Công nghiệp hóa Khái niệm: Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi một cách căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sứclao độn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: TS PHẠM THỊ LƯƠNG DIỆU
Thực hiện: Sinh viên nhóm 5
Trang 2Danh mục các từ viết tắt:
CNH: Công nghiệp hóa
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Trang 3Câu 1: Công nghiệp hóa là gì? Tính tất yếu khách quan của CNH? Những đặc điểm cơ bản của công nghiệp hóa trước đổi mới? Phân tích những điều chỉnh quan trọng trong đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa gắn với thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp (1960-trước tháng 12/1986).
Dàn ý chi tiết:
1 Khái niệm công nghiệp hóa
2 Tính tất yếu của công nghiệp hóa
3 Đặc điểm cơ bản của công nghiệp hóa trước đổi mới
Công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội
Thiên về phát triển công nghiệp nặng
Chủ yếu dựa vào tài nguyên, thế lực bên ngoài
Nóng vội, đơn giản,chủ quan duy ý chí
4 Những điều chỉnh quan trọng trong đường lối CNH xã hội chủ nghĩa gắn liền với thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp(1960- 12/1986)
5 Tại sao Việt Nam lựa chọn mô hình công nghiệp hóa như vậy?
Nội dung chi tiết:
1 Công nghiệp hóa
Khái niệm: Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi một cách căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sứclao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương pháp tiên tiến dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao hơn
Công nghiệp hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính
2 Tính tất yếu của công nghiệp hóa :
Do yêu cầu phải xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH
Do yêu cầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, kĩ thuật công nghệ giữa nước
ta với các nước trong khu vực và thế giới
Do yêu cầu phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của CNXH
Xuất phát từ mục tiêu con đường đi lên xây dựng XHCH Là quy luật khách quan của tồn tại phát triển xã hội loài người của bất kể quốc gia nào bất kể là các nước mạnh hay yếu, điểm khác nhau chỉ là ở cách thức, mục tiêu và phương thức.Thực tế, Việt Nam để có thể tiếp tục xây dựng con đường đi lên CNXH, đòi hỏi chúng ta cần phải
có một cơ sở vật chất cùng với một kết cấu xã hội thích hợp để phục vụ, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của CNXH.Nước ta đã chuyển từ 1 nền kinh tế lạc hậu mang tính chất tự nhiên sang 1 nền kinh tế thị trường có nghĩa là chúng ta đang trong quá trình thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ sang 1 nền
Trang 4kinh tế sản xuất lớn ngày càng hiện đại Một nền sản xuất lớn đòi hỏi phải có 1 cơ cấu
cơ sở hạ tầng và những công cụ lao động ngày càng tiến bộ Để tạo lập ra những cơ sở vật chất kỹ thuật đó thì theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác , mọi quốc gia đều phải tiếnhành công ngiệp hóa – hiện đại hóa.Và như vậy có thể đảm bảo sự tồn tại cho CNXH cũng như rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới
3 Đặc điểm cơ bản của công nghiệp hóa trước đổi mới:
Công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội: Đặc trưng này là do điều kiện khách quan đem lại trước đổi mới: Chiến tranh và bao vây cấm vận của củacác nước tư bản, chúng ta chỉ nhận được sự giúp đỡ của một số nước trong hệ thống XHCN Vì vậy khó có thể lựa chọn mô hình khác Mặt khác, sau khi đất nước thống nhất chúng ta đã mong muốn xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ
Thiên về phát triển công nghiệp nặng : Việt Nam có nhiều khoáng sản nên tính tất yếu
sẽ là phát triển ngành công nghiệp nặng, do đó tiến hành công nghiệp hóa đã đề cao vai trò của công nghiệp nặng
Chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; việc phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa chủ yếu bằng cơ chế kếhoạch hóa tập trung quan liêu trong nền kinh tế thị trường
Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đếnhiệu quả kinh tế xã hội
4 Những điều chỉnh quan trọng trong đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa gắn
liền với thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp(1960- 12/1986) :
Đường lối công nghiệp hóa đất nước đã được hình thành từ Đại hội III (tháng 9-1960) của Đảng Thực tế đất nước phải trực tiếp thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng kinh tế, miền Nam thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc
Như vậy, trước thời kỳ đổi mới, nước ta có khoảng 25 năm tiến hành công nghiệp hóa theo 2 giai đoạn:
Từ 1960 đến 1975: tiến hành công nghiệp hóa ở miền Bắc:
Đặc điểm kinh tế miền Bắc giai đoạn này là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua phát triển chủ nghĩa tư bản, Đại hội III khẳng định: muốn cải biến tình trạng kinh tế lạc hậu của nước ta, không có con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hóa XHCN
+ Về cơ cấu kinh tế: Đảng xác định: kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng
+ Về chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa: Hội nghị TW lần thứ 7 (khóa III) nêu phươnghướng chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp là :Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý; kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển công
Trang 5nghiệp nặng; ra sức phát triển công nghiệp trung ương, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương
+ Về thực chất, đây là sự lựa chọn mô hình chiến lược CNH thay thế nhập khẩu mà nhiều nước, cả nước XHCN và nước TBCN đã và đang thực hiện lúc đó Chiến lược này được duy trì trong suốt 15 năm ở miền Bắc (1960 – 1975) và 10 năm tiếp theo trênphạm vi cả nước ( 1976 – 1986)
Từ năm 1975 đến năm 1985: tiến hành công nghiệp hóa trên phạm vi cả nước:
+ Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước độc lập, thống nhất và quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chiến lược “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng…” tiếp tục được khẳngđịnh lại sau 16 năm tại Đại hội IV của Đảng (1976) nhưng chính sách thì đã có thay đổi chút ít “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN
+ Chiến dịch CNH được cụ thể hóa thông qua kế hoạch 5 năm (1976 – 1980): Hoàn thành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam, khôi phục và phát triểnkinh tế miền Bắc
+ Đại hội lần thứ V của Đảng (3-1982) đã xác định trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ ở nước ta phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triểncông nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; việc xây dựng và phát triển công nghiệp nặng giai đoạn này cần làm có mức độ, vừa sức, nhằm phục vụ thiết thực, có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Đại hội V coi đó là nội dung chính của công nghiệp hóa trong chặng đường trước mắt
Tuy nhiên, trên thực tế chính sách này vẫn không có mấy thay đổi so với trước Mặc dù nông nghiệp được xác định là mặt trận hàng đầu nhưng Đại hội vẫn xác định “Xây dựng
cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp hiện đại, lấy hệ thống công nghiệp nặng tương đối phát triển làm nòng cốt” Sự điều chỉnh không dứt khoát đó đã khiến cho nền kinh tế ViệtNam không tiến xa được bao nhiêu mà còn lâm vào khủng hoảng trầm trọng
5 Tại sao Việt Nam lại lựa chọn mô hình công nghiệp hóa như vậy?
Thời kỳ trước đổi mới, nước ta lựa chọn công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng là vì:
Trước tình hình bấy giờ, nước ta cần đi vào xây dựng cơ sở vật chất phục vụ
và đảm bảo cho quá trình xây dựng đi lên CNXH
Do thực tế cơ sở vật chất – kỹ thuật lạc hậu, do lực lượng sản xuất chưa phát triển Đất nước nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, rơi vào suy thoái
Xuất phát điểm thấp, chiến tranh kéo dài, thiệt hại lớn về người và của
Tuy nhiên, đường lối công nghiệp hóa này không thực sự đạt hiệu quả, phạm nhiều sailầm, là một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm
Trang 6Câu 2: So sánh đường lối công nghiệp hóa của Đảng trước đổi mới (từ năm 1960-trước tháng 12-1986) và thời kỳ đổi mới (từ 12-1986 đến nay)
Dàn ý chi tiết:
Giống nhau:
+ Đường lối công nghiệp hóa của Đảng qua các giai đoạn
+ Tư duy trong đường lối của Đảng
Nội dung chi tiết:
Nhận thức đầy đủ vai trò của CNH với sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có hơn nửa thế kỷ liên tục (56 năm: 1960-2016) lãnh đạo nhiều triệu dân trên lãnh thổ hàng nghìn km2 thực hiện CNH theo những quan niệm, mô hình và cơ chế rất khác nhau với những thể nghiệm, tìm tòi, rồi điều chỉnh, bổ sung, phát triển để không ngừng hoàn thiện Nhìn tổng quan, đường lối CNH của Đảng thời kỳ trước và sau đổi mới có những điểm giống và khác rất rõ rệt:
Giống nhau:
Đường lối công nghiệp hóa của Đảng: luôn nhấn mạnh đến yếu tố khoa học kỹ thuật công nghệ (then chốt, quyết định ), luôn xác định khoa học là lực lượng trực tiếp, hướng hoặc đề cập trực tiếp tới công nghệ tiên tiến, công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao
Trang 7 Tư duy không bao giờ dứt trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là công nghiệp hóa bằng con đường thích hợp để đưa tổ quốc phát triển đạt trình độ cao về mọi mặt.
Khẳng định công nghiệp hóa có tính tất yếu và giữ vị trí nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Mục tiêu chung công nghiệp hóa có nhiều điểm giống nhau: Luôn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với không ngừng cải thiện đời sống nhân dân và cải biến nước tathành một nước công nghiệp
Mô hình công nghiệp hóa Việt Nam: đều sử dụng kết hợp các ưu thế của nhiều mô hình khác nhau
Ngoài ra, đường lối công nghiệp hóa của Việt Nam còn có những đặc điểm chung như: khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực của đất nước chưa cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo bản chất và nội dung công nghiệp hóa hiện đại còn chậm; liên tục đổi mới tư duy để hoàn thiện các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa Tổ quốc
Dựa vào lao động, tài nguyên, đất
đai, nguồn viện trợ các nước
Nóng vội, giản đơn, ham làm
nhanh, không quan tâm hiệu quả
Được thực hiện bằng cơ chế thị trường
Mô hình Khép kín, hướng nội Hướng ngoại: mở rộng hội nhập kinh tếthị trường XHCN
Trang 83 Ra sức phát triển công nghiệp
nhẹ song song với việc ưu tiênphát triển công nghiệp nặng
4 Phát triển công nghiệp trung
ương đồng thời đẩy mạnh pháttriển công nghiệp địa phươngĐại hội V (3/1982) xác định: lấy
nông nghiệp làm mặt trận hàng
đầu; phát triển công nghiệp nặng
có mức độ và vừa sức
Có 6 phương hướng:
1 Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với
mở rộng hợp tác quốc tế, đa phươnghóa quan hệ đối ngoại
2 CNH-HĐH là sự nghiệp của toàndân, của mọi thành phần kinh tế,trong đó kinh tế nhà nước giữ vai tròchủ đạo
3 Lấy phát huy nguồn lực con ngườilàm yếu tố cơ bản cho sự ngiệp vàbền vững
4 Khoa học và công nghệ là nền tảng
và động lực của CNH-HĐH
5 Lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêuchuẩn cơ bản để xác định phương ánphát triển Lựa chọn dự án đầu tư vàcông nghệ
6 Kết hợp kinh tế với quốc phòng, anninh
Quan
1 CNH gắn liền với HĐH và CNH,HĐH gắn với phát triển tri thức
2 CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tếthị trường định hướng XHCN và hộinhập phát triển kinh tế quốc tế
3 Lấy phát huy nguồn lực con người làyếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh và bền vững
4 Khoa học và công nghệ là nền tảng
và động lực của CNH-HĐH
5 Phát triển nhanh, hiệu quả và bềnvững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với
Trang 9thực tiến tiến bộ và công bằng xã hội;bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn
đa dạng sinh học
Kết quả
+ Số xí nghiệp tăng 16,5 lần Hình
thành nhiều khu công nghiệp lớn,
nhiều cơ sở của ngành công
nghiệp nặng được xây dựng
+ Ra đời nhiều đơn vị đào tạo đội
+ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóađạt được những kết quả quan trọng
+ Những thành tựu của công nghiệphóa, hiện đại hóa đã góp phần quantrọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăngtrưởng khá cao
Ý nghĩa
Trong điều kiện đi lên từ xuất phát
thấp, lại bị chiến tranh tàn phá
nặng nề thì các kết quả đã đạt
được có ý nghĩa hết sức quan
trọng, tạo cơ sở ban đầu để nước
ta phát triển nhanh hơn trong các
giai đoạn tiếp theo
+ Cơ sở kỹ thuật được tăng cường, khảnăng tự chủ của nền kinh tế tăng cao
Cơ cấu chuyển dịch theo hướng HĐH đạt được những kết quả quantrọng
CNH-+ Đưa nền kinh tế phát triển cao
Hạn chế
+ Cơ sở vất chất- kỹ thuật còn hết
sức lạc hậu
+ Lực lượng sản xuất trong nông
nghiệp mới chỉ bước đầu phát
triển, nông nghiệp chưa đáp ứng
được nhu cầu về lương thực, thực
phẩm
+ Xã hội thiếu các sản phẩm tiêu
dùng thiết yếu, kinh tế kém phát
triển
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp
so với khả năng và thấp hơn nhiều nướctrong khu vực Nguồn lực của đất nướcchưa được sử dụng có hiệu quả cao+ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm
+ Các vùng kinh tế trọng điểm chưaphát huy được thế mạnh
+ Cơ cấu thành phần kinh tế phát triểnchưa tương xứng với tiềm năng
Tại sao Việt Nam lại thay đổi mô hình Công nghiệp hóa?
Trang 10Từ năm 1960 đến trước tháng 12-1986, Đảng ta đã nhận thức và tiến hành công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng
Chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định mục tiêu, bước đi
về cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế,…, sai lầm trong bố trí
cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư,… Như vậy, trong khoảng 25 năm tiến hành công
nghiệp hóa, chúng ta vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi Vì vậy, việc thay đổi nhận thức và từ đó thay đổi mô hình công nghiệp hóa là điều cần thiết để rút ngắn conđường công nghiệp hóa và đưa nước ta phát triển cả về kinh tế và xã hội
Câu 3: Phân tích vai trò của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại sao phát huy yếu tố con người lại là động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững?
Dàn ý chi tiết:
1 Vai trò nguồn lực con người trong quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước
con người trong sự vận động và phát triển đời sống xã hội
Thực chất của công nghiệp hoá - hiện đại hoá
- Bối cảnh và cách nhìn cũ
- Khoa học kỹ thuật - lực lượng sản xuất trực tiếp
- Vai trò con người trong khoa học - kỹ thuật
- Con người là động lực, là mục đích, điều kiện đủ, là đối tượng thúc đẩy sự phát triểncủa kinh tế - xã hội
- Tính tất yếu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Nguồn lực con người trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Việt Nam
- Mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đề ra
- Con người-nguồn lực hàng đầu của Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
2 Tại sao phát huy yếu tố con người là động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững?
Con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chí
Nguồn lực con người là vô tận
Trí tuệ con người trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Nội dung chi tiết:
1 Vai trò nguồn lực con người trong quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước
Con người trong sự vận động và phát triển đời sống xã hội:
+ Con người - Tổng hoà của những mối quan hệ xã hội:
Quan hệ xã hội là những quan hệ được xác lập giữa các cộng đồng xã hội và các cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động xã hội - cái thực thể xã hội
Trang 11tạo ra hoạt động xã hội Quan hệ sản xuất hình thành một cách tất yếu độc lập với ý chí của con người, thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự biến đổi của quan hệ sản xuất là do lực lượng sản xuất quy định Con người và phát triển xã hội là một cộng đồng người với những quan hệ xã hội xác định
+ Sự phát triển xã hội chính là sự phát triển con người cũng như những quan hệ xã hội:
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, cũng là cơ sở của quyluật xã hội Chính những quan hệ kinh tế khách quan tất yếu hình thành trong quá trình sản xuất dựa trên trình độ nhất định của lực lượng sản xuất là cơ sở nảy sinh các quan hệ khác của đời sống xã hội và chi phối moị hoạt động xã hội của con người Khi chưa nhận thức được quy luật xã hội thì con người là “
nô lệ” của quá trình tất yếu
Thực chất của công nghiệp hoá - hiện đại hoá:
+ Bối cảnh và cách nhìn cũ:
Lao động là hoạt động đặc trưng, cơ bản của con người Sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử được biểu hiện ở một phương thức sản xuất nhất định
Phương thức sản xuất - đó là cách thức mà con người làm ra của cải vật chất,
là nhân tố quyết định tính chất, kết cấu cũng như sự vận động, phát triển của
xã hội Ở Việt Nam nền kinh tế - xã hội phát triển rất muộn so với trình độ thế giới Sau hơn chục năm đổi mới trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước - bộ mặt kinh tế - xã hội Việt Nam đã thay đổi đáng kể
+ Khoa học kỹ thuật - lực lượng sản xuất trực tiếp:
Khi nền sản xuất còn ở trình độ thấp, con người không thể tiến hành sản xuất
có kết quả nếu không dựa vào những điều kiện tự nhiên Khoa học - kỹ thuật vốn là hai lĩnh vực tương đối độc lập Cùng với sự phát triển của sản xuất Khoa học - kỹ thuật càng phát triển lại càng có mối quan hệ, tác động qua lại khăng khít lẫn nhau cùng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Khoa học - kỹthuật và công nghệ đã tạo ra những công cụ chủ yếu trong sản xuất và chính khoa học - kỹ thuật và công nghệ lại là cơ sở cho sự phát triển của bản thân nó.+ Vai trò con người trong khoa học - kỹ thuật:
Chính con người quyết định việc sử dụng những loại tri thức khoa học - kỹ thuật và công nghệ nào vào sản xuất và sử dụng như thế nào để sản xuất có hiệu quả Con người sử dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ - sản phẩm lao động trí tuệ của mình để cải tạo đối tượng lao động, biến đổi giá trị của các tài nguyên thiên nhiên, cải tiến và sử dụng công cụ lao động, tư liệu lao động Đồng thời con người sử dụng các tri thức khoa học - kỹ thuật và công nghệ để phát triển, hoàn thiện bản thân mình với tư cách là một lực lượng sản xuất
Trang 12+ Con người là động lực, là mục đích, điều kiện đủ, là đối tượng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội.
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là xu hướng của thế giới, là con đường tất yếu của Việt Nam Đó là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội Nhưng xã hội trước hết phải là của con người Mọi lĩnh vực trong xã hội đều
do con người tạo ra và vì con người Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
sẽ không đạt được kết quả nếu năng lực của con người không đáp ứng đúng mức
+ Tính tất yếu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá:
- Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là con đường tất yếu để phát triển kinh tế xã hội, hội nhập cùng thế giới, là một bước phát triển của lịch sử
- Trong bối cảnh Quốc tế hiện thời Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đang được coi là xu hướng phát triển chung của các nước đang phát triển Đối với nước ta
- một nước vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu và “nguy cơ tụt hậu” xa hơn so với các nước trong khu vực thì công nghiệp hóa – hiện đại hóa là rất cần thiết
Nguồn lực con người trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Việt Nam + Mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đề ra:
Định hướng có ý nghĩa chiến lược đó là sự thể hiện tư tưởng vì con người có mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo quy định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế đã và đang đạt mức tăng trưởng cao sánh cùng các nước trong khu vực Đời sống người dân
đã được cải thiện đáng kể cả về phương tiện vật chất lẫn tinh thần Nói chung
xã hội đã từng bước đi vào ổn định Đời sống vật chất và tinh thần cao Quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh ” đó là “cuộc cách mạng” toàn diện và sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Con người-nguồn lực hàng đầu của Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá:
Trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định Nó bao gồm con người và tư liệu sản xuất
-Thứ nhất lực lượng sản xuất trước hết phải là con người với khả năng lao động, có trí tuệ, kỹ năng Kỹ sảo để sản xuất
- Thứ hai đó là tư liệu sản xuất gồm công cụ sản xuất và đối tượng sản xuất
- Thứ ba, trong thời đại hiện nay, sự tác động mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuậtvào quá trình sản xuất đã làm giảm cường độ lao động, tăng năng suất cao Khoa học - kỹ thuật cũng được coi là một lực lượng sản xuất trực tiếp
Phát triển con người toàn diện đó là động lực, mục tiêu nhân đạo của Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá mà chúng ta từng bước tiến hành Chúng ta phải coi nguồn lực
Trang 13con người là giá trị tối cao và mục đích của sự nghiệp đầy khó khăn, phức tạp nhưng
là tất yếu
2 Tại sao phát huy yếu tố con người là động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững?
Phát huy yếu tố con người là động lực cho sự phát triển và bền vững bởi 3 lí do chính:
Con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chí:
Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt động có ýthức của con người Bởi lẽ, con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn chúng kết lại với nhau,tạo thành một sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các nguồn lực khác là những khách thể chịu sự cải tạo, khai thác của con người, hết thảy chúng đều phục vụcho nhu cầu, lợi ích của con người, nếu con người biết cách tác động và chi phối Vì thếtrong các yếu tốcấuthành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất, là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”
Nguồn lực con người là vô tận:
Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con người lại là vô tận Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển vềchất trong con người xãhội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó là cơ sở làm cho nănglực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận xét trên bình diện cộng đồng nhân loại Nhờvậy con người đã từngbước làm chủ tự nhiên, sáng tạo, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, nhiều công cụsản xuất có hiệu quả hơn, đưa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao
Trí tuệ con người trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển vận động đến nền kinh tế của trí tuệ Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra nhữngngười máy “bắt chước” hay “phỏng theo” những đặc tính trí tuệcủa chính con người Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình
Trang 14CHƯƠNG 5: ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Câu 4: Cơ chế quản lý kinh tế ở VN trước đổi mới? Những đặc điểm, khuyết tật của nó? Phân tích những đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về cơ chế quản lý kinh tế của Đảng trước năm 1986 Ý nghĩa của nó đối với việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế thời kỳ tiếp theo?
