĐÌNH THÍCH LÊ THỤY HỒNG THƠ
MSSV: 6075382
Trang 2ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN
1.1 Quan niệm về thơ hiện đại
1.2 Đặc điểm thơ hiện đại
2.3 Giới thiệu chương trình
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN -BỘ CƠ BẢN
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DẠY HỌC PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI LỚP 12 SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN BỘ CƠ BẢN
1.1 Quan điểm dạy lấy học sinh làm trung tâm 1.2 Năm định hướng của MARZANO
1.3 Tổ chức học hợp tác 1.4 Đặc điểm dạy học phần thơ trong chương trình lớp 12 sách giáo khoa
ngữ văn – bộ cơ bản
2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 12 SÁCH GIÁO KHOA (BỘ CƠ BẢN)
2.1 Phương pháp đọc tác phẩm 2.2 Phương pháp phân tích, bình giảng 2.3 Phương pháp tổ chức làm việc nhóm 2.4 Phương pháp dạy học nêu vấn đề
2.5 Phương pháp sử dụng trực quan
3 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG TRONG PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI LỚP 12 SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN – BỘ CƠ BẢN
3.1 Tây Tiến – Quang Dũng
3.2 Đất Nước ( trích trường ca “ Mặt đường khát vọng” ) Nguyễn Khoa
Điềm 3.3 Sóng – Xuân Quỳnh
3.4 Việt Bắc – Tố Hữu
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước càng phát triển đòi hỏi giáo dục cũng phải phát triển để đáp ứng yêu cầu
về nguồn nhân lực cho việc xây dựng đất nước Hiện nay giáo dục đang được sự quan tâm của Nhà nước và xã hội Giáo dục ngày càng có sự đổi mới đáng kể Cụ thể như việc cải cách sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng những phương pháp mới trong giảng dạy nhằm giúp học sinh có thể tự góp nhặt, nâng cao kiến thức của mình Việc giảng dạy và học tập không còn là quá trình truyền thụ kiến thức của giáo viên cho học sinh mà giáo viên là người tổ chức hoạt động học tập để học sinh tự khám phá ra tri thức, giúp học sinh dần dần hình thành kĩ năng và thói quen tư duy Việc đổi mới phương pháp dạy không chỉ ở một ngành, một môn cụ thể mà ở tất cả các ngành học, các môn học, ở trường Đại học và cả những trường Trung học phổ thông, Trung học cơ sở,… Môn văn là một môn học giữ vị trí quan trọng trong nhà trường phổ thông,… và thơ là một thể loại tương đối khó tiếp cận Vì vậy đến với đề tài này chúng tôi mong đem đến cho người dạy một phương hướng dạy tốt, và người học có một phương hướng tiếp nhận tốt phần thơ hiện đại lớp 12
Những giáo viên mới ra trường hoặc những giáo sinh còn thiếu nhiều kinh nghiệm như chúng tôi đứng trước thực tế giảng dạy đôi còn gặp nhiều khó khăn Chương trình lớp
12 là chương trình chính trong các kì thi tốt nghiệp hoặc Đại học, Cao đẳng Vì thế cần
có một định hướng để dạy tốt thể loại thơ hiện đại lớp 12 nhằm giúp học sinh nâng cao kiến thức và đạt kết quả tốt trong các kì thi quan trọng
Đó là những lí do khiến chúng tôi chọn thực hiện đề tài này
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Từ những năm 60 của thế kỉ XX vấn đề về nghiên cứu giảng dạy đã có bước tiến
và càng về sau thì việc nghiên cứu càng được chú trọng Một số công trình nghiên cứu có giá trị như:
- Phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên, Nxb Đại học sư phạm,
1998 gồm có hai phần và mười chương
Phần 1: Lí luận chung về bộ môn: Tác giả đã trình bày sơ lược về tình hình nghiên cứu phương pháp dạy học văn, vị trí, tầm quan trọng của bộ môn văn trong nhà
Trang 4trường xưa và nay đồng thời nêu ra những nhược điểm trong phương pháp dạy học theo kiểu cũ, vạch ra cách nhìn nhận về môn văn và phương pháp giúp học sinh cảm thụ tốt tác phẩm Ngoài ra tác giả còn phân tích những cơ chế dạy văn trong nhà trường giữa giáo viên và học sinh với nhà văn thông qua tác phẩm văn học
Phần 2: Phương pháp dạy học bộ môn: Tác giả trình bày những nguyên tắc xây dựng chương trình văn phổ thông Tác giả nêu phương pháp bình giảng, chỉ ra những phức tạp, khó khăn của việc bình giảng thơ và những nguyên tắc bình giảng quen thuộc [tr 181] Bên cạnh đó tác giả còn đưa ra phương pháp tổ chức dạy học một bài văn trên lớp Tác giả chỉ ra những hạn chế khi thiên về công việc lao động giảng dạy của giáo viên coi nhẹ lao động học tập của học sinh, việc soạn giáo án như một đề cương sơ sài hay chi tiết
về nội dung trình diễn của giáo viên Tác giả đề ra một số hình thức dạy văn thu được kết quả tốt trong đó phần đọc diễn cảm có tác dụng giúp học sinh bước đầu cảm thụ tốt tác phẩm nhất là tác phẩm thơ
- Dạy học văn ở trường phổ thông của Nguyễn Thị Thanh Hương, Nxb ĐHQG Hà
Nội, 2001 gồm có ba phần trong đó:
Phần II, mục 5: Định hướng phân tích tác phẩm văn chương một yêu cầu và một giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học văn trong nhà trường phổ thông, tác giả đã nêu lên cách đọc tác phẩm văn chương và định hướng dạy tác phẩm thơ [tr 96] Trong mục 9: Học sinh- chủ thể tiếp nhận- bạn đọc - sáng tạo trong giờ dạy – học tác phẩm văn chương, tác giả nêu ra vấn đề khoảng cách thẩm mĩ giữa bạn đọc và văn bản nhất là tác phẩm thơ
và người tiếp nhận [tr 179]
Phần III, mục 3: Tầm quan trọng của việc đọc trong giờ phân tích tác phẩm văn chương, tác giả đã chỉ ra lợi ích, công dụng của việc đọc diễn cảm và hướng dẫn cách đọc tốt [tr 259] Đọc diễn cảm là một phương pháp hữu hiệu giúp học sinh có thể tiếp cận tốt tác phẩm Trong phần “ Đổi mới việc tiếp nhận tác phẩm văn chương cho sinh viên khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội” tác giả đã đề cập đến vấn đề “cắt nghĩa” trong giờ phân tích, bình giảng tác phẩm, đây là một khâu quan trọng trước và trong khi phân tích tác phẩm văn chương, đặc biệt là tác phẩm thơ Phần bình giảng, phân tích lí giải một
số tác phẩm trong nhà trường tác giả đã đưa ra một vài bài phân tích, bình giảng thơ hiện đại của những tác giả: Bằng Việt, Hồ chí Minh,…
Trang 5- Đọc hiểu tác phẩm văn chương theo thể loại của tác giả Trần Đình Thích, Trường
Đại học Cần Thơ, 2009 Trong phần “Thơ và đọc hiểu thơ” [tr 34] tác giả đã nêu một số khái niệm về thơ và đọc hiểu từng thể loại thơ để bước đầu giúp học sinh tiếp nhận tốt tác phẩm thơ
pháp phân tích, bình giảng tác phẩm văn học” tác giả đưa ra những phương pháp phát hiện chuẩn mực nghệ thuật thơ Ngoài ra tác giả còn viết về một số tác giả và tác phẩm thơ hiện đại trong chương trình SGK lớp 12
- Dạy văn, học văn của tác giả Đặng Hiển, Nxb Đại học sư phạm , 2005 gồm có 4
bộ đội chống Mĩ cứu nước trong thơ ca Việt Nam 1955 - 1975 [tr 398], Sóng – tình yêu đích thực – tình yêu của người nữ [tr 438]
- Phương pháp dạy học văn tập 1 do Phan Trọng Luận chủ biên, Nxb Đại học sư
phạm, 2007 gồm hai phần
Phần I: Những vấn đề lí luận chung về bộ môn
Phần II: Phương pháp dạy học bộ môn Tác giả chỉ ra con đường tiếp cận và cắt nghĩa tác phẩm văn chương và những phương pháp thường dùng để tiếp cận tác phẩm như: đọc diễn cảm, so sánh trong phân tích văn học, phân tích nêu vấn đề, gợi mở, giảng bình
- Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) của Nguyễn Viết Chữ,
Nxb Đại học sư phạm, 2008 gồm có hai phần:
Phần 1: Những vấn đề chung liên quan đến phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
Trang 6Phần 2: phương pháp và biện pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể tác giả đã phân tích những phương pháp dạy thể tài trữ tình cổ trung đại và hiện đại (văn biền ngẫu, thơ đường luật, thơ mới)
- Luận văn tốt nghiệp “ Những biện pháp giúp học sinh trung học phổ thông khi học tác phẩm văn chương của Hồ Chí Minh” của Huỳnh Thị Nguyệt, trường đại học Cần
Thơ, gồm có ba chương:
Chương 1: những vấn đề chung
Chương 2: Những phương pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh Tác giả đã nêu ra những khó khăn thường gặp từ phía học sinh, từ phía giáo viên, từ tác phẩm vừa mang hình thức cổ điển và nội dung hiện đại trong thơ Bác,…và đề xuất những biện pháp khắc phục những khó khăn trên để giúp học sinh tiếp nhận tốt tác phẩm
Chương 3:Thiết kế giáo án thể nghiệm
- Luận văn tốt nghiệp “ Những biện pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương của Tố Hữu” của Nguyễn Thúy Diễm, trường Đại học Cần Thơ gồm
có ba chương Trong đó chương 2: “ Những phương pháp giúp học sinh trung học phổ thông khắc phục khó khăn khi học tác phẩm văn chương của Tố Hữu tác giả đã nêu những khó khăn khi học sinh tiếp nhận thơ hiện đại của tác gia Tố Hữu và những biện pháp khắc phục khó khăn như: đọc diễn cảm, đàm thoại, thảo luận nhóm và dùng phương tiện nghe nhìn [tr 24]
- Bài giảng lí luận dạy học của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Minh
Chính, Trần Đình Thích, Hà Hồng Vân, trường Đại học Cần Thơ, 2002 gồm có hai phần Phần 1: Những vấn đề chung về lí luận dạy học
Phần 2: Các phương pháp dạy học ngữ văn: các tác giả đã đưa ra những phương pháp dạy văn trong nhà trường: phương pháp đọc tác phẩm, phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp nêu vấn đề
3 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
- Đến với đề tài này chúng tôi mong muốn nâng cao khả năng cảm thụ tốt tác phẩm
