LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Thuật ngữ "toàn cầu hoá" không còn là vấn đề xa lạ nữa với tất cả chúng ta, quá trình này vốn đã được hình thành từ vài thập niên trước đây và hiện nay nó đang cuốn tấ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
SINH VIÊN THỰC HIỆN TRẦN LƯU KIM NGÂN MSSV: 6076575
TOÀN CẦU HOÁ VÀ ĐỊNH LƯỢNG
TOÀN CẦU HOÁ (GLOBALIZATION AND QUANTITIVE
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước khi tiến hành xây dựng một đề tài luận văn, tôi không khỏi băn khoăn và
lo lắng vì không biết mình sẽ bắt đầu từ công việc gì để định hướng cho đề tài? Làm thế nào để tìm và chọn lọc nguồn tài liệu cho phù hợp với nội dung đề tài? Trong quá trình thực hiện có khó khăn gì không? Nhưng các vấn đề đó đã sớm biến mất trong suy nghĩ của tôi, nhờ có sự động viên của gia đình, thầy, cô và bạn bè Trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn đến những người thân trong gia đình đã luôn cổ vũ tinh thần cho tôi trong thời gian qua, và người quan trọng không kém - thầy Huỳnh Tương Ái đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này Xin chân thành cảm ơn sự chỉ dẫn và góp ý của thầy giúp tôi hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp Ngoài ra cũng xin gửi lời cám ơn đến các thầy, cô trong bộ môn Sư phạm Địa lý đã quan tâm và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài, cùng với sự động viên, trao đổi kiến thức của các bạn học Nhờ vậy, đã giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Để thực hiện được đề tài luận văn tốt nghiệp không phải là việc khó, quan trọng
là tìm được nguồn tài liệu gắn với nội dung nghiên cứu và vận dụng những kiến thức tham khảo được để đưa vào bài viết của mình Vì vậy, tôi cần có sự hướng dẫn, chỉnh sửa và bổ sung của giáo viên, sự trao đổi và chia sẻ kiến thức với bạn bè để bài viết có trọng tâm, nội dung rõ ràng, mạch lạc, khoa học và thể hiện được dụng ý của người viết Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, đã giúp tôi nắm được kỹ năng nghiên cứu, cách trình bày nội dung của luận văn và tiếp thu được những kiến thức mới trong sách vở cũng như trong thực tế Một lần nữa, tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Nhờ đó, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình theo kịp tiến độ và khá đầy đủ
Xin chân thành cảm ơn!
Người viết
Trang 3MỤC LỤC
Trang
CÁC TỪ VIẾT TẮT … 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 3
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6.1 Phương pháp luận 4
6.2 Phương pháp thu thập tài liệu 4
6.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp 4
6.4 Phương pháp ứng dụng các phần mềm tin học 4
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TOÀN CẦU HÓA TRÊN THẾ GIỚI 5
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TOÀN CẦU HÓA 5
1.1.1 Khái niệm toàn cầu hoá 5
1.1.1.1 Theo góc độ kinh tế 5
1.1.1.2 Theo góc độ chính trị 6
1.1.1.3 Theo góc độ xã hội 6
1.1.2 Lịch sử hình thành toàn cầu hoá 7
1.1.2.1 Giai đoạn thứ nhất (1492 - 1760) 7
1.1.2.2 Giai đoạn thứ hai (1760 - 1914) 8
1.1.2.3 Giai đoạn thứ ba (1980 đến nay) 9
1.1.3 Biểu hiệu của toàn cầu hoá 9
1.2 THÁI ĐỘ CỦA CÁC NƯỚC TRƯỚC TOÀN CẦU HÓA 10
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN THẾ GIỚI 12
1.3.1 Mặt tích cực 13
1.3.1.1 V ề kinh tế 13
1.3.1.2 V ề chính trị 14
1.3.1.3 V ề văn hóa - xã hội 14
1.3.2 Mặt tiêu cực 15
1.3.2.1 V ề kinh tế 15
Trang 41.3.2.2 V ề chính trị 15
1.3.2.3 V ề văn hóa - xã hội 16
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 17
CHƯƠNG 2 ĐỊNH LƯỢNG TOÀN CẦU HÓA 18
2.1 QUÁ TRÌNH "BUÔNG" CÂY OLIVE ĐỂ BƯỚC VÀO CHIẾC LEXUS CỦA CÁC NƯỚC 18
2.2 CÁC CHỈ SỐ VÀ TIÊU CHÍ ĐỊNH LƯỢNG TOÀN CẦU HÓA 24
2.2.1 Các chỉ số định lượng toàn cầu hoá qua đánh giá của KOF 24
2.2.1.1 Hàng hóa - dịch vụ 27
2.2.1.2 Di - nhập cư 30
2.2.1.3 Khoa học công nghệ - vốn 38
2.2.1.4 Thông tin - văn hóa 46
2.4 TOÀN CẦU HÓA BỀN VỮNG CHO MỌI NGƯỜI 47
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 49
CHƯƠNG 3 VIỆT NAM TRÊN TIẾN TRÌNH TOÀN CẦU HÓA 50
3.1 MÔ HÌNH TOÀN CẦU HÓA Ở VIỆT NAM 50
3.2 ĐÁNH GIÁ CỦA VIỆT NAM VỀ TOÀN CẦU HÓA 52
3.3 TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN VIỆT NAM 53
3.3.1 Mặt tích cực 53
3.3.2 Mặt tiêu cực 55
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 58
PHẦN KẾT LUẬN 1 TÓM TẮT VÀ KẾT LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 59
2 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 60
3 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 60
4 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
CÁC TỪ VIẾT TẮT
*****
ASEM: Asia Europe Summit Meeting - Hội nghị các Nguyên thủ quốc gia về
Hợp tác Á - Âu
APEC: Asia Pacific Economic Coporation - Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương
FDI: Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATT: General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp ước chung về thuế
quan và mậu dịch
Trang 5IMF: International Monetary Fund - Quỹ tiền tệ quốc tế
IOM: International Organization for Migration - Tổ chức quốc tế về di dân
M&A: Mergers and Acquisitions - Sự sáp nhập và mua lại các doanh nghiệp
ODA: Offical Development Assisstance - Viện trợ phát triển chính thức
TNCs: Trans National Corporations - Công ty xuyên quốc gia
UNCTAD: United Nations Conference of Trade and Development - Hội nghị Liên
Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
UNESCO: United Nation Education, Scientific and Culture Organization - Tổ
chức Liên Hiệp Quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
WTO: World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới
PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thuật ngữ "toàn cầu hoá" không còn là vấn đề xa lạ nữa với tất cả chúng ta, quá trình này vốn đã được hình thành từ vài thập niên trước đây và hiện nay nó đang cuốn tất cả các quốc gia trên giới vào vòng xoáy này, buộc các quốc gia phải tiến hành cải cách đất nước, trang bị những phương tiện cần thiết để tiến vào hội nhập đối với những nước chưa gia nhập toàn cầu hóa, riêng đối với các nước đã tham gia thì quá trình lại lôi cuốn vào sâu hơn nữa, tăng cường hội nhập hơn nữa nhằm "san phẳng thế giới trở thành một sân chơi mang tính toàn cầu" Có thể nói toàn cầu hóa là xu hướng phát triển của thế giới trong những thập kỉ gần đây, nhưng hiện nay toàn cầu hóa ngày
Trang 6càng được đẩy mạnh về quy mô và tốc độ, thể hiện rất rõ thông qua sự hợp tác liên kết, trao đổi giữa các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, đi lại giữa các nước… Hầu như ranh giới giữa các nước dần dần được xoá mờ và hàng rào thuế quan được nới lỏng hơn thậm chí là không còn sự rào cản nào
về mặt lãnh thổ Hiện nay, toàn cầu hóa được xem là sự phát triển tất yếu chứ không còn là xu thế chung của thế giới nữa Nhìn chung, toàn cầu hoá đem lại nhiều mặt tích cực và thuận lợi trong việc trao đổi quan hệ quốc tế, vì trong bối cảnh hiện nay một quốc gia muốn đẩy mạnh phát triển nền kinh tế cần phải hội nhập vào mái nhà chung thế giới nếu không muốn bị tụt hậu Tuy nhiên, những mặt tích cực do toàn cầu hoá mang lại cũng đi kèm với nhiều mặt trái nhất định, đó là điều tất yếu, quan trọng là các nước trên thế giới đã tận dụng những thuận lợi và khắc phục hạn chế từ xu thế toàn cầu như thế nào Chính vì vậy, tôi muốn đi vào tìm hiểu sự vận hành của toàn cầu hoá trên thế giới hiện nay thông qua đánh giá các chỉ số đo lường, nhìn nhận của các chuyên gia thế giới về toàn cầu hóa Qua đó, tiến hành phân tích và làm rõ những tác động của toàn cầu hoá đến nền kinh tế thế giới, quá trình tiến đến toàn cầu hóa của một số quốc gia, đặc biệt là các quốc gia khởi xướng và tiên phong trong hội nhập quốc tế
Ngoài ra, cũng cần liên hệ đến Việt Nam trong tiến trình hội nhập hiện nay, mô hình toàn cầu hoá của Việt Nam ra sao? Toàn cầu hoá ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào? Những vấn đề trên sẽ được làm rõ dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích, tổng hợp những thông số, đánh giá của các chuyên gia Việt Nam so với thế giới Đó là động lực thúc đẩy tôi đi vào tìm hiểu và tiến hành nghiên cứu về sự phát triển của thế giới
hiện nay: toàn cầu hoá Cũng chính là nguồn kiến thức cơ bản và bổ ích cho việc
giảng dạy của tôi ở trường Trung học phổ thông sau này
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu để giải quyết những thắc mắc của bản thân về các chỉ số đo lường ý nghĩa và những mặt tích cực lẫn tiêu cực của toàn cầu hoá
Nêu được những vấn đề nổi bật của toàn cầu hoá hiện nay Cần hiểu rõ cơ chế vận hành xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới và đánh giá đúng các khía cạnh của toàn cầu hoá
xe Lexus và cây Olive”, “Thế giới phẳng” và “Nóng, phẳng, chật” rất nổi tiếng,
George Soros với “Nhìn về toàn cầu hoá” và “Xã hội mở”… Bên cạnh đó các chuyên
Trang 7gia Việt Nam cũng có đề cập đến xu hướng này trong các bài viết trên các báo, tạp chí, mạng internet… Có thể nói đây là một vấn đề lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nền kinh tế thế giới, toàn cầu hóa không chỉ là sự quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức mà còn đối với cá nhân mỗi người, đồng thời là sự phát triển chung của các quốc gia trên thế giới Đây là một vấn đề rộng lớn, nhiều biến động, có nhiều nhận thức và quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa, đôi khi đối lập nhau Riêng tôi khi tiến hành nghiên cứu đề tài toàn cầu hoá, dựa trên những tài liệu tham khảo cùng với việc tiếp thu kiến thức trong nhà trường, sẽ phân tích và làm rõ các chỉ số định lượng toàn cầu hoá, quá trình gia nhập toàn cầu hóa của một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ
và những tác động cùng với mô hình của toàn cầu hoá ở Việt Nam cũng như trên thế giới Nhằm giúp người đọc có được cách nhìn tổng quát về sự phát triển của các nước
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
5.2 Quan điểm địa lý
Toàn cầu hoá được phân tích ở nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá… có thể được các chuyên gia nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau Nhưng nội dung của đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm địa lý vẫn bao hàm các lĩnh vực trên vì xét theo cách nhìn này thì các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá… vẫn thuộc phạm trù nghiên cứu của địa lý Nhằm làm nổi bật quá trình phát triển của các nước trong “sân chơi vốn đã được san phẳng”
5.3 Quan điểm lãnh thổ
Đề tài được xét trong phạm vi thế giới qua các chỉ số đo lường toàn cầu hoá, chứ không đi vào nghiên cứu quá trình toàn cầu hoá ở một quốc gia riêng biệt, cụ thể là sự tìm hiểu quá trình toàn cầu hóa ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới và Việt Nam Thông qua việc tìm hiểu về cách đánh giá của thế giới về toàn cầu hóa và thái độ của các nước đối với quá trình lịch sử này để làm rõ những mặt tích cực và tiêu cực do toàn cầu hoá mang lại, đồng thời giúp người đọc thấy được sự lan rộng của làn sóng toàn cầu hoá hiện nay là rất lớn và mạnh mẽ nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin
5.4 Quan điểm viễn cảnh
Với quan điểm này cho phép tôi có thể đưa ra nhận định về tình hình phát triển của
