1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM địa vấn đề CHỦ QUYỀN của VIỆT NAM đối với QUẦN đảo HOÀNG SA và TRƯỜNG SA

100 210 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 17,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vào năm 2007, Việt Nam và hãng BP của Anh đang chuẩn bị thực hiện dự án trị giá hai tỷ đôla lắp đặt đường ống dẫn khí đốt thiên nhiên từ hai mỏ khí ở khu vực quần đảo Trường Sa thuộc vùn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

CHÂU HOÀNG TRUNG

Cần Thơ, 05/05/2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khi tôi bước chân vào trường Đại học Cần Thơ, Bộ môn Địa Lí lòng tôi tràn đầy tự hào và hãnh diện Khi đó tôi muốn nói với Cha, Mẹ tôi rằng “con đã làm được và không phụ lòng của Cha, Mẹ đã dành cho con” và tôi muốn cho mọi người biết rằng “tôi đã thành công” tôi đã không bỏ phí 12 năm học tập, 12 năm dài đăng đẳng với biết bao công lao mà Thầy, Cô tôi đã dạy đã đào tạo tôi và tôi đã thành công bước đầu tiên của c on đường học vấn

“Ơn Thầy sánh như Biển rộng Tình Cô sánh như Trời rộng bao la

Kính thầy trọng cô một dạ Cho tròn chữ lễ mới là đạo sư”

Tôi thật là hạnh phúc và may mắn hơn biết bao người khác, tôi được đến trường trong khi biết bao người không có điều kiện đến trường như tôi Hơn thế nữa, không có gì

có thể sánh được niềm vui khi biết mình thi đỗ N hưng ôi, với 4 năm trường day dẵng phía trước sao mà dài quá, với mấy mươi môn học và kĩ năng sao khó quá biết mình có thể vượt qua không đây Thế rồi, tít tắt 4 năm đã trôi qua, nay tôi sắp ra trường và hiện nay tôi còn có một vinh dự vô cùng tự hào nữa đó là tôi được là Luận Văn, mỗi mỗi người

hễ là sinh viên đều ao ước được làm Luận Văn để đủ điều kiện ra trường và cũng để thể hiện khả năng của chính mình

Với 4 năm học đã gần trôi qua, tôi vô cùng biết ơn quý Thầy , Cô của trường Đại học Cần Thơ, của Khoa Sư Phạm nói chung và Thầy, Cô của Bộ môn Đại Lí nói riêng Quý Thầy, quý Cô đã chỉ dẫn, dạy bảo, huấn luyện cho tôi những kĩ năng sư phạm, đã đào tạo tôi thành một người thầy giáo tương lai, tôi vô cùng biết ơn đến quý thầy cô Quý Thầy

Cô là Cha Mẹ thứ hai của tôi, vì Thầy Cô đã cho tôi sự nghiệp để có thể tồn tại trên đời này

Cha mẹ cho tôi sự sống Thầy, Cô cho tôi sự nghiệp

Nay tôi được làm Luận Văn, được làm đề tài mà tôi hằng mong ước và nó đã nung

nấu trong lòng tôi bao năm qua Để làm điều đó tôi vô cùng cảm ơn thầy tôi, thầy Châu

Hoàng Trung đã ân cần chỉ dẫn và động viên tôi, chỉnh sửa đề tài cho tôi…để bài nghiên

cứu của tôi mới được hoàn thiện như ngày hôm nay Một lần nữa xin chân thành cám ơn thầy

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

NGUYỄN VĂN NHIỀU

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG

DANH SÁCH GIẢI THÍCH CÁC TÙ VIẾT TẮT, THUẬT NGỮ

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

5 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

6 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 2

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

PHẦN NỘI DUNG 4

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA 4

1.1 Vùng biển – đảo nước ta 4

1.1.1 Tiềm năng và tầm quan trọng của biển 4

1.1.2 Đảo và quần đảo nước ta và tầm quan trọng của nó 5

1.1.3 Vịnh Bắc Bộ 5

1.1.4 Vịnh Thái Lan 6

1.2 Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 6

1.2.1 Quần đảo Hoàng Sa 6

1.2.1.1 Nhóm Lưỡi Liềm 7

1.2.1.2 Nhóm An V ĩnh 8

1.2.2 Quần đảo Trường Sa 8

1.2.2.1 Cụm Song Tử 8

1.2.2.2 Cụm dảo Thị Tứ 9

1.2.2.3 Cụm đá Loai Ta 9

1.2.2.4 Cụm đảo Nam Yết hay Ti Gia 9

1.2.2.5 Cụm đảo Sinh Tồn 9

1.2.2.6 Cụm đảo Trường Sa 9

1.2.2.7 Cụm đảo An Bang 10

1.2.2.8 Cụm đảo Bình Nguyên 10

Chương 2: CÁC MINH CHỨNG CHỦ QUYỀN Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA 11

2.1 Chứng cứ lịch sử 11

2.1.1 Tranh chấp chủ quyền 11

2.1.2 Niên biểu thế kỷ XX 14

2.1.3 Chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các thời kì 16

2.1.3.1 Từ thời Nguyễn đến thời thuộc Pháp 21

2.1.3.2 Từ thời thuộc Pháp đến Việt Nam cộng hòa 22

Trang 4

2.1.3.3 Từ thời X ã Hội Chủ Nghĩa đến nay 24

2.1.4 Một số tư liệu nước ngoài, Điều ước quốc tế liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam 27

2.1.4.1 Những bằng chứng thuyết phục của Việt Nam từ ngoài nước 27

2.1.4.2 Những tư liệu phương Tây xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 28

2.1.4.3 Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng cho chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 28

2.2 Cơ sở pháp lí 32

2.2.1 Việc nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa 32

2.2.2 Việc bảo vệ và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến Việt Nam cộng hòa 34

2.2.3 Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943 37

2.2.4 Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 37

2.2.5 Hội nghị San Francisco từ ngày 4 đến 8-9-1951 37

Chương 3: QUAN ĐIỂM, LẬP TRƯỜNG VÀ ỨNG XỬ CỦA ĐẢNG & NHÀ

NƯỚC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HAI QUẦN ĐẢO 40

3.1 Tranh chấp chủ quyền 40

3.1.1 Việt Nam phản đối Trung Quốc, Đài Loan xâm phạm chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 40

3.1.1.1 Phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 40

3.1.1.2 Phản đối Đài Loan xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 41

3.2 Quan điểm và lập trường của Việt Nam 42

3.2.1 Quan điểm của Việt Nam trước vấn đề bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa 42

3.2.1.1 Việt Nam chủ trương giải quyết hoà bình mọi tranh chấp 42

3.2.1.2 Trường Sa và Hoàng Sa trong lòng chúng ta 43

3.2.2 Lập trường của Việt Nam trước vấn đề bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa 44

3.2.2.1 Việt Nam đầu tư 13 tỷ đồng tôn tạo khu di tích Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa 44 3.2.2.2 Vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa: Hoan nghênh bản đồ trực tuyến! 44

3.3 Ứng xử của Việt Nam trước vấn đề bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa 49

3.3.1 Manila và Hà Nội cam kết hòa bình về Trường Sa 49

3.3.2 Việt Nam đề xuất hợp tác cụ thể giữa quân đội các nước ASEAN 50

3.3.3 Mỹ, Việt xây dựng mối quan hệ là nhằm vào Trung Quốc 51

PHẦN KẾT LUẬN 54

1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 54

2 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 54

3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Trang

1 Hình 2.1: Địa đồ trong cuốn“Quảng Đông toàn đồ” ở tờ 2, quyển 350 30

2 Hình 2.2: Địa đồ trong cuốn “Quảng Đông toàn tỉnh tổng đồ” ở trang 3, quyển 3 31

3 Hình 2.3: Địa đồ trong cuốn “Quỳnh Châu phủ toàn đồ” ở trang 22, quyển 3 31

4 Hình 3.1: An Nam Đại Quốc họa đồ 46

Trang 6

DANH SÁCH GIẢI THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT, THUẬT NGỮ

1 Từ “B” là: Bắc – Bắc bán cầu

2 Từ “Đ” là: Đông – phía Đông

3 Từ “km/km2” là kilomet/kilomet vuông - đơn vị đo khoảng cách

4 Từ “m” là: Mét – đơn vị đo khoảng cách

5 Từ “mm” là: milimet – đơn vị đo khoảng cách

6 Các kí tự ‘I, II, III, IV… XV, XVI, XVII, XVIII, XIX, XX…: là số La Mã

7 Từ “TB” là: trung bình

8 Kí hiệu “0C” là: đơn vi đo nhiệt độ

9 Kí hiệu “%” là: phần trăm

10.Từ “kg” là: kilogam – đơn vị đo khối lượng

11 Từ “UNCLOS” là: United Nations Convention on the Law Of the Sea - Công ước Quốc tế về luật biển

12 Từ “CNOOC” là: China National Offshore Oil Corporation -Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc

13 Từ “ASEAN” là: Association of Southeast Asia Nations - Hiệp hội các Quốc gia

Đông Nam Á

14 Từ “EEZ” là: exclusive economic zone - vùng đặc quyền kinh tế

15 Từ “BP” là: British Petroleum - là một toàn cầu dầu mỏ và khí đốt của công ty có trụ

sở tại London, Vương quốc Anh

16 Từ “BPS-500” là: tên của tàu chiến cơ động do Nga thiết kế

17 Từ “USD” là: đô la – đô la của Mỹ

18 Từ “HĐBT” là: Hội đồng Bộ trưởng

19 Từ “NĐ-CP” là: Nghị Định – Chính Phủ

20 Từ “Dặm” là: đơn vị đo chiều dài 1 dặm = 1.609 mét

21 Từ “Trượng”là: đơn vị đo chiều dài

1 Trượng = 231 xen-ti-mét vào đời Tần và đời Hán

= 242 xen-ti-mét vào đời Tam quốc và Tây Tấn = 245 xen-ti-mét vào đời Đông Tấn, Nam triều và Ngũ Hồ thập lục quốc = 296 xen-ti-mét vào đời Bắc triều, Tùy

22 Từ “Tất” là: đơn vị đo khoảng cách 1Tất = 10 xen-ti-mét

23 Từ “ Hải lý” là đơn vị độ dài được dùng trong hàng hải 1 hải lý = 1,852 kilomet

24 Từ “OMM” là: Osteopathic Manipulative Medicine - Tổ chức khí tượng thế giới

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đây là một vấn đề hết sức nóng bỏng và nhạy cảm mà đặc biệt là mổi người hễ là con dân đất Việt đều cần nên biết đến và tìm hiểu Bên cạnh biết và tìm hiểu mỗi người chúng ta còn cần nắm rỏ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với đất nước như câu nói của Bác đã nói “Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cù ng nhau giữ lấy nước”, vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu, nghiên cứu trên mọi lĩnh vực để tìm ra những bằng chứng khẳng định chủ quyền của Ta trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa Bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải theo dõi các thông tin đại chúng thườn g xuyên để nắm rỏ tình hình chính trị của quốc gia để chúng ta có thể có một tinh thần chuẩn bị và tuyên truyền cho người dân được nắm rỏ, tuy chính phủ và nhà nước luôn tìm mọi phương cách

để giải quyết bằng hòa bình

Vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vấn đề vô cùng phức tạp và căng thẳng giữa các quốc gia có liên quan Đây không còn là vấn đề giữa các quốc gia nữa mà nó đã trở thành vấn đề của khu vực và của cả thế giới Nó đã thu hút rất nhiều các nhà Bác học, khoa học trên toàn thế giới để phân tích, tìm hiểu, nghiên cứu… để có thể đưa ra được một cách giải quyết hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia

Là một sinh viên Sư Phạm Địa Lí và là con dân đất Việt, với một tâm hồn tràn đầy nhiệt quyết và tin thần yêu nước vô ngần thì không thể không biết đến vấn đề đang nóng bỏng và hết sức nhạy cảm của quốc gia như vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay Vì vậy, tôi không thể bỏ qua một cơ hội tìm hiểu vấn đề này trong khi có bạn bè và thầy cô luôn bên cạnh tôi giúp tôi thêm nhiều kiến thức cần thiết cho bài nghiên cứu của tôi Nghiên cứu vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ để biết, hiểu mà còn là cơ sở để tuyên truyền cho người dân được biết và là cơ

sở để tôi giảng dạy cho học sinh, cho thế hệ mai sau biết được chủ quyền của Ta trên hai quần đảo là hoàn toàn chính đáng và đúng với luật pháp quốc tế hiện hành, từ đó làm cho các hế hệ mai sau càng thêm yêu nước và tinh thần dân tộc càng cao

Đây là một vấn đề rất đáng cho mọi người nghiên cứu và tìm hiểu và có sức ảnh hưởng rất lớn, không chỉ có ảnh hưởng đến các nước trong khu vực Đông Nan Á mà còn ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia có nguồn lợi gắn với Biển Đông nói chung và Hoàng