thơ hiện đại cho học sinh phổ thông lớp 12, nhằm giúp các em có kiến thức nền vững chắc
về thơ hiện đại từ đó rèn luyện tốt kĩ năng viết bài phân tích – bình giảng thơ hiện đại Bên
Trang 7cạnh đó thơ hiện đại trong chương trình tái hiện lại cả một thời kì kháng chiến oai hùng của dân tộc ta, nếu các em có thể cảm thụ tốt tác phẩm sẽ cung cấp cho các em vốn sống, vốn hiểu biết về lịch sử, xã hội
- Thực hiện đề tài này chúng tôi cũng mong tìm ra phương pháp tổ chức tiết dạy về thơ hiện đại lớp 12 đạt hiệu quả, nhằm góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ thông Đồng thời chúng tôi muốn giúp học sinh giảm bớt những
áp lực căng thẳng trong giờ học văn, giúp các em cảm thấy hứng thú khi có thể tự mình khám phá ra những giá trị của tác phẩm
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Vì phạm vi của đề tài chỉ giới hạn ở phần thơ hiện đại trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn lớp 12 (bộ cơ bản) nên chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu những bài thơ hiện đại được phân bố trong chương trình SGK lớp 12 (bộ cơ bản) Cụ thể là những bài thơ hiện đại Việt Nam, thơ kháng chiến giai đoạn 1945 – 1975 Từ đó chúng tôi triển khai phương pháp giảng dạy và giúp HS tiếp cận tốt tác phẩm thơ của giai đoạn này
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Để thực hiện đề tài chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tích tài liệu của các nhà
nghiên cứu về vấn đề dạy văn, học văn trong nhà trường, đặc biệt là dạy và học tác phẩm thơ Sau đó chúng tôi chọn lựa, phân tích những phương pháp mang đến hiệu quả tích cực cho việc dạy và học tác phẩm thơ nói chung và tác phẩm thơ hiện đại nói riêng
- Quan sát sư phạm là việc làm thực tế khá quan trọng và cần thiết cho việc thực
hiện đề tài này Chúng tôi thực hiện quan sát cách tổ chức tiết dạy của các giảng viên trường Đại học Cần Thơ và thực tế dạy học của giáo viên phổ thông trung học
- Thực nghiệm sư phạm thông qua việc kiến tập ở trường phổ thông, những giờ tập
giảng trong trường Đại học đã giúp chúng tôi tích cóp thêm kinh nghiệm thực tế trong quá trình tổ chức tiết dạy, đặc biệt là khi dạy các tác phẩm thơ
Trang 8B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THƠ HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12 SGK BỘ CƠ BẢN
1 QUAN NIỆM VỀ THƠ HIỆN ĐẠI
1.1.Một số quan niệm về thơ hiện đại:
Để tìm một định nghĩa cho thơ thật hoàn chỉnh là việc làm khó vì những định
nghĩa về thơ của những nhà nghiên cứu và những nhà văn, nhà thơ rất phong phú Theo Từ điển văn học bộ mới, Nxb thế giới thơ là “ hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống với những cảm xúc chất chứa, cô đọng, những tâm trạng dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ, trong ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh, và nhất là nhịp điệu”[tr 1685] Theo Đọc – hiểu tác phẩm văn chương theo thể loại của tác giả Trần Đình Thích, trường Đại học Cần Thơ, 2009 “Thơ là thể loại ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người, là kết tinh của bản chất nghệ thuật Hình thức biểu hiện bên ngoài của thơ cho thấy thơ có một số đặc điểm: tính nhạc và tính họa Vẻ đẹp nhịp nhàng do tiết tấu, sự hài hòa, sự hiệp vần và ngắt nhịp Vẻ đẹp trầm bổng do sự kết hợp giữa các thanh điệu, vẻ đẹp luyến láy do điệp vận, song thanh từ láy…tạo nên…Nhìn sâu vào văn bản sẽ thấy thơ là tiếng lòng của tác giả Chính là tiếng lòng cho nên lời thơ chủ yếu là lời độc thoại, lời giãi bày ( Tương tư của Nguyễn Bính, Vội vàng của Xuân Diệu, Việt Bắc của Tố Hữu dù có sắc thái khác nhau, về cơ bản đều là lời độc thoại )” [tr.34] Vì thế dù là thơ cổ trung đại hay thơ hiện
đại vẫn mang những đặc điểm trên
Văn học Việt Nam gồm có hai bộ phận: Văn học dân gian (văn học bình dân)
và Văn học viết (văn học bác học)
Văn học dân gian là những lời ca, tiếng hát gắn liền với đời sống của người dân lao động
Văn học viết ra đời vào thế kỉ X Đây là móc thời gian bắt đầu của văn học cổ trung đại Văn học trung đại chia thành năm giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV
Trang 9Giai đoạn thứ hai: thế kỉ XV
Giai đoạn thứ ba: từ nửa cuối thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XVIII
Giai đoạn thứ tư: từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
Giai đoạn thứ năm: nửa cuối thế kỉ XIX
Thế kỉ XIX kết thúc cũng là lúc kết thúc một thời đại trong lịch sử văn học dân tộc Văn học Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn “Văn học Việt Nam hiện đại” với những đổi mới cả về mặt nội dung lẫn hình thức Văn học hiện đại cũng có thể chia thành bốn giai đoạn xét theo đặc điểm về mặt nội dung và sự chuyển biến của văn học theo từng giai đoạn:
Giai đoạn 1900 – 1930: Xét về mặt nội dung văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn này chia làm hai bộ phận: văn học hợp pháp và văn học bất hợp pháp Cả hai bộ phận này cũng kế thừa thành tựu nghệ thuật của thơ ca dân gian và thơ ca trung đại đồng thời có
sự tiếp nhận từ văn học phương Tây nên có sự đan xen giữa thi pháp trung đại và hiện đại, chữ Quốc ngữ được đưa vào sáng tác Bên cạnh những lớp từ trung đại ngôn ngữ trong thơ giai đoạn này cũng có những lớp từ gần gũi, dễ hiểu, những từ khẩu ngữ trong cuộc sống hàng ngày Thể loại thơ cũng khá phong phú, đa dạng Nội dung thơ ca giai đoạn này cũng dung dị hơn, mang một nỗi buồn bất đắc chí của những lớp nhà Nho vào thời đại Nho học
đã tàn lụi như: Tản Đà, Trần Tuấn Khải…Bên cạnh đó thơ ca giai đoạn này còn thể hiện tinh thần yêu nước của những nhà Nho như: Phan Bội Châu , Phan Châu Trinh…
Giai đoạn 1930 – 1945: Nói đến thơ ca giai đoạn này sẽ khiến người đọc nghĩ ngay đến sự ra đời của thơ mới Tuy nhiên bên cạnh sự thành công rực rỡ về nội dung và nghệ thuật của thơ mới còn có một bộ phận thơ ca khác là thơ ca cách mạng cùng song song tồn tại Đây là giai đoạn thơ hiện đại phát triển cả về lượng và về chất, cả về nội dung lẫn nghệ thuật Thơ ca ở giai đoạn này khá phong phú, bên cạnh những tác giả thành công với thể thơ lục bát của dân tộc như : Nguyễn Bính, Tố Hữu…còn có những nhà thơ sáng tác thể loại thơ tự do, thể thơ năm chữ, thơ bảy chữ vẫn được sáng tác nhưng có sự phá cách, ngôn ngữ dễ hiểu không còn văn phong của trung đại nhưng từ ngữ được sử dụng vẫn còn cầu kì, trau chuốt và xen vào đó những từ ngữ rất mới lạ, độc đáo do tiếp nhận từ văn học phương Tây một số tác giả tiêu biểu như: Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,
Trang 10Hàn Mạc Tử,…Về nội dung thơ của giai đoạn này mang nỗi buồn u uất của lớp trí thức có lòng yêu nước nhưng mất phương hướng
Giai đoạn 1945 – 1975: Thơ Việt Nam hiện đại giai đoạn này chủ yếu là thơ ca cách mạng, thơ ca phục vụ cho hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, thơ ca chống Pháp
và chống Mĩ Thể thơ phong phú đa dạng: thơ lục bát, thơ tự do và xuất hiện thơ văn xuôi Giọng điệu thơ tươi trẻ, hồn nhiên, lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng dân tộc Nội dung thơ của giai đoạn này thể hiện tình quân dân, lòng căm thù giặc, lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự hào về quê hương, đất nước, nhận thức về đất nước mình trong quá
trình đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, một số bài thơ tiêu biểu như: Việt Bắc của Tố Hữu, Đất Nước của Nguyễn Đình Thi, Tây Tiến của Quang Dũng, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, Trường ca “ Mặt đường khát vọng”của Nguyễn Khoa Điềm,…Nhìn chung thơ
ca hiện đại có sự thay đổi lớn về nội dung và nghệ thuật so với thơ ca trung đại Nội dung bám sát với thực tế: thực tế xã hội, thực tế đất nước, đề cập đến những vấn đề nhỏ nhặt trong cuộc sống và những lớn lao nóng bỏng của đất nước Thơ hiện đai giai đoạn 1945 –
1975 mang đậm chất trữ tình chính trị, đậm đà tính dân tộc, tình quân dân, lòng yêu nước Giai đoạn 1975 – nay: thơ Việt Nam hiện đại giai đoạn này mang đậm chất trữ tình thế sự Thơ thể hiện rõ những cảm xúc suy tư trong tình yêu, những boăn khoăn trăn trở của nhà thơ về cuộc đời, về con người sau chiến tranh, nhìn nhận lại những gì đã qua trong chiến tranh, đưa ra ánh sáng những góc khuất mà thơ văn hiện đại giai đoạn trước ít
đề cập tới làm cho bức tranh về chiến tranh Việt Nam đầy đủ màu sắc và rõ nét hơn
1.2.Đặc điểm thơ hiện đại
1.2.1 Về nội dung :
- Nỗi buồn , nỗi cô đơn trong thơ mới, sự thức tỉnh ý thức cá nhân là nội dung
cơ bản của thơ mới giai đoạn 1930 - 1945, nỗi buồn, nỗi cô đơn đậm đặc luôn ẩn trong các
tác phẩm thơ như: bài Tràng giang của Huy Cận, tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên,…Đó
là nỗi buồn nỗi cô đơn lạc lõng của cả một thế hệ trí thức trẻ Thơ hiện đại giai đoạn 1900 – 1930 cũng thể hiện nỗi buồn, sự thức tỉnh ý thức cá nhân nhưng nỗi buồn trong thơ hiện đại giai đoạn 1900 – 1930 là nỗi buồn của lớp trí thức Nho học trước hoàn cảnh đất nước
bị cai trị, muốn cứu nước nhưng không đủ sức dẫn đến việc tìm lối thoát, trốn tránh cuộc sống thực tại như Tản Đà Thơ hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 với phong trào thơ mới đã
Trang 11gây chấn động cho văn đàn với bài thơ Tình già của Phan Khôi, từ đó thơ ca Việt Nam
