Nhận xét mặt tích cực và hạn chế...5 Câu 3: Những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Việt Nam...8 Câu 4: Sự đối lập giữa quan điểm duy tâm và duy vật, siêu hình và biện chứng trong t
Trang 1Contents 1
Câu1 Quan điểm chính trị - xã hội của Nho gia Nhận xét mặt tích cực và hạn chế So sánh đường lối chính trị của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia 1
Câu 2: Bản thể luận và nhân sinh quan Phật giáo Ấn Độ cổ đại Nhận xét mặt tích cực và hạn chế 5
Câu 3: Những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Việt Nam 8
Câu 4: Sự đối lập giữa quan điểm duy tâm và duy vật, siêu hình và biện chứng trong triết học Hi Lạp cổ đại (Về bản thể luận, nhận thức luận, chính trị- xã hội giữa Đêmôcrit và Platôn; triết học Hêraclit và phái Elê…) 15
Câu 5: Quan điểm triết học của các nhà triết học Tây Âu Trung cổ (Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo, về vấn đề bản thể luận, nhận thức luận con người và xã hội) 19
CÂU 6 Những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa duy vật Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII 21
CÂU 7: Các luận điểm của chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa thực dụng 26
CÂU 8: Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện 32
ĐÁP ÁN CÂU HỎI
Câu1 Quan điểm chính trị - xã hội của Nho gia Nhận xét mặt tích cực và hạn chế So sánh đường lối chính trị của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia
Quan điểm chính trị - xã hội của Nho gia:
Nho gia, do Khổng Tử sáng lập, là trường phái triết học có ảnh hưởng lớn nhất, là hệ tư tưởng thống trị trong suốt thời kỳ phong kiến ở Trung Quốc và nhiều nước khác như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên Mạnh Tử phát triển về phía duy tâm tiên nghiệm và Tuân Tử phát triển về phía duy vật
Về quan điểm chính trị-xã hội, Khổng Tử coi xã hội là tổng hợp các mối quan hệ giữa
người với người, trong đó các quan hệ như : vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè Năm
mối quan hệ này về sau được Nho gia gọi là Ngũ luân, trong đó có ba mối quan hệ cốt lõi:
vua -tôi, cha-con, chồng-vợ được gọi là Tam cương
Khổng Tử coi nguyên nhân xã hội loạn lạc là do sự suy thoái đạo đức xã hội Ông mong muốn khôi phục lại trật tự xã hội kiểu nhà Chu, một kiểu xã hội được ông coi là mẫu mực, lý
Trang 2tưởng Đó là một trật tự xã hội có đẳng cấp, tôn ti trật tự, từ vua tôi đến thứ dân ai cũng phảilấy nhân, nghĩa, lễ, chính danh làm chuẩn mực
Những phạm trù cơ bản trong học thuyết chính trị - đạo đức của Khổng Tử là Nhân, Nghĩa, Lễ, chính danh.
Nhân là lòng thương người Phàn Trì hỏi thế nào là Nhân, Khổng Tử đáp “Ái nhân”
(Yêu người) Nhân được hiểu như là “toàn đức” Nhân có hai khía cạnh – trung và thứ: Trung
là thành thật với người, “Mình muốn lập thân thì hãy giúp người khác lập thân Mình muốnthành đạt thì hãy giúp người khác thành đạt” (Kỷ dục lập nhi lập nhân Kỷ dục đạt nhi đạt
nhân) Thứ là lòng vị tha, khoan dung “Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác”
(Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân)
Người nhân biết thương người nhưng cũng biết ghét người Nhân có tính đẳng cấp thểhiện trong các mối quan hệ cụ thể: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè
Trong đạo nhân, hiếu là gốc Hiếu không chỉ thể hiện ở việc nuôi nấng cha mẹ mà quan
trọng nhất là lòng thành kính Khổng Tử nói: “Nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác
gì nuôi thú vật”
Nhân gắn liền với nghĩa Nghĩa là hành vi đạo đức biểu hiện của lòng nhân Người làm
việc nghĩa thì hy sinh lợi ích của mình vì người khác Vì thế, nghĩa và lợi không thể dung hợpvới nhau Khổng Tử nói: “Quân tử biết rõ về nghĩa, tiểu nhân biết rõ về lợi” (Quân tử dụ ưnghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi)
Lễ là hình thức biểu hiện của nhân, biểu hiện lòng thương yêu, quý trọng con người Lễ
bao gồm nhiều mối quan hệ rộng lớn từ quan hệ với thần linh (tế lễ) đến quan hệ ứng xử giữangười với người, quan hệ đạo đức, phong tục tập quán, quan hệ nhà nước, luật pháp, v.v Theo Khổng Tử, tuân theo lễ là một điều kiện để thực hiện nhân đức Khổng Tử nói
“Khắc kỷ phục lễ vi nhân” “Không biết lễ không thể đứng vững” Người quân tử không baogiờ làm trái với lễ “Cái gì trái với lễ thì không nhìn, điều gì trái với lễ thì không nghe, điều gìtrái với lễ thì nói, điều gì trái với lễ thì không làm” (Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vậtngôn, phi lễ vật động)
Cùng với lễ, nhạc cũng có vai trò quan trọng Khổng Tử nói “Hưng khởi là nhờ thi, tạo
lập là nhờ lễ, thành đạt là nhờ nhạc” Nhạc mà chính trực, trang nghiêm, hòa nhã có tác dụngnuôi dưỡng tâm tính, cảm hóa lòng người, hướng cái tâm con người tới chân, thiện, mỹ
Khổng Tử coi chính danh là điều cơ bản để trị nước Danh là tên, khái niệm, bản chất.
Chính danh có nghĩa là người ở cương vị nào thì phải xứng đáng với cương vị đó, phải làm đúng danh phận, chức trách của mình, “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (Quân
quân, thần thần, phụ phụ, tử tử)
Danh mà không chính thì ngôn (lời nói) sẽ không thuận (không có tính thuyết phục, sẽ
không được nghe và làm theo) Khổng Tử nói: “Thân mình chính được thì không phải hạ lệnhmọi việc vẫn tiến hành Thân mình mà không chính được thì dù có hạ lệnh cũng chẳng aitheo” Nhân, lễ, chính danh không chỉ là đạo làm người, mà còn là đạo trị nước
Trang 3Khổng Tử coi trọng giáo dục, phản đối bạo lực và chiến tranh Đường lối này được gọi
là đường lối “đức trị”, hay “nhân trị” Để cho đất nước thịnh trị, phải biết thượng hiền (tôntrọng người hiền tài) Phải thực hiện 3 điều: thực túc, binh cường, dân tín
Quan điểm chính trị-xã hội của Mạnh Tử : ông phát triển học thuyết của Khổng Tử
thành học thuyết nhân chính, chủ trương lấy đức để thu phục lòng người, phản đối việc cai trịbằng bạo lực Ông phân biệt vương chính (cai trị bằng nhân nghĩa) với bá chính (cai trị bằngbạo lực) Mạnh Tử nói: “Kẻ lấy sức mạnh nói thác nhân là bá… Kẻ lấy đức thi hành nhân làvương… Lấy sức mạnh thu phục người, không phải lòng người theo mà vì sức mạnh không
đủ Lấy đức thu phục người thì người ta vui lòng theo mình một cách thành thực như bảymuơi đệ tử theo Khổng Tử vậy”
Mạnh Tử coi dân là quan trọng nhất, kế đến là giang sơn xã tắc, vua là thườngthôi “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Quan hệ vua tôi là quan hệ hai chiều, tôntrọng lẫn nhau Nếu vua coi bề tôi như cỏ rác thì bề tôi sẽ coi vua như kẻ thù Nếu vua không
có đạo đức thì không còn xứng đáng là vua nữa mà chỉ là “một thằng” thôi và nhân dân cóquyền đạo đức để lật đổ ngôi vua
Thời Mạnh Tử, chế độ công hữu tan rã, chế độ tư hữu ra đời Mạnh Tử chủtrương để cho dân chúng có hằng sản mới có hằng tâm nghĩa là dân phải có tư liệu sản xuất(ruộng đất để canh tác) ổn định thì mới có cái tâm ổn định được
Tóm lại, triết học của Mạnh Tử tuy còn mang yếu tố duy tâm và thần bí (hạn chế) nhưngtrong học thuyết về CT-XH với tư tưởng “nhân chính”, “dân bản” có ý nghĩa tiến bộ, phù hợpvới yêu cầu và xu thế phát triển của lịch sử XH
Quan điểm chính trị- xã hội của Tuân Tử: là người phát triển học thuyết của Khổng
Tử, đề cao nhân, nghĩa, lễ nhạc và chính danh, tuy nhiên, Tuân Tử phản đối quan niệm củaKhổng Tử và Mạnh Tử về những vấn đề chính trị và đạo đức Ông đứng trên quan điểm duyvật và vô thần (tích cực), ông cho rằng tự nhiên gồm 3 bộ phận: trời, đất và người Trời chỉ làmột bộ phận của tự nhiên, bản thân tự nhiên là cơ sở hình thành và biến hoá của vạn vật Nhưvậy, trời không quyết định vận mệnh của con người, con người là sản phẩm cao nhất của giới
tự nhiên Việc trị hay loạn, lành hay dữ là do con người làm ra chứ không phải tại trời Nếucon người hành động thuận với lẽ tự nhiên thì lành, trái lại sẽ gặp loạn “Lấy sự trị mà đối phóvới đạo thì lành, lấy sự loạn mà đối phó với đạo ấy thì dữ”
Không chỉ hành động phù hợp với tự nhiên mà con người có thể cải tạo tự nhiên và XH
để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn Ông phê phán mê tín dị đoan, việc tôn thờ trời, ỷ lại trời,khuyên con người nên tin ở sức mình, ra sức phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, ăn ở điều
độ, giữ gìn sức khoẻ thì trời sẽ không để cho nghèo khó và bệnh tật Về đạo đức ông đưa rathuyết tính ác cho nên ông chủ trương sửa trị việc nước, giáo dục đạo đức, lễ nghĩa làm cho
XH tiến bộ, văn minh hơn Ông đề cao “lễ trị”, ông cho rằng lễ nghĩa và đẳng cấp trong XH làcần thiết để duy trì trật tự XH
Nhận xét mặt tích cực và hạn chế: Đường lối nhân trị của Khổng Tử có tính chất điều
hòa mâu thuẫn giai cấp, phản đối chiến tranh Theo đường lối này, giai cấp thống trị phải
Trang 4thương yêu, tôn trọng, chăm lo cho dân; nhân dân phải an phận, lấy nghèo làm vui (an bần nhilạc), nghèo mà không oán trách (bần nhi vô oán).
Nho gia đề cao đạo đức và trách nhiệm của con người đối với xã hội Nho gia đặt conngười trong năm mối quan hệ với những lập luận chặt chẽ, làm cơ sở cho mục tiêu phấn đấu
và nội dung tu dưỡng của con người Nó thực sự góp phần củng cố trật tự xã hội
Tuy nhiên, quan điểm Nho gia không tưởng khi chủ trương đơn thuần lấy đạo đức làmcốt yếu để thiết lập trật tự xã hội theo kiểu nhà Chu Đó là xã hội của quá khứ, một xã hội cónền tảng kinh tế đã thay đổi Chế độ công hữu với phép tỉnh điền của nhà Chu không còn giátrị thực tế, trong khi đó, chế độ tư hữu ngày càng phát triển Theo quan điểm này sẽ gây nhiềuchướng ngại cho sự phát triển đời sống xã hội
So sánh đường lối chính trị của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia:
Trong thời Xuân Thu- Chiến Quốc và qua các thời đại sau, ở Trung Quốc có 3 thuyết
lớn về đường lối chính trị: Thuyết Nhân trị của Nho gia, Vô vi trị của Đạo gia và Pháp trị của Pháp gia
Nho gia: đường lối chính trị là “đức trị” hay “nhân trị”, chủ trương cai trị đất nước trên
cơ sở bản thân nhà cầm quyền, sự hưng suy của xã hội đều do nơi bản thân những người cầmquyền và vấn đề cốt lõi tập trung ở chỗ làm sao cho người cai trị có đủ tài đức Nhà cầmquyền phải lấy đạo đức mà giáo hóa, dẫn dắt dân chúng chứ không phải dùng đến cưỡng chếtrừng phạt “Vua cai trị nước mà biết đem cái đức của mình để cảm hóa thì mọi người đềuphục theo Ngôi sao bắc đẩu tuy ở một chỗ mà có mọi vì sao chầu theo” Biện pháp cơ bản đểthực hiện nhân trị là chính danh, lễ, vai trò tài đức của người cầm quyền và vai trò của dân.Coi trọng giáo dục, phản đối bạo lực và chiến tranh Khổng Tử coi XH là tổng hợp các mốiquan hệ giữa người với người, đó là Ngũ luân và Tam cương Đường lối nhân trị của Khổng
Tử có tính chất điều hòa mâu thuẫn giai cấp, phản đối đấu tranh Ông khuyên giai cấp thốngtrị phải thương yêu, tôn trọng, chăm lo cho nhân dân Đồng thời, ông cũng khuyên dân phải anphận, lấy nghèo làm vui, nghèo mà không oán trách Ông coi việc oán trách cảnh nghèo hèn,
ưa dùng bạo lực là mầm mống của loạn Tuy nhiên những kế sách chính trị của ông chỉ dừnglại ở tính chất cải lương và duy tâm chứ không phải phải bằng cách mạng hiện thực
Đạo gia đề xướng thuyết vô vi làm đường lối chính trị Vô vi là sống, hoạt động theo lẽ
tự nhiên, thuần phác, không làm trái với tự nhiên, không can thiệp vào trật tự tự nhiên.Vô vicũng có nghĩa là giữ gìn bản tính tự nhiên của mình, của vạn vật “ theo thái độ vô vi, dùngthuật không nói mà dạy dỗ, để cho vạn vật tự nhiên sinh trưởng mà không can thiệp vào” Lão
Tử cho rằng chỉ cần làm cho dân “no bụng”, “xương cốt mạnh” mà “lòng hư tĩnh”, “khiến chodân không biết, không muốn” Không dùng luật pháp, không cần giáo dục nhân nghĩa, lễ, trí
“Theo chính sách vô vi thì mọi việc đều trị” Lão Tử chủ trương hạn chế quyền lực của Nhànước và hoạt động của dân đến mức tối đa, để cho dân sống chất phác thời nguyên thủy, duytrì tình trạng nước nhỏ, dân ít
Pháp gia chủ trương đường lối pháp trị Hàn Phi cho rằng bản tính con người ích kỉ,
thích tìm điều lợi và tránh điều hại, luôn mưu lợi cho bản thân; do đó phải đặt ra pháp luật,trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội Theo Hàn Phi, để cai trị xã hội cần phải có
Trang 5ba yếu tố là Pháp, Thế, Thuật Pháp là pháp luật Hàn Phi cho rằng pháp luật phải được công
bố cho mọi người biết để tuân theo Pháp luật phải thay đổi phù hợp với tình hình cụ thể Thế
là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu Thuật là phương pháp, mưu lược, thủ đoạn
trong việc trị dân Nếu pháp được công bố rộng rãi, thì thuật là cơ trí, thủ đoạn ngấm ngầmcủa vua, không để ai biết Chính vì thế, Hàn Phi nói vua dùng luật như trời, dùng thuật nhưquỷ Đường lối pháp trị của Pháp gia là tư tưởng của giai cấp quý tộc mới, kiên quyết đoạntuyệt với tư tưởng bảo thủ, mê tín đương thời
Ba đường lối chính trị này khác nhau về nguyên tắc Thuyết nhân trị đề cao vai trò củađạo đức, thuyết pháp trị nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp, thuyết vô vi thì phản đối cảđạo đức lẫn pháp luật
Mỗi học thuyết đều có giá trị riêng và hạn chế của nó, nhưng đường lối chính trị mangtính nhân văn cao và được áp dụng hiệu quả trong lịch sử là đường lối nhân trị của Nho gia.Học thuyết Pháp gia là công cụ giúp vua Tần thống nhất Trung Quốc, tuy nhiên, học thuyếtnày khiếm khuyết nghiêm trọng ở sự tuyệt đối hóa yếu tố pháp luật, phủ nhận vai trò của yếu
tố đạo đức, nặng hình phạt tàn bạo, nên đường lối cai trị như vậy tất yếu dẫn đến chế độ độctài, mất lòng dân, và đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của nhàTần