Sa – Trường Sa nói riêng Vì thế mà đã thu hút rất nhiều nhà khoa học, chính trị học, khảo

cổ học, sử học…và rất nhiều nhà chính trị của rất nhiều quốc gia quan tâm

Hoàng Sa – Trường Sa không phải là vấn đề mới mẻ mà nó đã nảy sinh từ những năm 70 của thế kỷ 20 nhưng nó đã bùng phát và căng thẳng trong thời gian gần đây Thể hiện rỏ nhất là các động thái của Trung Quốc trong những năm qua Trước tình hình đó đòi hỏi Việt Nam phải hết sức thận trọng vì đây là vấn đề hết sức nhạy cảm

Việt Nam đã có đầy đủ bằng chứng khẳng định chủ quyền theo đúng luật quốc tế trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa mà Việt Nam vẫn chưa lấy lại được hai quần

đảo đó Đó cũng chính là lý do tôi chọn vấn đề “ Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối

với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” cho đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Đại

học của tôi

Trang 8

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tôi nghiên cứu đề tài “Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa” trước hết là nhằm bổ sung kiến thức về biển đảo cho chính mình và

cũng là hành trang cho tôi khi tôi trở thành một người thầy giáo, để tôi c ó thể truyền đạt cho học sinh những thông tin chính xác nhất Ngoài ra tôi nghiên cứu vấn đề này cũng là nhằm cho bạn đọc biết thêm về chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo là hoàn toàn chính sát theo đúng Luật mà thế giới đã đưa ra để bạn đọc cũng như n gười dân không còn hoan mang về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này nữa Bên cạnh đó còn tạo dựng lòng tin của mọi người trước sự cám dỗ của các bài báo, tin đồn…không rỏ nguồn gốc và những kẻ xúi giục trái pháp luật làm ảnh hưởng đến nhà nước, để người dân nâng cao tinh thần và cảnh giác hơn trước những thông tin sai lệch đó

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đi vào tìm hiểu lịch sử và các tài liệu có ghi nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tìm các bài báo, hội nghị khẳng định quan điểm và lập trường của Ta về hai quần đảo

Sưu tầm, tập hợp các sơ đồ, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam là đúng sự thật

6 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đề tài “Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa” là một đề tài vô cùng nhạy cảm và mang tính thời sự cao Do đó, để nghiên cứu vấn

đề này là hết sức khó khăn và phức tạp Tuy nhiên đây là vấn đề rất hay, rất độc đáo và thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là trong giai đoạn căng thẳng như hiện nay Đòi hỏi mổi quốc gia phải có tinh thần giải quyết trên cơ sở hòa bình, hữu nghị để không ảnh hưởng đến tinh thần hữu nghị giữa các nước láng giềng và trong khu vực Vì vậy, nên đưa vấn đề tranh chấp giải quyết theo luật pháp Quốc tế là phương cách hữu hiệu nhất

Trang 9

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu vấn đề này tôi đã kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho

đề tài hoàn thiện hơn như:

Sưu tầm các tài liệu cổ có liên quan đến lịch sử của hai quần đảo và tập hợp các tài liệu, báo chí, các hội nghị, hình ảnh nhằm khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo

Chọn lọc các tài liệu, sách, báo từ các nguồn đáng tin cậy và uy tính

Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các tài liệu với nhau và các tài liệu với nhận định của các nước

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

1.1 Vùng biển – đảo nước ta

Nước ta giáp với biển Đông ở hai phía Đông và Nam Vùng biển Việt Nam là một phần biển Đông

- Bờ biển dài 3.260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Như vậy cứ l00 km2 thì có l km

bờ biển (trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển) - Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km (gấp 3 diện tích đất liền: l triệu km2/330.000km2)

- Trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và 2.577 đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển

- Có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông Giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển

- Có khí hậu biển là vùng nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển, tồn tại tốt

- Có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, quý hiếm

* Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, có liên quan trực tiếp đến sự phồn vinh của đất nước, đến văn minh và hạnh phúc của nhân dân

1.1.1 Tiềm năng và tầm quan trọng của biển

+ Về kinh tế

- Hải sản: Ở vùng biển nước ta đến nay có khoảng 2.040 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có giá trị kinh tế cao khoảng 110 loài Trữ lượng cá ở vùng biể n nước ta khoảng 3 triệu tấn/năm

- Rong biển: Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có dinh dưỡng cao và là nguồn dược liệu phong phú

- Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti tan, đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền và các loại đất hiếm Muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m2

- Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn l triệu km2 trong đó có 500.000km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trrữ lượng dầu dưới đáy biển Đông Có thể khai thác từ 30-40 ngàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu Ngoài dầu Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m3/năm

- Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất nước, với 3.260km bờ biển có nhiều cảng, vịnh… rất thuận liện cho giao thông, đánh bắt, hải sản Nằm liên trục giao thông đường biển quốc tế từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, trong tương lai sẽ là tiềm năng cho ngành kinh tế dịch vụ trên biển (đóng tàu, sửa chữa tàu, tìm kiếm cứu trợ, thông tin dẫn dắt )

- Du lịch: Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vụng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, là tiềm năng

du lịch lớn của nước ta

Trang 11

+ Quốc phòng, an ninh:

Biển nước ta nằm trên đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, vì vậy có vị trí quân sự hết sức quan trọng Đứng trên vùng biển-đảo của nước ta có thể quan sát khống chế đường giao thông huyết mạch ở Đông Nam Á

Biển-đảo nước ta có tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với sự phát triển trường tồn của đất nước

1.1.2 Đảo và quần đảo nước ta và tầm quan trọng của nó

- Đảo và quần đảo:

Vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó:

+ Vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo

+ Bắc Trung Bộ trên 40 đảo

+ Còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

- Căn cứ vào vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, thường người ta chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:

+ Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ

+ Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội Đó là các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc

+ Các đảo ven bờ gần có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

+ Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa

- Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta

1.1.3 Vịnh Bắc Bộ

- Nằm ở Tây Bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam và Trung Quốc

- Diện tích khoảng 126.250km2, chiều ngang, nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220km Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ký tháng 12/2000 giữa Việt Nam

và Trung Quốc đã xác định biên giới lãnh hải của hai nước ở ngoài cửa sông Bắc Luân, cũng như giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và Trung Quốc ở trong Vịnh Bắc Bộ Về diện tích tổng thể theo mực nước trung bình thì ta được 53,23%, Trung Quốc được 46,77% diện tích Vịnh

- Là vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng l00m

Thềm lục địa Việt Nam khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu trên 70m gần đảo Hải Nam của Trung Quốc

Trang 12

-Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ, đảo Bạch Long Vĩ diện tích 2,5km2 cách đất liền Việt Nam 110km, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 130km Có nhiều nguồn lợi hải sản và tiềm năng dầu khí (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 44 vạn tấn)

1.1.4 Vịnh Thái Lan

- Nằm ở Tây Nam biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaixia

- Diện tích khoảng 293.000km2, chu vi khoảng 2.300km

- Là một vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng 80 mét

- Đảo Phú Quốc trong Vịnh là đảo lớn nhất của Việt Nam, diện tích 567km2

- Có nhiều nguồn lợi hải sản (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 51 vạn tấn)

Có tiềm năng dầu khí lớn: Việt Nam đã khai thác và hợp tác khai thác vùng chồng lấn với Malaixia

1.2 Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

1.2.1 Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa nằm trong một phạm vi rộng khoảng 15.000km2, giữa kinh tuyến 1110Đ đến 1130Đ, khoảng 95 hải lý, từ 17005’B xuống 15045’B, khoảng 90 hải lý Xung quanh là vùng biển có độ sâu hơn 1000m, xong giữa các đảo có độ sâu thường dưới 100m

Quần đảo Hoàng Sa nằm ngan bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần Quảng Ngãi

Về khoảng cách đất liền, quần đảo Hoàng - Sa nằm gần Việt Nam nhất

Khoảng cách từ đảo Tri Tôn (15°47'B, 111°12'Đ) tới Lý Sơn hay Cù lao

Ré (15°22'B, 109°09'Đ) là 2 độ 03 phút trên thước đo khoảng cách vĩ độ, tức chỉ có 123 hải lý

Nếu lại lấy toạ độ (Lý Sơn 15°22'B, 109°09'Đ) từ trong bản tuyên cáo đường cơ sở nội hải của chính quyền nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Declaration on Baseline of Territorial waters, 12 tháng 11 năm 1982) thì khoảng cách đến bờ Cù lao Ré thu ngắn lại dưới 121 hải-lý

Từ đảo Tri Tôn này đến Mũi Ba Làng An (Cap Batangan 15°14'B, 108°56'Đ) tức đất liền lục địa Việt Nam, khoảng cách đo được 135 hải lý

Trong khi đó, khoảng cách đảo gần nhất tới bờ đảo Hải Nam xa tới 140 hải lý (đảo Hoàng Sa 16°32B, 111°36 Đ và Ling Sui hay Leong Soi là 18°22 B, 110°03 Đ)

Khoảng cách từ Hoàng Sa tới đất liền lục địa Trung Hoa còn xa hơn rất nhiều, tối thiểu là

235 hải lý

Đoạn bờ biển từ Quảng Trị chạy dài xuống tới Quảng Ngãi đối mặt với các đảo Hoàng Sa luôn hứng gió Mùa Đông Nam hay Đông Bắc thổi về nên thường tiếp nhận các thuyền bị bảo làm hư hại ở vùng biển Hoàng Sa Các Vua, Chúa Việt Nam hay chu cấp phương tiện cho các thuyền bị nạn ấy về nước, nên họ thường tìm cách tạt vào bờ biển của Việt Nam để nhờ cứu giúp Chính vì thế Hoàng Sa từ rất sớm đã được người Việt biết đến, hết sức quan tâm, cùng xác lập và thực thi chủ quyền của mình

Trang 13

Trong khoảng 30 đảo, đá, bãi, cồn, hòn…hiện có 23 đã được đạt tên, gồm 15 đảo, 3

đá, 3 bãi, 1 cồn, 1 hòn Các đảo trên kh ông cao, cao nhất là đảo hòn đá, thấp nhất là đảo Tri Tôn Các đảo chính gồm 2 nhóm:

+Nhóm Lưỡi Liềm ở phía Tây Nam của quần đảo

+Nhóm An Vĩnh ở phía Đông Bắc của quần đảo

1.2.1.1 Nhóm Lưỡi Liềm

Nhóm Lưỡi Liềm còn gọi là nhóm Trăng khuyết hay Nguyệt Thiềm, theo Sơn Hồng Đức nếu nhìn từ máy bay xuống nhóm đảo này trông hình như chiếc bánh “croissant” châu đầu vào nhau Có 7 đảo chính và vô số mỏm đá:

- Đảo Hoàng Sa: Tuy là đảo chính nhưng không phải là đảo lớn nhất, có vị trí quân

sự quan trọng nhất cho việc phòng thủ bờ biển Việt Nam hơn cả đảo Phú Lâm

Đảo nằm trên tọa độ 160332’3’’B, 111035’7’’Đ, hình bầu dục, dài khoảng hơn 900m, rộng khoảng 700m, diện tích khoảng 0,3km2 gồm cả vòm san hô bao quanh

Trước ngày 19-01-1974, đảo này đã được Việt Nam xây dựng căn cứ quân sự, nhà cửa, đài khí tượng, hải đăng, miếu thờ Bà, cầu tàu, bia chủ quyền Cho đến ngày Trung Quốc xâm chiếm bia chủ quyền của Việt Nam vẫn còn

Về Đông Bắc đảo vẫn còn vài ngôi mộ binh lính thời nhà Nguyễn Phí Tây Nam đảo

có một am thờ gọi là Miếu Bà, có một pho tượng phật bà Quan Âm Đài khí tượng với danh xưng “Stationd’ Observation 838” chính thức hoaatj động từ năm 1938 thường với 5 nhân viên thuộc ty Khí tượng Hoàng Sa do chính quyền Nam Việt Nam quản lý Từ năm

1931 đến 1975 thường xuyên có một trung đội lính từ Quảng Nam canh giữ

- Đảo Hữu Nhật: đảo mang tên suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật được vua Minh

Mạng phái ra Hoàng Sa đo đạt thủy trình, vẽ bản đồ vào năm 1836

Phía Nam đảo Hoàng Sa khoảng 3 hải lý, hình bàu tròn, đườ ng kính 800m, chu vi 2000m, diện tích khoảng 0,32km2 có vòng đai san hô bao quanh ngoài xa, giữa là vùng bể lặng Nằm ở tọa độ 111034’4’’Đ, 16030’6’’B Xung quanh đảo cây cối um tùm, chính giữa là lòng chảo không sâu lắm Biển quanh đảo có nhiều rong biển, phủ kính cả mặt biển vì đảo này không có người ở

