1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thiết kế hệ thống đo lường hiệu quả và ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng: Vai trò của đo lường hiệu quả

29 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 182,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Accounting, Organizations and Society 37 2012 445-460Contents lists available at SciVerse ScienceDirect Accounting, Organizations and Society journal homepage: www.elsevier.com/locate/ao

Trang 1

Accounting, Organizations and Society 37 (2012) 445-460

Contents lists available at SciVerse ScienceDirect

Accounting, Organizations and Society

journal homepage: www.elsevier.com/locate/aos

Thiết kế hệ thống đo lường hiệu quả và ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng: Vai trò của đo lường hiệu quả

Martin Artz a* , Christian Homburg a,b, Thomas Rajab c

a Đại học Mannheim, 68131 Mannheim, Đức

b Đại học Melbourne, Victoria 3010, Australia

c Tập đoàn tư vấn Boston, 60325 Frankfurt am Main, Đức

TÓM TẮT

Mặc dù khái niệm nghiên cứu trong tài liệu kế toán cho rằng việc sử dụng các hệ thống đo lườnghiệu quả ảnh hưởng đến các tác nhân trong tổ chức, bằng chứng thực nghiệm cho đề xuất này lạichỉ giới hạn ở các bằng chứng không đáng tin cậy và một vài nghiên cứu định tính Dựa trên lýthuyết thể chế, chúng tôi đưa ra các dự đoán để liên kết việc sử dụng hệ thống đo lường với ảnhhưởng chức năng của các tiểu đơn vị trong việc ra quyết định chiến lược Mô hình nghiên cứucủa chúng tôi kiểm tra tác động của hai loại đo lường hiệu quả ảnh hưởng đến quyết định chiếnlược chức năng: (1) sử dụng cho tạo thuận lợi quyết định và (2) sử dụng cho trách nhiệm kế toán.Hơn nữa, chúng tôi đề xuất rằng những ảnh hưởng của sử dụng đo lường hiệu quả cho hai mụcđích trên phụ thuộc vào độ tin cậy và tính đặc hiệu chức năng của các đo lường tiểu đơn vị chứcnăng Chúng tôi thực nghiệm giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu bằng dữ liệu khảo sát 192 giámđốc tiếp thị của các công ty Đức Chúng tôi nhận thấy rằng hiệu quả của đo lường hiệu quả sửdụng trong quyết định ảnh hưởng chiến lược chức năng phụ thuộc vào hai tính chất của đo lườnghiệu quả Chúng tôi không tìm thấy tác động nếu không xem xét các tính chất trên Tuy nhiên, sửdụng tạo thuận lợi cho quyết định của đo lường hiệu quả cũng có tác động tích cực đến quyếtđịnh ảnh hưởng chiến luợc chức năng khi đo lường cụ thể tiểu đơn vị chức năng Đối với việc sửdụng đo lường hiệu quả cho trách nhiệm kế toán chúng tôi tìm ra các ảnh hưởng ngược lại, tácđộng đến quyết định ảnh hưởng chiến lược chức năng là tích cực khi đo lường đáng tin cậy hơnnhưng lại là tiêu cực khi chúng tác động cụ thể hơn đến tiểu đơn vị chức năng Chúng tôi thảoluận những phát hiện này bằng các bằng chứng và lý thuyết hiện có

© 2012 Elsevier Ltd Mọi quyền được bảo lưu

_

Tác giả Tel.: +49 621 181 1553.

Địa chỉ E-mail: martz@bwl.uni-mannheim.de (M Artz).

0361-3682/$ - xem phần trước © 2012 Elsevier Ltd

Mọi quyền được bảo lưu http://dx.doi.org/10.1016Zj.aos.2012.07.001

Trang 2

Giới thiệu

Nghiên cứu trong kế toán quản trị cho thấy mối liên hệ quan trọng giữa việc sử dụng, thiết kế hệthống kế toán và ra quyết định chiến lược trong các tổ chức (Abernethy & Vagnoni, 2004;Chenhall & Langfield- Smith, 1998; Lillis & van Veen-Dirks, 2008; Luft & Shields, 2003) Cụthể, một hướng nghiên cứu chính khám phá cách thức sử dụng thông tin kế toán liên quan tácđộng của các nhà tổ chức đối với các ưu tiên chiến lược của tổ chức Nghiên cứu khái niệm đãnghiên cứu vấn đề một cách sâu rộng, ví dụ, ảnh hưởng đến việc ra quyết định chiến lược bắtnguồn từ việc sử dụng thông tin kế toán cho phép thích ứng với các sự kiện không kiểm soátđược (Bariff & Galbraith, 1978; Saunders, 1981) Các nghiên cứu khác khẳng định rằng các cấutrúc quyền lực phụ thuộc vào thông tin kế toán để đưa ra tính hợp pháp trong các quyết định vàhành động, định hình thái độ và niềm tin về tính hợp lý của chúng (Ansari & Euske, 1987;Markus & Pfeffer, 1983) Tuy nhiên, đáng ngạc nhiên là chỉ có những nghiên cứu thực nghiệmhạn chế đã theo dõi khái niệm và các cuộc điều tra còn tồn tại chủ yếu dựa vào các bằng chứngkhông đáng tin và một số nghiên cứu tình huống định tính (Abernethy & Chua, 1996; Markus &Pfeffer, 1983; Wickramasinghe, 2006)

Cụ thể, nghiên cứu trước đây không để cập hai vấn đề quan trọng Thứ nhất, sự mơ hồ vẫn tồntại, nếu có, giữa sử dụng hệ thống kế toán và sự phân phối của quyết định ảnh hưởng chiến lượctrong các tổ chức (Abernethy & Vagnoni, 2004) Thứ hai, cả điều tra khái niệm và thực nghiệmđều bỏ qua vai trò của các đặc điểm thông tin cho các liên kết được đề cập Vì những đặc điểmthông tin ảnh hưởng đến cả chất lượng ra quyết định (Ittner & Larcker, 2001) và quyết định củangười đánh giá về hiệu quả hoạt động (Lipe & Salterio, 2000), một câu hỏi quan trọng là liệuviệc sử dụng thông tin kế toán tác động đến cấu trúc ảnh hưởng hay không phụ thuộc vào cácthuộc tính thông tin cụ thể

Chúng tôi nghiên cứu những vấn đề này trong bối cảnh phân phối quyền lực giữa các tiểu đơn vịchức năng trong các tổ chức định hướng lợi nhuận, chẳng hạn như tiếp thị, vận hành, hoặc cácchức năng nghiên cứu và phát triển Các chức năng này thể hiện vai trò trung tâm trong tổ chức

và chúng thường tìm kiếm quan tâm đến các lĩnh vực quyết định chiến lược quan trọng (Bariff &Galbraith, 1978; Ortega, 2003), với sự cạnh tranh chức năng về ảnh hưởng chiến lược như là độiquản lý hàng đầu, bao gồm cả các nhà hoạch định chính sách cấp cao (Fligstein, 1987; Jensen &Zajac, 2004) Cơ cấu tổ chức đội ngũ quản lý hàng đầu đạt được phổ biến nhất đòi hỏi sự phâncông về chức năng giữa các giám đốc cấp cao nhất đại diện cho từng chức năng, như Phó Giámđốc (VP) Tiếp thị, Phó Giám đốc vận hành, hoặc Phó Giám đốc Tài chính (Carpenter, 2011;Henri, 2006) Trong cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng chiến lược, người đứng đầu mỗi chức năng

cố gắng thu thập sự ủng hộ cho các sáng kiến chiến lược của họ từ những người cùng chức năng

và từ Giám đốc điều hành (CEO), người đứng đầu ban quản lý (Hambrick & Mason, 1984).Kết cấu đầu mối trong nghiên cứu của chúng tôi là ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng,