hiện đại có một bước tiến mới Tuy nhiên vì đây là giai đoạn giao thời, sự xung đột giữa cái cũ và cái mới vẫn chưa ngã ngũ, đất nước đang bị thực dân Pháp chiếm giữ, những nhà thơ trí thức có tinh thần yêu nước không thể công khai thể hiện tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của mình nên nỗi buồn trở thành nỗi ám ảnh trong thơ mới Nếu như ở trong thi ca cổ trung đại ý thức cá nhân gần như bị loại trừ, nó chỉ xuất hiện trong tác phẩm của một số tác giả như: Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Tú Xương thì trong thơ ca hiện đại sự ý thức
về cái tôi cá nhân xuất hiện hầu như trong tất cả các sáng tác của các nhà thơ mới Họ mạnh dạn bộc lộ trực tiếp cảm xúc của bản thân không e dè bằng những từ ngữ mới lạ tiếp thu được từ văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp
- Lòng nhiệt thành yêu nước được thể hiện rất rõ trong thơ ca cách mạng giai đoạn 1945 – 1975 Thơ hiện đại của giai đoạn này thể hiện sự sôi nổi, vui tươi, lạc quan, tin tưởng vào sự thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc Sau thắng lợi của cuộc cách mạng tháng tám 1945 những lớp nhà văn của thế hệ thứ nhất như: Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,… đã tìm ra được con đường thực hiện lí tưởng cứu nước và bày tỏ lòng nhiệt thành
yêu nước, gắn bó máu thịt với nhân dân Xuân Diệu đã viết: “Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi” Ngoài ra còn có những nhà văn nhà thơ thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba trưởng
thành trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ như: Hữu Loan, Giang Nam, Nguyễn
Mỹ, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm,… Văn học Việt Nam giai đoạn này đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Vì những nguyên nhân đó nên lực lượng nhà văn, nhà thơ chiến sĩ sáng tác phục vụ cho cách mạng tăng lên Giai đoạn này có những bài thơ đạt giá trị về mặt nội dung lẫn hình thức, nhất là về mặt nội dung phản ánh đầy đủ cuộc kháng chiến oanh liệt, đầy máu lửa của nhân dân ta, lòng căm thù giặc sâu sắc, niềm tin quyết thắng:
“ Xiềng xích chúng bay không khóa được Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà”
( Đất nước – Nguễn Đình Thi )
- Lòng nhiệt thành yêu nước trong thơ cách mạng thể hiện đậm nét trong cảm hứng sử thi, ca ngợi những anh hùng áo vải dũng cảm hi sinh, kiên gan trước quân thù:
Trang 12“ Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng”
( Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân )
- Sự bộc bạch, bày tỏ tâm tình trong thơ giai đoạn sau 1975: Sau 1975 thơ ca hiện đại tiếp tục chuyển biến rõ rệt về nội dung Nếu thơ ca giai đoạn trước 1975 thể hiện niềm tin lạc quan vào thắng lợi, ca ngợi những con người anh dũng, mang tầm vóc lớn lao của đất nước, của dân tộc thì thơ hiện đại sau giải phóng trở lại với cuộc sống đời thường, với những đề tài mang tính riêng tư, cá nhân, những nỗi buồn, những dự cảm trong tình yêu được giãi bày trực tiếp trong thơ Và những tác giả đã từng đi qua chiến tranh như Tố Hữu, Chế Lan Viên,… lại bộc bạch những suy nghĩ, trăn trở của mình về chiến tranh, về cuộc sống làm cho vần thơ trở nên sâu lắng Thơ hiện đại giai đoạn sau 1975 phần nhiều
là thơ viết về tình yêu với những trắc trở và thơ trữ tình thế sự thể hiện những suy gẫm trăn
trở về những gì đã đi qua và những gì đang diễn ra trong cuộc sống thực tại
1.2.2 Về nghệ thuật
- Sự kế thừa những thể loại thơ truyền thống: Thơ hiện đại ra đời đã muốn thay
một lớp áo mới với chủ trương “phá cách vứt điệu luật” Tuy nhiên trước khi văn học Việt
Nam hiện đại ra đời thì đã có bề dày văn học dân gian và văn học trung đại hình thành trước đó nhiều thế kỉ Vì vậy dù văn học hiện đại có muốn thay đổi về hình thức nghệ thuật thì cũng phải dựa trên nền tảng kế thừa một số giá trị nghệ thuật cũ Sự kế thừa về
nghệ thuật biểu hiện rõ nhất ở thể thơ Trong quyển Tìm hiểu thơ của Mã Giang Lân, Nxb
Văn hóa – Thông tin Hà Nội – 2000 tác giả viết: “Phong trào thơ mới sử dụng hầu hết các thể thơ truyền thống trong thơ ca dân gian, thơ ca bác học”[tr.221] Các thể loại thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát vẫn còn được sử dụng tuy có sự đổi mới Cũng trong quyển
sách trên tác giả viết “ giọng điệu thơ mới gần gũi với thơ ca dân gian” [tr 218] đó là
giọng điệu giãi bày tâm sự một cách hồn nhiên, chân thành Những điều đó cho thấy rằng thơ hiện đại trong giai đoạn đầu còn ảnh hưởng nhiều thơ ca dân gian và thơ ca trung đại
và sự kế thừa ấy là tất yếu bởi vì các nha thơ mới muốn pha cái cũ, giọng điệu cũ nhưng
Trang 13chưa kịp tạo ra cái mới nên phải dựa vào cái đã có, cái vốn truyền thống của dân tộc và
cách tân nó để tạo nên cái mới
- Sự cách tân: Bên cạnh sự kế thừa những thể thơ truyền thống, giọng thơ còn mang đậm chất dân gian thì thơ hiện đại cũng có sự thay đổi lớn về mặt nghệ thuật sự cách tân đổi mới ấy thể hiện ở việc sử dụng từ ngữ, từ ngữ sử dụng trong thơ ca hiện đại gần gũi với đời sống hàng ngày không còn những tính chất ước lệ tượng trưng trong thi pháp trung đại Ngoài ra do ảnh hưởng văn học phương Tây và gần hơn cả là văn học Pháp
nên từ ngữ sử dụng trong thơ cũng mới lạ hơn so với trung đại Trong quyển Thi pháp hiện đại của tác giả Đỗ Đức Hiểu, Nxb Hội nhà văn Hà Nội – 2000 tác giả cho rằng: “ Dễ nhận thấy Thơ Mới sáng tạo những từ ngữ mới ( Khúc nhạc thơm, Một chiếc linh hồn nhỏ, Mặt trời đi ngủ sớm) cách đặt câu thơ ( Xao xác tiếng gà Trăng ngà lạnh buốt…), những “vắt dòng”, những vần ôm hay vần gián cách v.v”[tr.110] Câu thơ, dòng thơ đã thoát khỏi
những niêm luật của thơ cổ, độ dài ngắn, số chữ trong câu thơ trở nên tự do, phóng túng hơn
- Xu hướng tự do hóa hình thức thơ: Dễ dàng để nhận thầy rằng trong thơ Việt
Nam hiện đại số lượng câu và độ dài ngắn của câu không bị hạn chế Quyển Tìm hiểu thơ
của Mã Giang Lân, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội – 2000, chia thơ Việt Nam hiện đại
sau 1945 thành ba xu hướng chính, trong đó có một xu hướng thuộc về nghệ thuật: Xu hướng tự do hóa hình thức thơ Những ngày đầu của cuộc cách mạng diễn ra quyết liệt sôi
nổi thơ thay đổi về mặt nội dung nhưng đồng thời cũng tìm hình thức thể hiện mới để tránh gây nhàm chán và tạo sự hứng khởi phục vụ cho kháng chiến và kêu gọi kháng chiến Vì tính chất ác liệt của chiến tranh và thời gian sáng tác hạn hẹp nên những sáng tác
gần như ứng tác như bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm cho nên thơ của giai đoạn
này ít có những bài thành công về nghệ thuật và cũng vì không có thời gian gọt đẽo câu chữ nên rất ít những bài thơ thành công viết theo thể tự do Nhiều bài thơ tự do ra đời
trong kháng chiến chống Pháp đã tạo được chất lượng cho thơ kháng chiến như: Đèo cả (Hữu Loan), Bài ca vỡ đất (Hoàng Trung Thông), Đồng chí (Chính Hữu), Nhớ (Nguyên
Hồng),…Tố Hữu là nhà thơ cách mạng thành công với thể thơ tryền thống của dân tộc
nhưng cũng có nhiều bài thơ hay viết theo thể tự do như, Phá đường Hoan hô chiến sĩ
Trang 14Điện Biên, Ta đi tới Thơ Việt Nam hiện đại giai đoạn 1945 – 1975 đã tiến dần đến xu
hướng tự do hóa hình thức thơ
- Thơ giàu tính nhạc: Thơ hiện đại trong quá trình phát triển đã tiếp thu nhiều yếu tố cơ bản của thơ hiện đại phương Tây: chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa ấn tượng Có thể nói thơ của thời đại nào cũng có nhạc tính kể cả những câu ca dao, dân ca, thơ trung đại cũng giàu chất nhạc nhưng nhạc tính trong thơ hiện đại có sự khác biệt so với thơ ca dân gian và thơ cổ trung đại vì thơ hiện đại vừa có sự kế thừa giọng điệu của thơ ca dân gian, thơ ca cổ trung đại vừa có sự tiếp thu vốn từ ngữ phương Tây nên có được sự kết hợp hài hòa giữa tính nhạc của phương Đông và phương Tây, giữa cổ điển và hiện đại làm cho thơ hiện đại vừa có sự sôi nổi của phương Tây trong thơ Xuân Diệu vừa có sự trầm lắng của phương Đông trong thơ của Nguyễn Bính Tuy thơ hiện đại với nhiều bài thơ được sáng tác theo thể thơ tự do nhưng sự chọn lọc từ ngữ rất tinh tế, sự sáng tạo rất độc đáo đã làm cho thơ mang những âm điệu du dương và có những bài thơ cứ
ngân nga trong lòng người đọc qua nhiều thế kỉ như Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Mùa xuân chín của Hàn Mạc Tử Nếu nói thơ ca cách mạng chỉ dùng để kêu gọi đấu tranh vệ
quốc thì chưa nói đủ tính chất của dòng thơ hiện đại giai đoạn 1945 – 1975 Thơ ca cách mạng ngoài việc thể hiện tinh thần chiến đấu, tinh thần yêu nước còn là cảm xúc rất thật về tình quân dân, tình đồng đội, về tình yêu,… của người chiến sĩ cách mạng chính vì vậy câu thơ không chỉ là lời kêu gọi tinh thần yêu nước, không phải thứ triết lí khô khan mà những
câu thơ giàu nhạc tính cũng đầy sức lay động như Em ơi Ba Lan, Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu, Đồng chí của Chính Hữu, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Cuộc chia li màu