- Đảo Duy Mộng: ở phia Đông Nam đảo Hữu Nhật, phía Bắc đảo Quang Hòa, nằm

trên tọa độ 111044’Đ, 16028’B cũng do san hô cấu tạo thành, bãi san hô ra xa đảo, nhô lên khỏi mặt nước khoảng 4m Đảo hình bầu dục, diện tích khoảng 0,41km2, không có loại cây lớn, chỉ toàn loại cây nhỏ Giữa đảo là vùng đất trống, có thể định cư được Đảo có một con lạch nhỏ, có thể dùng ghe nhỏ vào xâu bên trong giữa đảo Tau có thể neo cách đảo khoảng 200m, có nhiều chim biển và vích sống trên đảo

- Đảo Quang Hòa: đảo nằm trên tọa độ 111042’Đ, 16026’B cũng do san hô tạo thành, là đảo lớn nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm Xung quanh đảo là bãi cát màu vàng Vòng san hô lan ra rất xa khỏi bìa đảo Cạnh đảo lớn còn có những đảo nhỏ, n ối liền nhau bằng bãi cát dài Một vài bản đồ địa chất ghi Quang Hòa thành hai đảo Quang Hòa Đông

và Quang Hòa Tây

Quang Hòa Đông có rừng cây nhàu, một loại cây dùng để làm thuốc thường thấy ở Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam Cây Phosphorite mọc ở phía Tây của Đảo, nhiều cây cao đến 5m Phần đảo phía Đông trơ trụi chỉ có dây leo sát mặt đất Chu vi của đảo khoảng 2700m, diện tích khoảng 0,48km2

Trang 14

Quang Hòa Tây là một đảo nhỏ, gần như hình tròn, chu vi khoảng 1000m, diện tích khoảng 0,09km2, cũng có những loại cây như đảo Quang Hòa Đông nhưng chỉ cao khoảng 3m

- Đảo Quang Ảnh: nằm ở tọa độ 111036’Đ, 16027’B do san hô tạo thành, nhô lên mặt nước độ 6m, nơi cao nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm Xung quanh đảo, bờ biển có nhiều đá ngầm sắc nhọn rất nguy hiểm tàu lớn không thể cặp neo được các tàu lớn phải neo ở ngoài khơi, muốn vào phải sử dụng thuyền nhỏ Vì địa thế hiểm trở và trên đảo không có nước ngọt nên ít vết chân người lui tới

Đảo mang tên Phạm Quang Ảnh, một đội trưởng Hoàng Sa được vua Gia Long sai

đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa năm 1815, hiện có hậu duệ và nhà thờ họ ở Cù Lao Ré Đảo hình bầu dục, hơi tròn, chu vi khoảng 2100m, diện tích khoảng 0,3km2 Có một

số cây lớn mọc ở giữa đảo cao đến 5m Ở phía ngoài của đảo có các cây Phosphorite và một loại cây khác giống cây mít nhưng không có trái

- Các đảo khác: Tất cả các đảo, bãi thuộc quần đảo Hoàng Sa ở dưới vĩ tuyến 17

(trừ Đá Bắc 111038’1’’Đ, 17005’B), tại bãi này có nhiều xác tàu bị đắm nhiều nhất Cụm

An Vĩnh còn có đảo Cây 112016’Đ, 16050’B Nhà cầm quyền thực dân Pháp đã xây dựng một đài quan trắc khí tượng, mang số hiệu 48859

1.2.2 Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa tính đảo gần nhất là 350 hải lý, tính đảo xa nhất là 500 hải lý Trường Sa cách Vũng Tàu 3 05 hải lý, cách Cam Ranh 250 hải

lý, cách đảo Phú Quốc 240 hải lý…

Quần đảo trải dài từ 602’B đến 11028’B và từ 1120Đ đến 1150Đ, trong vùng biển chiếm khoảng 160.000km2 – 180.000km2 Biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi lên khỏi mặt nước lại rất ít, tổng cộng khoảng 11km2 Về số lượng đảo khoảng 137 đảo, đá, bãi (không kể Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tứ Chính thuộc thềm lục địa Việt Nam)

Quần đảo Trường Sa được chia ra thành 8 cụm chính kể từ Bắc xuongs Nam:

1.2.2.1 Cụm Song Tử: gồm 2 đảo, 2 đá, 2 bãi

Đảo Song Tử Đông - 114021’Đ, 11027’B

Đảo Song Tử Tây - 114020’Đ, 11025’5’’B

Trang 15

Hai hòn đảo này như sinh đôi nằm ở cực Bắc của quần đảo Trường Sa, ngang vĩ độ với Phan Rang (Ninh Thuận) Chính vì có vị trí này mà đội Bắc Hải hoạt động ở vùng này

từ cuối thế kỉ XVII lấy xuất đinh từ tỉnh Bình Thuận Trên đảo có những cây cao trung bình, nhiều phân chim có thể chế biến thành phân bón Vòng quanh hai đảo này, về phía Đông và Nam khoảng 5 hải lý có nhiều mỏm đá ngầm Rong biển mọc rất nhiều ở đây Song Tử Đông hơi tròn, chiều dài khoảng 900m, rộng 250m, cao độ 3m, có nhiều bãi cát và san hô bao quanh, nhiều cây cối, có một số cây dừ Năm 1963, Việt Nam cộng Hòa có xây dựng bia chủ quyền Năm 1968, bị Philipin chiếm đóng

Song Tử Tây hìnhlưỡi liềm, diện tích nhỏ hơn Song Tử Đông, dài 700m, rộng 300m,

có nước ngọt, có một vườn dừa và nhiều cây nhỏ Có tháp ra đa thời Việt Nam Cộng Hòa Hiện Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đang chấn giữ cả hòn đảo

Cum Song Tử cón có Đá Bắc, Đá Nam, phía Đông cụ Song Tử còn có nhiều bãi cạn Đinh Ba ở phía Bắc và baic Núi Cầu ở phía Nam

1.2.2.2 Cụm dảo Thị Tứ: ở phía Nam cụm Song Tử, gồm đảo Thị Tứ và các bãi Đá

Đảo Thị Tứ nằ ở phía Đông Bắc của đảo Trường Sa với tọa độ: 114017’Đ –

11002’7’’B Do san hô tạo thành lẫn với các trắng và đá vôi Đảo hình bầu dục, dài 700m, rộng 550m, có giếng nước ngọt.Trên đảo có nhiều cây mù u, cây bàng, nhiều dây leo chằng chịt Xung quanh đảo có nhiều rong biển và các bãi đá ngầm Quanh đảo có nhiều

Cụm có dá An Lão, bãi Đường, bãi An Nhơn Bắc, bãi Loai Ta, bãi Loai Ta Nam Phía Đông đảo Loại Ta còn có đảo Dừa và đá Cá Nhám

1.2.2.4 Cụm đảo Nam Yết hay Ti Gia: Ở phía Nam cụm Loai Ta, nằm kết một vòng san

hô Tizard Bank, gồm đảo Nam Yết với tọa độ: 114021’7’’Đ – 10011’B và đảo Sơn Ca, đảo Ba Bình cùng bãi Bàn Than, đá Núi Thị, đá Én Đất, đá Lạc, đá Gaven, đá Lớn, đá Nhỏ, đá Đền Cây Cỏ…cụm này có đảo rộng nhất là đảo Ba Bình và cao nhất là đảo Nam Yết và có nhiều cây cao nhất

1.2.2.5 Cụm đảo Sinh Tồn: Ở phía Nam cụm Nam Yết-TiGia Gồm có đảo Sinh Tồn

(114019’2’’Đ - 9052’6’’B), đá Sinh Tồn, đá Nhạn Gia, đá Bình Khê, đá Ken Nan, đá Tư Nghĩa, đá Bình Sơn, đá Bãi Khung, đá Đức Hòa, đá Ba Đầu, đá An Bình, Đá Vị Khê, đá Bia, đá Ninh Hòa, đá Văn Nguyên, đá Phúc Sỹ, đá Lên Đao, đá Gạc Ma, đá Cô Lin, đá Nghĩa Hành, đá Tam Trung, đá Sơn Hà,…

1.2.2.6 Cụm đảo Trường Sa: Nằm ở phía Nam và Tây Nam cụm Sinh Tồn, trải dài theo

chiều ngang, gồm có 3 đảo, các đá, bãi: Đá Lát, đảo Trường Sa, bãi đá Tây, đá Đông, đá Châu Viên, đá Tốc Tan, đá Núi Le, đá Tiên Nữ

Cụm đảo Trường Sa nằm phía Đông, kế cận các bãi, đá thuộc thềm lục địa Việt Nam như Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính Đảo lớn nhất là đảo Trường Sa, người Pháp gọi là đảo Bão Tố Có dạng hình tam giác cân mà cạnh đáy hơi

Trang 16

chệch về phía Bắc, đáy dài 350m, mỗi cạnh 450m, cao độ ở phía Bắc là 3,5m, phía Nam

là 2,1m so với mặt nước lúc ròng Có khả năng thuyết lập phí đạo, sau 1975, Việt Nam đã xây dựng sân bay dài 800m

Đảo không có cây lớn, nhiều nhất là nam sâm có dược tính, các loại rau sam, muốn biển Có loại chim hải âu trắng, sơn ca, chim én Có giếng nước ngọt, khá sâu, khoảng 3m, song lại có mùi tanh của san hô

1.2.2.7 Cụm đảo An Bang: nằm phía Nam cụm đảo Trường Sa, có 1 đảo và các bãi, đá: đá

Ba Kè, bãi Đất, bãi Đinh, bãi Vũng Mây, bãi Thuyền Chài, đá Hà Tần, đá Tân Châu, đá Lục Giang, đá Long Hải, đá Trăng Khuyết, đá Công Đo, đá Kỳ Vân, bãi Kiệu Ngựa, đá Hoa Lau, đá Sắc Lốt, đa Louisa

Đảo duy nhất là đảo An Bang (112054’2’’Đ - 7052’2’’B), đảo An Bang giống như một cái túi đáy nằm ở phía Đông và miệng thắt lại ở phía Tây Đảo tương đối nhỏ và dài, chỉ rộng 20m so với chiều dài 200m, cao 2m so với mực nước biển lúc ròng Ngoài những

cỏ dại rất thấp, không có cây cao bóng mát nào

1.2.2.8 Cụm đảo Bình Nguyên: nằm ở phía Đông, gồm đảo Bình Nguyên (115049’5’’Đ -

10049’B) và đảo Vĩnh Viễn (115048’Đ - 10044’B) Phía Nam đảo Vĩnh Viễn có đá Hoa,

đá Đít Kim-Sơn, đá Đin, đá Hàn Sơn, đá Pét, cồn san hô Giắc-Xôn, về phía Nam xa hơn nữa có đá Vành Khăn, bãi Cỏ Mây, bãi Cạn Suối, đá Bốc Xan, bãi cạn Sa Bin Phía Đông cụm đảo Bình Nguyên và đảo Vĩnh Viễn có đá Hợp Kim, bãi Mỏ Vịt, đá Ba Cờ, đá Khúc Giác, đá Gò Già, bãi cạn Nam, đá Chà Và, bãi cạn Nâu, bãi cạn Rạch Vang, bãi cạn Rạ ch Lấp, bãi cạn Na Khoai,…

Tóm tắt chương 1

Qua tìm hiểu về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho ta thấy: đây là hai quần đảo hết sức quan trọng cả về tiềm năng kinh tế, khoáng sản, du lịch, Quốc phòng.vv vì thế, vấn đề bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo là hết sức quan trọng và cần thiết nhất là trong tình hình chính trị hiện nay Bởi đây là hai quần đảo chiến lượt về chính trị và nằm trong vùng biển chiến lượt về kinh tế nên vấn đề tranh chấp là khó tránh khỏi, vì vậy đòi hỏi các quốc gia trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng phải hết sức cẩn trọng trong việc ứng xử và hành động vì đây là vấn đề liên quan đến lãnh thổ, liên quan đến chính trị nên rất nhạy cảm Đòi hỏi các nước phải tuân thủ và giải quyết trên tinh thần hòa bình, hữu nghị và theo luật pháp Quốc tế nói chung và Luật Biển năm 1982 nói riêng để

có thể giữ được hòa bình trong khu vực, cùng nhau hợp tác và phát triển

Tuy nhiên Việt Nam có đầy đủ bằng chứng để khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và luôn luôn nâng cao tinh thần dân tộc để bảo vệ lảnh thổ Việt Nam cũng không ngừng tìm kiếm những bằng chứng thuyết phục hơn để khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam

-

Trang 17

Chương 2: NHỮNG CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ PHÁP LÍ VỀ HAI