đề cập đến mức độ mà một tiểu đơn vị chức năng, đại diện ở cấp cao nhất bởi Phó Giám đốcchức năng có ảnh hưởng đến các ưu tiên chiến lược của tổ chức và việc sử dụng các nguồn chiếnlược (Abernethy & Vagnoni, 2004, trang 216) Các tiểu đơn vị chức năng đại diện cho các đơn vị

tổ chức quan trọng thường theo đuổi các lợi ích đối lập trong các lĩnh vực chiến lược quan trọng(Ortega, 2003) và câu hỏi là một chức năng cụ thể có thể ảnh hưởng như thế nào đến quyết địnhchiến lược có ý nghĩa quan trọng đối với quỹ đạo chiến lược của tổ chức và cách đối phó vớinhững thách thức trên thị trường Ví dụ, chức năng nghiên cứu và phát triển có thể tập trung choviệc nhấn mạnh chiến lược về sự tinh tế và chất lượng sản phẩm, trong khi chức năng vận hành

có thể ủng hộ việc tập trung vào chi phí sản xuất và tính hiệu quả

Trang 3

Dựa trên lý thuyết thể chế làm nền tảng lý thuyết, chúng tôi đề xuất rằng việc sử dụng các đolường hiệu quả cho các mục đích khác nhau và với các tính chất khác nhau trong một chức năngnhất định có thể ảnh hưởng đến VP đối với việc ra quyết định ở cấp cao nhất Cụ thể, chúng tôixem xét hai loại sử dụng đo lường hiệu quả Thứ nhất, tài liệu trước đây đã xác định được nhucầu về thông tin kế toán quản lý (Demski, 2008; Demski & Feltham, 1976), đề cập đến nhu cầuthông tin kế toán cho việc lập kế hoạch và ra quyết định Thứ hai, các nhà điều tra đã tìm ra cảbằng chứng phân tích và thực nghiệm cho nhu cầu về trách nhiệm kế toán, đề cập đến nhu cầuthông tin kế toán để làm tài liệu và đóng góp vào giá trị tổ chức (Birnberg, Hoffman, & Yuen,2008; Evans, Heiman-Hoffman, Rau, 1994) Nghiên cứu của chúng tôi điều tra cách sử dụng các

đo lường hiệu quả để tạo điều kiện thuận lợi và trách nhiệm kế toán trong một tiểu đơn vị chứcnăng cụ thể ảnh hưởng đến quyết định ảnh hưởng chiến lược của tiểu ban chức năng Hơn nữa,chúng tôi nghiên cứu xem làm thế nào tính chất đo lường hiệu quả ảnh hưởng đến mối liên quangiữa việc sử dụng đo lường hiệu quả và quyết định ảnh hưởng chiến lược Chúng tôi phân tíchhai tính chất có vẻ có liên quan đặc biệt trong một ngữ cảnh chức năng: đo lường hiệu quả độ tincậy và tính đặc hiệu chức năng

Chúng tôi tiến hành thực nghiệm dự đoán của chúng tôi bằng cách sử dụng một mẫu là ngànhcông nghiệp đa ngành gồm 192 giám đốc tiếp thị của các công ty Đức Kết quả hỗ trợ cho kỳvọng của chúng tôi rằng các tác động có chủ ý phụ thuộc vào tính chất của các phép đo hiệu quảcác chức năng sử dụng Mặc dù ước tính mô hình cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể màkhông tính đến các tác động tương tác, chúng tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy hiệu quả của việc

sử dụng tạo thuận lợi của đo lường hiệu quả cho quyết định ảnh hưởng chiến lược chức năng làtích cực và có ý nghĩa đối với mức độ cao cho các đặc hiệu chức năng Đối với việc sử dụng các

đo lường hiệu quả cho trách nhiệm kế toán, chúng tôi thấy rằng hiệu quả là tích cực đáng kể cho

độ tin cậy cao và tiêu cực cho mức độ đặc hiệu chức năng cao

Nghiên cứu của chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu thực nghiệm còn lại về mối quan hệ giữathiết kế hệ thống đo lường hiệu quả và cấu trúc quyền lực trong các tổ chức Chúng tôi thấy rằngcác tính chất đo hiệu quả đóng một vai trò quan trọng mà các nghiên cứu trước đây đã bỏ qua.Hơn nữa, lý thuyết và thực nghiệm cung cấp nhu cầu trách nhiệm kế toán đối với thông tin kếtoán (Birnberg & Zhang, 2010; Birnberg và cộng sự, 2008 Evans et al., 1994) nghiên cứu củachúng tôi cung cấp bằng chứng về sự quan trọng của nhu cầu trách nhiệm kế toán đối với các cấutrúc quyền lực chức năng, do đó mở rộng dòng nghiên cứu thực nghiệm mới thành một sự kiểmtra trong bối cảnh tổ chức Cuối cùng, nghiên cứu của chúng tôi mở rộng đáng kể cơ sở thựcnghiệm của nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực này bằng cách dựa vào một mẫu lớn của cáccông ty kinh doanh trong một số ngành công nghiệp

Cơ sở lý thuyết và giả thuyết

Mô hình nghiên cứu của chúng tôi, được trình bày trong hình 1, giả thiết rằng các chức năng phụthuộc nhiều hơn vào việc sử dụng đo lường hiệu quả sẽ có ảnh hưởng lớn hơn trong việc đưa raquyết định chiến lược bởi vì chúng phù hợp với những mong đợi trong tổ chức (DiMaggio &Powell, 1983; Meyer & Rowan, 1977) và thuận lợi trong việc định hình nhận thức các giám đốcđiều hành hàng đầu khác (Ansari & Euske, 1987, Markus & Pfeffer, 1983) Chúng tôi dự đoánrằng việc sử dụng đo lường hiệu quả để tạo điều kiện thuận lợi và trách nhiệm kế toán một cáchtích cực ảnh hưởng đến quyết định chiến lược 1 Ngoài ra, chúng tôi giả thuyết rằng độ mạnh củanhững ảnh hưởng này phụ thuộc vào hai tính chất của các phép đo lường có vẻ liên quan đặc biệttrong một ngữ cảnh chức năng Độ tin cậy của các đo lường hiệu quả đề cập đến mức độ nhiễutrong các chỉ số hoạt động (Banker & Datar, 1989; Merchant & Van der Stede, 2012) hoặc "chất

Trang 4

lượng thông tin đảm bảo rằng thông tin không có lỗi và độ lệch cho nhhững gì nó nhằm mục đíchđại diện '' (Christensen & Demski, 2003, trang 427) 2

Hình 1 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết np = không dự đoán; RQ = câu hỏi nghiên cứu Cácmũi tên nghiêng biểu thị các mối quan hệ của các biến kiểm soát mà không có giả thuyết rõ ràngnào được đưa ra

Chúng tôi giả thuyết rằng sự liên quan giữa việc sử dụng phép đo lường và ảnh hưởng quyết địnhchiến lược chức năng tăng lên với độ tin cậy cao hơn của các phép đo lường Tính đặc hiệu chứcnăng của các đo lường đề cập đến mức độ đo lường duy nhất cho một chức năng cụ thể (Arya,Glover, Mittendorf, & Ye, 2005; Chenhall & Langfield-Smith, 2007) Trái ngược với các chỉ sốchung về hiệu quả tài chính, các chức năng kinh doanh có thể dựa vào các chỉ số mang tínhkhách quan, như thời gian dẫn đầu và doanh thu hàng tồn kho trong quản lý sản xuất (van Veen-Dirks, 2010) hoặc sự hài lòng của khách hàng và chỉ số chất lượng trong tiếp thị (Arya et al.,

