Viết về tục ngữ vốn rất phong phú, chúng tôi không thể khảo sát hết được chỉ xin đi vào một mảng nhỏ của tục ngữ là "biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam" để làm đề tà
Trang 1—&–
Trang A _PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
B _PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Vài nét về tục ngữ Việt Nam 6
1 Một số vấn đề về khái niệm 6
2 Một số nét tương đồng và dị biệt giữa tục ngữ và thành ngữ 8
3 Một số nét tương đồng và dị biệt giữa ca dao và tục ngữ 10
4 Nội dung tục ngữ 13
5 Đặc điểm hình thức tục ngữ 17
Chương 2: Biểu trưng và một số loại hình ảnh biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam 21 1 Về khái niệm biểu trưng 21
2 Một số hình ảnh biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam 23
2.1 Hình ảnh tự nhiên 23
2.2 Hình ảnh động vật 24
2.3 Hình ảnh thực vật 29
2.4 Hình ảnh đồ dùng 32
Chương 3:Biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam 35 1 Hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam 35
1.1 Khái niệm về tự nhiên 35
1.2 Hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam 36
2 Biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam .37
2.1 Hình ảnh “mưa” 38
2.2 Hình ảnh “nước” 40
2.3 Hình ảnh “gió” 47
Trang 2C _PHẦN KẾT LUẬN 58
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
– & —
1 Lí do chọn đề tài
Tục ngữ tồn tại trong lời ăn tiếng nói của nhân dân Mỗi chúng ta không ai không biết vận dụng tục ngữ vào lời nói hàng ngày như một dẫn ngữ
Tục ngữ Việt Nam là một "kim từ điển" vô giá về những kinh nghiệm tri thức quí báu của dân tộc Ta có thể tìm thấy trong tục ngữ rất nhiều điều từ việc đối nhân xử thế, những luân lí đạo đức cho đến những kinh nghiệm trong lao động sản xuất Chứa đựng nội dung như thế nhưng tục ngữ không dành riêng cho ai mà nó là của mỗi người, của những ai nói chung một ngôn ngữ Việt
Tục ngữ có được sự đúc kết kinh nghiệm không phải từ những gì xa vời mà từ những sự vật hiện tượng rất gần gũi với cuộc sống Từ cây cỏ, hoa lá, vật nuôi cho đến những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày đều xuất hiện trong tục ngữ Bên cạnh đó, các hình ảnh về tự nhiên như: trời, đất, mưa, gió, sấm, sét, cũng được chuyển tải bằng những câu tục ngữ chắc gọn, xuôi tai Các hình ảnh phong phú và sinh động này không chỉ đơn thuần là hình ảnh mà nó còn mang giá trị biểu trưng cao toát ra từ câu chữ
Tìm hiểu về tục ngữ cũng là một điều thú vị, nhất là đối với sinh viên chuyên ngành ngữ văn Qua khảo sát chúng ta sẽ có dịp đi sâu vào những nét nghĩa của tục ngữ và sử dụng tục ngữ làm dẫn ngữ đúng hơn Tục ngữ còn là lời khuyên cô đọng nhất mà ta diễn đạt bằng từ ngữ thông thường chưa chắc đã thuyết phục bằng Đây là lí do chúng tôi chọn tục ngữ để nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Viết về tục ngữ vốn rất phong phú, chúng tôi không thể khảo sát hết được chỉ xin đi vào một mảng nhỏ của tục ngữ là "biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam" để làm đề tài nghiên cứu cho mình
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tục ngữ từ trước đến nay vốn được giới nghiên cứu quan tâm tìm
hiểu Có vô số công trình viết về tục ngữ và ở mỗi công trình nghiên cứu đều có sự phát hiện mới mẻ Điều này góp phần làm phong phú, đa dạng và khẳng định vai trò của tục ngữ
Các nhà nghiên cứu đi vào khám phá các khía cạnh như: nội dung tục
Trang 4thuộc vào tính chất của công việc mà giới nghiên cứu chọn lựa vấn đề Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy các bài viết nghiên cứu về nội dung tục ngữ, về các nét nghĩa biểu đạt của tục ngữ còn chưa nhiều về số lượng Riêng phần chúng tôi chọn là “biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam”, đề tài đi vào phân tích nghiên cứu các hình ảnh tự nhiên làm tín hiệu biểu trưng trong tục ngữ Đây là đề tài đi vào một mảng nhỏ của tục ngữ nhưng là sự khảo sát tập hợp, phân tích sâu, nghiêng về nội dung biểu đạt của tục ngữ
Ai cũng biết tục ngữ là đối tượng phong phú cả về nội dung lẫn hình thức Hơn nữa, tục ngữ còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực do đó không tránh khỏi những tranh luận giữa các nhà nghiên cứu Vì tính chất của đề tài nên chúng tôi chỉ đưa ra một số công trình, bài viết nghiên cứu được đánh giá cao và những công trình nghiên cứu có liên quan để làm nền nhằm soi rọi vấn đề
2.2 Trước tiên phải kể đến công trình nghiên cứu có giá trị của nhóm
tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, trong quyển “Tục ngữ Việt Nam“ của NXB KHXH HN, 1975 Đây là công trình nghiên cứu công phu, ngoài một số bài tiểu luận có giá trị, sách còn liệt kê khoảng
4130 câu tục ngữ trong đó có phân loại theo đề tài và sắp xếp theo chủ đề, cặp chủ đề Đây là công trình mà khi chúng ta đặt bút viết một điều gì về tục ngữ cũng phải tham khảo qua Sách đã phần nào trình bày về nội dung tục ngữ, hình thức tục ngữ khá rõ qua các bài tiểu luận Hơn nữa, ở chương
4 “Tục ngữ và lối suy nghĩ của nhân dân”, các tác giả đã nói về cơ chế chuyển nghiã của tục ngữ Cho rằng những câu tục ngữ nào có nội dung miêu tả chính ngay những điều quan sát trực quan về đối tượng nhận thức thì có khả năng chuyển nghĩa Các tác giả cũng nhấn mạnh nét nghĩa bóng (nghĩa chuyển, nghĩa biểu trưng) là quan trọng đồng thời có phân tích khá kỹ
2.3 Nguyễn Thái Hòa với công trình nghiên cứu về “Tục ngữ Việt
Nam cấu trúc và thi pháp” xuất bản 1997, đã nêu lên khái quát bức tranh phong phú sinh động của tục ngữ Việt Nam nhìn ở góc độ ngôn ngữ học nói chung và thi pháp tục ngữ nói riêng Có thể xem đây là tài liệu cơ bản để hiểu tục ngữ là gì, có cấu trúc ra sao? Nghiên cứu này khẳng định giá trị của tục ngữ một cách rõ ràng nhất do đó muốn tìm hiểu tục ngữ ở góc độ này hay góc độ khác đều cần đến tư liệu này Chúng tôi trong quá trình trình bày chương lí thuyết nền về tục ngữ cũng đã chọn tài liệu của Nguyễn Thái Hòa để tham khảo
Trang 52.4 Hoàng Trinh với bài viết “Tục ngữ Việt Nam và các hình thể ngôn
từ” in trong quyển “Văn học dân gian Việt Nam” do Lê Chí Quế chủ biên của NXB ĐHQG HN,1998, cũng có đề cập đến tục ngữ So với các công trình lớn khác thì đây chỉ là một bài viết trình bày về “hình thể ngôn từ” của tục ngữ Nói rõ hơn là những cách “dùng từ ngữ để làm toát ra một nghĩa khác với nghĩa sát của các từ và có liên hệ xa gần với nhau” [21; 264] Phép chuyển nghĩa (hình thể tạo nghĩa) được tác giả đề cập phần nào liên hệ với nghĩa biểu trưng ở tục ngữ Bài viết góp phần tạo sự phong phú và thể hiện vai trò của tục ngữ là: tồn tại lâu dài, được dùng mãi mãi ít khi cạn nghĩa, mòn nghĩa
2.5 Bên cạnh đó, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí “văn học”, tạp
chí “ngôn ngữ“ có nói đến nghĩa biểu trưng Trong tạp chí “ngôn ngữ“ số 1 năm 1973, có bài viết “Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt” của Bùi Khắc Việt Tác giả đã phân tích tính biểu trưng ở thành ngữ và có phân loại biểu trưng của thành ngữ Bài viết giúp chúng ta phần nào có thể vận dụng để hiểu về nghĩa biểu trưng ở tục ngữ
Ở tạp chí “Ngôn ngữ và đời sống” số 4 năm 1997, Nguyễn Quốc Siêu đi vào phân tích một câu tục ngữ về thời tiết có sử dụng hình ảnh tự nhiên nhưng nét nghĩa chỉ thuần là kinh nghiệm về thời tiết Bài viết “Qua một câu tục ngữ về thời tiết”, Nguyễn Quốc Siêu cho thấy giá trị về kinh nghiệm dự đoán thời tiết của người xưa thể hiện qua tục ngữ Tuy vậy, tác giả bài viết chỉ trình bày một mặt của tục ngữ có hình ảnh tự nhiên, là câu tục ngữ một nghĩa - nghĩa đen, nghĩa cụ thể
Nói đến các hình ảnh dùng làm nghĩa biểu trưng ở tục ngữ đã có nhiều bài viết phân tích Trong tạp chí “Ngôn ngữ và đơi sống” số 1 năm 1997, Hà Quang Năng đã đi sâu vào phân tích hình ảnh “con trâu” trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao Tác giả đã lí giải nghĩa của các thành ngữ tục ngữ nói về con vật tiêu biểu này, hơn nữa đã đưa ra được giá trị biểu trưng ở hình ảnh “con trâu” Đây là bài viết phân tích nét nghĩa biểu trưng ở tục ngữ nhưng chỉ dừng lại ở mức tiêu biểu (hình ảnh con trâu), chứ chưa xét góc độ rộng hơn ở hình ảnh động vật nói chung
Nhìn chung, “Biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam” ít được các nhà nghiên cứu quan tâm sâu Có chăng chỉ một vài câu đề cập đến hình ảnh tự nhiên có trong tục ngữ nhưng xoáy vào giá trị kinh nghiệm thời tiết phục vụ cho lao động là nhiều Riêng giá trị biểu trưng của các hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ thì chưa được nghiên cứu khảo sát hoặc có chăng chỉ là việc nghiên cứu điển hình ở một vài câu