Trang 15bài thơ hiện đại vào chương trình sách giáo khoa theo trình tự: từ thơ mới đến thơ cách mạng, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt quá trình phát triển của thơ hiện đại Mặt khác mục tiêu của chương trình là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về thơ hiện đại: sự đổi mới về nội dung và thi pháp của thơ hiện đại so với văn chương trung đại, sự ảnh hưởng và sự khác biệt giữa văn chương phương Tây và thơ hiện đại Việt Nam Bên cạnh
đó trong nội bộ thơ hiện đại cũng có sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật giữa thơ mới và thơ ca cách mạng Vì vậy khi sắp xếp phần thơ mới trong chương trình lớp 11 và thơ ca cách mạng ở lớp 12 còn giúp học sinh có thể tái hiện lại kiến thức cũ, so sánh sự khác biệt
về nội dung và nghệ thuật của thơ mới và thơ cách mạng khi học đến phần thơ ca cách mạng ở lớp 12 Nhìn chung mục tiêu của chương trình sách giáo khi đưa phần thơ hiện đại vào chương trình là nhằm giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về thơ hiện đại, thấy được từng giai đoạn phát triển của thơ Việt Nam, cung cấp cho học sinh một phần kiến thức lịch
sử, xã hội
2.2 Mục tiêu riêng của phần thơ hiện đại trong SGK lớp 12 bộ cơ bản
- Thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 được xếp vào chương trình sách giáo khoa lớp 12 với phần nhiều là những bài thơ trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nhằm giúp học sinh cảm nhận được một thời kì đấu tranh oanh liệt của dân tộc,
tính bi tráng, lãng mạn cách mạng trong tác phẩm Tây tiến của Quang Dũng, tình cảm gắn
bó giữa quân và dân, những ngày tháng kháng chiến đầy gian khổ trong Việt Bắc của Tố Hữu, Đất nước trích trong trường ca “ Mặt đường khát vọng” với những nhận thức về đất nước, lời kêu gọi thanh niên chung tay xây dựng quê hương “ hóa thân cho dáng hình xứ sở” sẽ giúp học sinh có thêm niềm tự hào dân tộc, góp thêm tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ
- Ngoài mục tiêu trên, phần thơ hiện đại trong chương trình sách giáo khoa lớp
12 còn nhằm mục tiêu giúp học sinh nắm rõ nội dung, nghệ thuật của thơ ca cách mạng, sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật so với thơ ca trung đại và thơ mới
- Phần thơ hiện đại trong chương trình sách giáo khoa lớp 12 còn bổ sung một
số bài thơ hiện đại thuần túy về tình yêu như bài “Sóng” của Xuân Quỳnh Lứa tuổi của học sinh phổ thông, đặc biệt là học sinh lớp 12 đã phát triển cả về thể chất và tâm lí vì thế mục tiêu của chương trình khi đưa vào sách giáo khoa những bài thơ tình yêu nhằm giúp
Trang 16các em có nhận thức đúng đắn về tình yêu, cung cấp thêm vốn sống cho học sinh làm hành trang vào đời
2.3 Giới thiệu chương trình
Chương trình sách giáo khoa ngữ văn lớp 12 tập một bộ cơ bản với phần thơ hiện đại chỉ tập trung ở học kỳ I của năm học với năm bài thơ hiện đại được học chính
thức: Tây tiến của Quang Dũng, Việt Bắc của Tố Hữu, Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm, Sóng của Xuân Quỳnh, Đàn ghi ta của Lor – ca
của Thanh Thảo Trong đó có hai bài thơ cách mạng thuộc giai đoạn kháng chiến chống
Pháp: Tây tiến của Quang Dũng và Việt Bắc của Tố Hữu Bài Đất nước ( trích trường ca
Mặt đường khát vọng ) của Nguyễn Khoa Điềm được sáng tác trong giai đoạn chống Mĩ Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh viết vào năm 1967 với nội dung về tình yêu của người phụ
nữ Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca được Thanh Thảo sáng tác vào giai đoạn sau 1975
Ngoài ra chương trình còn bổ sung một số bài thơ hiện đại cho phần đọc thêm: Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Dọn về làng của Nông Quốc Chấn, Đò Lèn của Nguyễn Duy, Bác
ơi của Tố Hữu, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên Phần thơ hiện đại trong chương trình
sách giáo khoa lớp 12 có thể chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn từ 1945 – 1975 gồm những bài thơ: Tây tiến, Việt Bắc, Dọn về làng, Đất nước ( trích trường ca Mặt đường khát vọng ), Sóng, Đất nước, Bác ơi, Tiếng hát con tàu Giai đoạn từ 1975 đến nay gồm: Đò Lèn và Đàn ghi ta của Lor-ca
Trang 17CHƯƠNG 2 : DẠY HỌC PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI LỚP 12 SGK NGỮ VĂN BỘ CƠ BẢN
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DẠY HỌC PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI LỚP 12 SGK
BỘ CƠ BẢN
1.1 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Theo bài giảng lý luận dạy học ngữ văn của nhóm tác giả Nguyễn Minh Chính, Nguyễn Thị Hồng Nam, Trần Đình Thích, Hà Hồng Vân, trường Đại học Cần Thơ, 2002 thì quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, đặc biệt coi trọng vai trò của học sinh “Học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học” Phương pháp giáo dục tích cực là sự tích hợp thường xuyên các mối quan hệ giáo dục như : trò - lớp - thầy trong quá trình dạy học, trong đó trò là chủ thể
Trò học tích cực bằng các hành động của chính mình, tự tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, tự tìm ra kiến thức, chân lý Điều đó sẽ giúp cho học sinh thu nhận kiến thức một cách chính xác và nhớ kiến thức lâu hơn, vận dụng kiến thức một cách linh hoạt sáng tạo hơn
Trang 18Lớp học là cộng đồng các chủ thể, là thực tiễn xã hội hiện tại và cả tương lai của người học trong nhà trường Lớp học được tổ chức nhằm mục đích giáo dục, là môi trường
xã hội trung gian giữa thầy và trò Trong lớp học mức độ, khả năng học tập của mỗi học sinh sẽ có sự chênh lệch Vì thế nếu những thành viên trong lớp học có sự chủ động, tích cực, hợp tác thì sẽ giúp những thành viên kém tiến bộ nhanh chóng hơn
Thầy là người tổ chức các hoạt động của trò, để trò khám phá ra vấn đề ứng dụng lý thuyết vào cuộc sống Các hoạt động của thầy hướng tới mục đích : hình thành và phát triển nhân cách con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo Vai trò của người thầy từ xưa cho đến nay đều rất quan trọng, trong việc thay đổi phương pháp dạy tích cực
để học sinh làm chủ kiến thức thì trách nhiệm tổ chức hoạt động học cho học sinh của người giáo viên càng trở nên khó hơn và quan trọng hơn
Để phát huy tính chủ động của học sinh trong học tập việc đánh giá kết quả đạt đượcc cũng có sự thay đổi Nếu như trước đây giáo viên là người trực tiếp đánh giá khả năng, kết quả học tập của học sinh thì hiện nay học sinh cũng có quyền tham gia vào hoạt động đó Học sinh tự đánh giá kết quả học tập của chính bản thân và đán giá kết quả đạt được của bạn học từ đó học sinh có thể nhận ra những sai lầm, thiếu sót của bản thân, của người khác và tự rút ra kinh nghiệm cho mình Học sinh cũng nhận ra những cách suy nghĩ, ý kiến hay, sáng tạo của bạn học và đúc kết điều đó thành bài học, kiến thức cho bản thân Trong việc đánh giá có hai kết quả cần đánh giá : tính chính xác của kiến thức thu lượm được và nguyên nhân của những lỗi lầm trong nhận thức Có ba biện pháp đánh giá : thầy đánh giá, trò tự đánh giá, học sinh đánh giá lẫn nhau Quan điểm dạy học hiện đại coi trọng việc trò tự đánh giá
Như vậy rõ ràng khi cho học sinh tham gia vào các hoạt động trên lớp, phát huy tính chủ động tích cực của học sinh, để cho học sinh tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét đánh giá bản thân và những người xung quanh sẽ giúp học sinh năng động, sáng tạo, tiến bộ hơn trong học tập Vì vậy mà trong dạy học hiện nay ngày càng chú trọng đến hoạt động học của học sinh Vấn đề lấy học sinh làm trung tâm đã được nói đến nhiều trong sách vở, báo, đài và để học sinh tiến bộ hơn, chất lượng học tập tốt hơn thì người giáo viên phải giúp học sinh phát huy khả năng làm việc độc lập, làm việc tập thể và tự khám phá vấn đề với
sự hướng dẫn của giáo viên, để học sinh thật sự tham gia vào hoạt động học tập
Trang 191.2 Năm định hướng của Marzano
- Thái độ và sự nhận thức tích cực trong học tập: Nhiệm vụ của một giáo viên ngoài việc cung cấp cho học sinh kiến thức còn phải giúp cho học sinh có thái độ nhận thức đúng đắn trong việc học Vì khi nhận thức được nguyên nhân, và tầm quan trọng của việc học sẽ giúp học sinh có thái độ học tập tích cực Khi có thái độ học tập nghiêm túc học sinh sẽ tiến bộ hơn Bên cạnh đó người giáo viên còn phải tạo được bầu không khí tích cực trong giờ học để học sinh cảm thấy hứng thú và giảm bớt áp lực, căng thẳng cho học sinh Trên thực tế nếu một học cứ trôi qua lặng lẽ với bầu không khí nặng nề, nhất là những bài học khó sẽ tạo ra nhiều áp lực cho học sinh và mức độ tiếp thu bài học của các
em sẽ giảm sút Ngược lại khi người giáo viên biết kết hợp bài dạy của mình với nhũng tình huống, những câu chuyện thực tế mang tính hài hước, hoặc một câu hỏi, một cử chỉ quan tâm đến học sinh sẽ giúp các em cảm thấy thoải mái hơn, hứng thú hơn, ít cảm thấy căng thẳng hơn, vì thế mà mức độ tiếp thu bài sẽ nhanh hơn, hiệu quả hơn Như vậy có thể nói thái độ nhận thức tích cực trong học tập và việc tạo được bầu không khí tích cực trong giờ học giúp ích cho học sinh rất nhiều trong việc thu nhận kiến thức Ngoài ra nội dung kiến thức, bài tập phải rõ ràng, phù hợp với khả năng học sinh
- Thu nhận và tổng hợp kiến thức: Theo Marzano có hai loại kiến thức: Kiến thức thông báo và kiến thức quy trình Kiến thức thông báo gồm: khái niệm, định nghĩa, sự kiện v.v…Kiến thức quy trình được xây qua ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: xây dựng quy trình