2005 ) Chúng tôi phát triển giả thuyết rằng sự liên quan giữa việc đo lường hiệu quả cho tráchnhiệm kế toán và ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng sẽ giảm khi các biện pháp cụ thểhơn đối với chức năng Đối với việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các đo lường hiệuquả, lý thuyết cơ bản không có lý do rõ ràng để dự đoán tác động của tính đặc hiệu chức năng

Do đó, chúng ta đặt ra một câu hỏi nghiên cứu (RQ) xem liệu sự liên quan giữa việc sử dụng đolường hiệu quả để tạo thuận lợi cho quyết định và ảnh hưởng đến quyết định chiến lược chứcnăng sẽ tăng hoặc giảm với tính cụ thể hơn của các đo lường hiệu quả Hơn nữa, mô hình củachúng tôi kiểm soát cho một tập hợp lớn các biến số, bao gồm cả hiệu quả chức năng

Biến kiểm soát

 Quy mô công ty (np)

 Ngành nghề (np)

 Thị trường không chắc chắn (+)

 Chiến lược tập trung dị biệt (+)

 Chiến lược tập trung lãnh đạo (-)

 Hiệu quả chức năng (+)

 Chức năng tự tham gia thiết kế hệ thống đo lường hiệu quả (np)

 Quyết định ảnh hưởng bởi sử dụng đo lường hiệu quả (np)

 Bối cảnh chức năng của CEO (+)

 Kinh nghiệm chuyên môn VP Marketing (+)

Ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng

Sử dụng đo lường hiệu quả

 Tạo thuận lợi (H 1a+ )

 Trách nhiệm kế toán (H 1b+ )

Tính chất đo lường hiệu quả

 Độ tin cậy (H 2a+; H 2b+ )

 Tính đặc hiệu chức năng (H 3- ; RQ)

Trang 5

Từ các nghiên cứu trước, chúng tôi xác định ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng như làảnh hưởng của một tiểu đơn vị chức năng về các ưu tiên chiến lược và sử dụng các nguồn lựcchiến lược của tổ chức (Abernethy & Vagnoni, 2004, Homburg, Workman, & Krohmer, 1999).Trong mô hình nghiên cứu của chúng tôi, việc xây dựng này xem xét ảnh hưởng của các tiểu đơn

vị chức năng trên tám lĩnh vực chiến lược quyết định, chẳng hạn như định hướng chiến lược củacông ty, phát triển sản phẩm mới, chi tiêu vốn lớn, hoặc lựa chọn các đối tác chiến lược kinhdoanh Nghiên cứu trước đây thường tập trung vào các yếu tố về tổ chức và môi trường nhưnhững tiền đề của ảnh hưởng quyết định chiến lược Ví dụ, các nghiên cứu cho thấy trọng tâmchiến lược của tập đoàn và thành phần của ban giám đốc, cũng như môi trường không chắc chắncủa thị trường, ảnh hưởng đến trọng số chức năng trong việc ra quyết định chiến lược (Homburg

và cộng sự, 1999; Verhoef & Leeflang, 2009)

Trong tài liệu kế toán quản lý, chúng ta chỉ biết có một cuộc điều tra đã kiểm tra cách sử dụngcác hệ thống kế toán ảnh hưởng đến quyết định chiến lược của các nhà tổ chức (Abernethy &Vagnoni, 2004) Nghiên cứu điều tra sự liên quan giữa việc sử dụng các hệ thống kế toán và ảnhhưởng quyết định chiến lược của các bác sĩ trong các tổ chức chăm sóc sức khoẻ, nhưng không

có liên kết đáng kể Sự vắng mặt của các mối liên quan là điều đáng ngạc nhiên, bởi vì cácnghiên cứu công nhận rộng rãi rằng việc sử dụng các hệ thống kế toán và các cấu trúc ảnh hưởngtrong các tổ chức được gắn bó chặt chẽ (Covaleski & Dirsmith, 1986, Kurunmaki, 1999; Markus

& Pfeffer, 1983) Trong bối cảnh này, nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích góp phần vào sựhiểu biết về mối liên hệ giữa việc sử dụng thông tin kế toán và các cấu trúc ảnh hưởng trong các

tổ chức Sau đây, chúng tôi phát triển các giả thuyết cho các liên kết có ý nghĩa trong mô hìnhnghiên cứu của chúng tôi và cho các tác động của các biến tương tác

Giả thuyết phát triển cho các hiệu ứng chính

Lý thuyết thể chế mang lại một nền tảng lý thuyết khả thi để chứng minh các mệnh đề nghiêncứu của chúng tôi Mặc dù có nguồn gốc từ việc phân tích mối liên hệ giữa các mối quan hệ,luồng nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở lý thuyết cho việc kiểm tra một loạt các hiện tượng giữacác cá nhân và trong nội bộ tổ chức (Davis & Marquis, 2005, Scott, 2005) và nó thường được coi

là một khung lý thuyết cho các nghiên cứu thực nghiệm trong tài liệu kế toán (Abernethy &Chua, 1996; Brignall & Modell, 2000) Lý thuyết này cho rằng các áp lực quy chuẩn do các cửtri bên trong và bên ngoài gây ra ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của tổ chức (DiMaggio &Powell, 1983; Zucker, 1987) Những áp lực này đòi hỏi phải có các quy trình, theo đó các quytắc, quy định và thói quen nhất định được thiết lập và chấp nhận, tạo thành môi trường thể chếcho tư tưởng và hành động của những người tham gia tổ chức (Scott, 2001) Lý thuyết thể chếliên kết quan điểm chủ đạo này với việc phân phối nội bộ quyền lực thông qua khái niệm về tínhhợp pháp của tổ chức, đó là "nhận thức hoặc giả định tổng quát rằng hành động của một thực thể

là mong muốn, thích hợp hoặc phù hợp trong một hệ thống định mức, giá trị và niềm tin ", cungcấp "một lực lượng quy chuẩn có ý nghĩa và nhận thức có thể trao quyền hoặc hạn chế các tácnhân tổ chức" (Suchman, 1995, trang 574) Trong khuôn khổ thể chế, tính chính đáng bắt nguồn

từ việc tuân thủ với các kỳ vọng về quy chuẩn của môi trường thể chế (Meyer & Rowan, 1977).Ngược lại, các tổ chức có thể đạt được tính hợp pháp sẽ dễ dàng thu thập sự ủng hộ từ các cử trinội bộ và ảnh hưởng đến quyết định quản lý của họ (Pfeffer, 1981)

Nghiên cứu của chúng tôi giả định rằng môi trường thể chế trong một tổ chức định hướng lợinhuận thể hiện nhu cầu về quy tắc đặc biệt mạnh mẽ về thực hành quản lý hợp lý và hiệu quả(Miller, 1994) Giả định này có vẻ đặc biệt phù hợp với các vòng ra quyết định hàng đầu, vì cácnhà điều hành cấp trên cần phải có những nguyên tắc quản lý hiệu quả và hợp lý khi họ được dạy

Trang 6

trong quá trình học hành và sự nghiệp chuyên môn Do đó, chúng ta mong muốn môi trường thểchế của các nhà điều hành quản lý hàng đầu thể hiện một kỳ vọng quy mô đáng kể cho các quytrình ra quyết định hợp lý và dễ hiểu Hơn nữa, các nghiên cứu trước đây đã cung cấp cả bằngchứng phân tích và thực nghiệm cho thấy một kỳ vọng được thể chế hóa đối với trách nhiệm kếtoán (Birnberg và cộng sự, 2008, Evans và cộng sự, 1994) Vì bất kỳ tiểu đơn vị chức năng đềutiêu hao tài nguyên của tổ chức, cần phải tính đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực này vàthiết lập sự đóng góp của nó vào sự thành công của tổ chức (Pfeffer, 1981).