Trong ba đường lối này, thuyết vô vi mang tính chất xuất thế, trốn tránh trách nhiệm với
xã hội, đối lập với hai học thuyết còn lại Chủ trương pháp trị đối lập với nhân trị về nguyêntắc, nhưng xét đến cùng pháp trị cũng chỉ cụ thể là một hình thức của nhân trị Bởi vì muốn thihành được các chủ trương của Pháp gia, xã hội cũng cần có một đấng minh quân, một nhà vuasáng suốt, am hiểu nguyên tắc pháp trị và chịu khép mình theo nguyên tắc đó
Câu 2: Bản thể luận và nhân sinh quan Phật giáo Ấn Độ cổ đại Nhận xét mặt tích cực và hạn chế
- Nhân sinh quan: là quan niệm của con người đối với cuộc sống
Nét nổi bật về kinh tế xã hội của ấn độ cổ đại là sự tồn tại lâu dài của mô hình “công xãnông thôn”,với kết cấu đó xã hội rất phức tạp với sự phân chia đẳng cấp, sự phân biệt chủngtộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo Những điều kiện đó tác động mạnh mẽ đến con người, đểlại dấu ấn tâm linh đậm nét, tạo ra tiền đề cho sự ra đời của nền triết học Ấn Độ cổ, trung đại.Nét đặc thù của nền triết học Ấn Độ là nền triết học chịu ảnh hưởng của những tư tưởng, tôngiáo có tính chất “hướng nội” chính vì vậy việc lý giải và tiến hành những vấn đề nhân sinhquan dưới góc độ tâm sinh tôn giáo nhằm đạt tới sự “giải thoát” là xu hướng nổi trội của triếthọc cổ đại Ấn Độ tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại
Phật giáo là một trường phái triết học tôn giáo xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ VI trướcCông nguyên Phật giáo ra đời trong làn song đấu tranh chống lại sự thống trị của đạoBàlamôn, chống phân biệt đẳng cấp và đòi bình đẳng xã hội
Người sáng lập (theo truyền thuyết): Siddharta (Tất đại đa, 563-483 TrCN), con vuaTịnh Phạn (Suddhodana), nước Katìlavệ (Kapilavastu), mẹ là Hoàng hậu Ma-Gia (Maha-maya) thuộc dòng họ Sakya nên ông được gọi là Sakyamuni (Thích ca Mâu ni = nhà thôngthái của dòng họ Sakya) Năm 29 tuổi ông xuất gia đi tìm con đường giải thoát Sau khi tu
Trang 6luyện giác ngộ (năm 35 tuổi), ông lấy hiệu là Buddha (Phật, có nghĩa là giác ngộ), thu nhận đồ
đệ và đi khắp đất nước Ấn Độ để truyền bá học thuyết của mình cho đến khi qua đời năm 80tuổi
Bản thể luận của Phật giáo: toàn bộ thế giới quan của Phật giáo được thể hiện trong
“đạo lý duyên khởi”, trong đó đưa ra 4 luận điểm:
-Vô tạo giả: Phật khẳng định rằng không có lực lượng sáng tạo đầu tiên (phủ nhậnBrahman) và cho rằng vũ trụ là vô thuỷ, vô chung, là một dòng vô tận không do một thầnthánh nào sáng tạo nên Mỗi một sự vật được gọi là một pháp (hiểu theo hai nghĩa: đồng nhất
sự vật và hiện tượng; điều cấm kị của nhà Phật)
- Vô ngã: mọi sự vật và hiện tượng xung quanh và chính bản thân con người là không cóthật (duy tâm), nó được cấu tạo từ các yếu tố mà Phật giáo gọi là danh và sắc Danh và sắcđược chia thành 5 yếu tố gọi là ngũ uẩn Các yếu tố tinh thần gọi là danh (nama) gồm: thụ(vedana), tưởng (samjna), hành (samskara), thức (vijnana) Con người do 5 yếu tố (ngũ uẩn:sắc, thụ, tưởng, hành, thức) tạo nên Có lúc Phật đưa ra 6 yếu tố (lục đại) gồm: danh là các yếu
tố tinh thần có tên gọi mà không có hình, và sắc là các yếu tố có hình (địa, thuỷ, hoả, phong vàkhông) Các yếu tố lục đại và ngũ uẩn kết hợp và hoà trộn với nhau tạo nên sự chuyển biếnkhông ngừng của vũ trụ và bác bỏ sự tồn tại của Brahman
- Vô thường: Phật khẳng định Thế giới khách quan (con người và vũ trụ) không có gìvĩnh hằng bất biến mà cái gì cũng có quá trình sinh thành, biến đổi và tiêu vong theo luậtnhân quả mà Phật gọi là sinh- trụ- dị- diệt hay thành- trụ- hoại- không Mọi vật từ bé nhất (vimô) đến vũ trụ (vĩ mô) đều phải tuân theo quy luật trên
- Nhân quả tương tục: Phật khẳng định rằng tất cả các sự vật và hiện tượng trên Thế giớiđều có nguyên nhân và kết quả tạo thành một chuỗi không ngừng nghĩ mà Phật gọi là: nhânquả tương tục vô gián đoạn và nhân quả tương tục vô tạp loạn
Nhân sinh quan của Phật giáo: toàn bộ nhân sinh quan được thể hiện trong “Tứ
diệu đế”, 4 chân lý vĩnh hằng, thiêng liêng , cao cả và đúng đắn nhằm giải thích xã hội conngười và thân phận con người
- Khổ đế: chân lý về cái khổ, Phật cho rằng “đời là bể khổ”, Phật dạy rằng: “ta chỉ dạy
các con một điều là khổ và diệt khổ”, rằng “nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển”.Cuộc đời con người có tám nổi khổ lớn mà Phật gọi là bát khổ: sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly,oán tăng hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn
- Tập đế hay Nhân đế: Phật khẳng định rằng mọi nổi khổ của con người đều có nguyên
nhân, Phật đưa ra 12 nguyên nhân cho nổi khổ trên đời “Thập nhị nhân duyên” nghĩa là mọi
sự vật, hiện tượng đều vô ngã, vô thường (không có thật, không có cái gì bất biến), không cócái gì tồn tại vĩnh viễn thế mà con người sinh ra lại “tham- sân- si” 12 nguyên nhân sinh ranổi khổ là:
+ vô minh (avidya): không sáng suốt
+ hành (samskara): do vô minh mà dẫn đến tâm dao động, hoặc dẫn con người ta đi vàongõ cụt hoặc dẫn con người ta đi đến sự tham lam vô lối
Trang 7+ thức (vijnana): thức tồn tại, phân biệt ta với không ta, từ cái tâm trong sáng, cân bằngđến mờ tối, mất cân bằng.
+ danh sắc (namarupa): là sự phối hợp giữa các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra lụccăn (6 cảm giác của con người: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý)
+ lục nhập (sandagatana): do tiếp xúc giữa 6 yếu tố bên trong với 6 yếu tố bên ngoàinghĩa là lục căn tiếp xúc với lục trần mà sinh ra 6 cảm giác là nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý.+ xúc (sparsa): cảm nhận được do tiếp xúc giữa con người với yếu tố bên ngoài
- Diệt đế: khi tìm ra được ngọn nguồn của nổi khổ theo thập nhị nhân duyên Phật cho
rằng con người có thể từ bỏ được tận gốc mọi nổi khổ để thoát khỏi vòng luân hồi, nghiệpchướng để đưa chúng sinh đến cõi niết bàn (nirvana)
- Đạo đế: con đường con người phải tuân theo để diệt khổ, gồm có Bát chính đạo- con
đường với tám phương hướng đúng đắn
+ Chính kiến (sammyak- dristi; right views): thấy, xem xét sự vật một cách đúng đắn.Chính kiến cũng có nghĩa là hiểu biết đúng đắn
+ Chính tư duy (sammyak- samkalpa; right intention): suy nghĩ đúng đắn
+ Chính ngữ (sammyak- vaca; right speech): lời nói đúng dắn
+ Chính mệnh (sammyak-ajiva; right livehood): mưu sinh đúng dắn
+ Chính tinh tiến (sammyak- vyayama; right effort): cố gắng, nỗ lực phấn đấu một cáchđúng đắn
+ Chính niệm (sammyak- smritisati; right mindfulness): ghi nhớ, tâm niệm đúng đắn.+ Chính định (sammyak-samadhi; right concentration): tập trung tư tưởng một cáchđúng đắn
Tám điều này được gộp lại thành 3 điều: Giới (sila, morality) gồm chính ngữ, chínhnghiệp, chính mệnh; Định (samadhi, concentration) gồm chính tinh tiến, chính niệm, chínhđịnh; Tuệ (panna; wisdom) gồm chính kiến, chính tư duy
Nhận xét m ặt tích cực và hạn chế:
- Tích cực:
+ Là trường phái triết học vô thần (chống lại Brahman và không thừa nhận atman) mặc
dù không triệt để, có yếu tố duy vật biện chứng, thừa nhận có sự vận động tuyệt đối của các sựvật hiện tượng
+ Chống lại sự phân biệt đẳng cấp, chủ trương bình đẳng xã hội
+ Triết lý của đạo Phật có ý nghĩa giáo dục rất lớn vì nó khuyên con người khinh ghét nhữngham muốn dục vọng vật chất tầm thường
Trang 8+ Đạo Phật có tính nhân đạo cao bởi vì nó khuyên con người suy nghĩ và làm điều thiện, tránh
xa điều ác, thưng yêu cứu giúp mọi người Không dùng bạo lực trong quan hệ giữa các giáophái khác nhau cũng như tôn giáo khác nhau
- Hạn chế:
+ Phật giáo là trường phái duy tâm chủ quan trong quan niệm về XH bởi vì nó cho rằngnguyên nhân cơ bản của mọi nổi khổ là do vô minh do đó Phật giáo cho rằng sự sáng suốt,giác ngộ của con người là yếu tố quyết định sự giải thoát con người khỏi cái khổ.+ Chưa nhận thấy được sự đứng yên tương đối của các sự vật hiện tượng.+ Phật giáo chủ trương giải thoát con người bằng phép tu thân, tích đức tiêu cực, xa lánh cuộcđời mà không mang phong trào cách mạng XH, phủ nhận sự biến đổi cải tạo XH bằng thựctiễn cách mạng
+ Phật giáo theo trường phái nhận thức luận duy tâm, nhận thức chỉ thực hiện bằng sự tuluyện, thiền định Không thừa nhận vai trò của nhận thức cảm tính và tư duy cũng như via tròcủa hoạt động thực tiễn đối với nhận thức
+ Phật giáo cho rằng cuộc đời là giả, ảo, mọi ham muốn đời thường đều là tội lỗi Tuynhiên, Niết bàn - cái mà Phật cho là thực tại thì hóa ra chỉ là điều tưởng tượng thuần túy,không có gì làm bằng chứng
Câu 3: Những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Việt Nam.
I Qúa trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học Việt Nam
1 Tư tưởng triết học Việt Nam thời cổ đại
Cách đây 4000 ngàn năm, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã bước vào thời kỳđồng thau Trong nền văn hoá Tiền Đồng Sơn ( bắt đầu từ 2000 năm trước công nguyên ), cưdân Việt nam đã biết trồng lúa, chăn nuôi gia súc: trâu, bò, lợn…Họ biết chế tạo những đồtrang sức bằng ngọc tinh vi với những kiểu dáng khác nhau, những đồ gốm với nhiều hoa vănphức tạp Các đường tròn và hình đối xứng chứng tỏ cư dân đã có những kiến thức hình họcnhất định
Cư dân Tiền Đông Sơn đã có tục chôn cất người chết sâu trong lòng đất cùng với đồ tuỳtáng Điều này chứng tỏ họ đã quan tâm đến “cuộc sống”của người chết ở thế giới bên kia.Những hoa văn được trang trí trên đồ gốm biểu hiện mô hình vũ trụ và hình đối xứng chứng tỏ
cư dân đã có những kiến thức hình học nhất định
Sự hình thành nền văn hoá Đông Sơn đánh dấu quá trình hợp nhất các bộ lạc và nhóm
bộ lạc để tạo thành một nhà nước rộng lớn mà truyền thuyết gọi là những Văn Lang của cácvua Hùng
Chủ nhân nền văn hoá Đông Sơn đã đưa nghệ thuật đúc đồng lên đỉnh cao Họ đã đúc
được những chiếc trống đồng lớn có âm thanh hay và những hoa văn tinh tế Ngoài ra họ còn
đã biết chế tạo những công cụ bằng sắt
Nhữnh hình vẽ trên trống đồng ghi lại cảnh sinh hoạt của người Viềt Nam thời kỳ vănhoá Đông Sơn Trên mằt trống đồng khắc hoạ hình ảnh ngôi nhà sàn, những đoàn người nhảymúa với các nhạc khí trên tay, những con thuyền với những người cầm vũ khí, hình ảnh nhữngcon chim,hươu…
Trang 9Thời kỳ văn hoá Đông Sơn là thời kỳ xuất hiện nhiều huyền thoại Có những huyềnthoại lớn được lưu truyền đến ngày nay, như huyền thoại về nguồn gốc dân tộc Việt Nam nhưSơn Tinh - Thuỷ Tinh, Thánh gióng…
Người Việt Nam thời Đông Sơn đã có tư duy lưỡng hợp ( tương tự như thuyết âm dương
ở Trung Hoa cổ đại ) Những mặt đối lập, lưỡng hợp được trình bày trên trống đồng, như đực– cái, dương vật – âm vật, chim – hươi… Nhưng hình ảnh lưỡng hợp, lưỡng phân, đối lập,xung đột giữa các mặt đối lập cũng được thể hiện trong huyền thoại: Con cháu rồng – tiên, 50con lên núi – 50 con xuống biển, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, núi - nước…
2 Sự truyền bá những hệ tư tưởng nước ngoài vào Việt Nam.
- Nho gia truyền vào thời Bắc thuộc trước Công nguyên Hai thái thú Giao chỉ và Cửu
chân là Nhâm Diên và Tích Quang đã khởi xướng việc dạy học ở nước ta Nhiều sĩ phu Trungquốc sang là mở trường dạy Nho học
Mục đích truyền bá Nho học vào nước ta là nhằm đào tạo những người làm việc chochính quyền Trung Quốc Tuy vậy, người Việt Nam học Nho nhờ nắm được kiến thức nên lại
có thêm cơ hội suy gẫm về vận mệnh nước Việt
- Đạo gia cùng với Nho gia cũng được truyền vào Việt Nam và trở thành một bộ phận
trong quan niệm tư tưởng của người Việt
Đạo gia tuy đối lập với Nho gia nhưng cũng được nhiều tri thức Trung Quốc và ViệtNam chấp ở khía cạnh lối sống nhàn hạ, hoà nhập với thiên hiên, xa lánh vòng danh lợi ở một
số tri thức bị thất thế hay đã hoàn thành trách nhiệm đối với xã hội
Một biến tướng của Đạo gia cũng được truyền vào nước ta dưới hình thức tín ngưỡng,
mê tín quần chúng (Đạo giáo nhờ nhân vật Lão Tử)
- Đạo Phật cũng được truyền vào Việt Nam rất sớm bằng hai con đường: Phật giáo Nam
tông, chủ yếu là dòng Tiểu thừa truyền từ Ấn Độ qua Srilanca, Mianma, Thái Lan, Lào,Capuchia, Indonesia, Việt Nam Phật giáo Bắc tông chủ yếu dòng Đại thừa qua Tây Tạng,Mông Cổ, các nước Trung Á, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam
Thời Tiền, Lê, Lý, Trần, đạo Phật có vai trò quốc giáo Đạo Phật có vai trò tích cựctrong dựng nước và bảo vệ Tổ quốc Nhiều nhà sư nổi tiếng được tham gia quốc sự, giúp nhàvua trong công việc đối nội và đối ngoại Các vua Lý, Trần chịu ảnh hưởng Phật giáo rất sâusắc Nhiều tác phẩm Phật học được viết ra, nhiều môn phái Phật giáo được thành lập
Từ thời Hậu Lê, sau khi đường lối “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem trí nhân thaycường bạo” đã thực sự góp phần giành độc dân tộc thì hệ tư tưởng Nho gia bắt đầu giữ vai tròthống trị trong đời sống chính trị và tinh thần ở nước ta
Nho, Lão, Phật được coi là “Tam giáo” và được vào chương trình giảng dạy và học tập ởnước ta trong thời kỳ phong kiến
- Kitô giáo bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ XVI Từ
cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII nhiều giáo đoàn thuộc dòng Phranxicô và dòng tênthuộc Bồ Đào Nha và dòng Đa Minh thuộc Tây Ban Nha liên tiếp vào Việt Nam thu hút được50.000 người theo đạo Cuối thế kỷ XVII, quyền truyền giáo ở Việt Nam được giao cho NgườiPháp Đến năm 1850 cả nước có khoảng 500.000 tín đồ
Trang 10Các vua triều Nguyễn từ Minh Mạng, Tự Đức đưa ra nhiều chỉ dụ cấm đạo, nhưngkhông ngăn cản được việc truyền đạo Công giáo Trong thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam cókhoảng 1,5 triệu tín đồ Công giáo.
