Khái niệm: • Khái niệm hợp đồng thương mại được hiểu dựa trên khái niệm hợp đồng được quy định tại Điều 388 Bộ luật dân sự như sau: “Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các thương
Trang 1I Khái quát chung về hợp đồng thương mại vô hiệu.
1 Khái niệm:
• Khái niệm hợp đồng thương mại được hiểu dựa trên khái niệm hợp
đồng được quy định tại Điều 388 Bộ luật dân sự như sau: “Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các thương nhân với nhau hoặc với người có liên quan về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại” Ngoài sự điều chỉnh của Luật thương mại, hợp đồng
thương mại còn chịu sự điều chỉnh của Bộ Luật dân sự 2005
• Thuật ngữ “hợp đồng thương mại vô hiệu” hiện nay được sử dụng một
cách phổ biến Tuy nhiên, cũng như thuật ngữ “hợp đồng thương mại”, hiện nay chưa có một tài liệu nào đưa ra khái niệm chính thức về hợp đồng thương mại vô hiệu Để nhận biết hợp đồng thương mại vô hiệu cần phải đặt chúng trong mối tương quan với hợp đồng vô hiệu nói chung Vô hiệu được hiểu là không có hiệu lực, như vậy, hợp đồng thương mại vô hiệu có thể được hiểu là hợp đồng thương mại không có giá trị pháp lý, không có giá trị ràng buộc thực hiện đối với các chủ thể của hợp đồng Hợp đồng thương mại vô hiệu là những hợp đồng thương mại chứa đựng các yếu tố gây vô hiệu như giả tạo, nhầm lần, lừa dối, đe dọa… dẫn tới không đảm bảo một hoặc một số các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại Thời điểm xác định sự vô hiệu của hợp đồng thương mại được tính từ thời điểm hợp đồng được xác lập Hợp đồng đã ký kết không có giá trị thực hiện kể từ khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, trường hợp hợp đồng đã và đang được thực hiện thì việc thực hiện hợp đồng sẽ bị chấm dứt
• Hợp đồng thương mại vô hiệu hoàn toàn khác với hợp đồng thương mại mất hiệu lực hoặc hợp đồng thương mại chấm dứt hiệu lực Điểm khác biệt cơ bản giữa các loại hợp đồng này chính là thời điểm không có hiệu lực của hợp đồng Đối với hợp đồng thương mại mất hiệu lực, cần phải nhấn mạnh rằng hợp đồng thương mại đó đã có hiệu lực trên thực tế, song vì lý do khách quan mà nó mất đi hiệu lực của mình Với hợp đồng thương mại chấm dứt hiệu lực cũng vậy, đó là hợp đồng đã có hiệu lực nhưng trong quá trình thực hiện các bên đã thỏa thuận không tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa Trái với hợp đồng thương mại mất hiệu lực, chấm dứt hiệu lực, hợp đồng thương mại vô hiệu về mặt lý thuyết là hợp đồng thương mại không có hiệu lực ngay
từ khi ký kết, kể cả trường hợp các bên chủ thể thừa nhận về viêc kí kết hợp đồng
Hợp đồng thương mại vô hiệu không có giá trị pháp lý, do đó dẫn tới các hậu quả pháp lý sau:
Trang 2Thứ nhất, hợp đồng thương mại vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ giữa các chủ thể ký kết hợp đồng kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hợp đồng thương mại chỉ có một hoặc một số điều khoản bị vô hiệu mà các điều khoản này hoàn toàn độc lập với những điều khoản còn lại thì các bên trong hợp đồng vẫn có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ phần hợp đồng có hiệu lực
Thứ hai, khi hợp đồng thương mại vô hiệu, các bên phải “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” – đây cũng là nguyên tắc xử lý hợp đồng vô hiệu nói
chung và hợp đồng thương mại vô hiệu nói riêng Bên cạnh việc khôi phục lại tình trạng như trước khi kí kết hợp đồng, các bên phải bồi thường thiệt hại nếu có đầy đủ căn cứ theo quy định của pháp luật đối với thiệt hại thực tế xảy ra
2 Phân loại hợp đồng thương mại vô hiệu
HĐTM vô hiệu ở Việt Nam cũng được phân loại như đối với hợp đồng dân sự vô hiệu, tức là phân loại dựa trên nguyên nhân dẫn tới HĐTM bị vô hiệu và căn cứ vào mức độ vô hiệu của HĐTM
• Dựa vào nguyên nhân dẫn đến HĐTM vô hiệu, HĐTM vô hiệu bao
gồm: HĐTM vô hiệu do giả tạo, do nhầm lẫn, do lừa dối, do đe dọa, do có nội dung trái với quy định của pháp luật, trái đạo đức xã hội; do có nội dung trái với các quy định của pháp luật, trái với đạo đức xã hội; do chủ thể hợp đồng không có năng lực chủ thể Đây là cách phân loại được sử dụng để phân loại giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại Bộ luật dân sự 2005 và cũng là cách phân loại áp dụng cho HĐTM vô hiệu, theo đó có thể hiểu:
- HĐTM vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật là HĐTM có nội dung hoặc mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội;
- HĐTM vô hiệu do giả tạo là HĐTM được các bên tạo lập nhằm che dấu một hợp đồng khác;
- HĐTM vô hiệu do nhầm lẫn là HĐTM được tạo lập do một bên có lỗi
vô ý khiến bên kia hiểu lầm về nội dung của hợp đồng dẫn tới kí kết hợp đồng;
- HĐTM vô hiệu do lừa dối là HĐTM được tạo lập khi một bên chủ thể hoặc người thứ ba cố ý đưa ra thông tin sai lệch (lừa dối) về chủ thể, đối tượng, nội dung hợp đồng để bên tham gia kí kết;
- HĐTM vô hiệu do đe dọa là HĐTM được tạo lập do một bên có hành
vi cố ý ép buộc bên kia tham gia hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của họ hoặc người thân của họ;
Trang 3- HĐTM vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là HĐTM thuộc nhóm hợp đồng mà pháp luật bắt buộc phải được kí kết dưới dạng văn bản nhưng không tuân thủ quy định này
• Dựa vào mức độ vô hiệu của HĐTM có thể chia HĐTM vô hiệu
thành HĐTM vô hiệu toàn bộ và HĐTM vô hiệu một phần:
- HĐTM vô hiệu toàn bộ là HĐTM vi phạm điều kiện có hiệu lực HĐTM vô hiệu toàn bộ hoàn toàn không có giá trị bắt buộc thực hiện với các bên HĐTM vô hiệu toàn bộ có thể là một trong các trường hợp: HĐTM vô hiệu do giả tạo, vô hiệu do nhầm lẫn, hợp đồng thương mại vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật…
- HĐTM vô hiệu một phần là HĐTM có một phần vô hiệu và phần này tồn tại độc lập với phần còn lại của hợp đồng Đối với hợp đồng vô hiệu một phần, chỉ có phần vô hiệu không có giá trị bắt buộc thực hiện, phần còn lại của hợp đồng vẫn phải thực hiện như với các hợp đồng thương mại có hiệu lực khác
Cách phân loại này không có căn cứ nguyên nhân dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng mà chỉ dựa trên mức độ vô hiệu và khả năng khắc phục các khiếm khuyết của hợp đồng, từ đó có các hình thức xử lý HĐTM vô hiệu phù hợp
• Ngoài ra pháp luật một số nước còn có HĐTM vô hiệu khác.Ví dụ, HĐTM vô hiệu được phân loại dựa vào tính trái pháp luật dẫn tới hợp đồng bị
vô hiệu.Theo đó, có thể chia HĐTM vô hiệu ra hai loại là HĐTM vô hiệu tuyệt đối (đương nhiên vô hiệu) và HĐTM vô hiệu tương đối (vô hiệu có điều kiện) Trong đó:
- HĐTM vô hiệu tương đối là HĐTM có những khiếm khuyết về sự thống nhất, ý chí của các chủ thể hoặc xâm hại đến lợi ích của cá nhân và bị tòa án tuyên vô hiệu theo yêu cầu của cá nhân có lợi ích liên quan Nguyên nhân dẫn đến HĐTM vô hiệu tương đối có thể do có sự nhầm lẫn, lừa dối hoặc đe dọa khi giao kết hợp đồng
- HĐTM vô hiệu tuyệt đối là HĐTM có nội dung trái với các quy định của pháp luật, xâm hại tới lợi ích công cộng Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối có thế bị tuyên vô hiệu theo yêu cầu của cá nhân có lợi ích liên quan hoặc yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
HĐTM vô hiệu tuyệt đối bao gồm HĐTM vô hiệu do giả tạo, do trái quy định của pháp luật, trái đạo đức xã hội
Việc phân loại HĐTM vô hiệu thành HĐTM vô hiệu tuyệt đối và HĐTM
vô hiệu tương đối là dựa trên lợi ích mà HĐTM khi có hiệu lực có thể xâm hại tới và mức độ can thiệp của nhà nước vào quan hệ hợp đồng đó Đối với
Trang 4HĐTM vô hiệu tuyệt đối, lợi ích có thể xâm hại là lợi ích chung của toàn xã hội do chủ thể có quyền yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu được mở rộng hơn, bao gồm cả cá nhân có thẩm quyền Như vậy, đối với loại hợp đồng này, Nhà nước có thể tự động can thiệp sâu vào các thỏa thuận tự nguyện của các cá nhân Ngược lại, HĐTM vô hiệu tương đối xâm hại tới lợi ích của cá nhân cụ thể, do đó chỉ những người có lợi ích liên quan mới có quyền yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu Nhà nước chỉ có thể can thiệp vào quan hệ hợp đồng dựa trên cơ sở yêu cầu của cá nhân có quyền đươc pháp luật bảo vệ
Trang 53 Các quy định của pháp luật về HĐTM vô hiệu:
3.1 Các quy định về điều kiện có hiệu lực của HĐTM: Ở Viêt Nam hiện
chưa có quy định cụ thể về điều kiện có hiệu lực của HĐTM nhưng do HĐTM được coi là một dạng của hợp đồng dân sự nên nó có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, bao gồm các điều kiện:
- Chủ thể tham gia giao kết phải có năng lực chủ thể
- Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
- Chủ thể tham gia giao kết hoàn toàn tự nguyện
- Hình thức hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật
3.2 Các trường hợp HĐTM vô hiệu:
- Vô hiệu do nội dung, mục đích của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội: Nội dung và mục đích của hợp đồng thương mại không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội là một trong những điều kiện để hợp đồng có giá trị pháp lý
- Vô hiệu do một bên giao kết hợp đồng không có năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật: Năng lực chủ thể của các bên kí kết hợp đồng là điều kiện tiên quyết để HĐTM có giá trị pháp lý.Chủ thế tha gia kí kết HĐTM hầu hết là thương nhân, tức là phải thỏa mãn điều kiện về đăng ký kinh doanh
- Vô hiệu do người đại diện kí kết không đúng thẩm quyền: Đây là một trong hai trường hợp của HĐTM vô hiệu do chủ thể không đủ năng lực pháp
lý Người đại diện kí kết không đúng thẩm quyền được hiểu là người đại diện
kí kết không phải là người đại diên theo pháp luật mà không có sự ủy quyền của người đại diện theo pháp luật hoặc được hiểu là người đại diện theo ủy quyền song việc ký kết hợp đồng là nằm ngoài phạm vi được ủy quyền Tuy nhiên không phải bất kỳ trường hợp nào hợp đồng đã ký đều bị tuyên vô hiệu
mà còn tùy thuộc vào thái độ thừa nhận hay không thừa nhận của các bên đối với hợp đồng đã kí khi phát hiện ra người tham giam kí kết hợp đồng không
đủ thẩm quyền để kí kết HĐTM không bị coi là vô hiệu toàn bộ nếu người kí kết hợp đồng không đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng, người có thẩm quyền đương nhiên kí kết HĐTM đó chấp thuận tức là người đó đã biết hoặc phải biết HĐTM đã được kí kết mà không phản đối
- Vô hiệu do vi phạm nguyên tắc tự nguyện: HĐTM vô hiệu do vi phạm nguyên tắc tự nguyện bao gồm các trường hợp: HĐTM vô hiệu do lừa dối HĐTM vô hiệu do nhầm lẫn, HĐTM vô hiệu do đe dọa
- HĐTM vô hiệu do vi phạm hình thức hợp đồng: HĐTM vô hiệu do vi phạm các quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng cũng là một trong
Trang 6những trường hợp vô hiệu thường gặp Tuy nhiên, hiện nay do áp dụng song song các quy định của Bộ luật dân sự và Luật Thương mại nên việc xác định hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức hợp đồng gặp phải nhiều khó khăn
Áp dụng các qui định của Bộ luật Dân sự 2005, HĐTM có thể được kí kết dưới hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể; hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật quy định khác (Khoản 2, Điều 401, Bộ luật Dân sự 2005) Trong khi đó Luật Thương mại 2005 quy định với một số loại HĐTM bắt buộc phải được giao kết dưới dạng văn bản song lại không quy định rõ hình thức của hợp đồng cũng là điều kiện có hiệu lực của HĐTM
- HĐTM vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được: Theo quy định tại điều 411 Bộ luật dân sự, HĐTM có đối tượng vì lý do khách quan không thể thực hiện được ngay từ khi kí kết thì vô hiệu Khi giao kết hợp đồng, nếu một bên biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được mà không thông báo cho bên kia biết dẫn tới việc bên kia đã giao kết hợp đồng thì có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia đã biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được
Trang 74 Nguyên tắc xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu:
Hợp đồng thương mại vô hiệu dẫn tới hậu quả pháp lý là các quyền và nghĩa vụ các bên thỏa thuận không được phát sinh kể từ thời điểm xác lập hợp đồng Trong một số trường hợp, hợp đồng thương mại vô hiệu đã được một trong hai bên thực hiện trên thực tế Như vậy, khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, nhất thiết phải có phương thức khôi phục lại quyền lợi của các bên đã bị việc thực hiện hợp đồng xâm hại
Khi xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu, cần phải chú ý một số nguyên tắc sau:
- Nếu nội dung công việc trong hợp đồng chưa được thực hiện thì các bên không được phép thực hiện;
- Nếu nội dung công việc trong hợp đồng đã được thực hiện một phần thì các bên phải chấm dứt việc tiếp tục thực hiện và bị xử lý về tài sản;
- Nếu nội dung công việc trong hợp đồng đã được thực hiện xong thì các bên bị xử lý tài sản
Khi thực hiện xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu cần phải giải quyết các vấn đề sau:
- Thứ nhất, tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu;
- Thứ hai, xác định hợp đồng vô hiệu một phần hay vô hiệu toàn bộ;
- Thứ ba, chấm dứt thực hiện hợp đồng;
- Thứ tư, xử lý tài sản liên quan tới thực hiện HĐTM vô hiệu
Trang 8II Bình luận quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu.
1 Những điểm tích cực của pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu
Thực hiện chủ trương của Đảng, tại kỳ họp thứ 7, ngày 14/6/2005 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2005 thay thế Bộ luật dân sự
1995 Bộ luật Dân sự năm 2005 được coi là gốc của ngành luật tư Chính vì vậy khi Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực đã thay thế Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế và việc xem xét hợp đồng vô hiệu đã quy định thành các trường hợp cụ thể cũng giống như pháp luật của nhiều nước trên thế giới
Các trường hợp vô hiệu của hợp đồng quy định trong Bộ luật dân sự
2005 tuy không có quy định trực tiếp hai trường hợp: Hợp đồng vô hiệu do người kí hợp đồng không đúng thẩm quyền và hợp đồng vô hiệu do không có đăng kí kinh doanh để thực hiện công việc không có thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng pháp luật hiện hành có cách hiểu và cách giải thích từng trường hợp vô hiệu của hợp đồng, có cách nhìn nhận và đánh giá về năng lực chủ thể,
về sự nhầm lẫn, lừa dối… để kết luận hiệu lực của hợp đồng thương mại Dẫn đến khi hợp đồng tranh chấp rơi vào hai trường hợp: người kí kết hợp đồng không đúng thẩm quyền và chủ thể không đăng kí kinh doanh sẽ không có khung pháp lý cụ thể ràng buộc Vì vậy, Tòa án phải căn cứ và tổng hợp nhiều yếu tố: nguyên nhân gây tranh chấp, lỗi… để phán quyết chính xác Nếu hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu rơi vào hai trường hợp trên thì cũng là hợp đồng vô hiệu tương đối, và theo cách giải thích luật hiện hành thì có thể khôi phục lại hiệu lực của hợp đồng Đây là một điểm tiến bộ của pháp luật hiện hành, vì trong trường hợp này hợp đồng được giao kết để phục vụ mục đích kinh doanh của các bên chủ thể, và khi có thiệt hại xảy ra chính các bên giao kết phải gánh chịu nên không có lý do gì lại buộc họ phải giải quyết cứng nhắc theo luật để dẫn đến thiệt hại nhiều hơn, nghiêm trọng hơn1
Trước đây có sự phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế giữa Bộ luật dân sự với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, hợp đồng trong Luật thương mại 1997, nên dẫn đến có nhiều vướng mắc khi áp dụng để giải quyết trong thực tiễn Bộ luật dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản nhất, chung nhất về hợp đồng, nghĩa vụ dân sự, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ… Phần quy định chung về hợp động được quy định trong Luật thương mại
1997 cũng đã không còn nữa và khi xây dựng Luật thương mại 2005 đã không đưa vào thành quy định chung về hợp đồng Việc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống
Trang 9pháp luật, nhất là trong mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự với luật chuyên ngành tương ứng một cách hiệu quả, thuận lợi2
Ngoài ra, những quy định về hợp đồng dân sự nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng vô hiệu trong Bộ luật dân sự 2005 đã được xây dựng với các điều luật rõ ràng và minh bạch hơn so với Bộ luật dân sự 1995 về hợp đồng vô hiệu, ví dụ như pháp luật hiện hành đã định nghĩa rõ thế nào là điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội là gì… đây là những vấn đề luật cũ bỏ qua Tóm lại, những quy định của luật hiện hành là những quy định mở và nhất quán giữa những quy định chung và riêng nên tránh được tình trạng chồng chéo luật, từ đó Tòa án hay Trọng tài thương mại có thể linh hoạt xét
xử đúng luật phù hợp với thực tiễn và hạn chế thiệt hại Tránh được tình trạng mỗi cấp khác nhau thì xử rất khác nhau thậm chí trái ngược nhau mà vẫn đúng luật
2 Vướng mắc quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu
Qua thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng thương mại vô hiệu, có thể thấy quy định hiện hành về hợp đồng vô hiệu chưa thể bao quát được các trường hợp về hợp đồng thương mại vô hiệu Điều này xuất phát từ việc quan hệ hợp đồng thương mại có những đặc thù về chủ thể và nội dung giao kết Những vướng mắc có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, về năng lực chủ thể của hợp đồng thương mại
Điều 122 Bộ luật dân sự quy định một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là: “người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” Từ quy định này, sẽ rất khó để xác định điều kiện năng lực chủ thể của thương nhân trong hoạt động thương mại Cụ thể, vướng mắc sẽ xảy ra nếu một trong các bên của hợp đồng không có đăng ký kinh doanh hoặc kinh doanh không đúng ngành nghề đã đăng ký thì hợp đồng có bị coi là vô hiệu không? Để giải quyết vấn đề này, pháp luật hiện hành cụ thể là Bộ luật dân sự chỉ dự liệu năng lực hành vi đối với pháp nhân nói chung, do đó xét từ năng lực chủ thể của hợp đồng thì phạm vi giao kết hợp đồng của thương nhân không bị hạn chế Vì vậy không có cơ sở để tuyên bố hợp đồng trong trường hợp này là vô hiệu
Tuy nhiên, nếu áp dụng cách quy định của Bộ luật dân sự như trên thì sẽ mâu thuẫn với Luật doanh nghiệp Việt Nam vì Điều 9 Luật này quy định: “doanh nghiệp có nghĩa vụ hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” Theo đó, trường hợp thương nhân tham gia hợp đồng nhưng không có đăng ký kinh doanh hay kinh doanh không đúng ngành nghề được ghi trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh là vi phạm quy định của pháp luật doanh nghiệp, do đó hợp đồng do chủ thể này kí kết cần xác định là hợp đồng
Trang 10vô hiệu do không đáp ứng yêu cầu về năng lực chủ thể, cụ thể là kinh doanh không đúng mục đích, giấy phép kinh doanh
Có thể thấy, trước ngày 01/01/2006 thì việc xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu được Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 quy định và điều chỉnh chi tiết về vấn đề này, cụ thể: Điều 8 Pháp lệnh quy định những hợp đồng bị coi là vô hiệu toàn bộ khi: “…một trong các bên kí kết hợp đồng không có đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng” Như vậy, nếu căn cứ quy định trên thì vướng mắc đã có thể giải quyết Tuy nhiên Pháp lệnh hợp đồng kinh tế nay đã hết hiệu lực và không sử dụng căn cứ trên đây
để tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu Việc tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu do căn cứ Bộ luật dân sự ra đời sau này đã khiến vấn đề này trở thành vướng mắc khó có thể giải quyết Lý do từ việc Bộ luật dân sự chưa tiên liệu được đặc thù của tổ chức là thương nhân kinh doanh, đó là những đặc trưng nhất định phụ thuộc ngành nghề mà pháp nhân đó tiến hành kinh doanh
Tất nhiên, có ý kiến cho rằng có thể giải quyết vướng mắc này bằng việc tuyên hợp đồng thương mại vô hiệu do có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật Cụ thể, Điều 9 Luật Doanh nghiệp có thể được hiểu là không cho phép doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vượt ra ngoài phạm vi ngành nghề đã đăng kí và hợp đồng thương mại kí kết trong hợp đồng Do đó, hợp đồng thương mại được kí trong trường hợp một bên chủ thể không đăng kí kinh doanh hay kinh doanh không đúng ngành nghề sẽ thuộc vào trường hợp vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật cụ thể tại Điều 128 Bộ luật dân sự 2005 Tuy nhiên, quan điểm này cũng gặp phải vướng mắc khi vận dụng Bởi vì pháp luật hiện hành chỉ quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ hoạt động kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng kí mà không có quy định “cấm” doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề chưa đăng
kí kinh doanh Cho nên nhiều ý kiến cho rằng vi phạm nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh không đồng nghĩa với việc thực hiện điều cấm của pháp luật
Từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng các hợp đồng thương mại được kí kết không phù hợp với nội dung đăng kí kinh doanh hay nói cách khác là không phù hợp điều kiện năng lực chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng thương mại trên thực tế sẽ gặp phải nhiều quan điểm xử lý khác nhau nếu căn cứ quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng vô hiệu
Thứ hai, về hình thức hợp đồng thương mại.
Hợp dồng thương mại vô hiệu do vi phạm các quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng cũng là trường hợp vô hiệu thường gặp Tuy nhiên, hiện nay do áp dụng song song các quy định của Bộ luật dân sự và Luật Thương mại