xu hướng toàn cầu hoá đã từng diễn ra trong lịch sử và trong bối cảnh hiện nay, thông qua việc tìm hiểu sự liên kết và hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới Từ việc tham
Trang 8khảo, phân tích và xử lý thông tin trên các nguồn tài liệu để có thể dự đoán xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới trong tương lai
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp luận
Để thực hiện được đề tài cần vận dụng những kiến thức địa lý, cụ thể là kiến thức
về địa lý kinh tế - xã hội kết hợp với những hiểu biết cơ bản về lĩnh vực kinh tế học để làm rõ được vấn đề toàn cầu hóa hiện nay và sự vận hành của nền kinh tế thế giới trong bối cảnh hội nhập và liên kết
6.2 Phương pháp thu thập tài liệu
Thu thập tài liệu để trang bị những kiến thức cơ bản, làm cơ sở cho việc thiết lập đề cương nghiên cứu và định hướng đúng nội dung nghiên cứu, cần chọn lọc tài liệu và tiến hành đi sâu vào đề tài nghiên cứu
6.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đây là phương pháp cần thiết và có tính khả quan, có tính thuyết phục cao Khi đã tập hợp được nguồn tài liệu thì việc tổng hợp thông tin, phân tích và xử lí số liệu phải được tiến hành Kết hợp với chọn lọc các nguồn tài liệu thích hợp để nội dung đề tài có
tính thuyết phục và đáng tin cậy hơn
6.4 Phương pháp ứng dụng các phần mềm tin học kết hợp với sử dụng một số hình ảnh minh họa
Sử dụng các phần mềm tin học như encarta và hình ảnh… để minh hoạ cho nội dung trình bày được trực quan, sinh động, đồng thời giúp người đọc thấy được tính chất và mối liên hệ giữa các vấn đề được nêu trong đề tài
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TOÀN CẦU HÓA TRÊN THẾ GIỚI 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TOÀN CẦU HÓA
1.1.1 Khái niệm toàn cầu hoá
Toàn cầu hóa là một thuật ngữ được sử dụng thường xuyên khi nói đến vấn đề kinh
tế, chính trị và trong cuộc sống hằng ngày thường được nhắc đến trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong các buổi hội thảo khoa học Có rất nhiều định nghĩa về toàn cầu hóa, tùy theo các nhà nghiên cứu, phân tích, diễn giải thuật ngữ này với ý nghĩa khác nhau theo các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Hơn nữa, một số người ủng hộ toàn cầu hóa thì đưa ra định nghĩa thiêng về mặt tích cực, trong khi những người phản đối toàn cầu hóa lại nhấn mạnh đến những yếu tố tiêu cực của
Trang 9nó Như vậy, có thể đưa ra một khái niệm tổng thể và khách quan thì toàn cầu hóa là quá trình liên kết, hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới về tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… làm cho khoảng cách giữa các quốc gia hầu như được thu hẹp lại Toàn cầu hóa là sự phát triển tất yếu và là yêu cầu khách quan đối với nhiều quốc gia trên con đường phát triển Toàn cầu hóa đem thế giới xích lại gần hơn, xóa dần những rào cản về biên giới quốc gia, thể chế chính trị cũng như sự khác biệt về văn hóa giữa các nước trên thế giới nhằm đạt đến mục tiêu cùng phát triển
1.1.1.1 Theo góc độ kinh tế
Các nhà kinh tế học thường đưa ra khái niệm này trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế Theo họ toàn cầu hóa là sự phát triển của một thị trường toàn cầu hợp nhất, hay là các điều kiện để dẫn đến một thị trường toàn cầu hợp nhất Toàn cầu hóa về kinh tế trong bối cảnh hiện nay không chỉ là sự kế thừa tiến trình quốc tế hóa như trước đây mà còn là kết quả của sự tăng nhanh với cường độ lớn hoạt động của các yếu
tố cơ bản: thương mại, tài chính, khoa học - công nghệ và các công ty xuyên quốc gia, đặc biệt công nghệ thông tin với phương tiện truyền thông hiện đại Internet đóng vai trò đòn bẩy Đồng thời sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng sâu sắc
và rõ nét hơn Sự phụ thuộc này thể hiện ở việc sản xuất nguồn nguyên liệu, thị trường đầu tư và tài chính, thị trường mua bán sản phẩm, thị trường lao động… Từ những đặc điểm trên đa số các nhà kinh tế học đều cho rằng toàn cầu hóa là sự liên kết kinh tế, thiết lập các mối quan hệ quốc tế và đồng thời là quá trình thay đổi để đi đến nhất thể hóa nền kinh tế thế giới Nhằm đạt đến một thị trường hợp nhất toàn cầu, thực hiện tự
do hóa và mở cửa nền kinh tế Mở cửa nền kinh tế có thể hiểu là xuất khẩu của một nước ngày càng chiếm tỉ lệ cao hơn trong GNP, đồng thời cả nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng đều phải tăng cường tìm kiếm từ tất cả các nguồn khi quyết định sản phẩm hoặc dịch vụ mà mình cần (kể cả trong nước hay nhập khẩu) Tự do hóa kinh tế nghĩa là các cá nhân, các công ty và các chính phủ ngày càng sẵn sàng tham gia vào nền kinh tế kinh tế giới, đồng nghĩa với việc phải cắt giảm các rào cản đối với các hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài
1.1.1.2 Theo góc độ chính trị
Không chỉ thay đổi ở lĩnh vực kinh tế, mà bản sắc văn hóa dân tộc, chủ quyền quốc gia, an ninh xã hội, lối sống… nói chung cũng bị biến đổi dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa Đối với góc nhìn từ chính trị, toàn cầu hóa còn phức tạp hơn nhiều, đây là một quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn, giữa một bên là quyền lực và lợi ích của các nước lớn, có thế lực với một bên là quyền lợi và chủ quyền quốc gia, dân tộc của các nước yếu hơn; bên cạnh đó mâu thuẫn giữa tăng trưởng của cải trong xã hội với sự phân phối không công bằng dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng
và rõ rệt giữa các khu vực, quốc gia, và trong từng nước; hay mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc; mâu thuẫn giữa phát triển đất nước với vấn đề môi trường do tác động tiêu cực của toàn cầu hóa gây ra… Suy cho cùng, những mâu thuẫn nêu trên đều bắt nguồn từ mâu thuẫn cơ bản, tổng quát nhất, đó là
Trang 10mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã được xã hội hóa đến mức cao độ vượt ra khỏi biên giới quốc gia với chế độ chiếm hữu tư bản từ trong mỗi nước, mỗi khu vực
1.1.1.3 Theo góc độ xã hội
Toàn cầu hóa đã thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa và quốc tế hóa lực lượng sản xuất, tạo ra sự cạnh tranh trực tiếp mạnh mẽ và nâng cao năng suất lao động Nếu như trong những năm 50 của thế kỷ XX GDP của toàn thế giới chỉ đạt khoảng 3000 tỷ USD, thì đến cuối thế kỷ con số này đạt đến 30.000 tỷ USD (tăng gấp 10 lần) Toàn cầu hóa đã thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật mới, giúp các nước có sự gắn kết, gần gũi với nhau và tăng cường hợp tác Các nước nghèo và đang phát triển nhờ vậy có thể rút ngắn thời gian phát triển thông qua tiếp nhận kinh nghiệm và nguồn vốn hỗ trợ từ các nước phát triển Điều cần thiết là các nước cần hiều rõ cơ chế và bản chất của toàn cầu hóa để tận dụng được những cơ hội và hạn chế những thách thức đi kèm nó
Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng đem lại sự bất bình đẳng trong xã hội, làm mở rộng khoảng cách giàu nghèo, trình độ phát triển giữa các nước khu vực, quốc gia và trong nội bộ từng nước Chính sự bất bình đẳng trong xã hội sẽ kéo theo những hệ lụy
về an ninh, bất ổn định, tội phạm, ma túy, mại dâm, khủng bố, ô nhiễm môi trường, xung đột tôn giáo, sắc tộc, đời sống con người bị đe dọa…
Khi nói đến toàn cầu hóa không ít người đã liên tưởng đến sự bất công toàn cầu, đến sự phân hóa giàu - nghèo sâu sắc và quy luật "cá lớn nuốt cá bé" Hay một số người trong giới tri thức châu Âu cho rằng quá trình toàn cầu hóa chẳng qua là "Mỹ hóa" Chính vì vậy, đã làm xuất hiện hai trường phái đối lập nhau: ủng hộ và chống đối toàn cầu hóa
Quả thật, quá trình toàn cầu hóa đều có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực Có thể ví quá trình này như "con dao hai lưỡi", nhưng toàn cầu hóa cũng không phải là hiện tượng nhất thời điều quan trọng là các quốc gia trên thế giới phải làm thế nào để quá trình toàn cầu hóa được vận hành một cách có hiệu quả và phù hợp, như đã từng được vận dụng trong sự phát triển thành công của nhiều nước Đông Á Như vậy mới có thể mang lại nhiều lợi ích cho cả những nước đang phát triển, các nước nghèo và đã phát triển trên thế giới
1.1.2 Lịch sử hình thành toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa luôn gắn liền với sự phát triển tất yếu của nhân loại được chứng minh qua các giai đoạn phát triển của nó Nhìn lại lịch sử phát triển của của thế giới, ngay từ thời kỳ phong kiến, biên giới kinh tế, chính trị, văn hóa giữa các quốc gia đã trở nên khó bền vững hơn mặc dù độc lập lãnh thổ và bản sắc dân tộc vẫn được tôn trọng và bảo vệ Nhưng với sự liên kết về quân sự của các nước Đồng minh từ cuối chiến tranh thế giới thứ nhất cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ, giao thông và thông tin liên lạc từ nửa sau thế kỷ 20 thì thế giới dường như bị thu hẹp lại cả về không gian lẫn thời gian, biên giới quốc gia hầu như bị mờ đi, không còn là
sự rào cản đáng lo ngại, như cách gọi của Thomas Friedman là "thế giới phẳng" trong
Trang 11tác tác phẩm cùng tên Theo ông, thế giới ngày càng được san phẳng và đã trải qua ba
kỷ nguyên toàn cầu hóa Thomas Friedman cho rằng: kỷ nguyên thứ nhất kéo dài từ năm 1492 - khi Columbus giương buồm, mở ra sự giao thương giữa thế giới cũ và thế
giới mới cho đến khoảng năm 1800, ông gọi thời kỳ này là toàn cầu hóa 1.0 Kỷ nguyên thứ hai kéo dài từ năm 1800 đến năm 2000, ông gọi là toàn cầu hóa 2.0 (mặc
dù thời kỳ này bị gián đoạn bởi cuộc Đại khủng hoảng và hai cuộc chiến tranh Thế
giới) Kỷ nguyên thứ ba từ năm 2000 đến nay, và ông gọi là toàn cầu hóa 3.0
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và các cuộc phát kiến vĩ đại đã thúc đẩy xu hướng giao lưu, buôn bán, hợp tác, liên kết để cùng phát triển của các nước trên thế giới Như vậy, có thể thấy toàn cầu hóa là quy luật phát triển khách quan của nền kinh tế thế giới Nó bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ Hiện nay, toàn cầu hóa đang cuốn hút tất cả các nước trên thế giới vào vòng xoáy của nó
Có thể phân chia quá trình hình thành toàn cầu hóa thành 3 giai đoạn:
1.1.2.1 Giai đoạn thứ nhất (1492 - 1760)
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự kiện Christopher Columbus tình cờ phát hiện ra châu Mỹ và kéo dài đến cuối thế kỷ 18 Ban đầu, mục tiêu của Columbus không phải là châu Mỹ mà là Ấn Độ và châu Á với mục đích đi tìm con đường tơ lụa mới trên biển và quan trọng không kém là tìm nguồn hương liệu, gia vị, chất bảo quản thực phẩm nhằm mang lại sự giàu có, thịnh vượng cho cả Columbus và vương quốc Tây Ban Nha; thay cho con đường tơ lụa trên bộ đã bị phong tỏa bởi các nhà buôn Ả rập Ngay sau Columbus, các nước châu Âu khác cũng thi nhau cử những đoàn tàu vượt đại dương với cùng mục đích, lúc này thời kỳ của những nhà thám hiểm và chinh phục đại dương bắt đầu
Hệ quả của làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất là thế giới đã có sự phân hóa một cách
rõ nét Nếu như trước năm 1500, trình độ phát triển và điều kiện sống của con người trên thế giới tương đối đồng đều thì đến cuối thế kỷ 18 đã có sự chênh lệch đáng kể (về thu nhập, tuổi thọ, mức sống…)
Làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất cũng chứng kiến một sự di cư ồ ạt của những người nô lệ da đen Do tình trạng thiếu nhân công ở Anh, Pháp, sau này là ở châu Mỹ dẫn đến các nước thực dân nô lệ hóa và cưỡng bức khoảng 10 triệu người da đen từ châu Phi di cư sang những nước này Vì vậy, ngày nay nếu đến vùng Caribe sẽ bắt gặp rất nhiều người da đen thì ta biết rằng họ chưa hẳn là hậu duệ trực tiếp của những người bản địa
Suy cho cùng, giai đoạn toàn cầu hóa thứ nhất chính là lịch sử của các cuộc chinh phạt và sự manh nha của chủ nghĩa thực dân cả về kinh tế lẫn quân sự
1.1.2.2 Giai đoạn thứ hai (1760 - 1914)
Giai đoạn toàn cầu hóa thứ hai được đánh dấu bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, khởi thủy từ nước Anh vào nửa cuối thế kỷ 18 và kéo dài cho đến thế chiến thứ nhất Sự xuất hiện của máy hơi nước, hệ thống đường sắt, điện tín…cùng với làn
Trang 12sóng toàn cầu hóa thứ hai đã đưa thế giới bước sang một quỹ đạo mới Bên cạnh những điều thần kỳ mà cuộc cách mạng công nghiệp mang lại cho nước Anh cũng như một số nước công nghiệp khác thì thời kỳ này cũng hình thành một giai cấp mới - giai cấp vô sản bị bần cùng hóa Cũng từ đây xuất hiện sự đối lập giữa một bên là giới tư bản - nắm giữ các tư liệu sản xuất, và một bên là giai cấp công nhân - được tự do bán sức lao động nhưng hoàn toàn vô sản Cuộc đấu tranh giai cấp làm nên một phần lịch
sử nhân loại cũng bắt đầu từ đó
Chứng kiến sự phát triển vượt bậc của nước Anh trong vòng vài chục năm kể từ khi bắt đầu công nghiệp hóa, các nước châu Âu khác (sau đó có cả Nhật Bản và Mỹ) ý thức được rằng cuộc chạy đua về sức mạnh kinh tế và quyền thống trị thế giới đến bây giờ mới thực sự bắt đầu Chính cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bản chất của cuộc đua này Xét trên thực tế, nếu như vào đầu thế kỷ 18, dưới tác động của toàn cầu hóa thứ nhất, thu nhập bình quân của các nước Tây Âu chỉ cao hơn các nước Đông
Âu khoảng 20% thì đến năm 1890 con số này đã lên đến 80% Năm 1914, năm bắt đầu của chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới như đi vào ngõ cụt khi một nước muốn thoát khỏi thân phận thuộc địa buộc phải thuộc hóa kẻ khác, đây cũng chính là chiến lược thống trị của các nước phương Tây, Nhật Bản và Mỹ trong làn sóng toàn cầu hóa thứ hai
* Giai đoạn 1914 - 1980
Đây là thời kỳ làn sóng toàn cầu hóa thứ hai bị gián đoạn bởi cuộc Đại khủng hoảng và hai cuộc chiến tranh Thế giới, đồng thời mâu thuẫn nội tại chủ nghĩa thực dân cũng như mâu thuẫn giữa nhân dân thuộc địa với các nước thực dân cũng đặt dấu chấm hết cho giai đoạn toàn cầu hóa này Mặc dù Thế chiến thứ hai đã cho thấy nhu cầu hợp tác và xích lại gần nhau giữa các quốc gia, một số thể chế đã hình thành ngay sau chiến tranh thế giới như UN, WB, IMF…nhưng từ năm 1945 - 1980 làn sóng toàn cầu hóa thế giới vẫn không thể lan xa được do bị chặn đứng bởi bức màn thép và vực thẳm về ý thức hệ giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Hệ quả là thương mại quốc tế trong giai đoạn này chỉ diễn ra trong nội bộ của từng chế độ nhưng không
có sự phát triển mạnh mẽ
1.1.2.3 Giai đoạn thứ ba (1980 đến nay)
Làn sóng toàn cầu hóa thứ ba chỉ thật nổi lên vào những năm 1980, được đánh dấu bởi container hóa, ngành vận tải hàng không, cước phí thông tin liên lạc giảm một cách nhanh chóng, sự ứng dụng rộng rãi của công nghệ sinh học và điện tử cùng với sự xuất hiện và phát triển như vũ bão của internet Có thể nói toàn cầu hóa trong thời đại ngày nay đã phát triển cả về quy mô lẫn cường độ một cách mạnh mẽ Cũng như cách
gọi của Thomas Friedman giai đoạn này là Toàn cầu hóa 3.0, Toàn cầu hóa 3.0 làm
thế giới co từ cỡ nhỏ xuống cỡ siêu nhỏ, đồng thời san bằng sân chơi toàn cầu và trao quyền cho các cá nhân Toàn cầu hóa gia tăng tốc độ đã làm thu hẹp về không gian, khoảng cách giữa con người với nhau từ việc ăn, mặc, ở, việc làm, đi lại, giải trí, thông
Trang 13tin, tôn giáo, văn hóa… Hệ quả của việc thu hẹp khoảng cách là sự phụ thuộc lẫn nhau được thể hiện rõ hơn
Một lần nữa, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới, khi mà gia tốc của thế giới tăng lên không ngừng nếu chậm chân thì dễ bị tụt hậu Trong những năm 1980 khi
mà các nước Mỹ Latin đang trong tình trạng "một thập niên bị đánh mất" và phần lớn các nước châu Phi đang hứng chịu hậu quả từ nội chiến, những cuộc xung đột, chính sách kém cỏi của Nhà nước thì hai người khổng lồ Trung Quốc và Ấn Độ đã bừng tỉnh Hai nước này đã có hướng đi đúng khi quyết định đưa nền kinh tế ra khỏi quỹ đạo cũ hòa mình vào trào lưu chung của thế giới Công cuộc mở cửa nền kinh tế và phát triển theo hướng thị trường hóa đã mang lại cho hai quốc gia này những thành tựu
về kinh tế rất đáng nể Ấn Độ duy trì mức tăng trưởng kinh tế bình quân 6-7% kể từ những năm 1990, Trung Quốc là 8-9% trong suốt hơn 30 năm trở lại đây
1.1.3 Biểu hiệu của toàn cầu hoá
Xu hướng toàn cầu hóa ra đời từ rất sớm, có thể nhận thấy qua mô tả của Thomas Friedman trong cuốn "Thế giới phẳng", ông cho rằng toàn cầu hóa đã xuất
hiện từ lúc Colombus trên con đường tìm đến Ấn Độ phát hiện ra châu Mỹ - năm
1492 Đó là hành trình đi tìm nguồn nguyên liệu mới, lúc này ngành thương mại thế giới đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ, sự giao lưu giữa cựu thế giới và tân thế giới cũng được hình thành từ giai đoạn này
Tuy nhiên, lúc này chỉ có thể gọi toàn cầu hóa đang trong quá trình phôi thai và thật sự phát triển từ chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà tiền tệ, hàng hóa, thông tin và con người có sự lưu thông quốc tế ngày tăng cao và dễ dàng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ Các rào cản đối với thương mại quốc tế đã được cắt giảm đáng kể từ chiến tranh thế giới thứ hai thông qua các hiệp ước của tổ chức GATT như Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch nhằm thúc đẩy thương mại tự
do Ngoài ra, toàn cầu hóa còn thể hiện qua sự hình thành một cơ sở hạ tầng toàn cầu dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ; Sự phát triển mạnh mẽ và tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia (phụ lục hình 1, 2); hay ngày càng có nhiều tổ chức quốc
tế chuyên trách về những lĩnh vực khác nhau được thành lập như IMF, WTO, UN, EU, OPEC, ASEM…, (phụ lục hình 3, 4, 5, 6) một trong những biểu hiện của toàn cầu hóa
ở châu Âu là sự hình thành liên minh châu Âu với đơn vị tiền tệ chung đồng Euro, cùng với sự phát triển của quan hệ thương mại thương mại quốc tế; Sự sáp nhập và hợp nhất các công ty thành những tập đoàn lớn, nhất là các công ty khoa học - công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước Trong giai đoạn đầu, toàn cầu hóa chỉ phát triển Tây Âu và Mỹ, chủ yếu vào một số ngành như nông nghiệp
và công nghiệp nặng Ngày nay, toàn cầu hóa đã trải rộng trên khắp thế giới mà tiêu biểu cho tiến trình này là địa bàn hoạt động của các công ty đa quốc gia ngày càng được mở rộng Mặt hàng buôn bán không còn đơn thuần chỉ là sản phẩm hàng hóa mà còn là các dịch vụ và các sản phẩm tài chính Cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc
Trang 14tế cũng đã thay đổi rất nhiều và trong giai đoạn hiện nay toàn cầu hóa đã khác trước rất nhiều
Sự biểu hiện của toàn cầu hóa trong lĩnh vực kinh tế lại rất rõ ràng:
- Thương mại quốc tế đạt đến sự tăng trưởng rất cao Trao đổi hàng hóa trên thế giới phát triển liên tục từ những năm 50 với mức độ gia tăng trung bình hàng năm là 6%, con số này còn tăng nhanh hơn cả mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội thực tế
- Thị trường vốn gồm các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ phát triển kinh tế (ODA), các khoản đầu tư qua thị trường chứng khoán… được mở rộng về qui mô, di chuyển nhanh theo xu hướng tự do hơn; lượng đầu tư nước ngoài trực tiếp trên toàn thế giới trong các thập kỷ vừa qua tăng từ 500 tỷ USD (năm 1980) lên 4100
Một đặc điểm biểu hiện nổi bật nhất của tiến trình toàn cầu hóa chính là sự dịch chuyển, cũng có thể gọi là "dòng chảy" của các yếu tố: hàng hóa - dịch vụ; thông tin - văn hóa; di - nhập cư; khoa học kỹ thuật - tiền tệ (thuộc dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài) trong giai đoạn tự do thương mại Những dòng chảy này ngày càng được lưu thông tự do và dễ dàng xuyên quốc gia trong thế giới toàn cầu hóa mà không bị giới hạn bởi một rào cản nào về mặt địa lý
1.2 THÁI ĐỘ CỦA CÁC NƯỚC TRƯỚC TOÀN CẦU HÓA
Toàn cầu hóa là quy luật phát triển khách quan của nền kinh tế thế giới Nhưng nhìn chung, chỉ có các nước giàu ca ngợi toàn cầu hóa và thiêng về nhấn mạnh các mặt thuận lợi của nó Họ cho rằng đây là cơ hội để các nước nghèo và các nước đang phát triển tranh thủ vươn lên thoát khỏi tình trạng kém cỏi về kinh tế để trở nên giàu có như những con rồng châu Á Trong khi đó, các nước nghèo và các nước đang phát triển thì
lo lắng, trăn trở trước những khó khăn, thách thức và mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa
Có một điểm chung giữa các nước là hầu hết họ đều cảnh giác trước sự bá quyền của Mỹ trong quá trình toàn cầu hóa Các quan chức cấp cao EU cũng đã kêu gọi xây dựng một thế giới đa cực, trong đó EU phải là một trong những cực mạnh nhất, đồng thời kêu gọi phải giữ gìn bản sắc văn hóa châu Âu trước sự thâm nhập và bành trướng mạnh mẽ của văn hóa Mỹ Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Vedrine cũng từng cho rằng Mỹ hiện nay đã trở thành "siêu siêu cường" (Hyperpuissance) vì Mỹ đã vượt trội các nước khác cả về kinh tế, tiền tệ, công nghệ, quân sự, lối sống, ngôn ngữ và các sản phẩm văn hóa đại chúng Mỹ đã và đang tung các thế mạnh đó ra thế giới nhằm nhào nặn mọi người theo cách suy nghĩ, cách sống, cách hành động kiểu Mỹ Suy nghĩ này
đã được nhiều nước chia sẻ Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Teo Chee Hean từng
Trang 15phát biểu tại cuộc hội thảo tại Pháp nhân kỷ niệm 20 năm thành lập Viện Quan hệ quốc tế Pháp (IFRI) rằng: "Điều bất hạnh là toàn cầu hóa thực tế là một sự Mỹ hóa"
Vì vậy các nước nghèo và đang phát triển một mặt thừa nhận toàn cầu hóa sẽ tiếp tục là phát triển trong thế kỷ 21, mặt khác đòi hòi toàn cầu hóa phải mang đến những
cơ hội đồng đều cho tất cả các nước Trước hết là xóa nợ cho các nước nghèo, phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nước nghèo và các nước đang phát triển có khả năng hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa Để được như vậy các nước phát triển không được dùng các tổ chức và thể chế quốc tế áp đặt các luật chơi có lợi cho họ nhưng gây bất lợi cho các nước nghèo và các nước đang phát triển Chẳng hạn các nước phát triển đòi hỏi mở cửa thị trường cho các lĩnh vực mũi nhọn mà họ chiếm ưu thế trong khi khép lại hoặc bảo hộ thị trường của họ đối với mặt hàng truyền thống hoặc còn chút ưu thế đối với các nước nghèo và đang phát triển, buộc các nước nghèo phải cơ cấu lại nền kinh tế trong khi họ không chịu cơ cấu lại nền kinh tế của mình
Các nước phát triển chủ yếu đầu tư lẫn nhau, còn số vốn đầu tư vào các nước đang phát triển rất ít, trong đó các nước nghèo lại còn nhận phần ít hơn nữa Họ đòi hỏi các nước đi vào nền kinh tế thị trường, hội nhập tiến trình toàn cầu hóa, đẩy nhanh
tư nhân hóa, dân chủ hóa theo kiểu phương Tây Điều mà các nước tư bản phương Tây muốn là làm sao nhào nặn các quốc gia dân tộc trên thế giới này theo khuôn mẫu tư bản chủ nghĩa phương Tây của họ
