1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM địa đặc điểm tài NGUYÊN đất và vấn đề cải tạo đất TRONG sản XUẤT NÔNG NGHIỆP ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG

51 324 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐAỊ HỌC CẦN THƠKHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM ĐỊA LÍ HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN: NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆN ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ VẤN ĐỀ CẢI TẠO ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐỒNG BẰNG

Trang 1

TRƯỜNG ĐAỊ HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM ĐỊA LÍ

HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN:

NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆN

ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ VẤN ĐỀ CẢI

TẠO ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPNGÀNH SƯ PHẠM ĐỊA LÍ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths: LÊ THÀNH NGHỀ

Cần thơ, tháng 4 năm 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Vậy là bốn năm rèn luyện, học tập trên giảng đường đại học cũng kết thúc Đâycũng là lúc mà mỗi sinh viên sẽ chọn để hoạt động nghiên cứu một đề tài khoa học vềchuyên ngành của mình Tuy nhiên, trong đại dương mênh mông, kiến thức của bảnthân mỗi sinh viên nói chung và riêng tôi, việc nghiên cứu sẽ gặp rất nhiều khó khăn,thiếu sót nếu như không có sự quan tâm tận tình giúp đỡ của quí thầy cô, sự đóng gópcủa bạn bè cùng với nhiều sự giúp đỡ khác

Để hoàn thành được bài luận văn này, lời đầu tiên tôi xin gửi lời tri ân chân thànhđến bộ môn Địa Lí thuộc khoa Sư Phạm của trường Đại Học Cần Thơ Nơi đã cho tôi

một môi trường rèn luyện và học tập thật tốt với những trang thiết bị hiện đại và đầy

đủ, nhất là ở đó có những tấm lòng của thầy cô hết lòng yêu thương, chỉ bảo và dìu dắt

mỗi người chúng tôi từ những kiến thức cơ bản đến tác phong làm việc, sự độc lậpnghiên cứu, sáng tạo của bản thân và tinh thần hợp tác chia sẻ Bộ môn và thầy cô đãrèn luyện cho tôi đạo đức của một người công dân tốt, đạo đức nghề nghiệp của một

nhà giáo tương lai

Bên cạnh đó tôi cũng xin gửi lời tri ân đặc biệt đến thầy Lê Thành Nghề, người

đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thiện đề tài nghiên cứu này, mặc dù thầy và trò chưa làm

việc với nhau nhiều, nhưng với tấm lòng của một nhà giáo tâm huyết với nghề, với trò,thầy đã chỉ bảo cho tôi những sai lầm, thiếu sót trong bài viết, để bài viết được hoànthiện hơn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp sư phạm Địa Lí K33, những người đã

luôn đồng hành cùng tôi trong suốt bốn năm vừa qua, dù vui, dù buồn các bạn luônquan tâm đến tôi, và trong bài nghiên cứu này, các bạn đã tận tình giúp đõ và đóng góp

cho tôi

Cuối cùng tôi xin cảm ơn nhà xuất bản, nhà phát hành và những tác giả đã cho tôimột số tài liệu quí báu cho bản thân tôi, đồng thời cũng bổ sung thêm những lỗ hổngkiến thức trong tri thức của mình để tôi có thể hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình.Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

5 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

6 Phương pháp nghiên cứu

1.1.2 Điều kiện tự nhiên Trang 141.1.2.1 Địa chất và địa hình Trang 14

1.1.2.2 Tài nguyên khí hậu Trang 15

1.1.2.3 Tài nguyên đất Trang 161.1.2.4 Tài nguyên nước Trang 18

1.1.2.5 Tài nguyên sinh vật Trang 181.1.2.6 Tài nguyên khoáng sản Trang 19

1.2 DÂN CƯ VÀ XÃ HỘI Trang 20

1.2.1 Dân số và thành phần dân tộc Trang 201.2.2 Nguồn lao động Trang 21

1.3 ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN ĐẤT Ở ĐBSCL Trang 221.3.1 Nhóm đất phèn Trang 22

1.3.2 Nhóm đất mặn Trang 23

1.3.3 Nhóm đất phù sa Trang 241.3.4 Nhóm đất xám Trang 261.3.5 Nhóm đất cát giồng Trang 26Chương 2: HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT

TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐBSCL Trang 292.1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT Ở

ĐBSCL Trang 29

2.2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT TRONG SẢN XUẤTNÔNG NGHIỆP Ở ĐBSCL Trang 32

Trang 4

2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất phù sa trong nông nghiệp Trang 32

2.2.1.1 Đất phù sa ngọt Trang 32

a Đất phù sa ngọt ven sông Trang 33

b Đất phù sa loang lổ đỏ vàng Trang 34

c Đất phù sa Glây Trang 342.2.1.2 Đất phù sa mặn Trang 35

a Đất lầy ngập mặn thường xuyên Trang 35

b Đất phù sa nhiễm mặn thường xuyên Trang 35

c Đất phù sa nhiễm mặn tạm thời Trang 35

2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất phèn trong nông nghiệp Trang 36

2.2.2.1 Đất phèn tiềm tàng Trang 362.2.2.2 Đất phèn hoạt động Trang 37

2 2.3 Hiện trạng sử dụng đất cát biển và cát giồng trong nông nghiệpTrang 37

2.2.3.1 Đất cồn cát cũ Trang 382.2.3.2 Đất cát nhiễm mặn Trang 38

2.2.4 Hiện trạng sử dụng đất xám trong nông nghiệp Trang 382.2.5 Hiện trạng sử dụng đất than bùn và đất hữu cơ trong nông nghiệpTrang 382.2.6 Hiện trạng sử dụng đất núi trong nông nghiệp Trang 392.2.7 Hiện trạng sử dụng đất mặn trong nông nghiệp Trang 39

