-Đại hội XII xác định: ” Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồngthời đảm bảo đị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM
Giảng viên:
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 6
Trang 2MỤC LỤC
Câu 1 Công nghiệp hóa là gì? Tính tất yếu khách quan của CNH? Những đặc điểm
cơ bản của CNH trước đổi mới? Phân tích những điều chỉnh quan trọng trong đườnglối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa gắn với thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trungbao cấp (1960-tr 12/1986) (Lý giải thêm tại sao Việt Nam lại lựa chọn mô hình CNHnhư vậy?) 4
Câu 3: Phân tích vai trò của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước Tại sao phát huy yếu tố con người lại là động lực cho sự pháttriển nhanh và bền vững? 9
Câu 4: Cơ chế quản lý kinh tế ở VN trước đổi mới? Những đặc điểm, khuyết tật của
nó? Phân tích những đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về cơ chế quản lý kinh tếcủa Đảng trước năm 1986 Ý nghĩa của nó đối với việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tếthời kỳ tiếp theo? 12
Câu 5: Phân tích quá trình đổi mới tư duy của Đảng về cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Phân tích những đặc điểm cơ bản của mô hình kinh tế tổng quát suốtthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (được xác định tại Đại hội IX năm2001) và ý nghĩa của nó với công cuộc xây dựng XHCN ở Việt Nam 16
Câu 6: Hệ thống chính trị là gì? Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm
những thiết chế nào? Phân tích mối quan hệ giữa các thiết chế trong HTCT Việt Namhiện nay và sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị? 21
Câu 7: Phân tích vai trò đặc biệt quan trọng của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc trong bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện nay? 29
Câu 8: So sánh những nội dung cơ bản của chính sách xã hội trước đổi mới và trong
thời kỳ đổi mới (so sánh trên những tiêu chí cơ bản)? Tại sao trong thời kỳ đổi mới,Đảng CSVN lại nâng tầm các vấn đề xã hội lên thành chính sách xã hội? 31
Câu 9: So sánh đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trước đổi mới và
trong thời kỳ đổi mới (so sánh trên những tiêu chí cơ bản) 31
Trang 3Câu 10: Phân tích những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới và
chứng minh rằng, đường lối đó là phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn? 39
BÀI LÀM
Câu 1 Công nghiệp hóa là gì? Tính tất yếu khách quan của CNH? Những đặc điểm cơ bản của CNH trước đổi mới? Phân tích những điều chỉnh quan trọng trong đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa gắn với thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp (1960-tr 12/1986) (Lý giải thêm tại sao Việt Nam lại lựa chọn mô hình CNH như vậy?)
Trả lời:
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi một cách căn bản, toàn diện các hoạtđộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế- xã hội từ sử dụng sức laođộng thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng vớicông nghệ, phương tiên, phương pháp tiên tiến , hiện đại, dựa trên sự phát triểncủa công nghiệp và tiến bô khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động
xã hội cao
Tính tất yếu khách quan của CNH
- CNH-HDH là con đường phát triển tất yếu của các nước và các dân tộc trênthế giới để tiến lên sản xuất hiện đại Đây là quá trình tạo nên phát triểnnhảy vọt của LLSX cả về chất lượng và số lượng
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-lenin, cơ sở vật chất khoa học- kỹ thuâtcủa chủ nghĩa xã hôi là LLSX cao hơn chủ nghĩa tư bản, chỉ có dựa trên nềntảng của công nghiệp hóa hiện đại hóa thì mới tạo lập được thật sự đầy đủnhững quan hệ sở hữu mới thì xã hội chủ nghĩa mới có điều kiện cơ bản đểxây dựng cơ sở cho xã hội mới
- Do đó C.Mác khẳng định: “Những thời đại kinh tế khác nhau không pahair
ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là chúng sản xuất bằng cách nào, với tưliệu sản xuất nào, các tư liệu lao động không những là cái thước đo mà còn
là chỉ tiêu của mơi quan hện xã hội.”
Trang 4- Để sản xuất ra cùng một loạisản phẩm, trong lao động thủ công, người laodộng phải mất một khoảng thời gian dài, sử dụng công cụ sản xuất thơ sơhơn so với thời kỳ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất.
- Sau cách mạng tháng Tám thắng lợi chưa được bao lâu, thì đất nước lai phảitrải qua cuộc kháng chiến 9 năm, nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề, chỉ cónông nghiệp tăng trưởng rất chậm (tổng giá tri sản lượng nông nghiệpnăm1955 so với năm 1939 tăng 23,9% bình quân 1 năm tăng 1,3%, sảnlượng lúa chỉ tăng 318 nghìn tấn, đạu tương giảm 3,9 nghìn tấn, chè búpkhô giảm 4,4 nghìn tấn….)
- Còn công nghiệp bị sút giảm mạnh ( năm 1955 so với năm 1939, giá trịtổng sản lượng công nghiệp giảm 60,1% sản lượng xi măng giảm 14,4%than giảm 74,4%, muối giảm 33,5%,….)
