+ Thị trường Mĩ là một trong những thị trường mang tính chất chiến lược đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong những năm tới.. + Thị trường mỹ là một thị trường lớn, đa dạng, tín
Trang 1HỌ VÀ TÊN: HOÀNG HẢI YẾN
STT: 89
LỚP: TNCH 8A3
ĐỀ TÀI: TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY Phần I: Đặt vấn đề
1) Xuất nhập khẩu là gì?
Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại nhu) Mức
độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu
và tổng thu nhập quốc dân Đối với những nền kinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuất khẩu có
ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Chính vì thế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến nghị các nước phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa
2) Tính cấp thiết của đề tài:
Để tăng tốc độ xuất khẩu, đẩy nhanh tiếp độ hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, Đảng ta chủ trương:” tiếp tục mở cửa nền kinh tế, thực hiện đa dạng hóa thị trường, đa phương hóa mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới
+ Thị trường Mĩ là một trong những thị trường mang tính chất chiến lược đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong những năm tới Đây là một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới, bên cạnh đó, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã chính thức đi vào thực tiễn
từ ngày 17/10/2001 Việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này chẳng những tạo điều kiện thuận lợi để nền kinh tế Việt Nam đẩy nhanh tiến trình hội nhập mà còn góp phần gia tăng sự phát triển và nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam
+ Thị trường mỹ là một thị trường lớn, đa dạng, tính cạnh tranh cao, luật lệ điều tiết nền ngoại thương Mỹ phức tạp, có những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có những nghiên cứu toàn diện và thị trường này còn rất mới đối với DN Việt Nam
+ Mặt hàng thủy sản là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu ngaỳ càng tăng và chiếm tỷ trọng to lớn trong số các mặt hàng đang xuất khẩu vào thị trường Mỹ + Ngành thủy san đang trong quá trình đấu thầu để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn Hàng thủy sản trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch xuất khẩu đạt được năm 2001 là 1.760 triệu USD và đặt ra mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 3 tỷ USD vào năm 2005 trong đó kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ chiếm tyt trọng 25—28% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu thủy sản Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu để tìm ra những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ.Đề án môn học Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2011-2020 Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam được coi là một nước có tiềm năng rất lớn về thủy sản cả nước ngọt và nước mặn, do
đó có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản tạo ra nguồn cung nguyên liệu dồi dào cho ngành chế biến thủy sản phục vụ nhu cầu trong nước
và xuất khẩu Nhờ vậy, xuất khẩu thủy sản đã trở thành một trong những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng nhất của nền kinh tế mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước và luôn nằm trong danh sách những ngành có giá trị xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, tạo nguồn
Trang 2thu nhập đáng kể cho nông - ngư dân và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
này.Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2010 cả nước xuất khẩu được 1,353 triệu tấn thủy sản trị giá 5,034 tỉ đô la (bao gồm cả lũy kế), tăng 11,3% về khối lượng và 18,4%