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT TRONG

SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐBSCL Trang 40

Chương III: VẤN ĐỀ CẢI TẠO NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT

PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐBSCL Trang 423.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC CẢI TẠO ĐẤT TRONG

SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Trang 423.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI TẠO ĐẤT Ở ĐBSCL Trang 423.2.1 Biện pháp thủy lợi Trang 433.2.2 Biện pháp làm đất Trang 433.2.3 Biện pháp bón phân Trang 443.2.4 Biện pháp khai thác mở rộng diện tích Trang 453.2.5 Kỹ thuật lâm nghiệp trồng rừng để bảo vệ đất và chống xói mònTrang 46

3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÈ VẤN ĐỀ CẢI TẠO PHỤC HỒI ĐẤT

TRONG NÔNG NGHIỆP Ở ĐBSCL .Trang 473.4 NHỮNG KHÓ KHĂN TỒN TẠI TRONG QUÁ TRÌNH CẢI TẠO

VÀ SỬ DỤNG ĐẤT Ở ĐBSCL Trang 48KẾT LUẬN Trang 50

Trang 5

“Tới đây xứ sở lạ lùng.

Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”

Vào cuối thế kỉ XIX, ĐBSCL đã có trên một triệu người, diện tích canh tác gần0,5 triệu ha Song, thời gian trôi qua, con người ngày càng đông, càng phát triển, càng

tăng cao dẫn đến hệ quả là nhu cầu xã hội vượt quá khả năng tự nhiên của vùng Nhu

cầu về nguồn lương thực, thực phẩm cho con người ngày càng tăng cũng như phải làmnhững gì để đáp ứng sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm ra thị trường thế giới Vì vậy,yêu cầu đặt ra cho mỗi người là trong quá trình sử dụng phải làm như thế nào để pháthuy ngày càng mạnh tiềm năng kinh tế của tài nguyên đất trong vùng Do đó, để hiểu

rõ thêm về đặc điểm tài nguyên đất của vùng, tìm hiểu xem hiện nay chúng ta đã và

đang khai thác được những gì, cần có những biện pháp nào để cải tạo đưa vào sử dụng

nguồn tài nguyên đất trong việc phát triển nông nghiệp, tôi đã chọn đề tài “Đặc điểm

tài nguyên đất và vấn đề cải tạo đất trong sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông

Cửu Long” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình Thông qua đề tài nghiên cứu

này, tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về nguồn tài nguyên đất và những biện pháp sử dụngcũng như cải tạo đất để nâng cao giá trị sử dụng trong việc phát triển kinh tế nôngnghiệp của vùng Đó là lí do mà tôi chọn đề tài nghiên cứu này

2 Mục đích nghiên cứu.

- Tìm hiểu về đặc điểm nguồn tài nguyên đất ở ĐBSCL

- Tìm hiểu hiện trạng sử dụng và những biện pháp nhằm cải tạo nguồn tài nguyên

đất trong nông nghiệp ở ĐBSCL

- Nâng cao khả năng nghiên cứu, khai thác kiến thức từ thực tế nhằm tích lũykiến thức chuyên môn phục vụ cho công tác giảng dạy sau này

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tài nguyên đất và vấn đề cải tạo đất trong sản

xuất nông nghiệp ở ĐBSCL

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài giới hạn trong việc tìm hiểu về tài nguyên đất và vấn đề cải tạo đất trong

sản xuất nông nghiệp ở khu vực ĐBSCL

5 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

Trên thực tế từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên

đất và việc sử dụng tài nguyên đất phục vụ cho việc phát triển kinh tế ở vùng ĐBSCL

Trang 6

Trong đề tài “Đất đồng bằng sông Cửu Long” của Tôn Thất Chiểu, tác giả đã phân ra

các loại đất có ở vùng ĐBSCL Tuy nhiên, chưa đề cấp đến việc sử dụng các loại đất

này trong sản xuất nông nghiệp như thế nào Đề tài “Tính chất tự nhiên và những tiến trình làm thay đổi độ phì nhiêu đất ở đồng bằng sông Cửu Long” của NXB Nông

nghiệp do PGS.TS Ngô Ngọc Hưng chủ biên Trong tập tài liệu này, ông đã nêu ra

được đặc điểm các nguồn tài nguyên đất ở ĐBSCL và nghiên cứu những tiến trình làm

thay đổi độ phì nhiêu của tài nguyên đất của vùng Trong đề tài “Cải tạo đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long” của PGS.TS Vương Đình Đước và KS Phan Khánh cũng

nêu ra được những loại đất chính ở ĐBSCL, quá trình hình thành đất phèn và qua đóđưa ra những công trình nghiên cứu nhằm cải tạo nguồn đất phèn, đất phèn mặn ở đây

Tuy nhiên, các tác giả ít đề cập đến vấn đề sử dụng tài nguyên đất phục vụ chosản xuất nông nghiệp Trong khi đó, ĐBSCL là một khu vực có tiềm năng lớn về sảnxuất nông nghiệp Trên cơ sở đó, đề tài của tôi vừa mang tính kế thừa, vừa tìm hiểu

đặc điểm của tài nguyên đất và vấn đề cải tạo tài nguyên đất phục vụ sản xuất nông

nghiệp của vùng

6 Phương pháp nghiên cứu.

6.1 Quan điểm nghiên cứu

6.1.1 Quan điểm hệ thống

Theo quan điểm hệ thống thì đồng bằng sông Cửu Long là một vùng địa lí Trong

đó lại tồn tại các hệ thống cấp thấp hơn đó là các yếu tố tự nhiên (địa hình, khí hậu,

sông ngòi, đất đai, khoáng sản, sinh vật,…) và các yếu tố kinh tế- xã hội (dân cư, lao

động, cơ sở hạ tầng,…) Giữa các hệ thống có mối quan hệ với nhau và các yếu tố

trong một hệ thống cũng có những tác động qua lại với nhau Ví dụ như mối quan hệgiữa địa hình và khí hậu, khí hậu và sinh vật,…Trong cùng một hệ thống hay giữa các

hệ thống thì các mối quan hệ có thể dẫn đến kết quả tích cực hoặc tiêu cực

6.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ.