Giai đoạn 2: định hình quy trình
Giai đoạn 3: nhập tâm quy trình
Kiến thức thông báo cung cấp cho người học những khái niệm định nghĩa, giúp người học hiểu được vấn đề Kiến thức quy trình giúp người học có thể vận dụng những hiểu biết từ kiến thức thông báo vào thực tế Vì thế nếu chỉ nắm kiến thức thông báo người học sẽ dễ quên những gì được học sau một thời gian, để có thể lưu lại kiến thức lâu hơn buộc người học phải vận dụng kiến thức đó vào những bài tập, tình huống cụ thể Vì thế để giúp học sinh nắm vững và ghi nhớ kiến thức sâu hơn giáo viên phải dạy kiến thức quy trình bằng cách hướng dẫn quy trình sau đó cho người học thực hiện, hoặc làm mẫu cho học sinh quan sát và tự rút ra quy trình
Trang 20- Mở rộng và tinh lọc kiến thức: Trong một bài học sẽ có kiến thức đã được học, kiến thức chưa được học và những kiến thức trọng tâm và những kiến thức không quan trọng lắm Vì thế người giáo viên cần giúp học sinh xác định được kiến thức trọng tâm của bài học và ghi nhớ kiến thức đó một cách vững chắc bằng các phương pháp: So sánh – phân loại, quy nạp – diễn dịch, phân tích – tổng hợp, trừu tượng hóa – khái quát hóa, phân tích lỗi – phân tích quan điểm Từ bài học người giáo viên hứng dẫn cho học sinh vận dụng vào bài tập, so sánh với bài học khác có liên quan hoặc liên hệ những nét tương đồng
và dị biệt với bài học khác đã được học, có thể cho học sinh liên hệ bài học với thực tế mà học sinh đã biết từ vốn sống của học sinh hoặc từ địa phương của học sinh Giáo viên có thể giúp học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức bằng cách đặt những câu hỏi tình huống yêu cầu học sinh liên hệ, so sánh, phân tích, tổng hợp vừa tạo cho học sinh sự hứng thú vừa giúp học sinh nắm kiến thức vững hơn
- Sử dụng kiến thức có hiệu quả: Kiến thức học sinh được học chỉ thật sự có hiệu quả khi học sinh có thể vận dụng những kiến thức đó một cách linh hoạt, sáng tạo và
có quyết định phù hợp trước các vấn đề của thực tiễn Để học sinh có thể làm được điều đó người giáo viên phải cho học sinh giải quyết các bài tập, tình huống thường xuyên với nhiều cấp độ từ dễ đến khó, đặt cho học sinh những câu hỏi hoặc tình huống có vấn đề, những câu hỏi có độ gây nhiễu cao (nhưng vừa với khả năng của học sinh), những câu hỏi khơi gợi suy nghĩ của học sinh về vấn đề được đặt ra để thử thách sự linh hoạt, sáng tạo của học sinh giúp học sinh mạnh dạn phát biểu ý kiến của bản thân về vấn đề được học Từ
đó giáo viên có thể giúp học sinh phát huy những ý nghĩ sáng tạo, đồng thời điều chỉnh những suy nghĩ còn thiếu sót, lệch lạc của học sinh
- Tạo thói quen tư duy: Có thể nói khả năng sử dụng kiến thức có hiệu quả làm nền cho thói quen tư duy của học sinh Có ba loại tư duy: tư duy tự điều chỉnh, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo Khi giáo viên đưa ra tình huống để học sinh tự giải quyết, học sinh
có thể vấp phải những sai sót, lầm lẫn Khi được hướng dẫn giải đáp học sinh sẽ tự điều chỉnh những sai sót, lầm lẫn đó của bản thân Quá trình tự làm việc như thế nhiều lần sẽ tạo cho học sinh tư duy tự điều chỉnh để hoàn thiện hơn kiến thức của mình Khi là việc với tập thể (tổ, nhóm bạn học) cũng tạo cho học sinh thói quen tự điều chỉnh Khi học hợp tác giữa các nhóm học sinh có quyền đưa ra những ý kiến nhận xét về cách giải quyết vấn
Trang 21đề của bạn học, từ đó tạo cho học sinh thói quen tư duy phê phán thậm chí học sinh sẽ nêu
ra những ý kiến, cách giải quyết của bản thân, của nhóm mình về vấn đề ấy điều đó tạo cho học sinh thói quen tư duy sáng tạo Đây là mục đích cao nhất trong việc học Nếu người giáo viên có thể tạo cho học sinh những thói quen tư duy trên sẽ tạo cho học sinh khả năng tự học suốt đời
vì những ưu điểm ấy mà việc học hợp tác đã được áp dụng ở nhiều cấp học từ phổ thông đến đại học Tổ chức học hợp tác cho học sinh người giáo viên phải chuẩn bị việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm một cách chu đáo: hệ thống câu hỏi phải là câu hỏi có vấn đề cần được giải quyết và tập trung vào trọng tâm bài học, mức độ khó trong câu hỏi của mỗi nhóm không quá chênh lệch, tùy vào bài học mà nên cho học sinh học làm việc theo loại hình nhóm nào Có năm loại hình nhóm: làm việc theo cặp 02 học sinh, làm việc theo nhóm 04 – 05 học sinh, nhóm ghép hai lần, nhóm kim tự tháp, hoạt động trà trộn Người giáo viên phải thật linh hoạt trong hoạt động tổ chức cho học sinh học hợp tác, có thể luân phiên thay đổi vai trò của học sinh trong nhóm để học sinh có thể thử sức ở nhiều vị trí, không sử dụng một loại hình nhóm trong suốt quá trình học Giáo viên có thể phát huy khả năng lập luận của học sinh bằng cách không gọi đại diện nhóm mà gọi bất kì một thành
Trang 22viên trong nhóm phát biểu ý kiến và điều đó có thể dần khắc phục được tính nhút nhát của học sinh khiến học sinh năng động và sáng tạo hơn Khi đánh giá kết quả thảo luận giáo viên nên cố gắng quan sát hoạt động của từng học sinh trong nhóm để có nhận xét, đánh giá khách quan hơn Giáo viên không nên hướng dẫn riêng cho nhóm học sinh nào để các
em có thể tập tính độc lập trong việc giải quyết vấn đề và tránh sự thiếu công bằng giữa các nhóm Trong quá trình học nhóm người giáo viên giữ vai trò tổ chức, học sinh là người giải quyết vấn đề và đưa ra kết quả với sự hướng dẫn của giáo viên Nếu người giáo viên
tổ chức tốt hoạt động học hợp tác kết hợp với tinh thần hoạt động tích cực của học sinh thì việc học hợp tác sẽ đem lại cho giờ học hiệu quả cao và không khí tích cực
1.4 Đặc điểm dạy học phần thơ hiện đại trong chương trình lớp 12 SGK Ngữ văn bộ cơ bản
- Những thuận lợi: Khoảng cách về thời đại giữa học sinh và văn học hiện đại
không quá xa so với văn học trung đại Ngôn ngữ được sử dụng trong văn chương hiện đại gần gũi với đời sống, không mang tính chất ước lệ tượng trưng như trong trong văn chương trung đại Điều đó giúp học sinh dễ cảm nhận hơn khi học tác phẩm hiện đại so với khi học tác phẩm trung đại Thơ hiện đại trong sách giáo khoa lớp 12 ( bộ cơ bản ) thuộc giai đoạn chống Pháp và chống Mĩ, học sinh lớp 12 được học lịch sử Việt Nam song song với chương trình văn học Việt Nam giai đoạn này sẽ giúp ích cho học sinh hiểu hoàn cảnh sáng tác của một số bài thơ Những bài thơ được phân bố trong sách giáo khoa theo trình tự từ văn học chống Pháp đến văn học chống Mĩ sẽ giúp học sinh dễ dàng nắm bắt quá trình phát triển của văn học văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 nói chung và quá trình phát triển của thơ ca cách mạng giai đoạn 1945 – 1975 nói riêng Thơ thường có vần điệu, giàu nhạc tính và ngắn gọn nên dễ nhớ, dễ thuộc
- Những khó khăn: Thông thường khoảng cách giữa người tiếp nhận và tác phẩm thơ sẽ lớn hơn so với tác phẩm văn nên điều đó cũng là một trở ngại đối với học sinh khi tiếp nhận tác phẩm thơ Mặt khác thơ ca giai đoạn này là thơ ca trữ tình chính trị, giàu chất hiện thực, bi tráng là một bản anh hùng ca dẫu có yếu tố trữ tình nhưng ít mượt mà hơn so với thơ mới ở giai đoạn trước có thể sẽ ít tạo được sự hứng thú cho học sinh so với khi học thơ ca của phong trào thơ mới Trên thực tế nhiều lúc sự tiếp nhận và rung cảm của giáo
Trang 23viên chưa hẳn đồng nhất với sự tiếp nhận và rung cảm của học sinh Đó là những khó khăn thường thấy trong quá trình dạy tác phẩm thơ
2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 12 SGK BỘ CƠ BẢN
2.1 Phương pháp đọc tác phẩm
Để tiếp nhận được tác phẩm việc làm cần thiết đầu tiên là đọc tác phẩm Thông thường việc đọc tác phẩm bị xem nhẹ vì lí do thời lượng của tiết học quá ngắn Nhiều học sinh không có thói quen đọc tác phẩm trước khi đến lớp, học sinh chỉ vào lớp và chờ nghe giáo viên hoặc các bạn khác tóm tắt nội dung, chủ đề tác phẩm và ghi chép Như thế học sinh sẽ khó nắm bắt được tác phẩm, khó ghi nhớ nội dung tác phẩm (nếu có thì cũng ghi nhớ những ý chính dễ bỏ sót những chi tiết của tác phẩm) đặc biệt sẽ làm cho học sinh khó cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm dần dần làm thui chột đi sự sáng tạo trong việc tiếp nhận tác phẩm của học sinh Vì thế giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh đọc tác phẩm trên lớp Việc đọc đối với tác phẩm thơ đặc biệt quan trọng, tác phẩm thơ thường ngắn gọn hơn truyện, kí không chiếm nhiều thời gian của tiết học,… tính nhạc trong thơ cao tạo được cảm xúc và hiệu quả thẩm mĩ cao Mặt khác thơ có tính hàm súc cao vì thế khoảng cách giữa thơ và người tiếp nhận lớn hơn so với tác phẩm tiểu thuyết hoặc truyện,
kí nên việc đọc tác phẩm trong lớp càng trở nên cần thiết.Có nhiều cách đọc: đọc thầm, đọc to, đọc diễn cảm,… Trong giờ học giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh đọc tác phẩm: cách ngắt nhịp, giọng điệu (buồn, vui, tha thiết, hào hùng,…) Sau khi học sinh đọc xong giáo viên chỉnh sửa uốn nắn lại những chổ sai hoặc chưa thật tốt và đọc mẫu cho học sinh nghe một lần trước khi đi vào tìm hiểu tác phẩm Phương pháp này tuy đơn giản nhưng có hiệu quả cao có thể giúp học sinh bước đầu cảm thụ được tác phẩm, tạo được cảm xúc thẩm mĩ, rèn luyện cho học sinh cách đọc diễn cảm, cách ngắt nhịp, nhấn trọng