II Những nội cơ bản của tư tưởng triết học Việt Nam
1 Về bản thể luận- Chủ nghĩa duy tâm và tư tưởng tôn giáo là tư tưởng thống trị
trong xã hội Niệt Nam Tư tưởng duy tâm thể hiện ở việc vào số mệnh, nghiệp, kiếp; coi mệnhtrời quyết định sự thành bại của con người:
“Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”
“Cho hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm cho người thân
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
Bên cạnh tư tưởng mệnh trời cũng có tư tưởng đề cao vai trò con người hơn mệnh trời:
“Xưa nay nhận định thắng thiên cũng nhiều”
Có quan điểm coi trọng thời, thế hơn mệnh
- Các quan điểm duy vật lẻ tẻ, không thành hệ thống thường xuyên phản kháng lại quan điểm duy tâm:
+ bác bỏ nguồn gốc thần thánh và vai trò quyết định của vua:
“Được làm vua, thua làm giặc”
“Phép vua thua lệ làng”
+ vạch trần thực chất của tệ mê tín bói toán:
“Bói ra ma, quét nhà ra rác”
+ vạch trần sự giả trá của thầy bói
“Hòn đất mà biết nói năng
Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn”
2 Quan điểm chính trị - xã hội
- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam: trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng yêu nước
không chỉ
là một tư tưởng chính trị mà còn là một tư tưởng đạo đức và nhân văn cao cả.Yêu nước
là phẩm chất cao quý nhất, đứng hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần Việt Nam Đồng thời,yêu nước là trách nhiệm của mọi người không phân biệt đẳng cấp, giới tính
“Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách”
“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam còn được thể hiện ở việc tôn kính, thờ cúng những ngườianh hùng dân tộc, những người có công dựng nước, xây dựng làng xã…, khinh ghét những kẻphản quốc, như Lê Chiêu Thống, Trần ích Tắc
- Tư tưởng về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia
Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, ngang hàng với Trung Quốc
Bài thơ của Lý Thường Kiệt:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Trang 11Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khang thủ bại hư”
Bài “Đoạt sáo Chương dương độ” của Trần Quang Khải:
Đoạt sáo Chương Dương độCầm hồ Hàm Tử quanThái bình tu nỗ lựcVạn cổ thử giang sơn”
Hoặc trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi nêu lên tư tưởng về sự phân biệt bờ cõigiữa hai nước, sự khác biệt về phong tục, tập quán, sự ngang hàng nhau về các triều đại giữaViệt Nam và Trung Quốc
“Xét như nước Đại Việt ta, thật là một nước văn hiến
Bờ cõi, sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi đàng làm đế một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu”
Tư tưởng tự hào về nguồn gốc dân tộc (Huyền thoại “Con rồng, cháu tiên”)
Chăm lo xây dựng nhà nước độc lập, luôn luôn giữ vững địa vị của một nhà nước độclập
Giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc, phong tục, tập quán, chống lại âm mưu đồng hoá củaTrung quốc (Tư tưởng của Nguyễn Huệ, đánh cho dài tóc, đánh để răng đen)
- Vấn đề động lực và phương thức giành và bảo vệ độc lập dân tộc
Đại đoàn kết toàn dân tộc Truyền thuyết “đồng bào” (cùng một bọc) nói lên tình đoànkết dân tộc, không phân biệt chủng tộc của tất cả các dân tộc trong đại gia đình dân tộc ViệtNam
Quan hệ vua tôi, nhà nước và nhân dân: Vua tôi đồng lòng, quân dân hợp sức Khoanthứ sức dân để làm kế bền gốc sâu rễ (Trần Hưng Đạo)
Toàn dân kháng chiến, trường kỳ kháng chiến, lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn.Phát huy vai trò của địa thế và các phương tiện đánh giặc, giữ nước
Vừa đánh bại ý chí xâm lược, vừa mở đường cho giặc rút khỏi nước ta Thực hiệnđường lối ngoại giao mềm dẻo khôn khéo để giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia
3 Quan niệm về đạo làm người: Một trong những vấn đề được các nhà tư tưởng Việt
Nam trong
lịch sử đặc biệt quan tâm là vấn đề đạo làm người, bởi lẽ đây là vấn đề có liên quan mậtthiết đến
việc xác định cơ sở tư tưởng của hành động chính trị, đạo đức và nhân sinh
- Chủ nghĩa nhân đạo Việt nam
Trang 12+ Thương yêu giúp đỡ mọi người “Thương người như thể thương thân” “Chị ngã emnâng” “Miếng khi đó gói khi no”, “Lá lành đùm lá rách”…
+ Tình thương yêu, gắn bó giữa các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
+ Lòng nhân đạo khoan dung đối với những người lầm đường lạc lối đã ăn năn hối cãi.Đối xử nhân đạo đối với kẻ đầu hàng
“Đánh người chạy đi, không đánh người chạy lại”
+ Lối sống nặng tình nghĩa, coi trọng và hiếu thảo với cha mẹ Thờ cúng tổ tiên Chămsóc phần mộ ông bà, yêu con cháu, ít phân biệt nam nữ
Giữ vững lối sống trong sạch:
“Giấy rách phải giữ lấy lề”
“Đói cho sạch, rách cho thơm”
- Quan niệm về đạo làm người trong Nho gia, Đạo gia với những khái niệm”Tam
cương”, “Ngũ luân”, “Ngũ thường” “Nhàn”
“Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu giữ mình”
- Quan niệm đạo đức Phật giáo với lòng “từ bi”, “cứu khổ cứu nạn”… cũng ảnh
hưởng sâu đậm trong đời sống tinh thần của người Việt Nam
III Vai trò của Hồ Chí Minh trong việc phát triển tư tưởng triết học Việt Nam
Từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị thực dân ở Việt Nam đã làm xuất hiệnhai nhu cầu lớn của lịch sử là giải thích sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn và tìmcon đường cứu nước, giải phóng dân tộc Để giải quyết nhu cầu đó của lịch sử, các nhà tưtưởng Việt Nam thời kỳ này đã trở về với các hệ tư tưởng đã có trong lịch sử Họ dùng các lýluận của Nho giáo và Phật giáo để giải thích các sự kiện lịch sử và cố tìm kiếm con đường giảiphóng dân tộc theo thế giới quan và phương pháp luận của Phật giáo, Nho giáo Tiêu biểu nhất
là phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tuy nhiên mọi
cố gắng của các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đều thất bại Bởi lẽ, về mặt thực tế, sự thấtbại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn là sự thất bại của một phương thức sản xuất ở trình
độ thấp hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Về mặt ý thức hệ, tư tưởng tư sản ở trình độ phát triển cao hơn ý thức hệ phong kiến,bởi lẽ ý thức hệ chính trị tư sản dựa trên một thế giới quan duy vật cận đại, gắn liền với nhữngtri thức khoa học tự nhiên ở thế kỷ XVII-XVIII
Trong khi đó, ý thức hệ phong kiến Việt Nam trong lịch sử gần một ngàn năm thời kỳđộc lập tự chủ (từ thế kỷ thứ X) là ý thức hệ xác lập trên nền tảng căn bản là thế giới quan duytâm, gắn với những quan niệm tôn giáo và tín ngưỡng- đó là thế giới quan và phương phápluận của Nho giáo và Phật giáo Thế giới quan Nho giáo, dù là Nho giáo ở Trung quốc hay ởViệt Nam, về căn bản đều là thế giới quan và phương pháp luận duy tâm về lịch sử Trong khi
đó, thế giới quan Phật giáo cổ đại có nhiều yếu tố duy vật với những tư tưởng biện chứng sâusắc Tuy nhiên, Phật giáo du nhập vào Việt Nam về cơ bản là những tư tưởng Phật giáo đã ít
Trang 13nhiều Trung Hoa hoá Xét về tổng thể và cơ bản, đó vẫn là thế giới quan duy tâm Vì vậy, sự
nỗ lực của các nhà tư tưởng Việt Nam thời cận đại tìm kiếm lời giải đáp những nguyên nhânthất bại của triều đại nhà Nguyễn cũng như con đường giải phóng dân tộc đều thất bại
Để tạo ra tầng lớp trí thức phục vụ cho mục tiêu khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đãtiến hành tạo dựng một hệ thống giáo dục- đào tạo Tây học với nội dung cơ bản là các kiếnthức khoa học kỹ thuật Tuy nhiên, quá trình đó đã tạo cơ hội cho sự du nhập những tư tưởngtriết học phương Tây vào Việt Nam những tư tưởng triết học phương tây được du nhập vàoViệt Nam qua tầng lớp trí thức Tây học căn bản là những tư tưởng triết học các nước Tây Âuthời cận đại Đó là thế giới quan duy vật siêu hình và không triệt để Các nhà duy vật Tây Âuthời cận đại chỉ duy vật trong quan niệm về giới tự nhiên, còn trong lĩnh vực các quan điểm xãhội, họ vẫn đứng trên lập trường duy tâm Với thế giới quan đó nó không thể giải thích cácnguyên nhân thực sự của các sự kiện lịch sử từ cơ sở kinh tế xã hội, nó cũng không thể giảithích quá trình lịch sử-tự nhiên của xã hội loài người Bởi vậy, dù một số nhà tư tưởng Tâyhọc có lòng yêu nước nhiệt thành nhưng với thế giới quan triết học duy vật siêu hình và duytâm về xã hội đã không thể giải đáp được những nhu cầu lớn lao của lịch sử Việt Nam
Trước sự thất bại của tất cả các thế giới quan và phương pháp luận truyền thống Nhohọc, Phật học cũng như Tây học, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dântộc Điểm xuất phát để Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước không phải trực tiếp là nhu cầu
đi tìm một thế giới quanvà một phương pháp luận triết học mới, không phải là một lý luận triếthọc trừư tượng, mà là những lý luận, những biện pháp có khả năng thực tế nhất để dẫn dắt,lãnh đạo phong trào yêu nước đi đến thành công trong thực tiễn chín trị là giải phóng dân tộc-cứu dân, cứu nước; là làm sao để dân tộc Việt Nam đuợc độc lập, đồng bào Việt Nam ai cũng
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Cũng tức là độc lập cho dân tộc và tự do, hạnhphúc cho mỗi người dân lao động Suốt ba muơi năm tìm đường cứu nước, như một tất yếulịch sử Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin
Học thuyết Mác-Lênin là hệ tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động Học thuyết đó là khối thống nhất vững chắc của cả ba bộ phận lýluận cấu thành là Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó Triếthọc đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận chung Triết học Mác-Lênin chính làthế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng nhất; là thành quả vĩ đại của lịch
sử triết học thế giới Linh hồn của nó, sức sống mãnh liệt nhất của nó là phép biện chứng duyvật ở trình độ lý luận cao nhất, khoa học nhất, vượt qua không những phép siêu hình của triếthọc duy vật cận đại Tây Âu mà còn vượt qua phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức
Thế giới quan duy vật của triết học Mác-Lênin đã khắc phục được hạn chế của thế giớiquan duy vật cận đại Tây Âu ở chỗ nó đã đem lại một quan niệm duy vật và biện chứng vềquá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, lịch sử phát triển của nhân loại Trung tâmcủa những quan điểm duy vật về lịch sử chính là học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội
Chỉ có thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật của triết học Lênin mới có khả năng lý giải được một cách đúng đắn khoa học đối với các sự kiện lịch sử,
Mác-dù là các sự kiện lịch sử ở phương Tây hay phương Đông châu Á
Trang 14Không phải ngẫu nhiên mà khi nhận xét về giá trị của các học thuyết đã có trong lịch
sử, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng cái hay của chủ nghĩa Mác là phương pháp làm việc biệnchứng Ở đây, Hồ Chí Minh đã khẳng định không phải chỉ là cái hay của phương pháp tư duybiện chứng mà quan trọng hơn là phương pháp biện chứng duy vật trong tổ chức hoạt độngthực tiễn
Hồ Chí Minh đã vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duyvật để lý giải một cách đúng đắn khoa học những câu hỏi đặt ra của lịch sử Việt Nam thời cậnđại mà không một nhà tư tưởng tiến bộ nào có thể làm được va đỉnh cao của sự vận dụng đó làtìm ra lý luận và phương pháp giải quyết đúng đắn khoa học con đường giải phóng dân tộcđồng thời xác định hướng phát triển của xã hội Việt Nam lên hình thái kinh tế-xã hội mới saukhi giành được độc lập- đó là con đường định hướng phát triển xã hội-xã hội chủ nghĩa
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủnghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyềnthống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Đó là tư tưởng về giải phónggiai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dântộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân …
về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân, về đạo đức cách mạng, cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư … ” Trong hệ thống tưtưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đóng vai trò là thế giới quan và phươngpháp luận khoa học, cách mạng của những tư tưởng về độc lập dân tộc, về chủ nghĩa xã hội,
về văn hoá, về đạo đức, nhân văn… Thế giới quan và phương pháp luận Hồ Chí Minh là một
hệ thống toàn vẹn, thống nhất của những quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.Hạt nhân của thế giới quan quan đó là triết học Mác-Lênin; sự phong phú của thế giới quan đó
là những tổng kết kinh nghiệm cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; vẻ đẹp của thếgiới đó được tạo ra bởi sự kết hợp lôgíc giữa tính khoa học của thế giới quan Mác- Lênin vớicác giá trị triết học truyền thống Việt Nam, cũng như các giá trị của lịch sử triết học phươngĐông và phương Tây Chính vì vậy, có thể tìm thấy trong mỗi lời nói, việc làm, bài viết của
Hồ Chí Minh sự vững chắccủa các nguyên lý triết học Mác- Lênin, sự tinh tế của các triết lýtrong nền triết học phương Đông, phương Tây và một chiều sâu thẳm của các giá trị tư tưởngtriết học Việt Nam vầe độc lập dân tộc, nhân dân, về đạo sống, đạo làm người của dân tộc ViệtNam
Với Hồ Chí Minh, lịch sử triết học Việt Nam đã chuyển sang một thời kỳ phát triểnmới, hiện đại.Thời kỳ hiện đại của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là thời kỳ phát triển tưtưởng triết học với nội dung cơ bản của nó là nghiên cứu, vận dụng và phát triển các nguyên
lý của triết học Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Đó cũng là quá trình vượt quanhững hạn chế và kế thừa có chọn lọc các giá trị trong lịch sử triết học Việt Nam cũng như
Trang 15lịch sử triết học phương Đông và phương Tây theo mục tiêu giải quyết các nhiệm vụ của côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
IV Nhận xét chung
Việt Nam là một dân tộc tuy nhỏ nhưng đã đứng vững trước âm mưu xâm lược vàđồng hoá của những kẻ thù lớn mạnh gấp nhiều lần Yếu tố tinh thần đã làm cho dân tộc ViệtNam đứng vững được là truyền thống tư tưởng và văn hoá
Cốt lõi của tư tưởng triết học Việt Nam là tư tưởng yêu nước, độc lập dân tộc và chủquyền quốc gia, Tư tưởng này thể hiện ở lòng quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia xây dựngmột nhà nước vững mạnh, chăm lo đời sống nhân dân Tư tư tưởng còn thể hiện lòng tự hào
về nguồn gốc dân tộc, tự hào về truyền thống dân tộc, tôn kính những người anh hùng dân tộc,những người có công bảo vệ, xây dựng đất nước, quê hương, khinh ghét những kẻ phản quốc Ngoài ra tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, tư tưởng về đạo làm người, tư tưởngkhoan dung những người lầm đường lạc lối và kẻ thù đã chịu thất bại hoặc đầu hàng cũng gópphần làm nên tầm vóc vĩ đại của dân tộc Việt Nam
Câu 4: Sự đối lập giữa quan điểm duy tâm và duy vật, siêu hình và biện chứng trong triết học Hi Lạp cổ đại (Về bản thể luận, nhận thức luận, chính trị- xã hội giữa Đêmôcrit và
Platôn; triết học Hêraclit và phái Elê…)
1 Về “Bản thể luận”:
a Đêmôcrít: đứng trên lập trường duy vật vô thần, ông cho rằng khởi nguyên của thế
giới là nguyên tử, là dạng vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, nó là cơ sở của thếgiới, của sự vật hiện tượng Nguyên tử này không màu, không mùi, không vị, không nóng,không lạnh, nó không khác nhau về chất, nó chỉ khác nhau về hình dáng, về cấu tạo, về tư thếsắp xếp và các nguyên tử này luôn luôn vận động trong chân không Các sự vật hiện tượngkhác nhau là do sự lien kết giữa các nguyên tử có hình dáng khác nhau, tư thế khác nhau, cấutạo khác nhau Các nguyên tử vận động không ngừng và chính sự vận động của các nguyên tử
xô đẩy nhau tạo nên những nơi đậm đặc, những nơi lỏng lẻo Những nguyên tử nào có hìnhdạng, khối lượng lớn thì lắng vào trong tạo thành chất rắn, còn những nguyên tử nào có hìnhdạng, khối lượng nhỏ thì bay ra ngoài tạo thành chất lỏng Sự hình thành của vũ trụ là do sựvận động của nguyên tử mà ra
b Đối lập với Đêmôcrít, Platon khẳng định rằng bản nguyên của thế giới là “thế giới
ý niệm”, thế giới ý niệm tồn tại một cách chân thật, đầy đủ và bất biến Thế giới ý niệm lànguyên hình Các sự vật, con người được coi là hình ảnh (bóng) của thế giới ý niệm Thế giớicảm tính là thế giới tạm thời Thế giới tồn tại vĩnh viễn sáng tác ra thế giới tạm thời là thế giới
ý niệm Quan điểm này được gọi là quan điểm duy tâm khách quan về thế giới Ông chia thếgiới thành hai bộ phận là thế giới ý niệm và thế giới vật cảm tính Thế giới ý niệm là thế giới
có trước và sinh ra thế giới vật cảm tính Thế giới vật cảm tính là thế giới không chân thật,không đúng đắn và luôn luôn thay đổi, là thế giới có sau và là cái bóng của thế giới ý niệm
Đêmôcrít phủ nhận cái ngẫu nhiên, cho rằng cái ngẫu nhiên không tồn tại, chonên mọi cái điều sinh ra là tất yếu, không hề có tính ngẫu nhiên, ông thừa nhận mọi cái điều
Trang 16có nhân quả Platon đưa ra thuyết mục đích luận cho rằng mọi vật được tạo ta như thế nào làphụ thuộc vào mục đích của thần thánh.