Trang 6Trên đây, chúng tôi đưa ra một số tác giả tiêu biểu có công trình nghiên cứu quan trọng về tục ngữ cộng với một vài bài viết trên báo, tạp chí Chúng tôi nhận thấy các tác giả viết về những vấn đề cần khai thác ở tục ngữ nhưng lại ít nói đến nghĩa biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam Tuy rằng chưa sát với yêu cầu của đề tài chúng tôi chọn nhưng trên cơ sở những công trình nghiên cứu cơ bản về tục ngữ sẽ làm nền cho chúng tôi khám phá một mảng nhỏ của tục ngữ là: biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Khi tìm hiểu bất kỳ một vấn đề nào cũng gây ra một tác dụng đối với người tìm hiểu Tác dụng mà tục ngữ mang lại cho chúng tôi là hiểu về tục ngữ thấu đáo hơn Đây cũng là mục đích thiết yếu mà chúng tôi muốn đạt tới khi nghiên cứu Đề tài “biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam” giúp ta có cái nhìn tổng quan về tục ngữ Việt Nam và đặc biệt là tục ngữ có hình ảnh tự nhiên Phát hiện ra cái hay, cái đẹp của tục ngữ cũng là một hứng thú mà chúng tôi có được khi nghiên cứu
Nghiên cứu “Biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam” cũng là đi vào tìm hiểu lối sống, lối tư duy, quá trình đấu tranh với thiên nhiên của con người Việt Nam Và cũng từ tục ngữ có hình ảnh tự nhiên cho
ta biết được điều kiện tự nhiên của một đất nước, nó có ảnh hưởng thế nào đến thẩm mĩ của người Việt
Tìm hiểu về tục ngữ, chúng tôi có dịp hiểu rõ về cấu trúc, thi pháp và nghĩa của tục ngữ Bên cạnh đó, việc tìm hiểu về tục ngữ còn bổ sung cho kiến thức của chúng tôi ở lĩnh vực phong cách học, đặc điểm tu từ tiếng Việt
4 Phạm vi nghiên cứu
Xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài là những câu tục ngữ Việt Nam có hình ảnh tự nhiên mang ý nghĩa biểu trưng Khảo sát tục ngữ có hình ảnh tự nhiên vốn khá nhiều câu, nhưng không phải tất cả đều có giá trị biểu trưng, có những câu chỉ thuần là đúc kết kinh nghiệm Hơn nữa do dung lượng yêu cầu của luận văn nên chúng tôi chỉ trình bày và phân tích ở mức độ có thể những câu tục ngữ mang giá trị biểu trưng cao
Tục ngữ vốn rất phong phú và đa dạng nên chúng tôi chỉ chọn một mảng nhỏ để trình bày là “Biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam”
Trang 7Tư liệu khảo sát lấy từ quyển "Tục ngữ Việt Nam" của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, NXB KHXH, 1998 Qua thống kê có tất cả 4130 câu nhưng chúng tôi chỉ sử dụng những câu tục ngữ có hình ảnh tự nhiên để phân tích, khảo sát Với 4130 câu tục ngữ nhưng trong quá trình chúng tôi thống kê nhận thấy có những câu tác giả lặp lại
Ví dụ câu “Tức nước vỡ bờ” ở trang 282 và trang 384 đều có, hay câu “Con giun xéo lắm cũng quằn” có ở cả trang 282 và trang 384, Dù vậy chúng tôi vẫn thống kê trên số câu đếm được Cần nói thêm là tác giả sắp xếp theo chủ đề nên việc lặp lại là điều dễ chấp nhận
Bên cạnh tư liệu trên, khi khảo sát chúng tôi có sử dụng một vài tư liệu khác để so sánh làm rõ vấn đề
5 Phương pháp nghiên cứu
Do yêu cầu của đề tài nên chúng tôi cần thống kê và phân loại tục ngữ có hình ảnh tự nhiên Sau đó tổng hợp để có số lượng cụ thể nhằm dễ dàng cho tìm hiểu ý nghĩa của những hình ảnh đó
Trong quá trình phân loại không phải tất cả các câu tục ngữ có hình ảnh tự nhiên đều có giá trị biểu trưng nên đòi hỏi phải có sự chọn lọc và chúng tôi chỉ phân tích những câu cần thiết Bên cạnh đó chúng tôi cũng sử dụng một số thao tác như: phân tích, chứng minh, tổng hợp liệt kê và cả so sánh để làm rõ yêu cầu của đề tài đã chọn
Trang 8B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TỤC NGỮ VIỆT NAM
– & —
1 Một số vấn đề về khái niệm
Vấn đề thuộc về khái niệm luôn gây nhiều tranh luận và cách kiến giải khác nhau, khái niệm tục ngữ cũng không ngoại lệ Chính vai trò quan trọng của tục ngữ kéo theo nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, cả trong lĩnh vực ngôn ngữ học và văn học
Tục ngữ là “tài sản vô giá” của dân tộc, hai ngành văn học và ngôn ngữ học xem tục ngữ là đối tượng nghiên cứu của mình Đồng thời hai chuyên ngành này đóng góp không nhỏ cho sự phân lọai, sưu tập và đặt cơ sở cho việc nghiên cứu tục ngữ
1.1 Quan niệm của giới nghiên cứu văn học
1.1.1 Giới nghiên cứu văn học nhìn tục ngữ như một thể loại văn học
dân gian “Lịch sử văn học Việt Nam”, tập một, phần một, NXBGD,1978, đã đưa ra định nghĩa như sau về tục ngữ: “Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh về một vấn đề, một ý niệm đã được thể nghiệm và công nhận là một chân lý với nội dung rất súc tích.” [31; 190-191]
1.1.2 “Từ điển thuật ngữ văn học” của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, NXB DHQG HN, 1997, đã định nghĩa rõ ràng về tục ngữ “Tục ngữ là một thể lọai văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm tri thức dưới hình thức những câu nói ngắn gọn súc tích, giàu vần điệu hình ảnh dễ nhớ, dễ truyền” [10; 310] Đây là định nghĩa được chọn trong “từ điển” nên khi tìm hiểu khái niệm tục ngữ chúng tôi không thể bỏ qua, hơn nữa ta thấy cách định nghĩa phần nào đã khái quát được về tục ngữ
1.1.3 Với Vũ Ngọc Phan thì ông cho: “Tục ngữ là một câu tự nó điễn
đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán.” [19; 38-49] Cách định nghĩa này của tác giả cho thấy các nét nêu lên đều thể hiện ở tục ngữ cả ở nội dung và hình thức
1.1.4 Dương Quảng Hàm trong quyển “Việt Nam văn học sử yếu”,
NXB hội nhà văn, 2002 cho tục ngữ “là một câu gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành từ đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi” [9; 6] Tuy chưa nói
Trang 9được hình thức của tục ngữ nhưng tác giả ít nhiều có sự phân biệt ban đầu về tục ngữ và các thể loại khác
1.1.5 Trần Đức Các trong bài viết “Tục ngữ với câu thơ lục bát trong
ca dao dân ca” đã định nghĩa: “Tục ngữ ở đây được hiểu theo kinh nghiệm phổ biến lâu nay là tri thức thực tiễn về mọi mặt của đời sống mà nhân dân đã đúc kết trong một hình thức ngắn gọn, linh hoạt tiện cho việc diễn đạt cảm nghĩ của con người và đã được xã hội chấp nhận.” [30; 184]
1.1.6 Bài viết của Bùi Mạnh Nhị là sự tìm hiểu cô đọng cả về nội
dung, hình thức và nét nghĩa của tục ngữ Ông đưa ra khái niệm tục ngữ và cũng công nhận tục ngữ là thể lọai văn học dân gian Tác giả viết: “Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa Thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt, được nhân dân áp dụng vào đời sống tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày ” [18; 254]
Tóm lại, nếu làm một thống kê thì định nghĩa về tục ngữ có lẽ có rất nhiều Trên đây là một số định nghĩa về tục ngữ của các tác giả nhìn ở góc độ văn học Nhận thấy các nhà nghiên cứu phần nào cho tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, có sự đúc kết tri thức, câu ngắn gọn
1.2 Quan niệm của giới nghiên cứu ngôn ngữ học
Nếu các nhà nghiên cứu văn học tìm hiểu tục ngữ ở góc độ nội dung, hình thức và thể loại thì lĩnh vực ngôn ngữ học cũng thế Chọn tục ngữ làm đối tượng nghiên cứu, các chuyên ngành phong cách học, từ vựng học, đều cho tục ngữ là “mảnh đất” khai thác được
1.2.1 Trước tiên theo "Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” do
Nguyễn Như Ý chủ biên nói về tục ngữ là “câu ngắn gọn, có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh nghiệm sống tri thức của một dân tộc Khác với cách ngôn, tục ngữ không bao hàm ý nghĩa khuyên răn trực tiếp.” [29; 329]
1.2.2 Riêng với Đái Xuân Ninh và Nguyễn Văn Tu, hai tác giả lớn của
lĩnh vực ngôn ngữ (Nguyễn Văn Tu viết quyển “Từ và vốn từ Tiếng Việt hiện đại”, Đái Xuân Ninh viết quyển “Họat động của từ Tiếng Việt” ), đã cùng cho tục ngữ thuộc cụm cố định và nó thuộc đối tượng nghiên cứu của văn học dân gian Và cùng đó Nguyễn Văn Tu cho rằng “Trong tiếng Việt, những tục ngữ, phương ngôn và ngạn ngữ có liên quan đến nhưng thành ngữ và quán ngữ Chúng không phải là đối tượng của bộ môn từ ngữ mà là đối tượng của văn học dân gian.” [25; 189]
Trang 101.2.3 Đỗ Hữu Châu trong quyển “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”,
NXBGD, 1981, quan niệm không cho tục ngữ là ngữ cố định Tục ngữ tồn tại độc lập với văn cảnh, dùng như một câu độc lập và tục ngữ là những đơn
vị tương đương với câu Đứng ở góc độ nào đó Đỗ Hữu Châu cũng đồng ý cho tục ngữ có thể là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học và xếp tục ngữ vào một chuyên ngành nghiên cứu những đơn vị cố định trên từ
1.2.4 Công trình nghiên cứu “Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp”
của Nguyễn Thái Hòa đã nói về tục ngữ,ông cho: "Tục ngữ là đơn vị trung gian nằm ở giao điểm giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa đơn vị ngữ cú và câu, giữa câu và văn bản và có thể nói là giữa phong cách ngôn ngữ khoa học (đúc kết kinh nghiệm) và phong cách nghệ thuật (thông điệp nghệ thuật, tác
phẩm thơ)." [25; 13]
Nhìn chung, quan niệm của giới văn học và ngôn ngữ học về tục ngữ cho thấy tục ngữ là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực Tuy vậy mỗi ngành đều có lý do để lấy tục ngữ làm đối tượng nghiên cứu
Từ những quan niệm trên, hiểu thế nào về tục ngữ tưởng như dễ mà rắc rối Hoàng Trinh đã từng cho: “Ngay một số nhà tục ngữ vào loại đầu đàn cũng phải thừa nhận là không một định nghĩa nào có thể cho phép xác định rõ ràng như thế nào là một câu tục ngữ.” [20; 88] Nói thế để thấy tục ngữ ai cũng biết, cũng rõ nhưng để định nghĩa một cách chi tiết, đầy đủ và đồng nhất ý kiến thì khó Có điều ai cũng phải công nhận, Gorki từng nói: “Cái trí tuệ vĩ đại nhất ở trong cái thuần hậu chất phát của ngôn ngữ Tục ngữ và