âm, kích thích sự hứng thú khám phá tác phẩm của học sinh Từ đó tạo cho học sinh thói quen đọc tác phẩm, rèn luyện văn hóa đọc cho học sinh Học sinh có thể tự đọc tác phẩm trong quá trình soạn bài trước khi đến lớp Khi đến lớp học sinh được tiếp xúc với tác phẩm thông qua giọng đọc của bạn học và của giáo viên sẽ giúp học sinh có nhiều cảm nhận mới mẽ về tác phẩm đồng thời tự chỉnh sửa uốn nắn cách đọc của mình theo sự hướng dẫn của giáo viên Việc đọc của học sinh cũng giúp giáo viên kiểm tra được sự cảm
Trang 24thụ tác phẩm của học sinh đạt đến mức độ nào Chỉ đọc rõ, đọc to và trôi chảy thì chưa đủ
mà phải đọc diễn cảm, việc đọc phải diễn đạt được tâm trạng của nhân vật trữ tình ở trong thơ, diễn đạt được những cung bậc cảm xúc trong thơ… Có nhiều thời điểm đọc tác phẩm: trước khi phân tích tác phẩm, trong quá trình phân tích, đọc khi kết thúc bài giảng nhưng thông thường đọc vào đầu giờ và trong quá trình phân tích sẽ tạo được hiệu quả cao hơn Trong quá trình đọc tác phẩm giáo viên hướng dẫn học sinh gạch dưới những từ ngữ, hình ảnh thơ được lập lại nhiều lần, những nét nghệ thuật tiêu biểu để làm tiền đề cho quá trình phân tích tác phẩm Trong quá trình phân tích tác phẩm giáo viên có thể đọc lại hoặc gọi học sinh đọc lại những đoạn thơ quan trọng, giúp học sinh ghi nhớ đoạn thơ vừa có thể uốn nắn cách đọc kĩ càng hơn Trong chương trình văn học lớp 12 phần thơ hiện đại có bài
Việt Bắc của Tố Hữu viết theo lối đối đáp giao duyên giáo viên có thể cho hai học sinh
phân đoạn và đọc như lối đáp của ca dao để làm bật nổi sự quyến luyến khi xa cách, sự
gắn bó giữa tình quân dân Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh thể hiện tình cảm vừa mềm mại,
dịu dàng vừa mãnh liệt của người phụ nữ giáo viên nên chọn một học sinh nữ đọc bài thơ với chất giọng trong và nhẹ nhàng sẽ phù hợp với giọng điệu của bài thơ Hoạt động đọc nên diễn ra xen kẽ với những hoạt đông phân tích tìm hiểu tác phẩm sẽ đạt hiệu quả cao hơn Nếu có điều kiện giáo viên nên cho học sinh nghe bài thơ qua giọng ngâm của các nghệ sĩ, hoặc bài hát được phổ nhạc từ bài thơ để học sinh có thể cảm nhận và so sánh qua nhiều cách trình bày Việc đọc tác phẩm rất hữu ích trong giờ học và cả khi học sinh tự đọc trước khi đến lớp Mỗi học sinh đều là một đọc giả, các em có thể đọc rất nhiều tác phẩm văn thơ trong và ngoài chương trình học của các em Với số lượng sách báo xuất bản nhiều như hiện nay các em cần có thói quen đọc và tìm hiểu để bắt kịp thời đại Rèn luyện được thói quen đọc tác phẩm cho học sinh là bước đầu giúp học sinh tạo được khả năng tự học, phát triển được những cảm nhận, những suy nghĩ mới lạ, sáng tạo của học sinh về tác phẩm văn chương trong nhà trường và cả những tác phẩm văn chương ngoài chương trình học
2.2 Phương pháp diễn giảng tích cực
Phương pháp diễn giảng có từ rất lâu và cho đến nay vẫn còn được sử dụng trong nhà trường Phương pháp này có những ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm
mà khi sử dụng người giáo viên phải cố gắng khắc phục Theo “Bài giảng lí luận dạy học
Trang 25ngữ văn” của nhóm tác giả Nguyễn Minh Chính, Nguyễn thị Hồng Nam, Trần Đình Thích,
Hà Hồng Vân, trường Đại học Cần Thơ, 2002 “diễn giảng là phương pháp trình bày, thông báo có hệ thống một vấn đề mới cho học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức sau đó tái hiện lại kiến thức đó”[tr 62] Các tác giả đã nêu ra những ưu điểm cũng như những nhược
điểm của phương pháp này Những mặt mạnh của phương pháp này là giúp học sinh nắm kiến thức một cách có hệ thống, tiết kiệm được thời gian, không cần sử dụng những phương tiện dạy học đặc biệt, giáo viên không tốn nhiều công sức cho việc chuẩn bị Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này khá nhiều Khi sử dụng phương pháp này sẽ làm cho học sinh trở nên thụ động vì phần lớn thời gian làm việc là của giáo viên, học sinh chỉ nghe và ghi chép, hoạt động phát biểu và làm việc của học sinh ít nên dễ sinh ra tâm lí mệt mõi và chán nản vì thế sự chú ý sẽ giảm sút Hoạt động học tập của học sinh quá ít nên việc ghi nhớ kiến thức cũng không được nhiều Học sinh có thể hiểu bài nhưng không nhớ
kĩ, nhớ lâu kiến thức Nếu trong suốt buổi học giáo viên chỉ sử dụng phương pháp này thì hiệu quả cần đạt là rất thấp Vì vậy để khắc phục nhược điểm của phương pháp này khi sử dụng giáo viên cần kết hợp với những phương pháp khác như: đàm thoại, gợi mở để phát huy tính tích cực cho học sinh, tăng hoạt động học tập cho học sinh để các em tham gia vào quá trình học tập, thông qua việc vấn đáp cũng giúp các em trao đổi ý kiến chủ quan của mình về vấn đề được đặt ra làm cho các em cảm thấy hứng thú hơn trong học tập Để tránh cho học sinh sự mệt mỏi, căng thẳng do diễn giảng trong một thời gian dài, giáo viên nên kết hợp kể những câu chuyện vui văn học hay lấy ví dụ từ thực tế có liên quan đến bài học để tạo bầu không khí tích cực, tạo sự thư giãn thoải mái cho học sinh Giáo viên cho học sinh làm bài tập ở giữa hoặc cuối giờ Đó là phương pháp diễn giảng tích cực nhằm hạn chế bớt những nhược điểm của phương pháp diễn giảng theo lối cũ Trong “ Bài giảng
lí luận dạy học ngữ văn” các tác giả còn đưa ra các bước để thực hiện một tiết dạy bằng phương pháp diễn giảng tích cực: bước một là giới thiệu bài mới như giới thiệu trực tiếp nội dung bài hoặc có thể gợi lại kiến thức về tác giả, tác phẩm về một vấn đề đã được học sau đó liên hệ với kiến thức mới, so sánh điểm giống và khác nhau giữa tác giả, tác phẩm
mà học sinh đã học với tác giả, tác phẩm mới đó là những cách vào bài thường gặp Giáo viên cũng có thể đặt câu hỏi về tựa đề tác phẩm, mở đầu bằng một sự kiện thời sự, giới thiệu một bức tranh, ảnh có liên quan đến bài học, kể một câu chuyện có liên quan đến nội
Trang 26dung bài học,…Bước hai: hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức mới, người giáo viên giúp học sinh khám phá kiến thức, giáo viên có thể trình bày vấn đề bằng con đường diễn dịch tức là công đoạn đầu tiên giáo viên trình bày khái niệm, định nghĩa, công đoạn tiếp theo giáo viên đưa ra những ví dụ hoặc mô hình, hình ảnh kết hợp với việc giúp học sinh phân tích, chứng minh cho khái niệm, định nghĩa đó Con đường quy nạp giáo viên cho học sinh những ví dụ, giúp học sinh phân tích những ví dụ đó trên cơ sở phân tích giáo viên có thể nêu lên khái niệm, định nghĩa hoặc yêu cầu học sinh rút ra khái niệm định nghĩa đó Bước ba kết luận, giáo viên tóm tắt lại vấn đề đã trình bày trong bài giảng và đây
là kiến thức cốt lõi nhất mà học sinh phải nắm Đối với phần thơ hiện đại trong chương trình lớp 12 việc giúp học sinh tiếp cận tác phẩm cũng phải sử dụng phương pháp diễn giảng tích cực Giáo viên có thể vừa sử dụng phương pháp diễn giảng vừa phát huy tính chủ động tích cực của học sinh bằng nhiều biện pháp như đã nêu trên, đặt câu hỏi gợi mở cho học sinh, để học sinh có thể nêu lên ý kiến của bản thân về vấn đề mà giáo viên đặt ra như: “Em thích nhất đoạn thơ nào trong bài thơ và hãy nêu cảm nhận của em về đoạn thơ
ấy”; “ Cùng viết về đề tài đất nước nhưng đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm và Đất nước của Nguyễn Đình Thi lại thể hiện quan niệm về đất nước khác nhau Em hãy
trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề này” Giáo viên gợi mở để học sinh nói những suy nghĩ ý kiến riêng của bản thân về bài học điều đó buộc học sinh phải suy nghĩ liên tưởng
và so sánh tạo cho học sinh sự sáng tạo trong học tập và làm cho học sinh cảm thấy hứng thú hơn, tự tin hơn khi được thể hiện những suy nghĩ của bản thân Giáo viên cũng có thể kết hợp diễn giảng với việc cung cấp cho học sinh thêm một số tư liệu vế những địa danh
trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng như: Mường Lát, Mường Hịch, sông Mã,…tạo
bầu không khí tích cực cho lớp học, tạo sự thân thiện gần gũi, sự gắn kết giữa thầy và trò làm cho giờ học nhẹ nhàng và ít căng thẳng hơn Không nên diễn giảng suôn trong suốt thời gian của tiết học, người giáo viên cần phải linh hoạt tổ chức kết hợp diễn giảng với các hoạt động khác như học hợp tác, cho học sinh điền vào các sơ đồ, biểu bảng,…hoặc kể cho học sinh nghe một số chuyện vui về tác giả, tác phẩm, có thể đọc một đoạn thơ, bài thơ ngắn ra đời cùng thời điểm, cùng viết về một đề tài với tác phẩm đang được học Đối với thơ trong phương pháp diễn giảng việc giảng bình là chủ yếu và có hiệu quả cao Trong quá trình diễn giảng giáo viên kết hợp bình luận, giúp cho học sinh thấy cái hay, cái
Trang 27đẹp, cái độc đáo của khổ thơ, đoạn thơ, giúp các em khám phá ra những điều mới lạ mà có thể các em chưa biết sẽ giúp các em cảm thấy hứng thú hơn trong học tập Người giáo viên nên phối hợp nhịp nhàng giữa giảng và bình Nếu sa vào bình thì sẽ làm cho ý chính của bài giảng loãng đi và thậm chí còn làm giảm giá trị thẩm mĩ của bài thơ Nếu chỉ chú trọng vào lí giải thì bài học sẽ trở nên khô khan dễ khiến cho học sinh nhàm chán, khó tiếp thu Giảng bình là yếu tố quan trọng trong tiết dạy những tác phẩm trữ tình Tuy nhiên người giáo viên phải biết lựa chọn những chi tiết thật đắc để bình và chỉ giảng giải kĩ những ý trọng tâm của bài học như thế thì tiết dạy mới đạt hiệu quả cao, vừa giúp học sinh nắm được nội dung bài học vừa tạo được cảm xúc thẩm mĩ trong lòng học sinh Với những bài