Trong thời kỳ sơ khai của triết học, cùng với cuộc đấu tranh giữa quan điểm duy vật vàduy tâm về bản thể luận, còn có cuộc đấu tranh giữa quan điểm biện chứng với quan điểm siêuhình về bản tính thế giới
c.Hêracrít coi bản nguyên thế giới là lửa và khẳng định bản tính thế giới là “mọi thứ
điều trôi qua” Tính đặc thù của tư tưởng này chính là ông thừa nhận sự thống nhất mâu thuẫncủa vận động và đứng im, sinh thành và hiện hữu Vận động và đứng im là sự thống nhất giữacác mặt đối lập, giống như đấu tranh và hài hoà, chúng không tồn tại thiếu nhau và thể hiện rathông qua nhau Ông vừa thừa nhận dòng sông luôn chảy, mặt trời lien tục và thường xuyênbiến đổi, vừa thừa nhận không có cái gì ổn định và bất biến hơn là dòng sông luôn chảy vàmặt trời luôn chiếu sang Nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng
im và tính xác định của dòng sông không loại trừ sự vận động (chảy) của nó Hêracrít nói rõhơn “khi biến đổi, nó đứng im” (nghỉ ngơi) Từ đó ta suy ra rằng chính Hêracrít là người bói
về cái hài hoà trong đấu tranh, thống nhất trong phân đôi, bất biến trong biến đổi, đồng nhấttrong khác biệt, vĩnh cửu trong nhất thời Khái niệm triết học cơ bản của tư tưởng về bản tínhthế giới của Hêracrít là Logos Thuật ngữ này làm nên nội dung cốt lõi của phép biện chứngHêracrít
Theo ông, trước hết Logos là sự thống nhất của mọi cái hiện hữu Thống nhất ở đây cónghĩa là sự đồng nhất của cái đa dạng, là sự hài hoà giữa các mặt đối lập Vốn là tư tưởng cơbản của phép biện chứng, ông thường sử dụng tư tưởng này với tính kiên định và nhất quán.Ông phê phán các vị tiền bối như Hexiot, Pitago, Xenophan…không hiểu sự thống nhất Ôngcho rằng ngày và đêm, thiện và ác không phải là một, đó là điều ai cũng hiểu Nhưng ngày vàđêm, thiện và ác, cũng như mọi đối lập tạo nên một chỉnh thể thống nhất thì là điều ít ai hiểu.Đương nhiên dễ hiểu rằng các kiểu đối lập trên là nối tiếp nhau, tạo ra tính chu kỳ và lặp lạinhất định Nhưng người ta, theo Hêracrít không hiểu được rằng bản thân tính chu kỳ và tínhlặp lại đó được quy định bởi sự thống nhất, sự hoà hợp, sự hài hoà giữa các mặt đối lập, tức làbởi “Logos” phổ biến
Nói tới sự thống nhất của mặt đối lập, Hêracrít chỉ muốn nói rằng các mặt đối lập giảđịnh lẫn nhau nhưng và không thể có được nếu thiếu nhau chứ không phải là sự trùng hợpnhau tuyệt đối, chẳng hạn, không thể quý sức khoẻ nếu không biết mặt đối lập của nó là bệnh.Ông nói rằng “bệnh tật làm cho sức khoẻ trở nên quý giá, ngọt ngào” Quan hệ giữa Logoschủ quan và Logos khách quan, tức là khả năng thống nhất giữa chúng Ông giả quyết vấn đềmộtcách khẳng định Ông cho rằng, tư duy vốn có ở mọi người và Logos thế giới con người(chủ quan) và có khả năng phù với Logos thế giới (khách quan), mặc dù điều đó không diễn
ra thường xuyên và hoàn toàn không phải ở mọi người Khả năng ấy suy ra rằng việc nhậnthức Logos của thế giới bên ngoài là có thể có được Con đường đạt tới khả năng ấy theo ông
là bằng nổ lực bản than và quan hệ với Logos của thế giới sự vật bên ngoài
Đóng góp của Hêracrít trong lịch sử phép biện chứng là cách trình bày đầu tiên về quyluật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Ông đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của
Trang 17các sự vật trong Logos chủ quan và chỉ ra sự thong nhất giữa biện chứng của nhận thức vàbiện chứng của thế giới.
- Đối lập với biện chứng khẳng định của Hêracrít là phép biện chứng phủ định của
trường phái Elê, với chủ trương vạn vật bất biến, không sinh thành, không diệt vong với hai
đại biểu lớn là Pácmênít và Dênôn
Vấn đề lớn trong triết học Pácmênít là quan hệ giữa tồn tại và hư vô, tồn tại và tư duy,vận động và đứng im Cuộc tranh luận giữa Hêracrít và Pácnêmít là cuộc tranh luận giữa mộtngười xem sự vật trong sự vận động với một người nhìn nhận sự vật trong sự yên tĩnh Tưtưởng triết học của Pácnêmít thể hiện ở 3 luận điểm:, coi vận động, biến đổi là hư ảo, bác bỏkhái niệm không gian rỗng thuần tuý; coi tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như quátrình, vừa như kết quả Tư duy là tư duy chỉ khi nào có vật thể và vật thể là vật thể hiện hữuchỉ khi nào ta tư duy được với tính cách nó có như một hiện thể đặc trưng; coi thế giới không
có sinh thành, xuất hiện và diệt vong
Denôn đã cụ thể hoá và phát triển nguyên lý “vạn vật đồng nhất thể” và vạn vật bấtbiến bằng phương pháp trưng dẫn chứng lý và nghịch lý Ông đã đặt ra quan hệ giữa vận động
và đứng im, giữa liên tục và gián đoạn, giữa hữu hạn và vô hạn, song ông chưa có điều kiện
để bàn tới tính biện chứng theo cách nhìn hiện đại về các mối quan hệ ấy Mặt tích cực củanhà biện chứng theo nghĩa cũ này là các nghịch lý của ông thực sự kích thích tư duy, khuyếnkhích tinh thần hoài nghi, tranh luận đi tới chân lý
2 Nhận thức luận
a Đêmôcrít chia nhận thức thành hai dạng: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
Nhận thức cảm tính là dạng nhận thức mờ tối, do giác quan mang lại Nhận thức lý tính làdạng thức thông qua những phán đoán logic, là dạng trí tuệ Ông đã thấy được mối quan hệgiữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, giúp cho cảm tính nhận thức được lý tính, nếuchỉ dừng lại ở cảm tính thì con người không đạt được chân lý Vì vậy, muốn đạt đến chân lýthì phải bằng lý tính, nhờ có lý tình thì con người thì con người mới hiếu được nguyên tử tức
là nguồn gốc của sự vật Nhưng đứng trên cơ sở học lý thuyết ý niệm rằng nhận thức cảm tính,cảm giác không phải là nguồn gốc của tri thức chân thật Kết quả của nhận thức cảm tính chỉ
là dư luận, tri thức chân thực chỉ có thể đạt được bằng nhận thức lý tính
b.Theo Platon ý niệm là bản chất chung của mọi sự vật hiện tượng, là cơ sở thông nhất
của thế giới, là linh hồn của vũ trụ Ý niệm thông qua các quan hệ toán học, biểu thị bằng con
số, tạo nên sự vật cảm tính Platon cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng của linh hồn về thế giới
ý niệm có trước vật chất Ông cho rằng nhận thức cảm tính chỉ là sự nhận thức cái bóng của ýniệm, chỉ cho ta những quan niệm, chứ không phải là tri thức chân thực Chỉ có nhận thức lýtính, tức nhận thức khái niệm mới đạt đến tri thức chân thực
c.Theo Hêracrít “mọi người có khả năng nhận thức bản thân và suy xét” và Logos thế
giới con người (chủ quan) có khả năng phù hợp với Logos thế giới (khách quan) Từ đó ôngsuy ra rằng khả năng ấy của con người có thể thực hiện được bằng con đường tự nhận thức vàquan hệ với Logos thế giới
Trang 18d.Đối với trường phái Elê, việc đối lập tư duy duy lý về các sự vật với trực quan cảm
tính về chúng và các ý kiến dựa vào trực quan là động cơ nghiên cứu của mình Tri thức chốnglại ý kiến giả dối - tức chân lý chống lại sai lầm cảm tính, đó là phản đề xuyên suốt triết họcPácnêmít và Dênôn
Pácnêmít đề cao vai trò nhận thức lý tính, ông coi trọng việc sử dụng lý trí đểgiải quyết các vấn đề khi thảo luận Còn Dênôn cho rằng nếu dung trực quan cảm tính để nhậnthức sự vật thì sẽ không hiểu được bản chất sự vật Muốn vậy, phải sử dụng tư duy trừu tượng.Điều đó cũng có nghĩa ông phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, đề cao vai trò của nhậnthức lý tính
3 Chính trị- xã hội
a.Đêmôcrít đứng trên lập trường của phái chủ nô, chống lại đường lối Platon Tuy
nhiên, ông vẫn coi chế độ nô lệ là hợp lý Ông ca ngợi tình thân ái, tính ôn hoà, lợi ích chung
và quyền lợi của công dân tự do Ông giống Xôcrat ở chỗ là muốn duy lý hoá nhà nước, muốntất cả những người điều hành nhà nước phải có tri thức, phải có sự hiểu biết Ông ủng hộ nềndân chủ nhưng ông không hạ thấp vai trò của lý trí
b Trong khi đó Platon không coi người nô lệ là người mà họ chỉ là “động vật biết
nói”, cho nên họ không có đời sống đạo đức mà theo ông chỉ có những nhà triết học, các nhàthông thái thì mới có đạo đức cao cả, hướng vào ý niệm tối cao của cái thiện Ông đưa ra họcthuyết về một nhà nước lý tưởng, đó là nhà nước cộng hoà gồm 3 đẳng cấp: nhà triết học làmvua, vệ binh bảo vệ đất nước và người lao động sản xuất
Platon muốn xây dựng một thiết chế nhà nước mới vừa đảm bảo bình đẳng xãhội, vừa cho phép bất bình đẳng về mặt hình thức trong quan hệ giữa các đẳng cấp, nhằm duytrì những thang bậc xã hội cần thiết, tránh tình trạng vô chính phủ như trong nền dân chủ Nhànước lý tưởng của Platon là sự thống nhất những thực thể không bản sắc, hoàn thành nhữngchức năng xã hội của mình không yêu cầu quyền lợi, nhu cầu cá nhân Trong nhà nước ấy, cáccông việc của công dân được thực hiện theo sự phân công chung đạt tới sự hài hoà, thốngnhất Trong nhà nước lý tưởng, giáo dục được dành vị trí xứng đáng hướng con người tới lẽcông bằng và cái thiện Như vậy, nhà nước lý tưởng mà Platon hình dung là một tổ chức chínhtrị hoàn hảo, giả quyết các nhiệm vụ sau: an ninh xã hội cho mọi thành viên và chủ quyền xứ
sở, đảm bảo nhu cầu vật chất thiết yếu cho con người và xã hội, định hướng và khuyến khích
sự sang tạo khoa học Khi các nhiệm vụ ấy được giải quyết thì con người đạt tới cái thiện.Nguyên lý cơ bản của nhà nước này là công bằng, mục tiêu của nhà nước là cái thiện tối cao,phương tiện của nó là giáo dục
Tóm lại, Đêmôcrít với thành tựu triết học rực rỡ của mình đã đưa chủ nghĩa duy vật cổ
đại Hy Lạp lên một tầm cao mới Ông đã có những quan niệm đúng đắn về mối quan hệ giữanhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Ông là người đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho chủ nghĩaduy vật vô thần vì thế hệ thống quan niệm duy vật của ông được coi là giá trị tinh thần kết tinhcủa thời đại ông và được gọi là đường lối Đêmôcrít, nó đối lập hoàn toàn với đường lối củaPlaton, là hệ thống triết học duy tâm
Trang 19Câu 5: Quan điểm triết học của các nhà triết học Tây Âu Trung cổ (Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo, về vấn đề bản thể luận, nhận thức luận con người và xã hội).
Xã hội Tây Âu từ thế kỷ IV - XV là xã hội phong kiến Đế quốc La Mã tan rã, cácvương quốc phong kiến được thành lập Hai giai cấp cơ bản trong xã hội được hình thành: giaicấp địa chủ quý tộc và giai cấp nông nô Nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng có những bướcphát triển nhất định, tuy rất chậm chạp Ki tô giáo trở thành tôn giáo chính thống Nhà thờKitô giáo cùng với thế lực phong kiến trở thành một lực lượng thống trị xã hội Các nhà sửhọc gọi thời kỳ này là “đêm trường Trung cổ”
Đặc điểm của triết học trong thời kỳ này: Triết học mất vai trò độc lập, trở thànhđầy tớ của tôn giáo, được coi là công cụ chứng minh cho niềm tin tôn giáo Chủ nghĩa kinhviện là khuynh hướng thống trị trong triết học Đó là khuynh hướng kết hợp thần học chínhthống của Kitô giáo với triết học Hy Lạp cổ đại (Platôn, Arixtôt) Nó được coi là triết họcchính thống, được nghiên cứu và giảng dạy trong các trường học
Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo
Các nhà triết học thời kỳ này coi niềm tin tôn giáo giữ vị trí hàng đầu trong quan
hệ với lý trí Trên cơ sở quan điểm ấy, họ đi sâu nghiên cứu các vấn đề triết học có liên quan,trong đó quan trọng nhất là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” Các nhà triết họckinh viện đề xuất một số ý kiến giải quyết mối quan hệ này Ý kiến thứ nhất khẳng định “cáichung”, “cái phổ biến” là thực thể tinh thần, tồn tại thật, có trước sự vật đơn nhất Quan niệmnày được gọi là chủ nghĩa duy thực.Ý kiến thứ hai khẳng định sự vật đơn nhất có thực, cótrước, còn “cái chung”, “cái phổ biến” chỉ là tên gọi giản đơn do con người sáng tạo ra.Quanniệm này gọi là chủ nghĩa duy danh Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực và chủ nghĩaduy danh trong các thế kỷ thời trung cổ có ý nghĩa quan trọng về mặt nhận thức, đồng thời ẩngiấu cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.Phái duy thực gần với chủ
nghĩa duy tâm, phái duy danh gần với chủ nghĩa duy vật Chẳng hạn: Tectuliêng cho rằng trí
tuệ con người không có khả năng sáng tạo gì hết, còn tôn giáo bao hàm trong nó tất cả, do đókhông thể cho rằng triết học, lý trí là cơ sở của tôn giáo Trong quan hệ giữa lý trí và lòng tintôn giáo, ông cho rằng lý trí chỉ nhận thức được giới tự nhiên, còn lòng tin vượt ra khỏi giớihạn đó với mục đích nhận thức Thượng đế Ơrigennơ theo phái duy thực triệt để cho rằng lòngtin tôn giáo và lý trí có thể dung hợp Ông kết luận cái chung là cái có thật, có truớc cái riêng,
là cơ sở của cái riêng Cũng trong giai đoạn này, Abơla nhà triết học, thần học Pháp theo chủnghĩa duy danh triệt để cho rằng lý trí là tối cao vì nó cho ta những phương tiện chính xác đểvạch ra toàn bộ những nội dung của chân lý tôn giáo, cho câu trả lời đúng đắn vấn đề tín điềunào của tôn giáo là xác đáng, tín điều nào không xác đáng Từ đó, ông nêu lên nguyên lý “hiểu để mà tin”, đồng thời ông coi khái niệm chung không tồn tại bên ngoài các sự vật cụ thể.Quan điểm tiến bộ này bị Giáo hội lên án, coi là quan điểm dị giáo Tômát Đacanh cho rằngtriết học và thần học không đổi lập Đối tượng của triết học là chân lý lý trí, còn đối tượng củathần học là chân lý của lòng tin tôn giáo.Thượng đế là khách thể cuối cùngcủa thần học, triếthọc là nguồn gốc của mọi chân lý Tuy vậy, ông coi triết học thấp hơn thần học, phụ thuộc vàothần học và trí tuệ có hạn của con nguời, thấp hơn sự anh minh của Thượng đế Khi giải quyết
Trang 20vấn đề bản chất của cái chung và cái riêng, Tômát Đacanh đứng trên lập trường của thực tạiluận ôn hòa mà cơ sở là nguyên lý về sự hài hòa giữa lòng tin tôn giáo và lý trí.