Chúng tôi cho rằng càng nhiều chức năng sử dụng đo lường hiệu quả để ra quyết định và tráchnhiệm kế toán, chúng càng nhiều phù hợp với những mong đợi thể chế hóa này, và do đó gây raảnh hưởng quyết định chiến lược lớn hơn trong tổ chức Đo lường hiệu quả có thể đóng một vaitrò quan trọng trong việc đánh giá những phẩm chất quản lý có hiệu quả và hợp lý (Ansari &Euske, 1987) Hơn nữa, một bộ sưu tập lý thuyết phong phú làm nổi bật khả năng hoạt động nhưmột "cơ quan hợp pháp" (Richardson, 1987, trang 341, Wolk, Francis, và Tearney, 1999) vànâng cao tính hợp pháp của các hoạt động cá nhân hoặc nhóm (Markus & Pfeffer , 1983, Moll,Burns, & Major, 2006) Ngoài ra, thông tin kế toán thường được cho là phản ánh thông tin có thểkiểm chứng (Snavely, 1967) và "thể hiện ý thức hệ của việc ra quyết định hợp lý" (Markus &Pfeffer, 1983, trang 207) Vì vậy, các VP chức năng có lợi từ tính hợp pháp do các phương pháp

đo lường hiệu quả chức năng có thể ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược mạnh mẽ hơn.Một cuộc tranh luận liên quan trực tiếp với các nhà điều tra là thiết kế hệ thống đo lường hiệuquả ảnh hưởng đến nhận thức hình ảnh của các tác nhân tổ chức khác Chẳng hạn, Markus vàPfeffer (1983, trang 207) nói rằng "các hệ thống kế toán và kiểm soát là các biểu tượng, cho thấyhình ảnh của các tổ chức mà chúng tồn tại." Một chức năng theo các mô hình thực hành và quytrình phù hợp để ra quyết định, chẳng hạn như dựa vào các phép đo lường, sẽ cho ra một hìnhảnh tốt hơn Hơn nữa, việc sử dụng các phép đo lường cho trách nhiệm kế toán có thể thuyếtphục các nguồn hỗ trợ tiềm năng mà các nhiệm vụ cụ thể và thành quả đạt được là đáng kể vàquan trọng, góp phần tạo ra những nhận thức hình ảnh thuận lợi (Pfeffer, 1981)

Để tóm tắt các phân tích trên, lý thuyết cho thấy rằng VPs ủng hộ các chức năng của họ có thể có

ít khó khăn hơn trong việc thúc đẩy các sáng kiến chiến lược ở cấp quản lý cao nhất khi các chứcnăng của họ phụ thuộc nhiều hơn vào việc đo lường hiệu quả Do đó, giả thuyết đầu tiên củachúng tôi nêu rõ mối liên hệ tích cực giữa việc sử dụng các đo lường hiệu quả để ra quyết định

và trách nhiệm kế toán và ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng:

H1a Có mối liên hệ tích cực tồn tại giữa việc ra quyết định tạo thuận lợi cho việc sử dụng các đolường hiệu quả và ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng

H1b Có mối liên hệ tích cực tồn tại giữa việc sử dụng các đo lường hiệu quả cho trách nhiệm kếtoán và ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng

Đáng chú ý, khi thiết kế các hệ thống đo lường hiệu quả, các nhà quản lý chức năng có thể khôngnhất thiết có ý định ảnh hưởng đến nhận thức hình ảnh về chức năng của họ Một số nhà quản lý

có thể dựa vào phép đo hiệu quả để chứng minh cho các đồng nghiệp quản lý hàng đầu của họrằng chức năng này được vận hành tốt và được quản lý hợp lý Những người khác có thể làm nhưvậy vì họ đang quan tâm đến hiệu quả chức năng của họ và xem các đo lường hiệu quả như làmột công cụ quản lý hiệu quả Hơn nữa, mặc dù các nghiên cứu cho thấy hầu hết các chức năngđều tham gia thiết kế hệ thống đo lường hiệu quả của họ (Gerdin, 2005, Wouters & Wilderom,2008), các chủ thể khác như bộ phận IT hay văn phòng của bộ điều khiển thường tham gia vàoquá trình phát triển, kiểm soát chức năng vượt quá việc thiết kế và sử dụng hệ thống đo lường

Trang 7

hiệu quả của chúng có thể bị hạn chế Như mô tả dưới đây, mô hình của chúng tôi kiểm soát cho

cả hiệu quả chức năng và mức độ tự thực hiện chức năng trong việc thiết kế hệ thống đo lườnghiệu quả của chúng Cách tiếp cận này cho phép chúng ta đánh giá liệu việc sử dụng hiệu quả đolường có ảnh hưởng đến quyết định chiến lược vượt quá ảnh hưởng đến hiệu quả chức năng vàtính đến việc các chức năng kiểm soát sự phát triển của hệ thống đo lường hiệu quả khác nhaugiữa các doanh nghiệp

Phát triển giả thuyết cho các hiệu ứng tương tác

Một trong những câu hỏi nghiên cứu chính trong nghiên cứu của chúng tôi là liệu việc sử dụng

đo lường hiệu quả có ảnh hưởng đến quyết định chiến lược chức năng hay không hoặc liệu cácbiện pháp đó phải có các đặc tính cụ thể để tạo ra những tác động có chủ ý Trong các nghiêncứu kế toán thực nghiệm, việc xem xét các thuộc tính thông tin có thể cho thấy các mô hình thú

vị trong dữ liệu mà một phân tích về mức trung bình mẫu sẽ không thể phát hiện được (Merchant

& Van der Stede, 2012; Moers, 2006) Hơn nữa, từ quan điểm phương pháp luận, các mô hìnhkinh nghiệm có thể không được xác định cụ thể mà không tính đến đặc tính đo hiệu quả (Itt-ner

& Larcker, 2001) Mô hình của chúng tôi xem xét hai tính chất có vẻ có liên quan đặc biệt trongngữ cảnh các tiểu đơn vị chức năng: độ tin cậy và tính đặc hiệu chức năng

Tính năng đo lường hiệu quả: độ tin cậy

Bởi vì các biện pháp không chính xác sẽ đánh mất nhiều giá trị thông tin, độ tin cậy là một chấtlượng quan trọng cho các đo lường hiệu quả (Merchant & Van der Stede, 2012) Do đó, chúngtôi mong muốn tính năng này ảnh hưởng đến hiệu quả của việc sử dụng các đo lường hiệu quảcho cả việc tạo thuận lợi và trách nhiệm kế toán Việc tạo thuận lợi cho việc ra quyết định xemcác đo lường hiệu quả là một đầu vào quan trọng cho các phán đoán và quyết định về kinh tế(Demski, 2008) và giảm sự không chắc chắn trước khi quyết định (Christensen & Demski,2003) Ví dụ: sử dụng dữ liệu chi phí sản phẩm có thể giúp nhà quản lý đảm bảo các quyết địnhgiá cả và nhấn mạnh sản phẩm phù hợp và phân tích các chênh lệch chi phí chuẩn có thể giúpxác định các nguồn sai lệch so với hiệu quả dự kiến Áp dụng các đo lường hiệu quả nhằm tạođiều kiện cho việc thống nhất khung quyết định, và nó hỗ trợ việc minh hoạ các lựa chọn thaythế quyết định và những hiệu quả mong đợi Dựa trên các biện pháp chính xác hơn để ra quyếtđịnh cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về mối quan hệ nguyên nhân- kết quả (Emsley, 2000) và chophép các nhà quản lý có thể đưa ra những quyết định sáng suốt hơn (van Veen-Dirks, 2010) Do

đó, vì việc sử dụng các biện pháp có độ tin cậy cao hơn có thể đóng góp tích cực hơn vào tínhhợp pháp và hình ảnh thuận lợi của chức năng, chúng tôi hy vọng việc sử dụng các biện phápđáng tin cậy hơn để có ảnh hưởng tích cực hơn đến ảnh hưởng quyết định chiến lược

Một lý do tương tự dường như sẽ áp dụng cho việc sử dụng các đo lường hiệu quả cho tráchnhiệm kế toán Trong trường hợp này, các đo lường hiệu quả nhằm mục đích phân bổ chi tiêungân sách khác nhau cũng như hiệu quả chức năng và đóng góp giá trị Các nhà điều tra cho rằngcác biện pháp được áp dụng cho trách nhiệm kế toán là không thể tranh cãi và nên để nhữngngười đánh giá khác có ít lý do để không đồng ý với các cách giải thích (Evans và cộng sự, 1994.Ijiri, 1975) Về mặt này, độ tin cậy, hoặc không có nhiễu và độ lệch, là một chất lượng thiết yếu,bởi vì các biện pháp đáng tin cậy ít có khả năng cạnh tranh hơn và được hưởng lợi từ sự tin cậycao hơn khi trình bày cho các nhà đánh giá bên ngoài (Malina & Selto, 2001) Bằng chứng từmột nghiên cứu thực tế theo chiều dọc gần đây trong bối cảnh thay đổi tổ chức đã hỗ trợ cho lậpluận này, cho thấy độ tin cậy là một tài sản quan trọng của thông tin kế toán bởi vì nó làm cho

Trang 8

thông tin này trở nên "cứng hơn" và do đó thuyết phục hơn khi trình bày cho các bên liên quanđến tổ chức (Rowe , Shields, & Birnberg, 2012).

Từ những lập luận này, chúng tôi rút ra giả thuyết thứ hai trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ rarằng sử dụng các đo lường hiệu quả đáng tin cậy sẽ tăng cường hiệu quả của cả việc sử dụng đểtạo điều kiện thuận lợi và sử dụng cho trách nhiệm kế toán ảnh hưởng đến quyết định chiến lược

H2a Sự liên quan giữa việc sử dụng các đo lường hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi và ảnh hưởng

quyết định chiến lược có tính chức năng tăng lên với độ tin cậy cao hơn của các đo lường hiệuquả

H2b Sự liên quan giữa việc sử dụng các đo lường hiệu quả cho trách nhiệm kế toán và ảnh

hưởng quyết định chiến lược có tính chức năng tăng lên với độ tin cậy cao hơn của các đo lườnghiệu quả

Tính năng đo lường hiệu quả: tính đặc hiệu chức năng

Đánh giá tác động của tính đặc hiệu chức năng là phức tạp hơn, đặc biệt khi các nghiên cứutrước đây chỉ ra rằng phép đo hiệu năng cụ thể có thể có kết quả tích cực hoặc tiêu cực Đối vớiviệc sử dụng đo lường hiệu quả cho trách nhiệm kế toán, chúng tôi hy vọng rằng tính cụ thể chứcnăng của các đo lường hiệu quả làm suy yếu tiềm năng tích cực có hiệu lực ảnh hưởng đến quyếtđịnh chiến lược Các đo lường hiệu quả chuyên sâu có xu hướng tập trung vào các hoạt độngchức năng mà không có liên kết rõ ràng với công ty như một toàn thể và do đó ít có khả năngtương thích với các mục tiêu tổ chức (Datar, Kulp, & Lambert, 2001; Feltham & Xie, 1994).Ngoài ra, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các đo lường chung cho đánh giá thông tinhiệu quả của các tiểu đơn vị thống trị, trong khi đo lường duy nhất đối với các tiểu đơn vị đặcbiệt bị hạn chế hoặc thậm chí bỏ qua (Banker, Chang, & Pizzini, 2004; Lipe & Salterio, 2000)Hiện tượng được gọi là sự thiên lệch của các đo lường chung (Humphreys & Trotman, 2011) Do

đó, các phép đo cụ thể có thể ít hiệu quả hơn hoặc có thể được các bên bên ngoài coi là kém hiệuquả hơn khi mục đích là để tính đến hiệu quả và đóng góp giá trị của chức năng Như vậy, chúng

ta rút ra một giả thuyết thứ ba, nêu rõ rằng tính đặc hiệu chức năng của các đo lường hiệu quảcàng cao, thì hiệu quả càng thấp hơn của việc sử dụng trách nhiệm kế toán đối với ảnh hưởngquyết định chiến lược chức năng:

H3 Sự liên quan giữa việc sử dụng các đo lường hiệu quả cho trách nhiệm kế toán và ảnh hưởng

đến quyết định chiến lược có tính chức năng giảm đi khi tính đặc hiệu chức năng tăng lên củacác đo lường hiệu quả

Các tác động tương tác đối với việc sử dụng tạo thuận lợi cho việc đưa ra quyết định khó đánhgiá hơn Các đo lường cụ thể về chức năng thường được xem là có liên quan đến quyết địnhtrong bối cảnh chức năng (Arya và cộng sự, 2005) Sự liên quan của thông tin tài khoản là "khảnăng của thông tin để tạo sự khác biệt trong quyết định bằng cách giúp người dùng hình thành dựđoán về kết quả của các sự kiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai hoặc để xác nhận hoặc sửalại những mong đợi trước đó" (Christensen & Demski , 2003, trang 427) Các quyết định liênquan đến đo lường hiệu quả sẽ tăng cường hiệu quả của việc sử dụng thuận tiện cho việc ra quyếtđịnh, bởi vì những chỉ số này sẽ hữu ích hơn trong việc giải quyết các quyết định cụ thể của chứcnăng (Mayston, 1985) Do đó, một kết luận hợp lý là việc tạo thuận lợi cho việc ra quyết định sửdụng các phép đo cụ thể theo chức năng sẽ góp phần tích cực vào tính hợp pháp và nhận thứchình ảnh Lý luận này gợi ý rằng sự liên kết giữa việc sử dụng tạo thuận lợi cho việc ra quyết

Trang 9

định và ảnh hưởng quyết định chiến lược chức năng sẽ tăng lên cùng với sự đặc hiệu chức năngcao hơn về các đo lường hiệu quả.

Mặt khác, các nhà quan sát bên ngoài chức năng có thể nhận thức được việc sử dụng các phép đohiệu quả cụ thể theo chức năng là không phù hợp với các mục tiêu của tổ chức và chỉ ra quanđiểm tập trung, trung tâm về thực tiễn quản lý chức năng Trong trường hợp đó, việc sử dụng các

đo lường cụ thể về chức năng để ra quyết định có thể làm tăng nghi ngờ về việc liệu thực tiễn đó

có gợi lên các quyết định và hành động mong muốn được tổ chức hay không Lý luận này chothấy mối liên hệ giữa việc sử dụng các đo lường hiệu quả thuận lợi với quyết định và ảnh hưởngquyết định chiến lược chức năng sẽ giảm với tính đặc hiệu cao hơn của các phép đo Nói mộtcách ngắn gọn, không có lý do rõ ràng để đưa ra suy luận về những ảnh hưởng tương tác của tínhđặc hiệu chức năng Do đó, chúng tôi đưa ra câu hỏi nghiên cứu sau và để cho các kinh nghiệmlàm sáng tỏ hơn về hiệu ứng này:

RQ Liệu mối liên hệ giữa việc sử dụng các đo lường hiệu quả tạo thuận lợi với quyết định và

ảnh hưởng quyết định chiến lược có bị giảm đi hoặc tăng lên khi tính đặc hiệu của các đo lườnghiệu quả cao hơn không?

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Chọn mẫu

Để tạo điều kiện cho việc thu thập mẫu có quy mô hợp lý và để kiểm soát tính không đồng nhất

về chức năng cụ thể và không quan sát được, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu vào một phânnhóm chức năng cho mỗi tổ chức Chúng tôi đã chọn chức năng tiếp thị vì những lý do sau: Thứnhất, hầu hết các doanh nghiệp có chức năng tiếp thị, cho phép chúng tôi khảo sát một mẫu đạidiện của các công ty sản xuất và dịch vụ trong các ngành khác nhau Thứ hai, tiếp thị là một chứcnăng kinh doanh riêng biệt, được xác định rõ ràng thường được đại diện trong đội ngũ quản lýhàng đầu Thứ ba, đo lường hiệu quả trong chức năng tiếp thị là một chủ đề quan tâm hiện naytrong giới học thuật vì tầm quan trọng ngày càng tăng của tài sản phi vật thể liên quan thị trường(Lev, 2001; Wyatt, 2008) Thứ tư, từ quan điểm thực nghiệm, chức năng tiếp thị cung cấp mộtthiết lập nghiên cứu phù hợp cho sự biến thiên vừa đủ, cả trong việc thiết kế hệ thống đo lườnghiệu quả và ảnh hưởng đến quyết định chiến lược, cho phép phân tích các vấn đề nghiên cứu củachúng tôi

Vì các dữ liệu cần thiết để kiểm tra các mệnh đề nghiên cứu của chúng tôi không có sẵn từ các

cơ sở dữ liệu lưu trữ, phương pháp khảo sát có vẻ phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi Theocác hướng dẫn từ Phương pháp Thiết kế Tailered (Dillman, Smyth, & Christian, 2009), chúng tôi

đã thu thập dữ liệu điều tra bằng thư đến từ các giám đốc điều hành hàng đầu chịu trách nhiệm

về chức năng tiếp thị trong các công ty kinh doanh ở Đức Từ một nhà cung cấp dữ liệu thươngmại, chúng tôi đã có được một cơ sở dữ liệu công ty phản ánh sự phân bố kích thước của khuvực, ngành và quy mô công ty phân bố của một đất nước Chúng tôi đã có thể xác định VPMarketing cho 2200 công ty Sau đó, chúng tôi đã gửi một bảng câu hỏi với một lá thư cá nhâncho các giám đốc điều hành, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của họ và đảm bảo tính

bí mật của câu trả lời Để khuyến khích tham gia, chúng tôi đã đưa ra một báo cáo điểm chuẩn vềkết quả nghiên cứu của chúng tôi và hai bài báo miễn phí từ loạt bài viết của trường đại học Đểkhuyến khích phản ứng, chúng tôi theo dõi các cuộc gọi điện thoại sau sáu tuần Chúng tôi đãnhận được 260 bảng hỏi hữu ích, kết quả về tỷ lệ trả lời là 12% Bằng sự tập trung của chúng tôivào các thành viên của đội ngũ quản lý hàng đầu, tỷ lệ phản hồi có vẻ đạt kết quả hài lòng và phùhợp với nghiên cứu kế toán trước đó hướng đến các giám đốc điều hành hàng đầu.1

Trang 10

Chúng tôi đã thực hiện hai bài kiểm tra độ lệch tự chọn tiềm năng trong mẫu Thử nghiệm đầutiên là không độ lệch về phản ứng của người tham gia So sánh giữa 3 người trả lời sớm nhất và

3 người muộn nhất cho thấy không có biến thể nào khác biệt ở mức ý nghĩa 5% Thử nghiệm thứhai bao gồm một phân tích về việc liệu các công ty mà chúng tôi ban đầu liên hệ với nhau mộtcách có hệ thống với các công ty phản hồi về sự liên kết trong ngành hay quy mô công ty Chúngtôi đã sử dụng các bài kiểm tra phù hợp χ2 để so sánh sự phân bố mẫu của chúng tôi với tổng sốban đầu và tìm thấy không có sự khác biệt đáng kể (p = 97 cho ngành công nghiệp, p = 80 cho

Mục B: theo số nhân viên

Độ tin cậy của người trả lời và sự xác nhận dữ liệu

Độ tin cậy của người trả lời là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu dựa trên khảo sát, và thiết

kế nghiên cứu của chúng tôi có nguy cơ có hai xu hướng lệch tiềm ẩn trong đo lường biến Thứnhất, đánh giá ảnh hưởng của quyết định chiến lược trong công ty đòi hỏi kinh nghiệm đáng kểtrong việc ra quyết định của tổ chức Thứ hai, tự đánh giá của các VPs chức năng có thể đượcgán theo quan điểm sai lệch và quá tự tin Vì những lý do này, chúng tôi đã thực hiện một số đolường trong quá trình điều hành cuộc khảo sát để nâng cao độ tin cậy và tính hợp lệ của dữ liệu

Trang 11

Ngay từ đầu, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ các thành viên của nhóm quản lý hàng đầu, manglại một mẫu là các giám đốc điều hành giàu kinh nghiệm đã có kinh nghiệm chuyên môn trungbình là 18,1 năm Ngoài ra, để có được mức độ khả thi cao nhất có thể giữa các câu trả lời riêngbiệt, chúng tôi đã loại trừ các bảng hỏi được trả lời bởi một người khác ngoài VP Marketing.Cuối cùng, chúng tôi loại bỏ các bảng câu hỏi còn thiếu giá trị Mẫu cuối cùng bao gồm 192phản hồi, tất cả đều được trả lời bởi VPs có chức năng tiếp thị Bảng 1 báo cáo sự phân bố mẫutheo ngành và quy mô công ty.

Để cung cấp thêm hiệu lực cho dữ liệu, chúng tôi đã thu thập phản hồi từ một nhóm cung cấpthông tin quan trọng thứ hai để đánh giá tính hội tụ hợp lệ và xác định những thành kiến tự đánhgiá tiềm năng Trong nghiên cứu của chúng tôi, những thành kiến tự đánh giá có vẻ là vấn đềchia thành ba cấu trúc Nghĩa là, các giám đốc điều hành tiếp thị có thể phóng đại về ảnh hưởngcủa quyết định chiến lược chức năng, độ tin cậy của các đo lường hiệu quả chức năng và hiệuquả của các chức năng Đối với 71 trong số những doanh nghiệp mà VP Marketing đã trả lời,chúng tôi có thể nhận được dữ liệu bổ sung cho ba cấu trúc này từ người trả lời chính thứ hai.Đối với các công ty này, Trưởng bộ phận Kế toán Quản trị đã đánh giá thứ hai về ảnh hưởngchiến lược, độ tin cậy của các đo lường hiệu quả, và hiệu quả tổng thể của chức năng tiếp thị.Các câu trả lời của những người cung cấp thông tin chính thứ hai này để xác nhận các phản hồicủa các giám đốc tiếp thị Cả hai người cung cấp thông tin được yêu cầu không chia sẻ câu trả lờicủa họ trước khi hoàn thành cuộc khảo sát

Để đánh giá tính nhất quán của phản ứng của hai nhóm thông tin này, chúng tôi tính toán chỉ sốrwg (j) được thiết lập trong các tài liệu về phương pháp tam giác trong nghiên cứu dựa trên khảosát (Finn, 1970) Chỉ số rwg (j) cho một cấu trúc j dao động từ 0 đến 1, với các giá trị ở trên 7cho thấy tính nhất quán chấp nhận được và các giá trị trên 8 được coi là xuất sắc (LeBreton,Burgess, Kaiser, Atchley, & James, 2003) Đối với ba cấu trúc được đề cập, tất cả các chỉ số rwg(j) vượt quá ngưỡng 8 (ảnh hưởng quyết định chiến lược: rwg (j) = 91, độ tin cậy của các phép

đo hiệu quả của chức năng: rwg (j) = 87; : Rwg (j) = 95) Nói tóm lại, các phân tích của chúngtôi cho thấy những độ lệch của người cung cấp thông tin chính không phải là vấn đề quan trọngcho dữ liệu của chúng tôi

Xây dựng phép đo

Mô hình nghiên cứu của chúng tôi bao gồm năm cấu trúc chính và một số biến kiểm soát Chúngtôi đã thử nghiệm công cụ đo lường với 15 nhà quản lý tiếp thị và kế toán tại 10 công ty Bàikiểm tra trước nhằm mục đích đánh giá sự phù hợp của thiết kế bảng câu hỏi và để xác minh xemcác mục này có được thiết kế các chiều thích hợp của các cấu trúc của chúng ta hay không vàliệu các người thực hành có tìm thấy các mục khảo sát dễ hiểu và hợp lý hay không Sự phản hồicủa các nhà quản lý đã dẫn đến những thay đổi nhỏ trong mẫu câu hỏi và từ ngữ của từng mục

Để đánh giá độ tin cậy của phép đo, chúng tôi đã tính alpha Cronbach để đánh giá tính nhất quánnội bộ của các cấu trúc Tất cả các cấu trúc vượt quá giá trị ngưỡng của 0,7 đề xuất trong tài liệu(Nunnally, 1978) Để đánh giá hiệu lực phân biệt, chúng tôi đã kiểm tra dữ liệu dựa trên tiêu chícủa Fornell và Larcker (1981), đòi hỏi sự chênh lệch trung bình được chiết xuất của mỗi yếu tốvượt quá các tương quan bình phương giữa yếu tố này và tất cả các cấu trúc khác Tất cả các cấutrúc đều vượt qua bài kiểm tra này Bảng 2 và 3 cung cấp một ma trận tương quan và tổng quan

về số liệu thống kê mô tả và độ tin cậy của tất cả các biến Sau đây, chúng tôi cung cấp mô tảngắn gọn về các dụng cụ đo lường Các mục quy mô cho tất cả các cấu trúc xuất hiện trong Phụlục

Trang 12

Ảnh hưởng đến quyết định chiến lược chức năng

Chúng tôi đo lường ảnh hưởng của quyết định chiến lược với một công cụ được Abernethy vàVagnoni (2004) thông qua, bao gồm mức độ mà một tiểu đơn vị chức năng ảnh hưởng đến támlĩnh vực quyết định chiến lược trong tổ chức, như phát triển sản phẩm mới, mở rộng sang các thịtrường mới, Chi tiêu vốn lớn hoặc lựa chọn đối tác kinh doanh chiến lược

Bảng 2

Ma trận tương quan.

1 Ảnh hưởng đến quyết định chiến lược

-2 Tạo thuận lợi cho việc ra quyết định 36 .68

3 Sử dụng cho trách nhiệm kế toán 24 50 .77

-11 Chiến lược tập trung chi phí lãnh đạo 16 20 23 18 31 00 24 05 04 15

-Lưu ý: PM = đo lường hiệu quả; PMS = hệ thống đo lường hiệu quả; VP = Phó Giám đốc Mẫu dựa trên n = 192 công ty Giá trị

tuyệt đối của hệ số tương quan trên 0,13 (0,17) là đáng kể ở mức 5% (1%) Các đường chéo (in đậm) biểu thị gốc hình vuông của phương sai trung bình được tính ra (không tính cho các cấu trúc dựa trên chỉ mục) Để có hiệu lực phân biệt đầy đủ, tiêu chí Fornell-Larcker yêu cầu mỗi mục nhập đường chéo vượt quá các mục trái chéo tương ứng Tất cả các cấu trúc vượt qua bài kiểm tra này

Bảng 3

Đánh giá chất lượng tâm lý.

Lưu ý: NA = không áp dụng; PMS = hệ thống đo lường hiệu quả; SD = độ lệch tiêu chuẩn; VP = Phó Giám đốc.

a Quy mô công ty được tính bằng logarithm tự nhiên của số lượng nhân viên.

b Đo bằng một biến giả 1 hiển thị nền tiếp thị và 0 nếu không.

c Đo đạc bằng một biến giả cho thấy sự liên kết ngành của công ty (xem Bảng 1, mục A)

Chức năng sử dụng các đo lường hiệu quả

Các tài liệu trước trong ngữ cảnh chức năng chủ yếu được tập trung để thiết kế hệ thống điềukhiển thay vì sử dụng thực tế các đo lường hiệu quả (Abernethy, Bouwens, & van Lent, 2004)

Vì vậy, chúng tôi phát triển hai cấu trúc mới Liên quan đến việc sử dụng tạo thuận lợi cho việc

Trang 13

ra quyết định, chúng tôi đã hỏi đến mức độ nào mà chức năng tiếp thị sử dụng các đo lường hiệuquả để (1) quyết định, (2) phân bổ ngân sách, (3) phân tích sự khác biệt về hiệu quả dự kiến và(4) Các mục tiêu được xác định trước Để có hiệu quả hoạt động đo lường sử dụng cho tráchnhiệm, chúng tôi phát triển một phép đo mới dựa trên công cụ của Evans et al (1994) Công cụnày dựa vào ba mục phản ánh mức độ mà các chức năng sử dụng các đo lường hiệu quả để tínhtoán các khoản chi ngân sách khác nhau, hiệu quả chức năng, và đóng góp vào kết quả hoạt độngcủa tổ chức về mặt định lượng.

Tính năng đo hiệu quả

Chúng tôi đã phát triển các mục cho tính đặc hiệu chức năng từ công trình của Arya et al (2005)

và Lipe và Salterio (2000) Quy mô bao gồm bốn chỉ số đo lường mức độ mà các đo lường hiệuquả được liên kết với các mục tiêu và hoạt động liên quan đến phân phối Chúng tôi đã khảo sát

độ tin cậy với hai hạng mục đánh giá xem hiệu quả đo chức năng sử dụng có chính xác và thực

sự đại diện cho những gì họ có ý định đại diện (Christensen & Demski, 2003; Ittner & Larcker,2001)

Biến kiểm soát

Để kiểm soát các yếu tố theo ngữ cảnh có thể ảnh hưởng đến biến phụ thuộc của mô hình chúngtôi, chúng tôi đưa ra một loạt các biến số Tài liệu đo lường hiệu quả khuyến cáo rằng các nghiêncứu thực nghiệm xem xét các yếu tố liên quan đến công ty và đặc điểm ngành (Chenhall, 2003;Ittner & Larcker, 2001) Do đó, chúng tôi kiểm soát được quy mô công ty và sự liên kết trongngành, mà các nghiên cứu trước đây xem như các yếu tố bối cảnh quan trọng (Chapman, 1997;Waterhouse & Thies, 1978) Ngoài ra, chúng tôi còn kiểm soát được chức năng của Giám đốcđiều hành, có thể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định ở cấp quản lý cao nhất (Glaser, Lopez-de-Silanes, & Sautner, 2012) Chúng tôi đo kích thước công ty bằng cách sử dụng logarithm tựnhiên của số lượng nhân viên, và chúng tôi đánh giá sự liên kết ngành nghề và bối cảnh củaGiám đốc điều hành bằng các biến giả định cho biết loại hình ngành cụ thể và nền tảng chứcnăng chính của Giám đốc điều hành Chúng tôi dự đoán rằng khi Giám đốc điều hành có một nềntảng tiếp thị, chức năng tiếp thị sẽ có ảnh hưởng nhiều hơn Đối với quy mô công ty và ngànhnghề, chúng tôi không đưa ra dự đoán cụ thể về các dấu hiệu của hiệu ứng

Chúng tôi cũng kiểm soát các trọng tâm chiến lược của doanh nghiệp và mức độ không chắcchắn của thị trường Chúng tôi đánh giá các biến này với các thang đo được phát triển dựa trêncác nghiên cứu trước đây trong tài liệu (Duncan, 1972, Govindarajan & Gupta, 1985) Công cụ

để tập trung chiến lược xem xét các đặc điểm của chiến lược lãnh đạo chi phí và chiến lược khácbiệt và cho phép các kích thước này thay đổi một cách độc lập hơn là phân loại các doanh nghiệpnhư là sự lãnh đạo chi phí hoặc các mẫu chiến lược phân biệt Từ khía cạnh lý thuyết, khôngchắc chắn về môi trường thị trường và chiến lược khác biệt có liên quan đến ảnh hưởng của chứcnăng tiếp thị, bởi vì các điều kiện này nhấn mạnh đến việc khám phá các nhu cầu của khách hàngđang phát triển và thích ứng các sản phẩm và dịch vụ để có thể đáp ứng những nhu cầu đó mộtcách hiệu quả (Verhoef & Lee- 2009) Ngược lại, nếu công ty thông qua một chiến lược tậptrung vào chi phí và hiệu quả, ảnh hưởng của chức năng tiếp thị nên thấp hơn

Hơn nữa, chúng tôi kiểm soát các biến đặc trưng riêng biệt Đầu tiên là hiệu quả chức năng, được

đo bằng một cấu trúc được sử dụng trong các nghiên cứu trước để đánh giá hiệu quả của chứcnăng tiếp thị (Vorhies & Morgan, 2003) Vì là các chức năng cao nên có nhiều ảnh hưởng hơntrong việc đưa ra quyết định mang tính chiến lược nhờ khả năng trở thành những người thực hiệntốt (Jensen & Zajac, 2004), chúng tôi mong đợi một mối liên hệ tích cực với ảnh hưởng về chức

Trang 14

năng Việc kiểm soát cho tác động này cho phép chúng ta khám phá một cách thực nghiệm cáchoạt động đo lường hiệu quả ảnh hưởng đến cấu trúc quyền lực ngoài các hiệu ứng do sự hoạtđộng của tiểu đơn vị Chúng tôi cũng kiểm soát mức độ tham gia tự thực hiện chức năng trongthiết kế hệ thống đo lường hiệu quả, có thể liên quan đến các biến độc lập và tương tác (ví dụ:tính đặc hiệu chức năng của các phép đo hiệu quả) Sử dụng thang đo từ 0 (không có sự tham gianào) đến 100 (xác định hoàn chỉnh), chúng tôi đo mức độ tham gia bằng cách yêu cầu người trảlời cho biết mức độ mà chức năng của họ tham gia vào việc phát triển và thiết kế hệ thống.Chúng tôi không có dự đoán cụ thể cho dấu hiệu của tác động này Chúng tôi cũng kiểm soát để

áp dụng quyết định sử dụng các đo lường hiệu quả Chúng tôi khảo sát mức độ hiệu quả của cácchức năng trong việc đánh giá hiệu quả quản lý, xác định mức bồi thường và áp dụng những chếtài liên quan đến trách nhiệm và quyền quyết định ngân sách (Abernethy, Bouwens, and vanLent, 2010) Vì việc sử dụng ảnh hưởng đến quyết định nên có liên quan nhiều hơn đến việc giảiquyết các vấn đề "nội bộ" ở cấp chức năng, chúng tôi đã không đưa ra dự đoán cụ thể cho dấuhiệu tác động này

Cuối cùng, chúng tôi kiểm soát đối với các biến cụ thể bị đơn Để tránh độ lệch do các vị trí phâncấp khác nhau, chúng tôi kiểm soát ảnh hưởng của thẩm quyền chính thức, được định nghĩa làcác vị trí trên biểu đồ tổ chức (Abernethy & Vagnoni, 2004) Như chúng ta đã mô tả ở trên, thủtục thu thập mẫu của chúng tôi ngầm kiểm soát đối với loại độ lệch này, không chỉ bằng cáchkhảo sát một mẫu của các công ty có đội ngũ quản lý hàng đầu bao gồm một VP cho chức năngđược kiểm tra mà còn bằng cách bỏ các câu hỏi mà đã được trả lời bởi một người không phải là

VP chức năng Ngoài ra, chúng tôi kiểm soát kinh nghiệm chuyên môn của VP Marketing.Chúng tôi hy vọng biến này sẽ có tác động tích cực, bởi vì các nhà quản lý có thể phát triển cácchiến thuật hiệu quả hơn về mặt giao tiếp theo thời gian và có thể rút ra những quan sát và kinhnghiệm từ các tình huống trước khi quyết định để đạt được sự quyết tâm mạnh mẽ hơn trong việcđưa ra quyết định chiến lược (Mowday, 1979)

Cách tiếp cận phân tích và kết quả ước lượng mô hình

Để ước tính mô hình kinh nghiệm, chúng tôi đã sử dụng phương pháp hồi quy đa biến với bìnhphương nhỏ nhất (OLS) và các sai số tiêu chuẩn không liên quan (White, 1980) Các yếu tố lạmphát bất bình đẳng của tất cả các cấu trúc cho thấy không có mức độ đa dạng của đa cộng tuyến(Wooldridge, 2002) Với mục đích giải thích, chúng tôi làm trung tâm tất cả các biến độc lập, vàtất cả các thuật ngữ tương tác là sản phẩm của các cấu trúc cơ bản của chúng Việc ước lượng môhình của chúng tôi theo một cách tiếp cận ba bước

Thứ nhất, chúng tôi đã phân tích một mô hình kiểm soát duy nhất để đánh giá xem các biến kiểmsoát có liên quan đến ảnh hưởng quyết định chiến lược như dự đoán (mô hình 1 trong Bảng 4).Nhìn chung, những ảnh hưởng của các đồng tham số phản ánh những kỳ vọng trước đó Mặc dùkhông có dấu hiệu hệ số đáng kể về mặt thống kê ngược lại với dự đoán của chúng tôi, nhưnghiệu quả không đáng kể có thể là do thực tế cho đến nay, không có mô hình phức tạp nào đã thửnghiệm các cấu trúc này đồng thời Trong bước thứ hai, chúng tôi bao gồm các hiệu ứng chínhcủa việc sử dụng hiệu quả đo lường (mô hình 2 trong Bảng 4), với các giá trị cho các tính năng

đo hiệu quả bằng 0 (nghĩa là không có tương tác) Việc ước lượng mô hình không cung cấp hỗtrợ cho H1 Cả hai hệ số đều dương, nhưng không đáng kể ở mức 5% (H1a: việc sử dụng thuậntiện cho việc ra quyết định: β = 125, p> 05, H1b: sử dụng cho trách nhiệm kế toán: β = 061, p>0,05) Do các giá trị 0 của các thuộc tính đo lường hiệu quả biểu diễn trung bình mẫu (do trungbình), bằng cách ngụ ý rằng việc sử dụng các đo lường hiệu quả không ảnh hưởng đến hiệu quảchiến lược quyết định chức năng "trung bình" (Hartmann & Moers, 1999; Moers , 2006)

Ngày đăng: 08/04/2018, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w