- Đứng trước tình hình nền kinh tế đất nước đang bi sa sút nghiêm trọng, yêucầu bức thiết đặt ra cho Đảng và Nhà nước là cần thiết phải tiến hành côngnghiệp hóa để đưa Việt Nam trở thành môt quốc gia công nghiệp
- Môt phần là chúng ta đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa với mô hình điển hình
là Liên Xô Mà Liên Xô cũng thực hiện công nghiệp hóa và đạt được nhiềubước tiến lớn nên nước chúng ta cũng theo mô hình Liên Xô và thực hiệncông nghiệp hóa
- Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, nước ta là một nước côngnghiệp vốn lạc hạu, sản xuất nhỏ là chủ yếu nên dứt khoát phát triển tiếnhành công nghiệp hóa để tạo ra một trình độ phát triển mới về kinh tế- xãhội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước có điều kiện củng cố quốcphòng an ninh, giữ vững, ổn định chính trị, bảo vệ độc lập chủ quyền của tổquốc Tức Đảng ta đã khẳng định tính tất yếu của công nghiệp hóa đối vớicông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Đặc điểm cơ bản của công nghiệp hóa trước đổi mới
Nhìn cung trong thời kỳ này, chúng ta đã nhận thức và tiến hành công nghiêp hóatheo kiể cũ với các đặc trưng chủ yếu:
Trang 5- Công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên vềphát triển công nghiệp nặng.
- Công nghiệp hóa chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động tài nguyên, đất đai vànguồn lực để công nghiệp hóa được thực hiện thông qua cơ chế kế hoạchtập trung quan liêu, bao cấp không tôn trọng các quy luật thị trường
- Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham là nhanh, làm lớn, không quantâm tới hiệu quả kinh tế xã hội
Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa
Có thể nói, quá trình đổi mới tư duy của Đảng về CNH được khởi động từđai học V (3/1982) với những điều chỉnh bước đầu về tốc độ, bước đi và nộidung chính cảu CNH trong chặng đường trước mắt Tuy nhiên, phải đến đại hộ
VI của Đảng (12/1986), quá trình đổi mới tư duy về CNH mới chính thức đượcbắt đầu bằng việc cỉ ra và phê phán những sai lầm trong nhậ thức và chủtrương CNH thời kỳ 1960-1985
+ Sai lầm trong việc xác đinh mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật, cải tạo XHCN và uản lý kinh tế Do tư tưởng chỉ đạo chủquan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên chúng ta đã chủtrương đẩy mạnh CNH trong khi chưa có đủ các tiền đề cân thiết
+ Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư,thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không kết hợp chặt chẽngay từ đầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý, thiên vềxây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tậptrng sức giải quyết các vấn đề căn bản về lương thực, thực phẩm, hàng tiêudùng và hàng suất khẩu Đầu tư nhiều nhưng hiêu quả thấp
+ Không thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết của Đại hội lần thứ V, vẫnchưa thật sự coi nông nghiệp là mặt trần hàng đầu, công nghiệp nặng khôngphục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
- Từ việc chỉ ra những sai lầm đó, Đại hội VI của Đảng đã cụ thể hóa nộidung chính của CNH XHCN trong những năm còn lại của chặng đường
Trang 6đầu tiên của thờ kỳ quá độ là thưc hiện cho bằng được ba chương trình mụctiêu: lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Đây là mốc đánh dấu tư duy cảu Đảng về CNH đã cụ thể và phù hợp hơnvới đặc điểm, tình hình đất nước
- Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã tổng kết và xác định: phải tiếp tục đẩymạnh ba chương trình kinh tế mà Đại hộ VI đã đề ra và từng bước xây dựng
co cấu kinh tế mới theo yêu cầu CNH XHCN, phải phát huy sức mạnh cảucác thành phần kinh tế
- Hội nghị Trung Ương 7 khóa VII (7/1994), đã co bước đột phá mới trongnhận thức về CNH, đó là nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa, hiện đạihóa: “CNH, HDH là quá trình chuyển đổi một cách căn bản, toàn diện cáchoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế- xã hội từ sửdụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sứclao động cùng với công nghệ, phương tiên, phương pháp tiên tiến , hiện đại,dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bô khoa học công nghệ nhằmtạo ra năng suất lao động xã hội cao”
- Đại hội VIII cảu Đảng (6/1996) xác định chiến lược CNH, HDH đất nước,mục tiêu là xây dựng nước ta thành nước công nghiệp có cơ ở vật chất kỹthuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thầncao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội cong bằng,văn minh Phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta thành một nước côngnghiệp
Đại hội VIII đưa ra 6 quan điểm về CNH, HDH:
+ Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với với mở rộng hợp tác quan hệ quốc tế, đaphương hóa đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, dựa vào nguồn lực trong nước làchính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực ben ngoài, xây dựng một nền kinh
tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thờithay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả
Trang 7+ CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đókinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
+ Trong quá trình CNH, HDH phải chú ý tới nguồn lực con người
+ Động lực của CNH, HDH là khoa học và công nghệ
+ CNH, HDH phải chú ý đến tính khả thi, tính hiêu quả
+ Kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh
Đại hội VIII xác định nội dung cơ bản của CNH, HDH:
+ Phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn
+Xây dựng kết cấu hạ tầng
+ Phát triển du lịch,dịch vụ
+ CNH, HDH nông nghiệp, nông thôn
- Đại hội IX 4/2001 và đại hội X (4/2006) của Đảng tiếp tục bổ sung nhấnmạnh một số điểm mới về CNH:
+ Con đường CNH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với cácnước đi trước Tuy nhiên cần thực hiện các yêu cầu như: Phát triển kinh tế
và công nghệ phải vừa có những bước tuân tự, vừa có bước nhảy vọt;pháthuy lợi thế của đất nước, gắn CNH với HDH, từng bước phát triển kinh tếtri thức, phát huy nguồn nhân lực trí tuê cao và sức mạnh tinh thần của conngười Việt Nam, đặc biệt là coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoahọc công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho CNH, HDH
+ Phát triển nhanh và có hiệu quả các sản phẩm, các sản phẩm, các ngành,các lĩnh vực có thể có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu + CNH, HDH đất nước phải đảm bải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,chủ động hôi nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hàn CNH, HDH trongmột nền kinh tế mở, hướng ngoại
+ Đẩy nhanh CNH, HDH nông nghiệp nông thôn hướng vào việc nâng caonăng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp
Trang 8Câu 2: So sánh đường lối công nghiệp hóa của Đảng trước đổi mới (từ năm trước tháng 12-1986) và thời kỳ đổi mới (từ 12-1986 đến nay) (so sánh trên
1960-những tiêu chí cơ bản) (Lý giải thêm Tại sao Việt Nam lại thay đổi mô hình CNH?)