QUẦN ĐẢO HOÀNG SA – TRƯỜNG SA

2.1 Chứng cứ lịch sử

2.1.1 Tranh chấp chủ quyền

Dấu hiệu đầu tiên cho thấy quần đảo Trường Sa không chỉ đơn giản là một mối nguy cho tàu chở hàng đi qua đó là khi vào năm 1968 người ta tìm thấy dầu mỏ trong vùng Theo ước tính của Bộ Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vùng quần đảo Trường Sa có chứa trữ lượng dầu và khí đốt tự nhiên rất lớn, lên đến 17,7

tỷ tấn (1,60 × 1010 kg), so với 13 tỷ tấn (1,17 × 1010 kg) của Kuwait, và họ xếp nó vào danh sách một trong bốn vùng có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới Đương nhiên, tiềm năng trữ lượng dầu khí to lớn này góp phần làm tình hình thêm căng thẳng và thúc đẩy các nước trong vùng tuyên bố có chủ quyền Ngày 11 tháng 3 năm 1976, cuộc thám hiểm dầu khí lớn đầu tiên của Philippin được tiến hành ngoài khơi Palawan, trong khu vực quần đảo Trường Sa, và các khu khai thác ở đó hiện chiếm năm mươi phần trăm toàn bộ

số dầu tiêu thụ tại Philippin

Các nước tuyên bố chủ quyền không cấp giấy phép khai thác ngoài khơi trong vùng đảo vì sợ gây ra một sự xung đột lập tức Các công ty nước ngoài cũng không đưa ra bất

kỳ một cam kết nào về việc khai thác vùng này cho đến khi tranh cãi về lãnh thổ được giải quyết hay các nước tham gia đạt được thỏa thuận chung

Một động cơ khác để tranh chấp là trữ lượng khai thác cá thương mại của vùng biển quần đảo Trường Sa Vào năm 1988, Biển Đông chiếm 8% tổng số lượng đánh bắt cá và hải sản của thế giới, một con số chắc chắn còn có thể tăng lên Trung Quốc đã dự đoán rằng Biển Đông chứa lượng cá và các nguồn dầu mỏ, khí gas tự nhiên có giá trị lên đến một nghìn tỷ đôla Đã có nhiều cuộc xung đột xảy ra giữa Philippin và các nước khác - đặc biệt là Trung Quốc - về những tàu đánh cá nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh

tế của họ và báo chí cũng thường đưa tin về những vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc

Vùng này cũng là một trong những vùng có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế giới Trong thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất 270 lượt tàu đi qua quần đảo Trường Sa ,

và hiện tại hơn một nửa số tàu chở dầu siêu cấp của thế giới chạy qua vùng biển này hàng năm Lượng tàu chở dầu chạy qua Biển Đông lớn gấp ba lần lượng tàu chạy qua kênh Suez và gấp năm lần lượng tàu qua kênh đào Panama; gần 20% lượng dầu thô trên thế giới được chuyên chở ngang qua Biển Đông

Có nhiều ám chỉ rằng Trung Quốc đã sáp nhập và chiếm các đảo không phải chỉ vì mục tiêu khai thác tài nguyên mà còn để giám sát các hoạt động trên biển Đông Ví dụ, đá Vành Khăn là một điểm lý tưởng để quan sát các tàu của Hải quân Mỹ chạy qua vùng biển phía tây Philipin Việc Trung Quốc chiếm đảo này cũng có thể có mục đích đối chọi với Đài Loan hơn là với Philipin bởi vì Trường Sa nằm ngang vùng biển thiết yếu của Đài Loan Đó cũng có thể chỉ đơn giản là một nỗ lực của Trung Quốc nhằm thông báo sự củng cố quyền bá chủ trong vùng của họ

Một xô xát diễn ra liên quan tới một tàu dân sự vào ngày 10 tháng 4 năm 1983, khi một du thuyền của Đức bị bắn chìm Không ai bị coi là chịu trách nhiệm về vụ này

Trang 18

Để trả lời cho những lo ngại ngày càng tăng bởi các nước có bờ biển ở vùng biển quần đảo Trường Sa về sự xâm phạm của các tàu nước ngoài đối với tài nguyên thiên nhiên của họ, Liên hiệp quốc đã họp và ra Công ước Quốc tế về luật biển (UNCLOS) năm 1982 để xác định các vấn đề về các biên giới biển quốc tế Về những lo lắng trên, chúng được giải quyết rằng một nước có đường bờ biển có thể tuyên bố 200 dặm hàng hải quyền tài phán từ biên giới đất liền của mình Tuy nhiên UNCLOS không thể giải quyết vấn đề làm thế nào để giải quyết các tranh chấp chồng lấn và vì thế tương lai của quần đảo vẫn còn mờ mịt

Năm 1984, Brunây lập ra một vùng đặc quyền đánh cá bao gồm cả đảo ngầm Louisa ở phía nam quần đảo Trường Sa, nhưng không công khai tuyên bố chủ quyền hòn đảo Sau đó, vào năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc một lần nữa lại đụng độ ở biển về quyền sở hữu đảo ngầm Johnson thuộc Trường Sa Tàu chiến Trung Quốc đánh đắm các tàu chở đội quân đổ bộ Việt Nam Hai nước bình thường hoá quan hệ vào năm 1991 và Chủ tịch Giang Trạch Dân sau đó đã hai lần viếng thăm Việt Nam, nhưng hai nước vẫn đối đầu về tương lai của Trường Sa

Năm 1992, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam trao các hợp đồng thăm dò dầu khí cho các công ty Mỹ trên vùng chồng lấn ở Trường Sa; và vào tháng 5 năm 1992, Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) và Crestone Energy (một công ty Mỹ có trụ sở ở Denver, Colorado) đã ký một hợp đồng hợp tác để cùng thăm

dò lô Wan'an Bei-21, một vùng rộng 25.155 km² ở phía tây nam Biển Đông gồm cả các vùng quần đảo Trường Sa CNOOC cung cấp các dữ liệu về địa chất và các thông tin khác về đáy biển vùng đó trong khi Crestone đồng ý chịu mọi chi phí và tiếp tục tiến hành thăm dò địa chất và khoan trong vùng Hợp đồng được kéo dài tới năm 1999 sau khi Crestone thất bại trong việc hoàn thành thăm dò Một phần trong hợp đồng của Crestone bao gồm cả hai block 133 và 134 của Việt Nam nơi Petro Vietnam và ConocoPhillips Vietnam Exploration & Production, một đơn vị của ConocoPhillips, đã đồng ý đánh giá khả năng vào tháng 4 năm 1992 Điều này dẫn tới một sự chạm trán giữa Trung Quốc và Việt Nam, với việc mỗi nước đều yêu cầu rằng bên kia huỷ bỏ hợp đồng của mình Xung đột cấp độ cao hơn nữa diễn ra đầu năm 1995 khi Philipin tìm thấy một kết cấu quân sự đầu tiên ở đảo ngầm Mischief, 130 dặm biển ngoài khơi Palawan Việc này thúc đẩy chính phủ Philipin đưa ra một kháng cáo chính thức đối với sự chiếm đóng hòn đảo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Hải quân Philipin bắt giữ sáu mươi hai ngư dân Trung Quốc ở bãi cát ngầm Half Moon, cách Palawan 80km Một tuần sau, sau sự xác nhận của Fidel Ramos về việc ra lệnh tăng cường cho các lực lượng quân sự trong vùng, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng kết cấu đó là các chòi tạm dành cho ngư dân Tiếp theo sự tranh cãi đó, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và các nước thành viên ASEAN, với sự môi giới của ASEAN, đã đạt được một thoả thuận rằng một nước sẽ thông báo tới các nước còn lại về hành động quân sự của mình bên trong vùng lãnh thổ tranh chấp và sẽ không tiến hành xây dựng thêm các công trình Thoả thuận nhanh chóng

bị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Malaysia xâm phạm Tuyên bố rằng vì bị hư hại do bão, bảy tàu Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến vào vùng đó để sửa "các chòi ngư dân"

ở đảo ngầm Panganiban Malaysia xây dựng một kết cấu trên Investigator Shoal và đổ bộ tại đảo ngầm Rizal, cả hai chỗ này đều nằm bên trong vùng EEZ của Philipin Để trả đũa Philipin trao phản đối chính thức, yêu cầu dỡ bỏ các kết cấu đó, tăng cường tuần tra hải

Trang 19

quân ở Kalayaan và mời các nhà chính trị Mỹ tới giám sát các căn cứ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa bằng máy bay

Tới năm 1998, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiếp tục sự sáp nhập các đảo của mình, đặt các cột mốc lãnh thổ hay phao trên bãi cát Thomas thứ nhất và thứ hai, bãi cát Pennsylvania, bãi cát Half Moon và đảo san hô vòng Sabina cùng đảo Jackson, vùng quần đảo Trường Sa được đưa vào danh sách một trong tám điểm nóng xung đột trên thế giới Cuối năm 1998, các căn cứ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã bao quanh các tiền đồn của Philipin Một sỹ quan Hải quân hoàng gia Anh phân tích các bức ảnh chụp các kết cấu của Trung Quốc và tuyên bố rằng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa "có lẽ đang chuẩn bị chiến tranh" Quan hệ giữa Manila và Bắc Kinh đã xấu đi tới mức sắp xảy tới xung đột Đầu thế kỷ 21, như một phần trong chính sách ngoại giao lúc đầu được gọi là "khái niệm an ninh mới" và "sự lớn mạnh của Trung Quốc hoà bình", Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giảm bớt chạm trán ở quần đảo Trường Sa Gần đây Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến hành thương lượng với các nước ASEAN nhằm mục đích thực hiện đề xuất tự do thương mại giữa 10 nước tham gia Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và ASEAN cũng đã thoả thuận đàm phán để đưa ra một bộ luật ứng xử nhằm giảm căng thẳng tại các đảo tranh chấp Ngày 5 tháng 3 năm 2002, một thoả thuận đã ra đời, công bố mong ước của các nước liên quan giải quyết vấn đề chủ quyền "mà không sử dụng thêm nữa vũ lực" Tháng 11 năm 2002, một tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông được ký kết, làm giảm căng thẳng nhưng không phải là một bộ luật ứng xử mang tính bắt buộc

Vào năm 2007, Việt Nam và hãng BP của Anh đang chuẩn bị thực hiện dự án trị giá hai tỷ đôla lắp đặt đường ống dẫn khí đốt thiên nhiên từ hai mỏ khí ở khu vực quần đảo Trường Sa thuộc vùng chủ quyền của Việt Nam đồng thời tổ chức bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa XII sẽ được tiến hành ngày 20-5 tại quần đảo Trường Sa thì người phát ngôn

Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lão Tần Cương nói trong buổi họp báo thường kỳ "Việt Nam

áp dụng hàng loạt hành động mới trên quần đảo Nam Sa đã đi ngược với nhận thức chung quan trọng về các vấn đề trên biển" mà hai bên đã đạt được Lão Tần Cương gọi đây là hành động "xâm phạm chủ quyền lãnh thổ cũng như chủ quyền và quyền cai quản của Trung Quốc và Trung Quốc bày tỏ hết sức quan tâm việc này và đã giao thiệp nghiêm khắc với Việt Nam" trong lúc Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đang có chuyến thăm chính thức nước này Trong khi phía Trung Quốc lại cho các công ty dầu khí, mà điển hình là PetroChina, thăm dò và khai thác dầu khí trong khu vực tranh chấp Sau đó vào tháng 6 năm 2007 phát ngôn nhân của BP, ông David Nicholas, nói rằng hãng này thấy rằng "nên ngừng kế hoạch khảo sát địa chấn tại lô 5.2 để cho các nước liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề" Khu thăm dò địa chấn, lô 5.2, mà BP dự định tiến hành nằm ở giữa Việt Nam và quần đảo Trường Sa, cách bờ biển Việt Nam khoảng 370 km Tuy nhiên người phát ngôn của BP lại nói với Reuters rằng công việc tại các lô 5.2 và 5.3

là kế hoạch lâu dài chứ không phải trước mắt

Trung Quốc ngày càng gây hấn bằng vũ lực trên quần đảo Trườn g Sa Vào tháng 4 năm 2007 Trung Quốc đã bắt 41 ngư dân Việt Nam và chỉ trả tự do cho họ sau khi những người này nộp phạt Đến ngày 9 tháng 7 tàu Hải quân Trung Quốc đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, c ách Thành phố

Hồ Chí Minh 350 km làm chìm một thuyền đánh cá của Việt Nam, ít nhất một ngư dân thiệt mạng và một số người khác bị thương Nguyên nhân chính dẫn tới các mâu thuẫn