Nội dung chi tiết:
1 Cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới:
Khái niệm:
Cơ chế quản lý kinh tế là các quy tắc điều chỉnh các hành vi,hoạt động kinh tế củacác cá nhân và tổ chức kinh tế;là hệ thống các biện pháp,hình thức,cách thức tổ chức,điều khiển nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế phát triển phù hợp với những quy luật kinh tế khách quan theo mục tiêu đã xác định trong những điều kiện kinh tế xã hội của từng giai đoạn phát triển
Trước đổi mới thì cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu,bao cấp với 4 đặc điểm chủ yếu :
+ Thứ nhất: Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chínhdựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống
+ Thứ hai: Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình
+ Thứ ba: Quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp”
+ Thứ tư: Bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động, vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan lieu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động
Chế độ bao cấp được thực hiện dưới 3 hình thức:
+ Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường
+ Bao cấp qua chế độ tem phiếu: : Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu
Trang 15+ Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệuquả, nảy sinh cơ chế "xin - cho".
Khuyết tật:
+ Với những đặc điểm trên có thể thấy, cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh
+ Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên
cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện tại thì
cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; trong đó có nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng
2 Những đột phá đầu tiên trong đổi mới tư duy về cơ chế quản lý kinh tế của Đảng (1979-1986)
Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (8-1979):
+ Hội nghị phủ định một số yếu tố của thể chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp.+ Thừa nhận sự cần thiết phải kết hợp kế hoạch với thị trường (tuy nhiên thị trường vẫn được coi ở vị trí thứ yếu, bổ sung cho kế hoạch
+ Nhận thấy sự cần thiết phải kết hợp nhiều loại lợi ích, huy động vai trò của tiểu thương, cá thể, tiểu chủ… làm cho sản xuất bung ra
Như vậy, Hội nghị đã đột phá vào khâu quan trọng nhất của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp: Chế độ công hữu và kế hoạch hóa trực tiếp
Chỉ thị 100, Quyết định 25 CP, 26CP của Chính phủ (1981):
Nội dung các chỉ thị, quyết định trên là nhằm giải phóng sức sản xuất Những điềuchỉnh này đã tạo ra hình thái song song tồn tại giữa kinh tế công hữu kế hoạch hóavới phi công hữu và thị trường tự do Đây là nét đặc thù từ sau Hội nghị Trung ương 6 “Cộng sinh” và “xung đột” giữa hai loại cơ chế kinh tế, hai loại thị trường
là đặc trưng cơ bản của thời kỳ manh nha cho sự ra đời của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Đại hội V của Đảng (1982):
+ Nhấn mạnh: Xác lập chế độ quản lý và kế hoạch hóa đúng đắn, đổi mới chế độ quản lý và kế hoạch hiện hành Xóa bỏ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp.+ Về kế hoạch hóa nền kinh tế, kế hoạch phải thấu suốt nguyên tắc hạch toán kinhdoanh XHCN
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (6-1985)
- Chủ trương xóa bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN, thừa nhận quy luật của sản xuất hàng hóa
Trang 16- Đề cập ba nội dung quan trọng của cái cách: Giá cả, tiền lương, tiền tệ (giá – lương – tiền).
+ Giá cả: Thực hiện cơ chế một giá thống nhất và đánh giá đúng, đủ chi phí cho giá thành sản phẩm
+ Tiền lương: Xóa bỏ chế độ tiền lương hiện vật, thực hiện tiền lương tiền tệ gắn với xóa bỏ bao cấp Chế độ tiền lương phải đảm bảo cho người lao động tái tạo sức lao động và gắn với chất lượng và hiệu quả lao động
+ Tiền tệ: Đổi mới lưu thông tiền tệ; thu hút tiền nhàn rỗi; đẩy nhanh nhịp độ quay vòng đồng tiên; chuyển ngân hàng sang hạch toán kinh doanh XHCN
Đề cập đến sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI khẳng định: “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ” Chính vì vậy, việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cấp thiết
và cấp bách
3 Ý nghĩa của nó đối với việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế thời kỳ tiếp theo?
Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch 5 năm (1976 – 1980 và 1981 – 1985), Việt Nam đạt được những kết quả nhất định trên cả hai phương diện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song cũng gặp nhiều khó khăn Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế – xã hội, do “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài
về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng vàvững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải tiến hành công cuộc đổi mới
Câu 5: Phân tích quá trình đổi mới tư duy của Đảng về cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa? Phân tích những đặc điểm cơ bản của mô hình kinh tế tổng quát suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (được xác định tại Đại hội IX năm 2001)? Ý nghĩa của nó đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay?
Dàn ý chi tiết:
1 Phân tích quá trình đổi mới tư duy
Tại sao Đảng ta lại đổi mới tư duy?
Tư duy của Đảng từ đại hội VI đến đại hội VIII
Tư duy của Đảng từ đại hội IX đến đại hội X
Sự thay đổi tư duy của Đảng thể hiện cụ thể ở các đặc điểm: mục đích phát triển, phương hướng phát triển, định hướng xã hội và phân phối, quản lí
2 Đặc điểm cơ bản của mô hình kinh tế tổng quát
Đặc điểm cơ bản của mô hình
Phân tích rút ra bản chất mô hình
3 Ý nghĩa
Nội dung chi tiết:
1 Phân tích quá trình đổi mới tư duy của Đảng về cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 17 Đảng ta đổi mới tư duy:
+ Thời kỳ trước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hóa quan liêu bao cấp: chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng
ta xem kế hoạch hóa là đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân
bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu, coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bỏ sung cho kế hoạch Không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tếnhiều thành phần trong thời kì quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể tư nhân Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng
+ Dưới áp lực của tình thế khách quan, chúng ta muốn thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội thì việc đổi mới cơ chế quản lí kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết
và cấp bách
Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII:
Đây là giai đoạn hình thành và phát triển tư duy của Đảng về nền kinh tế thị trường So với thời kì trước đổi mới, nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay đổi căn bản và sâu sắc:
+ Kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghía tư bản mà là thành tựu phát triển chung của toàn nhân loại
+ Kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kí quá độ lên xã hội chủ nghĩa
+ Để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cần thiết và có thể sử dụng kinh tế thị trường
Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội X:
+ Đại hội IX khẳng định: Xây dựng nền kinh tế thị trường hướng xã hội chủ nghĩa
là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kí quá độ nên chủ nghĩa ở nước ta Đảng
và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thịtrường đinh hướng xã hội chủ nghĩa
+ Đại hội X khẳng định rõ hơn về định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta đó là: Gắn kinh tế thị trường của nước ta với kinh tế thị trường
Đảng chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa” Bốn tiêu chí quan trọng nhất là:
Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta
Nâng cao vai trò và hoàn thiện quản lí Nhà nước
Phát triển đồng bộ và quản lí có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo
cơ chế cạnh tranh lành mạnh
Phát triển mạnh các thành phần kinh tế và các loại hình sản xuất kinh doanh
Tóm lại, sự thay đổi tư duy về kinh tế thị trường trong thời kì này thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
Trang 18+ Về mục đích phát triển: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo, từng bước khá giả hơn ( Mục đích vì con người)
+ Về phương hướng phát triển: Phát triển các thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
+ Về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ
và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn
đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người
+ Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, đảm bảo vai trò quản lí, điều tiết nền kinh tế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
2 Phân tích những đặc điểm cơ bản của mô hình kinh tế tổng quát suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (được xác định tại Đại hội IX năm 2001)?
Đại hội IX khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đó
là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “ một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất chủ nghĩa xã hội”
Trong nền kinh tế này, sức mạnh của thị trường dùng để “phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghãi xã hội, nâng cao đời sống nhân dân” Tính định hướng được thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối
Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngĩa thì trước hết đó không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế xã hội chủ nghĩa Tính định hướng xã hội chủ nghĩa làm cho kinh tế thị trường nước ta khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa
3 Ý nghĩa của nó đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay?
Sau 30 năm đổi mới, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã hình thành và từng bước hoàn thiện, thay cho thể chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Thể chế kinh tế mới đã đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tích cực, thúc đẩy tăng trường kinh tế nhanh và bền vững, khắc phục khủng hoảng kinh tế-xã hội, tạo ra những tiền đề cần thiết đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sớm đưa đấtnước ta khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu