Năm 1971, nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cho ra mắt độc giả tác phẩm “Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ” của tác giả Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng, đây quả là một tập
Trang 1TÌM HIỂU CÁC QUÂN BINH CHỦNG
VÀ VŨ KHÍ CHIẾN ĐẤU CỦA
QUÂN ĐỘI TÂY SƠN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS LÊ THỊ MINH THU SINH VIÊN THỰC HIỆN: BÙI HOÀNG TÂN
MSSV: 6086348 LỚP: SD0818A1 NGÀNH: SƯ PHẠM LỊCH SỬ
KHÓA: 34
CẦN THƠ – 05 / 2012
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Bước vào thế kỉ XXI với nhiều vận hội mới, chúng ta thường phải đối diện với nhiều dòng suy nghĩ về đất nước, về con người, về quá khứ, cả hiện tại và tương lai… nhưng với lịch sử, chúng ta vẫn không quên về những bài học xương máu của dân tộc ta đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những giá trị lịch sử đó vẫn luôn sống mãi với mọi thời đại Do vậy, mỗi khi lần giở từng trang sử, chúng ta lại càng suy nghĩ hơn về trách nhiệm bởi lịch sử là nơi soi rọi tâm hồn ta đối với đất nước Chính vì thế, lịch sử là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của bản thân tôi, cho nên được trải nghiệm 4 năm học tập chuyên ngành lịch sử ở trường đại học là niềm hạnh phúc lớn lao đối với tôi Nhưng tôi luôn tự hỏi với lòng “mình đã học tập được gì? Tiếp thu được bao nhiêu tri thức lịch sử?” Câu trả lời là không được bao nhiêu cả nhưng với những kiến thức ít ỏi thu nhặt được từ giảng đường đại học đã giúp tôi có thể hoàn thành ước mơ của mình, có thể viết một đề tài lịch sử nhỏ bé về phong trào Tây Sơn để làm tài liệu học tập cho bản thân Lần đầu tiên thực hiện đề tài lịch sử, mặc dù tôi đã cố gắng và nghiêm túc làm việc nhưng do sự hiểu biết còn nông cạn nên không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót và hạn chế, kính mong được sự đóng góp ý kiến nhận xét và giúp đỡ chân thành của quý thầy cô và các bạn sinh viên nhằm tiếp sức cho đề tài luận văn được hoàn chỉnh hơn
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ chân thành từ nhiều tập thể và cá nhân Qua đề tài này:
Tôi xin gửi lời cám ơn đến quý thầy cô Bộ môn Sư phạm Lịch sử - Khoa Sư phạm – Trường Đại học Cần Thơ đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường đại học
Tôi bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Minh Thu, người đã hết lòng tận tình giảng dạy, trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài luận văn này
Tôi chân thành cám ơn đến tập thể cán bộ Trung tâm học liệu – Trường Đại học Cần Thơ, Thư viện Thành phố Cần Thơ, Ban quản lý khu di tích Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút… đã cung cấp tư liệu tham khảo quý giá để tôi được hoàn thành đề tài
Trang 3Sau hết, tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, tập thể các bạn sinh viên lớp Sư phạm Lịch sử khóa 34 đã luôn giúp đỡ và động viên tinh thần cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Trân trọng!
Cần Thơ, ngày 23 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Bùi Hoàng Tân
Trang 4NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày … tháng 05 năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Trang 5NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày … tháng 05 năm 2012
Cán bộ phản biện
Trang 6MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ PHONG TRÀO TÂY SƠN
1.1 Bối cảnh xã hội Đại Việt vào nửa cuối thế kỉ XVIII 1
1.1.1 Tình hình xã hội Đàng Ngoài 1
1.1.2 Tình hình xã hội Đàng Trong 5
1.2 Sự hình thành và phát triển của phong trào Tây Sơn 9
1.2.1 Anh em nhà Tây Sơn 9
1.2.2 Sự hình thành và phát triển của phong trào Tây Sơn 14
CHƯƠNG 2: CÁC QUÂN BINH CHỦNG VÀ VŨ KHÍ CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI TÂY SƠN 2.1 Các quân binh chủng trong quân đội Tây Sơn 39
2.1.1 Bộ binh Tây Sơn 39
2.1.2 Tượng binh Tây Sơn 42
2.1.3 Kỵ binh Tây Sơn 47
2.1.4 Pháo binh Tây Sơn 50
2.1.5 Thủy binh Tây Sơn 52
2.2 Các loại vũ khí chiến đấu 57
Trang 72.2.1 Vũ khí thô sơ 57
2.2.2 Vũ khí hiện đại 63
2.2.3 Vũ khí hỏa công 65
CHƯƠNG 3: VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ CÁC QUÂN BINH CHỦNG VÀ VŨ KHÍ CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI TÂY SƠN 3.1 Đặc điểm các quân binh chủng và vũ khí chiến đấu của quân đội Tây Sơn 72
3.1.1 Đa dạng, phong phú và mang tính sáng tạo 72
3.1.2 Đậm chất dân tộc và mang sắc thái thời đại 75
3.1.3 Phát huy khả năng phòng ngự và tiến công cho quân đội Tây Sơn 77
3.2 Tác dụng của các thành phần quân binh chủng và vũ khí chiến đấu trong quân đội Tây Sơn 78
3.2.1 Nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội Tây Sơn 78
3.2.2 Uy hiếp mạnh mẽ tinh thần kẻ thù 80
3.3 Vai trò của các quân binh chủng và vũ khí chiến đấu đối với sự thắng lợi của phong trào Tây Sơn 81
3.3.1 Góp phần quan trọng trong những thắng lợi của phong trào Tây Sơn 81
3.3.2 Góp phần phát triển nghệ thuật chiến thuật quân sự của quân đội Tây Sơn 83
3.3.3 Góp phần nâng cao chất lượng kĩ thuật quân sự thời phong kiến trong chống ngoại xâm vào nửa cuối thế kỉ XIX 86
3.4 Mối quan hệ giữa yếu tố con người với các thành phần quân binh chủng và vũ khí chiến đấu là nhân tố quan trọng xây dựng quân đội Tây Sơn 88
3.4.1 Các quân binh chủng và vũ khí chiến đấu là nhân tố quan trọng xây dựng quân đội Tây Sơn 88
3.4.2 Con người là nhân tố quyết định cho sự thắng lợi của phong trào Tây Sơn 89
3.4.3 Mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố con người với các thành phần quân binh chủng và vũ khí chiến đấu trong phong trào Tây Sơn 93
KẾT LUẬN 95
PHỤ LỤC 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do cho đề tài
Lịch sử Việt Nam thời phong kiến đã từng chứng kiến một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc – phong trào Tây Sơn, từ một cuộc khởi
nghĩa nổ ra vì “cơm áo, ruộng đất” đã trở thành một phong trào đấu tranh “vì đất
nước vì dân tộc”, đã tung hoành từ Nam ra Bắc, lật nhào chế độ phong kiến ở Đàng
Trong, Đàng Ngoài, đặt nền tảng cho quá trình lập lại nền thống nhất quốc gia Phong trào đã đập tan hai đội quân xâm lược hùng mạnh đương thời là Xiêm La và Mãn Thanh, bảo vệ độc lập dân tộc Phong trào Tây Sơn đã để một dấu son chói ngời, một trang sử tự hào làm rạng danh cho non sông nước Việt Nam ta Phong trào Tây Sơn còn là biểu tượng cho sức mạnh vĩ đại của dân tộc, sức quật khởi mạnh mẽ của nhân dân, của ý chí quyết chiến quyết thắng không gì có thể lay chuyển được
Cho đến hôm nay, hai tiếng “Tây Sơn” như vẫn còn âm vang trên suốt chiều dài đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc Phong trào Tây Sơn vẫn luôn còn sáng mãi trong lòng người Việt Nam, những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến phong trào Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn ghi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn chưa được khai thác để viết về lịch sử phong trào Tây Sơn – lịch sử của những người nông dân áo vải đã làm nên biết bao kì tích rạng ngời sử Việt
Nhưng mỗi khi lần giở những trang sử Tây Sơn thì trong lòng tôi vẫn còn trăn
trở “Phong trào Tây Sơn được hình thành và phát triển với những thắng lợi vẻ vang,
đâu phải chỉ do một người làm nên mà cả một tập hợp người, trong đó chủ yếu vẫn là những đội quân nông dân Tây Sơn, những đội quân này được tổ chức như thế nào, trang bị vũ khí chiến đấu ra sao, khả năng tác chiến của họ có gì đặc biệt mà có thể làm nên những điều phi thường như vậy?” Với trăn trở ấy, tôi mong muốn đào sâu,
tìm hiểu vấn đề này góp phần làm sống lại hùng khí của quân đội Tây Sơn thuở trước,
Trang 9vì vậy tôi chọn đề tài Tìm hiểu các quân binh chủng và vũ khí chiến đấu của quân đội Tây Sơn với một tâm huyết
“Tấm lòng thành ghi dấu vinh quang Nôm na lạm chép sử vàng” [10;120]
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong nhiều năm qua, quân sự thời Tây Sơn luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà sử học, quân sự, khảo cổ bởi vì nhắc đến phong trào Tây Sơn là nhắc đến những chiến thắng quân sự vẻ vang, do đó quân sự Tây Sơn luôn là đề tài hấp dẫn thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu khoa học khai thác ở nhiều góc độ khác nhau
Năm 1971, nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cho ra mắt độc giả tác phẩm
“Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ” của tác giả Nguyễn Lương Bích và
Phạm Ngọc Phụng, đây quả là một tập sách có giá trị về mặt quân sự đã được các tác giả khai thác chuyên sâu, phân tích một cách công phu về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật của nghĩa quân Tây Sơn và tài năng chỉ huy của Nguyễn Huệ Đặc biệt, các tác giả còn khai thác sâu về tư tưởng và nguyên tắc chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của nghĩa quân Tây Sơn
Trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5 ra tháng 9 – 10 năm 1983, tác giả Nguyễn
Văn Xuân đã có bài viết “Tìm hiểu về vũ khí và một số phương tiện chiến đấu thời
Tây Sơn” đã đóng góp nhiều tư liệu quý giá cho việc tìm hiểu về quân đội Tây Sơn
Nhân kỉ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc hồi – Đống Đa, Viện Lịch sử quân sự
Việt Nam đã cho xuất bản tập sách “Quang Trung – Nguyễn Huệ với chiến thắng
Ngọc Hồi – Đống Đa 1789” gồm các bài báo cáo khoa học và nhiều tham luận trong
hội thảo khoa học xoay quanh các vấn đề: thiên tài và sự nghiệp Quang Trung – Nguyễn Huệ, nghệ thuật tổ chức và thực hành cuộc kháng chiến chống Thanh, tư tưởng và nghệ thuật quân sự Nguyễn Huệ đã khai thác khá toàn diện các góc độ của quân sự thời Tây Sơn
Năm 2005, nhân kỷ niệm 220 năm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút và để góp phần giáo dục truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc đồng thời cung cấp thêm một số tư liệu mới để làm sáng tỏ hơn trận thủy chiến năm xưa, trong
đó có bài viết “Qua trận Rạch Gầm – Xoài Mút thử tìm hiểu quân đội Tây Sơn” đã bổ
sung thêm nhiều kiến thức quân sự nên Sở Văn hóa thông tin Tiền Giang đã xuất bản
đặc san “Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút (20 – 1 – 1785)”
Trang 10Với tác phẩm “Bàn về nghệ thuật quân sự”, Giáo sư Hoàng Minh Thảo đã đi
sâu nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm nghệ thuật quân sự trong lịch sử Việt Nam, đề cập những lý luận về nghệ thuật quân sự Việt Nam, trong đó tác giả phân tích rất cụ thể chi tiết mưu kế nghi binh trong trận thủy chiến Rạch Gầm – Xoài Mút và vu hồi,
sử dụng chính – kỳ của Nguyễn Huệ trong trận Ngọc Hồi – Đống Đa đã tạo dựng được những năm tháng chiến đấu và chiến thắng quân thù của nghĩa quân Tây Sơn, góp phần gìn giữ và phát triển thêm kho tàng nghệ thuật quân sự truyền thống quý báu của dân tộc
Như vậy, lĩnh vực quân sự thời Tây Sơn đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, đối với đề tài này người viết chỉ tập trung vào các vấn đề: khái quát lịch sử phong trào Tây Sơn, miêu tả các quân binh chủng trong quân đội Tây Sơn và các loại
vũ khí chiến đấu của nghĩa quân Tây Sơn và trên cơ sở đó rút ra những nhận định vai trò và vị trí của các quân binh chủng và vũ khí chiến đấu của quân đội Tấy Sơn đối với quá trình phát triển và thắng lợi của phong trào Tây Sơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Phong trào Tây Sơn là một cuộc chiến tranh nông dân vĩ đại của dân tộc, phong trào đã đóng góp một phần lớn lao vào lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta đồng thời cũng đã đóng góp nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu làm giàu thêm kho tàng nghệ thuật quân sự của truyền thống quân sự Việt Nam Chính vì thế, phong trào Tây Sơn luôn là đề tài hấp dẫn các nhà nghiên cứu sử học, đặc biệt hơn phong trào Tây Sơn còn là niềm đam mê của các chuyên gia quân sự khai thác ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Ở đây, người viết chỉ xin mạn phép tìm hiểu ở một khía cạnh nhỏ bé trong lĩnh vực quân đội thời Tây Sơn trên cơ sở tiếp thu từ những tri thức của các bậc tiền bối Do đó, đề tài chỉ tập trung ở:
Đối tượng nghiên cứu: khai thác, phân tích nội dung về tổ chức của các quân binh chủng của quân đội Tây Sơn, kèm theo đó là miêu tả về các loại vũ khí chiến đấu cùng với kĩ thuật tác chiến của nghĩa quân Tây Sơn
Phạm vi nghiên cứu: được giới hạn trong phạm vi cho phép từ những ngày đầu chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa vào năm 1771 cho đến khi phong trào Tây Sơn lên đến đỉnh vinh quang thắng lợi là thành lập được triều đại Tây Sơn tính đến khi vua Quang Trung qua đời năm 1792 Trải qua hơn 20 năm chiến đấu liên tục của phong trào Tây Sơn, người viết khai thác ở đó các loại hình quân binh chủng tác chiến của quân đội Tây Sơn cùng với các loại vũ khí chiến đấu
Trang 114 Mục đích nghiên cứu đề tài
Khi thực hiện đề tài này, người viết không có ý định đi sâu vào lĩnh vực quân
sự, mà chỉ muốn được bổ sung thêm sự hiểu biết còn ít ỏi về phong trào Tây Sơn nên
đã cố gắng sưu tầm thêm nhiều tài liệu mà chủ yếu là những sách viết về phong trào Tây Sơn và bàn luận về nghệ thuật đánh trận của quân đội Tây Sơn qua những chiến công của nghĩa quân Tây Sơn nhằm bổ sung tri thức lịch sử Trên cơ sở đó, người viết
đã tổng hợp những kiến thức quý hiếm từ các tài liệu sách vở để làm sáng tỏ những điều suy ngẫm của mình dưới dạng đề tài này Mong sao những kiến thức góp nhặt được trong đề tài này sẽ là nguồn tư liệu tham khảo, học tập thật bổ ích giúp người đọc có thêm những hiểu biết về lịch sử nước nhà nói chung và lịch sử phong trào Tây Sơn cùng những kiến thức có liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để tiến hành thực hiện đề tài, người viết đã trải qua quá trình thu thập, tổng hợp các nguồn tài liệu có liên quan từ sách, báo, tạp chí, tập san, internet, hình ảnh hiện vật thực tế… và sắp xếp theo hệ thống thư mục Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp nghiên cứu chính để tiến hành phân tích những chi tiết thật quý giá từ nguồn tư liệu hiếm hoi góp nhặt được, đồng thời minh chứng cho bài viết bằng những trích dẫn
tư liệu đáng tin cậy, đủ sức thuyết phục người đọc Qua đó, người viết còn trình bày những suy nghĩ, những nhận xét của bản thân đối với vấn đề đang tìm hiểu
6 Bố cục đề tài
Phần mở đầu: gồm toàn bộ những trang viết trình bày ý tưởng chọn đề tài, phương pháp hoàn thành đề tài, người viết thực hiện đề tài nhằm mục đích gì và cách phân chia nội dung đề tài như thế nào cho hợp lý để người đọc thuận tiện theo dõi
Phần nội dung: là phần quan trọng nhất của đề tài, phần này được chia làm ba nội dung khác nhau như sau:
- Chương 1: “Vài nét về phong trào Tây Sơn”, nội dung chương này giới thiệu
lịch sử phong trào Tây Sơn một cách khái quát nhất, nội dung được khai thác theo các vấn đề về tình hình xã hội Việt Nam vào nửa sau thế kỉ XVIII nhằm tìm ra nguyên nhân nào đưa đến phong trào Tây Sơn bùng nổ vào năm 1771, và còn khai thác nội dung chương này qua các giai đoạn hình thành và phát triển của phong trào Tây Sơn, mỗi giai đoạn được bắt đầu bằng một biến cố lịch sử và kết thúc mỗi giai đoạn bằng những chiến công oai hùng của nghĩa quân Tây Sơn Và tất cả nội dung của chương 1
Trang 12sẽ được dừng lại khi Quang Trung – Nguyễn Huệ qua đời rồi cũng từ đó phong trào Tây Sơn đi vào suy yếu
- Chương 2:“Các quân binh chủng và vũ khí chiến đấu của quân đội Tây Sơn”
là một trong những phần quan trọng của nội dung chính của đề tài Ở chương này, các quân binh chủng trong quân đội Tây Sơn, các loại vũ khí chiến đấu cùng những kĩ thuật tác chiến của quân đội Tây Sơn đã đóng góp xuất sắc cho phong trào Tây Sơn giành thắng lợi sẽ lần lượt được giới thiệu
- Chương 3: “Vài nhận định về quân binh chủng và vũ khí chiến đấu của quân
đội Tây Sơn” là phần quan trọng nhất của đề tài, qua nội dung chương này người viết
muốn trình bày những hiểu biết, suy nghĩ của bản thân về quân đội Tây Sơn cũng như
về phong trào Tây Sơn đến người đọc để mong nhận được sự chia sẻ thêm Nội dung phần này được khai thác dựa trên: đặc điểm, tác dụng, vai trò và mối quan hệ biện chứng giữa con người và vật chất của các thành phần quân binh chủng và vũ khí chiến đấu trong quân đội Tây Sơn
Phần kết luận: là phần nội dung đề tài được khái quát lại trên cơ sở gợi mở vấn
đề suy nghĩ mới để người đọc biết thêm về một phần kiến thức nhỏ trong lĩnh vực quân sự thời Tây Sơn, đồng thời qua đây người viết cũng gửi gắm nỗi niềm suy nghĩ
về thế hệ trẻ hôm nay đối với những giá trị lịch sử quý báu của tổ tiên ta đã để lại
Ngoài ra đề tài còn thêm phần phụ lục là những trang ảnh tư liệu của người viết
đã cố công chụp lại sau những chuyến đi tham quan thực tế tại quê hương Tây Sơn (Bình Định) – nơi phát tích của phong trào Tây Sơn, và qua chuyến khảo sát thực tế tại khu di tích chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút (Tiền Giang) – nơi đây vẫn còn âm vang mãi chiến công lẫy lừng của trận thủy chiến với sự thắng lợi của nghĩa quân Tây Sơn trước 5 vạn viện binh xâm lược Xiêm La và bè lũ phản dân hại nước Nguyễn Ánh, nhằm giúp người đọc có cách nhìn thấu đáu hơn về quân đội Tây Sơn qua những hình ảnh trực quan sống động và rất chân thực của thực tế lịch sử
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ PHONG TRÀO TÂY SƠN
1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam vào nửa cuối thế kỉ XVIII
Kinh tế
Từ đầu thế kỉ XVIII, kinh tế suy sụp đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đình trệ
do tình trạng chiếm đoạt và kiêm tính ruộng đất của bọn địa chủ phổ biến ngày càng trầm trọng Bằng mọi thủ đoạn và che đậy dưới nhiều hình thức khác nhau bọn quan lại, địa chủ, cường hào từ thôn xã đến trung ương đã ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, bất kể là ruộng công hay ruộng tư, họ đã đẩy nông dân vào cuộc sống hết
sức cơ cực “ăn không đủ ăn, mặc không đủ mặc, có lúc chúa Trịnh cũng phải thốt lên:
Ruộng đất rơi hết vào nhà hào phú, còn dân nghèo thì không có một miếng đất cắm dùi” [58; 320] Song, nửa cuối thế kỉ XVIII, tình hình kinh tế càng suy kiệt tệ hại hơn,
Trang 14ruộng đất bị bỏ hoang, xóm làng tiêu điều, xơ xác, nhiều nơi người dân không có để
ăn Trong khi đó, nền kinh tế hàng hóa lúc bấy giờ có bước phát triển đang tạo ra những tiền đề cho sự nảy sinh những mầm mống tư bản chủ nghĩa nhưng với chính
sách kinh tế “trọng nông ức thương” của họ Trịnh đã cản trở con đường tiến triển của
sức sản xuất mới
Ngoài ra, người nông dân lại bị giam hãm và trói buộc trong vòng tô thuế, phu phen, tạp dịch của bọn thống trị phong kiến Chính quyền họ Trịnh đã tăng thuế một
cách khủng khiếp theo một nguyên tắc mới là “lượng trước số chi rồi sau mới định số
thu cho dân” [58; 320 ] Chế độ thuế khóa đầy nghịch lý đến nỗi đồng chua nước mặn, bãi cát trắng không sản xuất cũng phải đóng thuế làm cho người nông dân bị bòn rút đến kiệt quệ, kinh tế nông dân bị phá sản làm cho toàn bộ nền sản xuất nông nghiệp bị đình đốn Kinh tế suy kiệt đó là nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự khủng hoảng của chế
độ quân chủ tập quyền vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài
Chính trị
“Các vua triều Lê thoái hóa Ngày đi vào sa đọa ăn chơi
Triều đình mục nát, suy đồi!” [10; 61]
Ở triều đình, vua Lê chỉ còn là hữu danh vô thực, chỉ còn là ngôi vị bù nhìn,
bạc nhược, suốt ngày chỉ lo ăn chơi một cách nhàn hạ “lúc nhà vua ở ngôi, chẳng qua
chỉ rủ áo khoanh tay, tìm trò mua vui chứ không có việc gì phải lo” [29; 138] bởi vì “trời
sai nhà chúa phò ta, chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui Mất chúa, tức là cái lo lại về
ta, ta còn vui gì?” [29; 139] Mọi quyền hành và công việc triều chính đều một tay chúa
Trịnh chuyên quyền “từ khi họ Trịnh cầm quyền thì bên nhà vua gọi là triều đình, bên
phủ chúa gọi là Phủ liêu Phàm những việc chính trị và quân dân đều do bên phủ chúa định đoạt hết cả, cho nên người ta thường dùng chữ phủ liêu chứ không mấy khi dùng chữ triều đình, vì triều đình chỉ có hư vị, chứ không có quyền gì nữa” [20; 332] Tuy nhiên, chính quyền chúa Trịnh ngày một trở nên suy đồi, hủ bại và thối nát Đối ngoại thì tỏ ra bất lực không đủ sức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, biên cương Tổ quốc trước các thế lực phong kiến ngoại bang xâm lấn, đặc biệt là cả dải đất biên giới phía Bắc của Đại Việt Trong nước thì nhà chúa chỉ lo củng cố địa vị thống trị của mình dựa trên sự bóc lột tiền của, công sức của dân chúng để phục vụ cho cuộc sống xa hoa,
trụy lạc “Mỗi tháng ba bốn lần chúa ngự chơi cung Thúy Liên trên bờ hồ Tây, binh
lính dàn hầu xung quanh bốn bờ hồ, các kẻ nội thần đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, dàn bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán” [16; 14]
Trang 15Cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến Đàng Ngoài ngày càng trầm trọng hơn vào nửa sau thế kỉ XVIII khi không khí chính trị trong cung vua phủ chúa ngày càng ngột ngạt đến cực độ Sự việc khởi đầu từ khi Trịnh Doanh chết, Trịnh Sâm nối nghiệp chúa Vốn là người hoang dâm, tàn bạo, chỉ lo hưởng khoái lạc nên Trịnh Sâm mặc sức tung hoành khi quyền bính trong tay, đã tìm mọi cách bóc lột nhân dân ráo riết đến tận xương tủy để phục vụ cho nhu cầu ăn chơi Trịnh Sâm đã giết em ruột là Trịnh Đệ do âm mưu cướp ngôi bất thành, tiếp đến là thái tử Duy Vỹ cũng bị sát hại
do nhà chúa sợ địa vị nhà Lê được khôi phục, vì thế “đến khi Thịnh Vương lên ngôi
chúa, liền lập mưu với gia thần là viên hoạn quan Thiều quận công Nguyễn Kim Đĩnh
vu cho thái tử Duy Vỹ thông dâm với cung nữ của Ân vương, rồi đem tội đó tâu lên Hoàng thượng để bắt thái tử bỏ ngục” [29; 69] Vì say đắm Vương phi Đặng Thị Huệ
mà Trịnh Sâm đã phế bỏ con trưởng là Trịnh Khải để lập con thứ là Trịnh Cán – con của Đặng Thị Huệ làm thế tử nối nghiệp chúa
“Đục còn thì giữ lấy “Tông”
Cuốc đà long “Cán” còn mong nỗi gì” [60; 25]
Còn về phần Đặng Thị Huệ sau khi Trịnh Sâm chết (1782) đã thông đồng với Quận Huy Hoàng Đình Bảo lật đổ Trịnh Khải, lập Trịnh Cán làm chúa Cuộc tranh ngôi đoạt vị diễn ra thật gay gắt, quyết liệt giữa hai bè đảng Trịnh Khải và Đặng Thị Huệ đã dẫn đến loạn kêu binh năm 1782 hoành hành làm náo động cả kinh thành, không ai chế ngự được Quân Tam phủ - chổ dựa cuối cùng của họ Trịnh nay cũng nổi loạn chứng tỏ địa vị thống trị của họ Trịnh đã bị lung lay, đang đổ nát, suy vong cực
độ
Trong cung vua phủ chúa ngày càng mục rỗng, hủ bại thì chốn quan trường còn
tệ hại hơn, bọn quan lại công khai thâm ô hối lộ, sách nhiễu dân chúng, ra sức vơ vét, đục khoét của cải nhân dân Ở thôn xã thì bọn cường hào ác bá mặc sức tung hoành,
tác oai tác quái đe dọa cuộc sống thanh bình của người dân, bọn chúng “gian xảo
nhiều kế, biến trá trăm đường, lấy vũ đoản làm kế hay, lấy thôn tính làm giàu mình, đè nén người nghèo khổ, đơn độc, ức hiếp kẻ ngu hèn ” [58; 324] Chế độ quân chủ chuyên chế vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đã tự phơi bày bản chất xấu xa, thối nát của nó trước quần chúng nhân dân và cũng tự bản thân nó dẫn vào con đường tự cô lập chính mình, tự nó chuốc lấy nỗi phẫn nộ, đắng cay của nhân dân
“Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế cũng ra quét chùa” [39; 579]
Trang 16Thành lũy mục rỗng của chế độ vua Lê – chúa Trịnh đang đứng trước trận cuồng phong đầy phẫn nộ căm hờn của quần chúng nhân dân chuẩn bị cuốn sạch những gì là thối nát của tập đoàn thống trị suy đồi đến bên bờ diệt vong
Xã hội
Dưới gầm trời u ám của chế độ phong kiến Lê – Trịnh, đời sống của nhân dân, đặc biệt là người nông dân lâm vào tình cảnh vô cùng bi đát và đau thương làm cho mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt chưa từng có Nhân dân lầm than, cơ cực trước hết
là do hệ quả của tình trạng chiến tranh liên miên giữa các phe phái tranh giành ngôi vị thống trị xã hội như chiến tranh Nam – Bắc triều, cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh… Nhân dân lầm than, khổ cực còn phải kể đến là do bộ máy vua quan phong kiến Lê – Trịnh từ trung ương đến địa phương chỉ lo ăn chơi sa đọa, chỉ biết vơ vét, đục khoét cho đầy túi tham của cải dân chúng để làm giàu Chẳng những thế mà chúng còn cướp đoạt tư liệu sản xuất của người nông dân, đẩy họ vào con đường tha phương cầu thực Chính quyền họ Trịnh lại tỏ ra bất lực trong vấn đề thủy lợi, khuyến nông do đó nạn vỡ đê, lũ lụt, hạn hán xảy ra liên miên làm cho dân chúng lâm vào
cảnh mất mùa, đói kém ngày càng nghiêm trọng hơn buộc dân chúng phải “bồng bế
dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường” [58; 324]
Đời sống nhân dân khốn khổ, đói kém đến cùng cực như vậy trong khi bọn vua quan thì ngày đêm chúi đầu vào cuộc sống xa hoa, trụy lạc chẳng màn tới cảnh màn trời chiếu đất của nhân dân Chính điều này càng làm tăng thêm mâu thuẫn giai cấp giữa các tầng lớp nhân dân với giai cấp phong kiến ngày một gay gắt đến cực độ chưa từng thấy trong lịch sử Lòng bất bình và nỗi oán than của dân chúng cộng với ý chí quật cường của dân tộc trước sức đè nén của cường quyền thối nát, đang trên bước đường suy vong đã đến lúc chuyển biến thành hành động phù hợp với quy luật phát
triển của lịch sử vì “quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử” – đó là ngọn
lửa đấu tranh giai cấp đang dần dần được nhen nhóm và sẽ bùng cháy dữ dội với hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ nổ ra liên tiếp suốt nửa thế kỉ đã thu hút mọi tầng lớp nhân dân lao động khổ cực từ miền xuôi cho đến miền núi, từ người kinh cho đến các đồng bào dân tộc thiểu số, từ nông dân cho đến quý tộc tôn thất đều bất bình với cuộc sống xã hội đương thời… tựa như cơn bão táp tấn công mãnh liệt vào thành trì của tập đoàn vua Lê chúa Trịnh để quét sạch, để cuốn trôi đi tất cả những gì là xấu xa và thối nát của triều đình cùng bộ máy quan liêu hủ bại, đẩy dồn bọn chúng đến bên miệng hố
diệt vong Vì thế, thế kỉ XVIII này được các nhà sử học đánh giá là “thế kỉ của nông
dân khởi nghĩa” Tuy vậy “cơn bão táp của chiến tranh nông dân Đàng ngoài chưa thể giành thắng lợi quyết định nhưng cũng đã làm rung chuyển cả xã hội, làm sụp đổ
Trang 17từng mảng trật tự phong kiến và làm nghiêng ngả toàn bộ nền thống trị của giai cấp phong kiến” [58; 330], nó là một nhân tố quan trọng tạo tiền đề phát triển cho một phong trào nông dân rộng lớn nổ ra ở Đàng Trong: phong trào nông dân Tây Sơn
1.1.2 Tình hình xã hội Đàng Trong
Kinh tế
Trong khi cuộc chiến tranh Nam Bắc triều còn đang tiếp diễn thì
“Nguyễn Hoàng xin trấn thủ khu Thuận – Quảng Biến một vùng hoang vắng, tiêu điều
Đôn cho biết “Đến năm 1774 thì xứ Thuận Hóa có 9 huyện, ruộng đất toàn bộ có
256507 mẫu nhưng thực cày cấy chỉ có 153600 mẫu Số còn lại bị bỏ hoang” [14; 174] Bên cạnh đó, kinh tế công thương nghiệp trước đây phát triển khá mạnh, vùng Thuận Hóa – Quảng Nam trở thành nơi tập trung nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng như dệt, gốm, đúc đồng… Hội An trở thành thương cảng lớn nhất Đàng Trong có quan hệ buôn bán rộng rãi với nước ngoài Thế nhưng nay cũng trở nên sa sút, không còn phồn thịnh như trước nữa, các tàu buôn nước ngoài hầu như không còn cập bến nữa Thương cảng Hội An trở nên thưa thớt và không còn sầm uất Tình hình ngoại thương suy thoái đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế nội thương, làm rối loạn hệ
thống tiền tệ, chúa Nguyễn đã cho phép tư nhân tự đúc tiền để thu lợi gây nên “nạn
tiền hoang”, gây ra nạn đầu cơ tích trữ Kết cục là các đô thị Hội An, Thanh Hà, Nước
Mặn cứ tàn lụi dần, các ngành thủ công nghiệp cũng vì thế sa sút không kém
Trang 18 Chính trị
Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An “Ngay từ khi mới vào trấn thủ Thuận
Hóa, các chúa Nguyễn đã cố gắng xây dựng một thế lực đủ mạnh để thực hiện chủ trương diệt Trịnh phù Lê Nhưng sau khi cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài bất phân thắng bại, các chúa Nguyễn có tham vọng thiết lập ở Đàng trong một chính quyền biệt lập để hùng cứ một phương Đến giữa thế kỉ XVIII, tham vọng
đó đã được bộc lộ rõ qua sự kiện chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương ở Phú Xuân, kiến thiết thủ phủ ở đây thành một đô thành tráng lệ, tổ chức lại bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, thay đổi phong tục tập quán và phong tục nhân dân cho khác với Đàng ngoài…” [40; 192] Vì quyền lợi ích kỉ của dòng họ mà tập đoàn chúa Nguyễn đã đang tâm thực hiện âm mưu và tham vọng biến Đàng Trong thành một quốc gia riêng biệt, với hành động này đã phá hủy tính thống nhất của dân tộc và đi ngược lại với lợi ích thiêng liêng của quốc gia đồng thời phá hủy tình đoàn kết của nhân dân Đại Việt Chính vì không hợp lẽ trời, không thuận lòng dân mà chính quyền chúa Nguyễn ngày càng đi vào suy thoái Sau khi chúa Nguyễn Phúc Khoát chết năm
1765 thì tập đoàn phong kiến Đàng Trong càng trượt dài hơn trên con đường suy đồi, ngày càng thối nát hơn khi quyền thần Trương Phúc Loan ngày càng chuyên quyền, lộng hành dám tráo đổi di chiếu đưa Nguyễn Phúc Thuần là em của thái tử Nguyễn Phúc Luân lên kế nghiệp ngôi chúa để dễ bề thao túng, lũng đoạn triều chính Sách
Phủ biên tạp lục chép rằng “khi Phúc Khoát chết, thái giám Chử Đức hầu cùng Quốc
phó ngoại tả Đạt quận công Trương Phúc Loan âm mưu đổi di chúc, lập con út là Phúc Thuần” [14; 87] Phúc Thuần là đứa trẻ mới 16, 17 tuổi ham chơi, dâm loạn nên
mắc phải chứng bệnh “không gần đàn bà được bèn sai người con hát yêu dâm loạn
với cung nữ để làm vui” [14; 87]
Chúa không ra chúa thì tôi cũng chẳng ra gì, thỏa sức ăn chơi sa đọa, mọi việc triều chính đều do tay Trương Phúc Loan chuyên quyền, làm nghiêng ngả triều đình
“Phúc Thuần rất chuyên dùng Phúc Loan, tôn làm quốc phó” [14; 87] mặc cho “Phúc Loan bán quan, buôn ngục, thuế má, hình phạt đều nặng nề” [14; 87] Quốc phó ra sức lũng đoạn triều chính để tham tàn, vơ vét, bòn rút của cải nhân dân làm giàu cho túi
tham không đáy của hắn “Phúc Loan chuyên quyền hơn 30 năm, tham lam, tàn nhẫn,
giết chóc rất nhiều Ăn ngụ lộc ở nguồn Sái, nguồn Thu Bồn, nguồn Trà Đinh, nguồn Trà Vân, nguồn Đồng Hương mỗi năm thu vào bốn, năm vạn Lại coi Tàu Vụ, quản cơ Trung Tượng, quản Hộ bộ và các việc tạp, số thu nhập lại ba, bốn vạn Vàng, bạc, châu ngọc, vật báu, gấm vóc, vườn ruộng, nhà cửa, tôi tớ, ngựa trâu không biết bao nhiêu mà kể Lính sở quản mỗi năm nộp đến năm gánh nặng dây mây để thay chuỗi
Trang 19tiền nát” [14; 432] Hay như, “Loan có nhà riêng ở Phấn Dương, gặp lụt lớn, gương hòm
bị ngập nước Đến khi nước rút, phơi vàng bạc giữa trưa cho khô, cả một cái sân lóng lánh mờ cả mặt trời Một ngày ăn cơm ba bữa, bọn nhà bếp làm náo động cả chợ búa, thức ăn đầy mâm còn nói không có món nào vừa miệng, chỉ ăn mắm trắng (tục gọi là mắm vảnh) cùng canh rau mà thôi” [31; 66] Vì thế nhân dân oán ghét gọi là Trương Tần Cối (1) Bọn quan lại cường hào địa phương cũng mạc sức hoành hành dân chúng
Lê Quý Đôn cũng phải thốt lên rằng “dùng người như thế hỏi sao không mất nước?”
[27; 176]
Thật đúng là vậy, kinh tế suy thoái, chính trị suy đồi, đời sống nhân dân cơ cực, lòng dân bất bình, oán ghét sẵn sàng phản kháng lại ách thống trị, áp bức để đẩy lùi cái xã hội đang suy tàn
Xã hội
“Cơ hàn cực khổ nỗi muôn dân
Gạo mua bạc nén, cá cân tiền đồng Một ngày ví bẵng ba đông
Muôn ngàn cũng hết, tay không thế nào Gạo ăn cũng ví trời cao
Một tiền một cáp gạo sao cho đầy Nghĩ nào ăn đắng nuốt cay
Năm tiền chưa đặng đơm đầy bát cơ…
Đoái trông thiên hạ mười phần
Cơ hàn hết chín, giàu ăn mấy người…” [40; 193]
Nhân dân nói chung, người nông dân nói riêng suốt ngày đầu tắt mặt tối, phải bán mặt cho đất, phải bán lưng cho trời lại phải chịu cảnh sống cùng cực đến độ vậy
“gạo đắt như vàng … tình trạng đói khổ bày ra lắm cảnh thương tâm khó tả, xác chết chồng chất lên nhau” [27; 177] thế mà bọn vua chúa thì “một ngày ăn cơm ba bữa, bọn
nhà bếp làm náo động cả chợ búa, thức ăn đầy mâm còn nói không có món nào vừa miệng!” [31; 66] Hai cuộc sống đối nghịch nhau, tương phản nhau, một cuộc đời đau thương và nghiệt ngã, một đằng phải chết đói, một đằng thì xa xỉ rất mực Do đâu mà muôn dân phải sống trong cảnh cơ hàn thế này?
Do tình trạng chiếm đoạt ruộng đất từ tay nông dân của bọn địa chủ phong kiến Bọn cường hào ác bá ra sức cưỡng đoạt thành quả khai khẩn đất hoang của người nông dân, chúng dùng quyền uy bạo lực để chiếm lấy cả ruộng đất tư lẫn ruộng
Trang 20đất công của làng xã Nghiêm trọng nhất là vùng Thuận – Quảng, mặc dù nơi đây đất đai tương đối màu mỡ, phì nhiêu và ruộng đất công cũng tương đối nhiều nhưng bọn cường hào địa chủ đã tranh nhau giành lấy, lấn chiếm ruộng đất công, để từ đó nông dân phải sống cuộc đời phiêu bạc, không còn mảnh đất cắm dùi Theo Phủ biên tạp lục
chép lại “năm 1774, xứ Thuận Hóa có 9 huyện, ruộng đất toàn bộ có 256507 mẫu
ruộng, trừ số ruộng bỏ hoang còn 153600 mẫu và 126857 dân đinh thế mà phần lớn nông dân ở đây không có lấy một mẫu ruộng để sinh sống, phải thuê ruộng với giá ngày càng cao” [14; 174] Trong khi đó, bọn nhà giàu xâm chiếm khiến người nghèo không có mảnh đất cày cấy
Lại thêm gánh nặng tô thuế đang chồng chất trên đầu người nông dân để thỏa
mãn cho nhu cầu cuộc sống xa hoa của bọn vua chúa “có hàng trăm thứ thuế mà
trưng thu thì phiền phức, gian lận, nhân dân thống khổ về nổi một cổ hai tròng” [27;
176]
Đóng thuế không chỉ có người nông dân mà cả những người buôn bán cũng phải đóng mọi thứ thuế trong khi mức thuế tăng lên quá nặng Và cả các dân tộc miền núi
vừa phải nộp thuế bằng tiền, vừa phải nộp thuế bằng hiện vật “miền núi huyện Khang
Lộc (Quảng Bình) có 3 sách người thiểu số, năm 1774 phải nộp 994 quan tiền thuế và các lễ vật khác, tính ra mỗi đầu người hằng năm nộp từ 15 – 60 quan tiền” [40; 164] Ngoài ra, khi nhà nước cần một sản vật nào đó thì đặt ra thứ thuế cho sản vật ấy, ví như năm 1765 chúa Nguyễn cần mỡ lợn để lau súng đại bác thì liền ra lệnh đánh thuế
mỡ lợn ở vùng Thuận Quảng Bên cạnh chính sách thuế khóa nặng nề, chúa Nguyễn còn đặt ra một hệ thống quan lại thu thuế phức tạp khiến cho dân lại ở vào tình cảnh một con dê mà có đến chín kẻ chăn Thêm vào đó là thiên tai, mất mùa, đói kém lại xảy ra liên miên khiến cho đời sống nhân dân thống khổ thêm bội phần
Trước cảnh sống cùng quẫn đến thế, nhân dân Đàng Trong ngày càng bất mãn với chính quyền chúa Nguyễn, làm cho mâu thuẫn xã hội càng trở nên gay gắt và bùng
nổ thành những cuộc bạo động vũ trang từ miền xuôi cho đến miền ngược làm lung lay tận gốc chế độ thối nát, suy đồi của chúa Nguyễn Năm 1747, cuộc khởi nghĩa do một thương nhân người Hoa là Lý Văn Quang lãnh đạo đã giết chết viêm khâm sai Nguyễn Cư Cận và dự định chiếm dinh Trấn Biên nhưng thất bại nên phải rút về giữ bãi Đông Phố, sau đó cuộc khởi nghĩa bị dập tắt Năm 1746, cuộc khởi nghĩa của người Chàm ở Thuận Thành và cuộc khởi nghĩa của người Chăm – rê ở Quảng Ngãi
đã nổi dậy mãnh liệt và tiến công xuống đồng bằng Chúa Nguyễn phải điều động quân của hai phủ Quy Nhơn và Phú Yên đàn áp đánh dẹp mới yên
Tiêu biểu hơn cả là cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn của chàng Lía ở Quy Nhơn vào giữa thế kỉ XVIII Tuy bị đàn áp nhưng hình ảnh chiến đấu dũng cảm của chàng
Trang 21Lía chống lại cường quyền bất công luôn để lại trong lòng nhân dân vùng Quảng Ngãi, Quy Nhơn niềm kính phục
“Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương chú Lía bị vây trong thành” [60; 25]
Chế độ phong kiến của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài cũng như xã hội Đàng Trong của chúa Nguyễn trong nửa cuối thế kỉ XVIII rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, làm tăng thêm các mâu thuẫn xã hội ngày càng phức tạp và thêm sâu sắc Vì vậy, nhân dân buộc phải nổi dậy chống lại ách áp bức, bất công của bọn cường quyền phong kiến ngày càng mãnh liệt Tuy thất bại dưới sự đàn áp dã man và đẫm máu của giai cấp phong kiến nhưng đã tạo tiền đề để chuẩn bị cho một phong trào nông dân với quy mô to lớn và mãnh liệt chưa từng có trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến – phong trào nông dân Tây Sơn
“Cuộc khởi nghĩa điển hình lớn nhất Được dấy lên từ ấp Tây Sơn” [10; 62]
1.2 Sự hình thành và phát triển của phong trào Tây Sơn
1.2.1 Anh em nhà Tây Sơn
Sau khi chúa Nguyễn cát cứ ở Đàng Trong đã tiến hành khai khẩn những vùng đất hoang, đặc biệt là vùng núi rừng Bình Định Các chúa Nguyễn thường đem các tù binh và tội phạm vào nơi đây để khai khẩn, canh tác những vùng đất mới chưa được khai phá này Năm 1655, lần đầu tiên quân chúa Nguyễn vượt sông Gianh đánh ra Đàng Ngoài, chiếm 7 huyện ở Nghệ An Sau 5 năm (1660), quân chúa Trịnh mới đẩy lùi được quân chúa Nguyễn ra khỏi Nghệ An Khi rút về Nam, quân chúa Nguyễn vẫn không quên đem theo số lượng lớn tù binh là lính và dân thường của 7 huyện về khai khẩn đất hoang ở Đàng Trong Ông tổ bốn đời của anh em Tây Sơn vốn họ Hồ (2) ở làng Hương Cái (thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) cũng là một trong số những gia đình bị bắt trong cuộc di dân này và được đưa vào khai hoang, lập ấp ở ấp Tây Sơn Nhất, huyện Quy Ninh, thuộc phủ Quy Nhơn(3)
Đến đời ông Hồ Phi Phúc có vợ là bà Nguyễn Thị Đồng nên mới chuyển về cư ngụ ở quê vợ là thôn Phú Lạc, sau một thời gian lại đưa gia đình về định cư ở thôn Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay là xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) Tại đây, ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng
đã sinh ra các anh em Tây Sơn(4) là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ Kể từ lúc phải rời quê cha đất tổ ở Nghệ An bị bắt vào Nam cho đến khi anh em Tây Sơn ra đời,
Trang 22dòng họ Hồ đã trải qua bốn đời lao động đã xây dựng được một cơ nghiệp khá giả Đến đời anh em Tây Sơn đều lấy theo họ mẹ là họ Nguyễn [20; 370], được cha mẹ cho ăn học đạt một trình độ nhất định Trong các anh em Tây Sơn thì Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đều là những người tài cao chí lớn, riêng Nguyễn Huệ là người tài năng kiệt xuất
Nguyễn Nhạc
Nguyễn Nhạc, hay các sử gia triều Nguyễn đều chép là Nguyễn Văn Nhạc
Theo sử cũ ghi lại: Nhạc là anh trưởng trong các anh em Tây Sơn “Con trưởng là
Nhạc kế là Lữ, kế nữa là Huệ” [42; 720] Tuy sử cũ không ghi rõ là anh em Tây Sơn sinh năm nào nhưng theo lời truyền của các cụ lão ở Bình Định được tác giả Quách Tấn ghi lại thì Nhạc lớn hơn Huệ đến 10 tuổi và Huệ lớn hơn Lữ 1 tuổi Do đó, dựa vào năm băng hà của vua Quang Trung (Nhâm Tý 1792) thì ta có thể đoán biết năm sinh của Nguyễn Huệ là năm Quý Dậu (1753), năm sinh của Nguyễn Nhạc là năm Quý Hợi (1743), năm sinh của Nguyễn Lữ là năm Giáp Tuất (1754) Với tác giả nghiên cứu về Tây Sơn Đỗ Bang cũng không nói rõ Nhạc sinh năm nào nhưng cho rằng Nguyễn Nhạc hơn Nguyễn Huệ chừng 15 – 20 tuổi(5) Ngoài cái tên Nguyễn Văn Nhạc hay Nguyễn Nhạc thì nhân dân Kiên Mỹ và quanh vùng vẫn thường quen gọi Nguyễn Nhạc là anh Hai Trầu, bởi do Nhạc là anh lớn nên gọi là anh Hai và có thời đi buôn trầu nên được gọi là anh Hai Trầu Các tư liệu lịch sử cùng với truyền thuyết dân gian
và di tích thời Tây Sơn còn sót lại như bến Trường Trầu nằm bên tả ngạn sông Côn, cách cầu Kiên Mỹ hiện nay khoảng 300m về phía đông, thuộc địa phận Xóm Trầu, bên cạnh đó tập quán sinh hoạt truyền thống cư dân Kiên Mỹ là bên cạnh nghề làm nông còn kết hợp buôn bán, đặc biệt là buôn trầu cau rất phổ biến Điều này đã cho biết Nguyễn Nhạc có nghề buôn trầu với đồng bào Thượng Theo sử sách triều Nguyễn còn biết thêm Nguyễn Nhạc có thời gian làm Biện lại tuần Vân Đồn, do đó Nguyễn Nhạc còn được gọi là Biện Nhạc Do đó, nhiều người tưởng rằng Nguyễn Nhạc thuộc tầng lớp thương nhân hoặc phong kiến lớp dưới nhưng thực sự chức biện lại chỉ là một nhân viên thu thuế ở trạm thu miền núi, không thuộc tầng lớp quan chức phong kiến, anh em Tây Sơn vốn xuất thân từ gốc nông dân nhưng là gia đình nông dân khá giả, đi buôn trầu chỉ là nghề phụ tăng thêm thu nhập như những cư dân trong vùng
Vốn dĩ là người từng trải và lắm cơ mưu với lại tuổi lớn hơn so với Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ nên Nguyễn Nhạc đã dìu dắt hai em của ông trong buổi đầu dựng
cờ khởi nghĩa Nhờ các hoạt động buôn bán với các đồng bào dân tộc ở miền Thượng
và có một thời gian làm biện lại mà nhờ đó Nguyễn Nhạc có quan hệ giao tiếp rộng rãi
Trang 23với nhiều vùng và nhiều tầng lớp trong xã hội, giúp Nguyễn Nhạc được mở rộng tầm nhìn và có suy nghĩ thấu đáo hơn, hiểu được nỗi bất bình và đời sống thống khổ của các tầng lớp nhân dân dưới chính quyền chúa Nguyễn Chính sự nhạy bén với thời cuộc mà Nguyễn Nhạc đã rất khôn khéo với nhiều mưu lược khác nhau để tập hợp quần chúng nhân dân trong quá trình chuẩn bị cho cuộc quật khởi chống lại chính quyền phong kiến chúa Nguyễn ở Đàng Trong Nguyễn Nhạc không chỉ là người đa mưu túc trí trong giai đoạn đầu chuẩn bị khởi nghĩa mà còn thể hiện rõ tài trí thông minh và lắm cơ mưu khi thực hiện hòa hoãn tạm thời với quân Trịnh để cứu Tây Sơn thoát khỏi thế tiến thoái lưỡng nan đầy bất lợi vào năm 1775, tác giả Trần Trọng Kim
đã viết “Nguyễn Nhạc là một người can đảm và lắm cơ trí” [20; 370] Nguyễn Nhạc thật can đảm và cơ trí khi hạ thành Quy Nhơn, khi chỉ huy liên tiếp bốn trận đánh lớn với quân chúa Nguyễn vào đầu năm 1774, thật mưu lược khi biết lợi dụng những xung đột trong nội bộ chính quyền họ Trịnh để giành lại đất Quảng Nam, thật can đảm và hùng dũng khi là người hoạch định kế hoạch và trực tiếp chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn tấn công vào sào huyệt cuối cùng của chúa Nguyễn trên đất Gia Định vào năm 1782 Chúng ta có thể khẳng định rằng Nguyễn Nhạc là linh hồn của phong trào Tây Sơn trong những năm tháng đầu tiên quật khởi Thế nhưng, sau trận tấn công Gia Định năm 1782 thì vai trò Nguyễn Nhạc ngày càng mờ nhạt dần So với các thủ lĩnh khác của phong trào Tây Sơn thì Nguyễn Nhạc là người bị phong kiến hóa sớm nhất và sâu sắc nhất, bởi ông xuất thân từ tầng lớp nông dân, tuy là nông dân khá giả nhưng vẫn không hề làm thay đổi được bản chất người nông dân và tất yếu là Nguyễn Nhạc nhanh chóng bị phong kiến hóa Đến những năm cuối đời của Thái Đức (niên hiệu của Nguyễn Nhạc) thì khí phách và tài trí của người anh hùng đất Tây Sơn năm xưa đã không còn nữa mà nay chỉ còn là một ông vua ốm yếu, bất lực trước thời cuộc, chỉ bó
hẹp trong thành Hoàng Đế như lời Nguyễn Huệ “Đại huynh vì khó nhọc mà mệt mỏi,
chỉ muốn giữ một phủ Quy Nhơn, khiêm nhường xưng làm Tây Sơn vương” [1; 55] Thế nhưng, cùng với non sông đất Việt thì sự nghiệp của người anh hùng Nguyễn Nhạc luôn luôn bất diệt, luôn luôn rạng ngời với sử xanh
“Người nhờ núi nêu danh mà trâm tóc thêm sáng Núi nhờ người được hiệu mà hoa cỏ tốt tươi” [52; 142]
Nguyễn Huệ
Các sử gia triều Nguyễn đã nhận xét vị lãnh tụ của phong trào Tây Sơn “là một
tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con,
Trang 24giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét” [30; 175], người anh hùng đó không ai khác là Quang Trung Nguyễn Huệ Nguyễn Huệ sinh năm Quý Dậu (1753), thuở nhỏ còn có tên là Thơm hay còn gọi là Hồ Thơm(6), chú Ba Thơm, ngoài ra còn có tên khác là Bình hay Nguyễn Quang Bình(7) Khi lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung, sau khi mất được tôn miếu hiệu là Thái tổ Vũ hoàng đế Bên cạnh đó, qua các tài liệu của các giáo sĩ phương Tây đương thời còn cho biết thêm Nguyễn Huệ còn được gọi là Đức ông tám Nhưng Nguyễn Huệ vẫn tên gọi quen thuộc và thân thương đã gắn liền với những chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải
Từ nhỏ, Nguyễn Huệ vốn đã có thân hình cường tráng, nhanh nhẹn, tóc quăn,
có đôi mắt sáng như chóp, tiếng nói sang sảng như chuông Trong ba anh em Tây Sơn theo học Giáo Hiến thì Nguyễn Huệ được thầy đặc biệt chú ý hơn cả vì tư chất thông minh, hoạt bát, can đảm và có chí lớn, thầy học đoán biết sau này là bậc đại tài tất sẽ làm nên sự nghiệp lớn Mười tám tuổi, Nguyễn Huệ đã dấn thân vào cuộc đời binh nghiệp khi cùng Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa, chính thức trở thành một trong ba lãnh tụ tối cao của phong trào và cũng từ đó Nguyễn Huệ đã sớm
nuôi chí lớn “mong có ngày sáng ấm làm được điều gì đó rạng rỡ cho quê hương”
[68]
Quả thật, Nguyễn Huệ là một người rất hiếm thấy trong những bậc danh tướng kiệt xuất trong lịch sử nước nhà Trong giai đoạn đầu, Nguyễn Huệ là người giúp anh Nguyễn Nhạc trong việc xây dựng căn cứ, huấn luyện quân sự cho nghĩa quân Khi mới hai mươi hai tuổi, Nguyễn Huệ đã làm Tổng chỉ huy xuất sắc trong trận Phú Yên năm 1775 đánh bại quân chúa Nguyễn dưới quyền chỉ huy của Tống Phúc Hiệp, với trận đánh này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng có tác dụng làm thay đổi cục diện quân sự hoàn toàn có lợi cho nghĩa quân Tây Sơn Và cũng từ đây, tên tuổi và tài năng của Nguyễn Huệ được biết đến như một thiên tài quân sự lỗi lạc
Không chỉ dừng lại đó, thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ lại có điều kiện nở rộ khi bốn lần làm Tổng chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn tiến công Gia Định vào các năm
1777, 1782, 1783, 1785, giết chết hai chúa Nguyễn là Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân chính vương Nguyễn Phúc Dương, đánh cho Nguyễn Ánh đại bại phải lưu vong sang Xiêm Nguyễn Huệ còn làm nên kì tích oanh liệt lưu danh muôn đời khi đánh tan 5 vạn quân xâm lược Xiêm La và trừng trị thích đáng kẻ phản dân hại nước Nguyễn Ánh Nguyễn Huệ còn chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn ba lần tiến công ra Bắc (1786, 1788, 1789) để lật nhào cơ đồ chúa Trịnh hơn 200 năm, khôi phục lại quốc thống giang san cho vua Lê Trước tình cảnh vua Lê Chiêu Thống bất lực, đê hèn cầu
Trang 25cứu nhà Thanh, rước voi về giày mả tổ thì xuất phát từ lợi ích dân tộc, quốc gia Nguyễn Huệ dũng cảm và sáng suốt khi quyết định đảm nhận sứ mệnh lịch sử giao phó đầy cao cả, vinh quang nhưng cũng vô cùng nguy hiểm để lãnh đạo toàn dân kiên
quyết đánh đuổi bọn xâm lăng Mãn Thanh “Trẫm là kẻ áo vải đất Tây Sơn, không có
một tấc đất, vốn không có chí làm vua Chỉ vì lòng người chán ghét loạn lạc, mong có
vị minh chúa để cứu đời yên dân Cho nên tập hợp nghĩa quân, xông pha chông gai phá núi mở đường, giúp đỡ Hoàng đại huynh giong ruổi binh mã chỉ muốn quét trừ loạn lạc, cứu dân chốn nước lửa” [1; 55] Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ngày 25 tháng
11 năm Mậu Thân lấy niên hiệu là Quang Trung nguyên niên, lãnh đạo toàn dân tiến đại quân ra bắc đại phá 29 vạn quân Thanh, quét sạch bọn xâm lăng cướp nước và bè
lũ bán nước ra khỏi bờ cõi Đại Việt với đỉnh cao là chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa vào xuân Kỷ Dậu (1789), lịch sử dân tộc ta ghi thêm một chiến công chói ngời hào
quang của người anh hùng áo vải đất Tây Sơn Thật là “một tay anh hùng lão luyện,
dũng mãnh và có tài cầm quân” [30; 175]
Nguyễn Lữ
Nếu ở vùng đất Tây Sơn, hòn Ông Bình là ngọn núi mang tên người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ, còn hòn Ông Nhạc và núi Hoàng Đế là biểu tượng cho người khởi xướng đồng thời là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn trong buổi đầu khởi nghĩa – người anh cả Nguyễn Nhạc thì hòn Lãnh Lương là biểu tượng chói ngời cho công lao và sự nghiệp của Đông Định Vương Nguyễn Lữ - vị tướng hậu cần xuất sắc trong những năm tháng gian khổ của buổi đầu quật khởi
Tuy chưa rõ về năm sinh nhưng các sử sách để lại đều cho biết Nguyễn Lữ là
em út trong anh em Tây Sơn nhỏ hơn Nguyễn Huệ 1 tuổi Như vậy có thể Nguyễn Lữ
sinh năm 1754 Tác giả “Võ nhân Bình Định” cho biết “Nguyễn Lữ sinh năm Giáp
Tuất (1754) tại làng Kiên Mỹ, huyện Tuy Viễn, là em thứ ba sau Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ Vốn người mảnh khảnh, tánh nết hiền lành, ưa thanh tịnh, khác với hai anh, ông học văn nhiều hơn học võ Tuy nhiên, ông cũng đã học hết các môn võ và chuyên về môn miên quyền” [47; 174] Các sử cũ cũng ghi nhận Nguyễn Lữ là người
thành tín, nhận hậu, tuy thể lực và tài trí không bằng Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nhưng ông vẫn có nhiều tài năng vượt trội, ông quan sát hai con gà chọi nhau đã sáng tạo ra bài võ Hùng kê quyền, tuy sức yếu hơn nhưng nhờ sáng dạ đã biết vận dụng những thế võ thầy dạy thành nhiều cách đánh hóc hiểm để quật ngã kẻ mạnh hơn mình
Trang 26Thuở thiếu thời, ông đã đi tu vì vậy dân chúng gọi ông là Thầy Tư Lữ Nguyễn
Lữ tu theo đạo Mani, hay Maní, Bali(8) – một hệ phái đạo Hồi của người Chăm góp phần tạo điều kiện thuận lợi để tập hợp đông đảo lực lượng đồng bào người Thượng, người Chăm tham gia nghĩa quân Nguyễn Lữ không chỉ là thủ lĩnh xuất sắc trong công tác tư tưởng, vận động quần chúng tham gia, tập hợp lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa mà còn là tướng hậu cần chu đáo và đắc lực nhất của nghĩa quân Tây Sơn Nguyễn Lữ là người đảm nhận trách nhiệm sản xuất, tích trữ và vận chuyển lương thực phục vụ cho cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ của nghĩa quân, không chỉ lương thực mà Nguyễn Lữ còn chăm lo khá chu đáo về quân trang, quân dụng, vũ khí cho nghĩa quân Nhờ đó mà trong buổi đầu dựng cờ đào khởi nghĩa, Tây Sơn đã liên tiếp giành được nhiều thắng lợi, mở rộng địa bàn hoạt động trên nhiều địa phương, chiếm giữ cả vùng đất Thuận Quảng rộng lớn
Bên cạnh vai trò là tướng đảm nhận trách nhiệm công tác hậu cần, Nguyễn Lữ còn là tướng chỉ huy nghĩa quân Tây Sơn hai lần tấn công vào Gia Định (1776, 1783) góp phần đập tan sào huyệt của chúa Nguyễn Với tài năng khá đặc biệt trên nhiều lĩnh vực, Nguyễn Lữ được phong làm Thiếu phó (1776), rồi Tiết chế (1778) và đỉnh cao là Đông Định Vương (1786) cai quản miền đất Gia Định rộng lớn Thế nhưng, Nguyễn
Lữ đã tỏ ra là người thiếu kiên quyết trước sức phản công dồn dập của tàn quân Nguyễn Ánh nên Nguyễn Lữ đành bỏ Gia Định chạy về Quy Nhơn rồi mất tại đây vào năm 1787 Giá như Nguyễn Lữ thể hiện kiệt xuất trong việc xây dựng chính quyền ở vùng đất Gia Định như tài năng trong buổi đầu giành chính quyền thì có lẽ nhà Tây Sơn và sự nghiệp của phong trong Tây Sơn càng thêm vững chắc
1.2.2 Sự hình thành và phát triển của phong trào Tây Sơn
Bất bình và căm hờn trước thực trạng ngày càng rối ren và đầy bất công của xã hội Đàng trong, từ vùng đất Tây Sơn thuộc phủ Quy Nhơn anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã biết nắm thời cơ tập hợp quần chúng nhân dân phất cờ khởi nghĩa
“Nguyễn Nhạc cùng hai em Huệ, Lữ Quyết diệt loài sói dữ đương quyền” [10; 62]
Căn cứ vào phạm vi hoạt động và tính chất của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn có thể chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1771 – 1785
Giai đoạn 1786 – 1789
Trang 27 Giai đoạn 1789 – 1792
1.2.2.1 Giai đoạn 1771 – 1785
Năm 1771, anh em Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa để đánh đổ chúa Nguyễn ở Đàng Trong đem lại cuộc sống sáng ấm cho nhân dân Tuy là chính quyền Đàng Trong đang trên bước đường khủng hoảng trầm trọng nhưng chúng vẫn còn đủ sức để dẹp tan những cuộc khởi nghĩa tự phát của nông dân chẳng hạn như cuộc khởi nghĩa của quần chàng Lía ở Quảng Ngãi – Quy Nhơn và trong bối cảnh rối ren nếu một mai chúa Nguyễn bị đánh bại thì chúa chúa Trịnh lợi dụng cơ hội có thể tràn quân xuống phía nam Do vậy, muốn khởi nghĩa và khởi nghĩa giành thắng lợi thì phải có thời gian xây dựng căn cứ, lực lượng và vấn đề hậu cần thật chu đáo Do đó, giai đoạn
1771 – 1785 có thể được chia thành ba chặng đường
1771 – 1773: xây dựng hậu phương cho phong trào
1773 – 1775: phong trào bùng nổ và giành thắng lợi liên tiếp với đỉnh cao là chiến thắng Phú Yên đã tạo ra bước ngoặc quyết định cho phong trào Tây Sơn
1776 – 1785: giai đoạn tấn công quyết liệt vào Gia Định, đánh tan cơ đồ chúa Nguyễn và quân xâm lược Xiêm La
Từ năm 1771 – 1773
Anh em Tây Sơn đã dành một thời gian dài từ trước năm 1771 đến năm 1773
để xây dựng căn cứ và tổ chức lực lượng chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa quy mô lớn về sau Với địa thế hiểm yếu của núi rừng Tây Sơn thượng đạo, Nguyễn Nhạc đã chọn nơi đây làm căn cứ địa vững chắc để phong trào có thêm điều kiện thuận lợi phát triển Bởi trước đây Nguyễn Nhạc đã từng buôn bán trầu qua lại với người Thượng ở vùng Tây Sơn thượng đạo nên sớm nhận ra vị trí xung yếu về địa thế, đồng thời đây là địa bàn cư trú của đồng bào Thượng chủ yếu là dân tộc Ba na cùng chung sống với dân tộc Kinh nên dễ dàng đoàn kết các dân tộc cùng tham gia khởi nghĩa Đặc biệt hơn là miền đất Tây Sơn – Bình Định còn nổi tiếng với tinh thần thượng võ, ý chí kiên cường chống lại ách áp bức bất công của cường quyền đè nén Tất cả đã được Nguyễn Nhạc triệt để khai thác để xây dựng một hậu phương vững mạnh để tập hợp các anh hùng hào kiệt khắp nơi về tụ hội dưới bóng cờ Tây Sơn cùng chung tay góp sức làm nên đại nghĩa
“Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ Nơi núi rừng dấy binh
Lúc mới đầu khởi nghĩa
Trang 28Quân lính một nghìn binh” [11; 401]
Từ năm 1773 – 1775
Năm 1773, từ căn cứ Tây Sơn thượng đạo nghĩa quân đã tiến công xuống vùng đồng bằng Tây Sơn hạ đạo, hoạt động rộng khắp phủ thành Quy Nhơn Nghĩa quân Tây Sơn tấn công đến đâu đều được đông đảo nông dân hưởng ứng tham gia dưới
ngọn cờ đào nêu cao khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” [6; 32] Trước sức tấn công vũ bão của nghĩa quân Tây Sơn, quan quân triều đình phải kinh sợ
“chúng (chỉ Tây Sơn) chia đi đánh cướp các hương ấp, đến đâu họ cũng được mọi người reo hò hưởng ứng theo.thế Nhạc ngày một hoành hành, địa phương không thể chống ngăn được” [22; 413] Nhưng đối với các giáo sĩ phương Tây có mặt ở nước ta
thời bấy giờ thì lại đồng tình với những việc làm của nghĩa quân Tây Sơn “họ tuần
hành trong các làng, tuyên bố với dân chúng rằng họ không phải là giặc cướp mà là những người làm theo ý trời, rằng họ muốn thực hiện công lý và giải phóng nhân dân khỏi ách chuyên chế của bọn vua quan Họ tuyên truyền sự bình đẳng về mọi mặt Trung thành với chủ nghĩa của họ, những bậc tiền khu của chủ nghĩa xã hội cận đại
ấy đã lấy của cải của bọn quan lại và bọn nhà giàu phân phát cho dân nghèo Những làng mạc bị thuế má hà khắc đè nặng đã nhiệt liệt tuyên thệ hưởng ứng” [6; 33] Hay
như một giáo sĩ Tây Ban Nha khác cũng viết rằng “Năm ngoái, 1773, khoảng đầu
tháng tư, quân đội Đàng Trong (chỉ Tây Sơn) bắt đầu tuần hành các nơi Ban ngày
họ xuống các chợ, kẻ đeo gươm, người mang cung tên, lại có người mang súng Họ không hề làm thiệt hại đến người và của Trái lại họ tỏ ra muốn bình đẳng giữa mọi người Đàng trong; họ vào nhà giàu, nếu đem nộp họ ít nhiều thì họ không gây tổn hại, nhưng nếu chống cự lại thì họ cướp lấy những của quý đem chia cho người nghèo, họ chỉ giữ lấy gạo và lương thực mà thôi Người ta gọi họ là bọn cướp đạo đức và nhân
từ đối với quần chúng nghèo khổ ” [6; 33]
Người ta xem nghĩa quân Tây Sơn là kẻ cướp đạo đức đối với dân nghèo bởi phong trào Tây Sơn đã nắm bắt đúng mạch nguyện vọng của dân nghèo bị áp bức, đè nén dưới chính quyền chúa Nguyễn nên dễ dàng tập hợp lực lượng, đoàn kết dân chúng cùng nổi dậy, đó là anh em Tây Sơn đã vạch rõ tội ác của tên gian thần Trương Tần Cối trong phủ chúa cần phải trừ khử, để phò chúa cho phải đạo bằng một khẩu
hiệu hết sức khôn khéo và mưu lược “đánh đổ quyền thần Trường Phúc Loan, ủng hộ
Hoàng tôn Dương” [6; 31] Với tài trí mưu lược của Nguyễn Nhạc đã lãnh đạo nghĩa quân đánh chiếm ấp Kiên Thành nhanh chống vào mùa thu năm 1773, sau đó phạm vi hoạt động của nghĩa quân được mở rộng khi dinh lũy của chúa Nguyễn ở phủ thành Quy Nhơn nhanh chóng bị hạ gục chỉ trong một đêm, Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên:
Trang 29ngựa không kịp đóng yên, vứt cả ấn tín, bỏ rơi cả vợ con để chạy trốn thoát thân Thừa thắng, nghĩa quân đánh chiếm các kho lương ở Càn Dương, Đạm Thủy (thuộc phủ Quy Nhơn) Tại thủ phủ Quy Nhơn, nghĩa quân cho lập 5 đồn binh trấn giữ Tiếp đến, nghĩa quân Tây Sơn tiến công ra phủ Quảng Ngãi, Điện Bàn (thuộc Quảng Nam) Chúa Nguyễn hoảng sợ, tướng sĩ hoang man cực độ, binh lính rã rời tinh thần chiến đấu, thế nhưng Trương Phúc Loan vội điều bốn tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Cửu Sách, Tống Sùng và Đỗ Văn Hoàng đem đại quân vào Quy Nhơn hỏi tội Nguyễn Nhạc Trong khi đó, nghĩa quân Tây Sơn đã chiếm xong Quảng Ngãi đang đánh ra Điện Bàn, đại binh chúa Nguyễn đã bị Tây Sơn mai phục ở Bến Đá (Thạch Tân, phủ Thăng Bình, Quảng Nam) đánh cho tan tác, các tướng Tống, Sùng, Hoàng tử trận, Nguyễn Cửu Sách đem tàn quân chạy trốn
Cuối năm 1773, sau khi Lý Tài và Tập Đình dùng quân mai phục đánh tan đạo quân của chúa Nguyễn dưới quyền chỉ huy của Tôn Thất Hương ở Bích Khê, Tây Sơn
đã đánh chiếm được các phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), Bình Khang (Ninh Thuận, Bình Thuận) Thế là chỉ trong một khoảng thời gian ngắn nghĩa quân Tây Sơn đã làm chủ được cả một vùng đất rộng lớn từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận Vào cuối mùa hạ năm 1774, chúa Nguyễn đã cử Lưu thủ Long Hồ Tống Phúc Hiệp huy động quân ở Gia Định ra đánh Tây Sơn và chiếm lại được ba phủ Bình Thuận, Diên Khánh, Bình Khang, sau đó còn chiếm cả Phú Yên buộc nghĩa quân Tây Sơn phải lui về giữ Quy Nhơn và Quảng Ngãi Tuy yếu thế nhưng lực lượng Tây Sơn ngày càng lớn mạnh, tinh thần chiến đấu được nâng cao làm cơ sở tiến công giành thắng lợi
Tình hình Đàng Trong đang rối loạn và chúa Nguyễn ngày một suy yếu rõ rệt, Trịnh Sâm đã lợi dụng thời cơ động binh với âm mưu thôn tính Đàng Trong và tiêu diệt chúa Nguyễn bằng cách lót miệng những lời lẽ nào là trừ gian thần Trương Phúc Loan, nào là giúp dẹp loạn Tây Sơn cứu dân khỏi cảnh dầu sôi lửa bỏng!
“Ở trong lại có Phúc Loan lộng hành Thừa cơ Trịnh mới sai binh Đưa thư vào trước kể tình ngoại thân Rằng toan trừ đứa lộng thần Cùng nhau quét sạch bụi trần cõi Tây” [7; 165]
Tháng 11 năm 1774, ba vạn quân Trịnh dưới sự chỉ huy của Thượng tướng quân Hoàng Ngũ Phúc vượt sông Gianh đánh chiếm Lũy Thầy rồi chiếm luôn Bố Chính, Lưu Đồn, Dinh Cát, quân Trịnh tiến công đến đâu tức thì quân Nguyễn tan rã
Trang 30nhanh chóng Chúa Nguyễn lâm vào tình thế khốn đốn bị kẹp giữa hai gọng kìm hết sức nguy hiểm: phía bắc là quân Trịnh, phía nam là Tây Sơn Trước tình thế thúc bách
đó, chúa Nguyễn đành phải thí bỏ “con cờ” Trương Phúc Loan cho quân Trịnh hòng
đền ơn chúa Trịnh Sâm nhưng quân Trịnh vẫn nam tiến với lý do chưa giúp dẹp được loạn Tây Sơn! Đến cuối năm 1774, Hoàng Ngũ Phúc đã chiếm được Phú Xuân, chúa Nguyễn Phúc Thuần phải trốn vào Quảng Nam rồi vượt biển chạy vào Gia Định, để Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương ở lại cầm cự Nghĩa quân Tây Sơn nhanh chóng tấn công mạnh quân Nguyễn ở Quảng Nam, Nguyễn Cử Dật đại bại phải rút về Trà Sơn, Tây Sơn chia làm ba mũi tiến công đuổi bắt được Nguyễn Phúc Dương và làm chủ Quảng Nam
Tháng 3 năm 1775, quân Trịnh vượt đèo Hải Vân tiến công Quảng Nam Nghĩa quân Tây Sơn do Lý Tài và Tập Đình chỉ huy lần đầu tiên chạm mặt với quân đội nhà nghề của chúa Trịnh đã phải đại bại ở Cẩm Sa, buộc phải rút lui về Bến Ván để bảo vệ Quy Nhơn và Quảng Ngãi Lúc bấy giờ Tây Sơn lại lâm vào tình thế lưỡng đầu thọ địch khi chúa Nguyễn bỏ Phú Xuân chạy vào Gia Định, đã làm thay đổi cục diện quân
sự đầy bất lợi cho nghĩa quân Tây Sơn: phía bắc là quân Trịnh, phía nam là quân Nguyễn Vốn là người mưu lược và cơ trí nên tháng 7 năm 1775, Nguyễn Nhạc dùng
kế trá hàng với Hoàng Ngũ Phúc và xin làm tướng tiên phong đánh chúa Nguyễn nhằm cứu nguy cho nghĩa quân Tây Sơn thoát khỏi thế lưỡng đầu thọ địch đầy bất lợi Dẫu biết là kế hoãn binh của Tây Sơn nhưng vì hành quân nơi chiến trường xa vào mùa hè, lại gặp dịch bệnh nên tinh thần quân sĩ sa sút do đó bất đắc dĩ Hoàng Ngũ Phúc phải chấp nhận và sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem cờ, ấn, kiếm phong cho Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn hiệu trưởng tráng tiết tướng quân chinh phạt chúa Nguyễn
Với chiến lược ngoại giao đầu tiên thật khôn khéo, linh hoạt và kịp thời của Tây Sơn đã chặn đứng một kẻ thù nguy hiểm phía bắc là Hoàng Ngũ Phúc để rãnh tay chuẩn bị tiến công kẻ thù ở phía nam Mục tiêu tiến công quan trọng đầu tiên ở phía nam lúc bấy giờ của Tây Sơn là quân Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên Chỉ có giành thắng lợi ở Phú Yên thì Tây Sơn mới có khả năng tiêu diệt được lực lượng của chúa Nguyễn
ở Gia Định, mới mở ra được con đường tồn tại cho Tây Sơn đồng thời mới làm áp lực đối với quân Trịnh buộc chúng phải từ bỏ âm mưu dẹp loạn Tây Sơn Ở đồn Phú Yên với lực lượng khoảng 2 vạn quân dưới quyền chỉ huy của lão tướng Tống Phúc Hiệp
đã từng làm cho Tây Sơn phải đại bại vào năm 1774 để đối phó với lực lượng mạnh như vậy Nguyễn Nhạc đã cử người anh hùng trẻ tuổi Nguyễn Huệ làm tướng tiên phong thống lĩnh nghĩa quân Tây Sơn đánh Phú Yên Nhạc cho sai sứ giả thương lượng với Tống Phúc Hiệp về việc lập Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương lên ngôi vua
Trang 31trong khi đó, Nguyễn Huệ bất ngờ đem quân tập kích Phú Yên Chỉ trong chớp nhoáng, Tây Sơn đã san bằng đồn Phú Yên, chủ tướng Tống Phúc Hiệp tháo chạy thoát thân, Phú Yên trở về với Tây Sơn Như vậy, với chiến thắng Phú Yên dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ đã tạo ra được bước ngoặt vô cùng quan trọng làm thay đổi toàn cục cho phong trào Tây Sơn, không chỉ đưa Tây Sơn thoát hẳn thế lưỡng đầu thọ địch mà còn ngăn chặn vĩnh viễn mưu đồ Nam tiến của chúa Trịnh đồng thời làm suy yếu toàn lực của chúa Nguyễn ở Gia Định, mở ra con đường phát triển mới cho Tây Sơn
Từ năm 1776 – 1785
Sau chiến thắng Phú Yên năm 1775, nghĩa quân Tây Sơn đã tập trung toàn lực quyết tiêu diệt chúa Nguyễn ở đất Gia Định, các lãnh tụ của Tây Sơn đã hơn bốn lần đem đại quân vào Gia Định để tiêu diệt chúa Nguyễn từ 1776 – 1785
Về phần chúa Nguyễn Phúc Thuần sau khi trốn vào Gia Định đã ra sức tăng cường xây dựng lực lượng, chỉ trong vòng vài tháng quân số đã tăng lên hơn 2,5 vạn người [6; tr 44] lại được Tổng trấn Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ phù trợ, thêm vào đó là Tống Phúc Hiệp đã chiêu hàng được Lý Tài cùng hơn 8000 quân Hòa nghĩa [6; tr 44] về với chúa Nguyễn Do vậy thế lực chúa Nguyễn ngày càng mạnh dần Để kịp thời ngăn chặn và đập tan kế hoạch phản công của chúa tôi nhà Nguyễn tại Gia Định đồng thời chia cắt lực lượng làm cho chúng suy yếu mất khả năng phản công, Nguyễn Nhạc đã
cử Nguyễn Lữ thống lĩnh đội thủy binh vào tập kích bất ngờ thành Gia Định vào ngày
27 tháng 3 năm 1776, Nguyễn Phúc Thuần phải bỏ Gia Định trốn chạy ra Trấn Biên Nghĩa quân Tây Sơn sau khi chiếm Gia Định đã tiến công các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ Nhưng trước tình thế quân cứu viện của chúa Nguyễn từ các nơi kéo
về Gia Định, Nguyễn Lữ đã tịch thu toàn bộ quân lương của chúng rồi hạ lệnh rút về Quy Nhơn, nhiệm vụ hoàn thành, nghĩa quân bảo toàn lực lượng
Thế nhưng sau khi khi quân Tây Sơn rút về Quy Nhơn, tướng sĩ chúa Nguyễn lại tập hợp tàn binh cùng với Tân chính vương Nguyễn Phúc Dương và Thái thượng vương Nguyễn Phúc Thuần xây thành đắp lũy tiếp tục củng cố lực lượng ở Gia Định Năm 1777, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ chỉ huy một lực lượng tương đối mạnh bao gồm thủy binh và bộ binh cùng phối hợp đại phá Gia Định lần hai Tháng 3 năm 1777, Tây Sơn bắt đầu tiến công Gia Định, quân Hòa nghĩa của Lý Tài bị đánh tan tác, Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương cố tìm đường trốn chạy nhưng trước bước chân truy kích thần tốc của Tây Sơn nên cả hai vương đều chịu tội chết ở Gia Định, đại bộ phận tướng sĩ của chúa Nguyễn bị tiêu diệt (duy chỉ có Nguyễn Ánh trốn
Trang 32thoát) Toàn bộ miền đất từ Phú Yên đến trấn Hà Tiên thuộc quyền kiểm soát của Tây Sơn Nhiệm vụ hoàn thành, tháng 9 âm lịch Nguyễn Huệ rút đại binh về Quy Nhơn chỉ để lại một vài viên tướng trấn thủ Gia Định
Tháng 3 năm 1776, Nguyễn Nhạc tự xưng làm Tây Sơn vương cho xây dựng lại thành Đồ Bàn, phong Nguyễn Lữ làm Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phụ chính Đầu năm 1777, Trịnh Sâm phong cho Nguyễn Nhạc tước Trung Quốc công trấn thủ Quảng Nam Sau chiến thắng vang dội của Nguyễn đại phá Gia Định, tiêu diệt được hai chúa Nguyễn, năm 1778 Nhạc tự xưng làm Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thái Đức, phong Nguyễn Lữ làm Tiết chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân, thành Đồ Bàn được đổi tên là Hoàng Đế thành
Sau một thời gian trốn chạy khắp nơi tránh sự truy lùng của Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã được các tầng lớp địa chủ ở Gia Định giúp đỡ cùng Đỗ Thành Nhân khởi binh đánh chiếm lại Gia Định, các tướng Tây Sơn trấn giữ Gia Định phải chạy về Quy Nhơn Tháng 2 năm 1778, Nguyễn Nhạc cho Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy, Hộ giá Phạm Ngạn đem quân thủy bộ đánh xuống Biên Hòa nhưng thất bại, Tây Sơn bị mất Gia Định nay lại mất thêm Bình Thuận và Diên Khánh, bị uy hiếp nghiêm trọng Cho đến tháng 3 năm 1782, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ cùng thống lĩnh đạo quân thủy
bộ từ Quy Nhơn tiến đánh Gia Định nhân cơ hội lực lượng Nguyễn Ánh bị suy yếu nghiêm trọng sau cuộc xung đột với Đỗ Thành Nhân cùng quân Đông Sơn năm 1781 Đội thủy binh do Nguyễn Huệ chỉ huy đã tiến công dũng mãnh với hỏa lực dữ dội đã nhanh chóng làm tan rã binh lực của Nguyễn Ánh Toàn bộ Gia Định lại trở về tay Tây Sơn, Nguyễn Ánh cùng tàn quân trốn chạy ra đảo Phú Quốc Khi tình hình Gia Định đã tương đối ổn định, tháng 5 năm 1782 Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ rút đại quân về Quy Nhơn, để lại tên hàng tướng Đỗ Nhàn Trập cùng 3000 quân giữ Gia Định
Cũng như những lần trước, sau khi quân Tây Sơn rút về Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh lại trở về tập hợp tàn binh liên tiếp phản công Gia Định Với lực lương tương đối mỏng, quân Tây Sơn tan rã, tướng Đỗ Nhàn Trập phải bỏ Gia Định chạy về Quy Nhơn Cơ hội thuận lợi cho Nguyễn Ánh xây dựng đồn lũy vững chắc hơn và tăng cường lực lượng thủy bộ phối hợp chặt chẽ cùng bảo vệ Gia Định để chọi lại với Tây Sơn Đứng như dự đoán của Nguyễn Ánh, tháng 2 năm 1783 thủy binh Tây Sơn do Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ xuất kích tiến công Gia Định Nguyễn Ánh đã tập trung toàn lực để bảo vệ Gia Định, dùng lối đánh hỏa công hòng tiêu diệt thủy binh Tây Sơn Thế nhưng Nguyễn Ánh làm sao qua được tài dùng binh xuất sắc của Nguyễn Huệ! Nguyễn Ánh dùng kế giả vờ thua chạy để nhử đối phương vào trận địa mai phục
Trang 33rồi dùng hỏa công tiêu diệt nhưng Nguyễn Huệ đã biết tận dụng và triệt để khai thác yếu tố thiên thời địa lợi tập trung hỏa lực bắn phá mãnh liệt phá tan trận địa hỏa công của Nguyễn Ánh khiến cho thủy binh Nguyễn Ánh tan vỡ trốn chạy hỗn loạn Hai đồn binh trấn giữ Gia Định là Thảo Câu và Dác Ngư bị tiêu diệt nhanh chóng Cánh quân của Chu Văn Tiếp bị Tây Sơn truy kích nên tan rã, Chu Văn Tiếp trốn chạy sang Xiêm Nguyễn Ánh vô cùng hoảng sợ trốn chạy khắp miền đất Gia Định ngày đêm trong sự truy lùng ráo riết của nghĩa quân Tây Sơn Nguyễn Ánh lại trốn chạy ra đảo Phú Quốc nhưng Nguyễn Huệ vẫn không ngừng truy kích Sau trận tiến công giải phóng Gia Định lần này, lượng Tây Sơn được tăng cường hơn ở Gia Định, được bố trí phòng thủ chu đáo do Phò mã Tây Sơn tướng Trương Văn Đa trấn thủ Nhiệm vụ hoàn thành, Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Lữ rút đại quân về Quy Nhơn
“Nguyễn Nhạc cùng hai em Huệ, Lữ Quyết diệt loài sói dữ đương quyền Thành Quy Nhơn hạ một đêm (1773) Dần dà giải phóng cả miền Đàng Trong (1783)” [10; 62]
Trước những đòn tiến công vì chính nghĩa của Tây Sơn, tập đoàn chúa Nguyễn
ở Đàng Trong từ mưu đồ cát cứ thành một vương quốc riêng đối chọi với vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đến nay không còn đủ sức để giữ nổi một mảnh đất ở Gia Định phải trốn chạy khắp nơi Trong những ngày tàn của mình, vì để củng cố chút hư danh và tìm lại quyền lợi cho dòng họ, tập đoàn chúa Nguyễn mà đứng đầu là Nguyễn
Ánh phản bội lại quyền lợi của dân tộc, can tâm “cõng rắn cắn gà nhà”
“Nguyễn Ánh sống lưu vong Xiêm quốc Cầu quân Xiêm trợ lực cứu nguy” [10; 63]
Quốc vương Xiêm La (Thái Lan ngày nay) là Chất Tri (Chakkri) vốn có tham vọng đối với Đại Việt từ lâu, nay lại nhận được sự cầu cứu của Nguyễn Ánh, trước là
tỏ danh nghĩa “cứu người” nhưng kì thực là mưu đồ xâm chiếm miền đất phía nam
của Đại Việt nên sẵn sàng giúp ngay
“Vua Xiêm chấp thuận tức thì Viện binh hai đạo cử đi hai đường:
Thủy quân tới Kiên Giang đổ bộ, Hai vạn quân hùng hổ tung hoành, Lại thêm ba vạn bộ binh
Trang 34Vượt qua Chân Lạp, thình lình tiến công (năm 1785)” [10; 63]
Tháng 4 năm 1784, Chất Tri sai hai tướng Lục Cổn và Sa Uyển cùng Chiêu Thùy Biện đem ba vạn bộ binh tiến sang Chân Lạp đánh xuống Gia Định cùng phối hợp với thủy binh Ngày 25 tháng 7 năm 1784, Chất Tri lại sai hai cháu là Chiêu Tăng
và Chiêu Sương mang 2 vạn thủy binh cùng hơn 300 chiến thuyền theo gót Nguyễn Ánh dẫn đường về xâm chiếm đất Gia Định Đến tháng 8, liên quân Xiêm – Nguyễn
đổ bộ lên Rạch Giá, chiếm giữ khu vực này làm bàn đạp tấn công Gia Định Với nhiều đồn binh vững chắc phòng thủ nên Tây Sơn đã làm chậm bước tiến của giặc ngoại xâm, do đó hơn 3 tháng nhưng chúng chỉ chiếm được Kiên Giang, Trấn Giang, Ba Xắc, Trà Ôn, Mân Thít Phò mã Trương Văn Đa cùng quân sĩ đã kiến quyết đánh chặn địch ở một số vị trí vừa rút lui để bảo toàn lực lượng, tuy vậy nghĩa quân cũng đã tiêu diệt được Tả quân Chu Văn Tiếp và Chưởng cơ Đặng Văn Lượng của Nguyễn Ánh Sau khi chiếm được một phần Gia Định, quân Xiêm tỏ ra kiêu căng, khinh địch, thỏa sức cướp bóc, hãm hiếp dân ta
“Quân xâm lược vô cùng độc ác, Hãm hiếp người, tàn sát lương dân, Như bầy dã thú hung hăng!
Tội nhiều như núi, hờn căm ngút ngàn ” [10; 63]
Cả Chất Tri về sau cũng phải thừa nhận “Trước kia bọn chúng sai người đem
con gái và của cải về nước, ta đã biết ngay là chúng đã tự chuốc lấy bại vong” [11; 72] Cho nên:
“Nguyễn Huệ quyết diệt quân xâm lược, Phất cao cờ cứu nước Tây Sơn!
Sẵn sàng giải phóng quê hương, Đánh cho giặc phải tan hoang, rã rời!” [10; 63]
Trước hành động tham tàn bạo ngược của bọn ngoại bang đã làm cho nhân dân Gia Định cam thù bọn giặc cướp nước Xiêm La và oán hận lũ bán nước Nguyễn Ánh can tâm làm tay sai, Nguyễn Huệ đã thay mặt cho nhân dân Gia Định nói riêng và toàn thể dân tộc Đại Việt rửa thù Khoảng đàu tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ đem thủy binh vượt biển vào Gia Định hội quân với Phò mã Trương Văn Đa, với lực lượng khoảng 2 vạn quân đóng đại bản doanh tại Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay) Nguyễn
Trang 35Huệ dùng kế “điệu hổ ly sơn” nhử quân Xiêm ra khỏi căn cứ Trà Tân để tiêu diệt
chúng dễ dàng hơn
“Quân thiện chiến giấu hơi, mai phục Bên triền sông Xoài Mút – Rạch Gầm
Giặc đầy hống hách hung hăng
Mỹ Tho, Gia Định vào gần tới nơi, Vấp phục binh: Lưới trời khó tránh!
Quân Tây Sơn tiến đánh tơi bời ” [10; 63]
Nguyễn Huệ cho bố trí quân mai phục trên đoạn sông Mỹ Tho đoạn từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, sau đó cho quân đến căn cứ Trà Tân của địch để khiêu chiến Dựa vào ưu thế về lực lượng và trang bị vũ khí, Chiêu Tăng và Chiêu Sương đã huy động toàn lực nhằm tiến công quân Tây Sơn ở Mỹ Tho vào đêm 18 rạng sáng 19 – 1 –
1785 khi toàn bộ chiến thuyền của chúng đã lọt vào trận địa mai phục Rạch Gầm – Xoài Mút thì bất thình lình
“Pháo ta nhả đạn gầm trời!
Hiệp đồng, thủy bộ đồng thời phản công” [10; 63]
Một trận giáp công thật ác liệt “tướng sĩ (Tây Sơn) đều liều chết để đánh không
còn nghĩ gì đến tính mạng riêng của mình nữa” [9; 70], toàn bộ chiến thuyền của quân Xiêm – Nguyễn bị chặn đầu khóa đuôi làm mục tiêu cho đại bác Tây Sơn mặc sức tung hoành ngang dọc Trước hỏa lực áp đảo của Tây Sơn, quân địch bàng hoàng kinh
sợ, đội hình chiến đấu nhanh chóng rối loạn, hoặc là làm mồi cho cá, hoặc là bỏ thuyền trốn vào bờ để thoát thân nhưng chúng đâu ngờ số phận bộ binh Xiêm cũng không hơn không kém
“Bốn vạn địch tử vong tại trận Tàn quân tìm đường lẩn Xiêm La” [10; 64]
Còn quân bản bộ của Nguyễn Ánh cùng chung số phận
“Nguyễn Ánh cũng hồn siêu phách lạc Kéo tàn quân chạy thoát sang Xiêm” [10; 64]
Trận Rạch Gầm – Xoài Mút là một trong những trận thủy chiến lẫy lừng nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam Trận đánh diễn ra nhanh chóng chỉ khoảng một ngày nhưng đã đánh tan tác và tiêu diệt gần bốn vạn quân Xiêm – Nguyễn, khiến cho Chiêu
Trang 36Tăng, Chiêu Sương phải đại bại và cũng từ đó quân Xiêm “miệng tuy nói khoát mà
lòng thì sợ Tây Sơn như cọp” [41; 228] Còn đối với dân tộc Việt Nam ta thì:
“Xoài Mút triều dâng đốt tan thuyền giặc viết nên trang sử Việt Rạch Gầm sóng dậy diệt sạch quân thù lưu dấu đức Quang Trung” [62; 62]
1.2.2.2 Giai đoạn 1786 – 1789
Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút đã tạo ra một cục diện mới cho phong trào Tây Sơn Kể từ đây, vùng trời cực nam tổ quốc đã được tươi sáng, Tây Sơn đã chuyển mục tiêu tiến công ra Bắc lật đổ chúa Trịnh, đem lại quốc thái dân an cho nhân dân Bắc Hà
“Diệt Xiêm xong, tiến ra phía Bắc, Lập lại nền thống nhất quốc gia, Quyết tâm giải phóng Bắc Hà!
Vừa là ý chí, vừa là mục tiêu” [10; 64]
Nguyễn Nhạc đã trao cờ Tiết chế cho Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ thống lĩnh đại quân Tây Sơn cùng Tiết chế Nguyễn Lữ, dưới trướng có Hữu đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh và Tả đô đốc Vũ Văn Nhậm cùng tiến đánh quân Trịnh ở Phú Xuân Nguyễn Huệ chia quân tiến công theo ba đường: một đạo thủy binh tiến đánh Phú Xuân do Tả đô đốc Vũ Văn Nhậm chỉ huy; một đạo thủy binh do Tiết chế Nguyễn Lữ chỉ huy tiến thẳng lên sông Gianh nhằm đề phòng quân Bắc Hà chi viện đồng thời phối hợp đánh xuống Phú Xuân; bộ binh do đích thân Nguyễn Huệ chỉ huy tiến đánh vị trí xung yếu đèo Hải Vân rồi tiến ra hạ thành Phú Xuân
Ngày 25 tháng 5 năm 1786, đại quân Tây Sơn dưới quyền Tổng chỉ huy Nguyễn Huệ được lệnh xuất kích Đồn An Nông ở đèo Hải Vân nhanh chóng bị san bằng, tướng Trịnh là Hoàng Nghĩa Hồ tử trận Trên đà thắng lợi, Nguyễn Huệ đã thúc
bộ binh tiến thẳng ra Thuận Hóa hợp lực với thủy quân hạ thành Phú Xuân Bằng đòn chiến tranh tâm lý, trấn thủ Thuận hóa Phạm Ngô Cầu đã mắc phải kế ly gián của Nguyễn Huệ Do đó, quân Tây Sơn nhanh chóng đánh bại tướng Hoàng Đình Thể và
hạ thành Phú Xuân dễ như trở bàn tay Sử quan triều Nguyễn đã ghi lại như sau: “vì
bức thư ly gián của Hữu Chỉnh nên Ngô Cầu và phó tướng Hoàng Đình Thể vẫn nhị tâm với nhau, sĩ tốt sinh ra nghi ngờ và lười biếng không ai có lòng chiến đấu” [42; 780]
Mới hay,
“Ngọn cờ trỏ lối sơn pha
Trang 37Hải Vân đồn trấn đâu là chẳng tan Cánh buồm đè lớp cuồng lan, Cát Dinh, Động Hải quân quan chạy dài” [7; 171]
Như vậy chỉ ngót mười hôm, ngọn cờ đào của Tây Sơn đã tung bay trên thành Phú Xuân, cả Đàng Trong thuộc quyền quản lý của Tây Sơn Tình hình rối ren của Bắc Hà hiện giờ được Hữu Chỉnh tỏ tường cùng Nguyễn Huệ và khuyên Nguyễn Huệ
thừa thắng tiến quân ra Bắc Hà “nay ở Bắc Hà, quân lính thì kêu ngạo, tướng súy thì
lười biếng, triều đình lại không có kỷ cương gì Tướng công mang uy danh ấy, nhân lúc bên kia đã đổ nát, nếu thực biết cùng danh nghĩa “phò Lê diệt Trịnh” thì thiên hạ
ai mà không hưởng ứng ” [42; 624] Nguyễn Huệ cho người về Quy Nhơn báo tin thắng trận đồng thời sửa sang lại dinh lũy, chuẩn bị lực lượng, cử Nguyễn Lữ ở lại trấn giữ
Thuận Hóa Nguyễn Huệ quyết định tiến quân ra Bắc Hà, giương cao ngọn cờ “phò
Lê diệt Trịnh” để tiêu diệt thế lực phong kiến đồi bại họ Trịnh, mở đường cho Tây
Sơn phát triển ra Đàng Ngoài Nguyễn Huệ đã dùng đòn tiến công chính trị thật sắc bén vào chúa Trịnh để dễ dàng thu phục nhân tâm Bắc Hà, cho truyền hịch vỗ yên dân chúng biết rõ lý do Bắc tiến của Nguyễn Huệ, lời hịch có đoạn:
“Nam một dải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần, Bắc mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện? Cảm công đức vua Lê dám phụ
Lộng quyền hành họ Trịnh khó nghe ” [1; 180]
Hữu Chỉnh được cử làm tướng tiên phong chỉ huy 400 chiến thuyền làm tiền quân đi trước Trên đường tiến quân Hữu Chỉnh không gặp bất kì sự kháng cự nào nên sáng ngày 11 tháng 7 năm 1786 đã đến Vị Hoàng, đem quân vào thành thu hơn 400 vạn hộc thóc Ngày 17 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ cũng tới Vị Hoàng hội quân cùng đánh bại các tướng soái quân Trịnh: Trịnh Tự Quyền, Đinh Tích Nhưỡng, Đôc Thế Dận rồi tiến đánh ra Thăng Long sau khi tiêu diệt đạo quân Trịnh ở bến Thúy Ái Quân Tây Sơn tập kích Hoàng Phùng Cơ ở hồ Vạn Xuân làm cho đạo quân này phải tan tác Quân Tây Sơn ồ ạt tiến công vào bến Tây Long – đại bản doanh của chúa Trịnh Khải Đại bại, Trịnh Khải phải trốn chạy lên vùng Sơn Tây, bị dân chúng bắt nộp cho Nguyễn Huệ Ngày 21 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ dẫn đại quân tiến vào Thăng Long, đóng quân ở phủ chúa Trịnh Cơ đồ thống trị của chúa Trịnh hơn 200 năm đến nay bị thiêu rụi trong phút chốc
“Bốn năm trước giữa năm Bính Ngọ (1786)
Trang 38Ngài cầm quân ra thú Bắc Hà Oai trời sấm sét thoảng qua
Cơ đồ họ Trịnh bỗng ra tro tàn” [45; 30]
Thực hiện phò Lê diệt Trịnh, Nguyễn Huệ đã trao quyền lại cho vua Lê Hiển Tông Cảm kích trước tấm lòng đại nghĩa, ngày 1 tháng 8 năm 1786 vua Lê Hiển Tông sắc phong Nguyễn Huệ làm Nguyên soái phù chính dực vũ Uy quốc công và gả con gái là Lê Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ Trong khi đó Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn không khỏi lo lắng về sự quyết đoán và thắng lợi của Nguyễn Huệ nên gấp rút trẩy quân ra Thăng Long Khi tình hình Bắc Hà đã ổn định, Nguyễn Huệ cùng anh là Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc trở về Nam vào ngày 10 tháng 8 năm 1786, bỏ rơi Nguyễn Hữu Chỉnh cho dân chúng Bắc Hà tùy nghi xử trí Tới Nghệ An thì Chỉnh cũng đã đuổi kịp quân Tây Sơn, Nhạc đành cho Hữu Chỉnh cùng Nguyễn Văn Duệ trấn thủ Nghệ An, Vũ Văn Nhậm đóng ở Đồng Hới (Quảng Bình)
Sau khi quân Tây Sơn rút về Nam thì tình hình Bắc Hà trở nên rối loạn, bày tôi
họ Trịnh nổi dậy giành vương quyền với vua Lê Dưới danh nghĩa phù Lê, Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra Thăng Long giúp Lê Chiêu Thống dẹp loạn đảng họ Trịnh và cũng từ đấy Nguyễn Hữu Chỉnh ngày càng tỏ ra lộng quyền, mưu đồ phản nghịch với Tây Sơn, lại còn cho người vào Phú Xuân đòi lại đất Nghệ An Cuối năm 1787, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc Hà trị tội Cống Chỉnh, vua Lê Chiêu Thống bỏ chạy lên Kinh Bắc rồi cho người sang cầu cứu nhà Thanh Sau Chỉnh là Vũ Văn Nhậm lại đi vào vết xe đổ của hắn, Văn Nhậm càng tỏ ra kiêu căng, ngang ngược
tự ý đúc ấn riêng, chuyên quyền định đoạt mọi việc, mưu đồ cát cứ Tháng 5 năm
1788, Nguyễn Huệ đốc thúc tướng sĩ lên đường ra Bắc trừ khử ngay tên Vũ Văn Nhậm Trị tội Nhậm xong, Nguyễn Huệ tổ chức lại chính quyền ở Bắc Hà giao cho Ngô Văn Sở trông coi đồng thời còn thu phục sĩ phu Bắc Hà về với Tây Sơn Tháng sau Nguyễn Huệ thu quân về Phú Xuân và cũng từ đó Bắc Hà được sáp nhập vào đất cai quản của Nguyễn Huệ
Còn về phần vua Lê Chiêu Thống, sau khi tập hợp tay chân đóng quân ở Kinh Bắc chống lại Tây Sơn thất bại, thế cùng lực kiệt đã nối gót Nguyễn Ánh trong nam
“cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về giày mả tổ” chạy sang cầu cứu nhà Thanh
“Nguyên vua Chiêu Thống đã mấy lần toan sự khôi phục, nhưng không được, phải nương náu ở đất Lạng Giang; còn bà Hoàng thái hậu thì đem hoàng tử sang Long Châu kêu van với quan Tàu, xin cứu binh viện” [20; 396] Được lời như cởi tấc lòng, vua
tôi nhà Thanh chớp lấy ngay cơ hội, ngoài mặt thì mượn tiếng “cứu giúp chư hầu”
Trang 39nhưng kì thực là mưu đồ cướp nước ta – cái dã tâm ấy nó được lưu truyền từ đời Tần Thủy Hoảng xa xưa cho đến đời Càn Long hôm nay
Vua Thanh cho điều động ngay 29 vạn quân và dân phu của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu do Tổng đốc lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị làm Chinh Man đại tướng quân thống lĩnh, chia làm bốn đạo quân theo bốn ngả tiến vào nước ta từ ngày 25 tháng 11 năm 1788
Đạo thứ nhất do Tôn Sĩ Nghị và Đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy theo đường Lạng Sơn tiến vào Thăng Long
Đạo thứ hai do Tri phủ Điền Châu Sầm Nghi Đống quản lĩnh theo đường Cao Bằng tiến vào Thăng Long
Đạo thứ ba do Đề đốc Vân Quý Ô Đại Kinh chỉ huy theo đường Tuyên Quang xuống Sơn Tây vào Thăng Long
Đạo thứ tư từ Khâm Châu vượt biển vào Quảng Ninh rồi chiếm cứ vùng Hải Dương
Ngoài ra, còn dự định một đạo thủy quân đánh vào Thuận Hóa tạo gọng kìm phối hợp với bộ binh nhưng không được thực hiện
Được Lê Chiêu Thống dẫn đường, quân Thanh dễ dàng chiếm cứ Thăng Long vào ngày 17 tháng 12 năm 1788 [17; tr 236] Trước sức tiến công mãnh liệt của quân Thanh, quân Tây Sơn đã thực hiện kế sách của Ngô Thì Nhậm tạm lui quân bảo toàn lực lượng về xây dựng tuyến phòng thủ Tam Điệp – Biện Sơn (Ninh Bình) đồng thời cho người về Phú Xuân cấp báo với Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ Ngày 21 tháng 12 năm 1788 (tức ngày 24 – 12 âm lịch), Nguyễn Huệ nhận được tin nguy cấp quân Thanh xâm lược nước ta và hiện đang chiếm đóng Thăng Long, tức thì ngày hôm sau
22 tháng 12 năm 1788 (25 – 11 âm lịch) Nguyễn Huệ cho đắp đàn ở núi Bân làm lễ tế cáo trời đất rồi lên ngôi hoàng đế Sở dĩ trước đây Nguyễn Huệ chưa lên ngôi vua bởi
“vốn không có chí làm vua, chỉ vì lòng người chán ngán đời loạn, mong mỏi được vua hiền để cứu đời yên dân, vì vậy trẫm tập hợp nghĩa binh, mặc áo tơi đi xe cỏ để
mở mang núi rừng, giúp đỡ hoàng đại huynh rong ruổi việc nhung mã” [1; 55] nhưng nay trong bối cảnh trong nước thì Thái Đức Nguyễn Nhạc tự thấy mình tài sức đã yếu nên đã tự hạ mình làm Tây Sơn Vương trông coi phủ Quy Nhơn, còn tàn dư của chúa Nguyễn đê hèn cõng rắn cắn gà nhà nên đã phải một trận tơi bời, nhục nhã sống cả đời lưu vong, không chốn dung thân trong khi đó Lê Chiêu Thống không đủ sức giữ nổi
xã tắc lại còn bộc lộ rõ bộ mặt phản dân hại nước rước 29 vạn quân Thanh về xâm
Trang 40lược nước ta khiến cho lòng người ly tán Cho nên việc Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng
đế, đặt niên hiệu Quang Trung chỉ để thu phục nhân tâm Bắc Hà, lập lại danh nghĩa chính thống, tập hợp được tinh thần đoàn kết của nhân dân nhằm giương cao ngọn cờ cứu nước cứu dân, ngọn cờ vì đại nghĩa dân tộc, tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vào cuối thế kỉ XVIII đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để nhằm tăng cường thêm uy thế và quyền lực trong xây dựng vương triều Tây Sơn
Sau đó thống lĩnh đại quân ra Bắc đại phá quân Thanh Ngày 26 tháng 12 năm
1788 (29 – 11 âm lịch), Quang Trung ra đến Nghệ An rồi dừng quân ở đây hơn 10 ngày để mộ thêm binh, tuyển thêm lính đồng thời cho người đem bức thư trá hàng cho Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long Chỉ trong mấy ngày, quân số Tây Sơn tăng lên 10 vạn người được chia làm năm doanh: tả, hữu, tiền, hậu và tân binh lập thàn đạo trung quân đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Quang Trung Phiên chế quân ngũ xong, Quang Trung tổ chức cuộc duyệt binh lớn ở Nghệ An rồi cùng đại quân tiến ra hội quân với Ngô Văn Sở ở Tam Điệp – Biện Sơn Ngày 15 tháng 1 năm 1789 (20 – 12 âm lịch) Quang Trung đến Tam Điệp Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình địch, Quang Trung đã
quyết định mở một cuộc tấn công bất ngờ tiêu diệt toàn bộ quân Mãn Thanh “Lần này
ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh” [30; 181] Quang Trung chia quân thành năm đạo tiến công với từng nhiệm vụ cụ thể:
Đạo chủ lực gồm có bộ binh, tượng binh và kỵ binh do Quang Trung trực tiếp chỉ huy có nhiệm vụ tiến công vào hệ thống phòng ngự chính của quân Thanh trên đường phía nam thành Thăng Long
Đạo thứ hai do Đại đô đốc Bảo chỉ huy gồm tượng binh và kỵ binh có nhiệm
vụ theo đường Sơn Minh (huyện Ứng Hòa – Hà Tây) ra làng Đại Áng đánh vào sườn tây nam đồn Ngọc Hồi, phối hợp với đạo quân chủ lực để tiêu diệt vị trí quan trọng này của địch
Đạo quân thứ ba cũng bao gồm tượng binh và kỵ binh do Đô đốc Long chỉ huy theo đường huyện Chương Đức (Chương Mỹ - Hà Tây) đánh vào làng Nhân Mục, thật nhanh chóng vu hồi vào cạnh sườn của địch, tập kích đạo quân Sầm Nghi Đống sau đó nhanh chóng đánh vào Thăng Long
Đạo quân thứ tư đi đường thủy, do Đô đốc Tuyết chỉ huy tiến vào sông Lục Đầu, tiêu diệt đạo quân Cần vương của vua Lê Chiêu Thống ở Hải Dương, rồi tiến lên