Dựa vào quan điểm này để thấy bức tranh toàn cảnh của cả đối tượng nghiên cứu

và các yếu tố xung quanh, thấy rõ mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau giữa chúng

Thông qua quan điểm tổng hợp lãnh thổ, nét đặc trưng tiêu biểu của đối tượng nghiên

cứu cũng được nổi bật giúp ta phân biệt, nhận biết được đối tượng so với các yếu tố

khác Đặc biệt khi nghiên cứu sự khác biệt về mặt tự nhiên sẽ phát hiện ra được những

mối quan hệ hữu cơ trong tổng thể, phân biệt các đặc trưng quan trọng nhất

6.1.3 Quan điểm lịch sử- viễn cảnh.

Dù bất kì là một đối tượng địa lí nào cũng có nguồn gốc phát sinh, quá trình tồntại và phát triển Đối tượng nghiên cứu của tôi cũng không ngoại lệ, mỗi sự biến đổi

đều được diễn ra trong một thời gian nhất định Xu thế phát triển của chúng đi từ quá

khứ sơ khai đến hiện tại và tương lai Trong đó tồn tại một mối quan hệ rất đặc biệt tạo

Trang 7

Nhìn chung, khoa học Địa Lí nghiên cứu đối tượng không chỉ nhằm phục vụ chohoạt động hiện tại, tính logic, mà còn phải phác họa được đối tượng địa lí trong tương

lai Do đó, hiểu và vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh trong việc nghiên cứu đề tài

này, tôi nghĩ điều đó là cần thiết

6.2 Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp thu thập và tổng hợp kiến thức: thông qua việc đọc và ghi nhận

những phần kiến thức quan trọng có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài ởnhững tài liệu khác tôi đã có được nguồn tài liệu bổ sung cần thiết vào những kiếnthức của mình

Phương pháp bản đồ: dựa trên việc phân tích bản đồ tự nhiên Việt Nam, các bản

đồ về tự nhiên, hành chính của ĐBSCL rút ra những kiến thức cần thiết cho bài nghiên

cứu

Sau khi đã tập hợp được nguồn tài liệu, tư liệu, đầy đủ, tôi tiến hành phân tích và

tổng hợp nguồn thông tin có được để tiến hành nghiên cứu

Trang 8

PHỤ LỤCHIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT Ở ĐBSCL

( Tài liệu thống kê: SỐ LIỆU KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

Trang 9

Bảng 3: Diện tích lúa mùa cả năm phân theo các tỉnh

Đơn vị: ha

Tổng số 3.947.476 3.789.972 3.834.293 3.786.321 3.812.795Cần Thơ 209.486 222.103 228.499 226.213 229.917Hậu Giang 203.882 219.069 228.100 227.189 226.486Long An 453.033 440.832 433.404 424.096 433.363Tiền Giang 282.419 276.119 265.065 206.766 259.399Bến Tre 101.617 100.817 99.496 95.538 90.511

Vĩnh Long 208.671 261.328 209.755 206.969 208.041Trà Vinh 238.525 238.411 235.224 253.164 234.551

An Giang 464.533 459.051 477.180 503.856 523.037Kiên Giang 540.923 550.636 575.922 563.048 570.308

Tiền Giang 8.411 8.777 9.580 10.840 12.394Bến Tre 29.253 25.578 35.979 37.645 11.854

Vĩnh Long 1.226 1.303 1.394 1.522 3.170

Trà Vinh 9.512 12.910 12.910 15.820 1.557

An Giang 1.252 1.252 1.788 1.561 18.880Kiên Giang 34.628 37.212 48.924 62.075 1.896

Bạc Liêu 54.017 82.976 101.690 112.345 58.967

Cà Mau 20.4381 25.4191 27.0851 277.688 277.705

Trang 10

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐBSCL

Nuôi vịt chạy đồng ở ĐBSCL Tràm chim Đồng Tháp

Nuôi cá bè trên sông – An Giang Thu hoạch tôm công nghiệp

Trang 11

Phơi lúa sau thu hoạch Đất khô cằn vào mùa khô

Mô hình nuôi tôm công nghiệp Nghề muối Bạc Liêu

(Nguồn:violet.com.vn.bai14 dongbangsongcuulongtiet1)

Trang 12

TÀI LIỆU THAM KHẢOTài liệu:

1 PGS.TS Ngô Ngọc Hưng - Tính chất tự nhiên và những tiến trình làm thay đổi

độ phì nhiêu đât ĐBSCL Nhà xuất bản nông nghiệp 2009

2 TS Lê Anh Tuấn – Đặc điểm chế độ khí hậu thủy văn ĐBSCL Trường

5 Đất Việt Nam Nhà xuất bản Nông Nghiệp 2000

6 Giáo trình: Thổ Nhưỡng – Khoa Nông Nghiệp Đại học Cần Thơ

7 Giáo trình: Tính chất một số loại đất chính ở Việt Nam – Khoa Nông Nghiệp

Đại học Cần Thơ

8 Giáo trình: Dân cư và môi trường ĐBSCL – Phan Hoàng Linh Khoa Sư phạm

trường ĐH Cần Thơ

9 Niên giám thống kê 2008

10 Niên giám thống kê 2009

11 Số liệu kinh tê – xã hội ĐBSCL 2000 – 2004 Cục thống kê thành phốCần Thơ 8/2005

Trang 13

ĐBSCL còn được gọi là châu thổ sông Mê-Kong, có đỉnh là Phnompenh, hình

thành một tam giác như mọi con sông lớn trên thế giới Tại Phnompenh, sôngTonlesap nối từ Biển Hồ chảy qua, rẽ thành một dòng có tên là Bassac, chảy song songvới Mê-Kong về Việt Nam Về đến Việt Nam, sông Bassac mang tên sông Hậu, sôngMê-Kong mang tên sông Tiền Hai sông chia thành chín nhánh đổ ra chín cửa lệch dần

về phía Đông Hệ tọa độ địa lý của vùng được xác định như sau: Điểm cực bắc ở

10002’B (thuộc xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An), tiếp giáp vùng ĐôngNam Bộ; Điểm cực Nam: ở 8034’ (xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau), giápvịnh Thái Lan thuộc biển Đông; Điểm cực Tây ở 106026’ (xã Mĩ Đức, thị xã Hà Tiên,tỉnh Kiên Giang), tiếp giáp Campuchia; Điểm cực Đông ở 106048’ (xã Tân Điền,huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), tiếp giáp biển Đông

Hình 1.1: Đơn vị hành chính ĐBSCL (Nguồn:violet.com.vn.bai14 dongbangsongcuulongtiet1)

Trang 14

Từ một vùng hoang vu, sau hơn ba thế kỉ dân tộc Việt Nam đã khai phá, thànhmột vùng đất kinh tế- xã hội như ngày nay Hiện nay ĐBSCL có địa giới hành chínhcủa 13 tỉnh và thành phố là: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long,Trà Vinh,Bến Tre, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thànhphố Cần Thơ.

Theo Viện Chiến Lược Phát Triển (2009) thì vị trí của ĐBSCL có 5 đặc điểm

như sau: [1]

- Một đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới, là vùng

đất quan trọng, sản xuất lương thực lớn nhất nước, là vùng thủy sản và cây ăn trái

nhiệt đới của cả nước

- Có đường bờ biển dài trên 700km khoảng 360.000 km2 vùng đặc quyền kinh tếgiáp Đông và Vịnh Thái Lan, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển

- Nằm giữa một khu vực kinh tế năng động và phát triển, liền kề với vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam và nằm cạnh các nước Đông Nam Á, một khu vực kinh tế năng

động và phát triển là những thị trường và đối tác đầu tư quan trọng

- Nằm giáp Campuchia, gần Lào, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ là những vùng cónguồn tài nguyên khoáng sản, rừng phong phú, có nguồn dầu khí, diện lớn

- Nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi dày đặc, kênhrạch phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thủy lợi vào bậc nhất so với các vùngkhác của nước ta

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Địa chất và địa hình

ĐBSCL là đồng bằng rất trẻ, đang được phát triển về các cửa sông Đồng Nai,

Vàm Cỏ, sông Tiền, sông Hậu và mạnh nhất là ở Cà Mau (60 – 80 m/năm) Độ caotrung bình của đồng bằng từ 2 – 4m Diện tích toàn vùng khoảng 4.000km2

Địa hình vùng có thể chia làm các vùng sau:

- Vùng ngập úng sâu từ Long Xuyên, Cao Lãnh đi về Campuchia

- Vùng bị ngập vừa bao gồm các vùng đất của Sa Đéc, Vĩnh Long, Cần Thơ, phíaBắc Sóc Trăng và Tây Mỹ Tho

- Vùng không bị ngập bao gồm vùng đất của Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến

Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng

Ngoài ra phía Đông Bắc đồng bằng còn một vùng đất phèn ngập nước đó là vùngĐông Tháp Mười chỉ có cói, lác, cỏ dại nay được trồng lúa và trở thành một vùng trù

phú

Trang 15

Hình 1.2: Phân tầng địa hình ĐBSCL (Nguồn:violet.com.vn.bai14 dongbangsongcuulongtiet1)

1.1.2.2 Tài nguyên khí hậu

Nằm ở tọa độ 8034’- 10002’ vĩ độ Bắc và 104026’- 106048’ độ kinh Đông.ĐBSCL chiụ ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nóng quanh năm, lượng mưa

khá lớn, chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (có năm mùa mưasớm hơn 1 tháng) Thịnh hành là gió mùa Tây Nam Mùa mưa cũng là mùa lũ từ

thượng nguồn đổ về Mùa khô có ba tháng liền (1-2-3) không mưa, hoặc mưa khôngđáng kể, cũng là lúc lưu lượng thượng nguồn đổ về kiệt nhất

Tổng lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.600 – 1.800 mm, trong mùa mưa,

lượng mưa trung bình tháng phân phối khá đều, từ 200-300 mm, số ngày mưa trong

tháng từ 15- 20 ngày Hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, độ dài ngày và đêm

ít chênh lệch Tổng lượng bức xạ rất lớn: khoảng 140 Kcal/ cm2/ năm và phân bố kháđều giữa các tháng trong năm

Do tính chất bán đảo của vị trí tiếp giáp, ĐBSCL chịu ảnh hưởng điều hòa sâusắc của biển và nằm gần xích đạo nên khí hậu của vùng mang tính chất đồng nhất

tương đối và tính ổn định trên phạm vi toàn lãnh thổ Tính đồng nhất đó thể hiện ở nền

nhiệt cao quanh năm, biên độ nhiệt trung bình trong năm chỉ khoảng 2 - 30C, sự chênhlệch nhiệt độ giữa các địa điểm trong vùng không vượt quá 1- 20C Nhiệt độ trung bình

năm khoảng 26,50C Tính ổn định thể hiện ở chỗ nhiệt độ ít biến động, ít khi có nhiệt

độ tụt xuống thấp hơn giới hạn sinh trưởng của cây cối, ít có bão Tổng lượng bức xạ

Trang 16

lớn phân bố điều hòa giữa các tháng, tổng nhiệt độ hàng năm khoảng 9.500- 10.0000C.Một đặc điểm đáng lưu ý là biên độ nhiệt ngày đêm của vùng rất cao, cao hơn biên độnhiệt năm.

