XUNG ĐỘT SẮC TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở 3 TỈNH MIỀN NAM THÁI LAN Cần Thơ, 4/2009 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu... Thái Lan chính là một trong những ví dụ điển hìn
Trang 1XUNG ĐỘT SẮC TỘC VÀ TÔN GIÁO
Ở 3 TỈNH MIỀN NAM THÁI LAN
Cần Thơ, 4/2009
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2MỤC LỤC --
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1/ Lý do chọn đề tài 2
2/ Mục đích nghiên cứu 2
3/ Phạm vi nghiên cứu 3
4/ Phương pháp nghiên cứu 3
4.1/ Phương pháp luận 3
4.1.1/ Quan điểm lịch sử 3
4.1.2/ Quan điểm lãnh thổ 3
4.1.3/ Quan điểm viễn cảnh 3
4.2/ Phương pháp cụ thể 3
5/ Các bước tiến hành 4
6/ Lịch sử nghiên cứu đề tài ở Việt Nam 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC THÁI LAN 1.1/ Vài nét về tự nhiên của Thái Lan 5
1.1.1/ Lãnh thổ và vị trí địa lí 5
1.1.2/ Các khu vực địa lí 5
1.1.2.1/ Miền Bắc 6
1.1.2.2/ Miền Đông Bắc 6
1.1.2.3/ Miền Trung 6
1.1.2.4/ Miền Nam 7
1.2/ Vài nét về dân cư, chính trị, xã hội Thái Lan 7
1.2.1/ Dân cư, dân tộc, tôn giáo 7
1.2.2/ Lịch sử hình thành quốc gia 7
1.2.3/ Chính trị 9
1.2.4/ Nguồn lao động 9
1.2.5/ Giáo dục 10
1.2.6/ Trợ cấp xã hội 11
1.3/ Vài nét về tình hình kinh tế Thái Lan trong thế kỷ XXI 12
Chương 2 NGUYÊN NHÂN VÀ TÌNH HÌNH XUNG ĐỘT BẠO LỰC Ở 3 TỈNH MIỀN
NAM THÁI LAN
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32.1/ Vài nét về tình hình dân tộc, tôn giáo ở Thái Lan 15
2.1.1/ Thái Lan – một đất nước đa sắc tộc 15
2.1.1.1/ Các tộc người thuộc nhóm Thái 15
2.1.1.2/ Các tộc người thuộc nhóm Môn – Khơmemmm 16
2.1.1.3/ Các tộc người thuộc nhóm Tạng – Miến và Mèo – Dao 16
2.1.1.4/ Các tộc người thuộc nhóm Malayo – Polinesien 16
2.1.2/ Phật giáo – quốc giáo của Thái Lan 17
2.1.3/ Hồi giáo – tôn giáo thiểu số ở Thái Lan 20
2.2/ Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế-xã hội miền Nam Thái Lan 23
2.2.1/ Điều kiện tự nhiên 23
2.2.2/ Điều kiện kinh tế-xã hội 24
2.3/ Lịch sử chia cắt lãnh thổ, quá trình đấu đòi độc lập và các nguyên nhân dẫn đến tình trạng xung đột bạo lực 25
2.3.1/ Lịch sử chia cắt lãnh thổ và quá trình đấu tranh 25
2.3.1.1/ Thời kỳ thuộc địa 25
2.3.1.2/ Vùng Pattani trong và sau CTTG 2 28
2.3.1.3/ Pattani kể từ những năm 1950 36
2.3.2/ Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng xung đột bạo lực và chủ nghĩa ly khai ở miền Nam Thái Lan 38
2.3.2.1/ Nguyên nhân về tôn giáo 39
2.3.2.2/ Nguyên nhân về kinh tế 43
2.3.2.3/ Nguyên nhân về chính trị - xã hội 44
2.3.2.4/ Các nguyên nhân khác 44
2.4/ Tình hình xung đột miền Nam những năm gần đây 45
Chương 3 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH TRẠNG XUNG ĐỘT BẠO LỰC MIỀN NAM THÁI LAN ĐẾN TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA THÁI LAN 3.1/ Những ảnh hưởng về chính trị 49
3.2/ Những ảnh hưởng về xã hội 51
3.3/ Những ảnh hưởng về kinh tế 52
3.3.1/ Ngành du lịch khốn đốn vì xung đột 52
3.3.2/ Dự án kênh đào Kra bị bế tắc vì xung đột 53
3.3.2.1/ Khái quát về địa lý của eo đất Kra 53
3.3.2.2/ Thuận lợi mang lại khi kênh đào Kra được xây dựng 54
PHẦN KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Từ xưa đến nay, trên thế giới, xung đột về mặt tôn giáo, sắc tộc là khó giải quyết và phức tạp nhất Mỗi dân tộc và mỗi tôn giáo đều có một không gian văn hóa và một đức tin
khác nhau, ví dụ như đạo hồi không gian tôn giáo đó gọi là “Daru’l Islam” Vì thế bất kỳ ai,
bất kỳ một thế lực chính trị nào nếu muốn dùng sức mạnh kinh tế hay quân sự để thống nhất hoặc hòa hợp các tôn giáo, sắc tộc lại với nhau thì đó chỉ là điều không tưởng Thái Lan chính là một trong những ví dụ điển hình cho trường hợp này, với 95% dân số cả nước theo Phật giáo, chỉ còn lại 5% theo các tôn giáo khác mà trong đó 3,8 % số dân theo đạo Hồi Một đất nước Phật giáo tồn tại và bén rễ lâu đời ấy nay lại đã và đang vướng phải những xung đột bạo lực đẫm máu ở miền Nam đặc biệt là 3 tỉnh Pattani, Narathiwat và Yala Cuộc xung đột này diễn ra giữa một bên là 3,8 % dân số theo đạo Hồi ở miền Nam mà chủ yếu là người Hồi giáo Mã Lai chống lại chính phủ đòi ly khai bằng các hình thức khủng bố dùng bạo lực Hàng ngàn người vô tội đã chết, ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, chính trị và
xã hội của Thái Lan, đất nước của những nụ cười trong lòng bạn bè thế giới
Ngày nay khi hòa bình và ổn định chính trị xã hội là một trong những điều kiện tiên quyết để một đất nước có thể phát triển được Thời sự trong thời gian gần đây cho thấy tình trạng rối ren ở Thái Lan hiện nay, chính phủ được lập ra trong một thời gian ngắn thì bị lật
đổ, biểu tình, xung đột liên tục xảy ra… Có thể nói ngắn gọn tình hình chính trị, xã hội Thái Lan hiện nay bằng cụm từ “vô cùng phức tạp” Và vấn đề xung đột miền Nam có góp phần không nhỏ vào tình hình bất ổn chung của cả nước
Nhận thấy đây là một vấn đề địa chính trị mang tính thời sự nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của nhiều người, có liên quan ít nhiều đến kiến thức chuyên ngành trong phần địa
lý khu vực mà sau này tôi giảng dạy Vì thế tôi đã chọn đề tài “Xung đột tôn giáo và sắc tộc
ở 3 tỉnh miền Nam Thái Lan” để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề địa chính trị phức tạp và nóng bỏng này
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của quý thầy cô
và các bạn sinh viên Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Sư Phạm, quý thầy cô bộ môn Địa Lý-Du Lịch Đặc biệt là thầy Huỳnh Tương Ái, người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài, chỉ bảo tận tình xuyên suốt để tôi có thể hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này một cách tốt nhất Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện Trần Thị Bích Ngân
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thái Lan là một đất nước Phật giáo phát triển lâu đời, với khoảng 95% số dân theo đạo Phật Bất cứ đâu trên lãnh thổ Thái Lan nhà sư và kinh Phật cũng đều được coi trọng như một phần thiêng liêng trong cuộc sống của người dân Duy chỉ có một khu vực nhỏ bé ở
3 tỉnh miền nam Thái Lan giáp với Malaixia là đạo Phật bị tẩy chay và không được coi trọng thậm chí bị coi như kẻ thù với tôn giáo của cư dân bản địa nơi đây Tôn giáo xung đột với Phật giáo Thái Lan đó chính là đạo Hồi, với cư dân chủ yếu ở đây là người Mã Lai Nguyên nhân sâu xa là do những sai lầm trong lịch sử khi người ta phân chia ranh giới quốc gia mà không nghĩ đến những hậu quả về mặt tôn giáo khi bị cố tình chia cắt và đồng hóa bởi một tôn giáo khác chiếm ưu thế hơn
Như đã nói ở trên, xung đột tôn giáo là một vấn đề rất phức tạp và khó giải quyết, khi đức tin và tôn giáo của mình bị xâm phạm, coi thường thì các tín đồ của tôn giáo đó sẽ làm mọi cách để chống trả lại “Tức nước vỡ bờ”, người Hồi giáo Mã Lai ở Thái Lan đã tiến hành nhiều hình thức chống đối chính Phủ Thái Lan đòi ly khai sáp nhập trở về với đất nước trước đây của họ (Malaixia) hoặc thành lập một chính phủ riêng, khi nhận thấy rằng người Thái theo đạo Phật luôn có “ý đồ” muốn đồng hóa họ Tuy nhiên chính phủ Thái Lan đã không đồng ý với những yêu cầu nguyện vọng vừa nêu, thậm chí dưới thời thủ tướng Thaksin còn dùng các biện pháp mạnh về quân sự để đàn áp các cuộc biểu tình đòi ly khai của người Hồi giáo ở miền Nam Thái Lan
Mọi mâu thuẫn bắt đầu từ đó, khi những nguyện vọng, yêu cầu của người Hồi giáo miền Nam không được chấp nhận thì họ bắt đầu tiến hành “Thánh chiến” (Jihad) của mình
để chống lại chính phủ và các tín đồ theo đạo Phật ở Thái Lan Những cuộc nổ bom giết người hàng loạt, hay phục kích bắt cóc con tin (không trừ bất cứ ai), chặt đầu… đã gây ra những xung đột đẫm máu ở miền Nam Và các cuộc xung đột này đã làm hạn chế rất lớn tiềm năng phát triển kinh tế của Thái Lan, làm phai mờ đi hình ảnh một đất nước thanh bình, xinh đẹp trước đây trong mắt bạn bè thế giới Nhận thấy được tính thời sự và lý thú của vấn
đề xung đột bạo lực tôn giáo và sắc tộc ở miền Nam Thái Lan nên tôi đã chọn nó để làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Qua quá trình nghiên cứu đề tài “Xung đột tôn giáo và sắc tộc ở 3 tỉnh miền Nam
Thái Lan” ít nhiều giúp tôi:
- Hình thành thói quen tác phong làm việc có tính khoa học độc lập, sáng tạo, qua đó càng say mê nghề nghiệp
- Rèn luyện kỹ năng đọc sách báo, kỹ năng xử lý sắp xếp tư liệu để xây dựng đề tài hoàn chỉnh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6- Tìm hiểu để thấy được những ảnh hưởng của việc xung đột bạo lực tôn giáo ở miền Nam đến tình hình kinh tế, chính trị xã hội của Thái Lan
- Củng cố kiến thức đã học trước đó, đồng thời làm phong phú thêm kiến thức chuyên môn
- Ứng dụng kiến thức đã học vào thực tiễn đặc biệt là phần mềm tin học: Powerpoint, Encarta, rèn luyện kỹ năng truy cập Internet…
3/ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do trình độ, thời gian có giới hạn, tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài còn hạn chế nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề về nguyên nhân, tình trạng xung đột bạo lực ở miền Nam và những ảnh hưởng của nó đến tình hình kinh tế, chính trị xã hội của Thái Lan
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1/ Phương pháp luận
4.1.1/ Quan điểm lịch sử:
Mọi sự vật hiện tượng đều có quá trình vận động và phát triển Vì vậy khi nghiên cứu
đề tài này tôi đi sâu làm rõ tiến trình lịch sử xung đột diễn ra ở miền Nam Thái Lan để thấy được những thay đổi về hình thức cũng như bản chất của các vụ xung đột trong hoàn cảnh địa lý và thời gian khác nhau
4.1.2/ Quan điểm lãnh thổ:
Quan điểm lãnh thổ hay còn gọi là quan điểm “vùng”, là một quan điểm đặc thù của địa lý Trong thực tế các sự vật, hiện tượng địa lý luôn có sự phân hóa trong không gian làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác Quán triệt quan điểm lãnh thổ khi tìm hiểu về “Xung đột bạo lực tôn giáo ở miền Nam Thái Lan” cần làm nổi bật những đặc trưng
về “lãnh thổ” của miền Nam Thái Lan so với các khu vực khác
4.1.3/ Quan điểm viễn cảnh:
Quan điểm này nhằm mục đích dự đoán sự phát triển của các sự vật hiện tượng trong tương lai Khi vận dụng quan điểm này phải căn cứ vào xu hướng vận động của các sự vật hiện tượng để đưa ra dự báo có cơ sở khoa học cho tương lai
4.2/ Phương pháp cụ thể:
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu: khi nghiên cứu đề tài tôi đã thu nhập nhiều tài liệu từ các nguồn khác nhau như từ sách, báo, trên các trang web Đồng thời xử lý nguồn tài liệu cụ thể như: dịch tài liệu từ tiếng Anh sang tiếng Việt, lựa chọn thông tin phù hợp,…
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Việc sử dụng các bản đồ, biểu đồ nhằm cụ thể hóa, hình tượng hóa để có những so sánh chính xác Đề tài tổng hợp thông tin từ bản đồ Các số liệu thống kê qua đó tạo được những bản đồ, biểu đồ trong đề tài
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7- Hoàn thiện luận văn
6/ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Ở VIỆT NAM
Có thể nói, nội dung nghiên cứu của đề tài là một vấn đề khá mới mẻ Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đứng trên góc độ địa chính trị về nguyên nhân, tình trạng và những ảnh hưởng của các cuộc xung đột bạo lực ở miền Nam Thái Lan đến tình hình kinh tế, chính trị xã hội của đất nước này Những tài liệu có liên quan đến đề tài này chủ yếu chỉ là dưới dạng thông tin hàng ngày qua báo chí, phát thanh, truyền hình mà chúng ta có thể cập nhật được
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC THÁI LAN 1.1/ Vài nét về tự nhiên của Thái Lan:
1.1.1/ Lãnh thổ và vị trí địa lý:
Thái Lan nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á, với diện tích 513.115km2 Từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam là 2500km; từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây là 1250km Thái Lan có bờ biển dài khoảng 1840km theo bờ vịnh Thái Lan và 865km theo bờ
Ấn Độ Dương
Thái Lan nằm ở vĩ độ từ 60-210VB và từ 980-1060KĐ, giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (1754 km) và Liên bang Mianma (1800 km) ở phía Bắc, Campuchia (803 km) và vịnh Thái Lan ở phía Đông, Liên bang Mianma và Ấn Độ Dương (biển Anđaman) ở phía Tây, Malaixia (506 km) ở phía Nam
1.1.2/ Các khu vực địa lý:
Thái Lan được chia thành 4 khu vực địa lý: miền núi phía Bắc; đồng bằng màu mỡ miền Trung; miền cao nguyên Đông Bắc; khu vực đồi núi phía Nam
Vị trí Thái Lan trong khu vực Đông Nam Á (Nguồn: Encarta 2007)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 91.1.2.1/ Miền Bắc: là vùng đồi núi, bao gồm những dãy núi tiếp nối cao nguyên Vân
Nam theo hướng Bắc-Nam Có 4 con sông chính là Nam, Yom, Oang, Ping hợp thành sông
Mê Nam ở đồng bằng trung tâm Các con sông đều chảy theo hướng Bắc-Nam; ngoại trừ vùng núi cực Bắc, sông chảy về phía Bắc đổ vào sông Mekong, và ở biên giới Mianma, sông chảy về phía Tây đổ vào Xaluen ở Mianma Khí hậu khá khô, mùa mưa ngắn, lượng mưa
900 – 1500 mm/năm Thành phố chính là Chiang Mai, nhờ khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp
đã trở thành một trung tâm du lịch chính của Thái Lan
Các tỉnh và phân vùng lãnh thổ Thái Lan – Nguồn: www.vi.wikipedia.org
1.1.2.2/Miền Đông Bắc: là cao nguyên Korat có hình lòng chảo tứ giác hơi nghiêng
về phía sông Mê Kông, với hai sông chính là Xêmun và Nậm Xi chảy vào sông Mekong Khí hậu khô khan, đất đai kém phì nhiêu vì thiếu nước Người Lào chiếm đa số Đây là vùng nuôi trâu bò cung cấp cho đồng bằng Trung tâm
1.1.2.3/ Miền Trung có thể chia thành hai miền nhỏ là:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10- Đồng bằng Trung tâm: được bồi đắp phù sa mới vào mỗi mùa mưa lũ từ tháng 6 đến tháng 12 hàng năm; sau các trận lụt, những luồng lạch ở hạ lưu sông Mê Nam lại đổi dòng
- Miền Đông Nam hay còn gọi là vùng Chantaburi bị ngăn cách với Campuchia và đồng bằng Trung tâm bởi những dãy núi đồi không liên tục cao 550 – 1500 m Đây là một vùng bờ biển nhỏ giáp với vịnh Thái Lan
1.1.2.4/ Miền Nam: là một bộ phận bán đảo kéo dài từ đồng bằng Trung tâm đến
biên giới Malaixia ở phía Nam, chiều rộng 16 – 217 km Phía Tây là dãy núi Tênatxêrim chạy dọc bán đảo, ngăn cách bán đảo với Mianma Bờ biển phía Tây có nhiều dốc đá khúc khuỷu, nhiều đảo rất đẹp có thể khai thác du lịch Bờ biển phía Đông có nhiều vịnh rộng, đồng bằng duyên hải rộng 5-30 km, bờ biển bằng phẳng
1.2/ Vài nét về dân cư, chính trị, xã hội của Thái Lan:
1.2.1/ Dân cư, dân tộc và tôn giáo:
Dân số Thái Lan xấp xỉ 65 triệu người (năm 2005) Tỉ lệ tăng trưởng dân số hàng năm vào khoảng 0,91 % Người Thái, người Hoa chiếm đa số; kế đến là người Malaixia, người Khơme, người Lào, người Việt Ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu số sống ở vùng núi như H’Mông, Môn…
Ngôn ngữ chính của Thái Lan là tiếng Thái, hầu như được toàn bộ dân cư sử dụng Tiếng Thái là tiếng chịu ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc, Tây Tạng, tiếng Khơme, tiếng Sankrit Ngoài ra, tiếng Hoa và tiếng Malaixia cũng được sử dụng nhiều Tiếng Anh được dùng trong hệ thống hành chính, trường học và ở các thành phố lớn Những người ở miền Đông Bắc nói tiếng Lào
Đạo Phật là quốc giáo của Thái Lan, gần 95% dân số theo đạo Phật, khoảng 3,8% dân
số theo đạo Hồi, 1% theo đạo Thiên Chúa và theo các tôn giáo khác
Thái Lan là thành viên của Liên Hiệp Quốc (14/12/1946), tham gia Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
1.2.2/ Lịch sử hình thành quốc gia:
Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIII, Thái Lan là một phần lãnh thổ của Vương quốc Ăngko Giữa thế kỉ XIII, nước Nam Chiếu của người Thái ở vùng Tây Nam Trung Quốc bị người Mông Cổ tấn công, phá vỡ dẫn đến việc người Thái di cư ồ ạt xuống phía Nam lấn đất của người Môn, người Khơme và các dân tộc khác trên lưu vực sông Mê Nam (Chao Phraya) và thượng lưu sông Mekong Vương quốc của người Thái thống nhất vào giữa thế kỉ XIV Nửa sau thế kỉ XV, người Thái tiếp tục mở rộng lãnh thổ bằng cách lấn đất của người Khơme, uy hiếp kinh thành Ăngko của người Khơme Đến cuối thế kỉ XVI, người Thái lấn chiếm toàn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11bộ lưu vực sông Mê Nam và vùng cao nguyên Korat, đẩy biên giới của Campuchia về đường biên giới hiện nay
Từ nửa sau thế kỉ XVIII, các nước tư bản phương Tây xâm nhập mạnh mẽ vào khu vựa Đông Nam Á Trong những năm 1885-1898, các cường quốc tư bản Anh, Pháp, Hoa Kì…đã kí với Thái Lan (lúc đó được gọi là Xiêm) những hiệp ước bất bình đẳng, biến Xiêm thành một nước độc lập về chính trị nhưng phụ thuộc vào các nước phương Tây Do vị trí đặc biệt, Xiêm nằm giữa các thuộc địa của Anh và Pháp Tuy nhiên Anh có một ảnh hưởng quan trọng trong đời sống kinh tế và chính trị của Thái Lan, và ảnh hưởng này chỉ chấm dứt sau Chiến tranh thế giới thứ II trước sự chống đối của Hoa Kì
Cho đến giữa năm 1932, Xiêm là một nước quân chủ chuyên chế Ngày 24/6/1932, chế độ quân chủ chuyên chế bị lật đổ, chế độ quân chủ lập hiến được thiết lập và tồn tại cho đến ngày nay Ngày 24/6/1939, tên nước được đổi thành Thái Lan
Chính sách đối ngoại mềm dẻo, khôn khéo trong lịch sử:
Trong lịch sử lập quốc của mình Thái Lan từng là một nước lớn theo chủ nghĩa Đại Thái, lấn át các quốc gia láng giềng khi có thể, nhưng Thái Lan luôn có chính sách ngoại giao khéo léo đối với các cường quốc Tây Âu, Nhật trong thời cận và hiện đại Thái Lan luôn biết tận dụng vị thế địa lí để làm trái độn giữa các cường quốc Nhờ thế Thái Lan đã tránh được các cuộc xâm lược và được hưởng thời gian độc lập, hòa bình tương đối lâu dài trong thời kỳ đế quốc thực dân xâm chiếm thuộc địa và trong Chiến tranh Thế Giới thứ 2
Thái Lan đã kí Hiệp ước hữu nghị và thương mại với Anh năm 1826 và với Mỹ năm
1833, Hiệp ước trao đổi biên giới các tỉnh phía Bắc Malaixia hiện tại năm 1909, nhờ đó thoát khỏi ách thuộc địa của các nước đế quốc lúc bấy giờ đang tranh giành nhau vùng Đông Nam Á màu mỡ Thái Lan cũng đã kí hiệp định phân định biên giới sông Mekong với Pháp
và tránh né xung đột với thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XXI
Trong Chiến tranh Thế Giới thứ 2 Thái Lan là đồng minh lỏng lẻo của Nhật, cho Nhật
đi qua đất Thái tiến đánh Malaixia, Miến Điện Lợi dụng thế suy yếu của nước Pháp (bị Đức xâm chiếm) và sức mạnh hải quân khá hiện đại Thái Lan đã gây chiến với Pháp để tranh giành lãnh thổ Đông Dương Sau khi bị hải quân Pháp bất ngờ tiến công đánh bại cùng với
sự suy yếu của quân đội phát xít Nhật vào cuối thế chiến, Thái Lan làm đảo chính vào ngày ngày 1-8-1944 và ngay lập tức chuyển nước Thái từ một đồng minh lỏng lẻo của Nhật trong Chiến tranh Thế Giới thứ 2 trong một đêm trở thành đồng minh của Mỹ và tiếp tục giữ được độc lập và hòa bình Người ta cho rằng đó là chính sách ngoại giao cây tre, sẵn sàng ngả theo kẻ mạnh, không bao giờ đổ để đem lại lợi ích cho dân tộc Thái
Trong quá khứ, các thế lực quân sự Thái Lan đã nhiều lần gây hấn với Việt Nam, đã xâm lược tàn phá và chiếm đóng Lào, xâm lấn Campuchia Năm 2006, các thế lực quân sự Thái Lan làm đảo chính lật đổ chính phủ dân sự, lên nắm quyền
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 121.2.3/ Chính trị:
Tháng 12/1978, hiến pháp mới được ban hành: Thái Lan là một nước quân chủ lập hiến Đứng đầu nhà nước là Nhà Vua Quốc hội Thái Lan gồm một Hạ nghị viện do dân bầu, nhiệm kì 4 năm và một Thượng nghị viện do Nhà Vua chỉ định theo đề nghị của Thủ tướng với nhiệm kì 6 năm Cơ quan hành pháp là chính phủ do Thủ tướng đứng đầu, các thành viên của chính phủ do Thượng nghị viện bổ nhiệm với sự phê chuẩn của Nhà Vua
Mặc dù hiến pháp quy định như vậy nhưng những nội các được thành lập ở Thái Lan chủ yếu lại không phải thông qua con đường bầu cử mà là qua đảo chính, và chức Thủ tướng thường rơi vào tay những người cầm đầu đảo chính
Từ khi nền quân chủ lập hiến được thành lập vào năm 1932 đến tháng 9/1992, Thái Lan đã trải qua 52 chính quyền và 17 lần đảo chính và lần đầu tiên, một Thủ tướng không liên quan đến quân đội lên cầm quyền với một quốc hội có ưu thế thuộc về phe dân chủ (207 ghế trên 360 ghế trong Hạ nghị viện)
Chính phủ nhằm vào mục tiêu: hạn chế vai trò của quân đội, ổn định chính trị, phát triển kinh tế theo hướng tiến đến một khu vực mậu dịch tự do và liên kết chặt chẽ với 3 nước Đông Dương
Quân đội mất đi vai trò chủ yếu trong chính phủ, nhưng quân đội đã chiếm giữ nền kinh tế nông thôn từ khi có chương trình cải cách của chính phủ vào thập niên 60 Quân đội vẫn nắm giữ nền kinh tế, nhất là ngành giao thông vận tải và thông tin liên lạc Hai trong số năm đài truyền hình quốc gia và 210 đài phát thanh địa phương thuộc quyền quản lý của quân đội
Vấn đề thiếu hụt lao động phổ thông ở Thái Lan sẽ ngày càng trầm trọng hơn và chỉ
có thể được giải quyết bằng việc thuê mướn lao động nước ngoài Hiện nay Thái Lan chưa
có điều luật cho phép thuê mướn lao động nước ngoài làm việc ở Thái Lan nên công nhân
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13người Mianma, Trung Quốc, làm việc trong các ngành cạo mủ cao su, đánh cá, nông nghiệp, xuất nhập khẩu…của Thái Lan vẫn bị coi là lao động bất hợp pháp
Lao động bất hợp pháp có tầm quan trọng đối với kinh tế Thái Lan Nhiều nhà kinh doanh Thái Lan đã đưa vào sử dụng nguồn lao động nhập cư bất hợp pháp để duy trì hoạt động sản xuất của họ
Số người nhập cư bất hợp pháp vào Thái Lan lên đến hơn 500.000 người, chiếm khoảng 1,4% lực lượng lao động ở Thái Lan, chủ yếu từ Mianma, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakixtan, Xri Lanka, Lào và Campuchia Họ sống rải rác tại 50 trong số 76 tỉnh ở Thái Lan, chủ yếu làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm và lương thấp mà công nhân Thái Lan lảng tránh Những công việc đó thường tập trung ở các đồn điền cao su, các khu vực xây dựng, trong nhà máy hoặc hầm mỏ
Lo ngại người nhập cư bất hợp pháp có thể chiếm thêm việc làm từ tay người Thái hoặc gây nên những vấn đề an ninh và xã hội, chính phủ Thái Lan đã áp dụng chính sách phạt tiền đối với người lao động nhập cư bất hợp pháp hoặc tống họ vào tù Mức tiền phạt tối đa đối với những người chứa chấp những người lao động nước ngoài nhập cư bất hợp pháp hoặc những người thuê lao động nhập cư bất hợp pháp là 6.000 bạt
Tuy nhiên, nếu chính phủ Thái Lan không khắc phục được tình trạng thiếu lao động,
rõ ràng không có cách gì hữu hiệu để ngăn chặn lao động nhập cư bất hợp pháp, nhất là khi một số người lao động nước ngoài tại Thái Lan chỉ được trả 2 - 2,4 USD mỗi ngày, so với mức lương tối thiểu của công nhân Thái là 5,8 USD/ngày
1.2.5/ Giáo dục:
Chiều hướng phát triển kinh tế hiện nay của khu vực Đông Nam Á là chuyển dần từ việc khai thác các ngành sản xuất đòi hỏi giá công lao động rẻ sang việc cung cấp các dịch
vụ và các hàng hóa đòi hỏi trình độ khoa học và kĩ thuật cao
Theo chiều hướng ấy Thái Lan chọn cho mình hướng phát triển mang tính chiến lược: trở thành trung tâm về kĩ thuật thông tin ở vùng châu thổ sông Mekong Trên bước đường tiến đến thực hiện ước vọng về kinh tế của mình, Thái Lan nhận thấy họ không có đủ nguồn nhân lực cần thiết cho việc thực hiện việc chuyển hướng chiến lược đó
Trong những năm qua, Thái Lan chú ý xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật như trường học, nhưng còn xem nhẹ xây dựng con người Vì vậy hàng năm Thái Lan cần đến 10.000 kĩ
sư, nhưng các hệ thống đào tạo của Thái Lan chỉ cung cấp được khoảng một nửa
Các trường đại học không đủ chỗ, không đủ giảng viên và không có chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tế Số người giảng dạy các bộ môn kĩ thuật ở đại học ngày càng ít đi vì họ đã được thu hút vào các công ty với lương rất cao
Chính phủ Thái Lan đã hỗ trợ cho tư nhân tiếp tay vào việc đào tạo thêm chuyên viên Đầu năm 1995 đến nay, chính phủ Thái Lan chấp thuận cho các trường trung học và đại học