Câu 3: Phân tích vai trò của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại sao phát huy yếu tố con người lại là động lực cho
sự phát triển nhanh và bền vững?
Trả lời:
- “Nguồn nhân lực”, “nguồn lực con người” là những khái niệm được hình thành trongquá trình xem xét, nghiên cứu con người với tư cách là nguồn lực cơ bản trongphương thức sản xuất, yếu tố chính trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
- Phát triển nguồn lực con người là phát triển con người cả về trí lực và thể lực, cả vềkhả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm và tâmhồn; có thể không cần đông về số lượng, nhưng cần có chất lượng Khi chuyển dầnsang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức trong toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, nguồnlực con người đặc biệt là nguồn lực con người có chất lượng ngày càng thể hiện vaitrò quyết định của nó
- Thực trạng CNH, HĐH đất nước đòi hỏi phải có nguồn nhân lực Đối với Việt Nam,nguồn lực tài chính còn hạn chế, nên nguồn lực con người đương nhiên đóng vai tròquyết định So với nước láng giềng chúng ta có lợi thế đông dân, tuy nhiên nếu khôngđược qua đào tạo thì dân đông sẽ là gánh nặng dân số, còn nếu được qua đào tạo chuđáo thì đó sẽ là nguồn nhân lực lành nghề, có tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng
và phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Một đội ngũ nhân lực lao động lành nghề
và đồng bộ cũng tạo nên sức hấp dẫn to lớn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ViệtNam
Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế- xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điềukiện, nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người Khẳng định trên lại càngđúng với hoàn cảnh nước ta trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
Trang 9XHCN, và cùng với xu thế hội nhập Do vậy hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồnnhân lực phải chiếm vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước ta Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nhân tố quan trọng bậc nhất để đưanước ta nhanh chóng trở thành 1 nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh Để thực hiện được mục tiêu này cần CNH, HĐH rút ngắn bằngcách CNH gắn với HĐH, chứ không thể lặp đi tuần tự như chủ nghĩa tư bản đã làm.-Thế giới Việt Nam đang chuyển sang nền kinh tế tri thức- nền kinh tế dựa trên độnglực là sáng tạo cái mới về khoa học kỹ thuật Như vậy, sự phát triển của xã hội chủyếu dựa trên nền tảng văn minh về trí tuệ con người Nền kinh tế tri thức được hìnhthành trên nền tảng phát triển các nghành nghề mới như công nghệ sinh học, côngnghệ năng lượng mới, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, Điều này đòi hỏiphải đào tạo, phát triển và nâng cao trình độ nhân lực cho các ngành nghề này.
-Phát triển con người trong quá trình CNH, HĐH là xu hướng phát triển của các nướctrên thế giới Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của Việt Nam để thực hiện mụctiêu xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ , công bằng, văn minh” Nói cách khácnguồn lực con người phải trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở tấtyêu khách quan sự nghiệp CNH, HĐH
* Phát huy yếu tố con người lại là động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững vì:-Sự tồn tại bền vững và phát triển theo con đường tiến bộ xã hội của 1 quốc gia, dântộc nào cũng phụ thuộc 5 nguồn lực chủ yếu: vốn; khoa học công nghệ; con người; cơcấu kinh tế; thể chế chính trị và quản lý nhà nước trong đó, nguồn lực con người đượccoi là yếu tố căn bản, quyết định nhất, vì:
+ Các nguồn lực khác không có khả năng tự thân mà phải thông qua nguồn lực conngười mới phát huy được tác dụng
+ Các nguồn lực khác dùng thì hết, trái lại nguồn lực con người càng dùng càng pháttriển
-Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế,trong đó lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lý và đội ngũ côngnhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng Nguồn nhân lực cho CNH, HĐH đòi
Trang 10hỏi phải đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và trình độ, có khả năng nắm bắt và sử dụngcác thành tựu khoa học và công nghệ mới.