Trang 20

gữa hai nước là trữ lượng trên 600 triệu thùng dầu của Việt Nam mà Trung Quốc tuyên bố nằm trong vùng biển chủ quyền trong khi giá dầu thô có thể tăng lên đến 100USD vào cuối năm 2007 Phía Việt Nam cũng đã cho hai tàu chiến cơ động BPS-500 do Nga thiết

kế lập tức đến hiện trường nhưng phải đứng từ xa vì hỏa lực quá mạnh từ tàu Trun g Quốc Mặc dù báo chí Việt Nam tránh đưa tin sự kiện trên nhưng sau đó Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng đã đến Bắc Kinh từ 21-7 tới 23-7 để bàn về các vấn đề biên giới, đặc biệt là trên biển

Việt Nam tuyên bố chủ quyền

Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với đảo dựa trên vị trí lịch sử và trên nguyên tắc thềm lục địa Các bản đồ địa lý cổ Việt Nam ghi chép Bãi Cát Vàng để chỉ cả Hoàng

Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII

Trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục của học giả Lê Quý Đôn, Hoàng Sa và Trường Sa được định nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi

Trong bộ quốc sử Đại Nam thực lục của triều Nguyễn có ghi chép từ năm 1711 chúa Nguyễn Phúc Chu cho người ra đo độ dài ngắn rộng hẹp bãi cát Trường Sa

Trong Đại Nam nhất thống toàn đồ, một cuốn bản đồ của Việt Nam được hoàn thành năm 1838, Trường Sa được vẽ thuộc lãnh thổ Việt Nam

Việt Nam đã từng tiến hành nhiều cuộc khảo sát địa lý và tài nguyên trên quần đảo,

và kết quả của các chuyến khảo sát đó đã được ghi chép trong văn học và lịch sử Việt Nam và được xuất bản kể từ thế kỷ XVII Hơn nữa, sau một hiệp ước ký kết với triều đại nhà Nguyễn, Pháp đại diện cho các quyền lợi của Việt Nam đối với các công việc quốc tế và đã thi hành chủ quyền trên quần đảo thay cho Việt Nam

Ngày 7 tháng 7 năm 1951, Trần Văn Hữu, chủ tịch phái đoàn chính phủ Quốc gia Việt Nam tới dự Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản tuyên bố rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc lãnh thổ Việt Nam Tuyên bố này không bị bác bỏ hay bảo lưu ý kiến nào của 51 nước có mặt tại hội nghị Sau khi Pháp rút

đi, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã thi hành chủ quyền trên quần đảo

Ngày 22 Tháng 8 năm 1956 Hải quân Việt Nam Cộng hòa tiếp thu đảo Trường Sa, thượng quốc kỳ và dựng trụ đá ghi chủ quyền Đến ngày 22 Tháng 10 thì chính phủ Việt Nam tuyên bố Trường Sa phụ thuộc tỉnh Phước Tuy

Hiện nay Việt Nam giữ 21 đảo Chúng được gộp vào thành một huyện thuộc tỉnh Khánh Hoà

Năm 1932 - Trung Hoa Dân Quốc gửi tới chính phủ Pháp một bản ghi nhớ tranh cãi

về chủ quyền của họ đối với Trường Sa, dựa trên bản dịch Công ước Pháp - Thanh

1887 kết thúc Chiến tranh Pháp - Thanh

Năm 1933 - Ba tàu Pháp chiếm quyền kiểm soát chín đảo lớn nhất và tuyên bố chủ quyền của Pháp đối với quần đảo Pháp quản lý vùng Cochinchine Đế quốc Nhật tranh

Trang 21

giành chủ quyền với Pháp về quần đảo, đưa ra bằng chứng về việc khai mỏ phosphat của các công dân Nhật

Năm 1939 - Nhật tuyên bố ý định đặt quần đảo dưới quyền tài phán của họ Pháp

và Anh phản đối và tái xác nhận sự tuyên bố chủ quyền của Pháp

Năm 1941 - Nhật dùng vũ lực chiếm quần đảo và tiếp tục kiểm soát nó tới cuối thế chiến thứ II, cai quản vùng này như một phần của Đài Loan Một căn cứ tàu ngầm được thiết lập ở đảo Ba Bình

Năm 1945 - Sau khi Nhật Bản đầu hàng cuối thế chiến thứ II, Pháp và Cộng hoà Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa Trung Quốc gửi quân tới đảo và đổ bộ xuống phá bỏ các mốc chủ quyền

Năm 1946 - Pháp gửi tàu chiến tới quần đảo nhiều lần nhưng không tìm cách tấn công các lực lượng Trung Quốc

Năm 1947 - Pháp yêu cầu Trung Quốc rút khỏi quần đảo

Năm 1948 - Pháp ngừng các chuyến tuần tra trên biển gần quần đảo và Trung Quốc rút đa số lính của họ

Năm 1951 - Sau Hội nghị San Francisco năm 1951 về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, các phái đoàn từ Việt Nam, ở thời điểm đó, vẫn thuộc sự kiểm soát của Pháp – tuyên

bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Năm 1954 - Hiệp định Geneva quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển) Quần đảo Trườn g Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho Chính quyền miền Nam Việt Nam (quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu) quản lý Năm 1956, Việt Nam Cộng hòa kế thừa chính quyền Bảo Đại quản lý quần đảo này

Năm 1956 - Tomas Cloma, giám đốc Học viện hải dương Philipin tuyên bố chủ quyền trên đa phần quần đảo Trường Sa, gọi lãnh thổ của ông là "Kalaya'an" ("Vùng đất

tự do") Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Cộng Hòa, Pháp, Anh và Hà Lan tất cả đều đưa ra phản đối Cộng hoà Trung Hoa và Việt Nam Cộng Hòa đưa các đơn vị hải quân tới quần đảo, mặc dù Việt Nam không có các đơn vị đồn trú thường xuyên ở đó Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ủng hộ yêu cầu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, tuyên bố rằng "theo các dữ liệu của Việt Nam, các đảo Tây Sa và Nam Sa (gọi theo Trung Quốc chỉ Hoàng Sa và Trường Sa) về mặt lịch sử là một phần của lãnh thổ Trung Quốc" Cuối năm đó, Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố sự sáp nhập quần đảo Trường Sa thành một phần tỉnh Phước Tuy

Năm 1958 - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đưa ra tuyên bố xác định lãnh thổ biển của họ gồm cả quần đảo Trường Sa Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc công hàm ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận của Trung Quốc chỉ bao gồm "12 hải lý tính từ đất liền của Trung Quốc"

Năm 1961-1963 - Việt Nam Cộng hòa xây dựng các cột mốc lãnh thổ trên nhiều đảo thuộc quần đảo

Năm 1968 - Philipin gửi quân tới ba đảo để bảo vệ các công dân Kalayaan và tuyên

bố sáp nhập nhóm đảo Kalayaan

Năm 1971 - Malaysia đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa

Trang 22

Năm 1972 - Philipin sáp nhập các đảo Kalayaan vào tỉnh Palawan của họ

Năm 1974 - Việt Nam Cộng Hòa ra tuyên cáovề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa

Năm 1975 - Việt Nam Cộng Hòa công bố bạch thư về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời tố cáo Trung quốc tấn công quân lực Việt Nam Cộng Hòa để chiếm quần đảo Hoàng Sa vào ngày 20 tháng 1 năm 1974

Năm 1975 - Việt Nam, mới thống nhất, đưa ra tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Trường Sa

Năm 1978 - Một nghị định của tổng thống Philipin phác thảo tuyên bố chủ quyền trên quần đảo

Năm 1979 - Malaysia xuất bản một bản đồ về thềm lục địa tuyên bố của mình, gồm

cả mười hai đảo thuộc nhóm Trường Sa Việt Nam xuất bản sách trắng phác thảo các yêu cầu chủ quyền của mình trên quần đảo và tranh cãi về yêu cầu chủ quyền của các nước khác

Năm 1982 - Việt Nam xuất bản một cuốn sách trắng khác, chiếm nhiều đảo và xây đựng các cơ sở quân sự Philipin cũng chiếm thêm nhiều đảo và xây dựng một đường băng

Năm 1983 - Malaysia chiếm một đảo thuộc quần đảo Trường Sa

Năm 1984 - Brunây thiết lập một vùng đánh cá đặc quyền gồm cả đảo chìm Louisa

ở phía Nam quần đảo Trường Sa, nhưng không công khai tuyên bố chủ quyền vùng đó Năm 1987 - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến hành các chuyến tuần tra hải quân ở quần đảo Trường Sa và thiết lập một căn cứ thường xuyên

Năm 1988 - Tàu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam đụng độ ở đảo chìm Johnson Các lực lượng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chiếm và giành quyề n kiểm soát vùng đó

2.1.3 Chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các thời kì

Từ lâu nhân dân Việt Nam đã phát hiện quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo

đó một cách thật sự, liên tục và hoà bình

Nhiều sách địa lý và bản đồ cổ của Việt Nam ghi chép rõ Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: "giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng", "Họ Nguyễn - Tức chúa Nguyễn, căn cứ xứ Đàng trong từ năm 1558 đến năm 1775 - mỗi năm vào tháng cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn"

Trong Giáp Ngọ bình nam đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoán quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam - Trong tập Hồng Đức bản đồ

Phủ biên tạp lục, cuốn sách của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776, viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn

Trang 23

(1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi:

"Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có núi gọi là Cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa Trước kia có nhiều hải vật và hoá vật của tầu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải"

" Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài giờ thì đến Trên núi có chỗ có suối nước ngọt Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh Trên bãi vật lạ rất nhiều Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có

ốc hương Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được Đồi mồi thì rất lớn Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi, nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi sát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn Lấy được hoá vật của tầu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải

ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không Tôi đã xem số của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tầu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được"

Trong số tư liệu còn tìm thấy ngày nay, có thể kể tờ sai sau đây đề năm 1786 của quan Thượng tướng công:

"Sai cai Hội Đức Hầu đội Hoàng Sa dẫn bốn chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu bác, đồi mồi cùng cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ"

Giám mục J.L.Taberd, trong bài "Ghi chép về địa lý nước Cochinchine" xuất bản năm 1837, cũng mô tả "Pracel hay Paracels" là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ

Trang 24

người Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là "Cát Vàng" Trong An Nam đại quốc hoạ

đồ xuất bản năm 1838, ông đã vẽ một phần của Paracel và ghi "Paracel hay Cát Vàng" (Paracel seu Cát Vàng) ở ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam, vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay

Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ nước Việt Nam đời Nguyễn vẽ vào khoảng năm 1838, ghi "Hoàng Sa" (số 1) - "Vạn lý Trường Sa" (số 2) thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam

Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý Việt Nam do Quốc Sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn xong năm 1882 ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Nam tại tỉnh Quảng Ngãi

Đoạn nói về hình thể tỉnh Quảng Ngãi, cuốn sách viết:

"Phía Đông tỉnh Quảng Ngãi, có đảo cát (tức đảo Hoàng Sa liền cát với biển làm hào; phía tây nam miền sơn man, có luỹ dài vững vàng, phía nam liền với tỉnh Bình Định,

có đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn "

" Đầu đời vua Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy một nơi

có cồn cát trắng chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam còn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ "Vạn lý Ba Bình" (muôn dặm sóng yên) Cồn cát này xưa gọi là Phật Tự Sơn, phía đông và phía tây đảo đều

có đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch Năm Minh Mệnh thứ 16 sai thuyền công chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau Binh phu đắp nền miếu đào được đồng lá và gang sắt có đến hơn 2.000 cân"

Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam

Một giáo sĩ Phương Tây đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701 viết trong một lá thư rằng: "Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam J.B Chaigneau, cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 đã viết trong phần chú bổ sung vào cuốn Hồi ký về nước Cochinchine:

"Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine

và xứ Đông Kinh một vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành "

Trong bài Địa lý vương quốc Cochinchina của Gutzlaff, xuất bản năm 1849 có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là "Cát Vàng" Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thế kỷ nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hành và tài nguyên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó

Trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII):

"Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương

Trang 25

thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hoá thì đều để lại ở nơi đó"

"Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn"

Đại Nam thực lục tiền biên, bộ sử về chúa Nguyễn do Quốc sứ quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1844, có đoạn viết:

"Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa Trên bãi có giếng nước ngọt Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa v.v "

"Hồi đầu dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hoá vật, đến tháng 8 trở về nộp Lại có đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản"

Theo Đại Nam thực lục chính biên, là bộ sử ký do Quốc sử quán triều đình nhà Nguyễn soạn, viết về các đời vua nhà Nguyễn Phần viết về các đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị được soạn xong năm 1848, ghi sự kiện Gia Long chiếm hữu các đảo Hoàng Sa năm 1816, sự kiện Minh Mệnh cho xây miếu, dựng bia trồng cây, đo đạc, vẽ bản đồ các đảo này

Quyển 52: "Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816)

Vua phái Thuỷ quân và đội Hoàng Sa cưỡi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thuỷ"