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14tư vay với lãi suất thấp và giúp đỡ sinh viên nghèo bằng một quỹ lên đến 1,2 tỉ USD Bộ Tài chính tài trợ 160 triệu USD cho chương trình liên kết giữa Đại học Chulalongcon và các trường đại học Nhật Bản để đào tạo giảng viên cho các ngành khoa học kĩ thuật
Các công ti nước ngoài đặt cơ sở tại Thái Lan đã cố gắng đào tạo người của riêng họ:
13 công ty CHLB Đức đã hỗ trợ cho một khóa học về máy móc do Phòng Thương mại Thái Lan – Đức tổ chức với hy vọng thu hút được nhiều người có năng lực; công ty Telecom Asia nhận đỡ đầu cho các sinh viên trong chương trình hướng nghiệp của Nhà nước
Giáo dục trở thành một công cụ hàng đầu trong cuộc chạy đua kinh tế trong khu vực Cựu Thủ tướng Thái Lan Chuan Leekpai (nhiệm kì 1995-2001) tuyên bố giáo dục và phát triển nguồn nhân lực là trọng điểm các kế hoạch của Thái Lan Phổ cập giáo dục là chính sách hàng đầu của Nhà nước để đưa sự phát triển đến từng địa phương
Ngoài 800 triệu USD cho sinh viên vay với lãi suất ưu đãi 7,8% trong 15 năm, 400 triệu USD khác được cấp cho các học sinh trong cả nước đã kết thúc các lớp học cưỡng bức (học hết lớp 6) Đối tượng được vay là các học sinh mà phụ huynh có thu nhập dưới 2500USD/năm Lãi suất sẽ không tính trong thời gian các em học tập và tiền vay sẽ được hoàn lại với lãi suất 3 % sau khi các em đã có việc làm
Chính sách cho học sinh, sinh viên vay đã được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng và
là một biện pháp hữu hiệu để phổ cập giáo dục ở nông thôn là nơi mà phụ huynh học sinh chỉ có thu nhập trung bình 400-800 USD/năm, trong khi chi phí học tập của mỗi học sinh đã
là 2.350 USD/năm
Tuy nhiên, tiền bạc vẫn không phải là phương thuốc vạn năng cho tình trạng giáo dục hiện nay ở nông thôn Thái Lan Học sinh ở nông thôn cần được trang bị những kiến thức giúp các em thích ứng với cuộc sống Trong quá khứ, các chương trình giáo dục từ Trung ương trang bị cho học sinh những kiến thức không hề giúp chúng giải quyết những vấn đề của bản thân Việc phi tập trung hóa, giao việc soạn thảo chương trình giảng dạy cho địa phương và tham gia hỗ trợ địa phương sẽ là chìa khóa cho việc phát triển giáo dục ở nông thôn
Kế hoạch cho học sinh vay để học tập chưa tính đến thực trạng ở nông thôn, nơi mà nông dân đã nợ nần nhiều cơ quan tài chính, nơi giáo viên giỏi bị thiếu hụt nghiêm trọng, đồng thời là nơi chưa định hình một hệ thống sử dụng nhân tài hợp lý để giữ các học sinh giỏi ở lại địa phương Điều đó dẫn đến nghịch lý: Chính phủ khuyến khích giáo dục, nhưng những người được học hành lại bỏ đồng ruộng để lên thành phố Trình độ dân trí ở nông thôn Thái Lan đang giảm sút vì hầu hết những người giỏi ở nông thôn đều ra đi
Trang 15Thái Lan có hơn 200.000 xí nghiệp lớn nhỏ, nhưng chỉ có 814 tổ chức công đoàn; có 6,5 triệu lao động đang làm việc ở các xí nghiệp nhỏ nhưng chỉ mới có 3,3 % gia nhập công đoàn Trong khi đó, 84% của 250.000 lao động trong khu vực quốc doanh đã tham gia các nghiệp đoàn lao động Tình trạng công đoàn nhỏ yếu phản ánh sự thiếu hiểu biết về quyền lao động, đó là chưa kể đến các nguyên nhân do hạn chế của trình độ văn hóa, do thiếu lòng tin vào sức mạnh công đoàn và còn có thể do sợ mất việc làm
Quỹ Bảo hiểm xã hội Thái Lan hình thành dựa trên cơ sự đóng góp 1,5 % tiền lương của công nhân và số lượng tương tự từ phía chủ doanh nghiệp và chính phủ, lên đến 13 tỉ baht/năm (5,2 triệu USD) dùng để chi trợ cấp nghỉ hưu và thất nghiệp
Hiện nay, người lao động Thái Lan quan tâm đến quỹ bồi thường lao động: trợ cấp cho công nhân bệnh hoạn, thương tật do ảnh hưởng môi trường lao động, hoặc cho gia đình của họ khi xảy ra tai nạn gây chết người Mức bồi thường thương tổn trở thành quan trọng vì tình trạng thiếu an toàn lao động đang tăng lên đến mức báo động đỏ ở Thái Lan; điển hình
là cái chết do nhiễm độc chì của 13 công nhân trẻ ở khu công nghiệp Lanmphun
1.3/ Vài nét về tình hình kinh tế Thái Lan trong thế kỷ XXI
Nền kinh tế của Thái Lan phụ thuộc vào xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% GDP Tỷ giá hối đoái USD/Baht Thái Lan ở mức 37 (GDP 7,3 ngàn tỷ baht) cho đến 26 tháng 10 năm 2006 với GDP danh nghĩa theo tỷ giá hối đoái thị trường là 200 tỷ USD, khiến cho Thái Lan là nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á, sau Indonesia, một vị trí mà Thái Lan
đã nắm giữ trong nhiều năm qua Sự phục hồi của Thái Lan từ cơn khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 dựa trên xuất khẩu, phần lớn là do nhu cầu bên ngoài từ Hoa Kỳ và các thị trường nước ngoài khác Chính quyền của Thaksin đã nhậm chức tháng 2 năm 2001 với ý định kích cầu nội địa và giảm sự phụ thuộc của Thái Lan vào ngoại thương và đầu tư Kể từ
đó, chính quyền của Thaksin đã tinh lọc thông điệp kinh tế của mình, đi theo chính sách kinh
tế "đường đôi" kết hợp kích thích nội địa với xúc tiến các thị trường mở và đầu tư nước
ngoài Loạt chính sách này được biết đến với tên gọi phổ biến là kinh tế học Thaksin
(Thaksinomics) Cầu về hàng xuất khẩu của Thái Lan yếu đã giữ tăng trưởng GDP năm
2001 còn 1,9% Tuy nhiên, trong giai đoạn 2002-2003, sự kích thích nội địa và phục hồi xuất khẩu đã khiến cho nền kinh tế tăng trưởng tốt hơn với tốc độ tăng GPD thực 5,3% (2002) và 6,3% (2003)
Bảng dưới đây cho thấy xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của Thái Lan theo thời giá thị trường estimated, theo Quỹ tiền tệ Quốc tế với số liệu tính bằng Baht Thái Lan
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16Năm GDP(USD) Tỷ giá so với
Lĩnh vực chế tạo đang ngày càng đa dạng hóa của Thái Lan đã đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng trong thời kỳ bùng nổ kinh tế Các ngành có tốc độ tăng nhanh có: máy tính và
đồ điện tử, hàng may mặc và dày da, đồ gỗ, các sản phẩm gỗ, thực phẩm đóng hộp, đồ chơi, các sản phẩm chất dẻo, đá quý và đồ trang sức Các sản phẩm công nghệ cao như: linh kiện
và mạch tích hợp, đồ điện, xe cơ giới hiện đang dẫn đầu tăng trưởng xuất khẩu của Thái Lan
Về thương mại, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan và nhà cung cấp lớn thứ hai sau Nhật Bản Trong khi các thị trường chính truyền thống của Thái Lan đã
là Bắc Mỹ, Nhật Bản, và châu Âu, thì sự phục hồi của các đối tác thương mại khu vực của Thái Lan đã giúp quốc gia này tăng xuất khẩu 5,8% năm 2002 Sự phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính đã phụ thuộc nặng vào kim ngạch xuất khẩu gia tăng vào các phần còn lại của châu Á và Hoa Kỳ Kể từ năm 2005, sự gia tăng xuất khẩu ô tô do Nhật Bản chế tạo (như Toyota, Nissan, Isuzu) đã giúp tăng nhanh cán cân thương mại, với hơn 1 triệu chiếc xe hơi sản xuất vào năm ngoái (2006) Nhờ đó, Thái Lan đã gia nhập vào nhóm top 10 quốc gia xuất khẩu ô tô
Đặc biệt, từ năm 2002, Thái Lan đã không còn là nước nhận ODA Thái Lan đã đóng góp 60 triệu USD viện trợ cho các nước láng giềng trong năm 2005
Tuy nhiên theo những thống kê kể từ năm 2008 trở lại đây, kinh tế Thái Lan đã có mức tăng trưởng âm Theo dự báo của 17 hãng, công ty và tập đoàn kinh tế Thái Lan, trong quý IV/08, nền kinh tế nước này có thể đã suy giảm lần đầu tiên trong một thập kỷ qua, do xuất khẩu và du lịch đều sụt giảm, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bất ổn chính trị trong nước
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17Trong quý IV/08, tăng trưởng GDP của Thái Lan ở mức âm 2,8% so với cùng kỳ năm
2007 Thủ tướng Abhisit Vejjajiva nói rằng nền kinh tế Thái Lan có thể suy giảm trong 9 tháng (từ tháng 10/08 đến tháng 6/09), bất chấp việc chính phủ tăng cường chi tiêu để kích thích tăng trưởng Giám đốc Action Economics tại Xingapo, David Cohen, nói: "Thái Lan không miễn dịch với sự suy giảm nhu cầu tiêu thụ trên thị trường xuất khẩu toàn cầu vốn đang tác động tiêu cực đến các nền kinh tế khu vực Hiện cũng chưa thể đảm bảo rằng kinh
tế Thái Lan sẽ phục hồi vào nửa cuối năm nay."
Ngân hàng trung ương Thái Lan (BoT) cho biết xuất khẩu, chiếm khoảng 67-70% GDP, đã giảm 9,4% trong 3 tháng cuối năm 2008 Việc những người biểu tình bao vây sân bay quốc tế Suvarnabhumi cuối năm ngoái đã làm gián đoạn thương mại và khiến lượng du khách nước ngoài giảm 19,4% BoT nói rằng họ có thể sẽ tiếp tục chính sách tiền tệ nới lỏng trong cuộc họp vào ngày 25/2, sau khi đã hai lần cắt giảm lãi suất xuống còn 2% kể từ đầu tháng 12/08
Thủ tướng Abhisit đã thông báo ngân sách bổ sung trị giá 116,7 tỷ bạt (3,3 tỷ USD)
để thực hiện các biện pháp ngắn hạn và có kế hoạch chi 2000 tỷ bạt cho các dự án phát triển
hạ tầng trong 2-3 năm để thúc đẩy đầu tư, tạo thêm việc làm và kích thích nhu cầu chi tiêu nội địa Động thái này được đưa ra khi có tới 80.000 nhân viên của ngành du lịch và 30.000 nhân viên và công nhân làm việc trong ngành ô tô có thể bị mất việc làm (Nguồn: TTXVN, 21/2)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Chương 2 NGUYÊN NHÂN VÀ TÌNH HÌNH XUNG ĐỘT BẠO LỰC Ở 3 TỈNH
MIỀN NAM THÁI LAN
2.1/ Vài nét về tình hình dân tộc, tôn giáo ở Thái Lan:
2.1.1/ Thái Lan – một đất nước đa sắc tộc:
Thái Lan là một quốc gia với nhiều thành phần tộc người Các tộc người ở Thái Lan
có quá trình phát triển lịch sử lâu dài và những đặc trưng văn hóa khá độc đáo Đó là một nền văn hóa vừa mang tính chất đa dạng, phong phú và có tính thống nhất, một nền văn hóa đặc trưng tiêu biểu cho tất cả các nhóm tộc người chủ yếu ở Đông Nam Á như Thái, Môn-Khơme, Tạng – Miến, Malayo – Polinesien…
Thành phần và số lượng các tộc người ở Thái Lan khá phức tạp Đại thể có các dân tộc chủ yếu sau:
2.1.1.1/ Các tộc người thuộc nhóm Thái gồm có: Thái (Xiêm), Lào, San, Lự, Phu
Thay…chiếm tỷ lệ 74% dân số cả nước
- Người Thái hay Xiêm là tộc người chủ thể ở Thái Lan cư trú tập trung ở vùng trung tâm Thái Lan tức vùng đồng bằng châu thổ các sông lớn như Mê Nam, Mê Ping….và miền Bắc bán đảo Malacca
- Người Lào tự gọi là “Thay” hoặc “Tay” có khoảng 8 triệu cư trú tập trung ở vùng Bắc và Đông Bắc (thuộc 15 tỉnh thuộc cao nguyên Korat)
- Người San tự gọi là “Thay ay” (Thái Lan) có khoảng 6 vạn cư trú tập trung ở vùng biên giới Tây Bắc (Thái Lan- Mianma)
- Người Lự có khoảng 8 vạn người cư trú chủ yếu ở phía Tây
- Người Phu Thay có khoảng 12,5 vạn người cư trú ở vùng Đông Bắc thuộc các tỉnh Uđon, Ubon, Calaxỉn
Cho đến nay hầu như người ta đều thống nhất là quê hương của các tộc người thuộc nhóm Thái là vùng Nam Trung Hoa và Bắc Đông Dương Họ là một bộ phận của nhà nước Nam Chiếu được hình thành vào giữa thế kỷ VII Trước đó, có thể từ đầu công nguyên, các tộc người thuộc nhóm Thái này đã thiên di xuống lập cư ở vùng Bắc Thái Lan và Bắc Lào hiện nay cũng như vùng Đông Bắc bán đảo Đông Dương và xây dựng nên một số “Mường” (nơi cư trú của người Mường) Thái độc lập hoặc cư trú xen kẽ với các tộc người Môn – Khơme vốn là những cư dân bản địa ở đây Những cuộc thiên di ào ạt xuống phía Nam trong đó có người Thái Lan chỉ bắt đầu từ khi Nam Chiếu bị Mông Cổ xâm lược (thế kỷ XIII)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 192.1.1.2/ Các tộc người thuộc nhóm Môn – Khơme: Môn – Khơme, Lava, Kui, Sẹc,
Kabrao, Kalon, Khơmú, Katin, Xêmang, Xênôi, Mrabri…chiếm gần 4% dân số
- Người Môn có khoảng 9 vạn cư trú ở vùng trung tâm và miền Tây thuộc các tỉnh Hác Lát, Pa Krêt, Ayuthia, Lốpburi, Kenchaburi và vùng ngoại vi Băng Cốc
- Người Khơme có khoảng 40 vạn cư trú tập trung ở vùng giáp biên giới Campuchia thuộc các tỉnh Tr’at, Buriram, Xurin, Xixakệt…
- Người Lava còn khoảng 1 vạn người cư trú ở Bắc Thái Lan thuộc các tỉnh Mêxarien, Mêkôngxôn, Chiềng Rai, Chiềng Mai, Lam Pan
- Người Kui có khoảng 40 vạn người phân bố ở các tỉnh Xurin, Xixakệt, Ubon, Rôét…
- Các tộc người Sẹc, Kbrao, Sộ, Khơmú, Katin…mỗi tộc người có khoảng một vài ngàn người cư trú xen kẽ các tỉnh phía Bắc và Đông-Bắc
Đặc biệt, các tộc người Xêmang, Xênôi, Mrabi là những tộc người nhỏ ở Thái Lan Người ta chỉ có thể giả thiết là họ chỉ có vài trăm người, vì họ sống lang thang trong rừng, biệt lập với các tộc người khác thuộc phạm vi các tỉnh Nan, Pri, Chiềng Rai, Tây Cao Nguyên Korat Các dân tộc này có trình độ kinh tế xã hội còn rất thấp
Các cư dân thuộc nhóm Môn-Khơme là những tộc người bản địa trên đất Thái Lan hiện nay Từ đầu công nguyên họ đã là chủ của nhiều quốc gia cổ đại ở vùng này như Djaravati, Lavo, Haripunje….Một bộ phận người Môn đã hòa hợp với những cư dân nói tiếng Thái ở phía Bắc (thế kỷ thứ XIII) và là một thành phần để hình thành nhà nước Thái trong thế kỷ XIII
2.1.1.3/ Các tộc người thuộc nhóm Tạng – Miến và Mèo – Dao: Karen, Lahu, Lisu,
Akha…
- Người Karen có khoảng 130.000 người cư trú ở các tỉnh phía Tây và Bắc Thái Lan: Mêkôngxôn, Mêcariên, Kanchanaburi, Chiềng Rai, Lampan, Pre và Lampun…
- Người Lisu có gần 20.000 người cùng sống trong các tỉnh như trên
- Người Akha có khoảng 30.000 người
- Người Mèo có khoảng 50.000 người, người Dao có khoảng 15.000
Các tộc người này sống xen kẽ với các tộc người trên ở những độ cao khác nhau, ở các tỉnh miền núi Bắc và Đông – Bắc Thái Lan
2.1.1.4/ Các tộc người thuộc nhóm Mã Lai-Pôlinêdiêng (Malayo-Polinesien): như
Mã Lai, Mauken…chiếm gần 3,8% dân số cả nước cư trú tại các tỉnh phía Nam (Song Khla, Pattani, Narathiwat, Yala…) và dọc bờ phía Tây bán đảo Malacca, nhóm người này chủ yếu theo đạo Hồi và trở thành một vấn đề địa chính trị nóng hổi hiện nay Ngoài các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ trên Thái Lan còn có một số người Hoa kiều (khoảng 5,5 triệu), giữ một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị và kinh tế ở đây
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 202.1.2/ Phật giáo – quốc giáo của Thái Lan:
Thái Lan là nơi mộ đạo một cách nhiệt thành Chúng ta không khỏi phải sửng sốt trước tỷ lệ số dân Thái Lan theo đạo Phật đã lên tới con số 95% Khi bước chân đến đất nước Thái Lan, chúng ta sẽ thấy chùa chiền mọc lên ở khắp mọi nơi Cả nước Thái Lan ước tính có tới 2 vạn 7 nghìn ngôi chùa với hơn 30 vạn sư Trong số các ngôi chùa này đã có khá nhiều ngôi chùa làm cho du khách xa gần đến tham quan phải sững sờ trước vẻ đẹp rực rỡ với lối kiến trúc độc đáo, tinh vi của chúng Một sử gia nước ngoài khi đến Thái Lan đã phải thốt lên: “Hầu như tất cả dân Thái Lan đều theo Phật giáo và không có một tôn giáo nào lại bén rễ sâu, lại có ảnh hưởng lớn và có sự tồn tại lâu bền ở đất nước này như tôn giáo của Đức Phật”
Chùa Arun nhìn từ sông Chao Phraya – Nguồn: Encarta 2007
Phải nói rằng ở Thái Lan Phật giáo có một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội và tinh thần của nhân dân Qua các triều đại khác nhau tuy có những lúc kém phần rực rỡ nhưng Phật giáo hầu như tuyệt đối ngự trị trong toàn xã hội; Phật giáo đã trở thành quốc giáo ở Thái Lan Chính vì lẽ đó trong lịch sử Thái Lan chúng ta thường thấy xuất hiện một số quan hệ rất chặt chẽ giữa cung điện với nhà chùa; nhiều khi nhà vua đồng thời cũng là nhà sư và có những nhà sư lại bước lên ngai vàng Hầu hết các triều đại phong kiến
ở Thái Lan đều tồn tại trên cơ sở quan trọng là dựa vào sức mạnh và uy tín của giới tăng lữ Phật giáo trong triều đình Phải nói rằng lúc bấy giờ từng cá nhân trong giới tăng lữ đều rất
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21vô tư và mặt khác, họ lại thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, do đó uy tín của họ đối với xã hội là tuyệt đối Nhiều vị vua dù ở hoàn cảnh nào cũng phải luôn giữ mối hòa thuận với giới tăng lữ cao cấp của Phật giáo Chưa một vị vua nào có thể đè nén được họ và trải qua nhiều bài học đau đớn, các vua chúa Thái nhận thấy rằng chính họ là người phải cúi lạy các vị tăng
lữ cao cấp chứ không phải là ngược lại Vì vậy không có gì lạ khi thấy ở Thái Lan, nhà vua trong lúc gặp các vị tăng lữ cao cấp đã phải rời ngai vàng cúi lạy một cách thành kính Nói chung ở Thái Lan, các vị sư sãi là những nhân vật trung tâm trong đời sống của nhân dân, được nhân dân tôn trọng và ngưỡng mộ nhất Mọi người coi nhà sư là những người cõi Phật đến và cùng với vua thì các nhà sư là người được tôn kính nhất
Đến bất kỳ một gia đình nào của Thái Lan chúng ta cũng sẽ thấy các nhà sư được mời vào nhà bao giờ cũng được ngồi ở vị trí đặc biệt và mọi người đều phải ngồi ở vị trí thấp hơn, với mọi cử chỉ lời nói tỏ ra sự kính trọng một cách tuyệt đối Ở Thái Lan, các bậc cha
mẹ thường mong ước cho con trai mình đi tu một thời gian dù chỉ trong vài tháng Do đó, đi
tu 3 tháng đã trở thành một điều bắt buộc đối với mọi Phật tử Thái Lan Theo ước tính thì hàng năm có khoảng 10% số nam giới Thái Lan sống trong các chùa Các thanh niên Thái Lan đã hăm hở cạo đầu đi tu để tuân theo 227 điều luật đã quy định, với một cuộc sống nghèo khổ tự nguyện Gia tài của họ lúc này chỉ có 3 bộ áo cà sa vàng, một chiếc bát sắt, một cái kim, một chiếc đai lưng và một mảnh vải để lọc nước trước khi uống Khi đã trở thành sư thì họ không được ăn vào lúc quá giờ ngọ, không được xin mà chỉ được nhận các thứ người khác cúng dâng Nếu có dịp ở Thái Lan dù chỉ một đôi ngày, chúng ta sẽ được chứng kiến cảnh khất thực của các nhà sư Ngay từ sáng sớm tinh mơ chúng ta đã thấy từng tốp nhà sư xếp hàng một, chân không giày dép, đầu không mũ, mình quấn những mảnh áo vàng, tay ôm một cái âu lớn, miệng tụng kinh bước đi thong thả trên đường Dân chúng Thái Lan cũng dậy từ sớm sắm đủ cơm trắng, quả tươi, trứng muối, và các thức ăn chay khác, bày tất cả ở trước cửa để đợi sư Khi bước đến trước mỗi nhà, các sư dừng lại rồi tất cả đều quay
về phía gia chủ đứng thành một hàng ngang Gia chủ bước đến trước hàng sư miệng niệm nam-mô và với một cử chỉ rất cung kính xẻ các thức mình đã chuẩn bị vào từng chiếc âu lớn trên tay mỗi vị sư Sự việc này diễn ra trong tất cả các buổi sáng sớm, rất đều đặn và đúng giờ Mỗi nhà sư được nhận “đồ bố thí” của dân chúng Thái Lan nhiều tới mức có thể nuôi đủ
10 người ăn no Thường thường các nhà sư không thể ăn hết phần của mình, lại dành cho những người đến chùa xin cơm ăn Sự sống không xa cách nhân dân và có thể giúp tất cả mọi người dân bất kể người đó là loại người nào, ở đâu đến vì những chuyện hệ trọng lớn lao, hay chỉ là những việc vặt như chỉ dẫn đi thăm chùa hoặc thăm các địa phương
Tổ chức Phật giáo cũng có uy tín vô cùng lớn trong đời sống xã hội của nhân dân Thái Lan Ở Thái Lan, đặc biệt là các vùng nông thôn, ngôi chùa không những chỉ là một trung tâm tôn giáo mà còn là trung tâm xã hội nữa Theo các nhà nghiên cứu đánh giá thì
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22ngôi chùa là một trong năm thành phần của cơ cấu một làng ở Thái Lan, đó là: Gia đình, họ hàng, dân tộc, chùa, trường học Ở đây chùa và trường học quyết định bộ mặt của một làng
và tình cảm của dân chúng đối với làng
Bởi vì, trước hết nhà chùa là trường học dạy dỗ các trẻ nhỏ trong làng Giới tăng lữ Phật giáo Thái Lan tự cho mình không những chỉ có nhiệm vụ trông nom và làm các bổn phận tôn giáo mà ngoài ra họ còn đặt cho mình nhiệm vụ dạy dỗ và giáo dục tinh thần cho nhân dân Họ tự nguyện dạy dỗ cho tất cả các trẻ em trong làng không lấy tiền và chính việc làm đó đã làm cho họ xứng đáng được các bậc cha mẹ biết ơn, được các học trò của mình kính trọng Ở đây các trẻ em được học đọc, học viết, được dạy dỗ những nguyên lý đạo đức
và một số những hiểu biết thông thường khác Nếu như các nhà sư phát hiện được những cậu
bé nào thông minh cần mẫn thì sau này chính họ đã xin cho những cậu bé đó được vào cung phục vụ nhà vua hoặc là bản thân sẽ trở thành nhà sư Ngày nay tuy trình độ xã hội đã lên cao, công việc giáo dục đã được chính phủ và ngay cả nhà vua đích thân chăm lo, nhưng các nhà sư vẫn được mọi người dân, kể cả vua, kính trọng cho dù lúc này trình độ học vấn của
họ có vượt xa các nhà sư, các thầy cũ của mình thế nào chăng nữa Ngoài ra nhà chùa còn là trung tâm của rất nhiều công việc xã hội khác Mọi nghi lễ hội hè đình đám đều được tiến hành tại chùa; mọi cuộc họp hội quan trọng của dân làng, mọi cuộc liên hoan vui chơi giải trí, mọi cuộc trao đổi tin tức hàng ngày đều phải tìm đến ngôi chùa của làng Những công việc trong gia đình hoặc làng xóm còn chưa quyết định dứt khoát cũng được đem tới chùa để xin ý kiến quyết định cuối cùng của các nhà sư Những xích mích, kiện tụng từ lớn tới nhỏ của dân làng đều được tiến hành xét xử và hòa giải ngay tại chùa Chùa còn là nơi tang trữ mọi đồ dùng tôn giáo, mọi thứ nhạc cụ mà dân làng khi cần đến đều có thể hỏi thuê hoặc mượn về dùng ít lâu Những người già yếu không thể làm được việc gì để kiếm sống cũng có thể tìm đến chùa để ở trong những ngày cuối đời mình Những người có tiền có thể đem tiền của mình đến gửi tại chùa và đồng thời những người túng thiếu có thể đến chùa vay tạm một
số tiền cần thiết Những khách bộ hành đường xa có thể tìm đến chùa nghỉ ngơi ăn uống không mất tiền Trẻ em có thể nô đùa, đá bóng trong sân chùa, các bà các chị có thể dạo chơi ngắm cảnh thoải mái trong chùa Ai ngỏ ý muốn vào thăm chùa cũng được sẵn sàng tiếp đón
và hướng dẫn tỉ mỉ chu đáo Chùa còn là nơi luôn luôn dang rộng cánh tay đón nhận che chở những người bị ngược đãi, oan ức; ở đó họ sẽ có cái ăn, cái mặc và được bảo vệ cẩn thận Như vậy ta đủ thấy ngôi chùa quan trọng biết chừng nào đối với người Thái Lan Vì vậy ở khắp đất nước Thái Lan có tới hàng vạn ngôi chùa lớn nhỏ được đặt trong một hệ thống tổ chức tôn giáo rất chặt chẽ
Chính phủ Thái Lan đã thường xuyên triệt để hợp tác với tổ chức Phật giáo trong nước Từ năm 1950, Phật giáo và đạo đức Phật giáo đã trở thành bộ môn bắt buộc trong tất
cả các trường học và được đưa vào dạy từ lớp một trở lên Năm 1960, Bộ giáo dục đã chọn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23hàng trăm nhà sư làm giáo viên trong các trường học của nhà nước Như vậy ngay từ nhỏ cho đến khi vào đời, mỗi người dân Thái Lan đã được giáo dục về tinh thần, nghĩa vụ đối với nhà vua, với đạo Phật, hiến pháp, chính phủ, gia đình, trường học, xã hội Học sinh phải học đạo đức học và luân lý của đạo Phật Ít nhất một lần trong một tháng học sinh được nghe nhà sư trong vùng đến giảng về đạo đức Ở trường học, sau khi chào cờ và trước khi bước vào lớp, học sinh đều phải đọc một đoạn thơ bằng tiếng Pa-li về Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo)
Nhiều phương tiện đã được dành cho những hoạt động tuyên truyền về Phật giáo như: xuất bản các sách Phật học bằng tiếng Thái Lan; họa báo, sách ảnh và sách tôn giáo cho trẻ em; sách giáo khoa Phật giáo cho các trường thuộc các cấp; tổ chức trại hè cho học sinh đến các chùa chiền; vô tuyến truyền hình và đài phát thanh cũng có những chương trình đặc biệt cho học sinh về Phật giáo Từ năm 1949, “Hội Thanh niên Phật giáo” đã được thành lập Hội này hoạt động rất tích cực trong thanh niên Thái Lan và có chi nhánh tại các tỉnh, có liên lạc chặt chẽ với “Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc” (UNESCO) và được sự ủng hộ tài chính của tổ chức này
Hệ thống giáo dục xã hội mà Phật giáo có tham gia vào đã trở thành chỗ dựa của chính phủ Không chỉ riêng thanh thiếu niên ở trường học mà ngay cả tầng lớp viên chức nhà nước cũng được tuyên truyền đạo đức Phật giáo Ở Thái Lan, mỗi công chức trong vòng 120 ngày làm việc thì được nghỉ một ngày đi chùa Đó là quyền lợi và nghĩa vụ mà nhà nước đã giao cho họ Nhà nước đã thành lập một ban đặc biệt để theo dõi việc thực hiện ngày phép
đó của các công chức
Tóm lại, cho đến tận ngày nay, Phật giáo tuy có phần không trực tiếp phát huy vai trò của mình như những thế kỷ trước nhưng Phật giáo vẫn còn trụ vững trong lòng nhân dân Thái Lan Phật giáo đã tạo cho Thái Lan một quần chúng biết thống nhất hòa hợp, coi trọng tính tập thể, tính xã hội, biết tùy nghi thích ứng với những điều kiện kinh tế xã hội mới, biết xây dựng con người theo quy tắc hướng thiện để đạt được mục đích là cuộc sống tốt đẹp không phải chỉ cho những cá nhân mà cho toàn xã hội Điều này đã trở thành tập quán lâu đời của người Thái Lan mà tập quán này rất chú trọng đến con người, tới cuộc sống lao động sản xuất và chính đây cũng là một trong những truyền thống tạo nên cơ sở ban đầu cho sự phát triển về sau này của Thái Lan Thật vậy, nếu chúng ta tìm hiểu một số phong tục và có dịp đến Thái Lan tham gia những lễ hội của người Thái Lan thì sẽ thấy rõ được điều đó
2.1.3/ Hồi giáo – tôn giáo thiểu số ở Thái Lan:
Mặc dù gọi là thiểu số nhưng ở Thái Lan cộng đồng Hồi giáo cũng khá lớn, với số tín
đồ chiếm khoảng 4% dân số cả nước bao gồm người Mã Lai Hồi giáo và người Hồi giáo thuộc các dân tộc khác Trong đó người Mã Lai Hồi giáo chiếm đa số, khoảng 70-80% tổng
số tín đồ của cả nước Họ sống tập trung ở bốn tỉnh miền Nam Thái Lan như: Pattani,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24Narathiwat, Yala và Satun (hay Shong Khla) Trong các tỉnh này người Mã Lai chiếm đa số, chẳng hạn như ở tỉnh Pattani, người Mã Lai Hồi giáo chiếm tới 80% dân số của tỉnh Đặc điểm này là kết quả của quá trình lịch sử hình thành quốc gia cổ đại Thái, trong đó Thái Lan
đã thành công trong việc xâm lấn và làm bá chủ khu vực văn hóa của người Mã Lai Các tiểu bang triều cống Mã Lai đã dần dần biến thành các tỉnh lệ thuộc hoặc sáp nhập vào vương quốc Thái Lan Vì vậy quá trình Hồi giáo hóa khu vực này gắn liền với quá trình Hồi giáo hóa của Malaysia và Inđonesia đã được bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước Dù đã trở thành công dân Thái nhưng các tín đồ Hồi giáo người Mã Lai vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa Mã Lai và gắn bó chặt chẽ với thế giới Mã Lai về nhiều phương diện, đặc biệt là ngôn ngữ, văn hóa và kinh tế-xã hội
Ngoài số người Hồi giáo Mã Lai, ở Thái Lan còn có các tín đồ Hồi giáo người Ấn
Độ, Pakistan, Iran, Indonesia, Trung Quốc,….và những người Mã Lai cùng con cháu của họ sống ở các khu vực ngoài bốn tỉnh phía Nam Thái Lan, nơi có các tín đồ Phật giáo Thái chiếm đa số Họ sống ở các tỉnh như: Phathalung, Trang Krabi, Nakhon Sithamarat, Phuket,
Chiengmai, Bangkok…Điều đáng lưu ý là những người Hồi giáo phi Mã Lai này chính thức
được xem là người Thái Hồi giáo, bởi vì họ nói tiếng Thái, hòa nhập vào khung cảnh văn hóa Thái, nói cách khác, họ đã được “Thái hóa” sâu sắc
Các tín đồ Hồi giáo ở Thái Lan phần lớn theo giáo phái Sunni Tuy nhiên có người Pakistan theo giáo phái Shi’i Song, dù thuộc giáo phái Sunni hay giáo phái Shi’i, người ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng các tín đồ Hồi giáo ở Thái Lan thực hành một thứ Hồi giáo hỗn hợp hay còn gọi là Hồi giáo dân gian (do Hồi giáo bị ảnh hưởng bởi các tín ngưỡng địa phương) Hồi giáo ở Thái Lan có hai dạng riêng biệt, tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa xã hội của địa phương Ở các tỉnh Nam Thái, Hồi giáo cũng tồn tại song song với với chủ nghĩa siêu nhiên của bản địa Ở các làng xã người ta thấy các nghi lễ Hồi giáo truyền thống kết hợp hài hòa với các nghi lễ thần linh của người Mã Lai Ở những vùng nông thôn, người Hồi giáo chỉ còn là thiểu số thì Hồi giáo tồn tại song song với việc thờ phi (ma) hay tín ngưỡng vật linh Hồi giáo tiếp thu và hòa nhập một số yếu tố dân gian Chính điều này đã khiến cho Hồi giáo ở Thái Lan có những nét đặc trưng khác với các nước Hồi giáo ở Trung Đông, Bắc Phi…
Về phương diện tổ chức, những người Hồi giáo ở Thái Lan thường quy tụ theo cộng đồng tộc người Ở Thái Lan có chừng 150 tổ chức Hồi giáo khác nhau Cộng đồng Hồi giáo của người Mã Lai ở Thái Lan có người tham gia lãnh đạo chính quyền hội đồng Hồi giáo trực thuộc hội đồng của tỉnh Các nhà lãnh đạo của các hội đồng Hồi giáo tỉnh tham gia hội đồng tối cao của cộng đồng Hồi giáo Trung ương Thái Lan Người đứng đầu của cộng đồng Trung ương mang tước hiệu Sheih ul-Islam và được chính nhà vua bổ nhiệm Sheih ul-Islam đồng thời cũng trở thành cố vấn của Thái Lan về các vấn đề Hồi giáo và người Hồi giáo ở
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25Thái Lan Hồi giáo ở Thái Lan cũng như các cộng đồng Hồi giáo khác ở Đông Nam Á, Sheih ul-Islam có uy tín rất lớn đối với những tín đồ Hồi giáo trong cộng đồng của mình
Thiếu nữ Hồi giáo tại Thái Lan trong Lễ hội hoa quả chào đón tháng Ramadan năm 2006
Nguồn: Theo ảnh của AFP,www.vtc.vn/hhhv/quocte/tintuc/6831/index.htm
Phong trào cách tân Hồi giáo là động lực chủ yếu làm thay đổi hình thái Hồi giáo ở Thái Lan Phong trào này tập trung ở Băng Cốc Người đầu tiên truyền bá tư tưởng cách tân Hồi giáo ở Thái Lan là Ahmad Wahas, người Inđonesia bị chính phủ Hà Lan trục xuất sang Thái Lan vì tham gia các hoạt động chống chính quyền thực dân Ông đến tị nạn ở Băng Cốc vào năm 1926 Năm 1930, ông thành lập một tổ chức cách tân Hồi giáo đầu tiên ở Thái Lan lấy tên là “Ansorisunnah” Phong trào này đã lan nhanh trong số học sinh, sinh viên và phát triển mạnh mẽ vào những năm 1940-1950
Những người theo chủ nghĩa cách tân Hồi giáo cho rằng, mấu chốt của vấn đề Hồi giáo hiện nay là Hồi giáo đã bị suy đồi và cần phải chấn chỉnh lại Sự thật là thế giới Hồi giáo đã lâm vào tình trạng lạc hậu và nghèo nàn so với các nước ở châu Âu Ở Thái Lan, điểm dễ nhận biết nhất về sự suy thoái và lạc hậu của Hồi giáo chính là Hồi giáo dân gian tồn tại ở các cộng đồng Hồi giáo nông thôn dẫn đến việc thực hành giáo lý, nghi lễ không đúng với Hồi giáo chính thống ở Trung Đông Nguyên nhân dẫn đến phong trào cách tân Hồi giáo là: thứ nhất, Thái Lan cách xa trung tâm Hồi giáo Trung Đông Điểm thứ hai, các nhà Hồi giáo cách tân quan tâm là sự giải thích kinh Koran không đúng với Hồi giáo chính
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26thống Điểm thứ ba, là các nhà cách tân băn khoăn mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học
Họ cho rằng những điểm cơ bản của kinh Koran không hề mâu thuẫn với nền khoa học hiện đại và những biện pháp chữa bệnh tiên tiến Ngoài ra, họ còn quan tâm đến các lễ nghi ma chay, cưới xin đã tiếp thu nhiều yếu tố của nghi lễ truyền thống, thậm chí những yếu tố của Phật giáo và Ấn giáo Những người luôn bảo vệ tập tục truyền thống bị những người cách tân xem là lạc hậu nên thường xảy ra những cuộc đấu tranh tư tưởng lúc thăng lúc trầm
2.2/ Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của miền Nam Thái Lan
2.2.1/ Điều kiện tự nhiên:
(Nguồn: www.tvtl.bachkim.vn) (Nguồn: www.vi.wikipedia.org)
Về địa lý miền Nam Thái Lan là một bộ phận lãnh thổ của đất nước Thái, nối với miền Trung bởi eo đất Kra hẹp Miền Nam Thái Lan tọa lạc ở bán đảo Malay, với diện tích khoảng 70.713 km², bao bọc phía Bắc bởi Eo đất Kra là phần hẹp nhất của bán đảo Phần phía Tây là bờ biển dốc hơn, trong khi phía Đông là đồng bằng châu thổ chiếm ưu thế Sông lớn nhất của phía Nam là Tapi, cùng với Phum Duang có lưu vực hơn 8.000 km², hơn 10% diện tích của Nam Thái Lan Các sông nhỏ hơn bao gồm Pattani, Sông Saiburi, Krabi và Trang Hồ lớn nhât của phía Nam là Hồ Songkhla (1.040 km²), hồ nhân tạo lớn nhất là Chiao Lan (đập Ratchaprapha) với 165 km² trong Vườn quốc gia Khao Sok
Địa hình miền Nam chủ yếu là đồng bằng và bờ biển, các đảo ven bờ với cảnh quan đẹp, khí hậu mang tính nhiệt đới hải dương rất thích hợp cho việc phát triển du lịch tự nhiên Bên cạnh đó đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp nhiệt
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27đới, đồng thời nơi đây cũng có một số loại khoáng sản với trữ lượng lớn như thiếc, dầu khí… thuận lợi cho phát triển công nghiệp khai khoáng Rừng cũng là một tài nguyên thế mạnh của miền nam, với nhiều loài sinh vật đa dạng được quy hoạch trong các khu bảo tồn
và vườn quốc gia
2.2.2/ Điều kiện kinh tế - xã hội:
Về phân chia đơn vị hành chính thì miền Nam gồm có 14 tỉnh (trên tổng số 76 tỉnh trong cả nước) với dân số khoảng 8,6 triệu người (2005), mật độ dân số miền Nam khoảng
122 người/km2 Về xã hội, đây là nơi sinh sống của người Thái theo đạo Phật và phần lớn người Mã Lai theo Hồi giáo (ở 3 tỉnh cực Nam giáp Malaixia), do mâu thuẫn về tôn giáo, sắc tộc và nhiều nguyên nhân khác nữa mà từ 1/2004 trở lại đây khu vực này trở thành một điểm nóng về xung đột bạo lực đẫm máu Về kinh tế, đây vẫn còn là vùng có nền kinh tế ít phát triển nhất trong cả nước, với nền nông nghiệp vẫn còn lạc hậu, chủ yếu phát triển dựa vào nguồn tài nguyên du lịch về tự nhiên nhưng hiện nay do tình trạng bất ổn mà ngành
“công nghiệp không khói” ở đây đang lâm vào tình trạng khốn đốn
14 tỉnh thuộc miền Nam Thái Lan và 3 tỉnh xảy
ra bạo loạn nghiêm trọng (Nguồn: www.vi.wikippedia.org)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 282.3/ Lịch sử chia cắt lãnh thổ, quá trình đấu tranh đòi độc lập và nguyên nhân dẫn đến tình trạng xung đột bạo lực
2.3.1/ Lịch sử chia cắt lãnh thổ và quá trình đấu tranh đòi độc lập
2.3.1.1/ Thời kì thuộc địa:
Patani là một bộ phận không thể tranh cãi của đất nước Mã Lai (tanah Melayu) Địa bàn trung tâm của khu vực Patani truyền thống bao gồm 3 tỉnh hiện thời là Patani, Yala, Narathiwat Mặc dù dân số Mã Lai theo đạo Hồi ở Patani – ước lượng từ 70 vạn đến trên một triệu người – chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ dân số của Thái Lan nhưng nó lại là một phần đa số đáng kể trong dân số của 3 tỉnh nói trên
