Đây là tài liệu đầy đủ nhất về xác định hàm lượng chì trong xăng. với định dạng chuẩn Xăng là một trong những sản phẩm của dầu mỏ, là nhiên liệu dùng cho các động cơ xăng như ôtô, xe máy, … và được gọi chung là xăng động cơ. Xăng không phải đơn thuần là một chất mà là hỗn hợp giữa các hydrocacbon được lấy từ phân đoạn xăng kết hợp với các chất phụ gia, nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu nhằm đảm bảo các yêu cầu hoạt động cơ trong những điều kiện vận hành thực tế và cả trong các đìu kiện tồn chứa, vận chuyển khác nhau. Chì là hợp chất phụ gia được thêm vào xăng để chống kích nổ, dưới dạng hợp chất cơ kim mang tên “chì tetra ethtyl” có tác dụng làm tăng khả năng chịu nén của nhiên liệu, dẫn đến tiết kiệm khoảng 30% lượng xăng sử dụng. Chỉ cần 34 cc hợp chất này trong một galon nhiên liệu (3,79 lít), hiện tượng kích nổ hoàn toàn biến mất. Sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô gắn liền với “ chì tetra ethyl” diễn ra trong suốt một thời gian dài , xăng pha chì chiếm lĩnh thị trường, sản lượng không ngừng tăng, từ năm 19231986 có 7 triệu tấn chì tetra ethyl được trộn vào xăng. Từ đây, ảnh hưởng xấu của nó bắt đầu lan rộng. Chính phủ các nước lập tức cấm bán xăng không chì vì độc tích của nó quá cao. Năm 1986, Mỹ hoàn toàn không sử dụng xăng pha chì. Không lâu sau, xăng pha chì bị loại bỏ ở Nhật Bản , Cânda, Brazil, Áo, Hàn Quốc,… Năm 1999, có 30 quốc gia trên thế giới đã loại bỏ việc dùng xăng pha chì, Việt Nam cũng vậy. Sau đây là một số phương pháp xác định hàm lượng chì trong xăng.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
- -BÀI TIỂU LUẬN XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CHÌ TRONG SẢN PHẨM DẦU MỎ
MÔN HỌC:
CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN DẦU MỎ
Giáo viên hướng dẫn : NGUYỄN THẾ HỮU
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI TIỂU LUẬN XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CHÌ TRONG SẢN PHẨM DẦU MỎ
Thành viên thực hiện : TRẦN ĐỘNG LỰC 1041120038
PHẠM ĐẮC QUANG 1041120033
TẠ MINH PHÚC 1041120002
ĐỖ TRỌNG ĐẠT 1041120031 NGUYỄN HỮU ĐẠT 1041120028
Giáo viên hướng dẫn : NGUYỄN THẾ HỮU
NỘI DUNG : - Tổng quan về dầu mỏ.
- Tổng quan về chì
- TCVN 6704:2008 Xăng – Phương pháp xác định chì bằng phổ tia X
- TCVN 7143:2010 Xăng – Phương pháp xác định chì bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử
- TCVN 6020: 2008 Xăng – Phương pháp iot monoclorua
- TCVN Xăng – Phương pháp thể tích với thuốc thử cromat
Trang 3Lời mở đầu 6
PHẦN1 :GIỚ THIỆU TỔNG QUAN VỀ DẦU MỎ VÀ CHÌ 7
CHƯƠNG 1 :TỔNG QUANN VỀ DẦU MỎ 7
1 Nguồn gốc của dầu mỏ và khí 7
1.1 Nguồn gốc vô cơ 8
1.2 Nguồn gốc hữu cơ 8
2 Các thành phần của dầu mỏ 9
2.1 Các hợp chất hydrocacbon của dầu mỏ 9
2.2 Các hydrocacbon n-parafin của dầu mỏ 11
2.2 Các hydrocacbon i-parafin của dầu mỏ 12
2.3 Các hydricacbon naphtenic ( cycloparafin) của dầu mỏ 12
2.4 Các hydrocacbon thơm của dầu mỏ 13
2.5 Các hudrocacbon hốn hợp loại naphten –thơm 13
2.6 Các loại chất không thuộc loại hydrocacbon trong dầu mỏ 13
3 Sản phẩm của dầu mỏ 13
CHƯƠNG 2: CHÌ VÀ TÁC HẠI CỦA CHÌ 15
1 Giới thiệu về chì 15
2 Tác hại của chì 18
PHẦN 2 : CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG TRÌ TRONG SẢN PHẨM DẦU MỎ 23
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CHÌ TRONG XĂNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHỔ TIA X 24
1 Phạm vi và ứng dụng: 24
2 Tóm tắt phương pháp: 25
3 Xử lý mẫu và bảo quản: 26
4 Thiết bị: 27
5 Thuốc thử: 28
6 Hiệu chỉnh: 29
7 Cách chuẩn bị: 30
8 Kiểm soát chất lượng 31
9 Dữ liệu kiểm soát chất lượng trong quá khứ 32
Trang 4CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CHÌ BẰNG PHƯƠNG PHÁP
QUANG PHỔ HẤP THỤ NGUYÊN TỬ 34
1 Sơ lược về phương pháp 34
1.1: Nguyên tử: Vật chất được cấu thành bởi những nguyên tố hóa học Ví dụ: nước (H2O) được cấu thành từ nguyện tố Hydro (H) và oxy (O); thanh sắt được cấu thành bởi các nguyên tố sắt (Fe) 34
Cấu tạo nguyên tử gồm 01 hạt nhân và các electron (điện tử) Các điện tử sắp xếp và phân bố trên các lớp quĩ đạo từ trong ra ngoài Các điện tử ở quĩ đạo ngoài cùng gọi là điện tử hóa trị 1.2 Sự hấp thu của nguyên tử: Trong điều kiện bình thường, các điện tử chuyển động trên các quĩ đạo ứng với mức năng lượng thấp nhất E0 35
1.3 Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử: Là phương pháp dựa trên nguyên lý hấp thu của hơi nguyên tử Người ta cho chiếu vào đám hơi nguyên tử một năng lượng bức xạ đặc trưng của riêng nguyên tử đó Sau đó đo cường độ còn lại của bức xạ đặc trưng này sau khi đã bị đám hơi nguyên tử hấp thụ, sẽ tính ra được nồng độ nguyên tố có trong mẫu đem phân tích 35
2 Các thiết bị đo hàm lượng chì bằng phương pháp quang phổ hấp phụ.36 2.1.Máy quang hấp phụ nguyên tử AAS (AAS: Atomic Absorption Spectrometer) 36
2.1.1 Nguyên tắc 36
2.1.2 Cấu tạo 37
2.1.3 Hiệu chuẩn thiết bị 39
2.1.4 Ưu nhược điểm 40
CHƯƠNG 3: CÁCH XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CHÌ TRONG XĂNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP IOT MONOCLORUA 42
1 Phạm vi áp dụng 42
2 Tài liệu viện dẫn 42
3 Tóm tắt phương pháp 43
4 Ý nghĩa và sử dụng 43
5 Thiết bị, dụng cụ 43
6 Hóa chất và vật liệu 43
7 Lấy mẫu 45
8 Cách tiến hành 45
9 Tính kết quả 46
Trang 510 Kiểm soát chất lượng 46
11 Báo cáo kết quả 47
12 Độ chụm và độ chệch 47
CHƯƠNG 4: XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CHÌ TỔNG SỐ TRONG XĂNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỂ TÍCH VỚI THUỐC THỬ CROMAT 49
1 Nguyên tắc của phương pháp: 49
2 Dụng cụ và thuốc thử: 49
2.1 Bộ dụng cụ chiết: 49
2.2 Thuốc thử và phương pháp chuẩn bị thuốc thử: 50
3 Chuẩn bị thử: 51
3.1 Xác định độ chuẩn của dung dịch chì Nitrat 51
3.2 Xác định độ chuẩn của dung dịch natri thiosunfat 52
4 Tiến hành thử: 52
5 Tính toán kết quả: 53
6 Sai số cho phép: 53
7 Biên bản thử: 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 6Lời mở đầu
Từ khi được phất triển đến nay, dầu mỏ và khí đã và đang là nguồn
nguyên liệu vô cùng quý giá của mỗi quốc gia nói riêng và toàn nhân loại nói chung Ngày nay sản phảm của dầu mỏ và khí đang có mạt trong hầu hết các lĩnh vực đòi sống sinh hoạt hằng ngàycuar con người cũng như công nghiệp
Dưới ggosc độ năng lượng thì dầu mỏ là nguồn năng lượng quan trọng nhất của các quốc gia trên thế giới theo số liệu thống kê thì có khoảng 65 đến70% năng lượng được sử dụng đi từ dầu mỏ và khí, chỉ có khoảng 20 đến
22% từ than, 5 đến 6% từ năng lượng nướcvaf từ 8 đến 12% đến từ năngn
lượng hạt nhân
Về góc độ nguyên liệu thì ta có thể hình dung với một lượng nhỏ
khoảng 5% dầu mỏ và khí được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành hóa dầu
đã có thể cung cấp được trên 90% nguyên liệu cho ngành công nghiệp hóa
chất Thực tế, từ dầu mỏ người ta có thể sản suất được cao su, chất dẻo, sợi
tổng hợp, các chất hoạt động bề mặt, hợp chất trung gian phân bón…
Ngoài những mục đích nói trên thì các sản phẩm phi năng lượng của
dầu mỏ như dầu nhờn, mỡ, nhựa đường … cũng đóng vai trò hết sức quan
trọng trong sự phát trển của công nghiệp
Sản phẩm năng lượng là một trong những sản phẩm quan trọng của
công nghiệp chế biến dầu mỏ và ngày nay đã thực sự trở thành một sản phẩm quen thuộc với con người Đặc biệt là xăng và dầu DO, bao gồm cả bản chất hóa học, phẩm cấp chất lượng cũng như các vấn đề liên quan như: Vì sao ô nhiễm mội trường do khí thải động cơ ngày càng gia tăng, vì sao sự hao tổn công suât, tuổi thọ động cơ càng nhanh Tất cả điều này đòi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu tìm ra các biện pháp nhằm góp phần giải quyết các vấn
đề còn tồn tại trong lĩnh vực sản xuất và sử dụng nhiên liệu
Xuất phát từ những vấn đề trên nên chúng em đã chọn đề tài: “ Tìm
hiểu một số phương pháp xác định hàm lượng chì trong sản phẩm dầu
mỏ” cho bài tiểu luận của chúng em Việc tìm hiểu đề tài này không những
giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về tính chất của sản phẩm dầu mỏ
mà còn giúp chúng ta biết được cách xác định hàm lượng chì trong xăng dầu
Trang 7PHẦN1 :GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DẦU MỎ VÀ CHÌ
CHƯƠNG 1 :TỔNG QUAN VỀ DẦU MỎ
Dầu mỏ là tên gọi tắt của dầu thô, nó là hỗn hợp của những hợp chất hữu cơ tự nhiên, chứa chủ yếu hai nguyên tố chính là cacbon ( C ) và hydro ( H ) Ngoài ra còn có một lượng nhỏ nitơ ( N ), oxy ( O ), lưu huỳnh ( S ) và các nguyên tố kim loại khác như ( Ni, V, …)
Dầu mỏ và khí là những nguồn hydrocacbon phong phú nhất có trong thiên nhiên Dầu mỏ cũng như khí ngày càng được nhiều và hầu như ở đâu cũng thấy dầu mỏ và khí không ít thì nhiều Qua đây phân tích thành phần
hóa học của các loại dầu mỏ khác nhau người ta nhận thấy không có loại dầu
mỏ nào trên thế giới có thành phần giống nhâu hoàn toàn cả, mà chúng rất
khác nhau vè thay đổi trong phạm vi rất rộng
Sự khác nhau rất nhiều về thành phàn dầu mỏ đã là một vấn đề khoa
học rất lớn có nhiều các giải thích lẫn nhau nhưng nói chung muốn làm sáng
tỏ vấn đè này cần phải trở về cội nguồn của nó, nghĩa là phải xem xét quá
trình hình thành của dầu và khí trong lòng đất
Tuy nhiên cho đến nay chua có nhận định nhất trí về nguồn gốc và sự biến đổi tạo thành dầu khí, thậm chí có nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực
này còn cho rằng, cho đến khi con người sử dụng đến giọt dầu cuối cùng trênhành tinh này thì vấn đề nguồn gốc của dầu khí có thể vẫn chưa được sáng tỏhoàn toàn
Tuy nhiên , ngày nay với sự phát triển khong ngừng của khoa học và công nghệ con người đã chế tạo được nhiều công cụ hiện đại phục vụ cho
công cuộc nghiên cứu như việc ứng dụng các phương pháp phân tích vật lý hiện đại ( sắc ký phổ khối, phổ hồng ngoại, phổ cộng hưởng từ hạt nhân, phổ
tử ngoại…) kết hợp vói các phương pháp vật lý cổ truyền ( chưng cất
thường,chưng cất phân tử, chưng trích ly, kết tinh , trích ly, khuyêchs tán
nhiệt…) đã góp phần đáng kể vào việc hiể biết hơn nguồn gốc các vật liệu
hữu cơ ban đầu tạo thành dầu khí và quá trình biết đổi chúng
Nhờ kết quả của các công trình nghiên cứu này mà những nhận
địnhveef nguồn gốc tạo thành dầu khí dần dần được sáng tỏ, việc nghiên cứu
và và giải thích sự khác nhau về thành phần của các loại dầu trên thế giới
càng được thuận tiện và rõ ràng hơn
Vì vậy, vấn đề nghiên cứu thành phần của dầu và khí đã khai thác và vấn đề nguồn gốc, sự tạo thành và biến đổi của dầu khí trong lòng đất là hai vấn đề liên quan vô cùng khăng khít
Trang 81 Nguồn gốc của dầu mỏ và khí
Khi xem xét về nguồn gốc của dầu mỏ và khí, người ta đã đưa ra
nhiều giả thiết khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau, nhưng chủ yếu
người ta quan tâm đến hai giả thiết như sau: giả thiết về nguồn gốc hữu
cơ và giả thiết về nguồn gốc vô cơ, trong phần này ta sẽ tìm hiểu về hai
phần này
1.1 Nguồn gốc vô cơ
Theo giả thiết về nguồn gốc vô cơ thì dầu mỏ được hình thành từ các hợp chất vô cơ, cụ thể trong lòng đất có chứa các cacbua kim loại như
Al4C3, CaC2…các chất này bị phân huỷ bởi nước để tạo ra theo các phương trình như sau
Al4C3 + 12 H2O 4 Al(OH)3 + 3 CH4
CaC2 + 2 H2O Ca(OH)2 + C2H2
Các phẩn ứng hình thành từ phản ứng trên tiếp tục biến đổi dưới tác
động của các yếu tố như nhiệt độ, áp suất cao và xúac tác là các khoáng sét
cóa sẵn trong lòng đất để tạo nên dầu khí
Để chuáng minh cho giả thiết này thì vào năm 1866, Berthelot đã thiến hành quá trình tổng hợp dược các hợp chất hydrocacbon thơm thừ acetylen ở nhiệt độ cao và sự có mặt của xúc tác Năm 1901, Sabartier và Sendereus
tiếnhanhf phản ứng hydro hóa acetylen trên xúc tác Niken và sắt ở nhiệt độ
khoảng 200-300oC đã thu được một loạt các hydrocacbon tương ứng như
thành phần của dầu mỏ Cùng vói nhiều phẩn ứng tương tự, giả thiết này đã thuyết phục được nhiều nhà khoa học trong một thời gian dài Tuy nhiên,
trong những hoạt động thực tiễn thì giả thiết này gặp khá nhiều vấn đề mà bảnthân nó không giải thích được như:
- Hàm lượng các hợp chất cacbua trong lòng đất khá hạn chế trong khi
đó thì dầu mỏ ngày càng tìm được vói só lượng lớn và hầu như ở
kkhawps mọi nơi
Trang 9- Các phản ư ngs tạo hợp chất thơm và thành phần tương tự như dầu mỏ
từ CH4 và C2H2 đòi hỏi có nhiệt độ cao trong khi thực tế nhiệt độ đạt được trong các mỏ dầu không quá 150-200oC
Bằng các phương pháp phân tích hiệnh đại, người ta đã xác định được
trong dầu thô có chứa porphyrin lad hợp chất có nhiều trong động thực vật Chính những khuyết điểm trên mà giả thiueets này ngày càng ít người quan tâm tới và thay đó là giả thiết về nguồn gốc hữu cơ
1.2 Nguồn gốc hữu cơ
Theo giả thiets này thì dầu mỏ được hình thành từ các hợp chất có
nguồn gốc hữu cơ, cụ thể từ xác chết của động thực vật và trải qua một quá trình biến đổi phức tạp trong một thời gian dài ( hàng chục đến hàng trăm
triệu năm )dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau như vi khuẩn , nhiệt độ,
áp xuất, và xác tác coa sẵn trong lòng đất và đoi khi còn có sự tác đọng của bức xạ do sự phóng xạ ở trong lòng đất
2 Các thành phần của dầu mỏ
2.1 Các hợp chất hydrocacbon của dầu mỏ.
Hydrocacbon là thành phần chính và quan trọng nhất của dầu mỏ Các hydrocacbon có trong dầu mỏ thường chia làm 5 loại sau:
- Các parafin cấu trúc thẳng (n- parafin)
- Các parafin cấu trúc nhánh ( i- parafin)
- Các parafin cấu trúc nhánh ( cyclo parafin naphten)
- Các hydrocacbon thơm
- Các hydrocacbon hỗn hợp ( hoặc lai hợp)
Số nguyên tử cacbon của các hydrocacbon trong dầu thường từ C5 đến C60 ( còn C1 đến C4 nằm trong khí) tương ứng với trọng lượng khoảng
855-880 Cho đến nay với những phương pháp phân tích hiện đại đã xác định được các hydrocacbon riêng lẻ trong dầu đen mức như sau:
Trang 10Bảng 2.1 Các hydrocacbon riêng lẻ đã xác định được trong các loại dầu
mỏ
Trang 11Tổng cộng các hydrocacbon riêng lẻ cho đến nay đã xác định được
là 425 Còn đói với các chất không thuộc loại hydrocacbon trong dầu
mỏ, đén nay cũng đã xác định được khoảng 380 hợp chất , trong đó
phần lớn là hợp chất của lưu huỳnh (khoảng 250 hợp chất)
2.2 Các hydrocacbon n-parafin của dầu mỏ
Hydrocacbon n-parafin là loại hydrocacbon phổ biến nhất trongg
các loại hydrocacbon trong dầu mỏ
Hàm lượng chung các n-parafin trong dầu mỏ thường từ 25-30%
thể tích Tùy theo dầu mỏ được tạo thành từ những thời tkyf địa chất
nào, mà sự phân bố các n-parafin trong dầu sẽ khác nhau Nói chung sự
phân bố này tùy theo hai quy tắc sau: tuổi càng cao, độ sâu càng lớn thì
hàm lượng n-parafin trong phần nhẹ của dầu mỏ càng nhiều
Một đặc điểm đáng chíu ý của các hydrocacbon n-pảtrafin là bắt
đầu từ n- parafin có số nguyên tử cacbon từ 18 trở lên, ở nhiệt đọ
thường chúng chuyển sang dạng rắn.\, khi nằm trong dầu mỏ chúng
hoặc nằm trong trạng ythais hòa tan hoặcowr dạng tinh thể lơ lửng trong
dầu Nếu hàm lượng n-parafin tinh thể quá cao, có khả năngg làm cho
toàn bộ dầu mỏ mất tính linh động, và bị đông đặc lại Trong bảng 2.2
dưới đây sẽ thấy rõ nhiệt độ sôi và nhiệt độ kết tinh của các n-parafin từ
C18 trở lên
Bảng 2.2 Một ssos tính chất của n-parafin trong dầu mỏ.
Trang 122.2 Các hydrocacbon i-parafin của dầu mỏ.
Loại i-parafin thường chỉ nằm trong phần nhẹ, còn phần có nhiệt
độ sôi trung bình và cao nói chung rất ít
Về vị trí phụ có hai đặc điểm chính sau
Các parafin trong dầu mỏ có cấu trúc đơn giản, mạch chính dài , mạch
phụ ít và ngắn Các nhánh phụ thường là các gốc metyl Đói vói các
i-parafin một nhánh phụ thì thường đính vào vị trí số 2, 3 Đối vói loại có
2,3 nhánh phụ thì xu hướng tạo thành cacbon bậc 3 nhiều hơn là tạo
nên cacbon bậc 4, ngĩa là hai nhánh phụ đính vào trong mạch chính
thường ít hơn
Đặc điểm thứ hai là trong dầu có những i-parafin có các nhánh phụ
nằm cách đầu nhau 3 nguyên tử cacbon
2.3 Các hydricacbon naphtenic ( cycloparafin) của dầu mỏ.
Hydrocacbon naphtenic cũng là một trong số các hydrocacbon phổ
Trang 13boeens và quan trọng của dầu mỏ Hàm lượng của chúng có thể lên tói
30-60% trọng lượng
Hydrocacbon naphtenic của dầu mỏ thường gặp dưới 3 dạng chính;
loại vòng 5 cạnh, loại vòng 6 vạnh hoặc loại nhiều vòng ngưng tụ qua
cầu nối Những loại vòng 7 cạnh trở lên thường rất ít không đáng kể
Tuy nhiên, trong dầu mỏ thì loại naphtenic 1 vòng (5,6 cạnh) coa
các nhánh phụ xung quanh lại là loại chiếm phần lớn chủ yếu nhất, và
cũng là loại được nghiên cứu đầy đủ nhất
2.4 Các hydrocacbon thơm của dầu mỏ.
Các hydrocacbon thơm của dầu mỏ thường gặp là loại còng thơm
và loại nhiều vòng thơm có cấu trúc ngưng tụ hoặc qua cầu nối,
Loại hudrocacbon thơm 1 vòng và các đồng đẳng của nó là loại phổ
biến nhất Benzen thường gặp với số lượng ít hơn tất cả
Những đồng đẳng của benzen (C7 – C15) nói chung đều đã tách và
xác định được trong nhiều loại dầu mỏ, những loại ankylbenzen với
1,2,3,4 nhánh phụ đều là những loai chiêmw đa số trong hydrocacbon
thơm
2.5 Các hudrocacbon hốn hợp loại naphten –thơm.
Nếu hydrocacbon thơm thuần khiết vừa khảo sát trên có không
nhiều trong dầu mỏ thì hydrocacbon dạng hỗn hợp thơm và naphten lại
phổ biến và chiếm đa số trong phần có nhiệt độ sôi cao của dầu mỏ Cấu
trúc hydrocacbon hỗn hợp này trong dầu mỏ rất dần với cấu truc hỗn
hợp tương tự trong vật liệu hữu cơ ban đầu tạo thành dầu, cho nên dầu
càng có độ biến chất thấp thì càng nhiều loại hydrocacbon loại này
2.6 Các loại chất không thuộc loại hydrocacbon trong dầu mỏ.
Đây là những hợp chất , mà trong phân tử của nó chứa O,N,S tức là
hợp chất hữu cơ của õi, nito, lưu huỳnh Một loại hợp chất khác mà
trong thành phần của nó cũng có cả đồng thời O,N,S sẽ không xét ở đây,
nó thuộc nhớm chất nhựa và asphalten
Nói chung, những loại dầu non, độ biến chất thấp , hàm lượng các
chất chứa dị nguyên tố kể trên đều cao hơn trong các loại dầu già có độ
biến chất và tỉ lệ của những chất O,N,S trong từng loại dầu sẽ khác
Trang 143 Sản phẩm của dầu mỏ.
Dầu mỏ có thể sử dụng trực tiếp nhưng không kinh tế và không
hiệu dụng Chính vì thế mà người ta đã phân chia nó thành nhiều phân
đoạn nhỏ Quá trình phân chia này dựa vào phương pháp chưng cát để
thu được các phân đoạn có khoảng nhiệt độ sôi khác nhau Những phân
đoạn này được sử dụng để sản xuất một hoặc vài sản phẩm nhất định
nên chúng được mang tên các sản phẩm đó, Thông thường, dầu mỏ
được chia thành những phân đoạn chính sau:
- Phân đoạn khí : Nhietj độ sôi nhỏ hơn 40oC, bao gồm
- Phân đoạn cặn gudron: Với nhiệt độ sôitreen 500oC, gồm các
thành phần có số nguyên tử cacbon từ C41 trở lên, có khi đến C80
và được xem là giới hạn cuối cùng
Chú ý : Các giá trị nhiệt độ trên đây không hoàn toàn cố định, chúng có
thể thay đổi tùy theo mục đích thu nhân các sản phẩm khác nhau
Trong các phân đoạn trên , sự phân bố các hợp chất hydrocacbon
và phi hidrocacbon của dầu mỏ nói chung không đông nhất , chúng thay
đổi rất nhiều khiđi từ phân đoạn nhẹ sang phân đoạn nặng hơn, vì vậy
tính chất của từng phân đoạn đều khác nhau Hơn nữa , các loại dầu mỏ
ban đầu đều có tính chất và sự phân bố các hợp chất hữu cơ trong đó
cũng khác nhau, cho nên tính chất của tùng phân đoạn dầu mỏ còn phụ
thuộc rất nhiều vào đặc tính hóa học của loại dầu ban đầu nữa
Trang 15CHƯƠNG 2: CHÌ VÀ TÁC HẠI CỦA CHÌ
1 Giới thiệu về chì
Chì là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn hóa học viết tắt
là Pb (Latin: Plumbum) và có số nguyên tử là 82.Chì có hóa trị phổ biến là II,
có khi là IV Chì là một kim loại mềm, nặng, độc hại và có thể tạo hình Chì
có màu trắng xanh khi mới cắt nhưng bắt đầu xỉn màu thành xám khi tiếp xúc với không khí Chì dùng trong xây dựng, ắc quy chì, đạn, và là một phần của nhiều hợp kim Chì có số nguyên tố cao nhất trong các nguyên tố bền
Trang 16Nhiệt bay hơi 179,5 kJ·mol−1
Nhiệt dung 26,650 J·mol−1·K−1
Trang 17Độ âm điện 2,33 (Thang Pauling)
Năng lượng ion
Mô đun Young 16 GPa
Mô đun cắt 5,6 GPa
Trang 18Khi tiếp xúc ở một mức độ nhất định, chì là chất độc đối với động vật
cũng như con người Nó gây tổn thương cho hệ thần kinhvà gây ra rối loạn
não Tiếp xúc ở mức cao cũng gây ra rối loạn máu ở động vật Giống với thủyngân, chì là chất độc thần kinhtích tụ trong mô mềm và trong xương Nhiễm độc chì đã được ghi nhận từ thời La Mã cổ đại, Hy Lạp cổ đại, và Trung Quốc
cổ đại
Chì từng được sử dụng phổ biến hàng ngàn năm trước do sự phân bố
rộng rãi của nó, dễ chiết tách và dễ gia công Nó dễ dát mỏng và dễ uốn cũng như dễ nung chảy Các hạt chì kim loại có tuổi 6400 TCN đã được tìm thấy
ở Çatalhöyük, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.[2] Vào đầu thời kỳ đồ đồng, chì được sử dụng cùng với antimon và asen
Nhà sản xuất chì lớn nhất trước thời kỳ công nghiệp là nền kinh tế La
Mã, với sản lượng hàng năm 80.000 tấn, đặc biệt chúng là phụ phẩm của quá trình nung chảy bạc[1][3][4] Hoạt động khai thác mỏ của La Mã diễn ra ở Trung
Âu, Anh thuộc La Mã, Balkans, Hy Lạp, Tiểu Á; riêng ở Hispania chiếm 40%sản lượng toàn cầu.[1]
Các ống chì La Mã thường khảm lên phù hiệu của các hoàng đế La Mã Đường ống dẫn nước bằng chì ở Tây Latin có thể đã được duy trì vượt qua
thời kỳ Theodoric Đại đế tới tận thời Trung Cổ.[5] Một số thỏi chì La Mã
tượng trưng cho lịch sử khai thác chì Derbyshire và trong lịch sử công nghiệp của các trung tâm kinh tế ở Anh khác Người La Mã cũng sử dụng chì nóng chảy để giữ các chân trụ sắt gắn kết với các khối đá vôilớn ở các nhà thờ nhất định Trong giả kim thuật, chì từng được cho là kim loại cổ nhất và liên quan
đến Sao Thổ Các nhà giả kim thuật sử dụng biểu tượng của Sao Thổ (♄) để
ám chỉ chì
Ký hiệu của chì Pb là chữ viết tắt từ tên tiếng Latin plumbum nghĩa là
kim loại mềm; có nguồn gốc từ plumbum nigrum ("plumbum màu đen"),
trong khi plumbum candidum(nghĩa là "plumbum sáng màu") là thiếc.
2 Tác hại của chì
Chì là một kim loại mang rất nhiều tính chất ưu việt, vì vậy, nó đã từng được sử dụng rất phổ biến trong đời sống của con người
Tuy nhiên, trong vài thập kỷ trở lại đây, chúng ta đã nhận ra mặt trái
của kim loại này, nó gây ra rất nhiều nguy cơ về sức khỏe, đặc biệt là ở trẻ
nhỏ
Chính vì vậy, từ lâu chì đã bị cấm sử dụng trong nhiều sản phẩm từ
nhiên liệu, sơn cho đến đồ gia dụng và mỹ phẩm
Trang 19Tuy nhiên, sự thật là ở nhiều quốc gia, chì vẫn có mặt xung quanh đời sống con người, từ các thiết bị điện tử, đồ chơi, cho đến son môi hay nước
uống Vậy nếu chẳng may bị nhiễm chì, điều gì sẽ xảy ra bên trong cơ thể?
Hình 2.2Chì là một chất độc nhưng nó sẽ gây hại như thế nào?
Chì gây hại như thế nào ở cấp độ phân tử
Để trả lời câu hỏi chì “hoành hành” như thế nào trong cơ thể chúng ta,
bạn cần biết rằng trong cơ thể con người tồn tại một số lượng rất nhỏ các
nguyên tố kim loại như kẽm, magie, natri
Chúng được gọi là nguyên tố vi lượng mà rất cần thiết cho cuộc sống của
chúng ta
Thông thường, các kim loại hoạt động cùng với enzyme của cơ thể
trong vài trò xúc tác, làm tăng tốc các phản ứng sinh hóa Cơ thể chúng ta
không thể hoạt động mà không cần enzyme mà nhiều enzyme thì trở nên bất lực khi không có mặt các kim loại
Vì vậy, mỗi ngày bạn cần bổ sung vài trăm miligam canxi, magiê, natri.Vài miligam sắt và Iốt, hay thậm chí là vài trăm microgam selen và asen Chỉ khi các kim loại này được bổ sung một lượng quá mức, chúng gây độc
Câu chuyện là hoàn toàn khác biệt với chì Bởi không đóng bất kể một vai trò sinh lý và tham gia phản ứng sinh hóa nào trong cơ thể, ngưỡng an toàn dành cho chì là không hề có Bất kể một lượng nhỏ của chì nào cũng sẽ gây hại cho
cơ thể
Trang 20Tính độc của chì cũng được gây ra từ đây, khi nó có xu hướng thay thế
vị trí của tất cả các kim loại khác Ví dụ, bạn có thể thấy trong ảnh X-quang của một bệnh nhân nhiễm độc chì, nó đã chiếm chỗ của canxi trong xương
Hình 2.3 Chì nhiễm trong xương có thể được quan sát qua ảnh X-quang
Chì cũng chiếm chỗ của kẽm và canxi trong các protein Không có sự
có mặt của hai nguyên tố này các protein không thể hoạt động
Ví dụ, một protein gắn liền với kẽm đang làm nhiệm vụ duy trì huyết
áp cơ thể và sự phát triển bình thường ở trẻ em Khi chì được hấp thụ vào cơ thể, nó thế vào chỗ của kẽm gây chứng chậm lớn ở trẻ và huyết áp cao ở
người trưởng thành
Khi chì thế chỗ của canxi trong các phản ứng truyền xung điện trong não, nó gây ra chứng mất trí, giảm khả năng suy nghĩ.
Chì ức chế quá trình tổng hợp heme, thường có sự tham gia của sắt, gây ra chứng
thiếu máu Nó cũng “đuổi” kẽm ra khỏi một protein tham gia vào việc sản sinh tinh
trùng, gây vô sinh ở những người đàn ông có mức tiếp xúc chì cao trong công việc.
Kết quả cuối cùng
Như vậy, nhìn vào cấp độ phân tử, bạn có thể thấy chì độc, phần lớn đến từ việc nó chiếm chỗ của các kim loại vi lượng khác, gây rối loạn hoặc ngưng các
phản ứng sinh hóa diễn ra bình thường trong cơ thể.
Vậy, kết quả cuối cùng biểu hiện ra bên ngoài của việc nhiễm chì là gì?
Tất cả mọi người sẽ đều chịu ảnh hưởng của việc nhiễm chì, nhưng trẻ em là đối
tượng chịu ảnh hưởng lớn nhất Trẻ em sẽ hấp thụ khoảng 40-50% lượng chì theo đường tiêu hóa vào cơ thể Trong khi đó, người lớn chỉ hấp thụ khoảng 3-10%.
Bên cạnh đó, khi đi vào cơ thể, chì lưu trữ chính ở máu, mô mềm và xương Nó sẽ tồn tại trong máu qua một vài tuần, một vài tháng ở các mô mềm và hàng năm ở
xương.
Trang 21Chì trong xương, răng, tóc và móng tay được ràng buộc chặt chẽ và ít gây
IQ thấp, hiếu động…
Hậu quả được dự đoán theo mức độ chì trong máu Trẻ thông thường
có nồng độ chì dưới 0.05 mg/L máu Mức độ chì từ 0.1 đến 0.25 mg/L đã có thể liên quan đến suy giảm chức năng thần kinh Mức độ trên 0.25 mg/L sẽ
gây ra đau đầu, khó chịu và các vấn đề thần kinh nghiêm trọng hơn
Điều trị được chỉ định bắt đầu ở mức 0.45 mg/L Mức độ 0.5-0.7 mg/L được tính là nhiễm độc vừa phải Trên 0.7 mg/L được tính là nhiễm độc nặng và có thể gây co giật, tử vong
Đối với phụ nữ mang thai, chì tích tụ trong cơ thể cạnh tranh với canxi trong xương Nó có thể vượt qua hàng rào nhau thai, phơi nhiễm vào đứa bé Hậu quả xảy ra là thai nhi giảm tăng trưởng và bà mẹ có nguy cơ sinh non
Trang 22Ở người trưởng thành, tiếp xúc với chì cũng được ghi nhận tác dụng lên hệ
tim mạch như tăng huyết áp Nó cũng gây suy giảm chức năng thận và ảnh
hưởng xấu đến sinh sản
Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, điều trị nhiễm chì có thể không để lại di chứng ở người trưởng thành Ngược lại, đối với trẻ em, nhiễm chì ở nồng độ thấp cũng có thể để lại di chứng về suy giảm nhận thức trong suốt phần đời còn lại
Kết luận
Như vậy, bạn đã có thể biết rằng tác hại của chì đến từ việc nó không đóng bất cứ vai trò sinh lý nào đối với cơ thể Chì thay thế vị trí của các
nguyên tố kim loại vi lượng trong cơ thể làm đình trệ nhiều phản ứng sinh
hóa, từ đó gây ra rất nhiều tác hại, đặc biệt là ở trẻ nhỏ
Bởi vậy, chúng ta cần rất cảnh giác với các nguồn có thể phơi nhiễm
chì cho cơ thể, từ sơn, mỹ phẩm, đồ điện tử cho đến nước uống
Trong trường hợp nghi ngờ nhiễm chì, bạn nên kiểm tra tình hình sức khỏe, xét nghiệm máu để xác định nồng độ chỉ ở trong máu nhằm có biện pháp xử trí kịp thời, phù hợp
Trang 23PHẦN 2 : CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG TRÌ
TRONG SẢN PHẨM DẦU MỎ.
Xăng là một trong những sản phẩm của dầu mỏ, là nhiên liệu dùng cho các động cơ xăng như ôtô, xe máy, … và được gọi chung là xăng động cơ
Xăng không phải đơn thuần là một chất mà là hỗn hợp giữa các
hydrocacbon được lấy từ phân đoạn xăng kết hợp với các chất phụ gia, nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu nhằm đảm bảo các yêu cầu hoạt động cơ trong
những điều kiện vận hành thực tế và cả trong các đìu kiện tồn chứa, vận
chuyển khác nhau
Chì là hợp chất phụ gia được thêm vào xăng để chống kích nổ, dưới
dạng hợp chất cơ kim mang tên “chì tetra ethtyl” có tác dụng làm tăng khả
năng chịu nén của nhiên liệu, dẫn đến tiết kiệm khoảng 30% lượng xăng sử dụng Chỉ cần 3-4 cc hợp chất này trong một galon nhiên liệu (3,79 lít), hiện tượng kích nổ hoàn toàn biến mất
Sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô gắn liền với “ chì tetra ethyl” diễn ra trong suốt một thời gian dài , xăng pha chì chiếm lĩnh thị trường, sản lượng không ngừng tăng, từ năm 1923-1986 có 7 triệu tấn chì tetra ethyl đượctrộn vào xăng Từ đây, ảnh hưởng xấu của nó bắt đầu lan rộng Chính phủ cácnước lập tức cấm bán xăng không chì vì độc tích của nó quá cao
Năm 1986, Mỹ hoàn toàn không sử dụng xăng pha chì Không lâu sau, xăng pha chì bị loại bỏ ở Nhật Bản , Cânda, Brazil, Áo, Hàn Quốc,… Năm
1999, có 30 quốc gia trên thế giới đã loại bỏ việc dùng xăng pha chì, Việt
Nam cũng vậy Sau đây là một số phương pháp xác định hàm lượng chì trong xăng
Trang 24CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CHÌ TRONG XĂNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHỔ TIA X.
1 Phạm vi và ứng dụng:
1.1 Phương pháp này bao gồm việc xác định hàm lượng chì trong xăng
Phạm vi hiệu chuẩn của thủ tục là 0,010 đến 5,0 gram chì / U.S gallon Các mẫu trên mức này phải được pha loãng để nằm trong khoảng từ 0,05 đến 5,0 gram chì / U.S gallon Phương pháp này bù đắp cho sự thay đổi thành phần xăng và không phụ thuộc vào loại alkyl chì
1.2 Phương pháp này có thể được sử dụng như một phương pháp thay thế cho Phương pháp tiêu chuẩn cho chì trong xăng bằng Quang phổ hấp thụ
nguyên tử hoặc Phương pháp tự động cho chì trong xăng bằng Quang phổ hấpthụ nguyên tử
1.3 Trong trường hợp tên thương mại hoặc sản phẩm cụ thể được ghi trong
phương pháp, có thể sử dụng thiết bị tương đương và thuốc thử hoá học Việc
đề cập đến tên thương mại hoặc sản phẩm cụ thể là dành cho sự hỗ trợ của
người sử dụng và không phải là sự chứng thực của Cơ quan Bảo vệ Môi
trường Hoa Kỳ
Trang 25Hình 1.1
3 Tóm tắt phương pháp:
2.1 Một phần mẫu xăng được đặt trong một giá đỡ thích hợp và được nạp
vào một quang phổ tia X Tỷ lệ cường độ tia X của bức xạ L alpha dẫn đến
cường độ mạng của bức xạ tungsten L alpha không rải rác Nội dung chì đượcxác định bằng cách tham chiếu phương trình hiệu chuẩn tuyến tính liên quan đến hàm lượng chì với tỷ lệ đo được
2.2 Bức xạ vonfram phân tán không được sử dụng để bù cho các biến thể
trong mẫu xăng
Trang 26Hình 1.2
4 Xử lý mẫu và bảo quản:
3.1 Các mẫu cần được thu gom và cất giữ trong các thùng chứa sẽ bảo vệ chúng khỏi những thay đổi về hàm lượng chì của xăng, ví dụ như mất các
phân đoạn dễ bay hơi của xăng bằng cách bốc hơi hoặc tẩy chì vào trong bình chứa hoặc nắp
3.2 Nếu mẫu đã được làm lạnh nên được đưa đến nhiệt độ phòng trước khi
phân tích
4.3 Xăng dễ cháy và cần được xử lý cẩn thận và thông gió đầy đủ Hơi
có hại nếu hít phải hơi thở hít phải và kéo dài Tiếp xúc với da nên được giảm thiểu
Trang 27Hình 1.3
Trang 284 Thiết bị:
Hình 1.4
4.1 Quang phổ kế tia X, có khả năng đo các dòng huỳnh quang được
đề cập trong mục và đang hoạt động dưới các điều kiện dụng cụ sau đây hoặc các kết quả khác tương đương: một ống mục tiêu vonfram hoạt động ở 50 kV,một lithium fluoride phân tích tinh thể, đường dẫn quang heli và máy dò tỷ lệ thuận hoặc xung
4.2 Một số nhà sản xuất các thiết bị X quang quang phổ không còn cho phép sử dụng không khí làm đường trung gian vì chùm tia X tạo ra ozon,
có thể làm suy giảm các con dấu và điện tử Ngoài ra, việc sử dụng thiết bị có xăng lỏng gần với ống tia X nóng có thể gây ra các vấn đề về khả năng cháy