ca khúc nói chung ngắn gọn nhưng trong đó bao hàm cả trí tuệ và tình cảm có thể viết thành cả một quyển sách được.” Tục ngữ Anh cũng có câu:
“Một câu tục ngữ là trí tuệ của một người và là sự khôn ngoan của mọi người [1; 32]
Tóm lại, qua một số kiến giải của các nhà ngôn ngữ học và văn học cho thấy cách hiểu về tục ngữ vốn không thống nhất nhưng trên cơ sở đó, ta có thể hiểu: Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, nội dung thiên về lý trí nhằm đúc kết những kinh nghiệm tri thức, kinh nghiệm lao động sản xuất Nêu lên một nhận xét hoặc một phán đoán dưới hình thức những câu nói chắc gọn, súc tích giàu vần điệu hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền
2 Một số nét tương đồng và dị biệt giữa tục ngữ và thành ngữ
Khi cần có sự phân biệt tức là đối tượng đó có sự tương đồng và nét khác biệt Trên thực tế, tục ngữ và thành ngữ có nét giống nhau gây sự lầm lẫn khó tách biệt Một thời gian dài người ta không tách tục ngữ và thành
Trang 11ngữ ra riêng biệt mà gộp chung chúng lại với nhau “Từ điển thành ngữ, tục ngữ“ của nhóm tác giả Vũ Thúy Anh, Vũ Dung hoặc “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc là một điển hình Cách biên soạn như thế do đó là những công trình ban đầu hoặc do tính chất giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ mà các tác giả đã gộp lại Giữa tục ngữ và thành ngữ quả có nét giống và nét khác, trong nét giống có nét khác và ngược lại
Về tính biểu trưng thì đều có ở thành ngữ và tục ngữ Nét nghĩa của một câu thành ngữ không ở bề mặt câu chữ mà là nghĩa ẩn Ví dụ khi nói
“Gạo chợ nước sông” thì thành ngữ sẽ được hiểu là biểu trưng cho thức ăn, cho điều kiện sinh họat vật chất
Đặc điểm hình thức của tục ngữ và thành ngữ xét ra cũng có nét tương đồng Ở tục ngữ và thành ngữ đều cho vần là yếu tố quan trọng tạo cho tục ngữ và thành ngữ dễ nhớ, dễ truyền Nếu ở tục ngữ có xuất hiện vần liền
“Nước đổ khó bốc”, vần cách “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm” thì ở thành ngữ cũng có vần liền “Nhà dột cột xiêu” và vần cách “Lôi thôi như cá trôi sổ ruột”
Các hình ảnh dùng diễn đạt ở thành ngữ và tục ngữ đều rất phong phú
Ở tục ngữ có các hình ảnh như hình ảnh động vật, hình ảnh thực vật, hình ảnh đồ dùng thì ở thành ngữ cũng có nhưng khác là sử dụng hình ảnh để biểu trưng gì, mới là quan trọng Chung quy lại, nét gần nhau, tương tự nhau
ở thành ngữ và tục ngữ là có thực nhưng không vì thế mà không tách bạch được giữa tục ngữ và thành ngữ
2.1.2 Nét dị biệt
Khi phân biệt sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngư,î các nhà nghiên cứu đã đưa ra yếu tố khác nhau là nhằm khu biệt tục ngữ và thành ngữ Bài viết của Nguyễn Văn Mệnh bàn về “Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ” in trong tạp chí “ngôn ngữ” số 3/1972 Tác giả đi vào khẳng định sự khác biệt của chúng là ở nội dung, hình thức và kết luận một cách chắc chắn “nội dung của thành ngữ mang tính hiện tượng, còn nội dung tục ngữ
Trang 12nói chung mang tính quy luật.” [17, 13] Sự khác nhau về nội dung dẫn đến khác nhau về hình thức ngữ pháp là một phát hiện của tác giả bài báo Thành ngữ được xếp ở dạng cụm từ chưa phải là một câu hoàn chỉnh trong khi tục ngữ là một câu Có thể nói với những phát hiện trên tác giả bài viết đối với tục ngữ hẳn phải có sự quan tâm
Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri về “Tục ngữ Việt Nam” đã chọn tiêu chí “nhân thức luận” Cho tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ Khác nhau cơ bản mà nhóm nghiên cứu đưa ra là khác nhau về nội dung của “hai hình thức tư duy là khái niệm và phán đoán.” [5, 28] Từ cách phân biệt trên chúng ta thấy rõ ràng phán đoán, kết luận của tục ngữ là những nhận xét phán đoán về hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người
Vũ Ngọc Phan trong quyển “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” cũng cho “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý” [20; 38] Còn thành ngữ “là một phần câu có sẵn” Ông bám vào tiêu chí nội dung và kết cấu ngữ pháp tục ngữ và thành ngữ để tách bạch tục ngữ và thành ngữ
Người chú ý đi tìm sự khác biệt đầu tiên giữa tục ngữ và thành ngữ là Dương Quảng Hàm, tác giả quyển “Việt Nam văn học sử yếu”, NXB hội nhà văn, 2002 Ông cho “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì Còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho màu mè” [9; 9] Ý kiến này phần nào bộc lộ quan điểm xem thành ngữ là hiện tượng ngôn ngữ “lời nói có sẵn”, còn tục ngữ thuộc ý thức xã hội Tuy vậy cách lý giải trên phần nào chưa thật cụ thể
Nhìn chung, thành ngữ và tục ngữ có nét tương đồng nhưng không phải là không có nét khác biệt Từ kiến giải trên cho thấy tục ngữ và thành ngữ có nét khác nhau bởi chúng có những nét khác biệt cơ bản là: Tục ngữ là một câu hoàn chỉnh thể hiện một phán đoán cấp độ lớn hơn thành ngữ và thuộc đặc trưng của văn học dân gian Còn thành ngữ là một cụm từ, tương đương với từ, thường dùng làm đơn vị tạo câu, thể hiện một khái niệm và thuộc đơn vị ngôn ngữ
3 Một số nét tương đồng và dị biệt giữa ca dao và tục ngữ
Mối quan hệ giữa tục ngữ và ca dao cũng cần có sự phân biệt So về nội dung tưởng như chúng tách bạch với nhau Tục ngữ là tiếng nói của lí
Trang 13trí, ca dao là tiếng nói của tình cảm, nhưng không vì thế mà không có nét giống và nét khác giữa hai thể lọai này
3.1.Nét tương đồng
Giữa ca dao và tục ngữ đều là thể loại của văn học dân gian Tục ngữ thiên về đúc kết kinh nghiệm nên câu ngắn gọn dễ nhớ, dễ truyền nhưng do đó sẽ khác với ca dao Thế nhưng ở ca dao và tục ngữ lại có nét tương đồng về mặt hình thức Thể lục bát là nét riêng của ca dao nhưng cũng không ít những câu xét ở tục ngữ nhưng làm ở thể lục bát có vần điệu
Ví dụ: Người đời ai có dại chi,
Khúc sông co hẹp phải tùy khúc sông
Hoa thơm ai chẳng muốn đeo,
Người khôn ai chẳng nâng niu bên mình
Chúng tôi thống kê sơ lược từ 4130 tục ngữ trong quyển “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, (của NXB KHXH, HN, 1998) có khỏang 600 câu ( chiếm 14,5%, so với tục ngữ Việt Nam) có hình thức làm theo thể lục bát Trần Đức Các có bài viết “Tục ngữ với câu thơ lục bát trong ca dao” in trong “ Tuyển tập 40 năm tạp chí Văn học”, tập một, đã dẫn ra một số câu lục bát mà người thì xếp chúng vào
ca dao người xếp vào tục ngữ như:
Bao giờ đom đóm bay ra, Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng, Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Ở đời muôn sự của chung,
Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi
Nét giống nhau giữa ca dao và tục ngữ là sử dụng chung một số hình ảnh Các hình ảnh về tự nhiên như: trời, mây, sông, nước, mưa, tục ngữ và
ca dao đều có mượn để khái quát vấn đề
Ví dụ ở hình ảnh “trời”:
Ca dao có câu:
Tạnh trời mây cuốn về non, Hẹn cùng cây cỏ chớ còn mong mưa
Tục ngữ có câu:
Phí của trời,mười đời chẳng có
Trang 14Trời cho hơn lo làm
Ngoài hình ảnh tự nhiên, các hình ảnh đồ dùng trong sinh hoạt hàng ngày cũng có ở ca dao và tục ngữ Ca dao sử dụng hình ảnh đồ dùng để nói lên giá trị của nhân vật trữ tình:
Thân em như cái sập vàng,
Chúng anh như manh chiếu rách giữa đàng bỏ quên
Riêng đối với tục ngữ, hình ảnh đồ dùng thường đúc kết kinh nghiệm trong lao động và khái quát lên thành triết lí sống Ví dụ ở câu tục ngữ “Ăn cháo đá bát” (phê phán kẻ vô ơn)
Từ cách sử dụng những hình ảnh trong tự nhiên và trong đời sống nên
ý nghĩa biểu trưng ở tục ngữ và ca dao đều có nhưng không phải giống nhau hoàn toàn Ví dụ ở hình ảnh “sông”, ca dao có câu:
Sông dài mà sắm đò ngang, Bao nhiêu nhân ngãi em mang vào nhà
Hình ảnh “sông dài" hàm chỉ khả năng tài chính của nhân vật trữ tình
“anh” Sông dài đi đôi là đò ngang thì có thể thung dung nơi sông nước được Liên tưởng hiện tượng này để nói đến sự đảm bảo về vật chất của nhân vật trữ tình “anh” và việc ưng thuận của nhân vật “em” Do đó, nét nghĩa ở ca dao là nét nghĩa có tính chất trữ tình Nét nghĩa biểu trưng ở tục ngữ không dừng lại ở một nét nghĩa mà mang nhiều nét nghĩa (nghĩa chuyển theo từng ngữ cảnh) hơn nữa nét nghĩa còn mang tính triết lí sống Ví dụ câu tục ngữ “Sông có khúc, người có lúc” Hình ảnh “sông” ở đây biểu trưng cho thời vận của con người
Tóm lại, ca dao, tục ngữ tồn tại sinh động trong đời sống hàng ngày nên có quy luật riêng, có cấu tạo dài ngắn khác nhau Khi các nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân lọai ra do đó mới phát sinh vấn đề phân biệt sự khác nhau
3.2.Nét dị biệt
Khác nhau đầu tiên phải kể đến nội dung của ca dao Ca dao thiên về tình cảm tâm tình, là bộc lộ cảm xúc do đó thể loại diễn đạt thích hợp là thể lục bát, lục bát biến thể Câu ngắn nhất ở ca dao là hai câu (câu 6 tiếng, câu 8 tiếng), trong khi tục ngữ, câu ngắn nhất là 4 chữ, 5 chữ