về giá trị so với năm 2009 Trong hai tháng đầu năm 2011 xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 835 triệu USD, tăng 54,4% so với cùng kỳ năm trước Trong số các thị trường xuất khẩu thủy sản chủ yếu của Việt Nam, thị trường EU đóng một vai trò vô cùng quan trọng Trong suốt nhiều năm liền thị trường này (cùng Mỹ và Nhật Bản) là một trong ba thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam Mặc dù vậy, thị trường xuất khẩu thủy sản thế giới ngày càng xuất hiện nhiều đối thủ mới cũng như tính cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu thủy sản ngày càng tăng dưới tác động của xu hướng tự do hoá thương mại Trong khi đó nền thủy sản trong nước dù đã có nhiều thành tựu tiến bộ song vẫn bộc lộ những điểm yếu kém chưa khắc phục được, đồng thời cơ sở vật chất đã lạc hậu không đáp ứng được các nhu cầu của thời đại Bên cạnh đó, trong những năm gần đây đã có rất nhiều vấn đề đặt ra với hoạt động xuất khẩu thủy sản ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thủy sản Ngành thủy sản Việt Nam đã chứng kiến và bị lôi kéo vào những vụ kiện bán phá giá, những tin đồn về chất lượng sản phẩm đồng thời đang phải đối mặt với rất nhiều bất lợi của thị
3) Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mỗi đề tài nghiên cứu khi được tiến hành luôn chứa đựng những mục đích cụ thể cần đạt được Tiến hành nghiên cứu đề tại này, chúng em đã hướng tới mục đích sau:
- Khái quát và tổng hợp một cách có hệ thống về xuất khẩu thủy sản
- Phân tích để hiểu rõ thực trạng xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam, vai trò và tiềm năng phát triển trong tương lai
- Tình hình sản xuất, chế biến, xuất khẩu thủy sản trong những năm qua, cơ cấu thị trường và khả năng cạnh tranh từ đó rút ra bài học, đưa biện pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng thủy sản trong thời gian sắp đến
GVHD: Đào Duy Minh
4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
a) Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến khả năng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ
b) Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến trình độ và khả năng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường EU trong thời gian qua và giai đoạn 2011-2020 tới, tập trung chủ yếu về một số lĩnh vực sau đây: thị trường xuất khẩu, kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng như những mặt hạn chế còn tồn đọng trong giai đoạn trên.Về thời gian: số liệu thu thập và nghiên cứu chủ yếu từ năm 2000 đến
c) Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng phương pháp liệt kê, duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lenin và kết hợp với các phương pháp cụ thể: như phương pháp phân tích thống kê, đánh giá tổng hợp, so sánh, tham khảo tài liệu, để luận giải, khái quát và phân tích theo mục đích của đề tài
2
Trang 3d) Kết cấu của đề tài:
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ: 1
1.Xuất nhập khẩu là gì 1
2.Tính cấp thiết của đề tài 1
3.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
a.Đối tượng nghiên cứu 2
b.Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
c.phương pháp nghiên cứu 2
d kết cấu của đề tài 3
PHẦN II: THỰC TRẠNG: 4
1.Bảng biểu kim ngạch xuất nhập nước ta từ năm 2015-2017 4
2.vai trò của XNK đối với nền kinh tế nước ta hiện nay 7
2.1.vai trò của một số mặt hàng xuất khẩu của nước ta hiện nay 7
3.vị trí và vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân 9
4.những thuận lợi và khó khăn trong xuất nhập khẩu thủy sản 12
4.1.những thuận lợi 13
4.2.những lợi thế cạnh tranh 14
4.3 những thách thức và khó khăn 14
PHẦN III: GIẢI PHÁP VÀ CÁCH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: 16
1.giải pháp cấp thiết đối với tình hình xuất khẩu của nước ta hiện nay 16
KẾT LUẬN: 17
3
Trang 4PHẦN II: THỰC TRẠNG
1)Bảng biểu kim ngạch xuất nhập khẩu nước ta từ năm 2015-2017:
4
Trang 72) vai trò của XNK đối với nền kinh tế nước ta hiện nay:
2.1 Vai trò của một số mặt hàng xuất khẩu khác của nước ta:
Đóng góp vào sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô là hoạt động thương mại dịch
vụ, trong đó nổi bật là hoạt động XNK hàng hóa, tăng trưởng cao hơn năm trước, và đã có xuất siêu
- Những kết quả của XNK năm 2016
+ Về XK hàng hóa XK hàng hóa của VN năm 2016 vẫn tiếp tục duy trì mức tăng trưởng, đưa thặng dư thương mại hàng hóa đạt 2,68 tỷ USD và kim ngạch XNK của VN đã cán mốc 300 tỷ USD vào ngày 15.11.2016, là một kết quả nổi trội Tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của cả nước năm 2016 ước đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm 2015 (Bảng 1)
+ Mặt hàng XK chủ yếu đứng đầu là máy móc, thiết bị, phụ tùng Năm 2016, trị giá XK đạt 34,505 tỷ USD, tăng 14,4% so với năm 2015 Tiếp đó là điện thoại các loại và linh kiện trị giá XK đạt hơn 24,96 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm 2015 Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 18,48 tỷ USD, tăng 18,48%; Giày dép đạt 12,92 tỷ USD, tăng 7,6%; Thủy sản đạt 7,02 tỷ USD, tăng 6,9%; Về lượng, cà phê XK đạt 1.794 nghìn tấn, tăng 33,7%; Hạt tiêu
XK đạt 176 nghìn tấn, tăng 34,2%; Hạt điều, chè, cao su đều tăng từ 6,1-9% so với năm
2015 Bức tranh XK các nhóm hàng lớn nhất của VN trong năm 2016 chiếm gần 2/3 tổng KNXK của cả nước thể hiện ở biểu đồ 1
- Trị giá XK hàng hóa của các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2016 ước đạt 125,9 tỷ USD, tăng 10,2 so với năm 2015 và chiếm đến 71,6% tổng KNXK hàng hóa của cả nước
VN đã có quan hệ thương mại hàng hóa với 240 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã có trên 29 thị trường XK, 19 thị trường NK đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD Tổng KNXK hàng hóa của các thị trường này thường chiếm tới 90% KNXK (và 88% KNXK của cả nước) Năm
2016, trao đổi thương mại hàng hóa của VN với hầu hết các châu lục vẫn duy trì mức tăng trưởng, riêng XK vào thị trường khu vực ASEAN giảm 4,7% và so với năm 2015, XK một
số nhóm hàng như gạo giảm 25,7%, dầu thô giảm 24,1%, than đá giảm 26,1% về khối lượng Mặt khác, do XK chưa tận dụng được các cơ hội mở cửa thị trường trong bối cảnh thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN; các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực; cơ sở hạ tầng logistics yếu kém dẫn đến chi phí logistics tăng cao cũng là những nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng XK thấp
- Năm 2016 VN lại có tăng dư thương mại với gần 2,7 tỷ USD, so với KNXK là 1,52%,
là một điểm sáng nhưng nhìn chung hoạt động XNK hàng hóa của chúng ta vẫn chưa khắc phục được những tồn tại cố hữu từ nhiều năm nay như hàng hóa XK vẫn là các mặt hàng truyền thống, chủ yếu gia công, vẫn nguyên liệu khoáng sản, xuất siêu chủ yếu từ các DN FDI, còn nhiều vấn đề nảy sinh từ chính hệ thống thương mại và hệ thống logistics kém phát triển, chi phí cầu đường lớn hơn nhiều chi phí xăng dầu, các trạm BOT thu phí lại có
xu hướng mọc lên trên các tuyến giao thông huyết mạch của nền kinh tế, làm cho chi phí logistics tăng cao, sức cạnh tranh hàng hóa giảm, kéo theo đó là làm cho tăng trưởng XK thấp, thậm chí giảm sút mạnh như nhiều mặt hàng XK vốn có nhiều thế mạnh ở nước ta Đây là những thách thức cho XK hàng hóa của VN trong những năm tới, nhất là trong năm 2017
- Về NK hàng hóa Với việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN vào ngày 31.12.2015
và khoảng 90% dòng thuế quan giữa các thành viên sẽ giảm về 0% và 10%, số thuế còn lại
7
Trang 8sẽ về 0% trong năm 2018 cùng các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực sẽ tạo ra nhiều
cơ hội cho các DN VN, thông qua việc mở ra một thị trường rộng lớn để thúc đẩy hoạt động XNK hàng hóa Mặt khác, cũng tạo ra cơ hội lớn cho hàng hóa của các nước có chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, lại rất được người tiêu dùng VN tin dùng
sẽ tràn vào VN Thực tế với các nước trong khu vực, VN luôn ở thể nhập siêu Trong khu vực, VN nhập siêu lớn đối với Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore và Malaysia Trung Quốc luôn đứng đầu các thị trường nhập siêu lớn nhất của VN với hầu hết các mặt hàng máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu Chỉ tính đến hết ngày 15.12.2016, các mặt hàng máy móc, thiết bị phụ tùng vải các loại, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, sắt thép các loại… thị trường NK chủ yếu vẫn là Trung Quốc, trong đó riêng lượng NK sắt thép các loại đã chiếm gần 2/3 tổng lượng thép NK vào VN
+ Dẫn chứng:
Kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa năm 2016 của VN ước đạt 173,3 tỷ USD, tăng 4,6% so với năm 2015 Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 102,2 tỷ USD, tăng 5,1%, khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 50 tỷ USD Xét theo mặt hàng: điện tử, máy tính và linh kiện năm 2016 ước NK 27,8 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm 2015; điện thoại các loại và linh kiện tổng trị giá NK đạt 10,5 tỷ USD, giảm 0,3%; máy móc, thiết bị, phụ tùng trị giá NK đạt 28,1 tỷ USD, tăng 1,8%; hóa chất NK với kim ngạch 3,2 tỷ USD, tăng 1%; tân dược NK với kim ngạch 2,5 tỷ USD, tăng 8,9%; về khối lượng, giấy NK 1.989 nghìn tấn, tăng 15,5%; xăng dầu NK 11.471 nghìn tấn, tăng 14,2%; sắt thép NK 18.428 nghìn tấn, tăng 18,8% so với năm 2015 (Biểu đồ 2)
- Tình hình sản xuất hàng XK của VN năm 2016 vẫn trong tình trạng phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập từ nước ngoài do sản xuất trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà sản xuất Hơn nữa các mặt hàng XK chủ yếu là gia công Về thị trường, châu Á, trong đó Trung Quốc là thị trường NK lớn nhất của VN, với kim ngạch và mức tăng trưởng cao đối với nhiều loại vật tư kỹ thuật Bức tranh cung cấp nguyên phụ liệu cho VN qua số liệu của 10 tháng của 3 năm liên tục gần đây cho thấy rõ điều này (Biểu đồ 4)
- Các mặt hàng NK từ Trung Quốc chủ yếu là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, sắt thép, nhóm hàng nguyên, phụ kiện dệt may, da giày Điện thoại các loại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện… So với năm 2015, năm 2016 tỷ trọng KNNK
từ châu Á trong tổng KNXK của nước ta vẫn chiếm chủ yếu, đạt ở mức cao khoảng 80% Cán cân thương mại hàng hóa năm 2016 ước đạt gần 2,68 tỷ USD, bằng 1,52% so với XK Khu vực FDI xuất siêu 23,7 USD Nhập siêu của khu vực kinh tế trong nước ước đạt 21,0
tỷ USD Như vậy, nhập siêu trong năm 2016 vẫn là khu vực kinh tế trong nước Điều này cho thấy khả năng cạnh tranh sản phẩm của khối DN trong nước còn rất hạn chế, các DN vẫn chưa tận dụng được các cơ hội mở rộng thị trường trong bối cảnh hình thành AEC và các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực, mặc dù năm 2016 là năm kỷ lục cả nước có 110.100 DN được thành lập mới với số vốn đăng ký là 891.094 tỷ đồng
Triển vọng XNK hàng hóa năm 2017
Năm 2017, kinh tế thế giới theo nhiều dự báo của các tổ chức quốc tế tiếp tục phục hồi với tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn năm 2016 (IMF dự báo tăng trưởng kinh tế của thế giới năm 2017 ở mức 3,4%, WB: 2,8%) Tăng trưởng thương mại thế giới dự báo tăng 1,8 – 3,1% Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 diễn ra ở khắp các châu lục, là cơ hội cho các nước đang phát triển tiếp thu công nghiệp tiên tiến nhưng đồng thời cũng tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các khu vực và các nền kinh tế Trong nước, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát sẽ tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế Tiến trình hội nhập quốc tế của VN trong năm 2017 sẽ được triển khai mạnh mẽ hơn, sâu rộng và toàn diện cũng làm tăng thêm các động lực phát triển kinh tế đất nước
8
Trang 9- Bên cạnh đó, sự kiện Brexit, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và sự suy giảm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, xu hướng tăng giá của đồng đô la Mỹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến XK của VN Hơn nữa, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế
VN còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, nhất là cơ sở hạ tầng logistics vốn đã thiếu kết nối, cộng với nhiều trạm BOT thu phí mọc lên khắp nơi, làm cho chi phí logisitcs tăng cao, sức cạnh tranh của hàng hóa XK của nước ta vốn đã thấp lại càng thấp hơn Điều này sẽ có tác động rất lớn đến hoạt động XNK hàng hóa của VN trong năm 2017 - năm thứ 2 có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 Báo cáo của Chính phủ tại
kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV đã xác định mục tiêu cụ thể về XNK hàng hóa cho năm 2017:
» KNXK hàng hóa dự kiến đạt khoảng 183,5 tỷ USD, tăng 6-7% so với năm 2016, trong
đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 132 tỷ USD, chiếm 71,9% tổng KNXK
» KNNK hàng hóa dự kiến khoảng 190 tỷ USD, tăng 9-10% so với năm 2016, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 109 tỷ USD, chiếm 57,3% tổng KNNK
» Nhập siêu năm 2017 dự kiến khoảng 6,5 tỷ USD, với tỷ lệ nhập siêu 3,5% so với giá trị
XK hàng hóa
3 Vị trí, vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân:
- Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt NamSố liệu cho thấy 50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào Từ các vùng đồng bằng đến trung du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản Trong GVHD: PGS&TS Nguyễn Thường Lạng SV: Nguyễn Minh Tuấn7
Đề án môn học Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2011-2020thời gian tới, các mặt hàng thủy sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam
- Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, Báo cáo của Chính phủ cũng đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường XNK gắn với xây dựng thương hiệu hàng VN, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu… Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa XK vào sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, chế biến sâu, có ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến Nâng cao năng lực cạnh tranh của DN
VN trong hoạt động XK vào thị trường ASEAN và các thị trường khác trên thế giới Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ, hoạt động của các DN dịch vụ, đặc biệt đối với một số ngành có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh…”
- Ngoài ra, nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên cho hoạt động XK năm 2017 và những năm tiếp theo, cần phải có các giải pháp có tính đột phá từ nhận thức chính sách đến hành động cụ thể nhằm thúc đẩy lưu thông và XNK của VN vốn có quy mô
và hiệu quả còn thấp so với nhiều nước trong khu vực khi mà các FTA đã và đang đi vào thực hiện
Đặc điểm chủ yếu của sản xuất kinh doanh thủy sản
• Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống, là các loại động thực vật thủy sản chúng sinh
9
Trang 10trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho tùng đối tượng mới thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triền của nó
• Thuỷ vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế Đất đai là tư liệu sản xuất song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt khác với các tư liệu khác ở chỗ: diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn, mặt khác đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường khác nhau Chính vì vậy khi sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý quản lý chặt chẽ diện tích mặt nước cả trên ba mặt pháp chế, kinh tế, kỹ thuật
• Sản xuất thuỷ sản mang tính thời vụGVHD: (PGS&TS Nguyễn Thường Lạng SV: Nguyễn Minh Tuấn)
*Đề án môn học Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2011-2020Trong nuôi trồng thủy sản ngoài sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu tác động của môi trường tự nhiên Vì vậy trông nuôi trồng thủy sản, quá trình tái sản xuất kinh tế xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất do đó ngành nuôi trồng thủy sản có tình thời vụ rất rõ rệt
• Nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển rộng và tương đối phúc tạp hơn so với các ngành sản xuất vật chất khácĐối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng là các loại động vật máu lạnh, sống trong môi trường nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp của rất nhiều yếu tố môi trường như thủy lý, thủy hóa, thủy sinh do đó muốn cho các đối tượng nuôi trồng phát triển tốt con người phải tạo môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng nuôi Các biện pháp kỹ thuật sản xuất chỉ khi nào phù hợp với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của các đối tượng nuôi trồng thì mới giúp đối tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định Hơn nữa hoạt hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xút ngoài trời các điều kiện sản xuất như khí hậu, thời tiết, các yếu tố môi trường …và sinh vật có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến động khôn lường
- Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩmNgành thuỷ sản là một trong những ngành tạo
ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, Ngành thủy sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn Có thể nói Ngành Thuỷ s ản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, không những thế nó còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển Những năm gần đây, công tác khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình khai thác và nuôi trồng thuỷ s ản, hướng dẫn người nghèo làm ăn Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình được đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngư dân ven biển Bên cạnh
đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ Nghề khai thác thuỷ sản ở sông Cửu Long được duy trì đã tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở 249 xã ven sông
10