-Về kinh tế
+ Bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định Để có tăngtrưởng kinh tế phải có các nhân tố tất yếu: nhân tố tự nhiên, nhân tố con người, cácyếu tố vật chất do con người tạo ra (công nghệ, vốn)
Bởi vì về mặt kinh tế, nguồn lực con người xem xét chủ yếu dưới góc độ là lực lượnglao động cơ bản của xã hội, cả trong hiện tại và tương lai Vai trò của người lao độngđược V.I.Lenin nhấn mạnh là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại Con người làmột đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất Nếu người lao động có kỹ năng lao động,trình độ khoa học – kỹ thuật thì hiển nhiên là năng suất lao động sẽ cao hơn Conngười là chủ thể khai thác, sử dụng các nguồn lực khác, chỉ khi kết hợp với con người,các nguồn lực khác mới phát huy tác dụng Mặt khác, con người là khách thể, là đốitượng khai thác các năng lực thể chất và trí tuệ cho sự phát triển Vậy con người vừa
là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình kinh tế - xã hội, là nguồn lực của mọi nguồnlực
+ Đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệmđược việc khai thác sử dụng các nguồn lực khác Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trênthế giới cho thấy đầu tư cho sự phát triển nguồn lực con người mang lại tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao và ổn định hơn Mặt khác hiệu quả đầu tư cho phát triển con người
có độ lan tỏa đồng đều, nó mang lại sự công bằng hơn về cơ hội phát triển cũng nhưviệc hưởng thụ các lợi ích của sự phát triển
+ Kinh tế tăng trưởng mang lại sự giàu có về vật chất, suy cho cùng, không ngoàimục đích đáp ứng tốt hơn các nhu cầu sống của bản thân con người Vậy con ngườikhông chỉ là động lực mà còn là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế
-Về xã hội:
+ Bền vững về mặt xã hội là phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa đói giảmnghèo, lấy chỉ số phát triển con người làm mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội
Trang 11(được cụ thể hóa qua chỉ số phát triển con người HDI, chỉ số bất bình đẳng thu nhậpGINI, chỉ số phát triển giới GEM)
+ Ở đây, vị trí trung tâm của con người nổi lên với tư cách là mục tiêu cao nhất của
sự phát triển xã hội Mục tiêu của sự phát triển bền vững chủ yếu không phải là tạo ranhiều hàng hóa, của cải mà nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người, khôngphân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền Vậy, để phát triển xã hội bềnvững, trước hết cần phát triển con người 1 cách bền vững, hay làm tăng năng lực vàphạm vi lựa chọn của con người để họ có 1 cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc
Câu 4: Cơ chế quản lý kinh tế ở VN trước đổi mới? Những đặc điểm, khuyết tật của nó? Phân tích những đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về cơ chế quản lý kinh tế của Đảng trước năm 1986 Ý nghĩa của nó đối với việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế thời kỳ tiếp theo?
Trả lời:
*Cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam trước đổi mới là Cơ chế kế hoạch hoá tập trungquan liêu, bao cấp với những đặc điểm cụ thể như sau:
- Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên
hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanhnghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩmquyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất,nguồn vật tư, tiền vốn; định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiềnlương đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu
kế hoạch cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sảnphẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
- Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp nhưng lại chịu trách nhiệm gì về vật chất vàpháp lý đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do cácquyết định không gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu Các doanh
Trang 12nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràngbuộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh.
- Quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật làchủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ "cấp phát - giao nộp"
Vì vậy, rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sángchế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý
- Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năngđộng, vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền,quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động
Những khuyết tật của cơ chế thị trường này:
- Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn nhiềulần so với giá trị thực với chúng trên thị trường (Bao cấp qua giá) Do đó,hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
- Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, côngnhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu (bao cấp qua chế độ temphiếu) Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biếnchế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực tích thích ngườilao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
- Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tàiràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đóvừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốnkém hiệu quả, nảy sinh cơ chế "xin - cho"
- Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chếnày có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh
tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặcbiệt trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển côngnghiệp nặng Nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học -công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kíchthích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh Khi nền
Trang 13kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ
sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học — công nghệ hiệntại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm chokinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; trong đó có nước ta, lâm vàotình trạng trì trệ, khủng hoảng
- Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường,chúng ta xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xãhội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thịtrường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch Không thừa nhậntrên thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá
độ, lấy kinh tế quốc doanh, và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sởhữu tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ,khủng hoảng
*Những đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về cơ chế quản lý kinh tế của Đảngtrước năm 1986 và ý nghĩa của nó đối với việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế thời kỳtiếp theo:
• Bước 1: Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (8-1979)
- Hội nghị phủ định một số yếu tố của thể chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
- Thừa nhận sự cần thiết phải kết hợp kế hoạch với thị trường (tuy nhiên thị trườngvẫn được coi ở vị trí thứ yếu, bổ sung cho kế hoạch
- Nhận thấy sự cần thiết phải kết hợp nhiều loại lợi ích, huy động vai trò của tiểuthương, cá thể, tiểu chủ… làm cho sản xuất bung ra
Như vậy, Hội nghị đã đột phá vào khâu quan trọng nhất của cơ chế kế hoạch hóa tậptrung quan liêu bao cấp: Chế độ công hữu và kế hoạch hóa trực tiếp
• Bước 2: Chỉ thị 100, Quyết định 25 CP, 26CP của Chính phủ (1981)
- Nội dung các chỉ thị, quyết định trên là nhằm giải phóng sức sản xuất Những điềuchỉnh này đã tạo ra hình thái song song tồn tại giữa kinh tế công hữu kế hoạch hóa vớiphi công hữu và thị trường tự do Đây là nét đặc thù từ sau Hội nghị Trung ương 6
“Cộng sinh” và “xung đột” giữa hai loại cơ chế kinh tế, hai loại thị trường là đặc trưng
Trang 14cơ bản của thời kỳ manh nha cho sự ra đời của thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN ở Việt Nam.
• Bước 3: Đại hội V của Đảng (1982)
- Nhấn mạnh: Xác lập chế độ quản lý và kế hoạch hóa đúng đắn, đổi mới chế độ quản
lý và kế hoạch hiện hành Xóa bỏ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp
- Về kế hoạch hóa nền kinh tế, kế hoạch phải thấu suốt nguyên tắc hạch toán kinhdoanh XHCN
- Để chấn chỉnh và phát huy tốt vai trò của phân phối lưu thông, Đại hội chủ trươngkết hợp chặt chẽ cả ba biện pháp quản lý: Kinh tế, hành chính, giáo dục, trong đó biệnpháp kinh tế là gốc Như vậy, Đảng đã nhận thức được vai trò của các biện pháp kinh
tế, của các động lực kinh tế, thay vì đề cao, tuyệt đối hóa các biện pháp hành chínhmệnh lệnh như trước đây
• Bước 4: Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (6-1985)
- Chủ trương xóa bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, chuyển sang hạch toánkinh doanh XHCN, thừa nhận quy luật của sản xuất hàng hóa
- Đề cập ba nội dung quan trọng của cái cách: Giá cả, tiền lương, tiền tệ (giá – lương –tiền)
+ Giá cả: Thực hiện cơ chế một giá thống nhất và đánh giá đúng, đủ chi phí cho giáthành sản phẩm
+ Tiền lương: Xóa bỏ chế độ tiền lương hiện vật, thực hiện tiền lương tiền tệ gắn vớixóa bỏ bao cấp Chế độ tiền lương phải đảm bảo cho người lao động tái tạo sức laođộng và gắn với chất lượng và hiệu quả lao động
+ Tiền tệ: Đổi mới lưu thông tiền tệ; thu hút tiền nhàn rỗi; đẩy nhanh nhịp độ quayvòng đồng tiên; chuyển ngân hàng sang hạch toán kinh doanh XHCN
Đề cập đến sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI khẳng định:
“Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ” Chính
vì vậy, việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cấp thiết và cấp bách
Trang 15Câu 5: Phân tích quá trình đổi mới tư duy của Đảng về cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phân tích những đặc điểm cơ bản của mô hình kinh tế tổng quát suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (được xác định tại Đại hội IX năm 2001) và ý nghĩa của nó với công cuộc xây dựng XHCN ở Việt Nam
Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII: Đây là giai
đoạn hình thành và phát triển tư duy của Đảng về kinh tế thị trường So với thời kỳtrước đổi mới, nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay đổi căn bản và sâu sắc:
- Kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựuphát triển chung của nhân loại
-Kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã đưa ra kết luận quan trọng rằng sản xuất hàng hóakhông đối lập với chủ nghĩa xã hội và khẳng định tiếp tục đường lối xây dựng nềnkinh tế thị trường nhiều thành phần
-Cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội XII:
- Đại hội IX khẳng định: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách pháttriển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sựquản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 16- Đại hội X làm rõ hơn về định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ởnước ta đó là: Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trường toàn cầu,hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và đầy đủ hơn
Đảng chủ trương: "Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa" Bốn tiêu chí quan trọng nhất là:
+Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta
+ Nâng cao vai trò và hoàn thiện quản lý của Nhà nước
+ Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bảntheo cơ chế cạnh tranh lành mạnh
+Phát triển mạnh các thành phần kinh tế và các loại hình sản xuất, kinh doanh
-Đại hội XII xác định: ” Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồngthời đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
- Tóm lại, sự thay đổi tư duy về KTTT từ ĐH IX đến ĐH XII thể hiện ở những điểm
cơ bản sau đây:
+ Về mục đích phát triển: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân;đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chínhđáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn (Mục đích vì conngười)
+ Về phương hướng phát triển: Phát triển các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trởthành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
+ Về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngaytrong từng bước đi và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ
và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn
đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người
Trang 17+ Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, đảm bảo vai trò quản lý,điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo củaĐảng
*Những đặc điểm cơ bản của mô hình kinh tế tổng quát suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Về định hướng XHCN: Kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế,
là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nềntảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, thực hiện mục đích phát triển LLSX, xâydựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, phát triển LLSX hiện đại gắn liền với việcxây dựng QHSX tiên tiến Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển vàlành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽphát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan
hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp
- Về những biện pháp xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; phát triển đồng bộ và
quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lànhmạnh; phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinhdoanh
- Về chế độ phân phối: Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và
hiệu quả kinh tế, khuyến khích và đãi ngộ xứng đáng tài năng, đồng thời phân phốitheo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông quaphúc lợi xã hội Đây là một nguyên tắc phân phối công bằng trong hoàn cảnh thu nhậpkinh tế còn thấp
- Về thị trường: Hình thành và phát triển hệ thống thị trường ở Việt Nam Để thúc đẩy
sự hình thành, phát triển hệ thống thị trường thì phải đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản
lý kinh tế; bảo đảm hình thành và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường của từngloại thị trường, phù hợp với bước đi, lộ trình chuyển đổi thể chế kinh tế và điều kiệnphát triển kinh tế - xã hội Tính pháp lý cạnh tranh của các chủ thể tham gia thị trườngphải được bảo đảm; sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường phải được
Trang 18nâng cao; kích cầu để nâng cao sức mua của thị trường trong nước, nhất là sức muacủa thị trường nông thôn.