Ca dao là tiếng nói tâm tình ngọt ngào do đó nó có thể ngâm được, còn Tục ngữ thiên về lý trí, là tri thức thực tiễn Tục ngữ được đúc kết qua bao đời có sự sàng lọc nên có tính khái quát cao Hơn nữa, tục ngữ có ý nghĩa phổ biến, có hình thức gọn gàng nên dễ nhớ nhưng không vì thế mà có thể
Trang 15ngâm được tục ngữ như ở ca dao Chúng dễ nhớ là do có tính chất song hành đối xứng (có nhiều ở câu 4 chữ, 5 chữ)
Do tính chất ngắn gọn có tính triết lý cao nên tục ngữ đi vào ca dao nhưng ca dao thì không thể đi vào tục ngữ Việc sử dụng những câu tục ngữ ngắn gọn 4 chữ, 5 chữ dẫn vào ca dao cho thấy điểm khác biệt giữa ca dao và tục ngữ rõ hơn
Ví dụ một số câu ca dao có dẫn tục ngữ vào:
Ra về dặn rứa nghe không,
Đừng đứng núi nọ mà trông núi này
Mặc ai một dạ hai lòng,
Em đây thủ tiết loan phòng chờ anh
Liệu cơm mà gắp mắm ra,
Liệu cửa liệu nhà em lấy chồng đi
Rõ ràng dẫn tục ngữ vào ca dao làm cho câu thơ lục bát mạnh hẳn ý lên Nhờ nhận xét cô đúc, sắc nhọn có tác dụng làm hài hòa giữa tình cảm và triết lí
Nhìn chung, ở tục ngữ và ca dao sự phân biệt không gây rắc rối lắm như thành ngữ và tục ngữ Chúng ta dễ dàng nhận ra tục ngữ thiên về lí trí, đúc kết kinh nghiệm cuộc sống còn ca dao là thể lọai trữ tình mang tính chất thơ ca
4 Nội dung tục ngữ
Tục ngữ được ví như là “túi khôn nhân gian”, “kho báu của trí tuệ nhân dân” do đó rất phong phú Với tầm hiểu biết của một người tập nghiên cứu chúng tôi không thể tìm hiểu hết nội dung của tục ngữ Ở đây chúng tôi chỉ xin nêu lên nội dung chủ yếu và chỉ trình bày thật ngắn gọn
4.1 Tục ngữ về lao động sản xuất
Có thể xem tục ngữ được kết tinh từ trong lao động sản xuất Trong lao động con người đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, vượt qua thử thách bằng khối óc và sự quan sát tinh tế
Trong điều kiện xã hội chưa phát triển, việc xem xét các hiện tượng tự nhiên đặt trong mối quan hệ với lao động sản xuất, người xưa đã đúc kết nên những câu tục ngữ ngắn gọn Nó đúc kết kinh nghiệm đồng thời làm quen với khí hậu thời tiết vốn rất cần cho sản xuất
Trang 16
-Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét
-Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
-Bay cao thì nắng bay vừa thì râm
Nước ta thuộc vùng nhiệt đới, khí hậu thuận lợi cho cây lúa phát triển Nhưng để có kinh nghiệm vào thời điểm nào thì cây lúa phát triển tốt đã được ông cha ta đúc kết lại bằng những câu tục ngữ như:
-Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
-Cày sâu tốt lúa
-Cày chạm vó bừa mó kheo
Để được vụ mùa bội thu thì công đoạn chọn giống, gieo mạ vô cùng quan trọng Kinh nghiệm này cũng được người xưa đúc kết qua tục ngữ -Lúa ré là mẹ lúa chiêm
-Già mạ tốt lúa
Trồng dâu, nuôi tằm là một nghề cần sự chăm chỉ khéo léo Tục ngữ không chỉ đưa ra kinh nghiệm sản xuất mà còn là lời nhắc nhở trong lao động
-Dâu năng hái như gái năng tô
-Tháng ba dâu trốn, tháng bốn dâu về
Bên canh những kinh nghiệm trong trồng trọt thì chăn nuôi là một nghề cải thiện đời sống Ngoài việc đồng áng, người Việt Nam còn chăn nuôi lợn, gà, đào ao thả cá Do đó tục ngữ kết tinh những kinh nghiệm rất phổ thông:
-Lợn đực chuộng phệ, lợn sề chuộng chuỗm
-Ao sâu tốt cá
Tóm lại, kinh nghiệm trong lao động sản xuất qua tục ngữ Việt Nam là những kiến thức quý báu kết tinh trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, với cuộc sống Kết tinh tri thức ở những câu tục ngữ về lao động sản xuất đó là cả một quá trình lao động cần cù và óc quan sát tinh tế đối với thế giới xung quanh
4.2 Tục ngữ về tâm lý đạo đức và phong tục tập quán
4.2.1 Tục ngữ về tâm lý đạo đức
Tục ngữ Việt Nam phản ánh tâm lý đạo đức con người Việt Nam Người Việt Nam luôn trân trọng cái tốt, yêu cái đẹp, thân tình trong quan hệ giữa người với người
Quý trọng và đề cao con người là đặc điểm thấy được qua tục ngữ Con người là vốn của cải quý nhất trên đời, con người được ví như tinh hoa của
Trang 17trời đất Con người có thể làm cho “đất nở hoa” tô điểm cho cuộc sống ngày càng giàu đẹp
-Người ta là hoa đất
-Người sống hơn đống vàng
Người Việt Nam luôn đối đãi với nhau bằng nghĩa tình, bằng sự thương yêu đoàn kết chở che cho nhau:
-Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
-Một cây làm chẳng nên non
-Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
-Lá lành đùm lá rách
Tục ngữ còn ca ngợi con người Việt Nam kiên trì không khuất phục khó khăn Dân tộc ta trải qua bao nhiêu cuộc đấu tranh và giành được thắng lợi vẻ vang bởi trong những con người đất Việt, ý chí và nghị lực luôn tồn tại
Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
Sự lạc quan yêu đời, tinh thần chiến đấu với thiên nhiên, với giai cấp thống trị để bảo vệ cuộc sống của mình đã rèn luyện cho họ có sức mạnh vươn lên Tư tưởng này có ở mỗi người Việt Nam, tục ngữ ca ngợi đồng thời cũng là sự nhắc nhở động viên con người, giúp con người vững vàng trước
“sóng cả”
Người Việt Nam yêu chuộng cái đẹp nhưng ghét sự khoe khoang mau thay đổi
-Giàu đổi bạn sang đổi vợ
-Hơi có mã đã khoe mình đẹp
Chung quy lại, truyền thống đạo lý của người Việt Nam được biểu hiện thông qua tục ngữ Qua tục ngữ ta sẽ thấy được những phần tinh hoa nhất của cách sống, suy nghĩ của dân tộc
4.2.2 Tục ngữ về phong tục tập quán
Tục ngữ nói lên truyền thống đạo lí của dân tộc thì nó cũng đưa vào nội dung của mình những tục lệ của con người Việt Nam Xã hội phong kiến Việt Nam tồn tại hàng nghìn năm, cơ chế xã hội phân theo làng xã kéo theo biết bao hủ tục “sau lũy tre xanh” ấy Sự phân quyền và đặt ra luật lệ pháp luật riêng biệt ở từng làng xã được tục ngữ ghi lại rất rõ:
-Phép vua thua lệ làng
-Làng theo lệ làng, nước theo lệ nước
-Thể vua thua tục dân
Trang 18Trong ngưỡng cửa gia đình vai trò của người đàn ông được xem là trụ cột của gia đình, người phụ nữ phụ thuộc vào người đàn ông:
-Gái có chồng như rồng có vây
-Gái không chồng như cối xay chết ngỗng
Quan hệ con cái trong gia đình phải có sự tôn kính và vâng lời cha mẹ Làm con cái mà không nghe lời răn dạy của cha mẹ dễ sinh hư hỏng
Cá không muối cá ươn,
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư
Từ xưa đến nay nói đến lễ hội thì có lễ tết nguyên đán là lễ lớn nhất trong năm Cả năm làm việc quần quật mới có cái ăn, cái mặc nhưng đến ngày lễ tết dù khó khăn đến đâu cũng cố gắng có mâm cơm tươm tất đón ông bà Cả mấy ngày tết không làm việc, chi phí vui cho ngày tết quả thật hơn những ngày tháng bình thường trong năm Tục ngữ nói lên những điều này cho thấy phong tục tập quán người Việt đồng thời cho thấy lễ lộc mà con cháu phải lo vào ngày lễ tết
-Tết sau lưng ông vải thì mừng con cháu thì lo
-Đi cày ba vụ không đủ ăn ba ngày tết
Lễ tục của người Việt rất rườm rà, ảnh hưởng của giáo lý phong kiến Cúng lễ vào những ngày cưới xin, lễ lạy tông đường, lễ lạy thần phật quả là một nghi thức không phải dễ nhớ hết:
"Vào chữ A ra chữ Âút."
Cưới xin vốn là ngày vui, nhưng mỗi dân tộc lại có lễ tục khác nhau Người Việt chọn trầu cau làm biểu tượng cho duyên nợ, cho các quan hệ giao tiếp Đây là nét thể hiện văn hóa mang nét đặc trưng riêng:
-Miếng trầu nên dâu nhà người
-Miếng trầu là đầu câu chuyện
Nhìn chung phong tục tập quán ít thay đổi và cũng khó tiêu trừ những phong tục tập quán cổ hủ Có thuần phong mỹ tục cũng đi đôi với mê tính
dị đoan lễ tục rườm rà gây tốn kém Dù vậy phong tục tập quán phần nào khái quát được những “phong tục” vốn có và là “tư liệu” cho nhữmg ai muốn tìm hiểu Tục ngữ vốn rất khách quan, quan sát đúc kết trong đó cũng có phê phán những hủ tục không hay Chúng ta có thể tôn trọng những phong tục tốt và bài trừ những hủ tục lạc hậu
Tóm lại, nội dung mà tục ngữ phản ánh vốn rất phong phú, khái quát nhiều khía cạnh của đời sống Chỉ trong vài trang sách khó mà khái quát hết được Điểm qua hai nội dung nổi trội nhất về lao động sản xuất và tâm lý
Trang 19đạo đức, phong tục tập quán cho thấy tục ngữ có khả năng phản ánh được lối suy nghĩ, tư tưởng sinh hoạt của người Việt Nam
5 Đặc điểm hình thức tục ngữ
Như đã nói tục ngữ là những câu ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ dễ truyền Để có được sự ngắn gọn dễ nhớ thì tục ngữ phải mang một hình thức thế nào mới chuyển tải tốt nội dung của tục ngữ
Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân do đó nó quy định cấu trúc hình thức cho phù hợp Đặc điểm hình thức làm nên tính chặt chẽ, ổn định của tục ngữ Hình thức tục ngữ ở đây là đề cập đến cái bên ngoài của kết cấu hình thức như: vần, nhịp, kiến trúc sóng đôi ở tục ngữ
5.1 Vần
Vần là yếu tố đặc biệt quan trọng trong tục ngữ, vần “thực hiện chức năng giữ nhịp cho câu tục ngữ và góp phần làm nổi rõ những từ có ý nghĩa quan trọng” [20; 110] Tuy có vai trò thiết yếu trong câu tục ngữ nhưng vần không xuất hiện hầu hết trong các câu tục ngữ, không phải mọi câu đều có yếu tố vần:
-Trâu chậm uống nước đục
-Trăm sông đổ một ngọn nguồn
Vần được xem là “yếu tố đặc trưng ngoại hình của tục ngữ so với các phát ngôn làm sẵn khác” [13; 50] Vị trí của vần không hoàn toàn ổn định, nó có vần liền, vần cách Vần tạo cho câu tục ngữ có âm hưởng mượt mà tạo nên tính chất xuôi tai, thuận miệng dễ nhớ, dễ thuộc
• Vần liền
Vần liền: là vần xuất hiện nối tiếp nhau, giữa chúng không có âm tiết trung gian
Ví dụ: -Nước đổ khó bốc
-Nước cả cá to
-Cơm tẻ mẹ ruột
-Đẹp lòng son, ngon mật mỡ
• Vần cách
Vần cách, lọai vần mà giữa hai khuôn vần cách ít nhất một âm tiết phân cách Số âm tiết trung gian được cách một tiếng, hai tiếng
+ Vần cách một âm tiết:
-Thịt cá hương hoa, tương cà gia bản
-Được bụng no còn lo ấm cật
Trang 20-Gà lấm lưng, chó xưng đồ
+ Vần cách hai âm tiết:
Ăn thịt trâu không tỏi như ăn gỏi không mơ
+ Vần cách ba, cách bốn âm tiết:
-Sợ hẹp lòng không sợ hẹp nhà
-Ăn lấy vị chứ ai lấy bị mà mang
+ Vần cách 5 âm tiết:
Con chó huyền đề, con gà năm móng đem về mà nuôi
Tóm lại, vần là yếu tố quan yếu trong tục ngữ Gieo vần trong tục ngữ
đa phần ở vần liền và vần cách một âm cách là nhiều Dù gieo vần ở đâu, như thế nào thì vần cũng góp phần quan trọng trong cấu tạo phát ngôn và có tính biểu nghĩa độc đáo
5.2 Nhịp
Song song với vần, nhịp là yếu tố không thể thiếu ở tục ngữ Nhịp “là yếu tố ngoại hình làm thành đặc trưng ngữ điệu của tục ngữ” [13; 53] Giữa vần và nhịp có quan hệ, ranh giới giữa hai âm tiết trong cặp vần cũng là ranh giới ngắt nhịp Ví dụ “Nước cả/cá to.”, “Đầu chép/môi mè.”,
Nhịp điệu vừa làm cho câu tục ngữ dễ đi vào lòng người đồng thời mang chức năng biểu nghĩa Phân nhịp trong tục ngữ có ảnh hưởng đến nghĩa của tục ngữ Cùng một câu tục ngữ nhưng cách ngắt nhịp khác sẽ làm cho nét nghĩa thay đổi họăc mất nghĩa Ví dụ câu “Có trăng phụ đèn.” nếu ta ngắt nhịp 3/1 câu tục ngữ không có nghĩa Chỉ khi ngắt nhịp 2/2 câu tục ngữ mới khái quát lên vấn đề về sự quên ơn
Nhịp của tục ngữ hình thành phần nhiều do yếu tố vần tạo ra Đa phần những vần liền nhau thì nhịp cũng được ngắt nơi giao nhau đó:
-Đẹp vàng son/ngon mật mỡ
-Uống nước/nhớ nguồn
-Tấc đất/tấc vàng
+ Nhịp 3/3:
Trang 21Trâu quá sá/mạ quá thì
+ Nhịp 4/4:
-Lang đuôi thì bán/lang trán thì cày
-Khôn khéo vá may/vụng về cày cấy
+ Nhịp 3/4:
Gió heo may/mía bay lên ngọn
Nhìn chung, trong tục ngữ, nhịp trùng với ranh giới các vế có số lượng
âm tiết bằng nhau là nhiều Tuy vậy nhịp ở tục ngữ cũng rất đa dạng Nhịp là yếu tố quan trọng trong sự kết thành của câu tục ngữ
4.3 Kiến trúc sóng đôi
Kiến trúc sóng đôi được hiểu “là sự láy lại về mặt ngữ pháp có thể hai cụm từ có hai chức năng khác nhau, hai phát ngôn có chung một chủ đề thông báo” [13; 56] Kiến trúc sóng đôi là một trong những điểm đặc biệt của ở tục ngữ Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu đánh giá, kiến trúc sóng đôi tạo cho tục ngữ có nét riêng, nó xuất hiện khá nhiều trong tục ngữ Việt Nam
-Đen đầu thì bỏ, đỏ đầu thì nuôi
-Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào
Hình thức của hai câu tục ngữ trên ta thấy tạo thành hai vế và giữa chúng không cần từ nối nào để liên kết Kiến trúc sóng đôi thể hiện đặc điểm của tiếng Việt cũng như tư duy của người Việt
Kiến trúc sóng đôi gồm hai kiểu sóng đôi: sóng đôi bộ phận là lặp lại thành phần cú pháp, đồng thời là sự nhấn mạnh về ngữ nghĩa của cụm từ kết hơpü với láy từ, láy vần tạo nên một nhạc điệu riêng cho tục ngữ Đặc điểm này là nét riêng phân biệt tục ngữ với các thể loại khác
-Của làm ăn no, của cho ăn thèm
-Bố gậy tre, mẹ gậy vông
Tuy không có từ kết nối trong sóng đôi nhưng cũng có một số câu sóng đôi có từ liên kết thường thấy như: “nào ấy”, “đâu đấy”, “bao nhiêu”, -Đèn nhà ai, nhà ấy rạng
-Cha nào, con nấy
-Làm bao nhiêu, ăn bấy nhiêu
Trong tục ngữ, sóng đôi bộ phận giữa hai vế sóng đôi có khi cùng hướng, có khi nghịch hướng (về nghĩa) Ví dụ như câu ”Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng” Một vế nói về thuốc, một vế nói quan hệ giữa con
Trang 22người, nhưng bản thân nó là một liên kết cú pháp và tạo nghĩa trong phát ngôn
Sóng đôi thứ hai là sóng đôi phát ngôn Sóng đôi phát ngôn còn được hiểu là sóng đôi hai hay nhiều phát ngôn liên kết thành một phát ngôn phức tạp nhưng có cùng một chủ đề
-Trâu chậm uống nước dơ, trâu ngơ ăn cỏ héo
-Tháng tám mạ già, tháng ba mạ thóc
Rõ ràng kiến trúc sóng đôi tạo cho câu tục ngữ có được sự cô đọng súc tích hơn Nó còn ít nhiều tạo nghĩa biểu trưng dùng những đối tượng cụ thể để nói lên điều khái quát Các yếu tố vần, nhịp, kiến trúc sóng đôi góp phần tạo nét hài hòa cho nội dung và hình thức tục ngữ
Trang 23CHƯƠNG II:
BIỂU TRƯNG VÀ MỘT SỐ HÌNH ẢNH BIỂU TRƯNG
TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM
– & —
1 Về khái niệm “biểu trưng”
1.1 Khi đề cập đến một khái niệm nào đó thường có nhiều cách định
nghĩa Với khái niệm biểu trưng xem như chưa có một định nghĩa thống nhất Trong thực tế, một số biểu tượng được hiểu là biểu trưng cho một lĩnh vực nào đó Ví dụ như biểu tượng cái ly và con rắn được xem là biểu trưng trong y học Biểu tượng lúc này được hiểu là biểu tượng có tính biểu trưng cho một lĩnh vực nào đó Nhưng ở đây ta xét là biểu trưng nghệ thuật nói chung và biểu trưng nghệ thuật ở tục ngữ nói riêng như thế nào
1.2 Quả là có nhiều cách nhìn nhận về biểu trưng Trong “Từ điển từ
và ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân đã giải thích “biểu” là tỏ ra, “trưng” là điềm Biểu trưng là tỏ ra một cách tượng trưng Đi vào giải thích theo nét nghĩa chữ Hán rõ ràng chưa khái quát được về biểu trưng mà tục ngữ nói đến
1.3 Bùi Khắc Việt trong bài viết “Về tính biểu trưng của thành ngữ
trong tiếng Việt” đã có ý kiến đóng góp hay khi bàn về tính biểu trưng Ông cho biểu trưng thể hiện ở chỗ từ “hình ảnh hoặc sự việc, sự vật cụ thể được miêu tả trong tự nhiên là nhằm nói về ý niệm khái quát hóa” [1; 27], và ông hiểu “tính biểu trưng khác với tính hình ảnh“ [1; 27] Tính biểu trưng rộng hơn khái niệm tính hình ảnh, tuy vậy hình ảnh cũng có vai trò gợi cho ta ý niệm về nội dung Ở tục ngữ nói đến biểu trưng là nói về những ý niệm khái quát hóa Tức là nghĩa của tục ngữ là nghĩa chuyển và biểu trưng thuộc về hình thức chuyển nghĩa này
1.4 Wallace L.Chafe trong quyển “Ý nghĩa và cấu trúc ngôn ngữ” có
trình bày về phép biểu trưng “Biểu trưng là khi một cái gì đó trong thế giới
tư tưởng và khái niệm biến thành một cái gì đó có khả năng trở thành cái cầu bắc qua cái vực ngăn cách vật phát và vật thu“ [28; 28] Định nghĩa theo cách Wallace là hơi trừu tượng gây khó hiểu
1.5 Đỗ Hữu Châu khi trình bày “Ý nghĩa biểu trưng nghệ thuật” ở
ngôn ngữ có nói về nghĩa biểu trưng “Khi đi vào tác phẩm dưới dạng ngôn
từ những yếu tố, những chi tiết ấy sẽ không còn là bản thân nó như trong
Trang 24thực tại mà nó trở thành hình thức do một nội dung ý nghĩa mang tính khái quát, vượt ra ngoài phạm vi ngữ nghĩa thông thường của những yếu tố ngôn từ được sử dụng” [3; 12] Cùng là biểu trưng nhưng Đỗ Hữu Châu đã khẳng định biểu trưng nghệ thuật mới có giá trị Và ông cũng đề cao vai trò của tính hình tượng, tính hình tượng là kết quả tất yếu của tính biểu trưng Nếu các ngữ cố định lấy sự thật, việc thật để biểu trưng thì với tục ngữ các hình ảnh có tính biểu trưng cũng rõ nét Đỗ Hữu Châu cho “biểu trưng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định, và từ vựng phải sử dụng để ghi nhận diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn” [3; 70]
1.6 Nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri với
công trình “Tục ngữ Việt Nam” NXB KHXH, 1975 có quan tâm đến nét nghĩa ở tục ngữ Các tác giả chỉ ra những câu tục ngữ một nghĩa (nghĩa đen) và câu tục ngữ hai nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng) Giải thích của tác giả là “Câu tục ngữ thoạt tiên mới được sáng tạo ra thường có mục đích ghi lại sự phát hiện của “tác giả dân gian” về chính ý nghĩa của hình tượng được miêu tả trong đó“ [5; 63] về sau do sự vận động trong cuộc sống, những trường hợp người ta lại phát hiện ra những hiện tượng khác có ý nghĩa như hiện tượng đã miêu tả nên được mở rộng nghĩa ra Tác giả của quyển “Tục ngữ Việt Nam” nói: “Rất nhiều câu tục ngữ qua quá trình lưu truyền, quá trình sử dụng trong lời nói và suy nghĩ, đã từ ý nghĩa ban đầu nói về bản chất của một hiện tượng nhất định mà mở rộng nội dung phải là của nó nói về bản chất của nhiều hình tượng khác nữa” [5; 64] Từ cách trình bày của các tác giả, chúng tôi nhận thấy nét nghĩa “mở rộng nội dung phải là của nó nói về bản chất của nhiều hình tượng khác” là nét độc đáo của tục ngữ và cũng gần với nét nghĩa biểu trưng mà chúng tôi khảo sát
Chung lại, từ những khái niệm trên ta rút ra cách hiểu về biểu trưng ở tục ngữ như sau: biểu trưng là lấy những hình ảnh cụ thể gần gũi với đời sống con người như tự nhiên, động vật, thực vật để nói lên cái trừu tượng (cái trừu tượng là một kinh nghiệm, một lối đối nhân xử thế ) Hay cụ thể hiểu biểu trưng một cách khái quát là: “Biểu trưng là mượn một sự vật, hình tượng cụ thể nào đó để biểu hiện một cái gì đó mang tính chất trừu tượng” [26; 19]
Ý nghĩa biểu trưng và nội dung ngữ nghĩa của tục ngữ có mối quan hệ với nhau Tìm nét nghĩa biểu trưng cũng tức là đi khám phá nội dung ngữ nghĩa của tục ngữ và ngược lại Nhưng chính hình ảnh biểu trưng làm cho nội dung tục ngữ phong phú Dù vậy, không phải tất cả những hình ảnh điều
Trang 25mang ý nghĩa biểu trưng ở tục ngữ, có hình ảnh không mang giá trị biểu trưng mà chỉ thuần là câu mang một nội dung
2 Một số hình ảnh biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam
Tục ngữ Việt Nam gắn với lối sống, cách nghĩ, cách lí luận, diễn đạt của người Việt Nam Do đó những câu tục ngữ ắt sẽ có những hình ảnh gần gũi với đời sống con người Việt Nam
Các hình ảnh sử dụng vào tục ngữ rất phong phú, rõ nhất có các hình ảnh như: động vật, thực vật, tự nhiên, đồ dùng, Đưa những hình ảnh này vào tục ngữ không chỉ là những hiện tượng đơn thuần mà những hình ảnh này được khái quát lên mang giá trị biểu trưng sâu sắc Hiển nhiên là tính biểu trưng trong tục ngữ là có nhiều nhưng không phải tất cả các hình ảnh đều có giá trị biểu trưng Ví dụ như câu “Mây thành vừa hanh vừa giá.” (thuộc hình ảnh tự nhiên), “Lúa ré là mẹ lúa chiêm” (thuộc hình ảnh thực vật), chỉ thuần là kinh nghiệm
Biểu trưng gắn chặt với tục ngữ, mất đi giá trị biểu trưng có lẽ tục ngữ chỉ còn là “cái vỏ” Tìm hiểu tính biểu trưng trong tục ngữ vốn rất rộng và rất phong phú nhưng chúng tôi không có khả năng tìm hiểu sâu hết tất cả các hình ảnh chỉ xin được phân tích sơ lược các hình ảnh mang giá trị biểu trưng Riêng phần hình ảnh “tự nhiên” của tục ngữ người viết sẽ trình bày kỹ ở chương sau, phần khảo sát “Biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam”
2.1 Hình ảnh tự nhiên
Theo thống kê, trong 4130 câu tục ngữ, có khoảng 253 câu tục ngữ có hình ảnh tự nhiên, chiếm 6,12 % (so với tục ngữ Việt Nam)
Sở dĩ hình ảnh tự nhiên xuất hiện thường trong tục ngữ cũng không có
gì lạ bởi nó chịu ảnh hưởng từ tư tưởng, suy nghĩ của người Việt Từ xưa trong suy nghĩ của người Việt, lực lượng tự nhiên là một lực lượng siêu hình thể hiện trong tín ngưỡng thờ cúng của họ Mỗi nhà thường thấy có bàn thờ ông thiên (thờ trời) ở ngoài sân
Thế giới tự nhiên trong tục ngữ được ghi lại qua hình ảnh của mây, mưa, nắng, gió, trời, đất, Các hình ảnh này được dùng làm tín hiệu biểu trưng, biểu đạt nhiều nội dung Ngoài nội dung trực tiếp ở bề mặt câu chữ nó cò mang nội dung của nghĩa chuyển, tức là có cấu tạo theo quy tắc chuyển nghĩa ẩn dụ Những nét nghĩa này đã nói lên quan điểm sống trong
Trang 26cuộc đời, tính kiên trì nhẫn nại và gắn cả với quan điểm về đạo lý làm người của người Việt
Nước là một vật thể quan trọng cho sự sống của con người và khi đi vào tục ngữ nó thể hiện vai trò của một hình ảnh biểu trưng Hình ảnh
"nước" biểu trưng cho đạo làm người trong câu tục ngữ "Uống nước nhớ nguồn" Làm người phải biết ơn những người làm ra thành quả cho mình hưởng thụ, biết ơn người dạy dỗ, sinh thành ra mình
Hình ảnh "nước" còn được biểu trưng cho tính kiên trì nhẫn nại "Nước chảy đá mòn" Nước là thể lỏng đối lập với thể rắn, vậy mà nước làm cho đá phải mòn đi Liên tưởng từ hiện thực cuộc sống người xưa muốn khuyên
ta nên có lòng quyết tâm thực hiện thì việc gì cũng có thể giải quyết
Bên cạnh hình ảnh "nước" thì hình ảnh "lửa" cũng là một hình ảnh được sử dụng trong tục ngữ có tính biểu trưng cao Lửa gắn liền với đời sống sinh hoạt của con người, lửa soi sáng, lửa làm chín thức ăn Hình ảnh
"lửa" trong tục ngữ được biểu trưng cho thước đo lòng kiên trì, bền bỉ vượt khó của con người Đồng thời nó còn biểu trưng cho sự rèn luyện phẩm cách, đức hạnh của con người
"Lửa thử vàng, gian nan thử sức"
Con người gặp phải sự gian nan khổ cực mới rèn sức chịu đựng chống chọi với đời Người nào từng trải, va chạm cuộc sống nhiều thì khi gặp khó khăn mới trụ được
"Lửa lò thét ngọn vàng càng nên trong"
Tuy hình ảnh "lửa" xuất hiện với số lượng ít ở tục ngữ nhưng mỗi câu có hình ảnh "lửa" thì ít nhiều có giá trị biểu trưng
Chung lại, hình ảnh tự nhiên đi vào tục ngữ không chỉ nói lên kinh nghiệm mà còn mang một nội dung khác, nội dung do nét biểu trưng ở tục ngữ tạo nên Vì đề tài người viết chọn là "Biểu trưng của hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ" nên ở mục này chỉ xin phân tích lướt qua
2.2 Hình ảnh động vật
Công trình biên sọan "Tục ngữ Việt Nam" của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, NXB KHXH, 1998, có tất cả 4130 câu tục ngữ trong đó có 557 câu có hình ảnh động vật, chiếm 13,4 %, so với tục ngữ Việt Nam
So với các hình ảnh khác thì hình ảnh động vật có số lượng tương đối cao Người Việt Nam trong cách sống mang nặng nghĩa tình, với tâm hồn giàu cảm xúc nên ở họ có cái nhìn thân thuộc, gần gũi với các con vật nuôi
Trang 27và cả những con vật trong thế giới xung quanh cuộc sống Nhưng có lẽ trên hết, hình ảnh động vật được miêu tả trong tục ngữ nhiều nhất là những con vật gần gũi hàng ngày với con người
Nắm bắt được đặc tính, tính chất của từng loài vật qua quan sát, người xưa đã đưa hình ảnh những con vật vào tục ngữ, nó mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc Tục ngữ có hình ảnh động vật đã phản ánh sinh động những quan niệm về đối nhân xử thế, tính cách và phong tục tập quán của người Việt Hình ảnh động vật xuất hiện thường trong tục ngữ, quen thuộc nhất là hình ảnh những con vật nuôi như: trâu, bò, gà, chó,
* Hình ảnh "con trâu"
Con trâu là con vật thân thiết gắn bó với người lao động Việt Nam Hình ảnh "con trâu" như người bạn đồng hành trên đồng ruộng, cùng con người "dãi nắng dầm sương" tạo ra hạt lúa củ khoai Do đó hình ảnh "con trâu" được liên tưởng đến con người, biểu trưng cho cách sống, lối suy nghĩ của tư duy người Việt
Sự hiện diện của con trâu trong tục ngữ Việt Nam là điểm độc đáo so với tục ngữ các nước khác Con trâu được nuôi để kéo cày, phục vụ cho con người trên đồng ruộng, phù hợp với một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp, "Con trâu là đầu cơ nghiệp" Vai trò của con trâu đối với người Việt không chỉ được nhìn thấy ở thực tế mà qua tục ngữ nó tạo ra một nét đặc sắc riêng mang đậm dấu ấn văn hóa của con người Việt Nam
Tục ngữ Việt Nam nói chung và tục ngữ có hình ảnh động vật nói riêng thường dùng hình ảnh "con trâu" để biểu trưng cho sự siêng năng, cho công lao làm việc của con người
"Trâu hay không ngại cày trưa"
Câu tục ngữ ca ngợi công lao không quản ngại khó khăn của con người để đem lại thành quả tốt và phê phán những kẻ có thái độ thờ ơ, ngại vất vả với công việc được giao
Hình ảnh "con trâu" ở đây không còn là đặc tính của "trâu hay", "trâu dở" (trâu cày không tốt) mà mang ý nghĩa đặc trưng cho con người và ở tình huống khác nhau có nghĩa khác nhau "Trâu hay không ngại cày trưa" ca ngợi tinh thần hết mình vì công việc đồng thời có sự phê phán thái độ thờ ơ ngại khó đối với công việc được giao
Đi vào tục ngữ, hình ảnh "con trâu" trong lối suy nghĩ của người Việt Nam trở nên sống động Con trâu không chỉ mang chức năng kéo cày đơn thuần mà còn biểu trưng cho thái độ phản kháng của con người
Trang 28Thường khi trâu ra đồng về mệt, bị buộc vào cọc lúc giữa trưa không cỏ, không nước thì trâu sẽ phá cọc để đi Hành động đó thuộc bản năng của con trâu nhưng soi vào tục ngữ hành động này được liên tưởng đến thái độ phản kháng của con người Con người khi bị đè đầu cưỡi cổ thì việc phản kháng lại là điều tất nhiên
"Buộc trâu trưa nát cọc"
Kinh nghiệm buộc trâu vào ban trưa sẽ nát cọc, thể hiện qua câu tục ngữ ngoài việc bộc lộ kinh nghiệm còn nói lên ý nghĩa khác là: trong công việc không nên đi trái với quy luật tự nhiên
Từ một hiện tượng ăn cỏ của con trâu được tác giả dân gian ghi nhận:
"Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy" Câu tục ngữ phê phán những kẻ chỉ biết sống cho riêng mình Với lối sống cá nhân vị kỷ không phù hợp với đạo lí xưa nay của người Việt Người Việt Nam sống với tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau do đó lối sống bó hẹp, cá nhân bị lên án
Bên cạnh biểu trưng cho lối sống cá nhân ích kỷ của con người, câu tục ngữ còn là lời khuyên cho chúng ta không nên xâm chiếm của người khác làm của mình Sống phải có sự quan tâm đến người khác, không nên chèn ép ỷ mạnh mà hiếp yếu Đồng thời ở trường hợp khác câu tục ngữ "Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy" biểu trưng cho những kẻ có lối sống bảo thủ lạc hậu Phê phán kẻ không biết mở rộng giao lưu, mở rộng vốn hiểu biết Sống đoạn tuyệt giao lưu sẽ không đưa xã hội phát triển được Hơn nữa nó sẽ đẩy con người ta đến lối sống lạnh nhạt vô tình
Chung lại, trong nhận thức của người Việt thì hình ảnh "con trâu" đã biểu đạt được giá trị về quan niệm sống của con người Biểu hiện của con trâu xuất hiện ở nhiều thể lọai khác nhau như ca dao, đồng dao và cả trong tranh vẽ (tranh chọi trâu) chứ không riêng gì trong tục ngữ Vang đâu đây câu hát ru từ thuở ấu thơ:
Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
* Hình ảnh con chó
Nếu như trâu với người là bạn đồng hành trên đồng ruộng thì ở nhà con chó là con vật gần gũi và trung thành và quấn quýt bên con người Chó vốn là con vật thông minh, người Việt nuôi để giữ nhà và hầu như không nhà nào là không nuôi chó Đi vào tục ngữ, hình ảnh “con chó” ít nhiều in đậm trong tâm thức người Việt Nam và được biểu trưng cho tính cách khác nhau của con người
Trang 29"Chó chưa cắn đã chìa răng ra"
Tục ngữ có hình ảnh "con chó" thường hay được dụng chỉ tính cách xấu của con người Chó nuôi có đặc tính giữ nhà, ai vào trước tiên là nó gừ răng để doạ Liên tưởng điều này nhằm biểu trưng cho những kẻ tự kêu ngông nghênh khoác lác chưa làm được việc đã "chìa răng" doạ nạt Lời khuyên chân thành cho con người là chớ nên xem thường người khác phải biết khiêm tốn, tự trọng Tính vị kỷ của con người cũng được tìm thấy qua câu tục ngữ: "Chó nhà nào nhà ấy sủa" Tục ngữ phê phán lối sống ích kỷ vì cá nhân, khuyên con người phải biết nhìn xa trông rộng gắn bó đoàn kết với nhau trong tình làng nghĩa xóm nói riêng và trong cộng đồng nói chung Hình ảnh "con chó" qua tục ngữ còn được biểu trưng cho thói ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ đông hiếp người thế cô
-Chó chùa bắt nạt chó làng
-Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng
Con người ai cũng phải lao động kiếm sống, trong quá trình "tồn tại” gặp phải cảnh khó khăn liên tiếp dồn đến, người ta hay dùng câu tục ngữ
"Đã khó chó cắn thêm" để miêu tả cảnh ngộ mình Hình ảnh "con chó" ở đây được biểu trưng cho sự mất mát xui rủi, nghèo túng đeo đẳng con người Cách nói hình ảnh này tuy không đưa ra các từ biểu đạt lời than vãn về nghèo, về khổ nhưng vẫn diễn đạt sắc thái biểu cảm độc đáo
Trong cuộc sống hàng ngày vấn đề suy xét trước sau mới hành động là điều cần thiết, nhất là trong giao tiếp Người Việt Nam dùng câu tục ngữ
"Đánh chó ngó chủ nhà" để biểu trưng cho kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử của con người trong xã hội Tục ngữ Anh cũng có câu "Ai xua đuổi chó là xua đuổi chủ của nó"
Tóm lại, những câu tục ngữ có sử dụng hình ảnh "con chó" tạo nên sự phong phú cho tục ngữ, khiến tục ngữ mang nét riêng đồng thời tạo nên sắc thái biểu cảm độc đáo Nó lí giải sự tồn tại của mình qua tục ngữ đem đến sự nhận thức đánh giá cao vai trò biểu hiện Hình ảnh "con chó" trong tục ngữ còn cho thấy sự liên tưởng của người xưa rất tinh tế, cộng lối tư duy mang tính triết lý cao
* Hình ảnh "con gà"
So với hình ảnh "con chó" thân quen được đưa vào tục ngữ thì hình ảnh
"con gà" cũng không kém phần sinh động Con gà được nuôi để lấy thịt, lấy trứng, nó không xa lạ với con người Tiếng gà gáy là âm thanh quen thuộc đối với người dân quê Việt Nam Tiếng gà đi vào tục ngữ được xem là biểu tượng của thời gian trôi đi
Trang 30"Chó giữ nhà, gà gáy trống canh"
Tiếng gà như một "đồng hồ sinh học" nơi thôn quê Gà gáy sáng giục người ra đồng, tiếng gà ban trưa báo hiệu một làng quê thanh bình yên ả Hình ảnh "con gà" đi sâu vào đời sống bình dị của con người nơi thôn dã Cũng như nhiều con vật khác, con gà đi vào trong tục ngữ Việt Nam được biểu trưng cho quan niệm sống, quan niệm xã hội hoặc phẩm chất, tính cách của con người Người Việt Nam mượn hình ảnh "con gà" để biểu trưng cho chuyện đời chuyện người
Trước tiên hình ảnh "con gà"ì với tiếng gáy được biểu trưng cho tính cách hay ganh đua, ghen tỵ của con người
"Con gà tức nhau tiếng gáy"
Loài gà có đặc tính là khi con này gáy thì con khác cũng gáy theo Hiện tượng này được liên tưởng đến con người Sự liên tưởng này độc đáo được thấy ở tục ngữ Việt Nam, trong tư duy người Việt Ý nghĩa biểu trưng mà câu tục ngữ biểu đạt thật thâm thúy, phản ánh tính cách hay ganh đua của người đời, thấy ai làm gì thì theo Bất chấp điều kiện hoàn cảnh mình có cho phép hay không, đó là tính xấu đáng phê phán Câu tục ngữ mở ra cho chúng ta một lối sống đẹp, khuyên con người nên sống chan hòa chớ nên đua đòi, ghen tị với người khác
Hình ảnh "con gà" được biểu trưng cho tinh thần, ý thức về sự đoàn kết gắn bó của những người thân nói riêng và cộng đồng nói chung:
"Khôn ngoan đá đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau."
Gà trong cùng một bầy, đôi lúc tranh ăn chúng hay đá nhau, dù là sinh cùng một bầy Với con người, khi có mối quan hệ ruột thịt với nhau không nên vì lợi ích cá nhân mà ẩu đả gây cảnh "Nồi da xáo thịt"
Thường khi đi kiếm ăn, gà hay bươi bới bừa bãi, đặc điểm này được nhân dân ghi lại bằng câu tục ngữ:
- Vắng chủ nhà, gà bới bếp
- Vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm
Hình ảnh "con gà" đã được khái quát lên biểu trưng cho thói cơ hội lợi dụng của con người Phê phán kẻ phá rối, làm điều sai trái khi có cơ hội Tục ngữ thường là "nói ít hiểu nhiều" thế nên dù chỉ với một câu ngắn gọn nhưng sức chứa dung lượng nội dung biểu đạt rất sâu sắc và ở ngữ huống sử dụng khác nhau sẽ thể hiện sắc thái biểu đạt mạnh hay nhẹ Với câu "Vắng chủ nhà, gà bới bếp" nếu ở một tổ chức, cơ quan nào đó thì hình ảnh "con
Trang 31gà" được dùng để ám chỉ kẻ hay bày vẽ chuyện nọ chuyện kia khi cấp trên
đi vắng
Chung qui, hình ảnh "con gà" không chỉ có trong tục ngữ mà còn xuất hiện trong ca dao, thành ngữ Nhưng dù thế nào khi được sử dụng nó vẫn mang giá trị biểu trưng sâu sắc, nhất là trong tục ngữ Việt Nam
Tóm lại, hình ảnh động vật đi vào tục ngữ vốn rất phong phú Không riêng gì những con vật gần gũi thân thuộc như: chó, gà, trâu, bò, mà còn có cả những con vật trong rừng: voi, cọp đều được nhân gian dùng để biểu trưng cho con người, với những nét tính cách phong phú Mặc dù trình bày về biểu trưng của hình ảnh động vật nhưng chúng tôi chỉ phân tích sơ lược để nói qua giá trị biểu trưng có ở tục ngữ Do đó ở nghĩa biểu trưng của hình ảnh động vật chúng tôi không đi sâu
2.3 Hình ảnh thực vật
So với hình ảnh động vật ta thấy hình ảnh thực vật xuất hiện it hơn, chỉ khoảng 238 câu, chiếm 6,9 % so với 4130 câu tục ngữ Việt Nam (xem phụ lục 1)
Hình ảnh thực vật dùng làm biểu trưng trong tục ngữ cũng phản ánh được mọi mặt của đời sống xã hội Thực vật không chỉ có ích cho con người mà còn có tác động đến tư duy con người Từ quan sát về thực vật, dân gian đã đưa hình ảnh chúng vào tục ngữ để tạo nên giá trị biểu trưng thâm thúy sâu sắc
Tục ngữ có hình ảnh thực vật phản ánh lên những kinh nghiệm trong lao động sản xuất Đồng thời còn rút ra được những kinh nghiệm quý báu về sự trao dồi nhân cách, lối đối nhân xử thế giữa con người với nhau trong xã hội Thực vật trong tục ngữ không chỉ là những loài thực vật nhỏ bé như bèo, rêu mà còn là những loài thực vật mạnh mẽ như: cây đa, cây tùng, cây bách, Đặc biệt, các bộ phận của cây nói chung cũng xuất hiện trong tục ngữ
* Hình ảnh cây lúa
Cây lúa đối với nước ta, một nước thuộc nền văn minh lúa nước, có vai trò quan trọng trong đời sống Cây lúa đã từng là lẽ sống, là vận mệnh, là máu thịt gắn bó của con người đối với nơi chôn rau cắt rốn Người Việt Nam đã quá quen thuộc với cây lúa, cây mạ, với quá trình cày cấy, gặt hái Cây lúa đã in sâu vào tâm thức người Việt, trong tục ngữ nó mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc
Trang 32Để có hạt lúa ăn, con người phải bỏ bao công sức và cả kinh nghiệm, làm sao để đạt được thành quả Việc chọn giống cho tốt, kĩ, sẽ giúp cho cây lúa phát triển và mau được thu hoạch Kinh nghiệm "Muốn ăn lúa phải chọn giống" từ lâu đã được nhắc nhở qua những câu tục ngữ Ngoài ra, câu tục ngữ "Muốn ăn lúa phải chọn giống" còn toát lên giá trị biểu trưng thâm thúy là: muốn hưởng thụ phải bỏ sức lao động Muốn đạt được kết quả thì con người phải ra sức chứ không phải ngồi không mà lại"muốn ăn" Đây vừa là một kinh nghiệm trong trồng trọt vừa là lời khuyên răn thể hiện nét đẹp cố hữu của người Việt xưa nay là "Muốn ăn phải lăn vào bếp"
Trong sản xuất, cây lúa đem lại đời sống ấm no cho mọi nhà thế nên quá trình cày cấy rất khó khăn đòi hỏi phải có kinh nghiệm mới mong có được vụ mùa bội thu Phải biết suy tính sao cho thích hợp ở từng thao tác và thời điểm
-Thừa mạ thì bán, chớ có cấy rậm ăn rơm
-Lúa mùa thì cấy cho sâu
Lúa chiêm thì gẫy cành dâu mới vừa
Tục ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất lúa nước đa phần là những câu biểu đạt một cách rõ ràng dễ hiểu Bởi nó gắn chặt với cuộc sống của người dân đôn hậu chất phát để phục vụ cho họ trong lao động sản xuất và đời sống xã hội
* Hình ảnh “cây rau”
Trong những nhu cầu của con người thì nhu cầu ăn uống ở Việt Nam cũng mang nét riêng Lối sống người Việt Nam vốn mộc mạc, trong mỗi bữa ăn đều có rau, có canh Dù đơn giản đạm bạc nhưng in đậm trong lòng mỗi người dù đi đâu vẫn nhớ về quê hương với “đĩa rau”, “con cá” Hình ảnh
“cây rau” đi vào cả trong ca dao:
"Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương."
Cây rau quả thật gần gũi với con người, nó đi vào trong sinh hoạt, trong suy nghĩ tình cảm của con người Trong tục ngư,î cây rau là hình ảnh biểu trưng cho cuộc sống bình thường giản dị của người dân Nó trở thành thứ không thể thiếu trong sinh họat hàng ngày ở nông thôn Ở nông thôn, mỗi gia đình ít nhiều đều có trồng những loại rau xung quanh nhà và cây rau là thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của người Việt
- Cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống
- Cơm không rau như đánh nhau không có người đỡ
Trang 33Hình ảnh “cây rau” còn được biểu trưng cho một hiện tượng của đời sống con người:
“Rau nào sâu nấy”
Từ hiện tượng tự nhiên, sâu thường ăn rau, liên tưởng đến mối quan hệ phụ thuộc giữa người với người Câu tục ngữ còn biểu trưng cho nhiều tầng
ý nghĩa, hàm ý, sự tác động của con người thế nào với đối tượng thì sẽ được kết quả ấy
“Cây rau” còn được tục ngữ sử dụng để biểu trưng cho một quy luật sống vay_trả ở đời: “Ăn cái rau, trả cái dưa” Cuộc sống người Việt Nam luôn sâu nặng nghĩa tình, nhận ơn của người ta thì dù thế nào cũng phải trả lại, đền bù lại cho xứng đáng Mặt khác, câu tục ngữ “Ăn cái rau, trả cái dưa” còn dụng ý khác, nếu vào hòan cảnh khác nó mang hàm ý phê phán kẻ gây ra chuyện xấu nên phải nhận hậu quả lớn lao do mình gây ra
Cây rau gắn chặt với đời sống con người, khi đi vào tục ngữ nó bao quát chung cho một lối sống mộc mạc giản dị thuần chất đồng nội của con người Việt Nam Mỗi câu tục ngữ có hình ảnh rau đều mang một ý nghĩa biểu trưng riêng phản ánh tư duy liên tưởng độc đáo của người xưa Đến cây rau cũng đi vào tục ngữ cho thấy tục ngữ là một “bức tranh” phản ánh đời sống con người thật sinh động
* Hình ảnh “cây tre”
Hình tượng cây tre, thân thẳng dẻo dai, rễ bám chặt vào đất, từ lâu đã được liên tưởng như một “dáng đứng Việt Nam” bất khuất trước “bão tố” của cường quyền Đi vào tục ngữ, cây tre là hình ảnh mang giá trị biểu trưng độc đáo
Cây tre từng đi vào huyền thoại một Thánh Gióng vươn vai nhổ tre đánh giặc Hình ảnh “bờ tre hồn hậu” che chở cho làng “dưới tầm đại bác”thì hẳn đã in sâu vào đời sống tình cảm của người xưa và nay là dể hiểu Ở tục ngữ, cây tre là hình ảnh được biểu trưng cho cách đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống
“Chém tre phải dè đầu mắt”
Tre vốn có những đầu mắt, là nơi cứng nhất của thân cây Kinh nghiệm cho thấy nếu muốn sử dụng tre phải chặt nơi không có đầu mắt Liên tưởng vào tục ngữ, hình ảnh “tre” biểu trưng cho một cách sống, ứng biến của con người trước cuộc sống Khuyên ta nên thận trọng khi làm việc, xem xét trước sau cân nhắc điều lợi, hại sẽ không thừa Biết lựa chọn vào điểm tốt, dễ thành công hơn là lao vào vướng mắc
Trang 34Trong giao tiếp, lời tục ngữ “Chém tre phải dè đầu mắt” là khuyên con người nên cân nhắc trước khi thốt lời, tránh nói những gì gây tổn hại người khác Làm người phải biết mềm mỏng có “cương” có “nhu” mới mong thành công
Tục ngữ có hình ảnh cây tre còn được người xưa khái quát lên vấn đề mang tính triết lý sâu sắc:
“Tre già măng mọc”
Quy luật của cuộc sống khi ta già thì có lớp trẻ “măng mọc” lên thay Cũng như trong sự kế tục, người sau kế tục người trước, lớp sau thay thế lớp trước Cũng như người già rồi sẽ mất, con cháu sẽ nối tiếp theo Tư tưởng nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, khi ta đã già thì việc bồi dưỡng nâng đỡ lớp sau là điều tất yếu
Giá trị của hình ảnh thực vật trong tục ngữ đem lại cho người đời kinh nghiệm sâu sắc về lao động sản xuất và cả giá trị mà ý nghĩa biểu trưng mang lại là bài học qúi giá về đời sống xã hội, về con người Đây là điểm đặc biệt có ở tục ngữ Việt Nam
2.4 Hình ảnh đồ dùng
Hình ảnh đồ dùng đi vào tục ngữ với số lượng khoảng 337 câu, chiếm 8,1 %, so với 4130 câu tục ngữ Việt Nam Đồ dùng là hình ảnh được sử dụng mang tính độc đáo ở tục ngữ, nói lên ý tưởng khác nhau về tính cách sống, lối sống của con người
Nói đến đồ dùng sinh họat của ta thì không phải là những đồ dùng có tính chất “hiện đại”, công nghiệp” mà là tất cả những gì đời sống lao động cần Cuộc sống hàng ngày có biết bao vật dụng mà con người sử dụng, từ những công cụ lao động như cái cày, cái bừa, xe, đó, đơm cho đến những đồ dùng trong sinh hoạt như quần, áo, chăn, gối xuất hiện trong đời sống đều thấy trong tục ngữ Tùy theo tính chất, chức năng của từng đồ dùng, mà
đi vào tục ngữ nó mang giá trị biểu trưng cho giá trị nhân cách của con người, cho sự giàu nghèo của con người
* Hình ảnh “cái bát”
Cái bát là vật dụng dùng để đựng thức ăn, nó phục vụ cho con người thế nhưng đi vào tục ngữ nó thể hiện chức năng biểu trưng cho nhân cách con người trong các mối quan hệ đối xử
Con người luôn sống cho mục đích lao động và hưởng thụ nhưng có kẻ không thích lao động mà chỉ biết hưởng thụ:
“Ngồi mát ăn bát vàng”
Trang 35Hình ảnh “bát vàng” được biểu trưng cho sự giàu sang đầy đủ Câu tục ngữ phê phán kẻ bóc lột công sức của người khác để lấy lợi cho mình, sống thiếu trách nhiệm Đã sống thì con người nên sống tích cực, hãy bỏ công sức ra để làm, đừng ngồi không mà hưởng thụ
Hình ảnh "cái bát" còn được biểu trưng cho thói vong ơn bội nghĩa Khi nhờ vả người khác thì quỵ lụy, xong việc thì phủi tay tất cả
“Ăn cháo đá bát”
Khuyên con người phải biết quí trọng và đền đáp những ai mà mình làm ơn Người nào bị gán cho câu “ăn cháo đá bát” là người vong ơn, đừng mong có lần nữa được người khác giúp
* Hình ảnh “cái nồi”
Hình ảnh “nồi, niêu” đi vào tục ngữ, phần lớn mang giá trị biểu trưng cao Nó biểu trưng cho lối sống sinh hoạt ở đời của con người, kinh nghiệm của con người trong đánh giá sự việc Đánh giá về nhân cách của con người, tục ngữ nhìn nhận một cách tin tưởng rằng người có phẩm chất tốt thì dù ở hoàn cảnh nào nó cũng không mất đi mà càng làm cho phẩm chất ấy tốt đẹp hơn
“Nồi đồng đánh gio lại sáng.”
Trong quan hệ giữa con người với nhau, tục ngữ có câu:
“Nồi nào vung ấy”
“Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”
Hình ảnh “vung” và “nồi” biểu trưng cho sự tương xứng, hòa hợp trong tình duyên nói riêng và trong mối quan hệ giữa hai con người có tính cách và phẩm chất tương xứng với nhau
Trong cuộc sống mọi sự việc đều có nguồn gốc nguyên nhân phát sinh Con người sử dụng hình ảnh “nồi, vung” để biểu trưng cho nguyên nhân đó “Cơm sống vì nồi, không sống vì vung”
Lời tục ngữ khuyên con người khi đánh giá sự việc phải biết suy xét, phán đoán để giải quyết vấn đề chính xác hợp lý hơn
* Hình ảnh “thuyền”
“Thuyền” là phương tiện đi lại quen thuộc với người Việt Nó được đưa vào ca dao, thành ngữ, trong sáng tác thơ văn biểu đạt tình cảm của con người Ở tục ngữ, bên cạnh việc dùng hình ảnh “thuyền” mô tả những kinh nghiệm về phương tiện sông nước, người xưa còn dùng nó để biểu trưng co sự ganh đua của con người
“Thuyền đua thì lái cũng đua,
Bè gỗ đi trước, bè dừa theo sau”
Trang 36Dùng hình ảnh “thuyền” và “lái” để biểu trưng cho sự ganh đua, nó còn thể hiện lời khuyên con người làm việc gì phải xác định rõ ràng, đừng chạy theo người khác mà dẫn đến hậu quả không hay
Hình ảnh “thuyền” và “lái” trong tục ngữ còn được biểu trưng cho người con gái: “Thuyền theo lái, gái theo chồng” Đây là một lối so sánh và liên tưởng độc đáo của người Việt, làm cho câu tục ngữ có tính biểu trưng cao dù rất cô đúc ngắn gọn
Quả thật hình ảnh “thuyền” đi vào tục ngữ đã thể hiện giá trị biểu đạt sâu sắc Lựa chọn hình ảnh vận dụng đưa vào tục ngữ, đối với người xưa đã có sự chọn lọc kỹ
Tóm lại, hình ảnh đồ dùng trong tục ngữ quả rất phong phú đa dạng Hầu như mọi đồ dùng có ích cho con người thì ít nhiều xuất hiện trong tục ngữ và đi liền với hình ảnh là hàm ý khuyên răn, nhắc nhở, ngợi ca hướng về con người Đây là điểm độc đáo mà tục ngữ đã làm được
Trang 37CHƯƠNG III:
BIỂU TRƯNG CỦA HÌNH ẢNH TỰ NHIÊN TRONG
TỤC NGỮ VIỆT NAM
– & —
1 Hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Việt Nam
1.1.Khái niệm về tự nhiên
Khái niệm về tự nhiên không gây cho ta sự khó hiểu, lập lờ hay trừu tượng quá mức Tự nhiên là những gì tồn tại mà không do con người tạo ra Hiểu nôm na đơn giản là vậy nhưng để có sự mạch lạc rõ ràng và thuyết phục cần dựa vào từ điển
“Tự nhiên” trong quyển “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” của tác giả Nguyễn Lân, NXB TPHCM, 1998 định nghĩa: “tự nhiên là toàn thể những vật vốn có trong thiên nhiên, không do con người làm ra “ Ngoài ra “tự nhiên” còn được hiểu là không bị gò bó, không ngượng nghịu
“Từ điển Hán Việt từ nguyên” giải thích: “tự” là chính mình, còn
“nhiên” là vậy “Tự nhiên” là “không miễn cưỡng, không rõ duyên do vì sao tự mình muốn vậy Còn có nghĩa không do ai làm cả” Và sách đơn cử một
ví dụ: tự nhiên một tiếng nổ long trời lở đất làm ai cũng khiếp sợ
“Từ điển tiếng Việt”, Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Hà Nội, 1992 định nghĩa “tự nhiên” là “tất cả nói chung những gì tồn tại mà không phải do có con người mới có” Khi “tự nhiên” thuộc từ loại tính từ: “thuộc về tự nhiên hoặc có tính chất của tự nhiên không phải do con người mới có, không có tác động hoặc sự can thiệp của con người.” Và hiểu “tự nhiên” trong cử chỉ, nói năng thì tự nhiên là “bình thường như vốn có của một người, không có
gì là gượng gạo kiểu cách hoặc gò bó, giả tạo”
Từ một số từ điển định nghĩa, chúng ta thấy khái niệm “tự nhiên” nói chung là những gì thuộc tự nhiên không do con người làm ra Ngay cả “Từ điển từ nguyên” cũng có một nét nghĩa là “không do ai làm cả” Tóm lại, có nhiều nét nghĩa cho khái niệm “tự nhiên” Ở đây do vấn đề khảo sát là tục ngữ có hình ảnh tự nhiên nên chúng tôi chọn nét nghĩa thuộc từ lọai danh từ cho khái niệm “tự nhiên” và theo cách định nghĩa của giáo sư Nguyễn Lân:
“tự nhiên là toàn thể những vật vốn có trong tự nhiên, không do con người làm ra” Ví dụ các hiện tượng tự nhiên như: mưa, gió, nắng và các sự vật tự nhiên như: nước, sông,