Quyển 104: "Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)

Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại Nay nên dự bị thuyền mảnh, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn Đó cũng là việc lợi muôn đời"

Quyển 154: "Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)

Dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ "Vạn Lý Ba Bình" Cồn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch Năm ngoái vua toan dụng miếu, lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng) Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong Mười ngày làm xong rồi về" Quyển 165: "Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1

Bộ Công tâu: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng

Trang 26

Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, xin phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thể hiểm trở, binh dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn

cứ vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm Lại từ xứ ấy, trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình"

"Vua y lời tâu, phái Suất đội Thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ "Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ")

Cũng trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi, năm 1847 Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị tờ Tâu, trong đó có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau Vua Thiệu Trị đã phê: "Đình"

Trong Đại Nam nhất thống chí (1882):

"Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông cù lao Ré huyện Bình Sơn Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn lý Trường Sa Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích Hoá vật của các tầu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở đấy"

Các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) cũng mô tả Hoàng Sa một cách tương tự

Do đặc điểm của Hoàng Sa và Trường Sa là có nhiều hải sản quý lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm như trên đã nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo đó với tư cách một quốc gia làm chủ Nhiều sách lịch sử và địa lý

cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó

Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và của Xiêm, tuy vậy vẫn luôn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa

Nghĩa là thời Tây Sơn, Nhà nước vẫn tiếp tục tổ chức việc thai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa

Từ khi nắm chính quyền năm 1802 đến khi ký với Pháp Hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trang 27

Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm đội Bắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn (1802-1945)

Như vậy qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây nói trên từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã

là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác; điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam

2.1.3.1 Từ thời Nguyễn đến thời thuộc Pháp

Chủ quyền lịch sử là một trong những cơ sở xác thực mà Nhà nước Việt Nam hiện nay căn cứ để xác định chủ quyền biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa

Việc phát hiện hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa trước khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước đã được ghi chép trong nhiều nguồn thư tịch

Đồng bộ tiến hành quản lý, khai thác, cắm mốc, đo vẽ bản đồ được tiến hành vào các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị…

Nói cách khác, những công việc thuộc về trách nhiệm và quyền hạn thuộc phạm vi quản lý hành chính cấp nhà nước đã được minh chứngbằng nhiều sử liệu chính thống Sách Đại Nam thực lục chép:

“Năm 1815, vua Gia Long cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc thuỷ trình”

“Năm 1834, vua Minh Mạng cử đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ cùng thuỷ quân hơn 20 người ra Hoàng Sa để đo vẽ bản đồ”

Châu bản – tức tấu trình, chỉ dụ có bút phê của hoàng đế – riêng hai triều Minh Mạng, Thiệu Trị hiện còn 11 văn bản

Trách nhiệm xử sự của quốc gia đã đặt chủ quyền trên đảo được thể hiện trong bản tấu của Thủ ngữ Đà Nẵng về việc cứu hộ thuyền buôn của tài phú Pháp Ê-đoa bị nạn do vướng phải đá ngầm ở Hoàng Sa hai bản tấu đề ngày 27 tháng 6 năm Minh Mạng 11 (1830)

Tờ tấu của bộ Công ngày 28 tháng 12 năm Thiệu Trị 7 (1842) cho thấy việc tuần tra định kỳ và liên tục của quân đội: “hàng năm, vào mùa xuân theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại…”

Đại Nam nhất thống toàn đồ còn lưu lạ i đến nay được thực hiện khoảng năm 1840

vẽ rõ hai quần đảo xa bờ và tiêu danh Hoàng Sa – Vạn lý Trường Sa Địa đồ này là kết quả của nhiều lần, nhiều năm thăm dò và đo đạc Cụ thể là vào năm 1836, chuẩn y lời tấu của bộ Công, vua Minh Mạng sai suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra Hoàng Sa cắm mốc, đo đạc và vẽ bản đồ, Đại Nam thực lục (Chính biên, quyển 165, kỷ thứ 2) chép: “Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào Khi thuyền đi đến, cũng xét xem

xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung

Trang 28

quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ Lại xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến, đối thẳng là vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình” (bản in nhà xuất bản Giáo Dục – 2007, tập bốn, trang 867) Lời tâu của bộ Công trên đây cho thấy sự chỉ đạo rất cụ thể và chi tiết đối với đoàn công tác phụ trách đo vẽ địa đồ khu vực Hoàng Sa – Trường Sa, ngoài việc xác định vị trí địa lý, các yêu cầu khác liên quan đến những yếu tố khoa học như địa mạo, hải văn, hải trình… của Hoàng Sa – Trường Sa cũng được đặt ra

Đại Nam nhất thống chí (1882) quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi, mục sơn xuyên cũng chép rõ về “Hoàng Sa đảo”, đoạn trích sau đây thể hiện rõ vị trí địa lý và cả hải trình:

“Đảo Hoàng Sa ở phía đông cù lao Ré, từ bờ biển Sa Kỳ chạy ghe ra khơi thuận gió thì

ba, bốn ngày đến… phía đông đảo này gần Quỳnh Châu thuộc phủ Hải Nam nước Tàu” (bản dịch xuất bản tại Sài Gòn – 1964)

Trong rất nhiều cứ liệu khẳng định chủ quyền lịch sử của Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo, các cứ liệu tiêu biểu nêu trên trích lục từ ba nguồn: chính sử, địa chí, địa

đồ, ba nguồn này đều là phương tiện công bố chính quy mang tính pháp lý của vương triều Nguyễn Đó là những bằng chứng về việc xác lập và thực thi chủ quyền của nước Đại Nam trên biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa

2.1.3.2 Từ thời thuộc Pháp đến Việt Nam cộng hòa

Theo cam kết trong hiệp ước Giáp Thân (6-6-1884), Pháp đại diện quyền lợi của nước Đại Nam trong quan hệ đối ngoại, trong việc bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Trên tinh thần hiệp ước đã nêu, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Đại Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những nơi mà trước đây vương triều Nguyễn

đã xác lập bằng sự chiếm hữu công khai, liên tục và hoà bình

Các pháo hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễu trong vùng biển Đông và Hoàng Sa và Trường Sa Cùng với việc đưa hải quân đến trú đóng, nhiều hoạt động thám sát, khảo cứu, xây dựng… trên hai quần đảo được Chính phủ Pháp lần lượt thực hiện Những hoạt động thực thi chủ quyền ngày càng được củng cố qua những văn bản pháp quy hoặc các tuyên bố của những người có thẩm quyền, chức trách cao nhất của quốc gia Ngày 3-3-1925, Thượng thư bộ binh Nam triều Thân Trọng Huề tái khẳng định Hoàng Sa

là của Đại Nam Ngày 12-12-1933 thống đốc Nam Kỳ M.J.Krantheimer ký nghị định tháp nhập các đảo Trường Sa vào địa phận tỉnh Bà Rịa

Chỉ dụ số 10, ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại 13 (1938) về việc chuyển đổi hành chính đảo Hoàng Sa do Nam triều quốc ngữ công báo công bố, toàn văn như sau:

“Chiếu chỉ các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam – Ngãi; đến đời đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam – Ngãi

Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên Đại diện chính phủ Nam Triều uỷ phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan đại diện chính phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa

Trang 29

Thiên thời được thuận tiện hơn Dụ (Độc khoản): trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng

Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy Khâm thử”(Công báo, số 8, năm 1938)

Trên cơ sở đồng thuận với chủ trương của Nam Triều, ngày 5-6-1938, toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên Đồng thời, cho dựng bia chủ quyền tại đảo Hoàng

Tháng 4 năm 1956, Pháp rút quân khỏi Đông Dương, quân đội Việt Nam cộng hoà chỉ kịp thời thay thế quân Pháp tại nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo phía Đông bị quân đội Trung Quốc thừa cơ chiếm cứ Đài Loan cũng thừa cơ chiếm đảo

Ba Bình ở Trường Sa

Trước tình hình chiếm đóng trái phép của quân đội Trung Quốc và Đài Loan, ngày 1-6-1956, ngoại trưởng Việt Nam cộng hoà Vũ Văn Mẫu tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Về quản lý hành chính, sắc lệnh ngày 22-10-1956 đặt quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy, sắc lệnh ngày 13-7-1961 lập quần đảo Hoàng Sa thành xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam Ngày 13-7-1971, tại hội nghị ASPAC (Manille), ngoại trưởng Việt Nam cộng hoà Trần Văn Lắm, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa

Từ ngày 17 đến ngày 20-01-1974, Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự tấn công

và chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa Trong trận hải chiến này hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo Nguỵ Văn Thà cùng hơn 50 binh sĩ đã hy sinh

Đại diện chính phủ Việt Nam cộng hoà tại Liên hiệp quốc gửi công hàm đến chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư ký Liên hiệp quốc, thông báo hành động xâm lược của Trung Quốc tại Hoàng Sa

Ngày 14-2-1975, bộ Ngoại giao Việt Nam cộng hoà công bố Sách Trắng về Hoàng

Sa và Trường Sa (White paper on the Hoàng Sa (Paracel) and Trường Sa (Spratly) Islands – Republic of Vietnam – Saigon 1975)

Trang 30

Từ hiệp ước Pháp – Nam (1884) đến năm 1975, Việt Nam trải qua nhiều thể chế chính trị, tuy nhiên, chính thể cầm quyền nào cũng quyết tâm bảo vệ tích cực các quyền

và danh nghĩa làm chủ trên biển Đông, vì sự toàn vẹn lãnh thổ, vì quyền lợi và nghĩa vụ của mình, người Việt Nam đã bỏ nhiều sức lực và hy sinh xương máu để bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

2.1.3.3 Từ thời X ã Hội Chủ Nghĩa đến nay

Cuộc hội thảo tầm cỡ quốc gia vừa qua về biển Đông tại Hà Nội ngày 17-3-2009

đã mở ra một giai đoạn mới cho các nhà nghiên cứu Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa

và biển Đông

Quần đảo Hoàng Sa

Những hòn đảo Việt Nam bị chiếm đóng:

PGS-TS thiếu tướng Lê Văn Cương: Biển Đông có vị trí địa chiến lược, địa kinh tế cực kỳ quan trọng và là yết hầu kinh tế của toàn bộ khu vực Đông Á Biển Đông là nơi giao nhau của nhiều tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới, nối liền Ấn Độ Dương

và Thái Bình Dương Biển Đông rộng 6,2 triệu kilômét vuông, hàng ngày có khoảng 400 tàu lớn qua đây, khoảng 25% mậu dịch và 1/2 lượng dầu tiêu thụ của thế giới qua biển Đông Khoảng 80% dầu thô của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản nhập khẩu từ Trung Đông, Châu Phi và các nước ASEAN đều đi qua biển Đông Biển Đông có trữ lượng dầu

mỏ, khí đốt, phốt-phát và nhiều khoảng sản quý hiếm

GS-TS Nguyễn Quang Ngọc - Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển: "Thư tịch và bản đồ cổ của Trung Quốc tính cho đến cuối thế kỷ XIX và thậm chí cả những năm cuối thập kỷ đầu của thế kỷ XX, đều phản ánh một thực tế hết sức hiển nhiên là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc chưa bao giờ vượt quá đảo Hải Nam

Phải khẳng định một cách tuyệt đối rằng lịch sử thực thi chủ quyền của VN ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với tư cách nhà nước, phát triển liên tục, rõ ràng, muộn nhất là từ đầu thế kỷ XVII (dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và qua các thế kỷ XVIII (dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và vương triều Tây Sơn), XIX (dưới thời các vương triều Nguyễn) và cho mãi đến những năm đầu của thế kỷ XX vẫn chưa hề gặp phải

sự phản đối của bất cứ quốc gia nào"

Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền về biển Đông với Trung Quốc, bên cạnh khía cạnh pháp lý và luật pháp quốc tế thì vấn đề chứng cứ lịch sử là rất quan trọng Điều này lại càng trở nên cực kỳ quan trọng khi phải đối thoại với Trung Quốc - là một nước có truyền thống lưu trữ và khảo cứu thư tịch cổ rất lâu đời, với trình độ rất cao Theo đó, việc tìm kiếm các tài liệu bằng chứng trên thư tịch cổ trong các kho lưu trữ trong và ngoài nước không bao giờ đủ và không bao giờ thừa

Bên cạnh các tài liệu do người Việt Nam biên soạn (hi ện đang lưu trữ trong và ngoài nước) thì các tài liệu do người nước ngoài, đặc biệt là người Trung Quốc biên soạn lại càng quan trọng, vì ở đó nó là bằng chứng hùng hồn nhất trong vấn đề chủ quyền tại biển Đông Một khi tìm được các bằng chứng từ phía Trung Quốc, về việc họ không xác nhận chủ quyền tại biển Đông thì việc xem xét vấn đề trên bình diện pháp lý trở nên thuận lợi

Quần đảo Trường Sa

Thiếu tướng PGS TS Lê Văn Cương - Viện Chiến lược và Khoa học Công an - đã đưa những ý kiến khách quan của bà Monique Chemillier-Gendreau - Giáo sư công pháp

Trang 31

quốc tế Pháp - viết về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

"Từ khi Việt Nam và Pháp ký Hiệp ước Patenotre năm 1884 thì Việt Nam là nước

đã nắm chủ quyền không ai chối cãi được đối với các đảo Trường Sa và Hoàng Sa từ hai thế kỷ rồi, một chủ quyền phù hợp với hệ thống pháp lý quốc tế của thời kỳ đó

Đối với Hoàng Sa thì chủ quyền đã rõ ràng và hoàn toàn hợp lý không còn gì phải bàn cãi nữa Đối với Trường Sa thì có nhiều lý lẽ và bằ ng chứng cho thấy nhóm đảo này vẫn thuộc chủ quyền của Việt Nam, nhưng không biết là chủ quyền toàn bộ hay một phần,

vì nhóm Trường Sa nằm rải rác trên một diện tích biển rộng 160.000 km2

Nhưng dẫu là toàn bộ hay một phần thì Việt Nam vẫn có chủ quyền trên những hòn đảo lớn và từ đó có thể dựa trên cơ sở "inchoate title", nghĩa là một lý do chủ quyền manh nha (chủ quyền phôi thai) để đi đến một chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn Vấn đề hiện nay của Việt Nam chỉ còn là củng cố quyền sở hữu đó theo căn bản của sự tiến triển của công pháp quốc tế ngày nay"

Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã dẫn những tư liệu của chính Trung Quốc nói lên chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đó là:

* Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696 Trong quyển

3 của tập ký sự này nói đến Vạn Lý Trường Sa, khẳng định chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa;

* Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Sisha (Tây Sa - Hoàng Sa) và Nansha (Nam Sa - Trường Sa) không thuộc về Trung Quốc Tất cả các bản đồ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc

Mới đây, từ các bức ảnh do PGS-TS Đinh Khắc Thuân cung cấp, PGS-TS Ngô Đức Thọ phát hiện ra rằng, đây là bằng chứng chủ quyền của nước ta đối với hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa

Đó là cuốn An Nam đồ chí của soạn giả Đặng Chung Cuốn sách này được biên soạn "căn cứ theo bản sao ở Thuật Cổ Đường của họ Tiền" Thuật Cổ Đường là tên thư viện của Tiền Đại Hân - nhà khảo chứng học nổi tiếng đời Thanh Họ tên soạn giả An Nam đồ chí được ghi cuối bài tựa: Phân thủ Quảng Đông Quỳnh Nhai Phó Tổng binh Ôn Lăng Đặng Chung (Phó Tổng binh trấn thủ châu Quỳnh Nhai, tỉnh Quảng Đông là Đặng Chung, người huyện Ôn Lăng)

An Nam đồ chí là một tập sách bản đồ có các khảo chú về toàn quốc và các địa phương của Việt Nam Một nội dung như vậy là một tài liệu tham khảo sử địa học quan trọng, mà giới nghiên cứu Việt Nam cả trong nước và quốc tế ch o đến nay chưa từng trích dẫn hoặc biết tới Niên đại soạn sách ghi sau bài tựa càng là một giá trị quý hiếm: Vạn Lịch Mậu Thân thanh minh nhật Vạn Lịch (1573-1620) là niên hiệu Vua Minh Thần Tông, năm Mậu Thân Vạn Lịch là năm 1608, cách nay đúng 401 năm

An Nam đồ chí là thư tịch bản đồ đầu tiên của Trung Quốc ghi tên cửa biển Đại Trường Sa trong tờ bản đồ vẽ nước An Nam - tức Việt Nam

PGS-TS Ngô Đức Thọ kết luận: "Bất cứ vì lý do gì, việc một viên quan binh của nhà Minh giữ chức Phó Tổng binh châu Quỳnh Nhai (tức đảo Hải Nam) ghi tên Cửa biển Đại Trường Sa của Việt Nam trên bản đồ An Nam, chứng tỏ người Trung Hoa từ trước và

Trang 32

từ triều Minh, triều Thanh đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa là thuộc Việt Nam"

Về tài liệu nước ngoài, TS Nguyễn Nhã có một phát hiện đặc biệt quan trọng, khi ông tiếp cận bản đồ An Nam đại quốc họa đồ -, do Giám mục Taberd vẽ năm 1838 Tấm bản đồ nằm trong cuốn từ điển được in ấn, nên nó không phải là độc bản mà có mức độ phổ biến rộng rãi, đến được với nhiều người - đặc biệt là giới học giả (đối tượng sử dụng chủ yếu của cuốn từ điển này) Trên bản đồ, quần đảo Hoàng Sa được viết bằng chữ "Cát Vàng" Và điều đặc biệt nhất là, bản đồ có ghi tọa độ và khi đối chiếu với số liệu hôm nay thì hoàn toàn trùng khớp Đây là bản đồ cổ duy nhất có ghi tọa độ và cũng là bản đồ cổ

duy nhất có xác định tọa độ của Hoàng Sa

Ngoài ra, trên tập san The journal of the Asiatic society of Bengal, Vol VI cũng đã đăng bài của giám mục Taberd, xác nhận Vua Gia Long đã thân chinh vượt biển đến Hoàng Sa vào năm 1816 và long trọng treo cờ, chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels (Hoàng Sa, Cát Vàng)

Hai tấm bản đồ do những người nước ngoài vẽ thực sự là một minh chứng hùng hồn về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Bộ Ngoại giao tiếp nhận tờ lệnh về Hoàng Sa

Chiều ngày 10-4-2010, Phó chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Hoàng Sơn chính thức bàn giao tờ lệnh điều quân ra bảo vệ Hoàng Sa cách đây 175 năm, một trong những bằng chứng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này, cho Bộ Ngoại giao

Tại buổi lễ, đại diện Bộ Ngoại giao hứa bảo quản và sử dụng văn bản cổ này một cách hiệu quả nhất

Tờ công lệnh nói trên được viết bằng mực tàu trên giấy dó, gồm bốn trang khổ 20 x 30cm Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, Phó giám đốc Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Quảng Ngãi, cho biết đây là tờ công lệnh của quan Bố chánh sứ Quảng Ngãi dưới thời nhà Nguyễn, yêu cầu phái một đội thuyền gồm ba chiếc với 24 lính thủy ra đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (năm 1834) làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo

Tặng tờ lệnh quý về Hoàng Sa cho Nhà nước

Gia tộc họ Đặng ở đảo Lý Sơn đã trao tặng tờ lệnh điều quân ra bảo vệ Hoàng Sa của quan tỉnh Quảng Ngãi cách đây gần 200 năm cho Nhà nước

Sáng ngày 09-04-2010, tại huyện đảo Lý Sơn, đại diện Sở Văn hóa Thông tin Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đã tiếp nhận tờ lệnh quý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa từ gia tộc họ Đặng

Một phiên bản của tờ văn bản cổ nói trên cao 1,5 m, rộng 0,6 m, đặt trong khung kính, được Sở Văn hóa Thông tin Du lịch tỉnh Quảng Ngãi khắc tặng gia đình ông Đặng Lên để ghi nhớ công lao cất giữ, bảo quản bản tài liệu quý trong suốt 175 năm qua và nay tặng lại cho Nhà nước Ông Đặng Lên cho biết, phiên bản tờ lệnh quý sẽ được đặt tại nhà thờ gia tộc họ Đặng để nhân dân và du khách đến thăm đảo Lý Sơn có cơ hội tận mắt chứng kiến văn bản cổ quý báu này Dịp này, Sở cũng tặng giấy khen cho ông Đặng Lên Trước đó, huyện Lý Sơn có văn bản gửi các gia tộc trên đảo Lý Sơn đề cao cảnh giác, có biện pháp bảo vệ các văn bản, tài liệu cổ Ông Đặng Lên cũng liên tục được nhiều người lạ đến nhà hỏi về tờ lệnh Ngày 08-04-2010, ông Võ Xuân Huyện, chủ tịch Ủy ban

Trang 33

nhân dân huyện đảo Lý Sơn, nói: “Lực lượng chức năng của huyện luôn sẵn sàng hỗ trợ các gia tộc khi họ cần sự trợ giúp để bảo vệ các văn bản, thư tịch, tài liệu cổ mà họ đang nắm giữ”

2.1.4 Một số tư liệu nước ngoài, Điều ước quốc tế liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

2.1.4.1 Những bằng chứng thuyết phục của Việt Nam từ ngoài nước

Có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyên, Minh đến Thanh, trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 đã vẽ cực nam của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không vẽ bất cứ hải đảo nào khác ở biển Đông

Bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ trong cuốn Hoàng Thanh Nhất Thống dư địa toàn đồ xuất bản năm Quang Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18030’B, trong khi Tây Sa hay Hoàng Sa được Trung Quốc đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 1705’B Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa chưa hề là lãnh thổ của Trung Quốc

Trong khi đó, ngay tài liệu của chính người Trung Quốc như Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán đã cho biết Chúa Nguyễn sai thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bị đắm

ở Vạn Lý Trường Sa, tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục, năm 1776 của Lê Quý Đôn Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản

đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu

cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa

và đội Bắc Hải

Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821)

và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải

Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo

Trang 34

Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tài liệu rất quí giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục

Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản

Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam

2.1.4.2 Những tư liệu phương Tây xác nhận về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nhật ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam

Le mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels

An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong vùng biển của Việt Nam

The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels)

The Journal of the Geographycal Society of London (năm 1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels

2.1.4.3 Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng cho chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696 Trong quyển 3 của Hải Ngoại Ký Sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa

Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc

Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc

Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa

Trang 35

Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm, lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam

Theo Phạm Hoàng Quân (nhà nghiên cứu độc lập về cổ sử và cổ địa dư)

Phương chí, với nghĩa “chép rõ về một nơi”, là thuật ngữ để gọi chung cho loại sách địa lý đặc thù của Trung Quốc, trong đó gồm các loại: tổng chí (chép về cả nước), thông chí (chép về một tỉnh) và địa phương chí (chép về phủ, châu, huyện…)

Hầu hết các loại phương chí đều được thực hiện dưới sự chỉ đạo của hoàng đế và do chính quyền các cấp chủ trương tiến hành

Vậy các loại phương chí Trung Quốc chép gì về đơn vị hành chính cực nam của Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử nước này ,trong Tổng chí có nói:

Tổng chí khá hoàn chỉnh đầu tiên được biên soạn vào đời Đường Hiến Tông, do đại học sĩ giám tu quốc sử Lý Cát Phủ làm xong năm Nguyên Hòa thứ 8 (năm 813), có tên là

“Nguyên Hòa quận huyện đồ chí” Bộ tổng chí được liệt vào hạng xưa nhất này gồm 40 quyển (nay chỉ còn 34 quyển), phản ánh cơ cấu hành chính 10 đạo đã thiết lập năm 639 và ghi chép thực trạng 47 trấn đương thời, phân cấp đến phủ, châu, huyện và một số hương lớn

Phần viết về vùng đất cuối cùng phía biển nam nằm trong số quyển đã mất Vài học giả đời Thanh đã tham khảo các tài liệu cùng thời để viết thêm bộ “Nguyên Hòa quận huyện bổ chí” Bộ này cho thấy tỉnh/đảo Hải Nam ngày nay vào đời Đường là bốn châu Nhai, Đam, Vạn An và Chấn, thuộc đạo Lĩnh Nam, ở phía cực nam là hai huyện Ninh Viễn và Lâm Xuyên thuộc châu Chấn (nay là huyện Nhai, Hải Nam)

“Nguyên Phong cửu vực chí” thời Tống làm xong năm Nguyên Phong thứ 3 (1080),

do Nghị lang đồng tu quốc sử quán Vương Tồn nhận sắc chỉ biên soạn Sách này cho th ấy đơn vị hành chính cực nam là huyện/trấn Mại Viễn thuộc quận Chu Nhai, châu Nhai, lộ Tây Quảng Nam (nay là huyện Nhai, Hải Nam)

“Đại Minh nhất thống chí” là tên do Chu Kỳ Trấn (Anh Tông) đặt cho bộ tổng chí

có tên gốc là “Thiên hạ nhất thống chí”, do thượng thư bộ lại, đại học sĩ Lý Hiền làm tổng tài (chủ biên), làm xong năm 1461, gồm 91 quyển Quyển đầu của bộ tổng chí này có 16 bức địa đồ (1 bức toàn quốc, 1 bức Bắc Kinh, 1 bức Nam Kinh và 13 bức của 13 Ty Bố chánh) Bức địa đồ toàn quốc mang tên “Thiên hạ nhất thống chi đồ” và địa đồ Ty Bố chánh Quảng Đông với tên “Quảng Đông địa lý chi đồ” đều cho thấy cực nam lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến hết phủ Quỳnh Châu