thơ cách mạng trong chương trình lớp 12 như Tây Tiến, Việt Bắc, vừa có yếu tố lãng mạng
vừa có yếu tố chính trị Người giáo viên khi sử dụng phương pháp bình giảng nên giúp cho học sinh thấy rõ sự đan xen giữa hai yếu tố đó, giáo viên nên chọn bình những đoạn thơ
thể hiện sự lãng mạn, tinh nghịch của người lính Tây Tiến và giảng giải cho học sinh thấy
được trong sự lãng mạn đó có tinh thần chiến đấu mạnh mẽ của những người lính, giúp học sinh thấy được tính chất lãng mạn, bi tráng trong tác phẩm, thấy được cách dùng từ
độc đáo “súng ngửi trời”,…Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu giáo viên nên chọn bình
những đoạn thơ gợi tả bức tranh Việt Bắc qua bốn mùa từ đó giảng giải giúp học sinh thấy được yếu tố lãng mạn và thấy được hình ảnh của người lao động, tình quân dân gắn bó trong những ngày gian khổ, cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc Từ
đó kéo gần khoảng cách thẩm mĩ giữa nhà thơ và học sinh Nhiệm vụ của người giáo viên khi dạy tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm thơ nói riêng là đem những hiểu biết những rung cảm của bản thân làm sao để học sinh cũng tiếp nhận được những tri thức và cũng có được những rung cảm do tác phẩm đem lại
2.3 Phương pháp đàm thoại
Trong một tiết dạy nếu giáo viên chỉ sử dụng phương pháp diễn giảng sẽ làm cho học sinh thụ động Nếu sử dụng phương pháp diễn giảng thì nên diễn giảng tích cực, tức là diễn giảng kết hợp với gợi mở, cho bài tập để học sinh được tham gia vào quá trình học tập Thực chất của phương pháp đàm thoại là gợi mở, trao đổi giữa giáo viên và học sinh Phương pháp đàm thoại có nhiều ưu điểm giúp cho học sinh phát huy được tính năng
Trang 28động sáng tạo, làm giảm đi tính nhút nhát của học sinh, học sinh có thể trình bày những hiểu biết của mình một cách mạnh dạn, học sinh dần dần có được khả năng trình bày vấn
đề trước đông người Thông qua việc trao đổi giáo viên có thể biết được khả năng học tập của từng học sinh Giờ học bớt đi áp lực căng thẳng tạo mối quan hệ gần gũi hơn giữa giáo viên và học sinh Muốn sử dụng phương pháp này giáo viên phải tốn nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị bài soạn và trên lớp cũng vấp phải nhiều khó khăn vì học sinh phải suy nghĩ tìm câu trả lời nên mất nhiều thời gian làm cho giờ dạy dễ bị cháy giáo án Học sinh có thể đưa ra nhiều câu trả lời bất ngờ, không đúng với mục đích yêu cầu của giáo viên v.v,… Có thể sử dụng phương pháp đàm thoại cho việc dạy những bài thơ hiện đại trong chương trình SGK lớp 12 (bộ cơ bản) Vấn đề quan trọng đối với phương pháp này
là xây dựng hệ thống câu hỏi Câu hỏi có thể khơi gợi sự liên tưởng, so sánh của học sinh với bài học khác đã được học nhưng phải tập trung vào những vấn đề trọng tâm của bài
thơ đang được học về nội dung cũng như về nghệ thuật Trong Phương pháp dạy học văn
của một nhóm tác giả do Phan Trọng Luận chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998
có nêu ra phương pháp gợi mở và tác giả cho rằng “Hệ thống câu hỏi gợi mở có thể dựa vào một số vấn đề then chốt về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm giúp học sinh khơi sâu và nâng cao năng lực cảm thụ ban đầu”[tr.95] Câu hỏi đi dần từ mức độ dễ đến mức
độ khó hơn Ví dụ giáo viên có thể yêu cầu học sinh “ tìm những chi tiết thể hiện quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước?” sau đó tiếp tục yêu cầu học sinh thông qua những chi tiết ấy hãy cho biết những tình cảm, những nhận thức của nhà thơ về đất nước?” Đó là những câu hỏi ở mức độ tư duy thấp Đối với những học sinh có khả năng
tư duy cao hơn giáo viên có thể đặt những câu hỏi mang tính chất gợi mở, so sánh, liên tưởng, khái quát, tổng hợp vấn đề Ví dụ giáo viên có thể đọc cho học sinh nghe bài thơ
Đất nước của Nguyễn Đình Thi sau đó yêu cầu học sinh so sánh quan niệm về Đất nước
của Nguyễn Khoa Điềm Giáo viên dẫn dắt học sinh đi dần đến câu trả lời đúng Đối với
bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh thì hình tượng nghệ thuật sóng như là một biểu tượng thể
hiện tình cảm vừa mãnh liệt lại vừa dịu dàng của người phụ nữ Giáo viên có thể giúp học sinh khám phá ra ý nghĩa của biểu tượng đó bằng cách đặt câu hỏi có tính gợi mở “ Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh và tính chất của sóng đan xen với lời thổ lộ, tâm tình của nhân vật trữ tình từ đó em có suy nghĩ và nhận xét gì?” Với sự gợi mở từ ban đầu sẽ giúp cho học
Trang 29sinh dễ nhận ra vấn đề hơn và vì thế câu trả lời của học sinh sẽ ít đi chệch với dụng ý của giáo viên đồng thời tạo cho học sinh hình thành tư duy suy luận Phương pháp đàm thoại
là một trong những phương pháp có hiệu quả cao trong việc tạo cho học sinh khả năng tư duy, khái quát, tổng hợp, suy luận, liên tưởng và so sánh Nhưng trong một tiết học nên có
sự kết hợp phương pháp này với những phương pháp khác Nếu như chỉ sử dụng phương pháp này thì giờ giảng văn chỉ nghiêng về trí tuệ mất đi tính mượt mà của văn chương Vì thế sử dụng phương pháp này cần kết hợp với bình giảng Những câu hỏi khó giáo viên nên cho học sinh làm việc nhóm Để hạn chế bớt nhược điểm mất thời gian của phương pháp này như đã nêu trên giáo viên nên tùy vào khối lượng kiến thức mà số lượng câu hỏi
2.4 Phương pháp dạy học nêu vấn đề
Trong Bài giảng lí luận dạy học ngữ văn của những tác giả Nguyễn Thị Hồng
Nam, Nguyễn Minh Chính, Trần Đình Thích, Hà Hồng Vân, trường Đại học Cần Thơ,
2002 trình bày về những phương pháp dạy học văn rất chi tiết cụ thể trong đó có cả những phương pháp đã nêu trên và phương pháp đang được trình bày Trong phương pháp này các tác giả cho rằng: “ Dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là dạy học giải quyết vấn đề Đây
là một hình thức phát huy được tính sáng tạo tích cực cho học sinh nhưng cũng là một hình thức còn mới mẽ và tương đối khó đối với học sinh Do vậy, khi áp dụng kiểu dạy học này giáo viên cần có sự hướng dẫn cụ thể và cần chú ý đến trình độ học sinh Hình thức dạy học nêu vấn đề rất thích hợp với các lớp học sinh giỏi, khá, với các lớp trung bình hình thức này chỉ nên sử dụng ở mức độ nhất định” [tr 85]
Như vậy phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp mà người giáo viên
sử dụng để kích thích sự sáng tạo của học sinh Phương pháp này bắt buộc người dạy phải nhận ra những vấn đề trong tác phẩm và đặt vấn đề cho người học buộc người học phải tìm hiểu, khám phá vấn đề và lí giải vấn đề Khi tự khám phá ra tri thức người học sẽ cảm thấy
lí thú, phấn khởi và sẽ ghi nhớ bài lâu hơn, sâu sắc hơn Với phương pháp dạy học nêu vấn
đề giáo viên nên kết hợp với việc tổ chức học nhóm như vậy sẽ tạo được sự trao đổi những suy nghĩ, sự giao lưu hiểu biết giữa các học sinh giúp các em nâng cao được tri thức và khả năng làm việc với nhiều người Như đã nêu trên vấn đề được đưa ra phải là những vấn
đề mà học sinh chưa biết hoặc biết rất ít và những vấn đề đưa ra không nằm ngoài nội
Trang 30dung bài học Thơ hiện đại thường có khoảng cách về quan niệm, về văn hóa, tình cảm,…gần gũi với học sinh hơn so với thơ cổ trung đại Tuy nhiên những bài thơ hiện đại trong chương trình sách giáo khoa lớp 12 (bộ cơ bản) được sáng tác khá lâu trong khi học sinh còn quá trẻ, kinh nghiệm và vốn sống chưa nhiều nên giáo viên vẫn có thể áp dụng phương pháp này cho việc dạy những tác phẩm thơ hiện đại Khi đưa ra vấn đề cho học sinh, giáo viên có thể cho học sinh học nhóm loại nhóm 02 học sinh hoặc loại hình nhóm
từ 4 – 5 học sinh Vì những loại hình nhóm như: nhóm ghép sẽ mất nhiều thời gian, nếu giáo viên không quản lí tốt sẽ gây ồn ào và xáo trộn trật tự trong lớp học Với những bài thơ trong chương trình sách giáo khoa lớp 12 giáo viên có thể đặt vấn đề cho mỗi nhóm học sinh giải quyết cả về nội dung lẫn hình thức để tránh sự chênh lệch về độ khó giữa mỗi
nhóm Với những bài thơ có dung lượng dài như Đất Nước, Việt Bắc giáo viên không nên
cho học sinh giải quyết quá nhiều vấn đề sẽ làm mất nhiều thời gian Nếu muốn sử dụng phương pháp này tốt thì giáo viên có thể đưa ra vấn đề yêu cầu HS tìm hiểu trước khi học
Với những bài thơ có dung lượng ngắn như Tây Tiến, Sóng, Đàn ghi-ta của Lorca giáo
viên có thể đặt vấn đề trên lớp và cho học sinh thảo luận nhóm Đối với thơ thông thường vấn đề là tìm biện pháp nghệ thuật và giá trị nội dung Nhưng để khơi gợi sự sáng tạo buộc học sinh phải đầu tư suy nghĩ giáo viên nên đặt những vấn đề có tính chất gợi mở để học sinh thể hiện những suy nghĩ của bản thân Ví dụ giáo viên có thể đặt vấn đề cho học sinh
về bài Sóng “ Tại sao tác giả dùng hình tượng sóng để bộc lộ tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình?” Với bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca giáo viên có thể đặt vấn đề cho học sinh “