Ba trụ cột chủ yếu của bản sắc Patani – Mã Lai là vương quốc Patani trước đây (negri Patani Darrussalam), sắc tộc Mã Lai và đạo Hồi Ba thành phần đó đan xen chặt chẽ với nhau trong Hikayat Patani, lịch sử truyền khẩu về cội nguồn và thành tích của vương quốc Patani – một chuyện lịch sử được hình thành theo lối tích lũy dần vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII Phần đầu của Hikayat Patani diễn tả bằng lời lẽ hoang đường quá trình người Mã Lai định cư tại vùng ven biển thuộc tỉnh Patani hiện thời và sau đó thành lập thị trấn Patani và vương quốc; những sự kiện cuối cùng này có lẽ đã xảy ra vào thế kỷ XIV Phần thứ hai giải thích việc vương quốc trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trong khu vực đã nhập đạo Hồi như thế nào tuy không đề cao lắm lòng sùng đạo của đức Vua (Raja) Chuyện lịch sử đặc biệt tập trung vào thời kỳ vĩ đại nhất của Patani thuộc thế kỷ XVII và do đó đã góp phần vào ý thức bao trùm là nhớ nhung da diết một thời quá khứ vàng son Một nguồn tự hào và nhớ nhung da diết khác là về địa vị truyền thống của Patani trong thế giới Mã Lai với tư cách là một trung tâm nghiên cứu đạo Hồi xứng đáng sánh vai với Tiểu vương quốc Aceh
Những ghi chép về vinh quang đã qua chỉ làm cho người Mã Lai ở Patani nhớ đến sự
sa sút tương đối và địa vị ngoài lề của họ trong thời kỳ lịch sử hiện đại Xuyên suốt thế kỷ XVII và XVIII, Patani phải đối mặt với các mối đe dọa không ngừng đối với nền độc lập của mình từ các vương quốc của người Thái theo đạo Phật ở phía Bắc Tuy vậy, phải đến tận thế
kỷ XVII thì triều đại Chakkri vừa hình thành mới áp đặt được sự kiểm soát thường xuyên đối với Patani Từ đó trở đi, lịch sử quan hệ giữa Patani với nhà nước Xiêm là lịch sử kháng
cự thường kỳ và mạnh mẽ của một bên và quá trình siết chặt sự kiểm soát của chính quyền trung ương của phía bên kia
Trong những giai đoạn thống trị đầu tiên, triều đại Chakkri chính thức sáp nhập Patani vào Vương quốc Xiêm nhưng thi hành một loạt chế độ bảo hộ đối với quốc gia Patani nguyên vẹn Đến đầu thế kỷ XIX, sự kiểm soát của trung ương được tăng cường khi Patani
bị phân chia thành 7 tiểu vương quốc, mỗi tiểu vương quốc do một raja người Mã Lai được
chỉ định đứng ra cai quản dưới quyền chỉ đạo chung của một viên quan người Xiêm Người
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29Xiêm cũng bắt đầu một tiến trình tương tự ở tiểu vương quốc Kedah: Satun là vùng cực Bắc thuộc quyền của Kedah nhưng sau đó - giống như Patani – được xếp vào đất Xiêm trên biên giới Mã Lai – Xiêm
Yếu tố chính quyết định sự thay đổi trong chính sách của Xiêm đối với Patani là thực dân Anh bành trướng liên tục trên toàn bộ bán đảo Mã Lai vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế
kỷ XIX Trong suốt thế kỷ XIX, người ta ngày càng thấy rõ một trong những yếu tố then chốt của sự bành trướng quyền lực thực dân phương Tây ở Đông Nam Á là các cơ cấu chính trị truyền thống đã không phân định rõ ràng các biên giới quyền lực giữa các quốc gia Sức mạnh của các quốc gia Đông Nam Á truyền thống giảm dần khi xa dần trung tâm; sự kiểm soát yếu ớt của nhà nước đối với các cộng đồng sống ở ngoại vi đã tạo ra rất nhiều sơ hở dễ
bị khai thác và dễ bị hiểu lầm trong quan hệ với các nước phương Tây Ví dụ, trong quan hệ của Việt Nam với Pháp, triều đình Việt Nam đã không thể kiểm soát được các hành động độc lập chống Pháp của các cư dân sống ở vùng ngoại vi; và ở Aceh, tiểu vương quốc này không thể ngăn cản được Hà Lan thiết lập quan hệ trực tiếp với các vùng vẫn nằm dưới sự kiểm soát truyền thống nhưng yếu ớt của Aceh Trong cả hai trường hợp đó và nhiều trường hợp khác, việc không vạch rõ được phạm vi quyền lực của trung ương và thực thi quyền lực
đó một cách kiên quyết đã kích thích sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân
Một trong những yếu tố then chốt của việc Xiêm duy trì được nền độc lập của mình qua suốt thời kỳ thực dân là triều đại Chakkri hiểu được nguy cơ ấy Từ năm 1890 trở đi, một cơ cấu hành chính thống nhất, tập trung đã được áp dụng ở Xiêm Theo đó, các đầu lĩnh trong tiểu vương quốc Patani được đưa vào bộ máy viên chức có lương bậc và thực sự trở thành viên chức xiêm Vì vậy, không giống như bộ máy hành chính của Anh với hệ thống bảo hộ ở các bang Mã Lai ở phía Nam, chính sách của chính phủ Xiêm là tập trung hóa Điều đó không những bao gồm việc lập ra một hệ thống hành chính trực tiếp, mà năm 1902,
họ còn đưa việc thực thi luật Hồi giáo vào hệ thống pháp luật của Xiêm và giảm bớt diện các vấn đề mà các thẩm phán Hồi giáo có thể xét xử
Tuy vậy, Xiêm đã không thể bảo vệ được địa vị của mình tại các bang Mã Lai triều cống xa xôi, và năm 1909, chính quyền Xiêm buộc phải cắt các vùng Kelantan, Trengganu, Kedah và Perlis có người Mã Lai sinh sống cho Anh thông qua một vụ điều chỉnh biên giới Nhưng Patani và vùng Tây Nam Mã Lai là Satun vẫn thuộc về Xiêm Việc phân chia này là
một ví dụ điển hình về một sự sắp xếp thuộc địa tạm thời mà đã được củng cố thành một
biên giới quốc tế vĩnh cửu Không nghi ngờ gì nữa, việc Anh tiếp quản 4 bang Mã Lai đã khơi dậy những tham vọng phục hồi lãnh thổ tại vùng Patani – đặc biệt do những mối quan
hệ chặt chẽ vốn có giữa hoàng tộc Patani và hoàng tộc Kelantan – và thời kỳ từ năm 1909 đến cuộc cách mạng Xiêm năm 1932 đã chứng kiến một loạt cuộc nổi dậy ở vùng Patani Do nghi ngờ các mối quan hệ giữa hai hoàng tộc Kelantan và Patani nên Xiêm tích cực thi hành
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30chính sách tập trung hơn nữa, đặc biệt về thuế, giáo dục và bắt buộc dùng tiếng Xiêm, và chính việc đó đã gây ra phản ứng mạnh như cuộc nổi dậy ở Patani tháng 2 và 3/1923
Do đó, ngay trước cuộc cách mạng năm 1932 ở Xiêm, nguyện vọng phục hồi lãnh thổ của người Mã Lai đã được trình bày một cách rõ ràng Tuy nhiên, cuộc cách mạng năm 1932
đã có ảnh hưởng cơ bản đối với Patani Dù không được thực hiện một cách hoàn hảo, những
sự kiện năm 1932 là một cuộc cách mạng dân chủ; một phần đó là đỉnh cao của cuộc cách mạng về giác ngộ dân tộc, tương đương với giai đoạn dân tộc chủ nghĩa trong các nước thuộc địa ở Đông Nam Á Trong chừng mực cuộc cách mạng đó đã đưa đến một thời đại mới về cơ hội dân chủ sau năm 1932, người Mã Lai ở Patani đã có thể có đại diện trong Quốc Hội và trong Thượng viện Nhưng cũng giống như ở Pháp sau cuộc cách mạng 1789 -
ở Xiêm, quan niệm mới về chủ quyền nhân dân đã đưa đến việc định nghĩa lại mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân Dưới chế độ quân chủ chuyên chế, nhà nước chỉ đơn thuần đòi hỏi các thần dân nghe lời Trong quốc gia Thái mới, xuất hiện trong những năm 1930, không còn mối quan hệ giữa nhà nước và thần dân nữa, mà là quan hệ giữa quốc gia và công dân Bình thường thì định nghĩa then chốt quyền công dân là quyền – mà nhiều khi là nghĩa vụ - được tham gia một cách dân chủ; trong bối cảnh của Xiêm trong những năm 1930, khi quân đội và bộ máy công chức đang lo tập trung quyền lực vào trong tay mình thì quyền công dân chủ yếu được hiểu là hội nhập quốc gia Kết quả của cuộc cách mạng quốc gia này là nhấn mạnh vào bản sắc chủng tộc Thái mà giờ đây Phật giáo và vương triều là những biểu tượng trung tâm; là đẩy nhanh tiến trình đồng hóa các nhóm sắc tộc ở ngoại vi và làm cho nhà nước ngày càng tập trung hơn
Người Mã Lai ở Patani đã sớm chịu tác động của lòng nhiệt tình dân tộc chủ nghĩa mới đó Hiến pháp mới nhấn mạnh sự thống nhất tuyệt đối và tính không thể chia cắt được của quốc gia Tại cấp địa phương Patani, điều đó có nghĩa là cơ cấu quyền lực địa phương trước đây, trong đó những người Mã Lai được chỉ định đã được sáp nhập vào hệ thống cấp bậc phức tạp của bộ máy viên chức, được thay thế bằng một hệ thống đơn giản và tập trung hơn Vùng Patani cũ đã được chia thành 3 đơn vị cấp tỉnh: Patani, Narathiwat và Yala - cùng với Satun (Shongkhla) trên bờ biển phía Tây được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Bộ Nội Vụ, và các quan chức người Thái được cử từ Băng Cốc đến để cai quản các tỉnh mới đó Sau đó, quá trình đồng hóa dân tộc đã được tăng cường Cho đến năm 1932, vương triều Xiêm đã tăng cường một cách liên tục và vững chắc quyền kiểm soát của mình đối với những người Mã Lai ở Patani về các mặt hành chính, giáo dục và ngôn ngữ Trong bối cảnh
áp đặt tư tưởng dân tộc chủ nghĩa mới, quá trình đó được đẩy nhanh hơn nhiều
Đỉnh cao của cuộc cách mạng dân tộc chủ nghĩa xảy ra sau năm 1938, khi Nguyên soái Phibun và quân đội đã củng cố được quyền lực của họ Dưới sự bảo trợ của chế độ quân
sự độc tài, một cương lĩnh chính trị mới được đẩy mạnh và có nhiều đặc điểm tư tưởng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ@Tài liệu học tập và nghiên cứu