Tuy nhiên, qua tất cả các công trình vừa nêu ở trên, tôi nhận thấy còn có một hướng nghiên cứu khác, là hướng ñi sâu vào các vấn ñề liên quan ñến các tưv tưởng cải cách và cải nhà cải cá
Trang 1KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM LỊCH SỬ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ðề tài:
TƯ TƯỞNG CANH TÂN Ở VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH CHUNG CỦA CHÂU Á
NỬA SAU THẾ KỈ XIX
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths TRẦN MINH THUẬN HUỲNH THÀNH PHƯỚC
MSSV:6076567 LỚP: SP LỊCH SỬ Khóa: 33
Cần Thơ, 04 - 2011
Trang 2
Lời cám ơn
PHẦN MỞ ðẦU……… 1
I Lí do chọn ñề tài: 1
II Lịch sử nghiên cứu vấn ñề: 2
III Mục ñích nghiên cứu: 3
IV ðối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
V Phương pháp nghiên cứu và tài liệu tham khảo chính: 3
VI Bố cục ñề tài: 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: CHÂU Á TRƯỚC NGUY CƠ XÂM LƯỢC CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY 5
1 Châu Á trước sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây 5
2 Phản ứng của các nước Châu Á ñối với sự xâm lược của chủ nghĩa ñế quốc phương Tây 7
2.1 Chấp nhận dễ dàng ách chiếm ñóng của chủ nghĩa thực dân phương Tây 8
2.2 Kiên quyết chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây bằng biện pháp kháng chiến 8
2.3 Tiến hành cải cách, duy tân, hiện ñại hóa ñất nước theo con ñường phát triển của chủ nghĩa thực dân phương Tây 11
Chương 2: TƯ TƯỞNG CANH TÂN Ở VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX 15
1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX 15
1.1 Kinh tế nông nghiệp lạc hậu 15
1.2 Chế ñộ phong kiến trung ương tập quyền 16
1.3 Văn hóa - xã hội Việt Nam thế kỉ XIX 17
Trang 32.1 Sơ lược các nhà cải cách 18
2.2 điều kiện ựòi hỏi phải tiến hành canh tân 21
2.2.1 Sự xâm lược của thực dân Pháp 21
2.2.2 Sự tiếp xúc với nền văn minh phương Tây 23
2.2.3 Tinh thần yêu nước và năng lực tư duy của các nhà canh tân 23
2.3 Những tư tưởng canh tân ựất nước của các nhà trắ thức tiến bộ 25
2.3.1 Về kinh tế 25
2.3.2 Về chắnh trị 28
2.3.3 Về xã hội 32
2.3.4 Về ngoại giao 34
2.3.5 Về văn hóa - giáo dục 37
Chương 3: NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA XU HƯỚNG CANH TÂN Ở VIỆT NAM - SO SÁNH VỚI NHẬT BẢN VÀ THÁI LAN44 1 Nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân ở Việt Nam 44
1.1 Chắnh sách sai lầm của triều Nguyễn về ựối ngoại 44
1.2 Thiếu hẳn cơ sở kinh tế - xã hội cần thiết cho cuộc canh tân 49
1.3 Nền học thuật cũ với bức màn Nho giáo 52
1.4 Sự thiếu tham gia của ựông ựảo nhân dân
2.Tư duy canh tân ở Nhật Bản và Thái Lan dưới góc nhìn thành bại ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX 57
2.1.Trường hợp của Nhật Bản 57
2.2 Trường hợp của Thái Lan 64
3 đôi ựiều suy nghĩ về tư duy canh tân ở Việt Nam cho nền lịch sử dân tộcẦẦẦ72
Trang 4PHỤ LỤC 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 5PHẦN MỞ đẦU
I Lắ do chọn ựề tài
Từ thế kỉ XVI ựến thế kỉ XIX, Châu Âu và Bắc Mỹ ựã tiến hành thành công các cuộc cách mạng tư sản, cách mạng công nghiệp không ngừng ựược triển khai, thúc ựẩy chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng, khoa học kĩ thuật phát triển mạnh ựạt ựến trình ựộ tiên tiến của thế giới lúc bấy giờ đồng thời với sự lớn mạnh ựó, các nước tư bản Âu - Mỹ cũng ựẩy mạnh chiến tranh xâm lược ựể chiếm ựoạt thị trường và thuộc ựịa trên thế giới Trong khi ựó, ở Châu Á và nhiều nơi khác trên thế giới vẫn nằm dưới ách thống trị của chế ựộ phong kiến và trong tình trạng lạc hậu, trì trệ Làn sóng văn minh công nghiệp và họa xâm lăng của các nước tư bản Âu - Mĩ ựã ựặt các nước Châu
Á phải ựối mặt với những cơ hội và thách thức: mở cửa giao lưu hội nhập với thế giới hiện ựại, canh tân ựất nước ựể tự cường và phát triển đối phó với nguy cơ bành trướng xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, bảo vệ thắng lợi ựộc lập chủ quyền, an ninh toàn vẹn lãnh thổ của mình
Trước những thách thức và cơ hội ấy, nhiều dân tộc ở Châu Á ựã lần lượt bị biến thành thuộc ựịa, phụ thuộc như: Miến điện, Mã Lai, Inựônêxia, Philippin, Việt Nam, Lào, Campuchia,Ầ nhưng cũng có những dân tộc mạnh lên, thoát ra một cách ngoạn mục khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa thực dân, ựó là trường hợp của Nhật Bản và Thái Lan Ở các nước này chắnh quyền ựương thời ựã tiến hành một cuộc canh tân toàn diện, ựã tạo ra một thực lực nhất ựịnh góp phần vào việc bảo vệ ựộc lập chủ quyền Tuy nhiên có một thực tế là ở một số nước khác, cũng có những dự án cải cách tương
tự nhưng không thành công như ở Việt Nam hay khắa cạnh khác là Trung Quốc đó cũng là vấn ựề ựang ựặt ra và câu trả lời hiện nay vẫn chưa tìm ựược một lời ựáp xác ựáng
Vào thời ựiểm nửa sau thế kỉ XIX, canh tân cũng ựược xem như là một giải pháp
ựể giải quyết vấn ựề hội nhập có hiệu quả của một số quốc gia Châu Á trong quá trình hội nhập vào xu thế quốc tế hóa của chủ nghĩa tư bản Hiện nay các quốc gia Châu Á ựang ựứng trước xu thế toàn cầu hóa, thì những bài học về quá trình hội nhập trong thời kì cận ựại tuy là của quá khứ nhưng nếu ựược chứng nghiệm là xác ựáng thì vẫn
có giá trị nhất ựịnh ựối với quá trình ựổi mới ựể hội nhập, trong ựó có Việt Nam
Trang 6Nghiên cứu cuộc canh tân Việt Nam trong bối cảnh ở Châu Á nửa cuối thế kỉ XIX còn góp phần làm sáng tỏ những vấn ñề lâu nay vẫn còn ñang tranh cãi về sự thất bại của những dự án cải cách ở Việt Nam trong thời kì cận ñại Từ ñó, ñề tài sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết, phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của sinh viên cũng như tất
cả những ai quan tâm ñến vấn ñề này Với tất cả những ý nghĩa trên, tôi ñã chọn vấn ñề: “TƯ TƯỞNG CANH TÂN Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUNG CỦA CHÂU Á NỬA SAU THẾ KỈ XIX” ñể làm ñề tài nghiên cứu của mình
II Lịch sử nghiên cứu vấn ñề
Nghiên cứu về cuộc canh tân ở Việt Nam từ trước ñến nay ñều tập trung chủ yếu vào các tư tưởng canh tân xuất hiện vào nửa cuối thế kỉ XIX Nói ñến tư tưởng canh tân ở Việt Nam thế kỉ XIX (ñặc biệt là nửa sau thế kỉ XIX) là nói ñến những tư tưởng mới mẽ xuất hiện Sự mới mẻ này thể hiện trong suy nghĩ, tâm huyết ñối với ñất nước,
sự sống còn của một dân tộc,…ñã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu Tôi có thể dẫn ra ñây một số công trình liên quan ñến
ñề tài ở những mức ñộ khác nhau mà tôi ñã có ñiều kiện tiếp xúc như sau:
1.Vĩnh Sính 2000 “Nhật Bản Cận ðại” Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh ðây
là cuốn thông sử về lịch sử Nhật bản trong ñó tác giả ñề cập về cuộc cải cách khá ñầy
ñủ
2.ðỗ Bang (chủ biên) 1999 “Tư tưởng Canh Tân ñất nước dưới triều Nguyễn” Huế,
Nhà xuất bản Thuận Hóa Trong công trình này, các tác giả ñã giới thiệu khái quát những dự án canh tân ñất nước dưới triều Nguyễn hồi nửa sau thế kỉ XIX và bước ñầu
lí giải vì sao các dự án canh tân ñó thất bại
3.ðinh Xuân Lâm (chủ biên) 1999 “ðại cương lịch sử Việt Nam” Nhà xuất bản giáo
dục Hà Nội Trong công trình này, các tác giả ñã dành thời lượng thích ñáng ñể trình bày phong trào cải cách ñầu thế kỉ XX ở Việt Nam
4.Trần Văn Giàu, “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XIX ñến
cách mạng tháng tám” Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973 Tác giả tiếp tục ñề cập
tới dòng tư tưởng canh tân với tư cách là một giá trị tư tưởng mới ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX Nó có giá trị cung cấp những nhận thức tổng thể về tư tưởng cải cách thời
kì này trong dòng chảy tư tưởng của lịch sử tư tưởng Việt Nam
Trang 75.Trương Bá Cần, “Nguyễn Trường Tộ - Con Người và Di Khảo” NXB thành phố Hồ
Chí Minh,1988 Tác giả ñã hướng ñi sâu vào tiểu sử và di thảo của nhà cải cách nhằm phát hiện ra những tư liệu mới làm sâu sắc và ñầy ñủ hơn các văn bản và sử liệu trong lĩnh vực này
Ngoài ra, còn có một số công trình khác có liên quan ñến ñề tài ở góc ñộ này hay góc ñộ khác Tuy nhiên, qua tất cả các công trình vừa nêu ở trên, tôi nhận thấy còn có một hướng nghiên cứu khác, là hướng ñi sâu vào các vấn ñề liên quan ñến các tưv tưởng cải cách và cải nhà cải cách: sự hình thành tư tưởng cải cách, nguyên nhân dẫn ñến chúng không thực hiện ñược, vị trí và ý nghĩa của chúng trong lịch sử Việt Nam,…Do ñó, tôi ñã dựa vào các tài liệu nêu trên và những tài liệu mà tôi thu thập ñược ñể cố gắng giải quyết những vấn ñề mà ñề tài ñang nghiên cứu
III Mục ñích nghiên cứu
ðề tài tập trung làm rõ tư tưởng canh tân ở Việt Nam trong bối cảnh chung của châu Á nửa cuối thế kỉ XIX Từ ñó rút ra nguyên nhân thành, bại và những bài học kinh nghiệm trong sự ñối sánh với các quá trình cải cách khác ở Châu Á (Nhật Bản, Thái Lan) vào nửa cuối thế kỉ XIX
IV ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn ñề mà tôi tập trung làm rõ trong luận văn, chủ yếu tập trung vào tư tưởng canh tân ở Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX trong bối cảnh chung của châu Á Nhưng ngay cả những phong trào này, tôi không trình bày lại toàn bộ quá trình cải cách mà chỉ dừng lại ở những nét tiêu biểu nhất Hơn nữa, nội dung mà tôi cho rằng ở phần ñóng góp của tôi chính là ở việc ñối sánh giữa các phong trào cải cách (trong ñó có Nhật Bản và Thái Lan) về những vấn ñề cơ bản: kết quả, những nhân tố tác ñộng ñến sự thành bại của các cuộc canh tân và việc rút ra những bài học kinh nghiệm từ các cuộc canh tân Thời gian của vấn ñề mà ñề tài nghiên cứu là vào nửa cuối thế kỉ XIX
V Phương pháp nghiên cứu và tài liệu tham khảo chính
ðề tài là một vấn ñề thuộc chuyên ngành lịch sử, vì vậy tôi tuyệt ñối tuân thủ phương pháp nghiên cứu của bộ môn ñó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, trên cơ sở phương pháp luận sử học của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Trang 8Minh Phương pháp lịch sử xem xét, nghiên cứu các cuộc canh tân trong tính ñầy ñủ, hiện thực, cố gắng dựng lại bức tranh toàn cảnh về các cuộc canh tân như ñã từng diễn
ra với những nét cơ bản nhất Phương pháp lôgic nhằm làm rõ cái cốt lõi, bản chất của các quá trình canh tân Ngoài ra, ñể có thể lý giải sâu sắc các vấn ñề xung quanh các cuộc canh tân, tôi còn sử dụng phương pháp xử lí, phân tích các nguồn tư liệu, ñối chiếu, so sánh giữa các cuộc canh tân ñể có cái nhìn toàn diện hơn
Phần kết luận sẽ khái quát lại những luận ñiểm chính và nêu ra một số vấn ñề về hướng tiếp tục nghiên cứu nếu có thể
VI Bố cục của ñề tài:
Ngoài phần mở ñầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn này ñược chia làm ba
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CHÂU Á TRƯỚC NGUY CƠ XÂM LƯỢC CỦA CHỦ
NGHĨA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY
1 Châu Á trước sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Châu Á nằm về phắa ựông ựại lục Á - Âu và chiếm khoảng 80% diện tắch ựại lục đây là một khu vực rộng lớn, ựông dân, giàu tài nguyên nên từ rất sớm ựã thu hút
sự chú ý của người phương Tây Không phải ngẫu nhiên mà trong buổi giao thời giữa thời trung ựại và thời cận ựại của lịch sử thế giới mà tất cả các cuộc phát kiến ựịa lắ của người châu Âu ựều hướng về châu Á ựề tìm vàng bạc, châu báu cùng những hương vị quý Các cuộc phát kiến ựịa lắ ựã mở ra thời ựại xâm chiếm thuộc ựịa của chủ thực dân phương Tây: con ựường vòng quanh châu Phi sang châu Á của Bồ đào Nha và con ựường vượt đại Tây Dương sang châu Mỹ của người Tây Ban Nha là một minh chứng
Từ cuối thế kỉ XVIII ựến nửa sau thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây ựã phát triển thành hệ thống và ựẩy mạnh hơn nửa việc xâm chiếm thuộc ựịa, ựứng ựầu là Anh, Pháp, Mĩ Công thương phát triển mạnh, khoa học kỹ thuật trong thế kỉ ánh sáng gặt hái ựược nhiều thành công Khi ựó, Anh là nước có một hệ thống thuộc ựịa rộng lớn ở hầu khắp các châu lục: Airơlen, Gibranta ở châu Âu, các vùng ựất màu mỡ ở sông Xênêgan, Gămbi cùng miền duyên hải dọc ven vịnh Ghinê ở Tây Phi và một số tỉnh trọng yếu của Ấn độ (Bengan, Maựrat, Bombay,Ầ) Với thế mạnh hàng ựầu thế giới ựi lại trên mặt biển, Anh ựã mở rộng thế lực ựến châu Úc cùng một một số quốc gia ở châu Á Cuối thế kỉ XVIII, nước Pháp có ựầy ựủ những tiền ựề kinh tế, văn hóa,
xã hội cho một cuộc cách mạng tư sản Và, trào lưu tư tưởng ỘÁnh sángỢ của các vĩ nhân: Rútxô, Vônte,Ầlà ngọn cờ tư tưởng cho tư sản Pháp tiến hành một cuộc cách mạng những năm 1789 - 1794 Cuộc cách mạng này ựã xóa bỏ các quan hệ ruộng ựất phong kiến, mở ựường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, xác lập chế ựộ tư bản chủ nghĩa trong ựời sống xã hội Pháp Sau Anh, Pháp là nước ựứng hàng thứ hai trong nền kinh tế của thế giới Sự phát triển toàn diện của nền kinh tế Bắc Mỹ làm cho
Trang 10thuộc ựịa này ngày càng giàu có, khả năng tự chủ về mọi mặt kinh tế, chắnh trị ngày càng gia tăng đó là yếu tố quyết ựịnh dẫn tới sự hình thành một nhà nước tự chủ ở vùng ựất này Năm 1776, Mỹ tuyên bố ựộc lập Chiến thắng này ựã mở ựường cho chủ nghĩa tư bản ở Bắc Mỹ phát triển mãnh liệt, tạo nên một quốc gia hùng cường nhất thế giới là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đây là một ựế quốc trẻ, ựã cạnh tranh gay gắt với Anh, Pháp trong việc tìm kiếm thuộc ựịa, mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ựã làm tăng thêm nhu cầu về thuộc ựịa cung cấp nguyên liệu cùng thị trường tiêu thụ hàng hóa Hàng hoá của tư bản các nước ùn ùn ựược chở ra nước ngoài và cũng tới tấp chở về những vàng, bạc châu báu, hương liệu và các sản vật quý hiếm Khi thị trường thương mại ựã trở nên chật hẹp, các nước tư bản phương Tây bắt ựầu ựua nhau kéo sang phương đông, vừa ựể bán sản phẩm của nền công nghiệp, vừa ựầu tư vốn ựể kiếm lời trong các ngành kinh doanh, khai thác nguyên liệu và nguồn nhân công rẻ mạt Những cuộc chiến tranh xâm lược ngày càng ựược ựẩy mạnh Trong thế kỉ XIX, vùng châu Á rộng lớn ựầy tiềm năng trở thành mục tiêu của các nước ựế quốc: Anh, Pháp, Tây Ban Nha,Ầtrong việc xâm lược thuộc ựịa và tìm kiếm thị trường
Trong nửa ựầu thế kỉ XIX, sau cuộc chiến tranh Nha Phiến ở Trung Quốc lần I (1839-1842), Anh ựã buộc triều ựình Mãn Thanh phải kắ hiệp ước Nam Kinh (29/08/1842) chấp nhận mọi ựiều kiện do Anh ựặt ra: phải mở các cửa biển cho tự do thông thương: Quảng Châu, Thượng Hải,Ầ Hương Cảng bị cắt cho Anh Trung Quốc phải bồi thường chiến phắ và thừa nhận quyền lãnh sự tài phán cho Anh Bên cạnh, Anh cũng xâm lược Ba Tư (nay là Iran), cho quân bắn phá Kagôsima ựòi Nhật mở cửa buôn bán, xâm chiếm Newzeland, Malaysia, Mianma, can thiệp vào Xiêm và biến Ấn
độ thành thuộc ựịa Từ ựó, thế lực của Anh vô cùng to lớn ở châu Á Sau chiến tranh Nha Phiến, Mỹ ựã ựạt ựược hiệp ước Vọng Hạ (tháng 7 - 1884), Pháp kắ với Trung Quốc hiệp ước Hoàng Phố (tháng 10 - 1884) giành quyền tự do truyền ựạo, chia sẻ thị trường tiêu thụ hàng hóa Khi ựó, Mỹ và Pháp cũng can thiệp vào Triều Tiên ựòi mở cửa thông thương dần biến Triều Tiên thành nước nửa thuộc ựịa của Mỹ cuối thế kỉ XIX
Trang 11Ở khu vực đông Nam Á, Inựônêxia bị Hà Lan thống trị; Philippin lần lượt bị Tây Ban Nha, Mỹ thống trị Lào, Campuchia, Việt Nam ựều bị Pháp thôn tắnh Xiêm
do vị trắ nước ỘựiệmỢ giữa các vùng thuộc ựịa Anh và Pháp và sự duy tân ựất nước dưới triều ựại của các vua Rama nên giữ vững ựược ựộc lập về chắnh trị, song không khỏi chịu ảnh hưởng, phụ thuộc vào các nước ựế quốc, trước hết là Anh Vì thế, ựến cuối thế kỉ XIX, hầu hết các quốc gia châu Á (trừ Nhật Bản và khắa cạnh khác là Thái Lan) ựều bị các nước tư bản phương Tây xâm lược, biến thành thuộc ựịa, nửa thuộc ựịa, cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa cho bọn tư bản chắnh quốc
Trong bối cảnh các nước phương Tây ựang ráo riết xâm lược thuộc ựịa thì phản ứng của các quốc gia châu Á thì như thế nào và biểu hiện ra sao?
2 Phản ứng của các nước Châu Á ựối với sự xâm lược của chủ nghĩa ựế quốc phương Tây
Khi các nước tư bản phương Tây ựã phát triển chủ nghĩa tư bản ựạt ựến trình ựộ cao làm thay ựổi toàn bộ diện mạo thế giới với những lực lượng sản xuất hùng hậu, nguồn hàng hóa dồi dào hơn tất cả các thế kỉ trước cộng lại, với sự ra ựời của giai cấp công nhân công nghiệp tiên tiến ựã tự ý thức về mình dưới ngọn cờ lý luận của chủ nghĩa Mác thì phương đông vẫn ựắm chìm trong nền quân chủ chuyên chế và phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu, khép kắn Trước xu thế bành trướng sang châu Á của thực dân phương Tây thì nhiệm vụ chung của các nước châu Á lúc này là tiến hành kháng chiến và bằng mọi cách phải bảo vệ nền ựộc lập dân tộc Ngay từ rất sớm, các nước châu Á ựã nhận thức ựược âm mưu xâm lược của các nước phương Tây lộ rõ qua các hoạt ựộng ráo riết của những nhà buôn, những phái ựoàn truyền giáo Tuy nhiên, phản ứng chung của chắnh quyền các nước bị xâm lược (châu Á) vẫn là thực hiện chắnh sách ựóng cửa, không cho người, hàng hóa Âu xâm nhập cùng với việc ựàn áp người công giáo, bế quan tỏa cảng,Ầvới hy vọng ngăn chặn ựược bước chân kẻ xâm lược Nhưng những chắnh sách ựó ựã dẫn tới ựất nước bị cô lập, yếu kém Và các biện pháp trên chỉ có tác dụng trong phạm vi của phương thức sản xuất phong kiến với các phương tiện giao thông thô sơ, kĩ thuật vũ khắ lạc hậu để mở cửa, bọn thực dân ựã dùng những biện pháp quân sự ựể ựè bẹp chắnh quyền bản ựịa Và trong thế yếu hơn, những người ựứng ựầu chắnh quyền các nước châu Á lần lượt ựầu hàng, kắ kết các hiệp
Trang 12ước bất bình ựẳng, chịu nhiều thiệt thòi Theo ựó, nhiều nước lần lượt rơi vào tình trạng thuộc ựịa, nửa thuộc ựịa hay phụ thuộc vào thực dân phương Tây Tuy nhiên, trong quá trình xâm lược, bọn thực dân vấp phải sự kháng cự kéo dài, quyết liệt và liên tục của nhân dân từng nước Và ngay trong một nước, cuộc kháng cự này bị thất bại, cuộc khởi nghĩa khác lại nổi lên, người trước ngã xuống thì người sau tiến lên, kiên quyết ựánh ựuổi bọn xâm lược Dưới những góc ựộ khác nhau, cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân các nước châu Á cũng ựược thể hiện dưới những mức
ựộ khác nhau
2.1 Chấp nhận dễ dàng ách chiếm ựóng của chủ nghĩa thực dân phương Tây
đây là phương thức ứng phó ựã ựược một số thủ lĩnh một số ựảo ở các quần ựảo ngày nay là Philippines, Indonexia, Campuchia và một số vùng miền trung bán ựảo Myanmar lựa chọn Các tiểu quốc mà họ ựang cai trị lúc ựó thường nằm ở khu vực tranh chấp giữa các quốc láng giềng Trường hợp vương quốc Campuchia là một vắ dụ ựiển hình Từ giữa thế kỉ XVIII ựến ựầu thế kỉ XIX, vương quốc này nằm trong ựịa bàn tranh chấp quyền lực giữa Xiêm và Việt Nam Các vua Campuchia thường phải thần phục và tìm kiếm sự che chở của hai nước tôn chủ mạnh hơn ỏ phắa đông và phắa Tây, kết quả là dù cho họ ngả về phắa nào thì cuối cùng cũng bị chèn ép từ cả hai phắa
Do vậy, ựến năm 1863, khi thực dân phương Tây (Pháp) cho chiến thuyền ngược theo sông Mêkong ựến Phnom Pênh thì vua Nôrodom tự nguyện xin thần phục, hy vọng thoát khỏi sức ép từ hai nước láng giềng Và khi nhận ra rằng chủ quyền của vương quốc vì thế ựã rơi vào tay một lực lượng thống trị ngoại bang mới, xa lạ hơn thì nhà vua mới tìm cách chống trả thì ựã quá muộn
2.2 Kiên quyết chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây bằng biện pháp kháng chiến
Những năm ựầu thế kỉ XVI, vùng lục ựịa châu Á với một nền văn minh già nua
ựã trở thành ựối tượng xâm lược và nô dịch của thực dân châu Âu đó là Bồ đào Nha, Tây Ban Nha, dùng chắnh sách pháo hạm cũng như chắnh sách xâm chiếm dần dần hoặc xâm chiếm ựại quy mô, lần lượt chiếm ựược: Philippines, Indonexia, Ấn độ, Trung Quốc,Ầ.đứng trước sự xâm lược của thực dân phương Tây, giai cấp thống trị các nước châu Á ngoài việc thực hiện các biện pháp truyền thống, dần ựi ựến thỏa
Trang 13hiệp, nhượng bộ, ựầu hàng kắ những hiệp ước bất bình ựẳng, làm tay sai cho giặc Trong khi ựó, phản ứng chung của nhân dân là tiến hành kháng chiến chống xâm lược Các cuộc khởi nghĩa: Xipay (1857-1859) ở Ấn độ, Thái bình Thiên Quốc (1851-1864)
ở Trung Quốc, cuộc ựấu tranh của nhân dân ba nước đông Dương,Ầ mang những sắc thái khác nhau nhưng tất cả ựều chung một mục ựắch là chống xâm lược giành ựộc lập Những cuộc khởi nghĩa này diễn ra rất quyết liệt nhưng ựều ở mức ựộ tự phát, thiếu tổ chức chặt chẽ, thiếu ựường lối lãnh ựạo ựúng ựắn và cuối cùng chịu chung một kết quả
bị ựàn áp, thất bại đây là phương thức ứng phó ựược ựược nhiều dân tộc ở châu Á lựa chọn nhất Sau, ta sẽ khảo sát một số nước ở châu Á trong việc chống lại thực dân xâm lược bằng biện pháp kháng chiến diễn ra như thế nào?
Miến ựiện (Myanmar): đất nước này bị thực dân phương Tây dòm ngó từ rất
lâu vì ựây là một ựịa ựiểm quan trọng ựối với tàu bè ựi lại từ Ấn độ ựến Xiêm và Mã Lai Vào cuối thế kỉ XVI, có một ựơn vị lắnh ựánh thuê người Bồ ựồn trú ở Aracan Nhân sự suy yếu của vương quốc phong kiến Miến điện, viên cai chỉ huy ựơn vị lắnh ựánh thuê - Philip ựơ Britu ựánh chiếm và lên làm vua Miến điện Năm 1635 -1647,
Hà Lan, Anh ựặt thương ựiếm ở Xiriam Từ cuối thế kỉ XVIII, Anh, Hà Lan, Pháp cạnh tranh mạnh mẽ vùng bán ựảo đông Dương, ựặc biệt ở Miến điện và Xiêm Năm
1686, Anh ựánh chiếm ựảo Nêgra ở phắa Tây châu thổ Iraoadi và thực hiện mưu ựồ xâm chiếm toàn bộ Miến điện Thực dân Pháp, Anh cũng tìm cách xâm lược Miến điện Năm 1852, Anh nổ súng ựánh chiếm Rănggun và nhiều nơi khác ở Miến điện Năm 1826, hòa ước Anh - Miến ựược kắ kết Năm 1885, Anh ựánh chiếm Minla, Pagan và kinh ựô Manựalây Cuối cùng, Miến điện trở thành một tỉnh của Ấn độ thuộc Anh Từ ựó, nhân dân Miến điện vẫn tiếp tục ựấu tranh khôi phục nền ựộc lập của mình, thoát khỏi sự thống trị của ựế quốc Anh Cuối năm 1896, chúng mới dập tắt ựược cuộc kháng chiến Dù thất bại, nhưng cuộc ựấu tranh của nhân dân Miến điện chứng tỏ ựược tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chắ bất khuất căm thù ựịch của họ
Việt Nam: Từ thế kỉ XVI, Việt Nam mới bắt ựầu có quan hệ thông thương với
một số nước tư bản phương Tây trên ựà phát triển chủ nghĩa tư bản Bấy giờ, các thương nhân châu Âu bán sang Việt Nam len, dạ, súng ống,ẦHọ mua của Việt Nam các sản phẩm thủ công: tơ tằm, ựồ mĩ nghệ,ẦCác nước phương Tây thông qua buôn bán ựể thực hiện âm mưu can thiệp và xâm lược nước ta Ngay khi thiết lập vương
Trang 14triều Nguyễn, vua Gia Long đã hết sức cảnh giác với âm mưu can thiệp của thực dân phương Tây bằng việc thi hành chính sách đĩng cửa, giới hạn buơn bán trong khuơn khổ kiểm sốt của triều đình Dù vậy, đường lối nhà vua lựa chọn là sai lầm ngay từ đầu bởi tính bất cập của nĩ trước bối cảnh phát triển mới của thế giới vì: thứ nhất, trước làn sĩng phát triển của chủ nghĩa tư bản là làn sĩng văn minh mới, cuốn sạch mọi tình trạng cơ lập của các địa phương, các dân tộc tồn tại theo lối tự cung, tự cấp và thay vào đĩ là các mối quan hệ phổ biến, những sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc; thứ hai là sức mạnh của những trọng pháo bắn thủng tất cả các bức vạn lý trường thành, buộc những người dã man bài ngoại một cách kiên cường nhất cũng phải hàng phục Minh Mệnh kế vị, tiếp tục thực thi các đường lối chính trị mà các bậc tiền bối đặt ra nhằm khéo léo tránh né hay kiên quyết cự tuyệt các mối quan hệ ngoại giao chính thức với các nước phương Tây với hy vọng tránh khỏi sự can thiệp của họ mà ơng thấy ngày càng tăng theo tần số các tàu thuyền nước ngồi xin tới mở của thơng thương ðặc biệt, với sự kiện chiến tranh Nha Phiến, Trung Quốc thất bại càng làm tăng viễn cảnh mối hiểm họa đen tối do các pháo hạm khổng lồ sẽ đem tới Việt Nam Việc nhà vua cử các phái đồn ra nước ngồi (1840), chỉ nhằm biết thêm nhiều hơn về các khả năng và ý định của người phương Tây Quan niệm của ơng về dân man di vẫn khơng thay đổi, khơng thừa nhận tính ưu việt của nền văn minh phương Tây, tiếp tục duy trì các đối sách đã thi hành từ thời Gia Long, thậm chí cịn cứng nhắc hơn Do đĩ, đến thời Thiệu Trị, Tự ðức sự can thiệp của phương Tây vào Việt Nam càng trắng trợn hơn Vì thế, năm 1858, bọn thực dân (liên minh Pháp - Tây Ban Nha) tiến hành đánh chiếm Việt Nam và vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam với hàng loạt cuộc tiến cơng nổi dậy của nhân dân trong khắp cả nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên triều Nguyễn đã đưa Việt Nam trở thành nước thuộc địa của thực dân Pháp thơng qua các hàng ước
Như vậy, dù ở khía cạnh nào đi nữa, các phong trào kháng chiến đều thất bại
Nĩ chứng tỏ một điều hiển nhiên rằng: chỉ với phương thức kháng chiến truyền thống của các dân tộc châu Á thì khơng thể bảo vệ chủ quyền đất nước, do đĩ, trong bối cảnh của lịch sử thế kỉ XIX (đặc biệt nửa cuối thế kỉ XIX), phương thức kháng chiến theo kiểu truyền thống khơng phải là một lựa chọn phù hợp để đối phĩ với thực dân phương Tây
Trang 152.3 Tiến hành cải cách, duy tân, hiện ựại hóa ựất nước theo con ựường phát
triển của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Trước sự xâm nhập, rồi xâm lược của thực dân phương Tây, các quốc gia ở châu Á cũng như nhiều quốc gia ở các châu lục khác (châu Phi, châu Mĩ La Tinh) ựã phải ựi tìm lời giải ựáp cho câu hỏi là làm sao bảo vệ ựộc lập dân tộc Sau chắnh những cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược bị thất bại do nhiều nguyên nhân thì ở châu Á bấy giờ lại xuất hiện một phương cách bảo vệ ựất nước theo hướng khác, hiệu quả, nền ựộc lập dân tộc của ựất nước cơ bản ựược vẹn toàn đó là tiến hành cải cách, duy tân, hiện ựại hóa ựất nước theo con ựường phát triển của chủ nghĩa tư bản đây là một phương thức ựặc biệt ựược lựa chọn không những ựể ứng phó với nguy cơ xâm lược của thực dân mà còn giúp các dân tộc châu Á thay ựổi mô hình và quỹ ựạo phát triển, tự giải thoát mình khỏi sự trì trệ và bế tắc Và xu hướng ấy ựã xuất hiện khá rộng
ở một loạt các nước châu Á Tiêu biểu là trường hợp của Xiêm, Nhật Bản Ở khắa cạnh khác, các nước châu Á - Việt Nam cũng trở thành xu thế của con ựường cứu nước này
Xiêm (Thái Lan): từ thế kỉ XV trở ựi, thương nhân châu Âu ựã lẻ tẻ ựến buôn
bán ở Xiêm và tìm cách xâm nhập vào nước này Trước hiểm họa xâm lăng, triều ựình Xiêm ra lệnh ựóng cửa biển đầu thế kỉ XIX, Anh chú ý ựến Xiêm và xâm nhập bằng con ựường ngoại giao Tháng 4/1885, viên toàn quyền Anh ở Hương Cảng ựến Băng Cốc, ép vua Xiêm là Rama IV kắ với Anh hiệp ước với nhiều ựiều kiện không bình ựẳng ựầu tiên: mở rộng quyền tự do khai mỏ, chở thuốc phiện vào bán ở Xiêm mà không bị ựánh thuế,ẦSau ựó, Xiêm kắ tiếp với Mĩ, Anh cùng nhiều nước phương Tây khác (đan Mạch, Bồ đào Nha,Ầ) những hiệp ước tương tự cho phép người nước ngoài ựược phép ựược tự do buôn bán, ựược tự do truyền giáo, chịu thuế xuất nhập khẩu nhẹ Từ ựây, Xiêm lệ thuộc dần dần và trở thành nơi cung cấp lương thực, nguyên liệu rẻ mạt và thị trường tiêu thụ hàng hóa cho các nước tư bản đồng thời, ở Xiêm cùng xuất hiện tầng lớp thương nhân kinh doanh công nghiệp và nền kinh tế sản xuất hàng hóa Khi các nước tư bản chuyển nhanh sang giai ựoạn ựế quốc chủ nghĩa, tăng cường xâm chiếm thuộc ựịa, thôn tắnh nốt các quốc gia còn giữ ựộc lập ựã ựặt Xiêm ựứng trước nguy cơ mất nước Giai cấp phong kiến Xiêm chia làm hai phái lớn: phái bảo thủ ựại diện cho tập ựoàn phong kiến quan lại, ựịa chủ muốn duy trì các ựặc quyền phong kiến cũ chống lại việc cải cách, mở rộng buôn bán với phương Tây; phái
Trang 16thứ hai do nhà vua ựứng ựầu ựại diện cho tập ựoàn quan lại thương nhân lớn và tầng lớp thương nhân giàu có chủ trương cải cách ôn hòa trong lĩnh vực chắnh trị - xã hội, tăng cường buôn bán với phương Tây, qua ựó bảo vệ nền ựộc lập dân tộc
Anh, Pháp không dễ gì có thể một mình chiếm ựược nước Xiêm Vì thế, chắnh phủ Pháp ựề nghị hòa giải ựảm bảo quyền lợi cho cả hai nước: trung lập hóa Xiêm ựể tránh một cuộc chiến tranh có thể xảy ra giữa hai bên, biến Xiêm thành khu vực ỘựệmỢ nằm giữa các thuộc ựịa của Anh, Pháp trên bán ựảo Trung - Ấn và là khu ảnh hưởng của Anh, Pháp bằng hiệp ước Luân đôn (15/01/1896) Theo ựó, phắa Tây sông Mê Nam thuộc ảnh hưởng của Anh, phắa đông thuộc Pháp Thung lũng sông Mê Nam có Băng Cốc ở giữa nên ựược tự chủ toàn vẹn Thỏa hiệp này ngăn cấm một trong hai nước không ựược kắ một hiệp ước tay ựôi nào cho phép chắnh phủ thứ ba can thiệp vào vùng này Và với các hiệp ước này, Xiêm ựã thật sự trở thành một nước nửa thuộc ựịa
lệ thuộc vào hai ựế quốc Anh, Pháp Trước tình cảnh khó khăn vào những năm cuối thế kỉ XIX, các vua Thái ựã chủ trương mở cửa buôn bán với bên ngoài, dựa vào sự kiềm chế lẫn nhau giữa các nước tư bản ựể bảo vệ ựộc lập ựất nước đồng thời, các vua Thái ựã thông qua công cuộc cải cách toàn diện ựất nước theo một cách hết sức thận trọng trên mọi lĩnh vực (kinh tế, xã hội, chắnh trị), nhằm ựưa nước Xiêm thoát khỏi tình trạng thuộc ựịa như các nước láng giềng ở châu Á mặc dù vẫn giữ ựược nền ựộc lập nhưng chịu nhiều lệ thuộc về chắnh trị, kinh tế vào Anh, Pháp
Nhật Bản: Là một quốc gia ựảo ở châu Á, ựất nước trải dài theo hình cánh cung
gồm nhiều ựảo lớn nhỏ Vào thời kì cận ựại, Nhật Bản ựã tìm ựuợc con ựường tự hội nhập với thế giới phát triển, ựặc biệt là cuộc duy tân Minh Trị ựã ựưa Nhật Bản trở thành một ựế quốc tư bản duy nhất ựầu tiên ở châu Á
đầu thế kỉ XIX, giới quý tộc quân sự bảo thủ dường như chiếm ưu thế tuyệt ựối, chi phối toàn bộ ựời sống kinh tế, chắnh trị, văn hóa tinh thần của ựất nước Nhưng với vị trắ quốc ựảo, tồn tại biệt lập và trải qua lịch sử hàng trăm năm, cộng ựồng dân tộc Nhật Bản ựã tắch lũy cho mình những xung lực nội sinh mạnh mẽ ựủ sức vùng thoát khỏi các ràng buộc trì trệ của mô hình phát triển truyền thống ở châu Á Ngay trong thời kì Ộtỏa quốcỢ, nguy cơ xâm thực từ phương Tây ựã là chất xúc tác tạo nên các chuyển biến quan trọng trong lòng xã hội Nhật Bản Các cơ sở kinh tế, xã hội mà
Trang 17ựặc biệt về cơ sở trắ tuệ - tinh thần ựã ựược chuẩn bị, tuy âm thầm nhưng rất cẩn trọng, vững chắc cho công cuộc cải tổ, duy tân ựất nước Nhóm xã hội ựóng vai trò hạt nhân
và là người mở ựường cho cuộc vận ựộng ấy ựó chắnh là tầng lớp võ sĩ ựạo cấp thấp Khi pháo thuyền các nước phương Tây bắt ựầu nổ súng tấn công một số cửa biển Nhật thì sự chuẩn bị cho cuộc cải cách ựã chắn muồi đến giữa thế kỉ XIX, Nhật Bản ựã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng ựưa nước Nhật ựứng trước hai sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục duy trì chế ựộ phong kiến trì truệ, bảo thủ ựể các nước ựế quốc xâu xé; hoặc là tiến hành duy tân ựất nước ựưa nước Nhật phát triển theo con ựường của các nước tư bản phương Tây Trước những khó khăn khi phải kắ kết các hiệp ước bất bình ựẳng, sự nổi dậy của nhân dân trong nước ựã làm sụp ựổ chế ựộ Mạc Phủ Vì thế, tháng 1/1868, sau khi lên ngôi, Thiên hoàng Minh Trị ựã thực hiện một loạt cải cách tiến bộ trên mọi lĩnh vực nhằm ựưa nước Nhật thoát khỏi tình trạng một nước phong kiến lạc hậu và lệ thuộc vào phương Tây Kết quả, Nhật Bản ựã trở thành một cường quốc tư bản hiện ựại, ựủ sức cạnh tranh sòng phẳng với các cường quốc thực dân phương Tây ựưa nước Nhật trở thành một nước ựế quốc chủ nghĩa ựầu tiên ở châu Á
Việt Nam: phong trào cải cách chỉ thực sự xuất hiện sau khi thực dân Pháp ựã
phát ựộng cuộc chiến tranh xâm lược (1858) và chiếm ựược ba tỉnh miền đông Nam
Kì Người khởi xướng và cũng là nhà cải cách tiểu biểu nhất: Thông qua hàng chục bảng ựiều trần dâng lên triều ựình Nguyễn, các nhà canh tân (đinh Văn điền, Nguyễn
Lộ Trạch,Ầ) ựã vạch ra kế sách, lập kế hoạch cho việc tiến hành một chương trình cải cách ựồ sộ nhằm chỉnh sửa toàn bộ mô hình phát triển cùng phương thức trị an dân, ngõ cửa ựưa Việt Nam nhanh chóng cường thịnh, ựủ sức ựương ựầu với thực dân phương Tây Tiêu biểu nhất là cải cách Nguyễn Trường Tộ - trắ thức công giáo yêu nước Những ựề xuất trên tuy không thuyết phục ựược hầu hết triều ựình - những người ựang tự giam mình trong vòng tù hãm của các lắ thuyết Tống Nho bảo thủ, lạc hậu hoặc ựang bị lòng yêu nước, ý chắ căm thù của giặc ngoại xâm che khuất óc suy nghĩ sáng suốt nhưng cuối cùng mọi cố gắng của họ cũng ựều không ựi ựược vào cuộc sống và thất bại
Trung Quốc: Sau thất bại của cuộc chiến tranh Nha Phiến, nhân dân Trung
Quốc ựứng trước họa nô dịch của ngoại xâm Vào nửa cuối thế kỉ XIX, do sự xâm lược của tư bản nước ngoài, nền kinh tế Trung Quốc ựược kắch thắch phát triển nhanh
Trang 18chóng Ngay từ những năm 60 của thế kỉ XIX, ở Trung Quốc ựã xuất hiện cuộc vận ựộng học tập phương Tây gọi là ỘDương vụ vận ựộngỢ của các phần tử phong kiến phản ựộng trong triều ựình đại biểu của phái này: Dịch Tố, Lý Hồng Chương,Ầnêu khẩu hiệu ỘTự cường, cầu phúỢ chủ trương dựa Anh, Mỹ, Pháp ựể trấn áp phong trào Thái Bình Thiên Quốc, sử dụng kĩ thuật sản xuất của chủ nghĩa tư bản phương Tây ựể duy trì sự thống trị phong kiến Các cơ sở quân sự, công nghiệp thành lập: cục chế tạo Giang Nam, cục khai khoáng,Ầnhiều lưu học sinh ựược gửi ựi học nước ngoài Khi
ựó, nhân tố kinh tế tư bản dân tộc ựã hình thành, lớn mạnh không ngừng vào những năm 70 của thế kỉ này tạo tiền ựề ra ựời các luồng tư tưởng mới Những nhà cải cách: Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi,Ầ khởi xướng phong trào duy tân ựưa ra một số chương trình cải cách nhằm mở ựường cho kinh tế dân tộc phát triển, chóng lại sự bảo thủ, lạc hậu của triều ựình Mãn Thanh, chống lại sự can thiệp ngày càng trắng trợn của các nước phương Tây Tuy nhiên, phong trào duy tân mà ựỉnh cao là cuộc chắnh biến Mậu Tuất (1898) do phái cấp tiến chủ trương, ựược vua Quang Tự ủng hộ ựã thất bại,
kể cả các phong trào nông dân khởi nghĩa làm cho ựất nước Trung Quốc càng thêm suy yếu và mất chủ quyền vào năm 1901
Qua ựó ta thấy, ở mỗi nước, mỗi khu vực xu hướng canh tân ựược thể hiện ra dưới những hình thức và sắc thái khác nhau, nhưng ựều có một ựiểm chung mở ra một con ựường phát triển mới ựưa dân tộc mình thoát khỏi tình trạng lạc hậu, trở nên cường thịnh, thoát khỏi họa nô dịch bởi chủ nghĩa thực dân phương Tây Như vậy, vào cuối thế kỉ XIX, ựầu thế kỉ XX, chắnh sự mở cửa, ựón nhận những yếu tố mới, những luồng gió mới từ bên ngoài kết hợp với cuộc cải cách, duy tân rộng rãi trong nước như Nhật Bản, Thái Lan ựã cho kết quả là những nước thoát khỏi thân phận thuộc ựịa đó
là phương cách tự vệ chủ ựộng, hội nhập chủ ựộng vào tiến trình phát triển của thế giới Trong khi ựó, Việt Nam thì sao?
Trang 19Chương 2: TƯ TƯỞNG CANH TÂN Ở VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ
KỈ XIX
1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX
1.1 Kinh tế nơng nghiệp lạc hậu
Cuộc nội chiến liên miên giữa các tập đồn phong kiến kéo dài hơn hai trăm năm đã tàn phá nặng nề các nhân tố trong nền kinh tế Việt Nam Nhà nguyễn lên nắm quyền phải thừa kế tồn bộ di sản các thế kỉ trước để lại Và nhiệm vụ quan trọng của vua Nguyễn là phải tìm biện pháp phục hồi nền nơng nghiệp đã bị suy yếu do chiến tranh Các biện pháp khuyến nơng mà nhà vua đầu triều Nguyễn ban hành trong những năm đầu thế kỉ này đã giúp nền kinh tế được phục hồi đáng kể và phát triển hơn so với thời nội chiến Thời kì này, ruộng tư hữu đã chiếm tỉ lệ tương đương so với ruộng cơng hữu ðiều này, một mặt biểu hiện sự phát triển của kinh tế phong kiến; mặt khác,
là xâm phạm nghiêm trọng nền kinh tế tư hữu tiểu nơng làm cho nhiều nơng dân buộc phải phân tán do mất hết ruộng đất Chính sách mộ dân khẩn hoang với ý đem lại ruộng đất cho người dân cĩ ý nghĩa tiến bộ song cũng khơng ngăn cản được sự lũng đoạn của những kẻ dẫn người đi khẩn hoang Những vùng đất màu mỡ cuối cùng đều lọt vào tay những kẻ cường hào, nơng dân thì tá điền vẫn là tá điền ngay trên chính mảnh đất do họ khai phá ra ðiều đĩ, làm hạn chế nhiều đến hiệu quả của chính sách khuyến nơng triều Nguyễn Ngồi việc khuyến khích sức dân, các vua Nguyễn vẫn áp dụng phương pháp cấy trồng cổ truyền cộng thêm chính sách địa tơ bằng hiện vật áp dụng trong thời kì này là một thụt lùi về mặt kinh tế bởi nĩ làm cho mối quan hệ hàng hĩa - tiền tệ cĩ bước phát triển vốn trước đĩ đã bị kĩm hãm
Bên cạnh, triều Nguyễn lại sai lầm khi áp dụng “ức thương” nhằm hạn chế sự phát triển các nhân tố thương mại trong nền kinh tế Triều đình coi các mặt hàng (gạo, muối) là mặt hàng chiến lược đặt dưới sự kiểm sốt của nhà nước kể cả các ngành tiểu thủ cơng nghiệp và cấm buơn bán từ vùng này sang vùng khác ðiều đĩ gây ra sự ách tắc, ứ đọng hàng hĩa, sự mất cân bằng trong việc cung - cầu giữa các vùng, dẫn đến cảnh tượng thĩc cao, gạo kém, thiếu đĩi khơng đáng cĩ ở một nước cĩ nền nơng nghiệp lâu đời Việc giới hạn các mặt hàng được phép buơn bán, kiểm sốt, thu thuế,…lại gây cản trở lớn cho hoạt động nội thương, lưu thơng hàng hĩa và kích thích
Trang 20sản xuất, tạo nền tảng cho yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa ñi lên ðồng thời, do Việt Nam từ xa xưa vẫn là một nước nông nghiệp nên mọi khoản thu chi của ngân sách quốc gia ñều dựa vào nguồn thu chủ yếu là ñịa tô Khi ñó, triều ñình luôn giữ ñộc quyền buôn bán với nước ngoài ñã khiến nhà nước phong kiến Việt Nam ñặt nông nghiệp lên vị thế hàng ñầu trong nền kinh tế ñất nước Do ñó, khi làn sóng thực dân phương Tây ồ ạt xâm lược sang châu Á (Việt Nam) với cớ thông thương, các chính sách trên là biểu hiện của lối tư duy phong kiến khép kín và về lâu dài ñã gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng trong nền kinh tế Việt Nam thế kỉ XIX
Trong bối cảnh nền kinh tế ấy, vương triều Nguyễn ñã ra sức xây dựng cho vương triều một chế ñộ chính trị ra sao khi ñất nước ñứng trước làn sóng họa xâm lược của thực dân phương Tây?
1.2 Chế ñộ phong kiến trung ương tập quyền
Nguyễn Ánh lên ngôi, lập nên vương triều Nguyễn ñã cho xây dựng một nhà nước thống nhất bao trùm lên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, lại phải ñương ñầu với nhiều vấn ñề gian nan, khó khăn: vấn ñề khủng hoảng kinh tế, tính chính thống của triều ñại,…Sau khi thiết lập vương triều, Gia Long bắt tay ngay vào việc xây dựng một bộ máy quan liêu nhà nước do vua ñứng ñầu cai trị - quản lí ñất nước ñược cụ thể hóa qua ñường lối: ñối nội và ñối ngoại Với những ñường lối trên (các chính sách xây dựng và phát triển kinh tế, khôi phục nền văn hóa, thần phục nhà Thanh, xa lánh phương Tây, trấn áp các tiểu quốc lân cận,….) vương triều Nguyễn ñã gây ra một sự khủng hoảng nghiêm trọng về mọi mặt và bị ñặt vào tình cảnh khó khăn khi phải xử lí mối quan hệ giữa quyền lợi dân tộc, giai cấp trước nạn ngoại xâm Và nó càng biểu hiện hiện cụ thể hơn trong việc triều Nguyễn ñã thất bại trong việc ngăn chặn mưu ñồ xâm lược của phương Tây (Pháp) bắt ñầu cuộc can thiệp vũ trang vào Việt Nam (1858) ðứng trước
sự xâm lược ñó, yêu cầu lịch sử là phải bảo vệ nền ñộc lập ñất nước, trong khi nhân dân cả nước ñang vất vả chịu nhiều gian nan, khó khăn ñể chống sự xâm lược của thực dân Pháp thì Tự ðức ñã vì quyền lợi dòng tộc mà ñặt lợi ích dân tộc, ñất nước sang bên rồi từng bước ñi vào con ñường chủ hòa và dâng toàn bộ ñất nước xây dựng ngàn năm về tay giặc Từ ñây, dòng chảy lịch sử Việt Nam lại bước sang một giai ñoạn lịch
sử mới - lịch sử chống giặc ngoại xâm và giành ñộc lập dân tộc
Trang 21Như thế, với tình hình chính trị trên của Việt Nam khi mà Tự ðức là người thừa hưởng và gánh chịu cộng với hệ quả của ñường lối chính trị theo tư tưởng Nho giáo ñã tác ñộng và ảnh hưởng ñến tình hình văn hóa - xã hội cũng như các luồng tư tưởng Việt Nam thời kì này ra sao?
1.3 Văn hóa - xã hội Việt Nam thế kỉ XIX
Gia Long lên ngôi quyết ñịnh lấy Nho giáo làm cơ sở tư tưởng cho một triều ñại mới, lấy khuôn mẫu Trung Quốc ñể xây dựng xã hội Theo ñó, Minh Mệnh - ông vua ñầy uy quyền, có ý thức xây dựng một quốc gia hùng mạnh, ñộc lập, tự chủ ñã cho xây dựng, tiến hành một cải cách ñất nước về mặt hành chính và phát họa bộ “Minh Mệnh chính yếu” - với Nho giáo nồng cốt ñược xem là cơ sở tưởng cho vương triều Bên cạnh những mặt tư tưởng tích cực ( ñạo làm vua, ñạo làm người,…) mang màu sắc riêng của Việt Nam nhưng nhìn chung nó vẫn bất cập, không ñủ sức soi sáng cho việc xây dựng ñất nước, ổn ñịnh xã hội và quan trọng hơn nữa ñó là không ñủ sức có một tầm nhìn xa rộng ñể chuẩn bị cơ sở kinh tế - văn hóa - xã hội cho ñất nước chống lại sự xâm lược của thực dân phương Tây Với cơ sở tư tưởng ñó, các vua Nguyễn nhìn chung ñều ñề cao những quan niệm Nho giáo phù hợp với mục ñích chính trị của mình Cụ thể, tư tưởng “Mệnh trời” ñược vua Nguyễn ñề cao bởi nó giúp biện minh tính chính thống cho triều ñại, củng cố vương quyền, và chịu mệnh trời cai trị nhân dân Những tư tưởng ñó ñã chi phối mạnh mẽ các nhà nho thời Nguyễn, làm giảm sút tinh thần phản kháng của họ trước những bất công của triều ñình Với mong muốn tái lập một xã hội có kỉ cương sau hàng thế kỉ nội chiến, triều Nguyễn tìm thấy các nguyên lí ñạo ñức của Nho giáo cho việc sử dụng chúng làm công cụ thống trị trong trong tư tưởng nhân dân Những mối quan hệ theo lối tư tưởng Nho giáo ñược xem là sợi dây nối chặt các mối quan hệ trong xã hội với các giá trị (về trung, về hiếu, về trinh) và suy tôn uy quyền tối cao của người gia trưởng, của nhà vua Cùng với tư tưởng ñó, việc tuyển chọn quan lại theo con ñường thi cử theo Nho giáo ñể ñào tạo ñội ngũ quan liêu ñáp ứng mục ñích ñề ra là phù hợp với yêu cầu trị nước theo quan ñiểm chính thống ñã ñược triều Nguyễn thực thi Bên cạnhnhững mặt trái của nó thì những yêu cầu, chuẩn mực về các giá trị ñạo ñức này ñều ñược ñề cao tuyệt ñối, khắc nghiệt, thiếu tính nhân bản và ñược xem là trụ cột cho nền ñạo ñức thống trị, cai trị của mình của vương triều Nguyễn
Trang 22Theo dòng lịch sử, ta thấy ựời sống văn hóa ở nước ta thời kì này thiếu sự ựa dạng, phong phú về mặt tư tưởng do sự ựộc tôn Nho giáo Tuy nhiên, chắnh các yếu tố văn hóa bản ựịa mang màu sắc đông Nam Á (âm nhạc cung ựình Huế chịu ảnh hưởng nhiều của âm nhạc chăm mang ựặc tắnh bản ựịa đông Nam Á, voi ựược sử dụng trong chiến trận và nghi lễ là ựiều không có trong văn hóa Trung Hoa,Ầ), ựặc biệt là văn hóa bản ựịa Việt Nam, tinh thần yêu nước Việt Nam ựã lên tiếng khi triều ựình bất lực trước sự xâm lăng của thực dân Theo ựó, trong xã hội ựã có sự phân chia thành bốn giai tầng theo mức ựộ từ cao xuống thấp: sĩ, nông, công, thương Do nhiều ựiều kiện
và hoàn cảnh khác nhau nên các giai tầng trên, ựặc biệt là tầng lớp công thương Việt Nam yếu ớt về mọi mặt, không có một chút ảnh hưởng nào trong xã hội
Qua ựó, ta thấy ựất nước Việt Nam thời kì này ựã chứa ựựng nhiều nhân tố tiềm
ẩn của sự suy thoái khi phải ựối ựầu với kẻ thù xâm lược mới khác hẳn những kẻ thù truyền thống trong lịch sử - ựó lá những pháo hạm, chiến hạm Chắnh sự hạn chế về mặt tư tưởng, ựặc biệt là không nhận thức ựược sự thay ựổi nhanh chóng của tình hình thế giới nên vua quan triều Nguyễn cũng như phong trào kháng chiến của nhân dân không có ựược sự chuẩn bị tốt nhất cho việc ựối phó với những thách thức mới của lịch sử, nhường cơ hội cho một xu hướng cứu nước hoàn toàn mới vốn ựược manh nha
từ nhiều năm trước tự lực tự cường ựất nước trong việc chống giặc ngoại xâm đó là
xu hướng canh tân
2 Những ựiều kiện ựể tư tưởng canh tân Việt Nam xuất hiện
2.1 Sơ lược các nhà cải cách
đầu thế kỉ XIX, những ựòi hỏi chắnh ựáng về công bằng xã hội và dân chủ chắnh trị trong khuôn khổ ý thức hệ phong kiến ựã ựược nhiều tầng lớp nhân dân ựặt ra với chắnh quyền ngay sau khi tập ựoàn Nguyễn Ánh thiết lập Phong trào nông dân khởi nghĩa, hoạt ựộng vũ trang chống lại triều ựình: các dân tộc ắt người, cựu hần nhà Lê,Ầnổi lên mạnh mẽ Nếu ở Việt Nam vào nửa ựầu thế kỉ XIX còn xuất hiện những
dự án dung hòa mầm móng canh tân thì ựến nửa sau thế kỉ XIX các mầm móng trên bắt ựầu có ựiều kiện và ựộng lực ựể từng bước phát triển thành các khuynh hướng chắnh trị ựể rồi dần hội tụ thành một trào lưu tư tưởng canh tân Dĩ nhiên, các trào lưu trên cũng mang tắnh chất không thuần nhất khởi ựi từ sự kết hợp quyền lợi và nhận
Trang 23thức của nhiều nhóm xã hội khác nhau ựến việc ựều thừa nhận và ựặt vấn ựề giải quyết
cả hai mâu thuẫn cơ bản của Việt Nam bấy giờ Và ựi ựầu trong phong trào ựó: đinh Văn điền, Phạm Phú Thứ,Ầ trong ựó, Nguyễn Trường Tộ ựược xem là ựại biểu nổi bật sáng chói của thời kì này mà ta sẽ khảo sát dưới ựây:
Phạm Phú Thứ (1821 - 1882): người xã điện Trung, huyện điện Bàn, Quảng Nam Năm 1843, ông ựỗ tiến sĩ, giữ nhiều chức vụ cao nhất dưới triều Tự đức Từ nửa sau thế kỉ XIX, ựại thần triều Nguyễn ựi sứ sang Pháp không phải chỉ có Phạm Phú Thứ Nhưng có lẽ ông là người duy nhất không tỏa ra choáng ngợp, sợ hãi khi tận mắt quan sát trình ựộ khoa học kĩ thuật và sức mạnh quân sự của phương Tây Trở về nước, với những ựiều tai nghe mắt thấy, ông càng trăn trở về thực trạng ựất nước, nên
ở với cương vị mình ựang có, ông ựã mạnh dạn tiến hành những biện pháp canh tân,
ỘMở cửaỢ- xem ựó là phương thuốc hữu hiệu nhất nhằm ứng phó với mọi nguy cơ xâm lược của phương Tây Tuy ông chưa có nhiều ựóng góp tương xứng với tài năng nhưng lịch sử ựã ghi nhận ở ông, trước hết là trong bối cảnh triều ựình Nguyễn ựang phân hóa, dao ựộng mạnh trước những âm mưu của Pháp, ông ựã sớm có ựược một sự ựịnh hướng tắch cực cho sự tư duy và hành ựộng của mình, ựóng góp vào nền lịch sử dân tộc nước ta vào nửa cuối thế kỉ XIX là rất ựáng kể
Tháng 9/1868, sau khi công cán ở Hồng Kông về, Trần đình Túc, Nguyễn Huy
Tế nêu sáng kiến xây dựng hải cảng ựể tìm cách mưu lợi ắch lâu dài Tháng 11/1868, đinh Văn điền mật trình một số sáng kiến, gồm 3 ựiểm chắnh: nâng cao hiệu quả chiến ựấu của binh lắnh, cho dân gian ựược học binh thư binh pháp, hạn chế sự lệ thuộc các ựô ựốc ở Nam Kì bằng các ựặt quan hệ ựối ngoại với nước Anh Bên cạnh, ông còn ựề nghị khai thác khoáng sản, tận dụng ruộng ựất bỏ hoang, ựóng thuyền máy hơi nước, lập thương quán ở nước ngoài, mời chuyên viên các nước ựến giúp,Ầ
đặng Huy Trứ (1825 - 1874): là người Thừa Thiên Huế Ông xuất thân trong một gia ựình có truyền thống Nho học, ựược giáo dục hết sức cẩn thận, tuân thủ con ựường vạch sẵn nhưng ông lại có những cách nhìn rất khác với người cùng thời về vấn
ựề phát triển ựất nước Ông sớm bộc lộ khả năng khi mới 18 tuổi ựã thi ựỗ cử nhân Cuộc ựời làm quan của ông rất gian truân nhưng lại vẻ vang Với bất cứ sứ mệnh nào ựược giao, ông ựều hoàn thành trên tinh thần và làm mọi ựiều có lợi cho dân, cho
Trang 24nước Ông là mẫu mực của một vị quan thanh liêm, giàu trí tuệ, hết lòng vì nước vì dân Hai lần ñược cử sang Lưỡng Quảng khảo sát thực tế là hai lần giúp ông có ñiều kiện hoàn chỉnh các tư tưởng của mình Mặc dù những ñề nghị cải cách của ông không ñược ñánh giá cao như Nguyễn Trường Tộ nhưng cuộc ñời của ông cho chúng ta nhiều suy tư về vai trò, trách nhiệm và khả năng của người trí thức ñối với vận mệnh nước nhà
Nguyễn Lộ Trạch (1853 -1895): ñược biết ñến như một nhân sĩ yêu nước có ñầu óc canh tân chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nguyễn Trường Tộ Là con một của tiến sĩ Nguyễn Oai, từng giữ chức vụ Thượng thư bộ hình và nhiều chức vụ khác, là con rể quan phụ chính ñại thần Trần Tiễn Thành, thêm ñó ông sinh ra trong lúc ñất nước lâm nguy, thời cuộc rối ren cùng với những éo le trong cuộc sống riêng tư nên ông ñã không màn ñến công danh mà nặng lòng lo chuyện vận mệnh ñất nước Sau Nguyễn Trường Tộ một thế hệ, chứng kiến tận mắt kẻ thù xâm lược nước nhà, ông ñã nhận thức ñược bản chất của thực dân và dồn mọi tâm huyết, nỗ lực vào chương trình canh tân tư cường ñất nước nhằm chống lại dã tâm của kẻ xâm lược
Tiêu biểu cho phong trào canh tân bấy giờ là hệ thống các bản ñiều trần của Nguyễn Trường Tộ (1827 - 1871) Ông quê ở Nghệ An Ông theo học chữ Nho từ nhỏ nhưng là vì tín ñồ của Thiên Chúa giáo nên ông ñược giám mục Gauthier dạy học chữ Pháp và các khoa học phổ thông Năm 1858, ông theo giám mục Gauthier qua Pháp và khi trở về ông ghé thăm Hương Cảng năm 1860 Theo ñó, sau nhiều năm ra nước ngoài tiếp thu tri thức phương Tây, ông trở về nước, và từ ñó cho ñến khi mất ông ñã viết nhiều bản ñiều trần ñể lưu ý triều ñình ñến việc canh tân ñất nước Vì thế, trong khoảng thời gian (từ năm 1866 ñến năm 1871), ông ñược vua Tự ðức phái sang nước ngoài (Pháp) ñể tìm hiểu và tiếp thu các kiến thức khoa học về phục vụ cho nước nhà nhưng vì nhiều lí do khác nhau mà những tư tưởng của ông không thành hiện thực sau khi ñã viết thêm mấy bản ñiều trần trước khi qua ñời
Như vậy, các nhà canh tân ñương thời - một nét chung của ñều ñược ñào tạo theo Nho học, trực tiếp hay gián tiếp tiếp xúc với văn minh phương Tây nên ít nhiều chịu ảnh hưởng và hòa nhập vào trong dòng tư tưởng canh tân ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX
Trang 252.2 ðiều kiện ñòi hỏi phải tiến hành canh tân
Khuynh hướng canh tân xuất hiện ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX là biểu hiện một bước phát triển mới trong tư duy Căn cứ vào thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội nước ta trong thế kỉ XIX, ñặc biệt là nửa sau thế kỉ này, cho ñến trước khi Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam chưa xuất hiện nhu cầu canh tân, như theo Trần Văn Giàu:
“Biết rằng thủa ấy xã hội Việt Nam chưa cấp bách ñòi hỏi phải phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng công cuộc chống giặc ngoại xâm lại cấp bách ñòi hỏi phải duy tân, tự cường, bằng không, bằng trễ thì mất nước1 ” Chính những ñiều kiện ñặc biết ấy của lịch sử vào nửa cuối thế kỉ XIX ñã làm xuất hiện ở Việt Nam một xu hương ñổi mới Tình trạng ñất nước thì nghèo nàn, lạc hậu Triều Nguyễn lại rơi vào cục diện khủng hoảng kéo dài từ nhiều thế kỉ trước
Triều Nguyễn, một mặt cho phép ruộng tư phát triển, mặt khác lại duy trì chế
ñộ ruộng công cho nên quá trình tư hữu hóa ruộng ñất bị kìm hãm Chính sách “Ức thương, trọng nông” ñã làm triệt tiêu sự phát triển các ngành kinh tế thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Cả nội lẫn ngoại thương chỉ ñáp ứng ñược nhu cầu tối thiểu của nhân dân và phục vụ hoàng tộc, triều ñình Bên cạnh ñó, những quy ñịnh khắc khe mang tính ñẳng cấp về tiêu dùng mà triều Nguyễn ñặt ra càng làm hạn chế sức sản xuất trong nhân dân Chế ñộ quản lí ruộng ñất như thế cùng với chính sách “Trọng nông, ức thương” là hai yếu tố cơ bản khiến cho nền kinh tế Việt Nam vẫn lạc hậu, thuần nông, màn tính tự cấp, tự túc cùng với một chế ñộ chính phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế thì nó không thể tự nó nảy sinh nhu cầu ñổi mới Minh Mệnh dù
là một vị vua sáng suốt và cứng rắn rất nhiều, ñã nhận thức ñược sự bất cập trong nền giáo dục và ñào tạo nhân sự những cũng chưa ñưa ra một biện pháp nào nhằm khắc phục những mặt yếu kém ấy Những cải cách hành chính của ông mang tính hoàn thiện
hệ thống quản lí trung ương tập quyền nhưng lại không tạo ñiều kiện cho sự nâng cao sức mạnh của dân tộc Theo Trần Văn Giàu, chính những nhận ñịnh trên cho ta thấy, chỉ khi Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, nguy cơ mất nước dần dần hiển hiện rõ thì các nhu cầu ñổi mới, canh tân ñể tự cường mới trở nên gấp rút và cấp thiết
2.2.1 Sự xâm lược của thực dân Pháp
Trang 26Năm 1847, Pháp nổ súng lần ựầu tiên ở cửa biển đà Nẵng, ựánh chìm 5 chiếc
của Pháp can thiệp vào Việt Nam ựã rõ nhưng mãi ựến năm 1858, Pháp mới tiến hành xâm lược Việt Nam Và trong khoảng thời gian ấy, nhà Nguyễn ựã không có phương cách, sự ựối phó nào hiệu quả ựể chống lại những âm mưu ựó đến khi 3 tỉnh miền đông Nam Kì bị chiếm rồi các phần lãnh thổ khác của ựất nước bị ựe doa nghiêm trọng thì triều ựình vẫn chưa xác ựịnh ựược ựường lối chiến hay hòa ựể giữ nước Giữa hai khuynh hướng ấy ựã dần lộ rõ khi phương Tây nhòm ngó và can thiệp sâu vào Việt Nam Sự trậm trễ cùng với những sai lầm trong việc nhận thức kẻ xâm lược, sự bế tắc trong việc hoạch ựịnh chiến lược giữ nước không thể chỉ giải thắch bởi sự tồn tại của một nền kinh tế lạc hậu và tầm nhìn hạn chế của vua, quan triều Nguyễn Và mãi ựến khi toàn bộ lãnh thổ Việt Nam sắp rơi vào tay Pháp thì các chắ sĩ tiên tiến mới lên tiếng, ựề ra những yêu cầu cấp thiết phải ựổi mới, tự cường ựể bảo vệ ựất nước
Trắ tuệ Việt Nam, sự trì trệ vào cuối thế kỉ XIX, tạo nên do nhiều căn nguyên
Và chắnh sách ựộc tôn Nho giáo của vua quan triều Nguyễn ựược cho là yếu tố hàng ựầu tạo nên Nho giáo cho rằng: thời ựại bình trị lắ tưởng loài người từ thời các vua Nghiêu, vua Thuấn nên mọi triều ựại sau phải tuân thủ mọi nguyên tắc: ỘPháp tiên vương, hậu cổ, bạc kim,ẦỢ tao ra sự thụ ựộng trong nhận thức thời cuộc đồng thời, với tư tưởng ỘNội hạ ngoại viỢ của Trung Hoa ựã làm nên rào cản ựối với các tầng lớp trắ thức Nho cùng vua quan triều Nguyễn mở cửa tiếp nhận nền văn minh phương Tây Việc Gia Long ựưa Nho giáo trở thành quốc giáo cùng với chắnh sách ngoại giao sai lầm của các vua Nguyễn là nguyên nhân quan trọng làm cho Việt Nam trở nên lạc hậu
so với nhiều nước trong khu vực, thế giới Mặc dù các vua Nguyễn cũng thường cử tàu thuyền ựi khám sát tin các nước xung quanh, sử dụng hàng hóa mua của phương Tây
và các nước nước trong khu vực Khi ựó, Xiêm, trước sức tấn công của phương Tây ựã xác ựịnh là ỘMuốn nước ựưa Xiêm tránh khỏi tai họa thực dân xâm lược như Trung Quốc, Mianma và nhiều nước phương đông khác, không phải là kì thị ựối ựầu, mà ngược lại là sự tiếp nhận và học tập nền văn minh phương Tây ựể canh tân ựất nướcỢ Việt Nam ựối phó ra sao trước tình cảnh ngoại bang? Cách duy nhất mà triều Nguyễn
là tiếp tục chắnh sách ựóng cửa, thụ ựộng trước làn sóng ngoại xâm của Pháp rồi lần lượt dâng mảnh ựất thiêng liêng của tổ tiên cho quân xâm lược
Trang 272.2.2 Sự tiếp xúc với nền văn minh phương Tây:
Qua các bản ựiều trần do các văn thân, sĩ phu dâng lên triều ựình nhằm cứu vãn tình thế nước nhà ựang nguy nan, ta thấy ựược ở họ ựã ựược tiếp xúc hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với nền văn minh Tây phương mà ựề xướng nên Chắnh yếu tố khác quan này ựã mang tắnh quyết ựịnh cho sự xuất hiện những tư tưởng canh tân ở nước ta thời kì này Các yếu tố văn hóa, văn minh Tây phương ựã xuất hiện ở nước ta từ rất lâu nhưng do thái ựộ và ựường lối sai lầm, tầm nhìn hạn chế của vua quan Nguyễn mà các yếu tố trên không có ựược ựiều kiện tốt nhất ựể phát huy những ảnh hưởng trong xã hội Chỉ ựến khi Pháp chiếm ba tỉnh miền đông Nam Kì, tiến hành xây dựng cơ sở vật chất ựể làm bàn ựạp xâm chiếm cả nước Việt Nam thì các yếu tố ựó mới có ựiều kiện ảnh hưởng ựến xã hội Việt Nam Cụ thể, năm 1863, Pháp khánh thành sở Bưu ựiện Sài Gòn Lập trường học tiếng Pháp (1864) và phát hành báo tiếng Pháp và tiếng Việt
Khi ựó, Tự đức lại cử người sang các nước lân cận khảo sát tinh hình, cử phái ựoàn sang thương thuyết với Pháp nhằm chuộc lại ựất điều này ựã tạo cho các quan chức này tiếp xúc với văn hóa, văn minh Tây phương Chắnh nhờ sự quan sát, tiếp xúc này mà ở họ ựã nhận thức ựược sự lạc hậu về nhiều mặt của Việt Nam, ựưa Việt Nam ựứng trước tình thế hiểm nghèo ngàn cân treo sợ tóc Và con ựường duy nhất ựể giúp ựất nước thoát khỏi họa nô lệ - tất yếu phải canh tân, tự cường, hòa vào quy luật phát triển chung của thế giới như Nhật Bản và Xiêm ựã làm khi trào lưu thực dân ựang ựứng trước ngõ cửa Khi tình hình chiến sự ở Nam Kì ựang diễn ra hết sức căng thẳng, vua Tự đức ra chỉ dụ chiêu hiền ựãi sĩ, hễ ai có thể chắc chắn ựược một, ựều ựược bổ dụng nhằm khuyến khắch người dân suy nghĩ và cùng nhà vua tìm phương kế ựánh giắc cứu nước đây cùng là một ựiều kiện thuận lợi và tốt nhất ựể cho các tư tưởng canh tân ựược ra ựời
Như thế, chắnh hai nhân tố khách quan trên ựã dẫn ựến sự xuất hiện các ựề nghị canh tân ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX Nhưng ựấy mới là nhân tố khách quan mà thôi để các dòng canh tân có thể ra ựời và ựi vào thực tiễn thì không thể thiếu nhân tố chủ quan - tinh thần yêu nước và năng lực tu duy của của những người ựề xướng
2.2.3 Tinh thần yêu nước và năng lực tư duy của các nhà canh tân
Trang 28Lịch sử bi thương, hào hùng của ựất nước và dân tộc Việt Nam luôn luôn minh chứng về một tinh thần bất khuất, dũng cảm như lời Nguyễn Trãi:
ỘTuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Mà hào kiệt không bao giờ thiếuỢ
đứng trước họa xâm lược, sức mạnh tinh thần tộc ta luôn ựược huy ựộng và tập hợp dưới nhiều chiều hướng đó là việc phải cố gắng giải quyết mối mâu thuẫn chủ yếu của dân tộc (dân tộc với thực dân) ựể làm tiền ựề thổi bùng lên mãnh liệt cuộc chiến chống lại bọn thực dân, ựồng thời, huy ựộng trắ tuệ người Việt tham gia vào công cuộc ấy đó là làm nảy sinh những kiến nghị, ý tưởng, tư tưởng ựổi mới, nỗ lực tìm hướng tự cường nhằm ựưa dân tộc thoát khỏi họa nô lệ Trước tình cảnh khó khăn, những gương mặt: Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện,Ầ ựược tôi luyện, trưởng thành trong môi trường Nho giáo ựã nổi lên ựóng vai trò như là những cánh én báo hiệu một xuân mới, những ngọn lửa mới thắp sáng ựêm trường điều ựó ựược lắ giải là do tinh thần yêu nước, nỗi niềm trăn trở trước vận mệnh nước nhà của tầng lớp trắ thức cũng như năng lực tư duy của các nhà canh tân khi trong số hàng nghìn giới quan, sĩ phu cùng chịu chung một nền giáo dục Nho giáo lại chỉ có một số ắt nhận thức ựược tình cảnh hiểm nghèo, ựưa ra những ựề nghị canh tân nhằm cứu vãn tình hình ựất nước
Minh Mệnh, vào nửa cuối thế kỉ XIX, là một trong những người có nhiều thông tin nhất về thế giới bên ngoài nhưng ông ựã cự tuyệt hoàn toàn những ựiều mới ấy:
ỘViệc giảng tập ở Dịch quán, chỉ muốn thông dịch quốc âm ra tiếng nước ngoài, ựủ ựể ựáp ứng với người ngoại quốc mà thôi Nếu nhất thiết phải dựng lên một thuyết khác
ựể nghe thấy sự mới lạ, chắnh phải nghĩ ựến bọn trẻ nhỏ, biết ngoại ngữ, văn tự ngoại quốc, tập thành thói quen, bị hãm lại3 Ợ Cao Bá Quát thời Thiệu Trị từng ựi nhiều nước đông Nam Á từng là thuộc ựịa của phương Tây (Anh, Hà Lan,Ầ) nên có tiếp xúc với nền văn minh châu Âu nhưng ông chỉ mới cảm nhận Nho giáo - sự vô ắch ựối với thực tiễn ựang diễn ra mà không có sự ựề xuất nào mới mẻ cả
được tiếp xúc với phương Tây, chỉ số ắt nhạy bén nhận thức ựược thời cuộc, tiếp cận ựược nhu cầu cấp bách phải canh tân với nhiệm vụ thiết yếu là ựưa ựất nước
ựi lên, hòa vào dòng lịch sử phát triển chung của thế giới - hướng ựi tất yếu của dân tộc Sự kết hợp giữa các nhân tố khác quan và chủ quan ựã dẫn ựến sự ra ựời các tư
Trang 29tưởng canh tân ở nước ta vào nửa cuối thế kỉ XIX Chắnh sự ra ựời các tư tưởng canh tân này là kết quả tất yếu của sự tương tác qua lại giữa các nhân tố trong ựiều kiện lịch
sử ựặc biệt của tình hình kinh tế, chắnh trị, xã hội Việt Nam lúc ựó đó là cách giải quyết mâu thuẫn cơ bản (dân tộc với thực dân) lúc ựó trên phương diện mặt tư tưởng Kinh tế Việt Nam giai ựoạn này mặc dù chưa tạo ra sự xuất hiện các tư tưởng canh tân nhưng ở ngay chắnh bản thân vận ựộng của nó - ựặc tắnh ựộc lập cùng với ý thức, năng lực tư duy của dân tộc kết hợp với truyền thống yêu nước ựã sản sinh ra những tư tưởng này Và sự ra ựời của nó, ựã phần nào tiếp cận ựược nhu cầu lịch sử, biết ựược nhiệm vụ cấp bách cũng như hướng ựi tất yếu mà dân tộc ta phải hướng ựến
Nhìn chung, ựất nước Việt Nam thời kì này, vấn ựề canh tân ựể ựổi mới, bảo vệ chủ quyền dân tộc ựã thể hiện một sự tư duy mới nhằm ựáp ứng yêu cầu lịch sử ựặt ra
đó là sự tồn vong của chắnh mỗi dân tộc trong thời ựại ựế quốc cũng chắnh là niềm mong ước ựộc lập, tự chủ chắnh ựáng của ựất nước và con người Việt Nam
2.3 Những tư tưởng canh tân ựất nước của các nhà trắ thức tiến bộ
Các bản ựiều trần, ựề nghị cải cách ựược dâng lên triều ựình không chỉ là vấn
ựề cụ thể mà còn hàm chứa nhiều nội dung tư tưởng canh tân phong phú Ta có thể nhìn thấy trong các bản kiến nghị này ựã chứa những quan niệm mới mẻ về thế giới quan, nhân sinh quan, về vấn ựề chắnh trị, xã hội,ẦChắnh những quan niệm mang tắnh nhận thức của các nhà canh tân nêu ra ựã làm cơ sở lắ luận minh chứng cho sự cấp thiết phải ựổi mới ựất nước có ý nghĩa to lớn, ựóng vai trò là công cụ tư tưởng cho chắnh bản thân họ cũng như là sự ựóng góp không nhỏ vào sự phát triển tư duy Việt Nam trong giai ựoạn này Họ ựã vận dụng hết sức sáng tạo các quan niệm Nho giáo sẵn có ựể chứng minh cho việ tất yếu phải mở cửa, phải cải cách, phải tự cường Qua các bản ựiều trần, di khảo của họ ta bắt gặp nhiều khái niệm cũ như thời - thế, nghĩa - lợi, trung - hiếu,Ầnhưng một nội dung mới mẻ ở ựây hàm chứa trong ựó là tầm tư duy rộng mở, khoáng ựạt hơn ựời của họ Hiện tượng ỘBình cũ rượu mớiỢ là một ựiển hình cho xu thế này
2.3.1 Về kinh tế
Tư tưởng ỘTrọng nông, ức thươngỢ trong tư duy kinh tế của triều Nguyễn xuất phát trực tiếp từ quan niệm chắnh trị ỘTrọng vương, khinh báỢ - ựường lối chắnh trị do
Trang 30Nho giáo ñề ra Sự áp dụng triệt ñể tư tưởng này này vào ñường lối kinh tế dưới triều Nguyễn ñã dẫn ñến những hệ quả xã hội nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển của các yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa nên khiến nền kinh tế Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng lỗi thời, lạc hậu so với khu và thế giới Thêm vào, chính tư tưởng tư duy ấy lại dẫn ñến việc triều Nguyễn không thể nào xây dựng ñược một con ñường phù hợp cho việc nâng cao sức mạnh nội lực, chuẩn bị lực lượng chống lại sự xâm lược của phương Tây Và ñứng trước những ñòi hỏi cấp bách là phải nâng cao sức mạnh toàn dân, ñặc biệt là sức mạnh kinh tế của dân tộc, các nhà tư tưởng canh tân ñã vấp phải hàng rào bảo thủ của giai cấp thống trị trong tư duy kinh tế Nhiệm vụ của họ là phải xây dựng cho bằng ñược một tư duy mới về kinh tế, làm sao thuyết phục ñược triều ñình thay ñổi quan niệm cũ trong thi hành chính sách “Trọng nông, ức thương”
Cốt lỗi của ñường lối ñó là việc phải cố gắng giải quyết trên quan ñiểm Nho giáo mối quan hệ giữa nghĩa và lợi trong thi hành chính sự Quan niệm nghĩa - lợi thực chất là quan niệm về mối quan hệ giữa ñạo ñức và kinh tế Tư tưởng trọng nghĩa hơn lợi là một ñặc ñiểm cơ bản của nền chính trị ñạo ñức Nho giáo Nho giáo ñề cao ñường lối nhân nghĩa là vương ñạo, khinh thường ñường lối bá ñạo là ñường lối coi trọng cái lợi, ñề cao sức mạnh Theo Khổng Tử, ñạo ñức nhân nghĩa của người quân tử không màng giàu sang, phú quí: “Phú dữ quý, thị nhân chi sở dục, bất dĩ kỳ ñạo chi, bất xử dã” - nghĩa: giàu với sang, ai lại chẳng muốn Nhưng nếu phải ñạo mà giàu sang thì người quân tử chẳng thèm Khổng Tử còn lấy tiêu chuẩn nghĩa - lợi ñối lập ñể phân biệt giữa ñạo ñức quân tử với ñạo ñức tiểu nhân: “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi”, nghĩa là “ Bậc quân tử tinh tường về việc nghĩa, kẻ tiểu nhân rành rã về việc lợi Chính những tư tưởng trên là những tư tưởng phát sinh từ từ ñường lối nhân trị, ñặc trị,…ñã ñược nhà Nguyễn tiếp thu, ñẩy tới mước tuyệt ñối, và có tầm ảnh hưởng ñến việc hoạch ñịnh các chính sách cai trị, ñiều hành ñất nước Trong bối cảnh ấy, không mấy nhà Nho có những quan niệm táo bạo và ñúng ñắn như các nhà canh tân thời kì này
Nguyễn Trường Tộ có cách nhìn ñúng ñắn về xã hội khi cho rằng trong trung ngũ phúc, phú ñứng ñầu, triệu dân trước tiên lo ăn và khi bị cái nghèo ñói thúc bách thì phải lo ñến kế sống còn hơi gì ñâu mà bàn lễ nghĩa Qua ñó, ta thấy ở ông ñã manh nha
ý tưởng về tính quy ñịnh của tồn tại xã hội ñối với ý thức xã hội Ông tuy không phủ
Trang 31nhận giá trị ñạo ñức trong ñời sống con người nhưng lại vạch rõ nền tảng kinh tế là cơ
sở quyết ñịnh các giá trị tinh thần ñạo ñức, ñối lập lại với những quan niệm suông của giới hũ Nho chỉ bàn ñến nhân nghĩa chung chung, tách rời cuộc sống hiện thực,…Ông cho rằng, người xưa coi trọng sản xuất ra của cải nhưng sự coi trọng ñó chỉ bó hẹp trong phạm vi nông nghiệp mà thôi
Những nhà Nho nhà Nguyễn chuyên chú vào việc hiểu ñúng lời người xưa một cách cứng nhắc mà không có sự suy rộng Họ chỉ nhấn mạnh, ñề cao mặt nghĩa, mặt ñạo ñức tới mức khinh thường tài lợi một cách cực ñoan Năm 1854, khi có một người dân tỉnh Gia ðịnh tình nguyện quyên góp 10.000 quan tiền ñể giúp việc ñồn ñiền Trong khi ñó, Tự ðức lại bộc bạch khi cho rằng người giàu mà có thể cầu ñược dù là
kẻ cầm roi ngựa ta cũng làm, nếu không cầu ñược thì người ta làm theo ý của bản thân mình Nhà vua cho rằng con người không thể tự mình làm giàu ñược mà là do số trời ñịnh sẵn nên khước từ mọi phương pháp làm giàu Thuật cai trị dân là phải làm cho dân biết cần lao rồi mới có ñược phong tục tốt như các ñấng thánh vương xử trí nhân dân, chọn chỗ ñất xấu mà cho ở, làm cho nhân dân biết cần lao rồi mới dùng, cho nên mới làm vua thiên hạ và ñược lâu ñời Khi ñó, Nguyễn Xuân Ôn tiến sĩ triều Nguyễn lại khẳng ñịnh từ ngàn xưa nghề nông với việc trọng lúa gạo ñều có thể làm cho nước giàu lên, chứ việc buôn bán thì hầu như không có Trong bối cảnh tư duy lạc hậu ñó, ðặng Huy Trứ ñưa ra một quan niệm về kinh tế rất mới mẻ, ñúng ñắn:
“Bang gia khí mạch duy tài phú ðạo nghĩa môn phong tố lễ thư”
Nghĩa là: “Khí mạch của ñất nước là ở sự giàu có, nền nếp ñạo nghĩa của gia ñình vốn sẵn có ở sách Lễ nghĩa” Không chỉ coi trọng kinh tế, ông còn coi ñó là một ñạo lý lớn, một phẩm chất lớn ñể ñánh giá tài năng, phẩm hạnh của kẻ sĩ ðồng thời, ông cũng nhận thức việc giáo dục ñạo ñức trong gia ñình giữ vai trò quyết ñịnh, là nền tảng ñể con người có thể cân bằng mối quan hệ giữa nghĩa - lợi Mối quan hệ giữa nghĩa - lợi, các nhà canh tân ñã nhận thức chúng trong mối quan hệ tác ñộng, sự hài hòa, bổ sung lẫn nhau, vì nghĩa mà làm việc lợi, làm việc lợi ñể ñề cao nghĩa, không
xa rời nghĩa Với các nhà canh tân, ñiều lợi - nghĩa là không mâu thuẫn, làm ñiều lợi chính là làm ñiều nghĩa bởi mục ñích vì dân, vì nước của việc làm giàu Nguyễn
Trang 32Trường Tộ quan niệm nếu mọi việc có lợi cho dân thì ta không phải theo xưa, không
cứ phải cứ theo cái cũ, nên học ñiều khôn thì không nên phân biệt là của ñịch hay của
ta Ông chỉ rõ sự khác biệt về phương thức làm giàu mới so với quan niệm cũ luôn coi làm giàu là tranh lợi với nhân dân, bòn rút của dân ñể làm cho nước giàu, mà là nhân nguồn lợi tự nhiên của trời ñất ñể sinh ra của làm cho dân, nước ñều giàu Và chính những quan niệm tiến bộ như thế về nghĩa - lợi mà các nhà canh tân ñã ñược giải thoát khỏi cái tư duy kinh tế ấu trĩ “Trọng nông, ức thương”
Do vậy, chính sự ñổi mới tư duy kinh tế là cơ sở lí luận cho việc tất yếu phải phát triển kinh tế về mọi mặt nhằm ñưa ñất nước vào con ñường văn minh, phát triển
mà trước mắt là tạo ra ñược nguồn tài lực dồi dào cho công cuộc bảo vệ nước nhà Nguyễn Trường Tộ cùng với những ñề nghị canh tân của Phạm Phú Thứ, ðặng Huy Trứ,…thời kì này ñã góp phần không nhỏ trong tầm tư duy kinh tế hết sức tiến bộ so với ñương thời
2.3.2 Về chính trị
Tư duy chính trị Nho giáo với quan niệm lạc hậu về thiên ñạo: trời, mệnh trời,…ñã gây cản trở lớn trong tư duy chính trị ñương thời nên khiến triều Nguyễn không nhận thức ñược sư ñúng ñắn về các sự kiện chính trị ñã và ñang diễn ra trong khu vực và thế giới cũng như bản chất của thực dân xâm lược Từ ñó, nhà Nguyễn ñã không phân tích ñược sự ñúng ñắn thời thế, gây ra sự sai lầm trong hoạch ñịnh ñường lối chiến lược chống xâm lược từ phương Tây Không bị hạn chế bởi nhãn quan Nho giáo, các nhà canh tân lại ñược tiếp cận một cách nhìn mới về thế giới, biểu hiện nổi bật qua cách phân tích thời - thế của họ Thời - thế là quan niệm phổ biến trong triết học Trung Quốc Quan niệm này biểu hiện mối liên hệ tương quan, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố (khách thể với chủ thể, riêng và chung,…) Khi ñó, thời là toàn
bộ cá nhân tố khách quan ñưa tới trong một thời ñiểm nhất ñịnh cho phép chủ thể có thể làm hay không thể làm một ñiều gi ñó Thế, phản ánh toàn bộ tiềm năng, sức mạnh của một chủ thể này trong sự so sánh với một chủ thể khác, một quốc gia này so với một quốc gia khác ðồng thời, nó cũng là sự tổng hợp cả những ñiều kiện khách quan lẫn chủ quan của chủ thể mà nó có thể ñáp ứng hay không ñáp ứng mục ñích chủ ñặt ra trong tương quan chặt chẽ với những tính quy ñịnh chặt chẽ của thời, làm thành sức
Trang 33mạnh trong sự so sánh giữa chủ này với chủ thể khác Theo ñó, thời - thế có mối quan
hệ với nhau Nó có vai trò to lớn trong nhận thức và ñiều chỉnh các hành vi của Nho sĩ, quan lại, vua chúa trong hoạt ñộng cá nhân, quản lí và ñiều hành ñất nước trong tình cảnh xã hội chịu ảnh hưởng bởi Nho giáo Việc có thể nhận thức ñược ñúng thời thế ñòi hỏi chủ thể nhận thức phải có tri thức uyên thâm, trình ñộ tư duy phân tích, tổng hợp sắc bén và là người phải am hiểu kĩ thực tiễn Lịch sử giữ nước và cứu nước của Việt Nam cung cấp những ví dụ hùng hồ về tư duy phân tích thời thế: Trần Hưng ðạo, Quang Trung,…
Thế giới quan Nho giáo ñã hạn chế tầm mắt của các nhà Nho Việt Nam trong một thế giới nhỏ hẹp với Trung Hoa là trung tâm duy nhất của nền văn minh nhân loại Ngay cả khi Trung Hoa bị thất bại trước làn sóng thực dân, phải cắt ñất cầu hòa, mở cảng thông thương thì các quan niệm của giới Nho giáo Việt Naam vẫn không thay ñổi Họ không ñánh giá ñúng về kẻ thù mới cùng với các ñặc ñiểm về chủng tộc, phương thức sản xuất và sự tư duy Sức mạnh vũ khí của chúng ñược ví như sức mạnh của tự nhiên (sấm, chớp,…) Âm mưu xâm lược và thôn tính Việt Nam làm thuộc ñịa của Pháp ñược vua Tự ðức nhận thức mù mờ và hão huyền tin rằng bằng lòng thành tín trong cầu hòa có thể làm cho Pháp cảm ñộng mà chấm dứt xâm lược, trả lại ñất ñai Tất cả ñều xuất phát từ nhận thức thời thế hạn hẹp của nhà vua Thời này, chỉ các nhà canh tân - những người ñược mở rộng tầm mắt ra bên ngoài thế giới văn minh nên mới
có những nhận thức thời - thế phù hợp với thực tế Nguyễn Trường Tộ lí luận: “Người hiểu biết thì thuận theo thế nước cho chảy xuôi, ñể nước chảy về sông thì về biển thì hết, nếu ngăn ñọng lại thì úng núi ngập gò, tắc lại thì trôi nhà trôi cửa4 ” Qua ñó, ông
ñã ñối chiếu, nhận ñịnh về vị thế nước nhà: “Hiện nay tình hình trong nước rối loạn Trời sinh tai biến ñể cảnh cáo, ñất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của nhân dân
ñã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh ñã mệt mỏi Thế mà sao ñối ngoại thì không
có cách nào ñộng ñến một mảy may lông chân của Pháp5 ”
Ông ñặt chủ trương hòa với Pháp lên hàng ñầu Trong suốt các bản ñiều trần của ông, hòa là chiến lược và nhất quán tư ñầu ñến cuối, là ñiều kiện tiên quyết cho việc tiến hành canh tân Ông không chỉ muốn hòa với Pháp mà còn muốn ñất nước phải ñược hòa bình thực sự, không có nội chiến, ngoại xâm, từ ñó có thể dốc toàn bộ sức lực của ñất nước vào cuộc canh tân toàn diện Tuy nhiên, những chủ trương trên
Trang 34lại bắt nguồn từ sự ựề cao qua mức sức mạnh vũ khắ, vật chất phương Tây xuất phát tư những thương vong, tổn thất do chiến tranh gây ra ựưa dân dấy loạn làm tổn hại ựến vua, hại dân, xã hội lâm vào tình trạng hưng vong ựược mất bất thường không biết lúc nào Mặt khác, ông còn nhận ựịnh rằng với mọi việc trong thiên hạ ựể thời trôi qua thì hối tiếc, ngược lại, gặp thời làm ta phải gấp rút ra tay, tuyệt ựối không bỏ qua cơ hội
Ở ựây, tư duy lôgic của ông là: tạm hòa, tạm phụ thuộc, canh tân tự cường, phú quốc, cường binh ựộc lập thực sự, lâu dài đối với đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch thì sao?
Họ là những người rất am hiểu thời thế nên ựã nhận thức ựược yêu cầu cấp bách phải ựổi mới và có ựược nhãn quan chắnh trị sắc bén Họ ựau xót khi nước nhà ựang dần mất chủ quyền vào tay giặc khi thời cuộc ngày nay không còn như trước nữa Trước kia mọi việc có thể làm ựược thì không làm ựến khi việc thất thủ Hà - Ninh (1873) thì các việc cải cách ựể có thể tự cường tự trị ựều còn im lìm trong lặng cả Tuy nhiên, việc không nhận thức ựúng bản chất, dã tâm của chủ nghĩa thực dân và không hiểu rõ ựặc tắnh bất khuất của dân tộc chắnh là ựặc tắnh của truyền thống dân ấy là không bao giờ chịu nhượng bộ chủ quyền của mình dù sức cùng lực kiệt
Những nhận thức mới về thế giới và sự phân tắch thời thế của Nguyễn Trường
Tộ trong bối cảnh chắnh trị mới ựã cung cấp cho người ựương thời một nhãn quan chắnh trị mới mẻ, tiếp cận ựược với hiện thực của lịch sử bấy giờ Tuy nhiên, khi ựánh giá tư tưởng chắnh trị Nguyễn Trường Tộ, Trần Văn Giàu cho rằng: ỘÔng Tộ muốn ựòi theo tư bản phương Tây mà chưa cắt ựứt nổi cái gốc phong kiến phương đông6 Ợ, vẫn
còn cái nét mâu thuẫn giữa nền quân chủ lập hiến, pháp trị, dân chủ của chắnh quyền với cái ý trung quân tuyệt ựối, cái quân chủ có tắnh chất thần quyền còn tồn tại trong ông đó là những ranh giới hạn chế nhất ựịnh mà Nguyễn Trường Tộ cùng các nhà canh tân khác không vượt qua và là một ựặc ựiểm ựể phân biệt giữa tư tưởng canh tân với tư tưởng cách mạng Các nhà canh tân ựều không ựặt vấn ựề thay ựổi cơ chế chắnh trị chỉ chủ trương một lòng trung với nước, với vua đường lối chắnh trị của Nguyễn Trường Tộ ựược tổng hợp từ kinh nghiệm chắnh trị khi ông xuất dương sang phương Tây Ông ựề cao chế ựộ quân chủ tập quyền hiện hành với quyền ưu thế tuyệt ựối thuộc về vu, ựề cao tư tưởng chắnh danh ựịnh phận, tư tưởng ựẳng cấp trong cai trị:
ỘVua có bổn phận của vua, quan có bổn phận của quan, dân có bổn phận của dân Danh phận của người ựều có cái quắ trọng riêng, mỗi bổn phận có cái cao quắ riêng,
Trang 35không ựược có cái ý tưởng ựược voi ựòi tiên7 Ợ đề cao uy quyền của nhà vua nhưng ông cũng yêu cầu vua không ựứng ngoài vòng pháp luật bởi thấu hiểu trọng trách mà chúa trời ựã giao: ỘKẻ làm vua biết rõ cái ựiều trời phó thác cho mình là nặng nề, mọi họa phúc ựều do trách nhiệm ở vua, cho nên tự hạ mình ghép vào vòng pháp luật8 Ợ Ngoài ra, ông còn ựề nghị công khai tình hình trong nước cho toàn dân biết, qua ựó mở rộng tự do ngôn luận việc ựúng sai, ựã phần nào cho thấy tư tưởng chắnh trị của ông ảnh hưởng tư phương Tây
Qua ựó, ta thấy Nguyễn Trường Tộ ựang mong muốn có một nhà nước quân chủ cai quản ựời ựời bởi một dòng họ Ở nhà nước ựó, vua cai trị dân chúng bằng pháp luật, công bằng, nghiêm minh, thi hành ựường lối phát triển kinh tế và ngoại giao rộng rãi, dân chúng thì tôn kắnh vua và tầng lớp trên vô ựiều kiện và ựược tự do ngôn luận, tham gia việc nước Mô hình này tương ựối giống với Nhật Bản ựương thời, ựất nước
mà ông xem là kiểu mẫu ựể tiến hành duy tân,cải cách Trung thành với mô hình ấy, ông còn ựề nghị nhiều cải cách trong cơ chế quản lắ, ựiều hành nhà nước đó chắnh là ựiểm mới trong tư duy chắnh trị của ông đối với cải cách hành chắnh, ông yêu cầu hợp tỉnh, huyện nhằm tỉnh giản biên chế, giản lược thủ tục giấy tờ, tăng lương, có cơ chế ựãi ngộ thỏa ựáng cho quan chức,ẦBên cạnh, ông còn ựề nghị bổ sung ựội ngũ quan lại có thực tài, tri thức vào bộ máy nhà nước và xóa bỏ tệ nạn quan lại mù chữ nhằm mục ựắch ựào tạo lớp nhân tài mới bổ sung và thay thế dần cho tầng lớp quan lại cũ
Từ ựó sẽ tạo ra ựược sự thay ựổi lớn trong trong cơ chế quản lắ, ựiều hành nhà nước, tạo ra ựược sự cải cách hành chắnh theo mô hình mà ông mong ước Khắ ựó, về mặt ựạo ựức, trung - hiếu là hai ựức tắnh ựược xem là cao nhất của ựạo Nho, của ựạo ựức người quân tử Các nhà canh tân tất cả ựều xuất thân nơi cửa Khổng sân Trình hoặc ựược trao dồi Nho học nên hầu hết ựều tuân thủ những chuẩn mực ựạo ựức Nho đến thời Tự đức, vua vẫn là biểu tượng của nước, trung với nước là trung với vua và ngược lại Người ựứng ựầu ựược coi là một biểu tượng cho sự thống nhất quốc gia, nắm giữ và tập hợp mọi sức mạnh của toàn dân thực hiện nhiệm vụ chống giặc giữ nước Nói cách khác, các nhà canh tân không những không ựưa ra tư tưởng thay ựổi thể chế chắnh trị mà còn có tư tưởng củng cố thể chế hiện tồn một cách rõ ràng ựó là
do tình trạng xã hội bấy giờ quy ựịnh Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là rất rối loạn bởi sự xâm lược của Pháp cũng như sự chống ựối, nổi dậy của các nhóm ở
Trang 36trong nước (giặc cướp, hải tặc,Ầ) Tình hình ựó khiến nhà vua càng phải tập trung những lực lượng chủ chốt vào việc ựánh dẹp nội loạn, bảo vệ ngôi báu hơn là phòng chống ngoại xâm và tìm phương cách chống giặc giữ nước ựang hiện chờ từng ngày ngay trên lãnh thổ nước nhà
Trước tình cảnh phức tạp ấy, các nhà canh tân ựã nhận thức ựược tầm quan trọng của việc ổn ựịnh chắnh trị, của việc hòa hợp nhân tâm trong thuật trị nước nên không thể và không bao giờ ựưa ra một ựề nghị cực ựoan về mặt chắnh trị ựó là thay thế chắnh quyền này bằng một chắnh quyền khác Và ở ựó, họ chỉ có thể tìm cách khắc phục các yếu kém của chắnh quyền ựương thời với việc ựưa ra các ựề nghị canh tân cụ thể Như vậy, quan niệm của các nhà canh tân về việc duy trì bộ máy quản lắ cũ trên
cơ sở nâng cao tắnh hiệu quả của nó bằng các cải cách hành chắnh và nhân sự, ựưa luật vào công tác quản lắ,Ầựã có tắnh hợp lắ nhất ựịnh Tuy tư tưởng chắnh trị còn một số hạn chế nhất ựịnh nhưng ngay bản thân nó ựã mang nhiều tiến bộ (vai trò của tầng lớp lãnh ựạo, ổn ựịnh xã hội,Ầ) mà ta không thể phủ nhận Và với những hiểu biết về thế
sự trong và ngoài nước cộng với nền tư duy sắc sảo trong phân tắch thời - thế, các nhà canh tân ựã nhận thức ựược nhiệm vụ lớn lao của dân tộc là làm dân giàu, nước mạnh thì dân tộc mới ựủ sức chống lại giặc ngoại xâm, bảo vệ nền ựộc lập lâu dài và phát triển vươn lên đó là một con ựường mà dân tộc ta phải bước ựi và cũng là mục tiêu ựầu của các nhà canh tân Và chắnh sự ựổi mới về mặt tư duy chắnh trị là cơ sở lắ luận cho các ựề nghị canh tân xã hội Việt Nam bấy giờ, ựóng góp không nhỏ vào nền tư duy chắnh trị Việt Nam
2.3.3 Về xã hội
Xã hội Việt Nam nửa cuối thể kỉ XIX ựã chứa ựựng nhiều bất ổn do mâu thuẫn giữa các lực lượng trong xã hội cũng như mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với thực dân Pháp để có ựược những biện pháp canh tân, cải cách bảo vệ chủ quyền dân tộc thì
sư ổn ựịnh, thống nhất lòng dân là một ựiều rất quan trọng Do ựó, ựổi mới tư duy về
xã hội, ựể trở về với quan niệm nhân chắnh truyền thống lấy dân làm gốc cùng việc ựưa ra những quan niệm mới về vai trò, nghĩa vụ, trách nhiệm giữa dân và vua, quan lại là một việc cần giải quyết cho việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trang 37Con người là nhân tố quan trọng nhất để thực hiện sự nghiệp canh tân, đổi mới đất nước Vấn đề con người và một số tiến bộ nhất định trên phương diện tư tưởng được xem là mặt lí luận, là cơ sở để giải quyết các vấn đề xã hội ðại biểu cho phương diện ấy là ðặng Huy Trứ Ơng từng nĩi từ ngàn xưa, nhân hịa là điều quan trọng nhất
và là nguồn gốc cho thiên thời, địa lợi ra đời Người xưa, khi mưu đại sự phải tính đến
ba yếu tố: thiên thời - địa lợi - nhân hịa, được xem là nhân tố, điều kiện cho thành cơng Nếu đạt được cả ba điều kiện trên là đạt được sự thống nhất cả điều kiện khách quan lẫn chủ quan, đem đến sự thắng lợi tất yếu Tuy nhiên, trong thực tiễn, rất ít cả ba điều kiện cùng đạt được trong một thời điểm Vì thế, ðặng Huy Trứ đã nhấn mạnh tính quyết định của yếu tố con người trong sự đồng tâm, hiệp lực, đồn kết, nhất trí cùng với thiên thời, địa lợi như là yếu tố quyết định Với ơng làm thế nào để thu phục nhân tâm, đưa lịng người về một mối, khơng li tán, phân tranh là vấn đề quan trọng hơn cả Giải quyết được vấn đề con người coi như giải quyết được các vấn đề khác để làm nên thành cơng ðặng Huy Trứ khẳng định khi cho rằng khí mạch của đất trời là lấy dân làm gốc để phát triển nước nhà Quan niệm này đối lập hẳn với quan niệm của vua Tự ðức là một lịng tin vào quyền năng vơ biên của trời, e sợ mệnh trời và khơng chút tin tưởng vảo nhân dân Và con người trong truyền thống tư tưởng dân tộc, ðặng Huy Trứ luơn lấy lợi ích của nhân dân làm mục đích sống, làm mục tiêu cho mọi người hành động khi khơng giúp gì được cho nhân dân thì đừng làm quan Trên cơ sở tư tưởng
“Lấy dân làm gốc” ơng đã đưa ra nhiều cải cách nhằm bồi bổ cái gốc đĩ và bản thân ơng lại trở thành người thầy thuốc giỏi trong nhân dân
Nguyễn Trường Tộ thì chú trọng đến yếu tố nhân hịa như một chân lí khách quan Ơng lí luận về mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng nhằm minh chứng cho tính tất yếu phải yên dân trị nước ðặng Huy Trứ thì khẳng định trong đất nước nhân dân được xem là huyết mạch quyết định sự an nguy của nước nhà Con người cĩ hệ trọng đối với đất nước vì thế cần cĩ chiến lược đúng đắn đối với con người Chiến lược ấy gồm mọi tầng lớp mà tựu trung nằm trong mối quan hệ “Vua - quan - dân” trên mọi lĩnh vực kinh tế - văn hĩa - xã hội Trong lĩnh vực chính trị, vấn
đề quan trọng là phải củng cố khối thống nhất, nhất trí giữa triều đình và nhân dân nhằm tăng cường đồn kết tồn dân, tạo sức mạnh xây dựng và chiến đấu giữa lúc trong triều đình, quan lại thì người hịa, kẻ chiến,…hết sức rối ren, phân tán trầm
Trang 38trọng Trong triều thì bối rối như vậy, bên ngồi nhân dân thì sự phân biệt lương giáo hết sức khắc nghiệt bởi chỉ dụ cấm đạo của vua Tự ðức trước hịa ước 1862 càng làm cho tình hình thêm xáo động Vì thế, việc chấm dứt phân biệt tơn giáo, thu phục lịng người, tăng cường tình đồn kết, giữa các tầng lớp trong nhân dân là vơ cùng cấp thiết, tạo điều kiện quan trọng để giữ mối nhân hịa, tạo sức mạnh để đối phĩ với giặc xâm lược
Nhấn mạnh ý nghĩa của sự thống nhất dân tộc, Nguyễn Trường Tộ cho rằng với một dân tộc thống nhất trong một nước tuy nhân dân cĩ phân chia nhà cửa khác nhau, đặt dưới quyền quyền thống trị của nhà vua với nhân dân nhưng nếu biết liên kết dùng trí kết muơn dân nhằm yên ốn mọi mặt đời sống trong chính sách cai trị nước thì là cái khéo của vương triều Các nhà canh tân đồng thời cũng chú ý đến vai trị của người lãnh đạo, người làm vua, làm quan đối với dân, với nước trong nền an nguy của nước nhà Giữa thế kỉ XIX, trình độ dân trí của người Việt cịn rất thấp so với thế giới, khoảng 1% dân số biết chữ Do đĩ, dù cho cĩ tin tưởng nhân dân đủ sức xoay trời lại nhưng nếu họ khơng được tập hợp dưới một ngọn cờ, khơng được đồn kết thống nhất thì khơng thể nào phát huy hết sức mạnh tiềm năng của mình nên các nhà canh tân đã chủ trương đề cao vai trị tối cao của nhà vua Theo họ, vua quan đều là trụ cột của đất nước, giữ trách nhiệm trọng yếu quy tụ mọi dân tộc lại với nhau Vì giữ nhiệm vụ ấy nên người lãnh đạo phải biết nhìn xa trơng rộng, cĩ thực tài lãnh đạo nhân dân thốt khỏi cảnh nghèo đĩi, đưa đất nước thốt khỏi nạn ngoại xâm Nhiều tiêu chuẩn đào tạo, tuyển dụng hàng ngũ quan lại được đưa ra theo nguyên tắc “Tùy tài mà trao chức” Do đĩ, với quan niệm này, cái tài của những người biết và giỏi nghề thực dụng được trọng dụng Khía cạnh khác, mối quan hệ “Vua - quan - dân” tuy khơng được các nhà canh tân đề cập trực tiếp nhưng qua các khái niệm của họ về vai trị của mỗi tầng lớp đều cĩ sự quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc Mặc dù họ chưa vượt qua được rào cản phong kiến về mối quan hệ “Quân - thần”, nhưng những ý tưởng đĩ cho ta một quan niệm mới tiến bộ hơn dần được manh nha Với điều kiện văn hĩa - xã hội bấy giờ tuy đây là một nhận thức rất phù hợp trong việc sử dụng quan niệm cũ của Nho giáo nhưng với năng lực tư duy sắc bén cộng với vốn tri thức hơn người, các nhà canh tân
đã vượt khỏi tầm nhìn hạn chế của Nho giáo, để đi dến cách nhìn mới về các vấn đề xã hội mang tính tồn cục, tạo nguồn sinh lực mới trong tư duy
Trang 39Nguyễn Trường Tộ với bài trần tình (1863) nghĩ rằng thời kì khôi phục nước nhà ựã có xác chứng ở bốn bể, dự tắnh ựược ở tương lai Và con ựường ấy không ựâu
xa hết mà chắnh ở trong thiên hạ, nơi người dân ựang nhiệt tình ủng hộ Phương hướng
ựó nhanh chóng trở thành con ựường chung cho các thế hệ tiếp nối: Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Biện, Phan Bội Châu,Ầtrên từng bước ựi của dân tộc Từ quan ựiểm và tìm giải pháp hướng ngoại, Nguyễn Trường Tộ ựã ựề nghị triều ựình mở rộng cửa ngoại giao,
mở cửa thông thương với bên ngoài - tư bản phương Tây ựể cho họ thấy mọi vật ựều trong nước ựều, có quyền ựịnh ựoạt moi thứ kể cả việc ngồi thu thuế ựể tăng dụng cho ựất nước và nhân dân Với nhận thức ấy, Nguyễn Trường Tộ ựã vượt qua ựược lối mòn trong tư duy truyền thống của dân tộc - hướng nội đó là lối tư duy cố hũ ựược truyền
từ ựời này sang ựời khác bởi cơ sở của một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước mang tắnh tự cấp tự túc, ựặc tắnh tâm lắ xã hội, cơ cấu gia ựình - thôn xóm, làng xã cũng như
sự trói buộc của tắnh hư vô trong Nho giáo ựã trở thành khuôn mẫu cứng nhắc không
dễ gì thay ựổi Những người ựương thời không những bị tư duy cũ cản trở suy nghĩ tìm
ra phương hướng, con ựường mới mà ở họ còn không thể chấp nhận ựược cách thức và tiếp nhận tư duy mới Và Nguyễn Trường Tộ ựã vấp phải bức tường rào của sự tư duy
cũ trong việc ựặt vấn ựề mở cửa khi kẻ hủ Nho không biết thời thế chuyển biến, cứ luôn câu nệ vào nghĩa lắ sách vở với ý nghĩ mở cửa ựón kẻ cướp vào trong khi phương đông tạo vật ựã khai thông cả thì một nước như ta có ựóng kắn ựược dài lâu Việc kiên trì theo ựường lối ấy, Nguyễn Trường Tộ ựã tìm mọi cách ựể thuyết phục triều ựình Nguyễn thục thi ựường lối do ông ựề xướng Theo ông, con ựường mà ựất nước phải ựi
là triều ựình phải tìm ựường lối thông thương với bên ngoài ựể tìm phương cách xây dựng ựất nước trước làn sóng thực dân Theo ông, nhân tố ựầu tiên, quyết ựịnh và cơ
Trang 40bản nhất ựể thay ựổi tình hình ựất nước và cải thiện mối quan hệ với bên ngoài ựể tiếp thu cái mới như hiện nay là: ựất nước phải mở cửa, thông thương, hòa vào dòng phát triển chung của thế giới tư bản Từ ựó, ựất nước những cơ hội và tiềm năng phát triển mới Ông dẫn gương các nước trong khu vực: Nhật Bản, Thái Lan,Ầựã theo con ựường ấy mà phát triển, mà tự cường và thoát khỏi áp lực của chủ nghĩa thực dân phương Tây Ông quan niệm, ựường lối mở cửa là gồm sự ựa phương trong các quan
hệ ựối ngoại và ngoại thương đó chắnh là kết tinh của sự ựúc kết kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới Ông khẳng ựịnh, sự tiến bộ về văn hóa thông qua ngoại giao chắnh
là nhờ ảnh hưởng của sự giao lưu giữa các nền văn hóa, văn minh khác nhau trên thế giới Mặt khác, ông lại quá cực ựoan khi cho rằng chắnh sự xâm lược của thực dân phương Tây là một cơ hội cho các nước lạc hậu noi gương phát triển Ông không nhận thấy ựược, dưới tác ựộng và ảnh hưởng của nền văn hóa khác có thể dẫn ựến nguy cơ nền văn hóa dân tộc bị hủy hoại, mất gốc, lai căng,Ầnhư bao dân tộc khác trên thế giới từng hứng chịu Do vậy, chắnh tư tưởng trên của ông - ựường lối mở cửa, tuy chỉ mang tắnh dự báo, nhận thức ựược thực tiễn phát triển trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ nhưng vẫn có giá trị khoa học và thực tiễn cao trong thời hiện ựại
Bên cạnh Nguyễn Trường Tộ, những ựầu óc canh tân (Phạm Phú Thứ, đặng Huy Trú, Nguyễn Lộ Trạch,Ầ) ựều chủ trương mở rộng cửa ngoại giao, thông thương
Họ coi tư tưởng ựó là chìa khóa cho việc khai thông nguồn lợi, tắch lũy tài - nhân lực
ựể tự lực tự cường Năm 1867, Phạm Phú Thứ ựiều trần về những việc nên làm gấp, trong ựó nhấn mạnh việc mở cửa với các nước đông Tây là thiết yếu Ông khẳng ựịnh tầm quan trọng của ựường lối ngoại giao mở cửa trước tiên là phải vững nước mình, chống lại kẻ thù, chủ trương hòa với Pháp, thông thương và kết giao hảo với các nước một cách ựơn giản hóa nhưng ông lại không tắnh ựến các ựiều kiện thực tế có cho phép hay không Qua ựó, ta thấy quan niệm của ông tuy không sắc bén, kiên ựịnh và có hệ thống bằng Nguyễn Trường Tộ nhưng ở ông ựã nảy sinh ựược một ựường lối ựối ngoại tiến bộ trong cửa bể một triều ựình mà tư duy thủ cựu, bảo thủ chi phối Một nhân cách
và tư tưởng ựáng khâm phục, noi gương Khi ựó, nhận thức của Nguyễn Lộ Trạch về
mở cửa lại có nét khác Năm 1877, ông ựịnh rõ việc mở cửa ngoại giao, thông thương phải dựa trên cơ sở nào ựó mới ựem lại ựiều lợi, tránh ựiều hại cho ựất nước Ông khẳng ựịnh, phải hòa và thông thương nhưng chỉ là tối ưu khi ta có một thế ựứng nhất