Khi mọi người phê phán, chỉ trích toàn cầu hóa, họ thường đề cập đến vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế xảy ra khi các nước hạ thấp các rào như thuế nhập khẩu, mở cửa nền kinh tế cho đầu tư và thương mại của các nước khác trên thế giới Những người chỉ trích toàn cầu hóa cho rằng sự bất bất bình đẳng trong hệ thống thương mại toàn cầu hiện nay sẽ ảnh hưởng xấu đến các nước đang phát triển nhưng làm lợi cho các nước phát triển Pierre Bourdieu - nhà triết học và xã hội học của Pháp từng lên tiếng chỉ trích tiến trình toàn cầu hóa, ông cho rằng đây chẳng qua là quá trình
"Mỹ hóa" - Americanization Có những người lại cho rằng toàn cầu hóa trong kinh tế, văn hóa lại là một trạng thái đề cao thế giới một cực, tâng bốc sức mạnh kinh tế và quyền lực quân sự của Mỹ để khẳng định nền văn hóa có thiêng hướng thế giới, một lối sống toàn cầu theo mô hình: Thế giới Mỹ (American world) Dĩ nhiên, họ sẽ khó chấp nhận điều này khi gia nhập toàn cầu hóa Nhưng đồng thời, họ cũng thấy được mặt tốt đẹp của tiến trình này khi đưa ra lời nhận định: Toàn cầu hóa cũng được biểu hiện qua trạng thái tính chung của nhân loại:
+ Sự giao thoa sức mạnh tâm hồn của các dân tộc, bao gồm cả các nước có hàng
tỷ dân cho đến những nước chỉ có vài triệu dân và cả các dân tộc khoảng vài nghìn người
+ Sự đóng góp phong phú, đa sắc tộc, độc đáo có bản sắc riêng của từng loại hình nghệ thuật và phong tục tập quán, lối sống của từng dân tộc
+ Những giá trị dân tộc được bảo tồn nguyên vẹn để đưa vào đặc điểm chung bền vững của nhân loại trong nhận thức cũng như trong nghệ thuật của các dân tộc
Trang 16+ Ảnh hưởng của Mỹ nếu có, đối với các dân tộc thì cũng bình đẳng so với ảnh hưởng của các nước như: Nga, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Ả rập… có nghĩa là quy trình tất yếu phù hợp với quy luật giao lưu văn hóa
+ Các dân tộc dễ dàng thông tin cho nhau bằng ngôn ngữ riêng qua mạng tra cứu google đã sử dụng 116 ngôn ngữ từ tiếng Ả rập cho đến tiếng của các dân tộc thiểu số
ở Trung Quốc Một khi các dân tộc thông tin cho nhau bằng ngôn ngữ của riêng mình tức là ngôn ngữ đó có cơ hội tồn tại
Những người ủng hộ toàn cầu hóa cho rằng nhờ có quá trình toàn cầu hóa, mở cửa nền kinh tế đã giảm được tình trạng đói nghèo Họ còn cho rằng, thương mại tự do
sẽ dẫn đến sự phân phối nguồn tài nguyên hiệu quả hơn, với tất cả những ai tham gia vào quá trình tìm kiếm lợi ích từ thương mại Theo cuộc điều tra của Trung tâm The Pew thì ở rất nhiều nước đang phát triển có sự ủng hộ rất mạnh mẽ cho nhiều lĩnh vực khác nhau của sự hội nhập, đặc biệt là thương mại tự do và đầu tư trực tiếp Điển hình
là ở vùng châu Phi hạ Sahara Toàn cầu hóa đối với những người ủng hộ dường như là một yếu tố dẫn đến phát triển kinh tế theo số đông
Ý thức được những bất lợi, thách thức, mâu thuẫn trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu hóa thế giới, các nước nghèo và đang phát triển đòi hỏi "toàn cầu hóa phải được thuần hóa và nhân văn hóa" Trước mắt, tất cả các nước nhất là các nước phát triển phải cùng quan tâm đến các vấn đề bức xúc hiện nay: xóa đói giảm nghèo,
an ninh lương thực, nguồn nước, bảo vệ môi trường, đạo đức xã hội và sự đa dạng văn hóa… Toàn cầu hóa là một tiến trình lịch sử chứ không phải là sự phổ cập tức thì, là một sự phát triển chứ không phải giải pháp Cho nên, mỗi quốc gia phải tùy theo hoàn cảnh cụ thể của nước mình mà tìm hướng đi phù hợp trong quá trình gia nhập toàn cầu hóa
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN THẾ GIỚI
Cách mạng khoa học công nghệ là một động lực xuyên quốc gia, nó đang tạo cơ sở vật chất cho tiến trình toàn cầu hoá, thúc đẩy sự chuyển dịch kinh tế, cơ cấu kinh tế, làm thay đổi nhiều quan niệm cũ ở các lĩnh vực trên phạm vi quốc gia và quốc tế Toàn cầu hoá buộc các quốc gia chủ động xác định lộ trình hội nhập vào mọi mặt đời sống nhất là lĩnh vực kinh tế của thế giới Nhưng toàn cầu hóa không phải là hoàn mỹ,
vô khuyết, nó có cả hai mặt: tích cực và tiêu cực Nó có thể làm tăng nhanh lượng của cải, vật chất cho thế giới; làm cho đời sống vật chất cũng như tinh thần của từng cá nhân trong xã hội mau chóng được cải thiện; đồng thời toàn cầu hóa làm cho các dân tộc trên thế giới gần gũi, thân thiện và hiểu biết nhau nhiều hơn Tuy vậy, toàn cầu hóa cũng đem lại nhiều khó khăn và bất lợi cho nhiều người, nhiều dân tộc như làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bất bình đẳng trong xã hội, vấn đề an ninh chính trị, chủ quyền quốc gia dễ bị xâm phạm, các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ bị mai một và mất gốc…
1.3.1 Mặt tích cực
1.3.1.1 V ề kinh tế
Trang 17Do tác động của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hiện đang chuyển thành một
hệ thống liên kết ngày càng chặt chẽ thông qua các mạng lưới công nghệ thông tin Từ cuối thế kỷ 20 trở lại đây dưới sự tác động của toàn cầu hóa, sự chuyển dịch hàng hóa, dịch vụ và các nguồn vốn đầu tư giữa các nước gia tăng ngày một nhanh chóng, đã tạo
ra sự biến đổi về chất so với trước đây
- Trong tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, các nước đang phát triển thu hút đầu tư nước ngoài, nhập thiết bị, kỹ thuật tiên tiến, đổi mới cơ cấu ngành, nhờ đó đã thúc đẩy nền kinh tế nước mình phát triển Còn các nước phát triển thì mở mang thị trường mới tại các nước đang phát triển, sử dụng nguồn nhân lực giá rẻ và nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú để hạ chi phí sản xuất thừa tương đối nhưng nhu cầu trong nước đã bảo hòa tương đối
- Tạo điều kiện cho việc hợp tác, tham gia vào các liên minh kinh tế khu vực và thế giới giữa các quốc gia Từ đó, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển và xã hội hóa của lực lượng sản xuất, mang lại sự tăng trưởng kinh tế cao Khi phân tích kinh tế
về tác động của toàn cầu hóa, ông Dollar thuộc Ngân hàng thế giới cho rằng: các nước đang phát triển có mức tăng thương mại cao nhất thể hiện qua phần trăm GDP những năm sau 1980 đã thu được mức tăng trưởng cao hơn và nhanh hơn so với thời trước toàn cầu hóa cũng như so với các nước đang phát triển không gia nhập toàn cầu hóa
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế thế giới, đồng thời toàn cầu hóa giúp sản xuất nhiều của cải vật chất hơn và mang lại sự tự do hơn
- Nhờ sự vận hành của toàn cầu hóa đạt hiệu quả nên dòng vốn được di chuyển thuận lợi hơn, có thể gọi là dòng vốn lưu chuyển xuyên quốc gia Dòng vốn thường được rót vào các quốc gia đang phát triển hay những quốc gia có lao động rẻ và các điều kiện thuận lợi khác (nguồn tài nguyên, lao động dồi dào…) Nhờ đó, các nước này có thêm điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, một số nước đã đạt được sự tiến bộ đáng kể như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam Mặc dù việc làm ở các quốc gia phát triển có giảm đi nhưng lợi nhuận thu được từ thương mại đã tạo nên những việc làm mới có giá trị cao hơn
- Tham gia toàn cầu hóa giúp các nước đang phát triển tận dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, tận dụng được thành tựu của khoa học - kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển và thu hút được đội ngũ lao động
có trình độ kỹ thuật cao Đồng thời khi gia nhập toàn cầu hóa, những tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng số đang làm cho thế giới "phẳng ra" và không còn nhiều trở ngại
về địa lý như trước "Điều này đã mở ra cho các nước những phương thức sản xuất - kinh doanh, những tình thế địa - chính trị và địa - kinh tế hoàn toàn mới" (Thế giới phẳng - The world is flat, Thomas Friedman)
1.3.1.2 V ề chính trị
Trang 18- Tình hình thế giới trong những năm gần đây cho thấy rõ là lực lượng hòa bình trên thế giới đang phấn đấu tiếp tục phát triển, đạt đến sự hợp tác và phát triển vẫn là
xu hướng chung của thời đại ngày nay
- Toàn cầu hóa sẽ làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ giữa các nước, giữa công dân trên thế giới cũng như các cơ hội cho từng quốc gia và từng người mà không
có sự rào cản về mặt địa lý, văn hóa, chính trị Nhờ có toàn cầu hóa kinh tế, nhằm đạt đến mục tiêu cùng phát triển mà các nước đã ngồi lại với nhau, tiến hành trao đổi, buôn bán, hợp tác để cùng phát triển không phân biệt chế độ chính trị ASEAN là một điển của việc từ đối đầu chuyển sang đối thoại giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á để đạt đến một cộng đồng ASEAN thịnh vượng
1.3.1.3 V ề văn hóa - xã hội
- Tiến trình toàn cầu hóa không chỉ tác động đến kinh tế hay chính trị mà cả trên lĩnh vực văn hóa, xã hội Nó liên quan đến sự chung sống giữa các nền văn hóa Toàn cầu hóa sẽ tạo ra sự đa dạng cho các cá nhân vì họ có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hóa và văn minh khác nhau trên thế giới
Thực tế đã cho thấy toàn cầu hóa văn hóa hiện nay diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống như: hệ tư tưởng; đời sống tôn giáo; đặc biệt toàn cầu hóa diễn ra sôi động trên các lĩnh vực truyền thông (báo chí, internet, truyền hình, phát thanh…), vui chơi giải trí (âm nhạc,thể thao, các trò chơi…), du lịch, lối sống, phương tiện sống (ăn, mặc, ở, đi lại), giao tiếp hàng ngày
- Các nước còn có điều kiện giao lưu, trao đổi về văn hóa với nhau, nhờ vậy tiếp thu được những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa nhân loại Toàn cầu hóa sẽ giúp con người hiểu rõ hơn về thế giới và những thách thức ở quy mô toàn cầu thông qua sự bùng nổ các nguồn thông tin, việc phổ thông hóa các hoạt động du lịch, việc tiếp cận dễ dàng hơn với giáo dục và văn hóa thế giới
1.3.2 Mặt tiêu cực
1.3.2.1 V ề kinh tế
- Toàn cầu hóa đã không thành công trong việc bảo đảm sự ổn định, không những thế còn gây ra những điều bất cập, khó khăn như Joseph E Stiglitz - tác giả của cuốn "Toàn cầu hóa và những mặt trái" đã từng đề cập, ông còn khẳng định: Chính sách đòi hỏi các nước phải tự do hóa thị trường tài chính, nới lỏng việc kiểm soát chu chuyển vốn cũng "chỉ tạo ra sự phá hoại" và những dòng tiền chạy ra khỏi các nước một cách đột ngột sẽ để lại sau lưng nó sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá, và sự suy sụp của cả hệ thống ngân hàng Khủng hoảng tài chính trở thành một hiểm họa luôn đe dọa các nền kinh tế mới nổi lên Các chính sách như duy trì chế độ hạn ngạch đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển, hay tiếp tục trợ cấp nông nghiệp khiến cho
Trang 19hàng nông sản của các nước đang phát triển khó cạnh tranh, dẫn đến hậu quả là “nhiều nước nghèo nhất thế giới thực ra còn bị làm cho nghèo hơn”
- Cơ chế hoạt động của toàn cầu hóa là hội nhập, xóa bỏ các hàng rào thuế quan
và phi thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài, điều đó có nghĩa là hàng hóa trong nước sẽ phải cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nước ngoài, có thể dẫn đến sự thiệt thòi cho những hàng hóa nội địa có năng suất thấp, giá thành cao hay chất lượng thua kém hàng hóa ngoại nhập Gia nhập toàn cầu hóa sẽ dẫn đến sự cạnh tranh rất gay gắt, đặc biệt là đối với các nước nghèo và đang phát triển vẫn còn trong tình trạng thiếu thốn về cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật còn yếu kém so với các nước phát triển, nếu không tự chủ động nâng cao cạnh tranh hoặc không đủ khả năng chống chọi lại sức ép
từ bên ngoài sẽ dễ dàng "bị bỏ rơi" trong cuộc chạy đua toàn cầu này
- Nhiều người, đặc biệt là những người thuộc các quốc gia kém phát triển đã bị toàn cầu hóa làm tổn thương vì không có sự hỗ trợ của hệ thống an toàn xã hội; Những người khác thì bị cách ly bởi thị trường toàn cầu Chẳng hạn, khi các nước phát triển dựa vào lợi thế của họ về vốn, kỹ thuật và thực lực kinh tế hùng mạnh để vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thế giới thì đồng thời họ cũng giữ vai trò trong tiến trình toàn cầu hóa Các nước nghèo sẽ bị lệ thuộc nhiều hơn vào các nước phát triển Nghĩa là sự thua thiệt lúc nào cũng rơi vào những nước nghèo và kém phát triển
1.3.2.2 V ề chính trị
- Toàn cầu hóa làm cho các quốc gia ít bị ràng buộc về địa lý, lãnh thổ đã trở thành động lực thúc đẩy quan hệ quốc tế phát triển Tiến trình này còn đặt ra những vấn đề phải xử lý, liên quan đến độc lập chủ quyền lãnh thổ, hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội Ví dụ: khi Việt Nam gia nhập ASEAN, tính độc lập của quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước thành viên trong khu vực Như vậy, sự ổn định của hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội sẽ luôn luôn chịu áp lực bởi những đòi hỏi mới để phù hợp với quá trình thực hiện tự do hóa thương mại đối với ASEAN
- Nền độc lập, tự chủ, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của các nước, nhất là những nước nhỏ, các nước kém phát triển đang đứng trước nguy cơ tiềm tàng của sự can thiệp của các nước lớn và quốc tế Vì vậy, lãnh đạo các nước này phải thường xuyên cảnh giác, ứng phó với mọi tình huống chính trị xấu có thể xảy ra để đảm bảo nền độc lập, chủ quyền, an ninh chính trị của mình Cần có những chính sách giữ vững và ổn định nền chính trị tránh sự can thiệp của các thế lực bên ngoài vào công việc nội bộ của quốc gia mình
1.3.2.3 V ề văn hóa - xã hội
- Mặc dù toàn cầu hóa đã đem lại cho các nước sự tăng trưởng cao và liên tục, đặc biệt là đối với các nước nghèo và đang phát triển, nhưng nó cũng mang đến những thách thức đáng kể, đó là sự gia tăng phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội Sự chênh lệch giàu nghèo hầu như không được rút ngắn mà ngày càng có chiều hướng gia tăng giữa các khu vực, các quốc gia và trong nội bộ từng nước
Trang 20- Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo vẫn ngày càng gia tăng 1% người giàu nhất của dân số thế giới lại có thu nhập bằng 57% người nghèo nhất Hơn 1
tỷ người có mức sống dưới 1 đô la/ngày, gần 1 tỷ người thiếu nước sạch, 826 người bị suy dinh dưỡng (Nguồn: Báo cáo về sự phát triển con người tại New York: Chương trình phát triển Liên hiệp quốc UNDP, 2001) và có khoảng 10 triệu người chết mỗi năm vì thiếu dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản (Theo Ủy ban Kinh tế vĩ mô và Y tế, Đầu tư vào y tế để phát triển kinh tế - Tổ chức Y tế thế giới, tháng 12/2001) Điều tệ hại hơn
là người nghèo "bị chìm trong văn hóa của sự nghèo khó" - thuật ngữ của Micheal Harrington - nhà văn của Mỹ, phản ánh thực chất của một xã hội phân hóa thành giàu sang và nghèo khó Trong một quốc gia, dù người nghèo và người giàu "cùng nói một ngôn ngữ nhưng lại hoàn toàn không hiểu được nhau" - Thomas Friedman
Hình 1.1 Sự phân bố GDP (PPP) bình quân theo đầu người
của thế giới năm 2006 (Đơn vị USD)
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Thuật ngữ toàn cầu hóa được đề cập rất nhiều trong sách báo, các tạp chí hay các cuộc hội thảo Với nghĩa bao hàm toàn cầu hóa là sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia để cùng phát triển vốn bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất Dưới
Trang 21tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ làm cho toàn cầu hóa trở thành mái nhà chung, tạo điều kiện thuận lợi cho các nước tăng cường giao lưu, hợp tác với nhau Được biểu hiện qua việc thành lập các tổ chức lớn như WTO, EU, ASEAN, NAFTA… cùng với sự ra đời của các công ty xuyên quốc gia… đã làm cho toàn cầu hóa phát triển với quy mô lớn hơn, thương mại quốc tế cũng tăng lên Nhờ vậy các nước được lợi hơn trong việc hội nhập quốc tế, kinh tế đất nước phát triển, đời sống người dân được nâng cao hơn Tuy vậy, song song với điều lợi thì toàn cầu hóa vẫn tồn tại những tác động tiêu cực đến thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo Vì vậy, các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo và đang phát triển đều cố gắng tận dụng những mặt lợi và hạn chế tối đa những tác động xấu do toàn cầu hóa mang lại nhằm đạt đến mục tiêu phát triển bền vững
CHƯƠNG 2 ĐỊNH LƯỢNG TOÀN CẦU HÓA 2.1 QUÁ TRÌNH "BUÔNG" CÂY OLIVE ĐỂ BƯỚC VÀO CHIẾC LEXUS CỦA CÁC NƯỚC
Nguyên tắc cơ bản của toàn cầu hóa là cạnh tranh Một khi toàn cầu hóa diễn ra thì cạnh tranh trở nên gay gắt hơn Xét cho cùng, cạnh tranh toàn cầu chính là sự xung đột, mâu thuẫn giữa những điều mới mẻ với những thứ cũ xưa, đã được Thomas Friedman dùng hình ảnh chiếc Lexus hiện đại của hãng Toyota - ở phía Nam Tokyo, Nhật Bản và cây Olive già cỗi bên bờ sông Jordan làm ẩn dụ trong tác phẩm "Chiếc Lexus và cây Olive" Qua những câu chuyện sinh động từ những chuyến đi khắp nơi, Friedman miêu tả cuộc xung đột giữa chiếc Lexus và cây Olive - tượng trưng cho quan
Trang 22hệ căng thẳng giữa hệ thống toàn cầu hóa hiện đại với những sức mạnh văn hóa, địa lý truyền thống và cộng đồng từ ngàn xưa Ông còn đưa ra nhận định rất mới mẻ và táo bạo: "Toàn cầu hóa là một thế lực không gì ngăn cản nổi, được thúc đẩy bởi những bước tiến dài trong các lĩnh vực công nghệ, truyền thông và tài chính…"
Điều quan trọng mà tất cả các nhà lãnh đạo các nước vấp phải là thực tế không thể chối cãi rằng: các thị trường mở và cạnh tranh là phương thức bền vững duy nhất để đưa quốc gia mình thoát khỏi đói nghèo Vì đó là cách duy nhất để giúp các ý tưởng, công nghệ và kỹ năng mới dễ dàng chảy vào đất nước mình Các công ty tư nhân, ngay
cả chính phủ cũng sẽ có động lực cạnh tranh và trở nên linh hoạt hơn trong việc ứng dụng các ý tưởng, thúc đẩy tạo ra việc làm và sản phẩm Theo nghiên cứu của nhà kinh
tế học Jeffrey Sachs (Giám đốc Viện Địa cầu của đại học Columbia) và viện phát triển Harvard đã cho thấy chính sách mở cửa là lựa chọn số một cho sự phát triển đất nước Sachs cho biết các nền kinh tế mở đã đạt tốc độ nhanh hơn 1,2% /năm so với các nền kinh tế đóng, có thể kiểm soát được tất cả mọi thứ bởi vì chính sách càng thông thoáng thì mức độ hội nhập càng cao trong thế giới của những ý tưởng, thị trường, công nghệ
và cải cách quản lí ngày nay Điều này cũng lý giải cho tình trạng suy giảm GDP bình quân đầu người ở các nước từ chối toàn cầu hóa, không quyết định bước vào chiếc Lexus hay còn ngập ngừng không chịu buông cây oliu già cỗi Trong khi đó, một số nước có tầm nhìn xa hơn vì họ đã dứt khoát bước lên chiếc Lexus, không còn tư duy bám rễ cây oliu và họ đã vạch ra chiến lược cho mình để giành thế làm chủ chiếc Lexus trong hôm nay Một minh chứng cho thấy đó là sự gia tăng GDP bình quân đầu người của các nước chuyển từ mô hình xã hội chủ nghĩa sang mô hình toàn cầu hóa trong thập niên 1990 Cũng như David Dollar và Art Kray đã kết luận trong cuốn Trade, Growth, and Poverty (Thương mại, Phát triển và Đói nghèo) rằng: tăng trưởng kinh tế và thương mại vẫn là chương trình chống đói hiệu quả nhất trên thế giới
Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, trong năm 1990 có khoảng 375 triệu người Trung Quốc sống dưới mức nghèo đói, thu nhập bình quân chưa tới 1 dollar/ngà y Nhưng đến năm 2001, con số này giảm còn 212 triệu người và đến năm 2015, nếu vẫn tiếp tục duy trì chiều hướng tăng trưởng kinh tế và phát triển thương mại thì chỉ còn 16 triệu người sống dưới mức 1 dollar/ngày Ở Nam Á, đặc biệt là Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, số người sống dưới mức 1 dollar/ngày đã giảm từ 462 triệu người năm
1990 xuống còn 431 triệu người năm 2001 và sẽ còn 216 triệu người năm 2015 Ngược lại, ở khu vực châu Phi hạ Sahara, là nơi diễn ra toàn cầu hóa diễn ra chậm chạp, năm 1990 có 227 triệu người sống dưới 1 dollar/ngày, năm 2001 con số này lên đến 313 triệu người và ước tính đến năm 2015 sẽ là 340 triệu người
Mặc dù khủng hoảng toàn cầu năm 2008 đã làm đảo lộn trật tự kinh tế thế giới nhưng New Delhi hay Bắc Kinh, Brazil ngày nay đang nắm trong tay những chìa khóa tương lai quan trọng không kém Washington hay Paris Khủng hoảng nghiêm trọng nhất sau Chiến tranh thế giới thứ hai là cú nhảy tuyệt vời đưa các nước đang phát triển tiêu biểu là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil trở thành những cường quốc kinh tế của thế
Trang 23giới, các nền kinh tế mới nổi này đã biết tận dụng, nắm bắt những cơ hội để được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa đồng thời xác định rõ một vị trí mới trên bàn cờ thế giới: kiểm soát 52% sản lượng công nghiệp toàn cầu, 80% dự trữ ngoại tệ của thế giới và 66% các dịch vụ tài chính của nhân loại Theo các chuyên gia dự báo: tỷ lệ tăng trưởng trung bình cho năm 2011 gần như không thay đổi so với năm 2010, GDP toàn cầu dự trù tăng từ 3 đến 4% Nếu như các nước công nghiệp phát triển đạt được mức tăng trưởng từ 2 đến 2,5% thì đó là một thành tích vượt bậc đáng nể Thế nhưng thực tế phũ phàng hơn, đó là đà tăng trưởng của châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản lại chập chờn, nạn thất nghiệp thì được nói ví von: "sau đợt thủy triều dâng trong hơn 2 năm vừa qua, mực nước chỉ rút một cách hết sức chậm chạp" Tại một quốc gia được xem
là có thị trường năng động nhất châu Âu là Tây Ban Nha có đến 20% dân số trong độ tuổi lao động không có việc làm Ngay cả nước Mỹ cũng chưa mấy khi phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp gần 10% như hiện nay Trong khi đó, nhìn từ các nền kinh tế đang phát triển, Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF hay Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế - OECD đều dự báo trong năm 2011 khối nước này sẽ không khó khăn gì để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 5 đến 9%
Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã lan rộng toàn cầu, bất chấp tình hình kinh tế toàn cầu khá rối ren, nhiều nước đang trỗi dậy như Trung Quốc, Ấn Độ hay Brazil vẫn đạt được thành tích tăng trưởng 10%, đây là tỷ lệ mà các nước phương Tây không dám mơ tới
Không thụ động chờ làn sóng toàn cầu hóa lướt qua như những lần trước, nhiều quốc gia không những chủ động buông cây oliu mà còn giành lợi thế để làm chủ chiếc Lexus theo từng cách riêng của mình Tiêu biểu là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,
Ấn Độ, Singapore… Sự dùng dằng vừa buông vừa giữ, không dứt khoát đã đẩy các nước châu Phi chìm sâu vào sự hỗn loạn, mất ổn định; làm cho khoảng cách giàu nghèo và sự lạc hậu ngày một xa so với sự phát triển chung của toàn cầu Ngày nay, chúng ta đang chuyển từ thời kỳ "cá lớn nuốt cá bé" sang thời kỳ "trâu chậm uống nước đục", cho nên một sự chậm trễ nào cũng dễ dẫn đến tụt hậu, thua kém nếu không muốn nói là bị loại khỏi vòng chơi trong thế giới toàn cầu hóa Nhưng buông cây oliu một cách đột ngột để chọn chiếc Lexus đồng hành trên con đường phát triển sẽ dẫn đến những hệ quả tiêu cực và thật tai hại, cũng như các nước Đông Âu và Liên Xô cũ
Hệ quả là những cánh đồng oliu trở nên xơ xác và hoang tàn
Trong những năm gần đây, thế giới xuất hiện một kiểu buông cây oliu mới của Trung Quốc, đây là một cách buông rất linh hoạt và tinh xảo Trước khi thực hiện thao tác buông cây oliu, Trung Quốc đã chuẩn bị những bước đệm và trong tư thế sẵn sàng bước vào chiếc Lexus một cách an toàn và thành công Về tư duy, Trung Quốc thể hiện sự quyết tâm đổi mới triệt để Trong hội nhập quốc tế thì thể hiện sự dứt khoát, chủ động nắm lấy thời cơ, nhưng biện pháp thực hiện lại rất mềm dẻo, thận trọng và quyết đoán Khôn ngoan hơn nữa, Trung Quốc còn chú trọng đến việc bảo tồn bản sắc dân tộc, nền văn hóa đặc trưng của mình, biến nó trở thành thế mạnh để cạnh tranh
Trang 24toàn cầu Trung Quốc không chỉ giành lợi thế mở cửa chiếc Lexus trước nhiều nước đang đồng hành với mình như Ấn Độ, các nước Mỹ Latinh… mà còn theo đuổi đến cùng chiến lược làm chủ nó Kể từ năm 1979, trong hơn 30 năm mở cửa và hội nhập
để phát triển, Trung Quốc đã nhận được những khoản tín dụng khổng lồ từ hầu hết các nước tư bản phát triển, kể cả Đài Loan và Hồng Kông (khi Hồng Kông chưa trở về với Trung Quốc) Tổng số vốn trong hai thập niên 80 và 90 lên đến 700 tỷ USD Trung Quốc đã thành công trong việc thành lập các đặc khu kinh tế, điển hình là Thâm Quyến (phụ lục hình 7), các khu chế xuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao cùng với đặc khu kinh tế Hồng Kông đã được Anh trả về cho Trung Quốc từ năm 1997 (phụ lục hình 8) Với những khoản tín dụng rất lớn, kinh tế Trung Quốc trong hơn 30 năm qua
đã có những bước phát triển và tăng trưởng với tốc độ chưa từng có trên thế giới Tính đến cuối năm 2008, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đạt 1.946 tỷ USD, tăng hơn 417,8
tỷ USD so với năm 2007, nhờ vậy đã giúp Trung Quốc tiếp tục đứng đầu thế giới về
dự trữ ngoại tệ Trong số 1.946 tỷ USD dự trữ ngoại tệ thì có khoảng 1000 tỷ USD đã được dùng để mua các khoản nợ của chính phủ, các cơ quan chính phủ của Mỹ và các nước phương Tây Trong bối cảnh kinh toàn cầu, đặc biệt là trong tình hình kinh tế Mỹ đang suy thoái như hiện nay thì Trung Quốc với việc giữ các khoản nợ này đã và đang góp phần quan trọng cho việc ổn định thị trường tài chính tiền tệ của Mỹ và các nước phương Tây khác Điều này cho thấy vai trò và sức ảnh hưởng của Trung Quốc rất lớn trong nền kinh tế thế giới Suốt mấy mươi năm qua, Trung Quốc luôn giữ mức tăng trưởng hơn 8%/năm Năm 2007 Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế đứng thứ ba thế giới vượt qua Đức, chỉ đứng sau Mỹ và Nhật Bản thì đến năm 2009 đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, vượt qua cả Nhật Bản, chỉ sau Mỹ Hiện nay, Trung Quốc đang kiểm soát đến 9% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu, 7% nhập khẩu của cả thế giới, nắm trong tay hơn 2500 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ, phần lớn là công trái của Mỹ và Nhật Với tốc độ này, theo các chuyên gia kinh tế thế giới thì đến năm
2050, Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc kinh tế số một thế giới
Trung Quốc đã tận dụng nguồn lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nay lại có thêm vốn dư thừa để trang bị những thiết bị đồng bộ hiện đại, càng tạo ra năng suất lao động cao, giảm giá thành sản phẩm và biến sản phẩm của mình thành những mặt hàng có sức cạnh tranh đặc biệt trên thị trường thế giới, ngang tài ngang sức với
Mỹ, Nhật Bản và EU Chính sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc đã thể hiện được sức đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997 ở châu Á, cho nên Trung Quốc không rơi vào khủng hoảng hoặc có chăng cũng chỉ là sự tác động nhẹ đến nền kinh tế bởi vì Trung Quốc có nền kinh tế đa dạng hơn, không phụ thuộc vào các mặt hàng tiêu dùng xuất khẩu, không xây dựng các công trình bất động sản một cách ồ ạt bằng mọi giá và nâng giá bất động sản bằng hình thức giả tạo Trong những ngành cụ thể, Trung Quốc có sự điều hành và kiểm soát chặt chẽ của chính phủ Tất nhiên sự mất giá của đồng tiền trong khu vực đã ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Trung Quốc - đặc biệt là các mặt hàng nhu yếu phẩm và hàng tiêu
Trang 25dùng Thế nhưng Trung Quốc không phá giá đồng Nhân dân tệ, tức là chứng minh được sức cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc
Có thể nói, Trung Quốc là một ông khổng lồ đang vươn dậy, nhưng ông khổng lồ này lại lệ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu và năng lượng của thế giới Trung Quốc còn đang đặt ra nhiều mục tiêu tham vọng khác như cải thiện môi trường, tạo cuộc sống an sinh xã hội… nhằm nâng cao cuộc sống cho người dân Đây mới thật sự
là những tham vọng của một đất nước Trung Quốc lớn mạnh
Tiếp theo phải kể đến Ấn Độ, nếu như trong thập niên 80 Ấn Độ được xếp vào nhóm những nước kém phát triển thì đến năm 1998, tổng sản phẩm quốc dân của Ấn
Độ đã đạt 420 tỉ USD, đứng thứ 11 trên thế giới Tính đến năm 2000, nền kinh tế Ấn
Độ đứng thứ 5 trên thế giới, chỉ sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Đức Trong năm
mở cửa đầu tiên, kinh tế Ấn Độ đạt mức tăng trưởng 1% (1991) Đến năm 1995, con
số này đã là 6% Hàng xuất khẩu của Ấn Độ tăng bình quân 20% trong suốt 6 năm qua
và tăng liên tục Lạm phát giảm còn 5% Có thể khẳng định Ấn Độ thành công khá ngoạn mục trong chính sách hội nhập theo định hướng thị trường tự do thế giới, hoàn toàn phù hợp với tiến trình toàn cầu hóa Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Ấn
Độ trong nửa đầu thập niên 90 đã đưa đất nước giảm được số nợ nước ngoài rất đáng
kể so với thời gian cùng kỳ thập niên 80 Trong nửa đầu thập niên 80, tổng số nợ nước ngoài của nước này bằng 41% tổng sản phẩm quốc nội Nhưng 10 năm sau con số này chỉ còn 26% Nguồn đầu tư vào Ấn Độ tăng nhanh, kinh tế phát triển ổn định Xuất khẩu tăng từ 5% (năm 1990) lên đến 9,4% (năm 1996) so với tổng sản phẩm quốc dân Đặc biệt một thành công lớn đáng nể không chỉ ở Ấn Độ mà còn trên thế giới, là sự phát triển kỹ thuật phần mềm vi tính Trung tâm kỹ thuật phần mềm Bangalore có hơn 20.000 chuyên gia cao cấp, tạo ra hàng loạt sản phẩm chất lượng quốc tế, đạt hiệu quả kinh tế rất cao Trung tâm này gia công cho rất nhiều nước trên thế giới với đủ các chủng loại tùy theo đơn đặt hàng của họ Năm 1995, trung tâm kỹ thuật phần mềm Bangalore có 300 xí nghiệp chuyên sản xuất các chương trình phần mềm, trong đó có
200 xí nghiệp của các công ty xuyên quốc gia, kể cả Microsoft, IBM, Motorola, Siemens… Bangalore xuất khẩu kỹ thuật phần mềm ngày một tăng, chỉ riêng năm
về nguồn nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực dịch vụ phần mềm tài chính
Trang 26Tuy vậy, Ấn Độ cũng rất thận trọng và khôn khéo trong quá trình thực hiện việc
"buông" cây oliu để bước vào chiếc Lexus, Ấn Độ không hoàn toàn tiếp nhận bằng mọi giá những khoản tín dụng và đầu tư của các nước tư bản tập hợp trong OECD Trong khi Malaysia và Indonesia đều đã tiếp nhận tín dụng và đầu tư nước ngoài nhiều hơn Ấn Độ Đồng thời, Ấn Độ cũng không thực hiện "mở toang" cánh cửa cho ai muốn vào cũng được, hàng hóa nào cũng chấp nhận Ước tính có đến 40% hàng hóa nước ngoài vào Ấn Độ vẫn phải chịu thuế suất khá cao - nhằm bảo hộ hàng nội địa, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ như xe hơi sang trọng, đắt tiền; hàng điện tử cao cấp; dược phẩm và nhất là đối với các mặt hàng tơ lụa vốn là thế mạnh của nước này, mang lại giá trị kinh tế cao và giải quyết việc làm cho hàng chục triệu lao động Những mặt hàng này chịu mức thuế tới 25% - cao gấp đôi so với các nước châu Á (từ
10 - 12%) Hiện tại, các nước đang thúc giục Ấn Độ mở rộng cửa hơn nữa nhằm tạo yếu tố cho sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ của đất nước
Theo phân tích của chuyên gia các nước cho rằng: Ấn Độ không gắn chặt nền kinh
tế trong nước với thị trường thế giới nên họ không bị cuốn theo cơn lốc của cuộc khủng hoảng mà hầu hết các nước châu Á đã lâm vào Một khi đã bị cuốn vào cơn lốc khủng hoảng sẽ dẫn đến xã hội lao đao, việc khắc phục nó không phải một sớm một chiều đã thực hiện được, nhất là khó có thể tạo dựng được bước phát triển và tăng trưởng như đất nước đã từng đạt được
Thái Lan hiện đang là quốc gia đứng trước tất cả các nước trong khu vực khi xét đến hầu hết các chỉ số về mặt xã hội và chất lượng cuộc sống Trong hơn 40 năm qua, Thái Lan đã được hưởng lợi từ một xã hội mở và một nền kinh tế mở cửa, quốc gia Đông Nam Á này đã đạt được thành công trong mở việc mở cửa khu vực chế tạo Tại khu vực này Thái Lan đã khá năng động và thu hút được nhiều nguồn đầu tư nước ngoài Hiện nay Thái Lan đang nhanh chóng chuyển sang phát triển khu vực dịch vụ Thái Lan đã phát triền do tiếp cận với các thị trường phương Tây và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư phương Tây và Nhật Bản và đã dẫn đầu châu Á trong những năm 1960
và 1970 trong việc thực hiện một cách thành công nhưng không ép buộc chương trình
kế hoạch hóa gia đình, hạ thấp tỷ lệ sinh cho sự phát triển kinh tế
Khu vực nội địa của Thái Lan dự kiến sẽ tăng trưởng mạnh hơn nữa nhờ thu nhập
từ xuất nhập khẩu, nông nghiệp và du lịch đang được cải thiện dẫn đến tiêu dùng trong nước gia tăng Theo Ủy ban phát triển Xã hội và Kinh tế quốc gia (NESDB) Thái Lan, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Thái Lan tăng trưởng khoảng 3,5%-4,5% trong năm 2010, với những chỉ số kinh tế lạc quan hơn, các nhà hoạch định chính sách Thái Lan tỏ ra tin tưởng về sự đảo chiều kinh tế
Bên cạnh đó, một số vùng lãnh thổ khác của châu Á cũng đạt được những bước phát triển cao và tăng trưởng ổn định khi gia nhập quá trình toàn cầu hóa như: Hồng Kông, Đài Loan… Cả Hồng Kông và Đài Loan đều được hưởng lợi từ chính sách mở cửa đột phá của Trung Hoa đại lục Tuy nhiên, hai vùng lãnh thổ này có những điều kiện và hướng phát triển riêng Những thành công kinh tế của Đài Loan trước hết là
Trang 27nhờ sự lựa chọn công nghệ tạo được bước tiến công nghiệp hóa trong các ngành kinh
tế mũi nhọn Thi trường rất rộng lớn của họ đã tạo cho Đài Loan xuất siêu nhiều hơn bất cứ quốc gia trong cán cân thương mại với các đối tác Đài Loan đã từng và hiện có nguồn ngoại tệ dự trữ rất lớn (từ 90 đến 100 tỷ USD) Số tiền khổng lồ này đã giúp họ đứng vững trong cơn lốc của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu Á năm 1997, cơn lốc này đã làm sụp đổ hàng loạt các "con rồng", "con hổ" châu Á lúc bấy giờ Dù vậy, cuộc khủng hoảng ở châu Á cũng phần nào làm đồng đôla Đài Loan mất giá đến 10% Đổi lại, từ chính sách mở cửa của Trung Quốc đã mang đến cho Đài Loan những khoản lợi rất lớn Kể từ khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa năm 1979 đến năm 2000 đã có hơn 35.000 hãng, công ty Đài Loan đầu tư vào đất liền với số tiền lên đến hơn 50 tỷ USD Những khoản tiền khổng lồ này đã giúp cho Trung Quốc tạo được
sự tăng trưởng và phát triển kinh tế vượt bậc trong suốt hơn 20 năm qua Cũng nhờ đó, Đài Loan đã hưởng lợi rất lớn trong dịch vụ đầu tư khổng lồ này, càng làm cho nền kinh tế của họ phát triển, dự trữ ngoại tệ cao và ổn định nhờ cán cân thanh toán luôn xuất siêu
Đối với đặc khu hành chính Hồng Kông, từ khi Trung Quốc mở cửa, kể cả sau khi Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc, có một thị trường rộng lớn gần như vô tận Hàng chục tỷ USD từ Hồng Kông thi nhau chảy vào đại lục Thế mạnh tuyệt đối của Hồng Kông là dịch vụ, vì lý do đó mà đồng tiền của họ hầu như không bị suy giảm, càng không bị phá giá do cạnh tranh xuất khẩu như hàng loạt các nước khác khi rơi vào khủng hoảng
Trong tương lai, lợi ích của một nền kinh tế mở sẽ tăng lên gấp bội, vì trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa, kiến thức chính là chìa khóa vàng để mở cửa tăng trưởng kinh tế, nếu một quốc gia cứ nhất mực khư khư níu giữ nền kinh tế đóng, từ chối sự hội nhập, từ chối những thành tựu và khoa học công nghệ tốt nhất của thế giới sẽ dẫn đến sự tụt hậu, thậm chí sẽ không còn chỗ ngồi hay vị trí đứng nào trên "con tàu phát triển" đang tăng tốc không ngừng trên tuyến đường toàn cầu hóa này Đó cũng là lý do
vì sao các nước có chính sách thông thoáng, dễ thích ứng và sáng tạo lại tiến tới toàn cầu hóa một cách thuận lợi hơn những nước có chính sách bảo thủ, cứng nhắc, phủ nhận toàn cầu hóa, không thích ứng với nền kinh tế mở
2.2 CÁC CHỈ SỐ VÀ TIÊU CHÍ ĐỊNH LƯỢNG TOÀN CẦU HÓA
2.2.1 Các chỉ số định lượng toàn cầu hoá qua đánh giá của KOF
Trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và hệ thống giao thông như hiện nay đã giúp cho đồng vốn, con người, ý tưởng, hàng hóa, dịch vụ, thông tin… có sự lưu chuyển xuyên quốc gia một cách dễ dàng và tự do hơn Sự ra đời của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin đã thật sự giúp nhân loại ngày càng thu hẹp khoảng cách về địa lý và thời gian, tạo điều kiện cho
sự ra đời của nền kinh tế tri thức Toàn cầu hóa đã thu hút nhiều sự quan tâm kể từ thời
kỳ hậu chiến tranh lạnh (sau năm 1989) khi mà các nước tiến lại gần nhau hơn về hợp tác kinh tế Nhờ vậy, thương mại quốc tế gia tăng với sự dịch chuyển của hàng hóa,
Trang 28dịch vụ, con người, kiến thức, tiền tệ theo chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực Cũng từ
sự dịch chuyển tự do của các yếu tố trên đã được các chuyên gia quốc tế đánh giá tiến trình toàn cầu hóa bằng nhiều chỉ số Trên thế giới hiện có công ty Tư vấn quản lý A.T Kearney (Mỹ) và Viện nghiên cứu kinh tế KOF (Thụy Sỹ) là hai tổ chức nổi tiếng
về việc đưa ra các chỉ số định lượng toàn cầu hóa Đặc biệt là KOF của Thụy Sĩ, với cách đánh giá bằng những chỉ số trong từng lĩnh vực mang tính chính xác và rất cụ thể
Do toàn cầu hóa không chỉ là một hiện tượng kinh tế, một hướng tiếp cận đa chiều nhằm đo lường sự toàn cầu hóa là một chỉ số được tính toán gần đây bởi các chuyên gia (think tank) KOF người Thụy Sỹ KOF là Viện nghiên cứu kinh tế của Thụy Sỹ (Konjunkturforschungsstelle - Zurich, Thụy Sỹ) công bố hàng năm để đo mức độ toàn cầu hóa của từng quốc gia Chỉ số toàn cầu hóa được tổng hợp từ ba kích thước kinh
tế, xã hội, chính trị
Ngoài ba chỉ số đo lường ba kích thước này, một chỉ số chung và những chỉ số phụ
mô tả những dòng chảy kinh tế thực tế, những hạn chế về kinh tế, dữ liệu giao tiếp cá nhân, dòng chảy thông tin và dữ liệu về sự gần gũi văn hóa được tính toán Các định nghĩa chi tiết về toàn cầu hóa trên từng khía cạnh cũng khá thú vị, chẳng hạn một trong các tiêu chí đánh giá toàn cầu hóa về xã hội là số nhà hàng Mc Donald/số dân, hoặc xuất - nhập sách báo Hay đánh giá về toàn cầu hóa chính trị qua số các đại sứ quán tại đất nước, thành viên các tổ chức quốc tế, có là thành viên Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc hay không Vì vậy, để đánh giá chính xác mức độ toàn cầu hóa của các nước mà KOF của Thụy Sỹ đã đưa ra nhiều chỉ số thuộc ba kích thước kinh tế, xã hội, chính trị Được gọi là KOF Index of globalization, nghĩa là chỉ số KOF của toàn cầu hóa
Hình 2.1 Bản đồ phân bố chỉ số KOF của toàn cầu hóa thế giới năm 2008
Trang 29● Thương mại (phần trăm của GDP) 22%
● Đầu tư trực tiếp nước ngoài, cổ phiếu (phần trăm của GDP) 29%
● Danh mục đầu tư (phần trăm của GDP) 22%
● Thanh toán thu nhập cho người nước ngoài (phần trăm của GDP) 27% + Các hạn chế 50%
● Thể nhập khẩu hàng rào 22%
● Tỷ lệ thuế quan trung bình 28%
● Thuế đối với thương mại quốc tế (phần trăm của doanh thu hiện hành) 27% ● Tài khoản vốn hạn chế 23%
- Toàn cầu hóa Xã hội 38%
+ Số liệu về liên hệ cá nhân 33%
● Điện thoại giao thông 26%
● Di chuyển (phần trăm của GDP) 2%
● Du lịch Quốc tế 26%
● Dân số nước ngoài (phần trăm của tổng dân số) 20%
● Thư quốc tế (bình quân đầu người) 25%
+ Số liệu về dòng chảy thông tin 36%
● Người dùng Internet (trên 1000 người) 36%
Trang 30● Truyền hình (trên 1000 người) 37%
● Báo Thương mại (phần trăm của GDP) 28%
+ Số liệu về văn hóa tiệm cận 31%
● Số nhà hàng McDonald (bình quân đầu người) 43%
● Số Ikea (bình quân đầu người) 44%
● Thương mại trong sách (phần trăm của GDP) 13%
- Toàn cầu hóa chính trị: 26%
+ Đại sứ quán tại quốc gia 25%
+ Thành viên trong các tổ chức quốc tế 28%
+ Tham gia Đoàn công tác của Hội đồng Bảo an LHQ 22%
+ Điều ước quốc tế 25%
Dưới đây là bảng xếp hạng 10 quốc gia có chỉ số KOF của toàn cầu hóa cao nhất
và 10 quốc gia có chỉ số KOF của toàn cầu hóa thấp nhất năm 2010 do Viện nghiên cứu KOF công bố (Nguồn http://en.wikipedia.org/wiki/Globalization_Index)
2010 List by KOF Index of Globalization
Trang 31Tuy nhiên, tôi chỉ đi vào nghiên cứu và làm rõ 4 tiêu chí cơ bản, đặc trưng của tiến trình toàn cầu hóa ở các quốc gia hiện nay và được nhìn nhận theo góc độ địa lý, đó là: hàng hóa - dịch vụ; di - nhập cư; khoa học công nghệ - vốn; thông tin - văn hóa
2.2.1.1 Hàng hóa - dịch vụ
Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin trong những năm cuối thế kỷ XX đã làm tăng tốc quá trình sản xuất, thị trường hàng hóa và dịch vụ của các nền kinh tế được mở rộng và chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu,
có sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn Từ đó hàng hóa được làm ra với công suất và cường độ cao hơn, hàm lượng chất xám trong hàng hóa cũng được tăng cường hơn, không chỉ đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của con người trong thời kỳ phong kiến không hề có mà hơn thế nữa hàng hóa trở nên dư thừa đã dẫn đến cuộc khủng hoảng thời kỳ 1929-1933 Tất cả những vấn đề trên đều diễn ra trong quá trình hình thành và phát triển của toàn cầu hóa, đặc biệt là toàn cầu hóa kinh tế Mác đã phát hiện được điều này khi ông viết: "Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương, dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến của các dân tộc" Hàng hóa trên thị trường ngày nay được trao đổi xuyên quốc gia, là một dòng chảy mạnh mẽ nhờ quá trình tự do hóa thương mại Nhờ vậy, người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa tốt hơn và rẻ hơn tùy theo nhu cầu của mình với nhiều loại mặt hàng phong phú, đa dạng từ khắp nơi trên thế giới
Hàng hóa được tự do di chuyển từ nước này sang nước khác trên cơ sở cạnh tranh công bằng nhờ có chính sách tự do hóa thương mại tức là dỡ bỏ những hàng rào thuế quan và phi thuế quan do các nước lập nên Trên cơ sở lý thuyết lợi thế so sánh, lợi ích lớn nhất của tự do hóa thương mại là thu hút nhiều nước tham gia buôn bán, trao đổi hàng hóa, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay, một quốc gia muốn nâng cao tính cạnh tranh của mình trên trường quốc tế điều quan trọng trước nhất là hàm lượng chất xám trong sản phẩm mà họ làm ra, nếu không muốn bị sức ép từ các sản phẩm hàng hóa nước ngoài lấn át Vì vậy, cần dựa trên sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, có thể nói trong thế giới của toàn cầu hóa những sản phẩm chứa nhiều hàm lượng chất xám đang ngự trị và mang tính cạnh tranh toàn cầu Hàng hóa và của cải xã hội dư thừa đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết của con người thậm chí là đòi hỏi cao hơn
về tiêu dùng, đồng thời giúp con người có nhiều sự lựa chọn hơn với một khối lượng hàng hóa khổng lồ, phong phú và đa dạng hơn thời kỳ khép kín nền kinh tế rất nhiều Một khi nhu cầu tiêu dùng của con người tăng lên sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển tăng tốc, nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng vì lý do đó mà được khai thác tối đa Trong thời đại ngày nay, lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ mới, cao hơn và tiến bộ hơn, của cải vật chất cũng vì thế được làm ra với khối lượng lớn hơn thì "ăn no, mặc ấm" đã không còn một đòi hỏi cơ bản và thiết yếu nữa, con người ngày nay cần có một lượng sản phẩm đa dạng hơn, phong phú hơn, dồi dào hơn và điều đặc biệt quan trọng
Trang 32là khối lượng hàng hóa đó có được lưu chuyển thuận lợi trên toàn thế giới hay không,
và những sản phẩm hàng hóa được làm ra có tiếp cận được dễ dàng với người tiêu dùng hay không Những vấn đề nêu trên vốn đã được giải quyết rất ổn thỏa và nhanh chóng thông qua sự vận hành của toàn cầu hóa Quá trình lưu chuyển hàng hóa xuyên biên giới, xuyên quốc gia là một đặc trưng cơ bản của tự do hóa thương mại trong tiến trình toàn cầu hóa Cánh cửa toàn cầu được mở ra, nghĩa là các nước phải bước vào ngôi nhà cạnh trạnh chung, một sân chơi toàn cầu, sự cạnh tranh mạnh mẽ này thúc đẩy các nước phải tự điều chỉnh lại cơ cấu nền kinh tế, gia tăng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, có như vậy mới không bị loại khỏi cuộc chơi, đứng ngoài vòng phát triển của thế giới và mãi mãi sống trong sự nghèo nàn, lạc hậu Trong
số các sân chơi toàn cầu có quy mô lớn nhất và nhiều thành viên tham gia cạnh tranh nhất chính là Tổ chức thương mại thế giới (WTO - World Trade Organization) Nhiệm
vụ của WTO là tạo điều kiện trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các đối tượng tham gia
tự nguyện Để thực hiện được nhiệm vụ này, WTO đã thiết lập những quy tắc ràng buộc (binding rules) và một cơ chế bảo đảm thực hiện (enforcement mechanism) hiệu quả
Hình 2.2 Biểu đồ tăng trưởng GDP và xuất khẩu hàng hóa của thế giới
thời kỳ 1995-2004 (Đơn vị %)
Nguồn http://niemtin.free.fr/kinhtetoancau.htm
Trong lĩnh vực dịch vụ, ngành vận tải và du lịch đã được kinh doanh mang tính quốc tế trong nhiều thập kỷ qua Nhờ sự tiến bộ của công nghệ thông tin đã làm giảm đáng kể chi phí truyền thông quốc tế và do đó đã mang lại nhiều dịch vụ kinh doanh liên quan đến công nghệ thông tin Một số nước đang phát triển đã thu lợi từ việc kinh doanh dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin, nổi bật là Ấn Độ, xuất khẩu công nghệ đã tăng lên đáng kể trong nhiều năm qua tại nước này Bên cạnh đó, quá trình vận tải nội địa và quốc tế ngày nay được thực hiện dễ dàng và thuận lợi hơn, các phương tiện vận chuyển ngày càng tối tân, nhanh chóng và chi phí rẻ, lại được hoạt động trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tự do hóa thương mại - dịch vụ nên ngành vận
Trang 33tải càng có cơ hội phát huy được tối đa chức năng vận chuyển của mình (hàng hóa và người) Cũng nhờ vậy, hàng hóa sản xuất ra và cả con người được lưu chuyển dễ dàng hơn, năng suất vận tải được nâng cao, đồng thời làm thu hẹp khoảng cách về không gian và thời gian giữa các khu vực, quốc gia trên thế giới; giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng trong nước lẫn ngoài nước; giữa công dân nước này với nước khác Hoạt động du lịch cũng diễn ra tấp nập hơn Việc xuất cảnh sang bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới không còn là vấn đề khó khăn đối với người dân, khoảng cách địa lý không còn là rào cản như trước đây Ngày nay người ta đi lại nhiều hơn giữa các quốc gia trên thế giới với mục đích du lịch hay định cư, du học nhờ các thủ tục hải quan gọn nhẹ, visa nhập cảnh không còn được kiểm soát gắt gao, thậm chí tại một số quốc gia châu Âu còn quy định quyền tự do đi lại và lao động nhập cư cho công dân các nước thành viên mà không cần visa bằng việc thiết lập Hiệp ước Schengen ngày 27-11-
1990
Trong những năm gần đây, xuất hiện hai loại hình dịch vụ mang tính quốc tế và xuyên quốc gia, đó là "outsourcing" và "call center" - hai hình thức đặc trưng của toàn cầu hóa dịch vụ Outsourcing có thể hiểu như một dịch vụ thuê làm bên ngoài, là hình thức chuyển một phần chức năng, nhiệm vụ của công ty ra gia công bên ngoài, những chức năng mà trước đây doanh nghiệp vẫn thường đảm nhận Call center là trung tâm liên lạc - nơi khách hàng gọi đến để hỏi thông tin hay giao dịch chủ yếu qua điện thoại, ngày nay call center được hiểu với nghĩa rộng hơn như một trung tâm chăm sóc khách hàng từ xa Trước đây, outsourcing và call center hoạt động chủ yếu ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp,… Ngày nay, phần lớn các dịch vụ này đã chuyển sang các nước đang phát triển do giá nhân công ở đây rẻ, tiết kiệm được chi phí cho doanh nghiệp Một số quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc, Philipin, Việt Nam hiện đang phát triển dịch vụ outsourcing rất hiệu quả Nhất là Ấn Độ, tại đây đã hình thành khu công nghệ cao Bangalore, thủ phủ của bang Karnataka thuộc miền Nam Ấn
Độ Bangalore được mệnh danh là "thung lũng Silicon của Ấn Độ", cũng là địa điểm
lý tưởng được các công ty phần mềm Tây Âu chọn lựa như IBM, Microsoft, Intel, Dell, Cisco, Sun… Trong năm 2007, Ấn Độ là nước có doanh thu xuất khẩu công nghệ cao không dưới 17,7 tỷ USD, hiện nay Mỹ là thị trường lớn nhất của ngành outsourcing Ấn Độ, đóng góp tới 66% tổng doanh thu này(Theo Việt Báo)
Dịch vụ call center cũng đang chuyển vùng sang các nước đang phát triển do giá lao động rẻ, nhu cầu thị trường và đòi hỏi của các khách hàng tại một số thị trường mới nổi cũng đang tăng lên Ấn Độ cũng là thị trường thu hút nhiều call center nhất vì
có cơ sở hạ tầng hiện đại và công nghệ thông tin khá phát triển; đội ngũ kỹ sư tin học hùng hậu, có trình độ cao và thông thạo tiếng Anh; giá lao động ở Ấn Độ cũng rẻ hơn
so với giá lao động ở Mỹ và Tây Âu Phần lớn nhân viên ở đây có nhiệm vụ xử lý các cuộc gọi đến, từ việc tìm hành lý thất lạc của các hãng hàng không Mỹ và châu Âu cho đến việc giải quyết trục trặc máy tính cho những người tiêu dùng ở Mỹ Các cuộc gọi được chuyển đến đây bằng vệ tinh và cáp quang dưới đáy biển Hiện nay call center
Trang 34đang dần dần trở thành công cụ hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp trong việc chăm sóc khách hàng, thúc đẩy hoạt động kinh doanh, đồng thời nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế
2.2.1.2 Di - nhập cư
Toàn cầu hóa đã và đang tạo ra những dòng dịch chuyển lớn Đó là những dòng dịch chuyển với quy mô toàn cầu: dòng di dân từ phương Đông sang phương Tây, dòng di chuyển vốn và công nghệ từ phương Tây sang phương Đông Sự dịch chuyển của con người từ những vùng đất lạc hậu sang châu Âu văn minh và sự dịch chuyển tiền bạc từ châu Âu sang những vùng đất lạc hậu Những dòng dịch chuyển này diễn ra như vũ bão
Theo giáo sư Dapice - nhà Kinh tế học người Mỹ, dòng chuyển cư thật sự được tiến hành cách đây 5000 năm về trước khi một nhóm người đã bắt đầu vượt khỏi biên giới của bộ tộc hay lãnh thổ của mình để xâm chiếm dân tộc khác, hay với mục đích trao đổi hàng hóa hoặc tìm nơi định cư mới Ông cho rằng đây là thời kỳ thứ nhất của tiến trình toàn cầu hóa, thời kỳ thứ hai bắt đầu cùng với sự ra đời của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa tư bản song song quá trình công nghiệp hóa xảy ra cách đây khoảng
400 năm kéo dài đến thập niên 70 của thế kỷ XIX Trong suốt thế kỷ XVIII, thế giới
đã chứng kiến một sự di dân ồ ạt của khoảng 10 triệu nô lệ da đen sang các nước thực dân, các nước thuộc địa của Anh và Pháp Do thiếu lao động nên các nước thực dân đã bóc lột tận cùng sức lao động của nô lệ da đen, các con tàu của họ chở hàng triệu người da đen để làm việc trong các công xưởng, nhà máy Đến đầu thế kỷ XX, hàng triệu người lại đổ xô đến vùng đất hứa như Mỹ, Úc để đào vàng Nguyên nhân chính là
do sự đói nghèo, sự đe dọa của chiến tranh cùng với sự hạn chế về cơ hội nghề nghiệp
ở các nước châu Âu Đến những năm 1960, Mỹ bắt đầu vươn lên trở thành siêu cường quốc sau chiến tranh thế giới thứ 2, một lần nữa thế giới lại chứng kiến sự di cư ồ ạt của lực lượng lao động có kỹ thuật và bán kỹ thuật từ các nước châu Âu sang Bắc Mỹ, dẫn đến sự chảy máu chất xám đến mức Liên Hiệp Quốc phải lên tiếng báo động vào năm 1967 Từ cuối thế kỷ XXV, sau các cuộc phát kiến vĩ đại đặc biệt là sau sự phát hiện ra châu Mỹ của Christopher Columbus đã kéo theo sự xâm lăng của người châu
Âu đến Tân thế giới Họ đổ xô đến đây để tìm vàng, nguyên vật liệu mới, trao đổi, buôn bán với thổ dân bản địa, dần dần thuộc địa hóa vùng đất mới rất giàu có này, đồng thời tạo ra làn sóng di cư mạnh mẽ và đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho người dân bản địa
Trước đây, con người định cư và gắn bó với công việc của mình tại một vùng đất nhất định, việc chuyển cư ít diễn ra mạnh mẽ, nhưng kể từ khi xuất hiện các cuộc phát kiến địa lý vĩ đại, đồng thời chủ nghĩa tư bản phát triển đòi hỏi có nguồn cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm thì sự di cư phát triển chưa từng có trong lịch sử Hiện nay, trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tự do thương mại phát triển, nhu cầu trao đổi sản phẩm, giao lưu văn hóa, xã hội, giáo dục… thì sự di chuyển của con người càng nhiều hơn trước Để tạo điều kiện cho sự đi lại giữa các
Trang 35quốc gia, nhiều nước đã ban hành chính sách về tự do đi lại, chính sách di - nhập cư hợp pháp Hình thức này tại các nước trong EU là một điển hình, với Hiệp ước Schengen được thành lập ngày 27/11/1990, quy định quyền tự do đi lại giữa công dân các nước thành viên, nghĩa là được miễn thị thực Ví dụ: một người Pháp có thể lập tài khoản ngân hàng tại Hà Lan hay bất cứ quốc gia nào đã gia nhập hiệp ước Schengen Ngoài ra một số quốc gia còn chấp nhận sự nhập cư bất hợp pháp do nhu cầu về lao động phục vụ trong nước Ngày nay người lao động có thể đi ra nước ngoài làm việc bằng rất nhiều con đường khác nhau Ví dụ: Ở Việt Nam, nếu như từ khoảng chục năm về trước hầu như chỉ có con đường duy nhất để đi lao động ở nước ngoài đó là nhờ vào các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong luồng hợp pháp dưới sự tổ chức
và quản lý của Nhà nước, gần đây có thêm phương thức đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu của doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu sang Lào làm việc, hình thức này cũng được gọi là xuất khẩu lao động Trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế thị trường đã làm xuất hiện dòng di chuyển lao động qua biên giới ngày càng phức tạp hơn và mang đậm màu sắc toàn cầu hóa Theo đánh giá của tổ chức quốc tế về di dân (IOM), hằng năm có khoảng 185 triệu người tức là gần 3% dân số trên thế giới đang ở ngoài lãnh thổ quốc gia của mình Trong đó, có 85 triệu di chuyển vì mục đích làm việc Có các dạng di chuyển lao động sau:
- Thứ nhất là xuất khẩu lao động - dạng di chuyển của lao động từ nước này sang nước khác theo sự thu xếp chính thức giữa hai quốc gia để tham gia vào thị trường lao động ở nước đó Căn cứ để quyết định số lượng lao động, ngành nghề, thậm chí cả về giới tính và độ tuổi… là từ nhu cầu thị trường lao động của nước đến Chẳng hạn, những người lao động Việt Nam hiện đang làm việc tại Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc… thuộc đối tượng này Những người này làm việc có thời hạn và về nguyên tắc
sẽ trở về nước sau khi hết hạn hợp đồng
- Thứ hai là di chuyển lao động tự do trong một thị trường lao động thống nhất của một khối nước Cũng cần biết rằng, quá trình nhất thể hóa không gian kinh tế của một khối nước gồm có 5 bước: Các nước trong khối dành cho nhau ưu đãi thương mại; xây dựng một mậu dịch tự do; tiến hành liên minh hải quan; thành lập thị trường chung; thành lập liên minh kinh tế Hiện nay trên thế giới, EU là khối duy nhất đã đạt được mức độ nhất thể hóa kinh tế đến bước thứ tư, tức là thành lập thị trường chung, nghĩa là tất cả các thị trường bao gồm cả thị trường lao động của các nước đã trở thành thị trường chung, thống nhất được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp chung áp dụng cho toàn khối Cụ thể là: một người Đức có thể tự do sang làm việc tại Bỉ - một quốc gia thành viên khác của EU, hay một người Pháp được tự do sang Hà Lan làm việc mà không có bất cứ rào cản nào về mặt pháp lý
Trang 36Hình 2.3 Bản đồ thể hiện tỉ lệ di dân của thế giới năm 2008 Nguồn http://en.wikipedia.org/wiki/File:Net_migration_rate_world.PNG
Cũng theo báo cáo thường niên của Tổ chức Quốc tế về di dân (IOM) công bố ngày 29 - 11 - 2010 số người nhập cư trên thế giới có thể tăng lên 405 triệu người vào năm 2050, cao hơn nhiều so với 214 triệu người nhập cư như hiện nay Báo cáo trên đã ghi nhận các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển thuộc khu vực châu Á, châu Phi
và châu Mỹ Latinh đang trở thành điểm đến của những người nhập cư IOM cho biết nguyên nhân chính của tình trạng trên là do nhu cầu về lao động ở các nước đang phát triển đang gia tăng, trong khi dân số ở các nước phát triển đang già đi Ngày nay, việc
đi lại và di chuyển nơi ở dễ dàng đã dẫn đến tình trạng số người sống ở bên ngoài quốc gia mình sinh ra đông hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử
Trong hơn bốn thập niên qua, lao động quốc tế chỉ di chuyển theo một chiều, đó
là từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển, từ nông thôn ra thành thị Sự
di cư này diễn ra một cách ồ ạt và thuận lợi trên cơ sở của quá trình toàn cầu hóa Tuy nhiên, hiện nay do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dòng chảy này đang chậm lại và có nguy cơ di chuyển ngược lại Hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới làm cho vấn đề việc làm hầu như không còn triển vọng đối với người lao động nhập cư tại các nước phát triển nữa, lao động thuộc thế giới thứ ba đã từ bỏ kế hoạch di cư đến các nước giàu để tìm việc Theo tính toán của các chuyên gia về nhập
cư, trong năm 2009 số lao động di từ các nước nghèo sang các nước công nghiệp phát triển đã giảm gần 30%, hơn nữa làn sóng công nhân từ nước ngoài trở về quê nhà đã bắt đầu diễn ra Hiện tượng này sẽ gây ra những tác động xấu đến nền kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước nghèo và đang phát triển Thêm vào đó là sự gia tăng chính sách chống nhập cư của một số nước phát triển nhằm giải quyết gánh nặng việc làm cho lao động trong nước Hàng trăm nghìn lao động nước ngoài bị mất việc ở các nước thuộc Liên Xô cũ đã khăn gói trở về nhà Tại Malaysia, quốc gia thường xuyên tiếp nhận và sa thải lao động nước ngoài với số lượng lớn, có khoảng 200.000 lao động