Về bản thể luận:
Các nhà triết học cho rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới và quyết định mọi trật
tự trong tự nhiên và xã hội, là cơ sở của tri thức và đạo đức con người Ôguytxtanh cho rằngtoàn bộ thế giới do thượng đế sáng tạo ra và được nhận thức bởi Thượng đế Thượng đế có sứcmạnh vạn năng, quyền lực tuyệt đối Tuy nhiên Thượng đế không có mặt trong thế giới cảmtính Trong khi đó, Tômat Đacanh cho rằng, giới tự nhiên là do Thượng đế sáng tạo ra Mọitrật tự trong tự nhiên, từ sự vật không có linh hồn đến con người rồi đến thần thánh và saucùng là chúa trời đều do Thượng đế sắp xếp Mọi đẳng cấp trong xã hội, quyền lực của nhàvua đều do Thượng đế quy định Mọi cái trong tự nhiên và xã hội đều có mục đích do Thượng
đế an bài Ông chứng minh sự tồn tại của Thượng đế bằng lập luận dựa trên 5 yếu tố: TĐ lànguyên nhân đầu tiên; TĐ là động lực đầu tiên;TĐ là cái tất nhiên tuyệt đối; TĐ là cái hoànthiện tuyệt đối; TĐ là lý trí tối cao điều chỉnh thế giới
Về nhận thức: Ôguytxtanh cho rằng nhận thức của con người là do nhận thức
Thượng đế Chân lý chỉ có thể đạt được bằng niềm tin tôn giáo Thượng đế ở trong mỗi ngườinên nhận thức cũng chính là sự tự nhận thức Thượng đế là chân lý tối cao, là chân lý của mọichân lý Ông chia thành 3 mức độ nhận thức về thượng đế: thông qua cảm giác bên ngoài,những cảm giác này nói chung không lừa dối; nhận thức thông qua cảm giác bên trong “bànbạc” lại những cảm giác bên ngoài; nhận thức lý trí, đánh giá những phán đoán của cảm giácbên trong Tômat Đacanh áp dụng học thuyết về hình dạng của Arixtôt, chia hình dạng thànhhình dạng cảm tính và hình dạng lý tính, trong đó hình dạng lý tính cao hơn hình dạng cảmtính Ơrigiennơ cho rằng, cái chung có trước cái riêng và là cơ sở của cái riêng; và cái chung
là cái bản chất của sự vật, vì các sự vật đều bắt nguồn từ cái chung và cái chung chứa đựngcác sự vật bên trong Đơnxcôt cho rằng, tinh thần ý chí là hình thức của thân thể con ngườigắn liền với thân thể con người đang sống và do Thượng đế ban cho từ khi con người mới sinh
ra Tri thức được hình thành từ tinh thần và từ đối tượng nhận thức Tinh thần tuy có sức mạnh
to lớn trong nhận thức nhưng vẫn phải phụ thuộc vào đối tượng nhận thức
Về con người
Ôguytxtanh cho rằng Nhà nước là vương quốc điều ác Nhà thờ là vương quốccủa sự thánh thiện Do đó, quyền lực nhà thờ phải được đặt trên quyền lực của nhà vua Ôngtích cực bảo vệ sự bất bình đẳng xã hội Thượng đế ban thưởng cho người này được sungsướng và bắt người kia phải chịu đọa đày khốn khổ Người nghèo không nên yêu của cải, màchỉ nên yêu Thượng đế vì cuộc sống trần gian chỉ là tạm bợ
Về xã hội
Theo ông, con người do Thượng đế sáng tạo ra Con người có tự do trong giớihạn sự tiền định của Thượng đế Con người là “kẻ bộ hành tạm thời trên trái đất’, là “cây nếntrước gió mạnh” Cuộc sống trần gian là tội lỗi, tạm thời và chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sốngvĩnh cửu ở thế giới bên kia Giới tự nhiên vật chất là đáng nguyền rủa, người ta càng chóng
Trang 21thốt khỏi xiềng xích của nĩ thì càng chĩng đạt tới hạnh phúc Trong khi đĩ, Đơnxcơt chorằng linh hồn là hình thức của cơ thể con người và do Thượng đế ban cho khi mới sinh ra.
Tĩm lại, do chịu sự chi phối và thống trị của tơn giáo và thần học, triết học Tây
Âu thời Trung cổ trở thành tơi tớ của tơn giáo Tìm cách chứng minh Thượng đế sáng tạo thếgiới và quyết định mọi trật tự trong tự nhiên và xã hội, là cơ sở của tri thức và đạo đức conngười Một số nhà triết học cĩ yếu tố duy vật, núp dưới hình thức duy danh, thần luận nhưngkhơng dám cơng khai bác bỏ sự tồn tại của Thượng đế Thần học đặt niềm tin lên trên hết.Niềm tin cao hơn lý trí Khoa học phải phục tùng tơn giáo Theo quan điểm thần học, conngười là thực thể yếu đuối Cuộc sống vật chất là tạm bợ, tội lỗi Mục đích tối cao là Thiênđường
CÂU 6 Những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa duy vật Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII
1.Điều kiện ra đời triết học Tây Âu thời cận đại.
Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học duy vật,vận dụng nĩ để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học Trung cổ Cuộc đấu tranh của chủnghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới hình thức đặc thù là khoahọc chống tơn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những lập luận kinh viện Cuối cùng, sựchuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện Trung cổ đã khơng ngănđược sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm và triết học duy vật - tiền đề chonhững thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo
Đến thời kỳ cận đại là thời kỳ phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả các mặtcủa đời sống xã hội Đĩ là sự phát triển tiếp tục của chủ nghĩa tư bản, của khoa học và tưtưởng, trong đĩ cĩ chủ nghĩa duy vật triết học, nhưng với những đặc điểm mới
Khác với thời kỳ Phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây
Âu là thời kỳ giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi về chính trị trước giai cấp phong kiến
Ba cuộc cách mạng tư sản lớn đã nổ ra và thành cơng: Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế kỷXVI ; cách mạng tư sản Anh (1642-1648); cách mạng tư sản Pháp (1789-1794)
Đây cũng là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trởthành phương thức sản xuất thống trị Tây Âu Nĩ tạo đã tạo ra những vận hội mới cho khoahọc, kỹ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự nhiên, trong đĩ cơ học đã đạt tới trình độ
là cơ sở cổ điển Đấy là thời kỳ khoa học tự nhiên bắt đầu phân ngành mạnh Đặcđiểm của khoa học tự nhiên thời kỳ này là khoa học tự nhiên - thực nghiệm Đặc trưng ấy tấtyếu dẫn đến thĩi quen nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng tách rời, cơ lập,khơng vận động, khơng phát triển, nếu cĩ nĩi đến vận động thì chủ yếu là vận động cơ giới,máy mĩc Đĩ là nguyên nhân chủ yếu làm cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tínhmáy mĩc siêu hình
Chính điều kiện kinh tế - xã hội và khoa học tự nhiên thời cận đạiđã quy định những đặc trưng về mặt triết học của thời kỳ này
2 Một số nội dung triết học Tây Âu thời cận đại:
a Tư tưởng về bản thể và bản tính thế giới:
Trang 22Nếu triết học tự nhiên thời cổ đại Hy Lạp thấm đượm tinh thần biện chứng ngây thơthì TH tự nhiên thời kỳ này gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên, đặcbiệt là lý luận cơ học đã thấm đượm phương thức tư duy siêu hình của khoa học tựnhiên Phương thức tư duy siêu hình đã chi phối những hiểu biết triết học về bảnnguyên và bản tính của thế giới Người ta giải thích mọi hiện tượng tự nhiênbằng sự tác động qua lại của lực hấp dẫn và lực đẩy giữa các phần tử vậtthể Các phần tử vật thể luôn bất biến, các thay đổi chỉ là trạng thái khônggian và tập hợp của chúng Mọi phân biệt về chất giữa các vật thể đều quygiản về sự phân biệt về lượng, mọi vận động đều được quy về sự dịch chuyển vịtrí trong không gian Từ đĩ, họ đồng nhất vật chất với khối lượng, coi vận động vật chấtchỉ là vận động cơ học, nguyên nhân vận động do bên ngoài Các nhà triết họctự nhiên thời kỳ này coi nguyên tử là phân tử nhỏ nhất không thể phân chia, chưathấy vận động là thuộc tính cố hữu của nguyên tử Chẳng hạn:
+ Phranxi Bêcơn (1561-1626) coi vật chất là tổng hợp các hạt, coi tự nhiênlà tổng hợp những vật thể các chất lượng khác nhau Ông chia vận động củavật chất ra 19 dạng nhưng dạng cơ bản là vận động cơ học
+ Các nhà duy vật Pháp TK XVIII đã cĩ cơng phát triển triết học duy vật, vô thầnlên một bước mới Họ thừa nhận vật chất, giới tự nhiên có trước, vĩnh cửuvà vô tận, không do ai sáng tạo ra và không ai có thể tiêu diệt Vận động gắnliền với vật chất và nhờ vận động mà giới tự nhiên luôn chuyển động Tuyvậy, các nhà duy vật Pháp vẫn không thể tránh khỏi tính chất siêu hình và cơgiới trong quan niệm về vật chất và vận động Vận động, theo họ chỉ là sự dịchchuyển vị trí của các vật thể trong không gian
Lamêtơri (1709-1751): coi thế giới là thực thể vật chất, thực thể vật chất củamọi sự vật, hiện tượng, kể cả con người
Điđrô (1713-1784): vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn Vận động là bản tính cố hữucủa vật chất Vận động bao hàm cả sự đứng im
Henvêtiuýt (1715-1771): coi tư tưởng trong óc con người là do vật chất sinh ra.Cảm giác là kết quả tác động sự vật vào giác quan
Hônbách (1723-1789): vật chất là tất cả những gì tác động bằng cách nào đó vàocảm giác của chúng ta Vật chất bao gồm các nguyên tử bất biến khơng thể phân chia
b Lý luận nhận thức:
Nhiệm vụ trọng tâm của triết học thời kỳ này là lý luận nhận thức, là tìm raphương pháp của tri thức chân lý cho tất cả các khoa học Các nhà triết họchăng hái đi tìm phương pháp chân lý cơ bản của nhận thức, từ đó xuất hiện haikhuynh hướng:
* Bêcơn, Hốpxơ, Lốccơ – những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằngnguồn gốc duy nhất của tri thức là kinh nghiệm Kinh nghiệm liên quan đến cảmtính, cảm giác, tri giác, biểu tượng Phương châm của họ là “khơng cĩ gì trong nhậnthức mà trước đĩ khơng do cảm giác thu nhận” Tâm hồn, trí tuệ của con người lúc đầu như
Trang 23cái bảng trắng, thuần khiết, khơng cĩ tri thức Tri thức phải đi từ cái cụ thể, kinh nghiệm (thựcnghiệm) đến sự khái quát và đưa ra lý thuyết Đó là phương pháp quy nạp của sự vậnđộng trí tuệ đồng hành với thực nghiệm và nó chính là phương pháp chính xáctrong triết học và khoa học Mác coi Bêcơn là ơng tổ của CNDV Anh và tất cả KHthực nghiệm hiện đại
* Đềcáctơ, Xpinôda, Lépních và một số người khác theo chủ nghĩa duy lýcho rằng kinh nghiệm dựa trên cảm giác con người không thể trở thành cơ sởphương pháp chung cho mọi khoa học được Tri giác và cảm giác là ảo Trong lýtính, trong chính tâm hồn của con người hàm chứa những tư tưởng rõ nét mộtcách trực giác Theo nguyên tắc của phép diễn dịch – đi từ cái chung đến cái cụthể, khi phát triển những tư tưởng có sẵn trong đầu ấy, con người có thể thuđược tri thức chính xác về thế giới Tri thức chân thực là kết quả của sự kết hợp giữakinh nghiệm và lý tính trực giác Do đĩ, phải tìm cơ sở của phương pháp chính xác trong trítuệ Tư duy đều dựa trên trực giác và diễn dịch Tư duy xuất hiện trước cảm giácvà không phụ thuộc vào cảm giác, song tư duy lại phải đi kèm với cảm giác.Phương pháp chính xác của mọi khoa học và triết học đều giống phương pháptoán học
Cuộc luận chiến của các nhà triết học xung quanh việc tìm cơ sở củaphương pháp mới chính là cuộc luận chiến giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủnghĩa duy lý Trong thực tế, chủ nghĩa duy lý và phương pháp tương tự của nóluôn chiếm ưu thế, được sử dụng rộng rãi
C.Tư tưởng về con người và bản tính con người:
Để truyền bá tri thức thuận lợi cho con người, nhiệm vụ căn bản của cácnhà triết học thời đại Khai sáng như Lamêtri, Điđrô, Henvêtiúyt, Hônbách làphải đấu tranh với những quan điểm tôn giáo và các học thuyết siêu hình củaĐềcáctơ và Lépních, vì trong học thuyết đó có sự khẳng định, sự tán thành củalý tính về cơ sở niềm tin của tôn giáo Họ xây dựng nên hệ thống thế giớiquan vô thần, chống lại siêu hình học
Các nhà triết học Khai sáng cho rằng vũ trụ là vật chất, vũ trụ làvô tận, vĩnh hằng, luôn vận động Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, làmột động vật, suy nghĩ nhờ các giác quan Tư tưởng của con người chịu sự quy địnhcủa cấu trúc cơ thể trong sự tác động qua lại với môi trường và điều kiệnsống Con người là một thực thể thống nhất hữu cơ của hai mặt thể xác và linhhồn Con người cịn là sản phẩm của hồn cảnh lịch sử, của xã hội nên cần thay đổihoàn cảnh xã hội, quan hệ phong kiến
Cơ sở để cải tạo cuộc sống hiện tại, để vươn tới con người là lý tính Lýtính của con người là sản phẩm do sự tác động của vật chất đến các giác quangây nên cảm giác Cảm giác là nguồn gốc của lý tính, Lý tính của con ngườiđược bắt nguồn từ kinh nghiệm Phương pháp để đạt tới lý tính là quan sát vàthực nghiệm Như vậy, các nhà Khai sáng đấu tranh vì thắng lợi của “Vương quốc
Trang 24trí tuệ” trên cơ sở tự do chính trị, bình quyền Họ coi “ánh sáng tự nhiên của trítuệ” là phương pháp cơ bản và độc lập với cuồng tín tôn giáo để nhận thứcthế giới, để hoàn thiện xã hội và đời sống xã hội.
Các nhà Khai sáng cũng cho rằng bản tính của con người vốn không ác.Sở dĩ xã hội có cái ác là do sự khiếm khuyết của các quan hệ xã hội vànền giáo dục không đúng đắn Con người được giáo dục đúng đắn tức là sựkhai sáng Con người được giáo dục đúng đắn sẽ trở thành kẻ ích kỷ sáng suốtvới nguyên tắc của nó là “hãy tự lo liệu cuộc sống cho mình và người kháccũng được sống”
D Tư tưởng về đạo đức:
Đạo đức học thời cận đại thế kỷ XVII-XVIII được phát triển dường nhưquay trở về tư tưởng đạo đức học Hy Lạp cổ đại Nó làm sống lại đạo đứcÊpiquya, diễn giải đạo đức như là hiện tượng của chủ quan cá nhân, đồng thờinhư là một quan hệ khách quan hiện thực
+ Môngtenhơ (1533-1592) – nhà triết học người Pháp cho rằng trong đức hạnhcủa con người sự khoan khoái là mục đích và sự khoan khoái tinh thần là điểmtrung tâm của đạo đức học
+ Tômát Hôpxơ (1588-1679) cho rằng chủ nghĩa ích kỷ và đấu tranh giữangười với người là những đặc điểm phổ biến của bản chất con người Do đó,con người cần phải chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội haytrạng thái nhà nước Vì vậy, ông đã gắn liền đạo đức học với đạo đức về nhànước và pháp quyền
+ Xpinôda (1632-1677) gắn đạo đức với pháp quyền.Ôâng coi đạo đức phảigiúp con người chiến thắng những ham muốn lầm lạc và những sùng bái tôngiáo Việc hiểu biết tự nhiên là hạnh phúc cao nhất của con người Nhận thứcđược tính tất yếu sự vật là tự do Ông gọi sự bất lực của con người trong cuộcđấu tranh với những ham muốn của mình là sự “nô lệ” Nhiệm vụ của đạo đứclà tìm ra con đường khắc phục sự nô lệ ấy
+ Vào thời Khai sáng, tư tưởng đạo đức có bước phát triển mới Các nhàduy vật Pháp thế kỷ XVIII đã phát triển đạo đức duy vật và đẩy mạnh cuộcđấu tranhchống tư tưởng đạo đức thần học tôn giáo Họ cho rằng con ngườikhông phải sinh ra là có đạo đức Đạo đức nảy sinh dưới sự tác động của môitrường xã hội, trước hết là chính trị và pháp luật Từ đó, họ kết luận rằng conngười cần thay đổi điều kiện xã hội nếu muốn đạt đến đạo đức cao cả
+ Điđrô (1713-1784) đã bác bỏ đạo đức tôn giáo và khẳng định sự tha thiếtmuốn sống hạnh phúc là nguyên tắc đạo đức của con người Ông chủ trươnglợi ích cá nhân và lợi ích xã hội phải được kết hợp một cách hợp lý
+ Henvêtiuýt (1715-1771) đã đề xướng thuyết “đạo đức trần thế” để chốnglại đạo đức thần học Ông coi hạnh phúc chung là nguồn gốc của đức hạnh, làmục tiêu của luật lệ, phong tục, tập quán Ông cho động lực thầm kín của sự
Trang 25phát triển xã hội là lợi ích và sự tự tư tự lợi ÂÔng chủ trương hạnh phúc cánhân phải kết hợp với hạnh phúc chung.