Biểu tượng áo choàng đỏ gắt và đàn ghi-ta trong bài thơ có ý nghĩa như thế nào?”, “ Những âm thanh Li-la-li-la-li-la xuất hiện xuyên suốt trong bài thơ có ý nghĩa gì?” Hay
trong bài Đất nước giáo viên có thể đặt vấn đề cho học sinh “ Tại sao Nguyễn Khoa Điềm
lại viết: “Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu mà về nước mình lại bắt lên câu hát” Em có suy nghĩ gì về câu thơ trên?” Những dạng câu hỏi khơi gợi sự suy nghĩ của học sinh về những vấn đề mới lạ vừa kích tích sự tìm tòi, óc sáng tạo của học sinh vừa làm cho học sinh cảm thấy hào hứng và hứng thú hơn trong học tập Tuy nhiên phương pháp này còn khá mới và sử dụng rất dè dặt cần được sử dụng trong nhà trường phổ thông nhằm giúp học sinh ngày một nâng cao khả năng học tập một cách sáng tạo tránh lối rập khuôn máy móc theo những cảm nhận suy nghĩ của giáo viên hoặc nói theo sách tham khảo
Trang 312.5 Phương pháp sử dụng trực quan
Trên thực tế con người tiếp nhận thông tin qua nhiều giác quan: thính giác, thị giác, xúc giác Vì thế phương pháp dạy học này nhằm kết hợp nhiều phương pháp tiếp nhận cho học sinh Và với hệ thống thông tin phát triển như hiện nay nhiều tác phẩm văn chương được chuyển thể thành các loại hình nghệ thuật khác như: tranh ảnh, kịch, phim, phổ nhạc Nếu sử dụng phương pháp này trong dạy học sẽ giúp học sinh nhìn nhận vấn đề
ở nhiều khía cạnh hơn Có nhiều cách thức sử dụng phương pháp này trong dạy học văn:
sử dụng tranh ảnh, vật thật, sử dụng các loại biểu bảng, các mô hình Vốn sống của mỗi người rất khác nhau, có những nơi mà học sinh có thể chưa từng đến, có những vật chưa từng thấy, những nơi ấy, những vật ấy có thể đi vào thơ ca mà học sinh không thể liên tưởng hay tưởng tượng ra được Vì thế để giúp học sinh hiểu được những sự vật, hiện tượng mới mẽ ấy giáo viên có thể cho học sinh xem một bức tranh, một hiện vật, hoặc có thể là một đoạn video có liên quan đến những vật được nói đến trong bài học để việc liên
tưởng của học sinh có cơ sở hơn Trong bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca những hình ảnh thơ như “ áo choàng đỏ gắt” có thể là hình ảnh và nét văn hóa mới lạ đối với học sinh, giáo
viên có thể thu thập những tranh ảnh có liên quan đến lễ hội đấu bò tót của Tây Ban Nha
để giới thiệu với học sinh, giúp học sinh hiểu thêm về hình ảnh thơ và nét văn hóa của
nước bạn Hoặc trong bài Đất Nước có những hình ảnh “ Hòn Trống Mái”, có thể là những
địa danh còn xa lạ đối với học sinh ở địa phương khác vì thế giáo viên có thể cho học sinh tiếp xúc qua xem ảnh Ngoài những tranh ảnh, băng hình giáo viên còn có thể sử dụng trực quan hỗ trợ cho bài dạy bằng những sơ đồ, biểu bảng Đây có thể xem như là một dạng bài tập nếu giáo viên sử dụng sơ đố, biểu bảng khuyết và yêu cầu học sinh bổ sung Loại sơ đồ
để củng cố nội dung bài học thường được sử dụng cuối tiết học, cuối bài học Yêu cầu của một sơ đồ trực quan phải thể hiện nội dung cốt lõi của bài học, rõ ràng và chính xác Với việc sử dụng sơ đồ, biểu bảng vừa như một phương pháp trực quan vừa như một bài tập sẽ đem lại hiệu quả tích cực cho việc ghi nhớ bài của học sinh Tuy phương pháp này có ưu điểm nhưng bên cạnh với việc kết hợp cùng những phương pháp khác phương pháp này cũng có một số nhược điểm mà giáo viên cần tránh: Vì văn chương là nghệ thuật ngôn từ nên cần phải có sự liên tưởng và mỗi cá nhân học sinh sẽ có sự liên tưởng khác nhau về tác phẩm điều đó tạo nên sự phong phú đa dạng trong việc tiếp nhận và điều đó cũng tạo ra sự
Trang 32sáng tạo của mỗi học sinh Vì thế nếu quá lạm dụng vào phương pháp này sẽ làm giảm sút
đi sự liên tưởng của học sinh, đặc biệt là tác phẩm thơ luôn đòi hỏi sự liên tưởng , tưởng tượng cao Giáo viên nên tránh cho học sinh xem những hình ảnh quen thuộc với học sinh điều đó vừa không cần thiết tốn thời gian, không tạo ra được sự tập trung chú ý và sự ham thích cái mới lạ của học sinh không giúp gì cho học sinh trong việc hiểu kĩ hơn tác phẩm Mỗi phương pháp dạy học đều có ưu và nhược điểm của nó Người giáo viên phải hết sức linh hoạt trong việc sử dụng từng phương pháp biết cách kết hợp nhiều phương pháp trong một tiết dạy để các phương pháp phát huy được ưu điểm của nó sao cho giờ học mang lại hiệu quả cao nhất
3 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG BÀI THƠ HIỆN ĐẠI TRONG
CHƯƠNG TRÌNH SGK NGỮ VĂN LỚP 12 BỘ CƠ BẢN
3.1 Tây Tiến – Quang Dũng
( 2 Tiết )
I Mục đích, yêu cầu:
1 Mục đích:
Giúp HS:
1.1 Về kiếni thức: Cảm nhận được vẻ đẹp vừa mĩ lệ vừa hùng vĩ của thiên
nhiên Tây Bắc Hình ảnh người lính Tây Tiến vừa lãng mạng vừa bi tráng, thấy được những đặc sắc về mặt nghệ thuật: Bút pháp lãng mạn, sự sáng tạo về ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu
1.2 Về kĩ năng: Đọc diễn cảm thể loại trữ tình, phân tích, bình giảng thể loại
thơ trữ tình
1.3 Về thái độ: Yêu thích văn học cách mạng, tự hào về tinh thần vệ quốc của
ông cha ta
2/ Yêu cầu:
- Đối với GV: Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ dạy học
- Đối với HS: Học bài, soạn bài đủ trước khi đến lớp
II Phương pháp:
Diễn giảng tích cực, trực quan, học nhóm
III Tiến trình dạy học:
1 Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ (5’)
2 Vào bài: Thời kì kháng chiến chống Pháp đã qua đi nhưng nó vẫn còn để lại
những bài thơ hay mà mãi cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị như: Đồng Chí của Chính Hữu, Bên Kia Sông Đuống của Hoàng Cầm, Đất Nước của Nguyễn Đình Thi … Trong số những bài thơ hay được viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp phải kể đến
Tây Tiến của Quang Dũng Tây Tiến là tên của một đơn vị quân đội chiến đấu bảo vệ biên
giới Việt Lào Bài thơ viết về vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp tâm hồn của những người lính Tây Tiến Chúng ta sẽ đi vào khám phá những vẽ đẹp ấy
Trang 33HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH
- Đoạn 2: tiếp theo
… “hoa đong đưa”
- Đoạn 3: tiếp theo
- Yêu cầu HS đọc to và diễn cảm bài thơ sau đó giáo viên đọc mẫu cho HS nghe và nhấn mạnh những chổ dễ sai sót của HS khi đọc tác phẩm, những chổ cần đặt trọng tâm, cách ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3?
- Yêu cầu một HS chia bố cục của bài thơ và nhận xét
bố cục của bài thơ?
* Giáo viên giải thích vấn
- Đoạn thứ hai gợi lại những kĩ niệm đẹp, thơ mộng ấm tình quân dân
- Đoạn thứ ba khắc hoạ cảnh sống, chân dung người lính Tây Tiến đậm chất lãng mạn và bi tráng
- Đoạn cuối là lời nhắn gởi tình cảm với thiên nhiên Tây Bắc và tinh thần quyết tâm của người lính Tây Tiến
*Giáo viên cho HS làm
việc nhóm: Chia lớp làm 4
- HS đọc bài
- HS đọc diễn cảm bài thơ
- HS trả lời
- HS lắng nghe và nghi nhận
- HS làm việc nhóm
Trang 34dí dỏm, yêu đời của
đoàn quân Tây Tiến
thuật tạo hình phối hợp
thanh điệu độc đáo của
bài thơ ( từ câu 5 đến
câu 8 ) gợi ra những
khó khăn vất vả của
đoàn quân, câu thứ 8
toàn thanh bằng, gợi ra
sự yên ả, mở ra một
không gian cao rộng,
đoạn thơ là một bức
tranh được vẻ lại từ
trong kí ức của bài thơ
với vẽ đẹp hùng vĩ
nhưng đẹp lãng mạn,
đồng thời tả sự khốc
liệt của những cuộc
hành quân Giọng điệu
thơ chuyển biến linh
+ Nhóm 1:
Em hãy tìm những chi tiết miêu tả sự hiểm trở của thiên nhiên vùng Tây Bắc,
từ đó em có những suy nghĩ
gì về chặng đường hành quân của người lính Tây Tiến?
Em hãy tìm sự độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ của đoạn thơ thứ nhất,
và hãy cho biết thông qua cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo như thế làm bật lên nội dung gì?
* GV giải thích làm rõ:
Nghệ thuật, nội dung bài thơ: Bài thơ mở đầu với câu thơ:
“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” như tiếng gọi về miền kí
ức đã xa, gợi ra địa danh từng gắn bó với đoàn quân Tây Tiến Cách gieo vần
“ơi” làm cho nỗi nhớ trở nên
da diết, dai dẳng hơn, và nỗi nhớ dường như lan tỏa, bềnh bồng trong tâm khảm nhà thơ; và một loạt các địa danh:
Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông … được liệt kê, đó là những địa danh từng gắn bó với đoàn quân Tây Tiến
Mỗi địa danh gắn với một kĩ niệm, bút pháp lãng mạn làm cho vẻ đẹp trở nên mơ
hồ, hoang sơ Tuy nhiên với
- HS trả lời
- HS lắng nghe, ghi nhận
Trang 35những khó khăn gian khổ được họ nói giảm “Súng ngửi trời”, “Cọp trêu người”, “ bỏ quên đời” … bằng cách sử dụng toàn vần trắc, trong câu thơ thứ 5 kết hợp với câu thơ thứ 7 mang tính ước lượng “ngàn thước lên”, “ngàn thước xuống”
gợi ra cảnh thiên nhiên hùng
vĩ, hiểm trở, đồng thời cũng thể hiện tinh thần kiên cường vuợt qua mọi khó khăn vất vã của người lính Tây Tiến, đó cũng là nguyên nhân của những mất mát, hy sinh Đoạn thớ thứ nhất với
đa giọng điệu; vừa tinh nghịch, vừa ngang tàng, vừa sâu lắng, bút pháp lãng mạn kết hợp bút pháp bi tráng khác hẳn với giọng điệu vui tươi
+ Nhóm 2:
Em hãy nhận xét giọng
điệu của đoạn thơ thứ hai so với đoạn một; em có nhận xét gì về cảnh vật thiên nhiên ở đoạn thơ thứ hai so với đoạn thơ đầu?
Hãy tìm giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung của
- HS trả lời