Như vậy, so với các vùng lãnh thổ khác của cả nước thì ĐBSCL có thể coi là

vùng có khí hậu rất thuận lợi cho quá trình quang hợp của cây, thuận lợi cho các hoạt

động sản xuất và nhất là hoạt động sản xuất nông nghiệp

1.1.2.3 Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng khoảng 39.574.500 ha (gần 4 triệu ha),rộng gấp 3 lần đồng bằng sông Hồng, bằng 12% diện tích cả nước, nếu tính riêng đấttrồng trọt thì chiếm khoảng 37% của cả nước Đất của châu thổ này đã và đang tiếp tụctrạng thái hình thành, biến đổi do sự bồi đắp hàng ngày của phù sa và sự xói mòn liêntục của sông biển Do đặc điểm cấu tạo và tác động của các yếu tố tự nhiên, tài nguyên

đất ở đây không thuần nhất một loại mà được chia làm nhiều loại khác nhau

Đất ở ĐBSCL có thể chia làm các loại sau:

- Đất phù sa, nằm giữa hai bên sông Tiền và sông Hậu, rộng 1,8 triệu ha (2006),chiếm 30% diện tích đồng bằng, có độ phì cao, có thể canh tác đa dạng và phong phúcây trồng

- Đất phèn: chiếm diện tích lớn nhất châu thổ với diện tích 1,6 triệu ha chiếm

40,6% trong đó có 0,55 triệu ha đất phèn mặn và 1,05 triệu ha đất phèn trung bình

hoặc nhẹ Loại đất này có nồng độ chua và nồng độ độc tố nhôm cao độ phì kém Hai

vùng đất phèn rộng lớn nhất là Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên Ngoài ra ởvùng bán đảo Cà Mau còn có loại đất vừa chua phèn vừa mặn, rất bất lợi cho việc canh

tác

Trang 17

Hình 1.3: Một số loại đất ở ĐBSCL (Nguồn:violet.com.vn.bai14 dongbangsongcuulongtiet1)

- Đất mặn: diện tích khoảng 750 nghìn ha chiếm 19%, tập trung ở vùng U Minh

Thượng và Hạ (Cà Mau - Kiên Giang) và trải dọc ven biển Trong đó có 150 nghìn ha

nhiễm mặn thường xuyên gồm toàn bộ phần rìa ven biển phía đông và phía tây, 600nghìn ha nằm sâu hơn trong nội địa dọc ven biển phía đông bị nhiễm mặn định kỳ

hàng năm vào mùa khô

- Đất xám phù sa cổ: diện tích trên 135.000 ha, nằm dọc biên giới Việt Campuchia, phân bố ở một số nơi phía tây bắc tỉnh Long An, phía Tây của Đồng Tháp

Nam-và khu Bảy Núi của An Giang Đất có lớp trên màu xám trắng, nghèo sét, nghèo cácchất dinh dưỡng Quá trình rửa trôi theo chiều thẳng đứng và theo chiều ngang nên đất

bị mất màu

- Đất than bùn, đất hữu cơ: tập trung nhiều nhất các chất hữu cơ phân giải từ cành

lá rơi rụng, giàu lưu huỳnh nhưng nghèo lân và kali Một diện tích lớn loại đất này là

bị nhiễm phèn tiềm tàng Độ phì đất này khá cao nhưng đất quá xốp, dễ bị cháy vàcháy âm ỉ trong lòng đất

- Đất mòn trơ sỏi đá, đất vàng đỏ đồi núi chiếm diện tích rất nhỏ, là loại đất xấunhất, phân bố ở vùng núi Thất Sơn (An Giang), Hà Tiên, Phú Quốc (Kiên Giang)

Từ đó ta có thể nhận ra được ĐBSCL có nguồn tài nguyên đất vô cùng phongphú, là cơ sở để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng dựa trên nguồn tài nguyên màthiên nhiên ban tặng

Trang 18

1.1.2.4 Tài nguyên nước

Nguồn tài nguyên nước ở ĐBSCL rất dồi dào Tổng lượng nước bình quân hàng

năm của sông Mê-Kong đổ vào đồng bằng khoảng 508 tỉ m3 nước kể cả lượng mưa tại

chỗ Tài nguyên nước bao gồm nước trên mặt và nước ngầm

Tài nguyên nước trên mặt: Ngoài lượng mưa tại chỗ thì nguồn nước mặt duy

nhất của ĐBSCL là qua sông Tiền và sông Hậu (sông Vàm Cỏ Tây không đáng kể)

Tỷ lệ trung bình phân bố lưu lượng cả năm qua sông Tiền (Tân Châu) là 83%, quasông Hậu (Châu Đốc) là 17% Mùa kiệt nước là 84% và 16% Đó là nhờ tác động điềutiết của Biển Hồ

Hình 1.4: Mạng lưới sông ngòi ĐBSCL (Nguồn:violet.com.vn.bai14 dongbangsongcuulongtiet1)

Ngoài nguồn tài nguyên nước mặt thì ĐBSCL còn có nguồn nước ngầm rấtphong phú Nước ngầm tầng nông nằm trong phức hệ Holocen có mực nước biến động0,5 – 5m Nước ngầm tầng sâu nằm trong phức hệ Plitocen, Miocen, chất lượng tốt,

đảm bảo các tiêu chuẩn về sinh hoạt

1.1.2.5 Tài nguyên sinh vật.

Tài nguyên này được hiểu bao gồm cả tài nguyên thực vật và tài nguyên động vậttrên đất liền và dưới mặt biển

Trang 19

Hình 1.5: Tràm chim Đồng Tháp (Nguồn:violet.com.vn.bai14 dongbangsongcuulongtiet1)

Từ nguồn tài nguyên đất đai và nước phong phú, đa dạng, trong điểu kiện khí hậunhiệt đới khá ôn hòa, nên ĐBSCL có một hệ sinh thái cũng rất phong phú, đa dạngthuộc các hệ rừng ngập mặn, rừng nhiệt đới, vùng đồng bằng phù sa, vùng đồng bằngtrũng ngập, vùng đồng lầy than bùn, vùng ngập triều, các vùng cửa sông,…Có thể tóm

lược trong các hệ sau:

- Rừng ngập mặn ven biển, nguyên thủy rất rộng lớn Rừng này có chức năngquan trọng trong việc ổn định và mở rộng đất liền ra biển với một hệ thực vật phongphú Khi những rừng đước được hình thành, đất được bồi tương đối ổn định thì vi sinhvật và các chất hữu cơ tăng lên, tập đoàn các cây cốc, ráng, sú, dừa nước, chen vào làmnên rừng ngập mặn, đảm bảo cho một hệ động vật, nhất là động vật thâm mềm, tôm,cua, cá phát triển rất đa dạng

- Đất ngập nước nội địa theo mùa lũ Thảm thực vật đặc trưng cho ĐBSCL làrừng tràm, và ở đây rừng tràm đóng vai trò ngăn ngừa axit hóa đất nền và điều hòa khíhậu, đây cũng là môi trường sinh sống của động vật hoang dã

- Hệ động vật nguyên thủy phát triển trên hai hệ đất rừng ngập mặn và đất ngập

nước nội địa rất phong phú

- Hệ sinh thái cửa sông, rất nhiều tôm cá Trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tếrất lớn Xu thế đang giảm dần do tác động khai thác ở thượng nguồn, đặc biệt là nạn ônhiễm,…

1.1.2.6 Tài nguyên khoáng sản.

So với các vùng khác của cả nước tì ĐBSCL không thuộc loại giàu tài nguyênkhoáng sản Đáng kể nhất là đá vôi ở Hà Tiên (Kiên Giang), và than bùn ở U Minh

Trang 20

(Cà Mau và Kiên Giang) Than bùn ở Mộc Hóa, đặc biệt là ở U Minh Thượng và UMinh Hạ ước lượng có diện tích vài chục nghìn ha, dày trung bình 2m và ước tính có

đến 400- 500 triệu tấn Than bùn làm nhiên liệu đồng thời cũng là nguồn phân bón hữu

cơ có giá trị

Ngoài ra còn có một số loại khoáng sản khác như: đá Granit ở Thất Sơn (AnGiang), quặng thiếc ở Ba Thê (An Giang), quặng photphorit ở Kiên Giang, cao lanh và

đất sét có ở nhiều nơi, cát nền, cát xây dựng ở ven sông và các bãi bồi

Đáng chú ý là hiện nay chúng ta đã thăm dò được một khối lượng khá lớn dầu

khí trên bồn trũng, và với việc đưa nhà máy khí điện đạm Cà Mau vào hoạt động đã cónhững ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế, đời sống dân cư của ĐBSCL

1.2 DÂN CƯ VÀ XÃ HỘI

1.2.1 Dân số và thành phần dân tộc

ĐBSCL là khu vực dân cư đông đúc thứ 2 của cả nước, sau Đồng bằng Sông

Hồng Dân số toàn vùng năm 2009 là 17.213,4 nghìn người, chiếm 20,6% dân số cả

nước Mật độ cư trú là 425 người/km2, gấp 1,7 lần mật độ bình quân cả nước Dân cưsinh sống tập trung vùng ven sông Tiền, sông Hậu và thưa hơn ở các vùng sâu xa trongnội đồng như vùng U Minh, vùng Đồng Tháp Mười

Về quy mô dân số, tỉnh An Giang dẫn đầu khu vực với 2.149,2 nghìn người, thấpnhất là tỉnh Hậu Giang với 758 nghìn người Về mật độ, thành phố Cần Thơ có mức độtập trung dân cư đông nhất với 849 người/km2; kế đến là các tỉnh Vĩnh Long, TiềnGiang, An Giang, Bến Tre; thấp nhất là tỉnh Cà Mau, chỉ với 226 người/km2 Số dânthành thị năm 2009 là 3.930,8 nghìn người, chiếm khoảng 21,2% dân số toàn vùng,

điều này cho thấy rõ tính chất nông thôn ở ĐBSCL

Trang 21

Bảng 1.1: Dân số ĐBSCL năm 2009

Phạm vi Dân số

(nghìn người)

Diện tích(km2)

Dân cư sinh sống ở vùng ĐBSCL bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có

4 dân tộc chính là: Kinh, Hoa, Chăm và Khmer Người Kinh chiếm đại đa số, sống ởhầu hết các nơi trong vùng Người Hoa tập trung nhiều ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau,

Sóc Trăng Người Chăm sống chủ yếu ở An Giang Người Khmer có mặt đông đúc ở

các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang

1.2.2 Nguồn lao động

Về độ tuổi thì cơ cấu dân số vùng ĐBSCL tương đối già hơn so với cả nước vàcác vùng kinh tế phát triển khác Lực lượng lao động toàn vùng năm 2005 là 9,5 triệu

người, chiếm 21,5% lực lượng lao động cả nước Số người trong độ tuổi lao động

(2004) là 9,28 triệu, chiếm 51% dân số, trung bình mỗi năm (2001 - 2005) tăng thêm

300 nghìn Năm 1996 chỉ có 7,4% số người trong độ tuổi lao động được đào tạochuyên môn từ sơ cấp trở lên, năm 2000 là 9,8% và 2004 là 14,6% Từ đó cho thấyhạn chế về đội ngũ lao động chất lượng chưa cao, tay nghề yếu, trình độ chuyên mônthấp…

Như vậy, ĐBSCL là khu vực có nguồn lao động dồi dào, đây sẽ là tiền đề cho

nền nông nghiệp phát triển đa dạng

Trang 22

1.3 ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN ĐẤT Ở ĐBSCL.

1.3.1 Nhóm đất phèn.

Đất phèn- nguồn gốc đất phù sa, có chứa nhiều Sulfua, chủ yếu dưới dạng Pyrite

(FeS2) Khi bị oxy hóa, pyrite chuyển thành Jarosite (KFe2(SO4)2(OH)6), giải phóng ranhiều axit sunfurit là đất trở nên chua phèn, gây tác hại cho nông – lâm – ngư nghiệp

ĐBSCL là châu thổ tích tụ phù sa của sông Mê-Kong, một con sông dài chảy qua

6 quốc gia và có đủ loại địa chất, địa hình, thổ nhưỡng Trong phù sa của sông có đầy

đủ các chất hữu cơ, các kim loại, nhất là sắt Khi ra đến cuối châu thổ gặp môi trườngnước biển có chứa các ion SO4-2, sẽ hình thành các pyrite là hợp chất phèn, tích lũy lại

trong đất thành đất phèn tầng ở sâu gọi là đất phèn tiềm tàng gồm hai tầng: tầng canh

tác ở trên mặt và tầng tiềm tàng nằm ở sâu Lớp phèn hoạt động bao gồm ba lớp: lớpcanh tác, lớp sinh phèn và lớp tiềm tàng

Pyrite tiềm tàng trong đất tự nó không hóa được phèn Khi không có nước phủtrên mặt do mực nước ngầm hạ thấp, do triều rút, do tiêu thoát,…pyrite không tiếp xúc

được với không khí oxy trong đất sẽ oxy hóa pyrite qua từng giai đoạn:

Đầu tiên oxy tác động pyrite rất chậm, có thêm tác động của vi khuẩn, tạo ra Fe2

và sulphate hoặc sulphure

Tiếp theo là sự oxy hóa chậm chạp, có sự xúc tác của vi khuẩn tạo ra các ionsulphure và H+ tạo chua cho đất

Ở Việt Nam có khoảng 1,8 triệu ha đất nhiễm phèn, riêng ở ĐBSCL có tới 1,6

triệu ha Phân bố ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau, Kiên Giang, An

Giang, Đồng Tháp Mười và một số ít ở miền Đông Nam Bộ

Hình 1.6: Đất ruộng nhiễm phèn

Trang 23

Vùng Đồng Tháp Mười được giới hạn bởi sông Tiền về phía Tây và Tây Nam.Phia Đông Bắc là biên giới Việt Nam- Campuchia và quốc lộ 22 Phía Đông là quốc lộ

1 Diện tích tự nhiên khoảng 822.000ha bao gồm 3 tỉnh: Đồng Tháp, Tiền Giang vàLong An Có 6 loại đất là: đất xám trên phù sa cổ, đất phù sa, đất giồng trên trầm tíchbiển, đất phèn nặng, đất phèn trung bình và đất phèn nhẹ Đây là vùng đất có địa hìnhbằng phẳng và thấp dần từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam có độ cao từ 5- 0,5m.Dọc theo sông Tiền có dải phù sa rộng 300-500m là loại phù sa mới, phì nhiêu Dọctheo biên giới là phù sa cổ, địa hình tương đối cao Vùng trũng là cánh đồng Bắc

Chiêm, Tháp Mười và giữa hai sông Vàm Cỏ

Vùng phèn và phèn mặn ở Tứ giác Long Xuyên: vùng này có lợi thế hơn Đồng

Tháp Mười do có hai nguồn nước ngọt bao quanh là kênh Vĩnh Tế và sông Hậu Giới

hạn ở phía Đông Nam là kênh Cái Sắn và liên tỉnh lộ 80 với 492.000ha gồm nhiều loạithổ nhưỡng Đây là vùng đất có địa hình xu thế thấp dần từ Đông Bắc đến Tây Nam,thấp dần từ sông Hậu về phía biển Tây, từ Châu Đốc về Long Xuyên hình thành trũng

ở giữa vùng Tri Tôn Là vùng đất được đầu tư thủy lợi từ rất sớm

Vùng ven biển phía Đông ở khu vực nằm giữa các sông Cửu Long, chịu tác độngcủa triều biển Đông và chế độ thủy văn của sông Cửu Long Nguồn nước ngọt do sôngCửu Long cung cấp, phù sa được bồi đắp hàng năm nhờ lũ Đất ở đây phần lớn là phènmặn và mặn

Vùng Tây sông Hậu gồm phần đất Tây và Tây Nam tỉnh Hậu Giang và cáchuyện Giồng Riềng, Gò Quao, Tân Hiệp (Kiên Giang)

1.3.2 Nhóm đất mặn

Đất nhiễm mặn là đất có chứa nồng độ muối cao trong dung dịch, với sự gia tănglượng muối trong đất đưa đến những thay đổi xấu về đặc tính đất làm giảm khả năng

sử dụng đất trong nông nghiệp

Do vị trí tiếp giáp biển, mùa khô nước biển có khả năng xâm nhập vào một cách

tự nhiên Việc sử dụng nước cho nông nghiệp vào mùa khô làm cho mực nước sôngcạn kiệt dẫn đến việc nước mặn xâm nhập sâu vào trong nội đồng và sự nhiễm mặnxảy ra

Đất nhiễm mặn ở ĐBSL chiếm diện tích khá lớn so với toàn vùng đứng thứ haisau đất phù sa với khoảng 809.034ha (21,38% diện tích), dải đất mặn tập trung lớn

nhất ở các vùng ven biển từ Gò Công xuống Gành Hào, ven biển phía tây dải đất mặnhình thành một dải hẹp từ cửa sông Ông Đốc lên vùng An Biên cửa sông Cái Lớn Làloại đất tương đối phì nhiêu nhưng lại bị nhiễm mặn do đó hạn chế năng suất của câytrồng Hiện nay đất mặn được chia làm ba đơn vị đất là: đất mặn sú vẹt đước, đất mặnnhiều, đất mặn trung bình và ít Trong số này thì diện tích đất mặn nhiều và ít chiếm tỉ

lệ cao nhất khoảng 75%

Trang 24

- Đất mặn sú, vẹt, đước: chạy dài vùng ven biển từ Bến Tre xuống Cà Mau Đất

này thường có dạng bùn lỏng, lầy, rất mặn, pH trung tính, nhiều mùn do lá, rễ đước

phân hủy ra

Hình 1.6: Rừng ngập mặn ven biển (Nguồn:violet.com.vn.bai14 dongbangsongcuulongtiet1)

- Đất mặn nhiều: nguyên nhân là do lượng muối biển tan có trong đất cao >

0,5%, lượng Cl- 0,2 – 0,3 % Muối biển chủ yếu là NaCl theo nước thủy triều hoặc

nước sông tràn vào đất, hoặc theo mạch nước ngầm mà bốc mặn lên vào mùa khô Đất

có nồng độ bazơ cao, độ pH trung tính, hàm lượng mùn không cao, dễ tan và dễ trôi

Đất mặn nhiều thường không có kết cấu, rất dẻo, khi có nước thì rất dính, khi khô thì

co lại và nứt nẻ

- Đất mặn trung bình và ít: tập trung chủ yếu ven biển, những nơi có đất mặnnhiều nhưng nằm sâu hơn vào phía trong đất liền Đặc điểm cơ bản của đất này là ítmặn hơn, khả năng trồng trọt và cho năng suất cao hơn

Nói chung đất mặn trung bình ít chua cả khi khô lẫn khi ẩm và độ chua này thayđổi theo từng mùa vụ trong năm Từ trước đến nay, nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm

trong việc sử dụng đất mặn bằng cách trồng lúa kết hợp với rửa mặn biến đất mặn

thành đất ít mặn Trong thực tế, nếu nồng độ muối hòa tan và nồng độ Clo ngang với

nồng độ đất ít mặn thì ảnh hưởng của đất mặn đối với cây trồng có thể coi như không

đáng kể

1.3.3 Nhóm đất phù sa

Đây là nhóm đất được bồi đắp hàng năm do lũ tràn về từ sông Cửu L ong Vàomùa lũ, nước tràn về phủ ngập Biển Hồ rồi từ từ rút về ĐBSCL, ĐBSCL lại có nhữngvùng trũng chứa nước như Đồng Tháp Mười, U Minh do đó những vùng còn lại càng

3

Trang 25

trải dài trên mặt đồng bằng và lấn ra biển, do đó bề mặt đồng bằng bằng phẳng hơn

đồng bằng sông Hồng Thành phần cơ giới phù sa sông Cửu Long nặng hơn sông

Hồng

Do không có đê, nhiều kênh rạch nên sự xen kẽ xâm nhập giữa đất phèn, mặn vàphù sa rất phức tạp Nói chung đất phù sa chỉ còn lại ở những dải đất cao ven sông

thoát nước là không mặn và không phèn Mặt khác, do tốc độ bồi chậm, cường độ rửa

trôi lớn, mùa khô kéo dài và sâu sắc nên bản thân đất phù sa ở ĐBSCL có sự biến đổimạnh, chúng thường hơi chua và bên dưới có xuất hiện tầng vàng hoặc loang lổ, biểuhiện của sự di chuyển và tích lũy sắt

Đất phù sa ở ĐBSCL có diện tích khoảng 1,3 triệu ha phân bố đều ở các tỉnh, dọc

hai bên bờ sông Hậu và sông Tiền Đây là loại đất tốt, pH từ trung tính đến hơi chua,

hàm lượng mùn và đạm trung bình, lượng kali lớn, nhưng lân lại thấp Đất thường có

màu nâu xám Đất phù sa ĐBSCL thích hợp với lúa, các loại cây màu và cây ăn trái.Những vùng thâm canh năng suất lúa có thể đạt 12, 13 tấn/ năm/ha

Hình 1.7: Cánh đồng lúa ĐBSCL (Nguồn:violet.com.vn.bai14 dongbangsongcuulongtiet1)

Đất phù sa ở đây được chia làm hai loại là:

Đất phù sa ven sông Tiền và sông Hậu hay còn gọi là đất phù sa “đê sông”, hay

đê tự nhiên Đó là hai gờ đất chạy song song với nhau bọc lấy lòng sông ở giữa Vì lànơi khô ráo, phần lớn diện tích tự nhiên ở đây trở thành đất thổ cư Đất phù sa ven đêhàng năm được bồi đắp thêm phù sa mới nên mang lại độ phì cao cho đất và giữ ẩm tốtcho đất vào mùa nắng do thủy cấp rất nông

Đất phù sa xa sông: là khu đất nằm sau lưng đê có tính trũng thấp được giới hạn

bằng các loại địa hình khác nhau, có độ cao trung bình từ 0,5 - 1m Nhóm đất này

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w