+ Hônbách (1723-1789) đã khái quát và hệ thống hoá tư tưởng tiên tiếncủa chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên Pháp Vì vậy tư tưởng đạo đức họccủa ông có tính chiến đấu chốâng lại đạo đức học phong kiến và thần học.Ôâng khẳng định con người sinh ra không thiện, không ác Sở dĩ con người lỗilầm là do điều kiện xung quanh mà chủ yếu là điều kiện chính trị Cùng vớiviệc tấn công vào thần học, ông khẳng định rằng sự hiểu biết đúng đắn về lợiích cá nhân là con đường dẫn tới đức hạnh Nhiệm vụ chính của đạo đức làvạch cho được những điều kiện trong đó lợi ích cá nhân là cơ sở tất yếu củahành vi con người có thể dung hợp với lợi ích xã hội
3 Những thành tựu và hạn chế:
a Thành tựu:
Triết học phương Tây thế kỷ XVII-XVIII là thế giới quan của giai cấp
tư sản đang lên, có chức năng chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc cách mạng tưsản Các nhà triết học duy vật đề cao vai trò của triết học và khoa học trongviệc nhận thức quy luật và sức mạnh tự nhiên, giúp con người làm chủ tựnhiên
- Về bản thể luận, các nhà triết học đứng trên lập trường duy vật vơ thần, chống lạithế giới quan duy tâm, tơn giáo của Nhà thờ Họ khẳng định vật chất, tự nhiên là thực thể duynhất, Thượng đế cũng chính là giới tự nhiên "Trong vũ trụ chỉ cĩ một thực thể - cả con ngườilẫn động vật đĩ là vật chất" (Điđrơ) Họ cũng thừa nhận vật chất luơn luơn vận động bao gồm
cả đứng im hay vận động tương đối Và quá trình vận động do nguyên nhân bên trong của vậtchất, từ đĩ làm tiền thân cho thuyết tiến hĩa sau này
- Về con người: Con người là sản phẩm của tự nhiên, là thể thống nhất giữa cơ thể
và ý thức Họ bác bỏ linh hồn bất tử, linh hồn tách rời cơ thể Điđrơ quan niệm về linh hồntách rời cơ thể cũng vơ lý như: “cĩ thể nhìn mà khơng cần mắt, cĩ thể nghe mà khơng cầntai….” Theo họ, nhân cách con người là sản phẩm của hồn cảnh và giáo dục
- Về nhận thức: Các nhà triết học duy vật chia nhận thức thành nhận thức cảm tính và nhậnthức lý tính Trong đĩ cảm tính là giai đoạn thứ nhất của nhận thức, lý tính là giai đoạn thứ hainhận thức và giai đoạn kết hợp chúng dùng thực nghiệm khoa học để kiểm tra
- Về chính trị - xã hội: Họ chống lại tư tưởng và trật tự phong kiến, tuyên truyền tưtưởng chính trị của giai cấp tư sản Họ đưa ra thuyết kết ước xã hội Theo họ, nhànước là do sự thoả thuận giữa các tầng lớp nhân dân lập ra Họ đề cao hình thứcnhà nước dân chủ; chống quyền lực phong kiến và Nhà thờ
- Về vấn đề tơn giáo: Họ vạch trần bản chất tơn giáo và tính chất phản động, phản tiến
bộ của nĩ Theo Hơpxơ nguồn gốc của tơn giáo là sự sợ hãi và ngu dốt của quần chúng Theo
họ, khơng phải tơn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tơn giáo
b Hạn chế:
Trang 26- Về bản thể luận: Do chịu ảnh hưởng của cơ học Newtơn nên thế giới quan của họnhìn chung là siêu hình và máy mĩc Họ chỉ nhìn nhận vận động ở hình thức vận động cơ giới
- Về con người: Họ chưa thốt khỏi cách nhìn máy mĩc về con người, coi con ngườinhư một cái máy, lấy quy luật cơ học hay lấy yếu tố bản năng để giải thích bản chất conngười
- Về nhận thức: Các nhà triết học duy vật đề cao vai trị nhận thức cảm tính, của tưduy và thực nghiệm khoa học, chưa nhận thức được tầm quan trọng của thực tiễn, mối liên hệgiữa nhận thức và thực tiễn
- Về chính trị - xã hội: Họ cho rằng nhà nước là do sự thỏa thuận giữa các tầng lớpnhân dân lập ra Họ chưa nhận ra được bản chất của nhà nước là cơng cụ của giai cấp thốngtrị
- Về tơn giáo: Họ chỉ thấy nguồn gốc nhận thức, chưa thấy được nguồn gốc xã hộicủa tơn giáo Vì vậy, họ chủ trương xĩa bỏ tơn giáo bằng cách giáo dục quần chúng và tiêudiệt giới tu hành
CÂU 7: Các luận điểm của chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa thực dụng
1 Những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh.
a Nguồn gốc ra đời và các đại biểu chính cuả chủ nghĩa hi ệ n sinh:
Chủ nghĩa hiện sinh phát triển ở Đức và Pháp từ những năm 20 của thế kỉ XX, trởthành một trào lưu mạnh mẽ ở Châu Âu trong và sau thế chiến thứ II, ảnh hưởng mạnh mẽthành thị miền Nam Việt Nam trong thời kì chiến tranh xâm lược của Mỹ (1964-1975)
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời do 2 nguồn gốc:
Một là, sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản đã đẩy con người vào tình trạng tha
hĩa cùng cực Hai cuộc chiến tranh thế giới do chủ nghĩa đế quốc gây ra đã đem lạisự tàn phá, đau thương chết chóc khủng khiếp, gây ra tình trạng khủng hoảng sâu sắctrong đời sống tinh thần của con người
Trang 27Hai là, sự bất lực của các hệ thống triết học duy lý và khoa học kỹ thuật trong việc
giải quyết các mâu thuẫn xã hội khiến con người bị bỏ rơi, họ khơng cịn tin tưởng vào lý trí,vào khoa học kỹ thuật, vào xã hội, nhà nước hay vào tương lai
Hai nguyên nhân trên đã dẫn đến tâm trạng bi quan tuyệt vọng của con người, chorằng tất cả mọi thứ đều phi lý Con người không còn tin vào bất cứ cái gì bênngoài có thể cứu giúp họ Mỗi cá nhân chỉ còn cách dựa vào chính bản thânmình, tự cứu mình, tự lựa chọn con đường riêng cho mình Đây là cơ sở dẫn đến sự rađời và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh cĩ nguồn gốc từ nhà triết học kiêm thần học Đan Mạch tên làKierkegaard (1813-1855) Ơng là người đầu tiên đã gọi mình là hiện sinh Ngồi ra cĩ thể kểđến những ơng tổ của chủ nghĩa hiện sinh như nhà triết học Đức Nietszche, nhà hiện tượnghọc người Đức Husserl, và các triết gia khác tiêu biểu như Sartre, Karl Jaspers, Marcel…
b Những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh:
Chủ nghĩa hiện sinh được chia làm 2 nhánh: chủ nghĩa hiện sinh hữu thần và chủnghĩa hiện sinh vơ thần Cĩ nhiều triết gia với nhiều quan điểm khác nhau trong chủ nghĩahiện sinh nhưng nhìn chung họ nhấn mạnh sự hiện hữu của từng cá nhân cụ thể và từ đĩ nhấnmạnh tính chủ quan, tự do cá nhân và sự lựa chọn cá nhân Cụ thể:
+ Về vấn đề tồn tại: chủ nghĩa hiện sinh khơng phủ nhận tồn tại khách quan của thế
giới, nhưng theo họ, tồn tại tự nĩ khơng là gì cả Theo Sartre, tồn tại chia làm 2 miền: tồn tại
tự nĩ (being in itself) và tồn tại cho nĩ (being for itself)
Tồn tại trong nó tức tồn tại tự nĩ chỉ đơn thuần là sự cĩ mặt ở đĩ, như viên sỏi,
như cái rễ cây hạt dẻ kia Tồn tại tự nó thì dày đặc, khơng cĩ ý thức về chính nĩ và vềthế giới xung quanh Nó là đồng nhất với chính nó, không có quan hệ gì với cáikhác, không cần bất cứ một cái gì khác làm nguyên nhân, cứu cánh cho nó.Nó chẳng là cái gì cả Nĩ là tồn tại hỗn độn, thừa thãi, phi lý và gây ra sự buồn nơn
Tồn tại cho nĩ là tồn tại cĩ ý thức, ý thức về đối tượng và về chính mình Tồn tại
cho nó không phải là ý thức thuần tuý mà ý thức về một đối tượng Đó làsự sáng suốt mà nhờ đó đối tượng được nhận thức Tồn tại cho nó cũng là tự
ý thức, nghĩa là biết được là mình đang có ý thức về đối tượng Con người là mộttồn tại cho nĩ, một tồn tại cĩ ý thức
Các nhà phân tích chủ nghĩa hiện sinh thường phân biệt khái niệm tồn tại với khái niệm hiện sinh hay hiện hữu Chỉ cĩ tồn tại cĩ ý thức mới là sự hiện hữu,
sự hiện sinh, và như vậy con người mới hiện hữu, hiện sinh, cịn đồ vật chỉ đơn giản tồn tại màthơi Đồ vật chỉ hiện hữu khi con người cĩ những cảm xúc về nĩ, sự hiện hữu của đồ vật là docon người đem lại
Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh về tồn tại và về con người là một quan
điểm duy tâm chủ quan, siêu hình Tồn tại tự nó là những đồ vật không có quan
hệ với nhau, không thể nhận thức được Còn tồn tại của con người là tồn tạicó ý thức Tồn tại của con người bị đồng nhất với ý thức Con người trong chủ nghĩa hiệnsinh là một cá nhân đơn nhất, với những tâm lý, những xúc cảm, những đau khổ, những trăn
Trang 28trở riêng tư của nĩ; con người bị chia cắt khỏi mặt sinh học của nĩ, khỏi những quan hệ xã hội
và hoạt động thực tiễn của xã hội
+ Về quan hệ giữa hiện sinh và bản chất:
Các nhà hiện sinh cho rằng hiện sinh cĩ trước bản chất, hiện sinh là tính thứ nhất so với bản chất Con người khơng cĩ bản chất vốn cĩ nào cả, nó không giống như cái tên
của nó, nó không phải là cái mà người ta định nghĩa về nó, không phải làcái bản chất mà triết học, khoa học gán cho nó Mỗi cá nhân trở thành cái gì là do
sự hiện sinh của nĩ, do ý thức của nĩ Simone de Beauvoir cĩ câu nĩi nổi tiếng: “Người ta khơng phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ” Giữa cá nhân này với cá nhân
khác không có một bản chất chung nào cả Đồ vật cũng vậy, nó không phảilà cái tên mà người ta đặt cho nó, cái bản chất mà người ta gán cho nó ngaytừ đầu, một cái bản chất có sẵn, có trước nào Nhìn chung quan điểm này cịnmang tính duy tâm, do con người khơng thể quyết định hết mọi việc cũng như việc trở thànhcái gì, mà sự lựa chọn đĩ cịn chịu tác động của các quy luật khách quan, khơng thể cĩ tự dotuyệt đối
+ Về sự trăn trở, sự đau khổ, cái chết:
Đó là trạng thái không thoải mái, lo sợ, khủng khiếp nói chung, không
gắn một cách trực tiếp với một đối tượng cụ thể nào cả Các nhà hiện sinh cĩ mộtcái nhìn đen tối, bi quan về cuộc sống, họ phủ nhận tư tưởng về hạnh phúc, chủ nghĩa lạc quancủa các nhà khai sáng Họ khai thác triệt để khía cạnh bi kịch, đau khổ, tuyệt vọng trong sựhiện hữu của con người
Con người hiện sinh là con người luơn luơn sợ hãi trước cái chết, vì sự sống là sự tồn tại dẫn đến cái chết
Cái chết treo lơ lửng trên đầu, trong mỗi giây phút của cuộc sống Theo Sartre, cáichết cũng phi lý như sự sinh ra Nĩ khơng là cái gì khác hơn là chỉ là xĩa đi sự hiện hữu củatơi Cái chết cũng là một bằng chứng khác về sự phi lý của cuộc đời
+ Về sự phi lý:
Triết học hiện sinh là một trào lưu triết học phi lý tính (irrationalism), phủ nhận chủ
nghĩa duy lý trong triết học và khoa học, phủ nhận sự giải thích sự vật, hiện tượng bằng lýluận, bằng khoa học Nó không thừa nhận bất cứ mối liên hệ khách quan nào,bất kỳ bản chất và quy luật khách quan nào
Cái phi lý là cái khơng cĩ bản chất, khơng cĩ tính tất yếu, khơng cĩ quy luật, khơng
cĩ nguyên nhân, mục đích, nĩi chung là khơng thể giải thích bằng lý trí
Ngay cả sự hiện diện của con người cũng là điều phi lý Mỗi người chúng ta chỉ đơngiản bị ném vào thế giới trong lúc này, chỗ này Như Kierkergaard hỏi, tại sao lại là chỗ này?tại sao lại là lúc này? Khơng cĩ một lý do nào cả, khơng cĩ một mối liên hệ tất yếu nào cả, chỉ
là ngẫu nhiên, và như thế đời tơi chỉ là một sự kiện ngẫu nhiên, vơ lý
+ Về h ư vơ:
Chủ nghĩa hiện sinh phủ nhận mọi bản chất, kết cấu Con người hiện sinh khơngmột bản chất, một kết cấu tri thức, một giá trị đạo đức, một mối quan hệ xã hội nào cả Nĩi
Trang 29tĩm lại, nĩ chỉ đơn thuần là một sự trống rỗng, hư vơ Nó sống trong sự đau khổ, lo âu,tuyệt vọng, đang đứng bên bờ vực thẳm.
+ Về sự tha hĩa:
Chủ nghĩa hiện sinh phát triển khái niệm tha hĩa đến cực đoan, khơng thể chấp
nhận được Con người hiện sinh là những người bị tha hĩa, tách rời, xa lạ với tất cả: với thếgiới đồ vật, với xã hội, trong lao động, trong quan hệ với người khác, kể cả trong quan hệ giữacha mẹ và con cái, giữa vợ chồng, giữa con cái với nhau, về kể cả sự tha hĩa trong tình yêu
Sartre cho rằng: “địa ngục là những người khác” ( Trong quan hệ với người
khác bao giờ cũng là quan hệ mâu thuẫn, quan hệ người chủ-người nô lệ.Người khác nhìn tơi, xâm phạm tự do của tơi,biến tơi thành đối tượng của nĩ, thành đồ vật.Tơi cũng vậy, khi tơi tìm cách nơ dịch người khác thì người khác cũng tìm cách nơ dịch tơi,khi tơi cố gắng giải thốt tơi khỏi người khác thì người khác cũng tìm cách giải thốt họ khỏitơi.)
do của Sartre là tự do không để làm gì cả
Sartre gắn liền tự do với trách nhiệm cá nhân Người hiện sinh hồn tồn
chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của mình Sự tự do khơng bị quy định bởi bất
kỳ cái gì khác ngồi trách nhiệm cá nhân
Như vậy, hạn chế trong quan niệm tự do của các nhà hiện sinh là xem xét tự do tách rời với cái tất yếu, định nghĩa tự do là không bị quy định bởi bất kỳ cái tất yếu
khách quan nào Nếu như vậy, con người chẳng cĩ một chút tự do nào, vì những sự lựachọn tùy ý trái với quy luật khách quan chẳng đem lại một kết quả nào Tự do theo quanđiểm của triết học Mác là nhận thức được cái tất yếu và quy luật khách quan,vận dụng chúng một cách có kế hoạch, phục vụ cho cuộc sống của con người.Con người càng nhận thức và vận dụng được quy luật thì càng có tự do Nhưvậy, tự do không chỉ là vấn đề ý thức, mà suy cho cùng, là vấn đề thực tiễncó tính lịch sử Khơng thể cĩ tự do tuyệt đối, bởi vì tự do bị quy định bởi cái tấtyếu Chỉ cĩ thể cĩ tự do tương đối mỗi ngày phát triển cao hơn cùng với sự phát triển củanhận thức và thực tiễn mà thơi
Ngoài ra, trách nhiệm cá nhân mà chủ nghĩa hiện sinh nói đến do đâumà có Trách nhiệm cá nhân bao giờ cũng liên quan đến tự ý thức và lươngtâm của mỗi cá nhân, tuy nhiên, nó không phải là cái vốn có trong mỗingười Trách nhiệm cá nhân là kết quả của sự phản ánh của cá nhân về cái
Trang 30tất yếu khách quan trong tồn tại xã hội, là sự đáp ứng của cá nhân đối vớinhững yêu cầu của đạo đức, nghĩa vụ xã hội Nếu khơng cĩ nhận thức đúng đắn vềtính tất yếu và quy luật khách quan, khơng được giáo dục một cách đầy đủ, thì cá nhânkhơng thể cĩ ý thức trách nhiệm được.
c Nhận xét chung:
- Như vậy, chủ nghĩa hiện sinh là phản ứng của con người trước tình trạng con người
bị hạ thấp, bị bỏ rơi tha hĩa đến mức cùng cực trong thời kì tổng khủng hoảng của chủ nghĩa
tư bản Trong đĩ, chủ nghĩa hiện sinh vơ thần nêu cao vấn đề tự do của con người chống lạiniềm tin mù quáng và ràng buộc vào đạo đức tơn giáo
- Tuy nhiên, chủ nghĩa hiện sinh là trào lưu triết học duy tâm, phủ nhận thực tại kháchquan và quy luật khách quan, phủ nhận khả năng nhận thức của con người nên khơng thể tìm
ra con đường đúng đắn để giải phĩng con người
- Bên cạnh đĩ, đây là trào lưu triết học bi quan về cuộc sống, tuyệt đối hĩa tự do cánhân đối lập với xã hội nên tác động tiêu cực tới tầng lớp trẻ là khơng thể tránh khỏi
2 Chủ nghĩa thực dụng:
a Nguồn gốc ra đời và những đại biểu của chủ nghĩa thực dụng:
Chủ nghĩa thực dụng là trào lưu triết học cĩ ảnh hưởng lớn ở Mỹ từ cuối thế kỉ XIX
đến nay.Nĩ ra đời trong nững năm 1871-1874, khi Câu lạc bộ siêu hình học ở trường Đại học
Cambridge được thành lập Chủ nghĩa thực dụng phản ánh tư tưởng, lợi ích và nhu cầu thực tếcủa giai cấp tư sản Mỹ Người sáng lập là Charles Sanders Peirce Sau đĩ cĩ William James,
và John Dewey là những đại biểu quan trọng nhất
b Những luận điểm chính của chủ nghĩa thực dụng:
- Nguyên tắc phương pháp luận căn bản của chủ nghĩa thực dụng là lấy kinh nghiệm, hiệu quả, cơng dụng làm tiêu chuẩn Chủ nghĩa thực dụng quy triết học chỉ cịn là phương
pháp, tuyên bố rằng chủ nghỉa thực dụng khơng phải là lý luận triết học cĩ hệ thống, mà chỉ là
lý luận về phương pháp Dewey viết rằng: triết học chỉ hồn thành nhiệm vụ của mình khi nĩthơi khơng nghiên cứu những vấn đề của các nhà triết học nữa, mà bắt đầu nghiên cứu phươngpháp giải quyết những vấn đề của con người Nhiệm vụ của triết học là làm thế nàocho con người có thể đạt được một hạnh phúc hợp lý Vì thế những nhà triếthọc thực dụng nói rằng họ kiên quyết đoạn tuyệt với triết học cũ, cải tổ nólại và xây dựng một thứ triết học mới, thực hiện một bước ngoặt trong triếthọc
- Chủ nghĩa thực dụng nhấn mạnh vai trị của thực tiễn như là mục đích của triết học,
như là tiêu chuẩn của chân lý Thế nhưng họ lại xuyên tạc bản chất của hoạt động thực tiễn.Theo họ, con người trong tiến trình hoạt động của mình chỉ xuất phát từ lợi ích, từmong muốn chủ quan của mình, họ không bị hạn chế bởi bất kỳ tính tất yếu, quyluật khách quan nào cả Bởi vì, theo họ trong tự nhiên không có một hình thức,một trật tự, những quy định ổn định Tất cả những cái được coi là quy luậtkhách quan, hiện thực khách quan đều là sản phẩm của hoạt động sáng tạo của
Trang 31con người Do đó, họ rút ra kết luận: con người tuyệt đối tự do trong hoạt động củamình, họ cĩ thể làm bất cứ việc gì họ muốn, bất cứ cái gì cĩ lợi cho họ.
- Tính chất phản động của kết luận đó thật là rõ ràng CNTD là triếthọc của sức mạnh, nó mở đường cho hoạt động của giai cấp tư sản Mỹ trongviệc tăng lợi nhuận không hạn độ, gây chiến tranh xâm lược, can thiệp vào cácnước khác để hòng làm bá chủ thế giới Nhà triết học Anh B Russell đã phê
phán chủ nghĩa thực dụng “đó là một thứ điên rồ, là biểu hiện của sự say mê quyền lực”.
- Theo chủ nghĩa thực dụng, những gì tồn tại đều là những yếu tố của kinh nghiệm Dewey viết: “Khi nĩi đến kinh nghiệm, chúng tơi ngụ ý muốn nĩi đĩ là cái gì cũng rộng rãi, sâu sắc và đầy đủ, ít ra cũng như lịch sử của quả đất”… “Những vật thể như mặt trời, mặt trăng, các ngơi sao, núi sơng, rừng rú, hầm mỏ, giĩ mưa,… đều khơng phải là những điều kiện bên ngồi của lịch sử, của kinh nghiệm, chúng khơng thể tách rời khỏi lịch sử và kinh nghiệm”.
- Chủ nghĩa thực dụng coi kinh nghiệm như là cái bao hàm trong nĩ cả vật chất và ý
thức, cả khách quan và chủ quan Bằng cách tuyên bố kinh nghiệm là cái duy nhất,chủ nghĩa thực dụng cho rằng họ đã khắc phục được sự đối lập giữa chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa duy tâm và đã giải quyết triệt để vấn đề đã được tranh
cãi hàng nghìn năm nay Dewey viết: “Hiện nay khơng cĩ căn cứ để phân chia một cách cứng nhắc những sự kiện thành sự kiện khách quan và sự kiện chủ quan” “Cái khách quan
và cái chủ quan khơng phải là những trật tự, những dạng riêng biệt của tồn tại, mà chính là những sự phân biệt nhất định được định ra vì một mục đích nhất đinh ở bên trong kinh nghiệm”.
- Về nhận thức luận, chủ nghĩa thực dụng coi ý nghĩa của sự vật, của khái niệm
không phải là cái gì cĩ sẵn, vốn cĩ của nĩ, mà chỉ biểu hiện ra trong quan hệ cụ thể, trongcơng dụng thực tế Giá trị của tư tưởng hay lý luận khơng phải ở chỗ nĩ cĩ phản ánh đúngđắn hiện thực khách quan hay khơng, mà là ở chỗ nĩ cĩ đem lại hiệu quả thực tế hay khơng.Chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm, khoa học hay tơn giáo nếu đem lại lợi ích, hiệuquả thực tế thì đều cĩ giá trị như nhau, vì chúng đều là những cơng cụ để đạt đến mục đíchcủa đời sống con người mà thơi
- Về tiêu chuẩn của chân lý, James cho rằng chân lý khơng phải là hình ảnh chủ quan
của thế giới khách quan, mà là mối liên hệ giữa các kinh nghiệm với nhau Cái gì đem lại lợiích và hiệu quả hữu dụng thì nĩ là chân lý, mà khơng cần xem nĩ cĩ phù hợp với thực tếkhách quan hay khơng Như vậy, hữu dụng và vơ dụng trở thành tiêu chuẩn để phân biệt chân
lý và sai lầm James khẳng định, chân lý là cái gì cĩ tác dụng Chân lý khơng phải là một trạngthái tĩnh, khơng phải là cái gì cĩ sẵn, mà nĩ chỉ xảy đến với một tư tưởng trong quá trìnhchứng thực nĩ Chân lý theo quan niệm của chủ nghĩa thực dụng chỉ cĩ tính chất tương đối,tuỳ theo từng người, từng thời gian, từng hồn cảnh và địa điểm áp dụng khác nhau Chủ
nghĩa thực dụng “cho phép mỗi người đều cĩ chân lý riêng của mình”.
Trang 32Như vậy trong quan niệm về chân lý, chủ nghĩa thực dụng chỉ nhấn mạnh cơngdụng và hiệu quả thực tế và phủ nhận tính khách quan của chân lý; nhấn mạnh tính tương đối
và phủ nhận tính tuyệt đối của chân lý
c Nhận xét chung:
Nhận xét về chủ nghĩa thực dụng, Bách khoa Encarta 2001 viết: “Chủ nghĩa thực dụng địi hỏi quan niệm và lý luận phải được kiểm tra bằng thực tiễn, bằng cách đánh giá xem hành động dựa trên những quan niệm và lý luận đĩ cĩ đem lại những kết quả mong muốn hay khơng” Khái niệm thực tiễn mà chủ nghĩa thực dụng nhiều khi coi là tiêu chuẩn của chân
lý, mới nghe qua tưỏng chừng như nĩ giống với chủ nghĩa Mác, nhưng thực ra đĩ chỉ lànhững biểu hiện thực tiễn vụn vặt, rời rạc Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác, chỉ cĩ thựctiễn trong phạm vi rộng lớn, thực tiễn của tồn nhân loại, thực tiễn lặp đi lặp lại trong thờigian dài mới cĩ thể chứng minh hay bác bỏ những vấn đề phức tạp trong quá trình nhận thức Về chủ nghĩa thực dụng, giáo trình triết học Mỹ có những nhận xét như
sau: “Nguy hiểm hiển nhiên của chủ nghĩa thực dụng triệt để là ở chỗ, một lý thuyết sai lầm, một lý thuyết chỉ thuần tuý có tính chất tuyên truyền và hấp dẫn… có thể “có tác dụng” bằng cách làm cho người ta tin và hành động theo nó để đạt được một mục đích chính trị hấp dẫn Liệu chúng ta có thể gọi một lý thuyết như thế là chân thực bởi vì nó có tác dụng hay không? Những lý thuyết như vậy có tác dụng bao lâu và như thế nào khi người ta hành động theo nó, và với cái giá về máu và sự tàn phá mà con người phải trả, và với hậu quả thất vọng như thế nào?”.
CÂU 8: Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện
Triết học Mác-Lênin là sự kế thừa cĩ phê phán và chọn lọc những tư tưởng triết học
của nhân loại trong quá trình lịch sử Đồng thời sự ra đời của triết học Mác-Lênin là một bước ngoặt vĩ đại trong sự phát triển tư tưởng triết học của nhân loại Triết học Mác cĩ những cái
mới về chất so với các hệ thống triết học trước đĩ:
Một là, C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển CNDV lên hình thức cao của nĩ là CNDV biện chứng và phát triển PBC lên hình thức cao của nĩ là PBC duy vật Ở triết
học Mác, CNDV và PBC được kết hợp thành một thể thống nhất
+ Trước Mác, CNDV và PBC tách rời nhau CNDV trước Mác mà đỉnh cao của nĩ làCNDV thế kỷ XVIII của các nhà triết học khai sang Pháp và của Phoiơbăc thì vẫn cịn mangtính chất siêu hình, máy mĩc Nĩ chưa đưa được quan điểm phát triển vào trong lý luận củanĩ; nĩ lấy quy luật cơ học để giải thích sự vận động của thế giới, dùng quy luật cơ học vàsinh học để giải thích bản chất con người Cịn phép biện chứng trước Mác mà đỉnh cao của
nĩ là phép biện chứng Hêghen thì lại là duy tâm Mặc dù Hêghen là người có công
nghiên cứu phép biện chứng một cách có hệ thống, nhưng ông lại xuất phát
từ quy luật vận động, phát triển của một ý niệm tuyệt đối nào đó có trước
thế giới để giải thích tất cả những gì đang tồn tại Cho nên phép biện chứng của Hêghen là
phép biện chứng duy tâm ngược đầu và đĩng khung trong một kết cấu tự biện, gượng gạo Do
đó, nhìn chung, lịch sử triết học trước C.Mác thể hiện thế giới quan duy vật trong
Trang 33mối quan hệ với phương pháp nhận thức siêu hình, hoặc là thế giới quan duy tâmtrong mối quan hệ với phương pháp nhận thức biện chứng.
+ Trên cơ sở kế thừa cĩ phê phán và chọn lọc những thành tựu mà các nhà duy vật đãđạt được cũng như kế thừa hạt nhân hợp lý trong PBC của Hêghen, C.Mác và Ph.Ăngghensáng lập ra CNDVBC và PBC duy vật Từ khi triết học Mác ra đời, CNDV và PBC được kếthợp với nhau thành một thể thống nhất Đánh giá về tính chất triệt để trong triết học Mác,
Lênin viết: “Triết học của Mác là một CNDV triết học hồn bị, nĩ cung cấp cho lồi người và nhất là cho giai cấp cơng nhân những cơng cụ nhận thức vĩ đại”
Hai là, việc sáng lập ra CNDV lịch sử là biểu hiện quan trọng nhất của bước ngoặt cách mạng trong sự phát triển tư tưởng triết học của nhân loại
+ Trước Mác, các nhà triết học, kể cả các nhà duy vật như Phoiơbắc đều khơng tránh
khỏi duy tâm khi giải thích các hiện tượng xã hội Họ đều cho rằng tinh thần, tư tưởng (ý
niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, trời, thượng đế, hoặc ý thức chủ quan củacon người) là yếu tố quyết định trong lịch sử Họ khơng thấy được vai trị quyết định củahoạt động sản xuất vật chất, của đời sống vật chất Họ coi thường vai trị của quần chúng nhândân
+ C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu lĩnh vực đời sống xã hội Triết học Mác coi xã hội như là một cơ thể sống, một cấu trúc
phức tạp bao gồm những cá nhân, gia đình, giai cấp, dân tộc với vơ số những mối quan hệ
chằng chịt được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn của họ Triết học Mác coi sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội; vạch ra những quy luật khách quan
của sự phát triển xã hội khơng phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người; lấy cơ sở hạ tầng
để giải thích khiến trúc thượng tầng; lấy tồn tại xã hội để giải thích ý thức xã hội
+ Một đặc điểm có ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng trong triết họclà mở rộng chủ nghĩa duy vật sang lĩnh vực lịch sử xã hội loài người, hình
thành nên chủ nghĩa duy vật lịch sử Lênin nhận xét: “Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đĩ tới chỗ hồn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội lồi người CNDV lịch
sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận khoa học hết sức hồn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tuỳ tiện vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị…”.
+ CNDV lịch sử của triết học Mác đã chỉ ra quy luật vận động của lịchsử xã hội loài người, sự thay thế của các hình thái kinh tế xã hội là một quátrình lịch sử – tự nhiên Trong các quy luật của lịch sử xã hội, quy luật biệnchứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có vai trò quyết định Cácquan hệ về kinh tế quyết định các quan hệ về kiến trúc thượng tầng Triết họclịch sử cũng phát hiện ra vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân làngười “đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”, thực hiện cách mạng XHCN, hướngđến mục tiêu giải phóng con người Với bản chất duy vật triệt để trong lĩnh vựcxã hội, triết học Mác trở thành công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế
Trang 34giới, tạo ra bước phát triển mới về chất, một sự nhảy vọt so với các hệ thốngtriết học khác trong lịch sử.