Ghi chép về phủ Quỳnh Châu ở quyển 82 cho thấy sự nhất quán với cương giới mà phần địa đồ mô tả, cực nam dừng ở địa phận châu Nhai Các mục “Kiến trí diên cách” (Dựng đặt dời đổi), “Hình thắng” (Địa hình/Cảnh quan) và “Sơn xuyên” (Núi sông) không ghi chép gì về phía biển nam

Tổng chí đời Thanh có ba bộ, soạn lần đầu với tên “Đại Thanh nhất thống chí” (342 quyển, làm xong năm 1743), lần hai với tên “Khâm định Đại Thanh nhất thống chí” do đại học sĩ Hòa Thân nhận sắc soạn thêm (gồm 424 quyển, làm xong năm 1784), lần ba với tên “Gia Khánh trùng tu Đại Thanh nhất thống chí” do Hàn lâm viện biên tu Lý Tá Hiền soạn thêm theo sắc chỉ của vua Gia Khánh (650 quyển, làm xong năm 1842) “Khâm định Đại Thanh nhất thống chí” chép về cương giới phía nam cũng chỉ đến châu Nhai, thuộc phủ Quỳnh Châu như địa đồ “Quảng Đông toàn đồ” ở tờ 2, quyển 350 minh họa (hình 2.1)

Trang 36

Hình 2.1: Địa đồ trong cuốn“Quảng Đông toàn đồ” ở tờ 2, quyển 350

Mặt khác, có một chi tiết giúp xác định vùng Thất Châu Dương mà mấy chục năm nay học giả Trung Quốc cứ cho rằng nó là Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam) Ở quyển

350, mục “Sơn xuyên”, tờ 11 có đoạn: (dịch) “Thất Tinh sơn ở phía bắc huyện Văn Xương, Minh nhất thống chí viết rằng núi này có bảy ngọn, còn có tên là Thất Châu Dương sơn, thông chí Quảng Đông viết là nó cách huyện lỵ Văn Xương về phía bắc 150 dặm (khoảng 75km), ở ngoài biển khơi…”

Ghi chép này cho thấy nó kế thừa tổng chí đời Minh và tiếp thu kết quả khảo sát của thông chí địa phương, đồng xác định Thất Châu Dương tương ứng với Thất Châu liệt đảo

ở khoảng vĩ độ 20, phía đông tỉnh Hải Nam ngày nay, mà không phải là Hoàng Sa của Việt Nam

Trong Thông chí có nói:

Thông chí liên quan trực tiếp đến vùng biển phía nam Trung Hoa là các bộ thông chí tỉnh Quảng Đông, trước sau có năm bộ, đều do các quan chức cấp cao ở tỉnh chủ trì biên soạn Sớm nhất là “Quảng Đông thông chí” của Đới Cảnh thời Minh, làm xong năm 1535,

kế đến là bộ do Hoàng Tá chủ biên, 72 quyển, làm xong năm 1602

Đời Thanh gồm ba bộ của Kim Quang Tổ (1675); Hách Ngọc Lân, 64 quyển (1731); Nguyễn Nguyên, 334 quyển (1882) Trong “Quảng Đông thông chí” của Hách Ngọc Lân,

“Quảng Đông toàn tỉnh tổng đồ” ở quyển 3, trang 3 (hình 2.2 )cho thấy về cương vực, tức phạm vi quản lý hành chính của chính quyền cấp tỉnh, dừng ở phủ Quỳnh Châu

Trang 37

Hình 2.2: Địa đồ trong cuốn “Quảng Đông toàn tỉnh tổng đồ” ở quyển 3, trang 3

Địa đồ “Quỳnh Châu phủ toàn đồ” ở quyển 3, trang 22 (hình 2.3) lại có dòng chú thích “Quỳnh, bốn mặt là biển, không khảo được tám nơi tiếp giáp” Tron g “Quảng Đông thông chí” của Nguyễn Nguyên, “Quảng Đông dư địa tổng đồ” được vẽ theo kỹ thuật phương Tây, phân hệ thống kinh vĩ, giới hạn về phía nam chỉ thấy đến khoảng 18,5 độ vĩ bắc

Hình 2.3: Địa đồ trong cuốn “Quỳnh Châu phủ toàn đồ” ở quyển 3, trang 22

Trang 38

Và trong Địa phương chí có nói:

Địa phương chí cấp cơ sở liên quan trực tiếp đến vùng biển nam Trung Hoa là các phủ chí Quỳnh Châu, theo bộ “Quỳnh Châu phủ chí”, biên soạn sau cùng trong đời Thanh (1891), có tính kế thừa và bổ sung hoàn thiện từ bốn bộ trước đó

Các ghi chép về phạm vi cương giới cho thấy tương đồng với tổng chí và thông chí

đã đề cập, sách này cũng dẫn lời quận thú (quận trưởng) Tiêu Ứng Thực viết trong phủ chí năm 1774 về các nơi tiếp giáp, quyển 3, phần Dư địa chí, mục Cương vực chép:

“Quỳnh Châu là nơi giữa biển, nam là Chiêm Thành; tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc tiếp giáp huyện Từ Văn, phủ Lôi Châu” Trong nguyên tác của đoạn văn này, cách dùng chữ đối với hai trường hợp tiếp giáp cho thấy có sự phân biệt rõ ràng, các nơi ngoài Trung Quốc dùng chữ “tắc” (nghĩa “là”), còn nơi thuộc Trung Quốc thì dùng chữ “tiếp” (nghĩa “tiếp giáp, tiếp cận”), điều này cho thấy chính quyền nhà Thanh tuy biết có nơi là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường nhưng những nơi đó không thuộc sự quản lý hành chính của chính quyền đương thời Phương chí là một loại tư liệu lịch sử mang giá trị pháp quy, gắn liền với sự ổn định hoặc những biến động cương vực của một nước trong suốt quá trình cai trị của một triều đại và nhiều triều đại trong lịch sử

Các học giả Trung Quốc thường né tránh việc dẫn dụng sách phương chí, hoặc nếu

có thì chỉ trích dẫn các tiểu mục nói về sự tích nhân vật đạo sĩ, sư sãi hoặc các tiểu mục viết về quan hệ giao thương với nước ngoài Những trích dẫn loại này phải xem là sử dụng sai mục đích…, còn những phần đề cập trực tiếp đến địa lý hành chính không được nhắc đến

Phương chí cổ Trung Quốc chứa đựng nhiều sử liệu quý, có giá trị nhiều mặt trong việc tìm hiểu lịch sử các hoạt động xã hội Trung Quốc và các nước có biên giới lân cận Riêng việc xác định chủ quyền trong lịch sử đối với các nơi trên biển Đông, phương chí các loại từ đời Đường cho đến đời Thanh cho thấy không có ghi nhận nào thể hiện sự quản lý hành chính đối với Tây Sa và Nam Sa, là những nơi mà trong các loại thư tịch đồng dạng, Việt Nam đã ghi nhận bằng tên Hoàng Sa và Trường Sa

Phương chí là loại sách lịch sử – địa lý quan trọng hàng đầu trong kho tàng văn hiến Trung Hoa Các nước phương Tây và Nhật dùng nó làm cơ sở để nghiên cứu địa chính trị Trong nguồn thư tịch cổ Trung Quốc, các chuyên mục địa lý chí trong chính sử chỉ ghi nhận tổng quan, còn phương chí là nơi thể hiện rõ và cụ thể hơn các đơn vị hành chính Loại hình phương chí ra đời sau chính sử (địa lý chí), sau các chuyên thư về địa lý

và sau việc soạn vẽ địa đồ, và do phối hợp, phát triển từ các loại hình này dần trở thành loại sách công cụ để các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương theo dõi tình hình đất đai, nhân sự, công sở, binh bị, văn hóa, kinh tế, sản vật… thuộc địa bàn được đề cập

Trang 39

Sau đây là các bằng chứng đáng chú ý:

Các pháo hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễu trong vùng Biển Đông kể

cả Hoàng Sa và Trường Sa

Năm 1899 toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị với Pari xây tại đảo Hoàng Sa trong quần đảo Hoàng Sa một cây đèn biển để hướng dẫn các tàu biển qua lại vùng này, nhưng kế hoạch không thực hiện được vì thiếu ngân sách

Từ năm 1920, các tàu hải quan Đông Dương tăng cường tuần tiễu ở vùng Hoàng Sa

để ngăn chặn buôn lậu

Năm 1925, viện Hải dương học Nha Trang cử tàu De Lanessan ra khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương học Ngoài A Krempf, Giám đốc Viện hải dương học, còn có các nhà khoa học khác như Delacour, Jabouille nghiên cứu về địa chất, về sinh vật v.v Cũng trong năm 1925, ngày 3-3, Thượng thư Bộ Binh của Triều đình Huế Thân Trọng Huề lại khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ Việt Nam

Năm 1927 tàu De Lanessan ra khảo sát khoa học quần đảo Trường Sa

Năm 1929 phái đoàn Perrier - De Rouville đề nghị đặt 4 cây đèn biển ở 4 góc của quần đảo Hoàng Sa (đảo Tri Tôn, đảo Đá Bắc, đảo Linh Côn, bãi Bom Bay)

Năm 1930 tàu thông báo La Malicieuse tới quần đảo Hoàng Sa

Tháng 3-1931 tàu Inconstant ra quần đảo Hoàng Sa

Tháng 6-1931, tàu De Lanessan ra quần đảo Hoàng Sa

Tháng 5-1932, pháo hạm Alerte ra quần đảo Hoàng Sa

Từ 13-4-1930, đến 12-4-1933, Chính phủ Pháp đã cử các đơn vị hải quân lần lượt ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa: Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song

Tử, Loại Ta và Thị Tứ

Ngày 21-12-1933, thống đốc Nam Kỳ M J Krautheimer ký Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh

Bà Rịa

Năm 1937, nhà đương cục Pháp cử kỹ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng

Sa nghiên cứu chỗ xây dựng đèn biển, lập bãi thuỷ phi cơ

Tháng 2-1937 tuần dương hạm Lamotte Piquet do Phó đô đốc Istava chỉ huy thăm quần đảo Hoàng Sa

Ngày 29-3-1938, vua Bảo Đại ký Dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Nghĩa đặt vào tỉnh Thừa Thiên

"Chiếu chỉ các Cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các Cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Nghĩa: đến đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các Cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam Nghĩa

Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên Đại diện Chánh phủ Nam triều uỷ phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan Đại diện Chánh phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn

Dụ: Độc khoản: Trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên: về phương diện hành chánh, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy"

Trang 40

Ngày 15-6-1938 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên

Năm 1938, Pháp dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài

vô tuyến điện ở đảo Hoàng Sa, trong quần đảo Hoàng Sa, xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Itu Aba trong quần đảo Trường Sa

Hàng chữ trên bia: "Cộng hoà Pháp, Vương quốc An-Nam, quần đảo Hoàng Sa,

1816 - đảo Pattle - 1938" (1816 là năm vua Gia Long thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo Hoàng Sa, 1938 là năm dựng bia)

Ngày 5-5-1939 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định sửa đổi nghị định ngày 15-6-1938 nói trên và thành lập tại quần đảo Hoàng Sa hai cơ quan đại lý

"Croissant và các đảo phụ thuộc", "Amphitrite và các đảo phụ thuộc"

Suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phản kháng những hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo đó như:

Ngày 4-12-1931 và ngày 24-4-1932, Pháp phản kháng Chính phủ Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó có ý định cho đấu thầu khai thác phân chim trên quần đảo Hoàng Sa

Ngày 24-7-1933, Pháp thông báo cho Nhật việc Pháp đưa quân ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa;

Ngày 4-4-1939, Pháp phản kháng Nhật đặt một số đảo trong quần đảo Trường Sa thuộc quyền tài phán của Nhật

2.2.2 Việc bảo vệ và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa

và Trường Sa từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Khi trở lại Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu năm 1947 Pháp đã yêu cầu quân Trung hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

mà họ đã chiếm đóng trái phép cuối năm 1946 và Pháp đã cho quân đến thay thế quân đội Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện

Ngày 7-9-1951, trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại Trần Văn Hữu tuyên

bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký hoà ước với Nhật Bản rằng từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam: " và cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa"

Tuyên bố đó không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của đại diện 51 quốc gia tham dự Hội nghị

Năm 1953, tàu Ingénieur en chef Girod của Pháp khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương, địa chất, địa lý, môi sinh

Chính phủ Sài Gòn, sau đó là cả Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Dưới đây là một vài bằng chứng:

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w