- Vấn đề chủ thể và chủ đạo trong kinh tế thị trường định hướng XHCN: Thực hiện
chế độ công hữu về TLSX (sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) trên cơ sở đa dạng hóacác quan hệ sở hữu Chế độ công hữu không có nghĩa là công hữu tất cả TLSX, màchỉ công hữu các TLSX chủ yếu là nền tảng của nền kinh tế quốc dân Phân biệt rõquyền sở hữu và quyền kinh doanh các TLSX và các tài sản khác trong kinh tế nhànước Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tếquốc dân Song, việc phát triển kinh tế tư nhân được coi như một động lực thúc đẩy sựphát triển của kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường
- Về phân bổ các nguồn vốn: Chuyển dịch cơ chế phân bổ các nguồn vốn vay Nhà
nước mang tính hành chính sang cho vay theo cơ chế thị trường, triệt để xoá bao cấptrong kinh doanh; hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh
-Phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hóa, xã hội: Hướng vào phát triển
và lành mạnh hóa xã hội; thực hiện công bằng xã hội, coi đó là nội dung rất quantrọng của định hướng XHCN; bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới, nhằm tạođộng lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, thực hiện sự bình đẳng
và điều tiết các quan hệ xã hội; khuyến khích người dân làm giàu một cách hợp pháp;giữ vững môi trường chính trị - xã hội ổn định, an ninh trật tự tốt
- Về hội nhập kinh tế quốc tế: Coi vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế là đường lối chiến lược để phát triển kinh tế, đa dạnghóa thị trường và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại; chủ động hội nhập kinh tếkhu vực và quốc tế; củng cố các thị trường truyền thống; ra sức khai thác, phát triểnthị trường mới, thúc đẩy kinh tế phát triển Việt Nam sẵn sàng đón đối tác, làm bạnvới các nước để hợp tác và cùng nhau phát triển lâu dài
- Về vai trò của Đảng và Nhà nước trong kinh tế thị trường: Đảm bảo sự lãnh đạo của
Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước Đây là vấn đề mang tính bản chất của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, Nhànước quản lý bằng luật pháp, chính sách, bằng các công cụ quản lý vĩ mô Thực hiện
Trang 19sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước sẽ hạn chế tính tự phát TBCN,bảo đảm định hướng XHCN cho sự phát triển kinh tế thị trường, thực hiện sự kết hợphài hòa giữa chính trị và kinh tế thị trường, giữa kế hoạch và thị trường, giữa tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Có thể thấy rằng, mô hình kinh tế tổng quát trên là một hệ thống thống nhất giữaQHSX với LLSX, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Trong đó, vị trí, chứcnăng và các mối quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là một “thiết chế xã hội” với thịtrường và với tư cách là “một thực thể kinh tế lớn” trong nền kinh tế đã được xác định
rõ ràng, làm cho các công cụ, chính sách của Nhà nước tác động và điều tiết nền kinh
tế thị trường trở nên hiệu quả hơn, có khả năng dẫn dắt nền kinh tế phát triển đúngđịnh hướng XHCN Đây là một trong những nhận thức mới của Đảng về CNXH vàcon đường đi lên CNXH ở Việt Nam
Một số đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
- Đó là nền kinh tế có mức tăng trưởng cao và bền vững, LLSX được phát triển trên
cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ mới cùng đội ngũ lao động cótrình độ chuyên môn cao
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu tổ chức kinh tế dựa trên nguyên
tắc quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời được dẫn dắt, định hướng bởi nguyên tắc
và bản chất của CNXH nhằm thực hiện thành công mục tiêu dân giàu nước mạnh xãhội công bằng dân chủ và văn minh
- Mục tiêu của phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là nâng cao đời sống
của nhân dân, đảm bảo công bằng xã hội, hạn chế những bất bình đẳng trong thu nhập,bảo vệ môi trường, bản sắc văn hoá dân tộc, ổn định chính trị, xã hội và an ninh quốcphòng
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nền kinh tế mở và mang tính quốc tế
hoá, khu vực hoá Phát triển triển kinh tế thị trường định hướng XHCN phải góp phầnnâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ về kinh tế
Ý nghĩa của việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trang 20Sự lựa chọn mô hình phát triển "Kinh tế thị trường định hướng XHCN" là sự khẳngđịnh quyết tâm khắc phục triệt để hệ thống kế hoạch hoá tập trung (đồng nghĩa vớinền kinh tế phi thị trường và lạc hậu), để xây dựng hệ thống kinh tế thị trường pháttriển (kinh tế thị trường định hướng XHCN) Nói rõ hơn, đây không phải là nền kinh
tế thị trường bất kỳ hoặc dập khuôn theo kinh tế thị trường TBCN (đã và đang bị phủđịnh) Đây là hệ thống kinh tế thị trường văn minh, đảm bảo định hướng cao về mặt
xã hội, tuân theo nguyên tắc xã hội hoá - XHCN
- Đây là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu và văn minh nhân loại, nhằm phát huynhững thế mạnh của kinh tế thị trường, chủ động hướng kinh tế thị trường phục vụcho việc nâng cao đời sống nhân dân, sự phồn vinh và hạnh phúc toàn xã hội
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là thấm nhuần sự kết hợp giữa tínhtất yếu thời đại với nhu cầu phát triển của dân tộc với các giá trị truyền thống dân chủ,nhân văn Đó là sự vận dụng sáng tạo quy luật chung vào những hoàn cảnh cụ thể củađất nước
Khẳng định quyết tâm và vai trò sáng tạo rất cao của kiến trúc thượng tầng chính trị pháp luật là ĐCS, Nhà nước pháp quyền XHCN, nhằm tạo lập thể chế kinh tế thịtrường văn minh, theo định hướng XHCN Việc nhận thức và vận dụng các quy luậtkhách quan cũng như vai trò lãnh đạo của chủ thể và kiến trúc thượng tầng chính trị –pháp lý XHCN là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công quá trình xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Mọi sự vô hiệu hoá vai trò của Nhànước trong kinh tế thị trường sẽ chỉ dẫn tới sự hỗn loạn và bất ổn định về kinh tế -chính trị - xã hội
-Câu 6: Hệ thống chính trị là gì? Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm những thiết chế nào? Phân tích mối quan hệ giữa các thiết chế trong HTCT Việt Nam hiện nay và sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị?
Trả lời:
1 Khái niệm hệ thống chính trị
Trang 21a Hệ thống chính trị là khái niệm của khoa học chính trị đương đại - là một
trong những khái niệm phản ánh đặc trưng của những quan hệ quyền lực chính trị;cũng như các bộ phận, các nhân tố tham gia vào các quá trình, quy trình chính trịtrong thể chế chính trị dân chủ hiện đại (dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ tư bản chủ
nghĩa) Liên quan đến vấn đề này có nhiều quan niệm khác nhau:
- Hệ thống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó Hệ thống này bao gồm Nhà nước, các Chính đảng, các Nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị khác - trong đó Nhà nước là yếu tố cơ bản, trung tâm.
- Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội
- Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được chế định theo tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó…
- Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được chế định theo
tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó.
- Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm nhà nước, các đảng chính trị, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức chính trị -
xã hội hợp pháp được liên kết với nhau nhằm tác động vào mọi mặt của đời sống xã hội để củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể cầm quyền.
2 Các thiết chế trong hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam
Trong cấu trúc của hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam hiện nay có thể phân biệt baloại thiết chế là:
Trang 22- Tổ chức chính trị (Đảng cộng sản Việt Nam), Nhà nước Cộng hòa XHCNViệt Nam;
- Tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng nhưĐoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh;
và một số tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp như Liên hiệp các hội khoa học, kĩthuật Việt Nam, Liên hiệp các hội hữu nghị Việt Nam, Hội nhà báo Việt Nam
- Tổ chức xã hội: Các hiệp hội kinh tế, các tổ chức xã hội nghề nghiệp và các tổchức xã hội khác
Các tổ chức chính trị - xã hội thống nhất giữa hai mặt chính trị và xã hội Điềunày thể hiện sự tập hợp đoàn kết các lực lượng quần chúng đông đảo để thực hiện cácnhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Phương thức tổ chức và hoạt động của các
tổ chức này tuy khác với tổ chức Đảng và các cơ quan nhà nước nhưng đều gắn chặtvới việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó Các tổchức chính trị - xã hội là hình thức tổ chức động viên, triển khai nguồn lực con ngườicho các mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong công cuộc do Đảnglãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lí Cùng với Đảng, Nhà nước, các tổ chức chínhtrị - xã hội hợp thành hệ thống chính trị Việt Nam, trong đó Đảng giữ vai trò và trọngtrách là người lãnh đạo trực tiếp Trong hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam, với tínhchất chính trị và tính chất xã hội rộng lớn, các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò làngười tổ chức, vận động đông đảo quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ đặt rađối với cách mạng Việt Nam thông qua những hình thức phù hợp
Mỗi loại tổ chức chính trị - xã hội lại có vai trò riêng, chẳng hạn Mặt trận Tổquốc Việt Nam là liên minh chính trị - tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đoàn thểnhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc,tôn giáo; là tổ chức đại diện cho ý chí đại đoàn kết và nguyện vọng chân chính củanhân dân; nơi tập hợp trí tuệ của con người Việt Nam yêu nước, nơi thống nhất hànhđộng giữa các tổ chức thành viên, phối hợp với chính quyền thực hiện nền dân chủ,chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; giám sát, bảo vệ, thamgia xây dựng nhà nước, quản lí xã hội Mặt trận Tổ quốc có chức năng tham chính,tham nghị và giám sát; đoàn kết nhân dân, chăm lo đời sống, lợi ích của các thành
Trang 23viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ công dân, thắtchặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn củagiai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằmmục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớnmạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng củangười lao động, phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủnghĩa xã hội
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có tính chất quần chúng và tính chất giaicấp công nhân, có chức năng: Đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chínhđáng của công nhân viên chức lao động; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế -
xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế;giáo dục, động viên công nhân viên chức lao động phát huy quyền làm chủ đất nước,thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội tập hợptầng lớp thanh niên, là đoàn thể của các thanh niên ưu tú, đội hậu bị của Đảng Tổchức Đoàn được thành lập trên phạm vi cả nước, có mặt ở hầu hết các cơ quan, đơn vị,
tổ chức từ trung ương đến cơ sở nhằm thu hút thế hệ trẻ vào những hoạt động xã hội
bổ ích, lành mạnh, qua đó giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho đoàn viên thanhniên
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giới nữ, có chức năngđại diện cho quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ,tham gia quản lý Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng Hội đoàn kết, vận động, tổchức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân doĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hội nông dân ViệtNam vận động giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tậpnâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng
Trang 24Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi ích của nông dân Việt Nam.Hội Cựu chiến binh Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong hệthống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội.Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến binhgiữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng,chính quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh,chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiếnđấu
Ngoài các tổ chức trên đây, nhiều tổ chức xã hội khác cũng được coi là tổ chứcchính trị - xã hội như Liên hiệp các hội khoa học kĩ thuật Việt Nam (VUSTA), HộiNhà báo Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ ViệtNam Đây là điểm có ý nghĩa rất quan trọng đồng thời cũng là một xu hướng pháttriển của các thiết chế xã hội trong thời kì đổi mới, nhất là ở giai đoạn đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một số hội nghề nghiệp, hội của cácnhà trí thức, các nhà khoa học, không chỉ đơn thuần mang tính chất đoàn thể xã hội
mà các tổ chức này cũng đóng vai trò to lớn trong việc thực hiện các nhiệm vụ chínhtrị của đất nước Hơn bao giờ hết, hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang động viên vàphát huy cao độ vai trò của đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, các doanh nhân trongviệc hoạch định và thực thi đường lối, chính sách phát triển đất nước Có thể nói rằng
đó là xu hướng tất yếu trong quá trình xây dựng và củng cố nền dân chủ XHCN ở ViệtNam mà một trong những biểu hiện có tính đặc trưng là sự tác động tương hỗ dẫn đến
sự hài hòa hóa giữa các yếu tố chính trị và kinh tế - xã hội
Như vậy, có thể nhận thấy rõ rằng trong hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam,các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò vừa là trung tâm đoàn kết, tập hợp đông đảocác lực lượng quần chúng nhân dân (tính chất xã hội), đại diện và bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp, chính đáng của các thành viên vừa thực hiện vai trò nền tảng chính trịcủa chính quyền nhân dân, tổ chức động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm
Trang 25vụ chính trị của Đảng và Nhà nước So với các tổ chức xã hội khác, vai trò này củacác tổ chức chính trị - xã hội có tính trực tiếp hơn trong việc phục vụ sự nghiệp cáchmạng theo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Bên cạnh các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội truyền thống và những tổ chức
xã hội đã và đang phát triển thành tổ chức chính trị - xã hội như nêu trên, trong hệthống chính trị - xã hội Việt Nam còn có hàng trăm tổ chức xã hội khác Các tổ chức
xã hội loại này đang ngày càng nhiều và gồm các hình thức tổ chức phong phú nhưcác hiệp hội kinh tế, hội nghề nghiệp, các hội quần chúng tập hợp theo sở thích, ýnguyện, các tổ chức hoạt động tương trợ xã hội không nhằm mục đích lợi nhuận Đặcđiểm chung của các tổ chức xã hội là tính phi chính trị và phi lợi nhuận Điều này cónghĩa, các tổ chức này hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, bảo
vệ và phát triển lợi ích chung của các thành viên Các tổ chức này về bản chất sinh rakhông phải để trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước
Bên cạnh tính phong phú, đa dạng là đặc điểm lớn của các tổ chức xã hội, các
tổ chức xã hội còn có một đặc điểm khác là ngày càng xuất hiện sự liên kết, tập hợpcác lực lượng lớn hơn trên cơ sở những sự tương đồng về lợi ích và ý nguyện Đócũng là xu thế khách quan của xã hội dân sự mà chúng ta cần biết phát huy điểm tíchcực và hạn chế mặt tiêu cực
Ngày nay, vai trò của các tổ chức xã hội đang dần được xác định một cáchđúng đắn hơn trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa và một xã hội dân sự Không phải chỉ bây giờ mà từ rất xa xưa, việcquản lí xã hội trước hết và phần lớn vốn thuộc về chức năng của các tổ chức xã hội(trong đó có cả gia đình) Trong xã hội hiện đại cũng cần phải như vậy, với tư duy
“nhà nước nhỏ, xã hội lớn” thì vị trí của các tổ chức xã hội được mô hình hoá như một
“cái bệ đỡ” lớn, vững chắc cho sự tồn tại của các thiết chế chính trị là Đảng, Nhànước Gốc có to, cây mới vững bền, đó là một triết lí đơn giản nhưng đầy ý nghĩa đốivới hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam
Trong điều kiện hiện nay, điều đáng chú ý là các hội nghề nghiệp, hiệp hội kinh
tế ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng Và theo nguyên lí về mối liên hệ giữa kinh tếvới chính trị thì các tổ chức hội đoàn kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống chính
Trang 26trị, luật pháp của nước ta theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Đó cũng là xuhướng có tính khách quan trong sự phát triển của nền dân chủ hiện nay Điều này dùkhông trực tiếp quyết định thể chế chính trị, luật pháp nhưng việc ban hành và thực thichính sách, pháp luật không thể không tính đến nhu cầu, lợi ích cũng như vai trò tưvấn, phản biện, giám định xã hội hay sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội nghềnghiệp, các hiệp hội kinh tế vào quá trình đó.
Như vậy, trong hệ thống chính trị - xã hội ngày nay, các tổ chức xã hội đóngvai trò năng động tích cực hơn so với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Các tổ chức
xã hội không phải là kênh biệt lập với hệ thống chính trị mà ngày càng tham gia mạnh
mẽ, tác động lớn lao đến kết quả hoạt động của hệ thống chính trị Vì thế có thể quanniệm rằng hệ thống xã hội là hệ thống phản hồi với hệ thống chính trị, giám sát hoạtđộng của hệ thống chính trị Nếu nhìn từ góc độ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì cảhai hệ thống chính trị và hệ thống các tổ chức xã hội đều là những kênh thực hiệnquyền lực nhân dân Hệ thống chính trị tác động đến xã hội trên cơ sở quyền lực giaicấp - xã hội, đảm bảo sự định hướng và dẫn dắt, điều hành sự phát triển của cả xã hội
Do đó, hệ thống chính trị đảm bảo tính thống nhất của ý chí, nguyện vọng và quyềnlực nhân dân Hệ thống xã hội đảm bảo tính nhân bản và tính đa dạng của đời sống xãhội Hệ thống xã hội không phải là hệ thống thụ động chịu sự tác động của hệ thốngchính trị, phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống chính trị mà cũng có vai trò, trách nhiệmchung với sự phát triển toàn diện của đất nước Cả hai hệ thống đó không thể thiếuvắng và thay thế vai trò cho nhau Nếu hệ thống này không tốt thì tất yếu dẫn đến sựbấp cập của hệ thống kia và ngược lại Vì vậy, cả hai hệ thống chính trị và hệ thống xãhội hòa hợp thành thể thống nhất được gọi là hệ thống chính trị - xã hội Tuy nhiên,điểm cần chú ý trong mối liên hệ biện chứng giữa hai hệ thống này là nếu hệ thốngchính trị không có mục đích tự thân thì ngược lại hệ thống xã hội trong khi hoạt động
vì mục tiêu cho chính hệ thống mình (mang tính xã hội) có nhu cầu và mong muốn tácđộng đến hệ thống chính trị một cách tự nhiên Thành ra, dù khác nhau về phươngthức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động nhưng nhìn tổng thể mục tiêu của cả hai hệthống cuối cùng đều thống nhất ở chỗ vì con người, vì một xã hội tốt đẹp