Chính vì thế, triết học Mác là CNDV cân đối, hồn chỉnh và triệt để; nĩ bao quát cả tự
nhiên, xã hội và tư duy
Ba là, thống nhất lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của triết học
Mác - Lênin
+ Triết học Mác-Lênin khơng chỉ là lý luận khoa học phản ánh bản chất, quy
luật của sự vận động và phát triển của thế giới, giải thích thế giới mà vấn đề quan trọng là cải tạo thế giới Mác nĩi: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng những cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới” Vì vậy, sự thống nhất biện chứng
giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triết học Mác
+ Trước Mác, người ta chưa xác lập được mối quan hệ gắn bĩ với nhau giữa lý luận
và thực tiễn Đặc biệt trong triết học duy tâm và tơn giáo, lý luận hồn tồn tách rời thực tiễn.Lý luận nhiều khi chỉ là sản phẩm của tư duy thuần tuý, chỉ là kết quả của sự suy
lý tư biện của các nhà lý luận Người ta chưa chỉ ra được một tiêu chuẩn khách quan để phânbiệt cái đúng và cái sai trong lý luận Lý luận càng cao siêu, càng xa rời thực tế thì càng đượcđánh giá cao Triết học trước Mác chưa thấy vai trò thực tiễn là cơ sở, động lực,mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý, chưa nhận thức hết ý nghĩathực tiễn cao nhất của triết học là hướng đến phát triển xã hội và giải phóng
vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn” Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triết học Mác - Lênin
+ Triết học là những học thuyết về những nguyên lý chung nhất của tồn tại và nhậnthức Để rút ra được những nguyên lý đĩ, trước hết con người phải phản ánh thế giới một cáchđúng đắn Tuy nhiên, mục đích của triết học khơng chỉ giải thích thế giới mà vấn đề quantrọng hơn là trên cơ sở giải thích đúng đắn quy luật vận động phát triển của thế giới kháchquan, triết học cĩ vai trị định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người trong việc cải tạo
tự nhiên và xã hội, sáng tạo ra một cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người
Bốn là, triết học Mác - Lênin cĩ sự thống nhất giữa tính cách mạng, tính khoa
học và tính sáng tạo
+ Bản chất khoa học của triết học Mác đã bao hàm tính cách mạng Tínhkhoa học càng sâu sắc, càng phản ánh đúng quy luật của sự phát triển thế giớithì tính cách mạng càng cao, càng triệt để Triết học Mác biểu hiện tính cáchmạng ở trong bản chất khoa học của học thuyết, trong mục đích cải tạo thế giới,trong vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản Với sự ra đời của triết học
Trang 35Mác - Lênin, giai cấp vơ sản và nhân dân lao động cĩ một lý luận khoa học để giải thích đúng
đắn các hiện tượng tự nhiên và xã hội Triết học Mác - Lênin cịn là vũ khí lý luận cách mạng
của giai cấp vơ sản và nhân dân lao động để đấu tranh xố bỏ áp bức, bất cơng, xây dựng xãhội khơng cĩ giai cấp, khơng cĩ người bĩc lột người
+ Những quan điểm cách mạng trong triết học Mác - Lênin, nhất là quan điểm về chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản khơng phải là những hồi bão chủ quan của lồi người, màtrái lại chúng cĩ cơ sở khoa học vững chắc, dựa trên sự nghiên cứu nghiêm túc và logic chặtchẽ của triết học và các khoa học xã hội
Năm là, triết học Mác đã đem lại một quan niệm đúng đắn về đối tượng của triết học
+ Thời cổ đại, do tri thức của con người cịn ít ỏi, người ta chưa phân biệt triết học
với các khoa học cụ thể Quan niệm coi triết học là khoa học bao trùm tất cả các khoa học cụthể tồn tại mãi đến đầu thế kỷ XIX Triết học Hêghen là hệ thống cuối cùng cĩ tham vọng coi
triết học là “khoa học của các khoa học” Mặt khác, trước tình hình các khoa học cụ thể dần
dần tách ra khỏi triết học và trở thành những khoa học độc lập và sự bất lực của các hệ thốngtriết học tự biện trong việc giải quyết những vấn đề xã hội trong giai đoạn khủng hoảng củachủ nghĩa tư bản nên nhiều trào lưu triết học ngồi mácxít đã hạ thấp vai trị của triết học chỉcịn “cơng cụ” của khoa học hoặc của hoạt động thực tiễn
+ Triết học Mác đã đưa ra một quan niệm đúng đắn trong việc xác định đối tượng vàvai trị của triết học Đối với triết học Mác, triết học khơng đồng nhất với các khoa học cụ thể,
cũng khơng phải là “khoa học của các khoa học”, mà là học thuyết về những nguyên lý chung nhất, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy con người Vì
vậy, không những không tách rời, mà trái lại, triết học Mác càng có mối liênhệ thống nhất và độc lập với các khoa học chuyên ngành Mặt khác, nhữngkết luận của triết học trở thành thế giới quan khoa học và phương pháp luậnchung nhất cho sự phát triển của các lĩnh vực khoa học
+ Sau C.Mác và Ph.Ăngghen, triết học Mác được Lênin bổ sung và phát triển mộtcách sáng tạo trong tình hình mới Lênin đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giảiquyết những vấn đề của cách mạng vơ sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xâydựng chủ nghĩa xã hội
CÂU 9 : Bản chất của thế giới quan DVBC Các nguyên tắc phương pháp luận của
nĩ và sự vận dụng trong thực tiễn cách mạng ở Việt Nam.
I BẢN CHẤT CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG:
1 Khái niệm thế giới quan, TGQDV và TGQDVBC:
- Thế giới quan (world view, world outlook) là tồn bộ những quan niệm, quan điểm
chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vai trị của conngười trong thế giới
- Thế giới quan duy vật là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới là
vật chất, thừa nhận vai trị quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sốngtinh thần và thừa nhận vị trí, vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực
Trang 36- Thế giới quan duy vật biện chứng được C.Mác và Ph.Ăngghen xây
dựng vào giữa thế kỷ XIX, V.I.Lênin và những người kế tục ông phát triển Sự
ra đời của TGQDVBC là kết quả kế thừa tinh hoa các quan điểm về thế giớitrước đó, trực tiếp là những quan niệm duy vật của Phoiơbắc và phép biệnchứng của Hêghen; là kết quả sử dụng tối ưu thành tựu của khoa học, trướchết là thành tựu của vật lý học và sinh học; là kết quả tổng kết các sự kiệnlịch sử diễn ra ở các nước Tây Âu, khi phương thức sản xuất TBCN đã hìnhthành và đã bộc lộ cả những mặt mạnh cũng như những mặt hạn chế của nó Bản chất của TGQDVBC – vấn đề mà chúng ta tìm hiểu sau đây – đemlại cho con người không chỉ một bức tranh trung thực về thế giới mà còn đem lạicho con người một định hướng, một phương pháp tư duy khoa học để con người tiếptục nhận thức và cải tạo thế giới
2 Bản chất của TGQDVBC:
Bản chất của thế giới quan duy vật biện chứng được thể hiện ở việc giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn, ở sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng, ở quan niệm duy vật triệt để và ở tính thực tiễn cách mạng của nĩ.
a Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn: Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại Ở đây, mối quan
hệ này được hiểu là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Khắc phục những hạn chế của chủnghĩa duy tâm khi tuyệt đối hĩa vai trị của ý thức, coi ý thức là nguồn gốc của vậtchất, sản sinh ra vật chất; cũng như hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác là duy vậtkhơng triệt để (duy vật về tự nhiên nhưng duy tâm về xã hội) và không thấy được sự tácđộng trở lại của ý thức đối với vật chất, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:
* Vật chất cĩ trước, quyết định ý thức Nhưng ý thức cũng cĩ vai trị vơ cùng to lớn.Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trên cơ sở hoạt động thựctiễn Thực tiễn, với tư cách là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tínhlịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo hiện thực mà những dạng cơ bảncủa nó là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị – xã hội và hoạtđộng thực nghiệm khoa học, được các nhà duy vật biện chứng coi là hoạt độngbản chất của con người, là hoạt động đặc trưng cho con người Hoạt động này làmắt khâu trung gian trong mối quan hệ giữa ý thức của con người với thế giớivật chất Thông qua thực tiễn, ý thức con người được vật chất hoá, tư tưởng trởthành hiện thực Thông qua thực tiễn, ý thức con người đã không chỉ phản ánh
thế giới mà còn “sáng tạo ra thế giới” C.Mác cho rằng thực tiễn là nơi con
người chứng minh sức mạnh, chứng minh tính hiện thực và tính trần tục của tưduy Bằng việc đưa quan điểm thực tiễn vào hoạt động nhận thức, đặc biệt việcthấy vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự tồn tại vàphát triển của xã hội, các nhà duy vật biện chứng đã khắc phục được hạn chếcủa CNDV trước đó để giải quyết thoả đáng vấn đề cơ bản của triết học Ở
Trang 37đây, trong khi khẳng định vai trò quyết định của các yếu tố vật chất, các nhà
DVBC đã “không loại trừ việc các lĩnh vực tư tưởng, đến lượt chúng, lại có tác động ngược lại, nhưng là tác động cấp hai lên những điều kiện vật chất ấy…”; không loại trừ việc các lĩnh vực tư tưởng “… cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.
* TGQDVBC còn thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người
2 Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng:
Thiếu sĩt của chủ nghĩa DVBC trước Mác là phương pháp siêu hình, máy mĩc, chủnghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản bị tách rời nhau CNDV tuy có chứa đựngmột số tư tưởng biện chứng nhất định, nhưng nhìn chung phương pháp siêu hìnhgiữ vai trò thông trị, đặc biệt trong CNDV thế kỷ XVII-XVIII Trong khi đĩ, phép
biện chứng lại đạt đến đỉnh cao ở chủ nghĩa duy tâm với quan niệm về sự phát triển của “ý niệm tuyệt đối” trong triết học cổ điển Đức Việc tách rời giữa TGQDV với phép BC
đã không chỉ làm các nhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật trước Máckhông hiểu về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và nối tiếp nhau củacác sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất
Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đĩ, với việc tổngkết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thốt thế giớiquan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí đểhình thành nên chủ nghĩa duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quanduy vật với phép biện chứng Sự thống nhất này đã đem lại cho con người một quanniệm hoàn toàn mới về thế giới – quan niệm thế giới là một quá trình với tínhcách là vật chất không ngừng vận động, chuyển hoá và phát triển
3 Chủ nghĩa duy vật triệt để:
Khi giải quyết những vấn đề tự nhiên, chủ nghĩa duy vật trước Mác đứng trên quanđiểm duy vật, khẳng định sự tồn tại của thế giới vật chất và thừa nhận tính thứ nhất của vậtchất Song vì khơng hiểu đđúng nguồn gốc, bản chất của ý thức, thiếu quan điểm thực tiễn,thiếu phương pháp tư duy biện chứng và một số hạn chế khác về nhận thức, về lịch sửnên khi giải quyết những vấn đề xã hội, các nhà duy vật trước Mác đã lấy các yếu tố tinh thầnnhư tình cảm, ý chí, nguyện vọng, … làm nền tảng Vì vậy họ đã rơi vào quan điểm duy tâmkhi bước vào nghiên cứu xã hội Ngay những nhà triết học duy vật, vơ thần như Phoiơbăccũng khơng thốt khỏi quan điểm duy tâm khi bước vào nghiên cứu xã hội Đối với quan điểmduy tâm khách quan về lịch sử thì xã hội do một ý niệm cĩ trước thế giới hoặc do Thượng đếquyết định Cịn đối với quan điểm duy tâm chủ quan thì sự phát triển của xã hội do ý chí của
vĩ nhân, lãnh tụ quyết định Chủ nghĩa duy vật trước Mác, do đĩ được gọi là chủ nghĩa duy vậtkhơng triệt để
Khẳng định nguồn gốc vật chất của xã hội; khẳng định sản xuất vật chất là cơ sởcủa đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị vàtinh thần nói chung; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triểncủa xã hội lồi người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã
Trang 38khắc phục được tính khơng triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ V.I.Lênin nhận định rằng:
“Trong khi nhận thức sâu và phát triển CNDV triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học” Triết học Mác đã đưa quan
niệm duy vật vào lĩnh vực xã hội, sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vậtlịch sử là một cống hiến vĩ đại của C.Mác Việc vận dụng quan điểm duy vật vào trong lĩnhvực xã hội đã tạo ra một chủ nghĩa duy vật triệt để Sự ra đời của CNDV lịch sử là cuộccách mạng đối với quan niệm về xã hội, nó đem lại cho con người một công cụ
vĩ đại trong việc nhận thức và cải tạo thế giới
4 Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
- Lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích
- Lý luận phải được kiểm tra trong thực tiễn Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
- Thực tiễn phải được hướng dẫn bằng lý luận khoa học
- Lý luận mà khơng liên hệ thực tiễn là lý luận suơng Thực tiễn mà khơng được
lý luận hướng dẫn trở thành thực tiễn mù quáng
5 Tính cách mạng và tính sáng tạo:
a) Tính cách mạng:
- Triết học Mác khơng dừng lại ở việc nhận thức thế giới mà vấn đề quan trọng làcải tạo thế giới Bất cứ một học thuyết triết học nào cũng không trực tiếp làmthay đổi thế giới, mà thông qua tri thức về thế giới, con người hình thành mụcđích, phương hướng, biện pháp, … chỉ đạo hoạt động của mình tác động vào thếgiới Bất cứ một học thuyết triết học nào cũng phải giải thích thế giới, song đểthực hiện được vai trò cải tạo thế giới, học thuyết phải phản ánh đúng thếgiới, phải định hướng hoạt động cho con người phù hợp với quy luật, phải đượcquần chúng nhân dân tin và hành động theo Nội dung và bản chất củaCNDVBC đáp ứng được những yêu cầu này Sức mạnh cải tạo thế giới củaCNDVBC thể hiện ở mối quan hệ mật thiết với hoạt động thực tiễn của quầnchúng nhân dân, với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên mọi lĩnh vực
- Lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp vơ sản và nhân dân lao động thế giới cĩ thếgiới quan khoa học của riêng mình Triết học Mác đã trở thành vũ khí lý luận của giai cấp vơsản và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.CNDVBC ra đời đã được giai cấp vô sản tiếp nhận như một công cụ định hướngcho hành động, như vũ khí lý luận trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình vàgiải phóng toàn thể nhân loại Công cụ định hướng này, vũ khí lý luận này đãtạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào công nhân từ trình độ tựphát lên trình độ tự giác
- Tính đảng và tính giai cấp của chủ nghĩa duy vật mácxit khơng mâu thuẫn vớitính khoa học của nĩ Sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học của chủ nghĩa duy vật
Trang 39mácxit cĩ cơ sở là sự thống nhất giữa lợi ích của giai cấp vơ sản với quy luật khách quan củatiến trình lịch sử.
1 Các nguyên tắc phương pháp luận:
Nếu chỉ có thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất, vậtchất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức có thể tácđộng trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người thì nguyên tắcphương pháp luận được rút ra để định hướng cho hoạt động của con người là:
trong hoạt động thực tiễn và nhận thức, con người phải tôn trọng khách quan đồng thời phải phát huy tính năng động chủ quan của mình.
a) Nguyên tắc tính khách quan của sự xem xét:
TGQ DVBC là cơ sở lý luận của nguyên tắc tính khách quan của sựxem xét (quan điểm khách quan)
- Nguyên tắc này địi hỏi trong quá trình nhận thức sự vật phải xuất phát từ chínhbản thân sự vật, xem xét sự vật đúng như nĩ tồn tại trong thực tế, nghĩa là xuất phát từthực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hành động củamình
- Cải tạo sự vật phải xuất phát từ quy luật khách quan của sự tồn tại và phát triểncủa sự vật
- Khơng được lấy, tình cảm, ý chí chủ quan làm điểm xuất phát trong việc xemxét và cải tạo sự vật Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không đượcxuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhucầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể.Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng, phải tổ chức được lực lượngvật chất để thực hiện nó
- Phải tơn trọng và hành động theo quy luật khách quan
Đĩ cũng là bài học quan trọng mà Đại hội VI của Đảng đã rút ra và được khẳng
định lại trong Văn kiện Đại hội VII: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phái xuất phát từ thực tế, tơn trọng quy luật khách quan” (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội)
b) Phát huy tính năng động chủ quan, chống chủ nghĩa duy ý chí:
- Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động,sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chấthoá những tính chất ấy Phát huy tính năng động sáng tạo của mỗi cá nhân cũng như tồn
Trang 40xã hội trong việc nhận thức và hành động Phát huy tính năng động chủ quan thể hiện rấtphong phú, đa dạng, trong đó một số biểu hiện cơ bản của nó là:
* Phải tôn trọng tri thức khoa học:
Tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới, được khái quát từthực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm Tri thức khoa học giữ vị trí đặc biệtquan trọng trong cuộc sống của con người vì nó là một trong những động lựcphát triển của xã hội Mọi bước tiến trong lịch sử nhân loại đều gắn liền vớinhững thành tựu mới của tri thức khoa học
Tri thức khoa học thể hiện trong các khoa học khác nhau phản ánh nhữnglĩnh vực khác nhau của thế giưói, song bản thân các lĩnh vực khác nhau nàykhông tồn tại cô lập, tách rời nhau nên tri thức khoa học phản ánh chúng cũngkhông cô lập, tách rời nhau Vì vậy, tôn trọng tri thức khoa học không chỉ làchống sự tuyệt đối hoá vai trò của kinh nghiệm, xem thường khoa học mà còn làkhông tuyệt đối hoá một loại khoa học nào trong hệ thống các khoa học Đây làtiền đề giúp con người không chỉ hoạt động có hiệu quả trong ngành nghềcuủa mình mà còn giúp con người thực hiện hoạt động ấy theo những giá trịnhân văn của xã hội
* Phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành động.
Từ tôn trọng tri thức khoa học đến làm chủ được tri thức khoa học làmột quá trình Việc vươn lên làm chủ tri thức khoa học không chỉ liên quan đếnquan niệm của con người về khoa học mà còn liên quan đến năng lực, nghị lực,quyết tâm của con người và những điều kiện vật chất để thực hiện nó Mặtkhác, sức mạnh và hiệu quả của tri thức khoa học phụ thuộc vào mức độ thâmnhập của nó vào quần chúng, nên sự thâm nhập này trở thành một trongnhững điều kiện trực tiếp để phát huy vai trò nhân tố con người trong hoạt độngvật chất hoá tri thức
Vươn lên làm chủ tri thức khoa học, truyền bá tri thức khoa học là hoạtđộng vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội và liên quan đến tất cả cáclĩnh vực của đời sống
- Song song với việc phát huy tính năng động chủ quan cần chống thái độ thụđộng, ỉ lại, bảo thủ, trì trệ, và kiên quyết khắc phục, ngăn ngừa căn bệnh chủ quan, duy ý chí
2 Vận dụng vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm sau khi thống nhất đất nước, bên
cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta nôn nóng, tách rời hiện thực, viphạm nhiều quy luật khách quan trong đó quan trọng nhất là quy luật về sự phùhợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nênđã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu, xác định các bước xâydựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế