1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM sử nạn đói 1945 và NHỮNG BIỆN PHÁP của CHÍNH PHỦ hồ CHÍ MINH GIẢI QUYẾT nạn đói

91 653 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với vai trò là người thầy giáo trong tương lai, tôi rất muốn dùng những kiến thức, sự kiện chính xác và chân thật nhất trong đề tài nghiên cứu này về thảm cảnh của nạn đói năm 1945 ở Việ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Khoa Năng Lập Lâm Hoàng Toàn

MSSV: 6095978

Lớp: SP Lịch Sử Khóa 35

Cần thơ, 3/2013

Trang 2

Với một sinh viên năm cuối thì hoạt động nghiên cứu một đề tài khoa học về chuyên môn của ngành đào tạo là đã khá quen thuộc Tuy nhiên, với sự giới hạn của kiến thức, sự hiểu biết và thời lượng cho phép nghiên cứu thì sự thành công và hoàn thiện cả bài viết đã ghi nhận những sự giúp đỡ, đóng góp từ nhiều phía

Đầu tiên, cho tôi xin cảm ơn chân thành tới Bộ môn Lịch sử – Khoa Sư Phạm – Trường Đại học Cần Thơ, đã tạo cho tôi một môi trường học tập và rèn luyện tốt nhất Đặc biệt, đây còn là môi trường rất thuận lợi để tôi có thể thực hiện thành công đề tài này Nơi đây đã ảnh hưởng tới tôi rất lớn như từ tác phong làm việc đến ý thức học tâp độc lập, nghiên cứu, sự sáng tạo của bản thân và cả tinh thần hợp tác, chia sẽ Tất cả những yếu tố quan trọng trên đã giúp tôi, luyện cho tôi không chỉ về hình thức tác phong bên ngoài mà còn giúp tôi hoàn thiện cả những phẩm chất đạo đức, lối sống bên trong bản thân tôi Thế đó, gần bốn năm Đại học trôi qua, tôi được học tập và rèn luyện dưới giảng đường Đại học Cần Thơ, tôi luôn luôn nhận được sự quan tâm giúp

đỡ, sự dạy dỗ nhiệt tình và tâm huyết của quý Thầy Cô,, đặc biệt là quý Thầy Cô phụ trách trong công tác chuyên môn Vì thế, tôi xin chân thành cảm ơn những tấm lòng và

sự tận tình của quý Thầy Cô Tôi cũng không bao giờ quên sự đóng góp thân ái từ các bạn sinh viên Trường Đại học Cần Thơ nói chung, các bạn sinh viên Bộ môn Lịch Sử nói riêng, nhất là các bạn học chung với tôi lớp Sư Phạm Lịch Sử khóa 35 Tất cả mọi

sự đóng góp của quý Thầy Cô và các bạn đã thực sự giúp tôi có được một lượng kiến thức cơ bản và vững vàng, với những lí luận hợp lí, khoa học và đầy tính thuyết phục khi thực hiện đề tài này Tôi xin đặc biệt ghi nhận và nhấn mạnh vai trò hết sức quan trọng của thầy Khoa Năng Lập – giáo viên hướng dẫn và cũng chính là người đi sát với tôi, trao đổi, cung cấp những thông tin chính xác, những bài học kinh nghiệm quý báo, Thầy còn chỉnh sửa, chia sẽ và đóng góp những điều cần thiết cho bài viết của tôi được hoàn chỉnh hơn

Cuối cùng tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các quý tác giả, những nhà biên soạn cũng như nhiều nhà xuất bản đã cung cấp cho tôi một nguồn tài liệu thật phong phú, đa dạng và rất đầy đủ để tôi có thể tham khảo cho bài viết của mình Điều đó rất cần thiết và là chất xúc tác quan trọng để tôi

có thể nghiên cứu một cách trọn vẹn và thành công nhất

Để có một kết quả nghiên cứu hoàn thiện và hiệu quả nhất cho công trình nghiên cứu của tôi, cũng như để rút kinh nghiệm cho những bài viết tiếp theo, tôi xin chân thành

và hoan hỉ đón nhận những ý kiến đóng góp từ quý Thầy Cô và các bạn sinh viên về

Trang 3

hình thức cũng như về nội dung của bài viết, để bài viết của tôi có thể phản ánh tốt nhất những vấn đề đã được đề cập trong đề tài

Xin chân thành cảm ơn!



MỤC LỤC

Phần một: Mở đầu 5

Phần hai: Nội dung .6

Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ NẠN ĐÓI NĂM 1945 .7

1.1 Hoàn cảnh lịch sử .7

1.2 Nguyên nhân dẫn đến nạn đói khủng khiếp .10

1.2.1 Những nguyên nhân trong nước .10

1.2.2 Những nguyên nhân do thực dân Pháp và phát xít Nhật .13

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA THẢM CẢNH NẠN ĐÓI 22

2.1 Các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ 22

2.2 Các đô thị và vùng ven đô thi ở Bắc Bộ 31

2.3 Các tỉnh Bắc Trung Bộ 37

2.4 Các tỉnh miền núi 47

2.5 Các tỉnh trung du 53

Chương 3: NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA ĐẢNG – HỒ CHÍ MINH GIẢI QUYẾT NẠN ĐÓI NĂM 1945 59

3.1 Tầm nhìn chiến lược .59

3.2 Biện pháp khắc phục khó khăn 63

3.3 Kiên quyết đấu tranh đi đến thắng lợi cuối cùng 69

Phần ba: Kết luận 71

Phụ lục 76

1/ Hình ảnh nạn đói 76

2/ Những nhân chứng lịch sử .82

3/ Tài liệu tham khảo .87

Trang 4

Lời nhận xét của giáo viên

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

Nếu có ai đã từng chiêm nghiệm qua những áng văn Lịch sử đậm chất anh dũng, hào hùng của dân tộc ta, dân tộc Việt Nam nhỏ bé nhưng đầy lòng quả cảm gan gốc, dám chống lại những đế quốc hùng mạnh nhất đương thời của từng thời điểm lịch sử nhất định Để rồi dân tộc ấy phải gánh chịu nhiều đau thương mất mát do bọn đế quốc hung bạo gây nên với những cuộc chiến tranh phi nghĩa hòng cướp đoạt, xâm chiếm

bờ cõi, đất nước của một dân tộc khác yếu bé hơn Và sự đau thương mất mát ấy, chính là thảm cảnh của nạn đói năm 1945 tại Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật, đã làm cho hơn 2 triệu đồng bào thân yêu của ta phải

bỏ mạng chỉ vì đói Khi nói đến thảm cảnh của nạn đói năm 1945 đã cướp mất hơn 2 triệu sinh mạng của đồng bào ta, thì chúng ta không thể quên được cũng như xóa nhòa những cảnh tượng chết chóc thê thảm và đáng sợ của nhân dân Việt Nam vô tội Cái chết ở đây không chỉ tìm đến những con người, cá thể đơn lẻ mà nó còn hoành hành cướp đi một lúc nhiều sinh mạng, thậm chí có những cảnh tượng chết thật thương tâm,

đó là chết cả nhà, chết cả dòng họ, thậm chí còn có những trường hợp chết cả xóm, cả làng Những xóm, những làng đó đều bị xóa sổ sau thảm cảnh của nạn đói Không chỉ thế, cái chết đến với mọi người thật đau đớn và rùng rợn, nó ngấm ngầm cướp mất sinh lực, sự tư duy, lòng nhân ái, vẽ mỹ tục, nét đạo đức cao quý của con người Việt Nam Những người sắp chết do đói rét mà họ có thể làm những chuyện rất thương tâm,

có thể ngay bản thân họ cũng không có thể tha thứ và quên được chuyện làm của mình, như có những trường hợp người giết người, cha giết con, chồng giết vợ, anh em giết nhau, để giành miếng ăn mong thoát cơn đói rách Nhưng cuối cùng thì họ vẫn không thoát khỏi cái chết đầy đau đớn và đáng sợ tìm đến với họ Hơn thế nữa, những cái chết do đói không chỉ cướp đi những sinh mạng của những người trưởng thành những người có thể tìm kiếm sự sống, mà cái chết do đói còn hạnh hạ và quét hết những sinh mạng nhỏ bé đáng thương của những trẻ em sơ sinh, những đứa bé chập chững, những đứa em đang tuổi lớn Có những cái chết thật thê thảm, những đứa bé ấy vẫn nằm bên cơ thể của mẹ chúng, bò quanh quẩn, khóc la bên cái xác co vấp, lạnh lẽo của mẹ chúng vì mẹ chúng đã kiệt sức và chết mất rồi, chúng còn thê thảm tội nghiệp tìm bú vú mẹ mong tìm được những giọt sữa cuối cùng nhưng cũng vô vọng và cuối cùng là chúng cũng giống như mẹ chúng là phải bị cái đói cướp mất cuộc sống Đây không phải là một tai nạn hay do số phận ý trời gì hết, mà đây chính là sự tàn ác và cố tình đáng căm phẫn của bọn có lòng dạ sắt đá, lạnh lùng gây nên

Thật vậy, ai đã nghe đến sự kiện này thì không khỏi bàng hoàng và rùng mình vì sự thật quá thương tâm của sự đau khổ trên một đất nước nhỏ bé yêu chuộng hòa bình Song, cũng không ít người lên án và căm phẫn cho tội ác động trời của bọn máu lạnh chuyên đi gieo gắt nỗi bất hạnh và đau thương, bọn chuyên thủ sẵn những âm mưu và

kế hoạch để cướp đoạt, xâm chiếm đất nước, niềm hạnh phúc và sự tốt đẹp trong cuộc sống của một dân tộc nhỏ bé Không khuất phục trước sức mạnh của kẻ thù và những khó khăn thử thách, thì Đảng, Chính phủ, nhất là vị lãnh tựu vĩ đại của dân tộc ta Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cố gắng ngày đêm vắt óc suy nghĩ tìm đủ trăm phương nghìn kế

để mong cứu giúp nhân dân ta ra khỏi cảnh “dầu sôi lửa bỏng” Với những chính sách như khuyến khích nhân dân ta cố gắng khai hoang tăng gia sản xuất, kêu gọi lòng nhân

Trang 7

ái của cả dân tộc quyên góp cứu đói, phá kho thóc những chính sách đó hết sức đúng đắn và tuyệt vời thì cuối cùng nhân dân ta cũng dần thoát khỏi cảnh hiểm nghèo, đất nước dần thoát khỏi khó khăn, cùng khổ Đưa đất nước và nhân dân ta đi đến bến bờ hạnh phúc

Với vai trò là một cá thể trong một cộng đồng người Việt đang sinh sống và được hưởng nhiều niềm vui, hạnh phúc, tận hưởng được nhiều ưu đãi của cuộc đời Thì xin mọi người đừng quên đi đất nước Việt Nam đã từng gánh chịu nhiều đau thương mất mát, phải hứng lấy những điều bất hạnh nhất của bọn giặc tàn ác đã gây ra Cũng đừng quên Việt Nam là một đất nước anh hùng đầy khí phách, dù có hơn 2 triệu người chết nhưng ta vẫn không hề van xin, quỳ lụy bọn giặc rũ lòng thương Đó là tinh thần dân tộc và đó là tính cách, ý chí, khí phách của người dân Việt - con rồng cháu tiên

Như vậy, để thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau biết và hiểu được về thảm cảnh mà dân tộc ta phải gánh chịu do bọn đế quốc hung tàn gây nên, để các em thấy được và hãnh diện với các nước khắp năm châu bốn biển rằng tuy dân tộc ta nhỏ bé, lạc hậu nhưng ở đó một thứ quý nhất là lòng yêu hòa bình chân chính, tôn vinh sự tự do, độc lập và hạnh phúc của loài người Với vai trò là người thầy giáo trong tương lai, tôi rất muốn dùng những kiến thức, sự kiện chính xác và chân thật nhất trong đề tài nghiên cứu này về thảm cảnh của nạn đói năm 1945 ở Việt Nam, để truyền thụ và giáo dục cho nhiều thế hệ mai sau biết về những đau thương, khốn khổ mà nhân dân ta đã gánh chịu, và cũng giáo dục cho các em về tinh thần quật khởi kiên cường của dân tộc ta, giáo dục các em về tinh thần đoàn kết, yêu đất nước Thà hy sinh tất cả chứ quyết không cúi đầu trước kẻ thù dù chúng rất hung bạo và tàn ác Vì niềm ước vọng và mong mỏi đó của tôi nên hôm nay tôi mới quyết định chọn đề tài “NẠN ĐÓI NĂM

1945 VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ HỒ CHÍ MINH GIẢI QUYẾT NẠN ĐÓI” để làm đề tài nghiên cứu và cũng là luận văn tốt nghiệp của tôi

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Về đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là tập trung xoay quanh sự kiện Nạn đói năm 1945 diễn ra chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung nước ta Trong đó, luận văn còn xoáy mạnh và tìm hiểu kỹ về những nguyên nhân dẫn đến Nạn đói năm 1945, tập trung phân tích và thống kê những tổn thất nhất là về người cũng như về của mà thực trạng thảm cảnh Nạn đói năm 1945 gây ra Bên cạnh đó, luận văn cũng tìm hiểu nói đến những chính sách, biện pháp của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề

ra một cách hết sức đúng đắn và sáng suốt thể hiện tầm nhìn xa trong rộng hết sức chiến lược giải quyết tình hình Nạn đói năm 1945, để đưa đất nước cũng như đời sống nhân dân ra khỏi tình cảnh khó khăn, hết sức đen tối thời bấy giờ

2.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: đề tài chỉ gói gọn trong sự kiện Nạn đói và những giải pháp của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nhằm giải quyết tình hình đói kém của nhân dân ta

- Về thời gian: Sự kiện Nạn đói diễn ra từ cuối năm 1944 đến giữa năm 1945

Trang 8

3 Lịch sử nghiên cứu:

Về đề tài Nạn đói năm 1945, thì cũng có một số nhà nghiên cứu, nhà sử học, nhà báo, nhà văn, tiểu thuyết, nghiên cứu và tìm hiểu như: Đại cương lịch sử Việt Nam tập 3; Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam những chứng tích lịch sử; Hồ Chí Minh tiểu sử, Song, do đây là sự kiện rất nhạy cảm và chưa được thống nhất kết quả nên còn khá ít tài liệu viết chưa chi tiết và đầy đủ về sự kiện này Vì ham hiểu biết và mong muốn nghiên cứu đề tài này thật kĩ để mai này có thể lấy làm nguồn tài liệu để giảng dạy cho học sinh và những ai chưa biết đến sự kiện Nạn đói năm 1945, để cho học sinh thấy được thảm cảnh của đất nước lúc bấy giờ, cho các em thấy được dã tâm và sự tàn ác của bọn giặc cướp nước Bên cạnh đó, cũng để giáo dục học sinh về lòng yêu dân tộc, yêu giống nòi, biết được tinh thần quật khởi, kiên trung, bất khuất của dân tộc ta, từ đó hâm nóng, thắp sáng ngọn lửa đoàn kết, yêu đất nước, không trùng bước trước khó khăn và run sợ trước kẻ thù Từ đó cho học sinh nói riêng và cả đất nước Việt Nam nói chung, biết rằng dân tộc ta đã từng gánh chịu một thảm cảnh đau thương như thế, những vẫn hiên ngang không lùi bước trước khó khăn, gian khổ thậm chí là cả cái chết Song, cũng biết được sự tài tình của những vì sao sáng trong cơ quan lãnh đạo đất nước ta, nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu và tài liệu tham khảo

4.1 Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

- Tài liệu truyền miệng – dân gian: đó là những hiểu biết và được lưu truyền trong dân gian trong cuộc sống hàng ngày, trong những xóm làng ở các buổi sinh hoạt tập thể trong gia đình hay những nơi công cộng, họ lí giải và phân tích sự kiện Nạn đói nhưng

ở họ nhận định rất nhiều khía cạnh rất khách quan và dần được thống nhất do có sự hiểu biết ngày càng chính xác khách quan hơn Và những câu chuyện về sự kiện Nạn đói được truyền mãi từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác

5 Bố cục đề tài:

Bố cục luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung gồm có các chương

Phần một: Mở đầu

Phần hai: Nội dung có:

Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ NẠN ĐÓI NĂM 1945

1.1 Hoàn cảnh lịch sử

1.2 Nguyên nhân dẫn đến nạn đói khủng khiếp

Trang 9

1.2.1 Những nguyên nhân trong nước

1.2.2 Những nguyên nhân do thực dân Pháp và phát xít Nhật

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA THẢM CẢNH NẠN ĐÓI

Chương 3: NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA ĐẢNG

– HỒ CHÍ MINH GIẢI QUYẾT NẠN ĐÓI NĂM 1945

Trang 11

tế xăng dầu, phương tiện chiến tranh vào nội địa Trung Quốc theo hướng xe lửa Hải Phòng – Vân Nam Đầu tháng 8 – 1940, Nhật lấn chiếm thêm bước nửa, đòi Pháp để quân Nhật vào Đông Dương, được sử dụng sân bay Gia Lâm, Cát Bi, Phủ Lạng Thương và nhiều đặc quyền khác Ngày 30 – 8 – 1940 , Hiệp định Tokyo được ký; Pháp phải chấp nhận hầu hết các yêu sách của nhật Ngày 22 – 9 – 1940, nhật gửi tối hậu thư cho Pháp đòi thi hành ngay Hiệp định Tokyo Không đợi trả lời, ngay hôm đó, Nhật cho quân vượt biên giới Việt Trung, tiến công Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng,

đổ bộ lên Đồi Sơn Ngày 23 – 9, Pháp phải ký Hiệp định, chấp nhận quân Nhật vào đóng ở Đông Dương Ngày 6 – 5 – 1941, Nhật lại buộc Pháp ký một Hiệp định Tokyo khác, nhường cho Nhật được hưởng nhiều đặc quyền về kinh tế ở Đông Dương Ngày

23 – 7 – 1941, Toàn quyền Decoux ký với Nhật một hiệp định quân sự mới với danh nghĩa “Phòng thủ chung Đông Dương” Theo đó, Chính phủ Đông Dương cho quân Nhật, với số lượng không hạn chế, được tự do di chuyển khắp lãnh thổ Đông Dương Ngày 19 – 7 – 1941, trong một hiệp đình khác, Nhật được Pháp nhượng quyền sử dụng tất cả các sân bay và hải cảng ở Đông Dương cho mục đích quân sự Ngày 8 – 12 –

1941, trước khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, Nhật buộc Toàn quyền Decoux

kí thêm một hiệp định, cam kết “hợp tác” với Nhật trong việc “phòng thủ Đông

Trang 12

Dương” Như vây, từng bước Nhật lấn dần Pháp để cùng nhau chiếm đóng Đông Dương Về điều này, trong Tuyên ngôn độc lập, đọc ngày 2 – 9 – 1945 ở Quảng trường ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật”

1.1.2 Trong nước

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường bóc lột nhân dân các nước thuộc địa Chúng chuyển kinh tế Đông Dương thành nền kinh tế chiến tranh, rồi sau đó thi hành cái gọi là “kinh tế chỉ huy”, tức là nắm độc quyền kinh tế để

“cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân sự, nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu” Chúng đã xây dựng những nhà máy lắp súng, chế tạo thuốc súng, làm hòm đạn và dự định lập xưởng lắp máy bay ở Tông (Sơn Tây), Phú Thọ và Sài Gòn Chúng bắt nông dân trồng cây công nghiệp để phục vụ cho chiến tranh Thi hành “chính sánh kinh tế chỉ huy” thực dân Pháp kiểm soát sản xuất, xuất nhập cảng, phân phối hàng hóa và ấn định giá cả Một số đại tư sản Pháp đã đầu cơ, tích trữ hàng hóa nhập khẩu khan hiếm hoặc thu mua hàng hóa với giá rẻ mạt Chúng tăng cường đầu tư vào Đông Dương để thu lãi lớn Mọi mối lợi đều tập trung vào tư sản Pháp, đứng đầu là Ngân hàng Đông Dương, Công ty tài chính cao su và liên đoàn tài chính Viễn Đông Thực dân Pháp còn sử dụng thủ đoạn tăng thuế cũ, đặt thêm thuế mới để bóc lột nhân dân ta Trong những năm 1939 – 1945, tổng số thu của ngân sách Đông Dương tăng gấp 2 lần Riêng thuế thuốc phiện, rượu, muối tăng gấp 3 lần Khi nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng, mọi quan hệ kinh tế giữa Đông Dương và Pháp bị cắt đứt, Nhật buộc Pháp đóng cửa biên giới Việt – Trung, chấm dứt việc thông thương với Trung Quốc Quân đội Nhật, một mặt bắt chính quyền thực dân Pháp phải cung đốn mọi nhu cầu thiết yếu, mặt khác trực tiếp vơ vét nguyên liệu, lương thực, thực phẩm để phục vụ cho chiến tranh Từ năm 1940 – 1945, Pháp cung cấp cho Nhật 1.445 triệu đồng và trên 3 triệu 59 vạn tấn gạo, 26 vận tấn ngô Lính Nhật đóng ngay tại các xí nghiệp lớn sản xuất hàng quân sự, dùng báng súng, lưởi lê buộc công nhân phải kéo dài giờ làm việc mỗi ngày để phục vụ cho nhu cầu của chúng Các công ty tư bản Nhật như công ty thương mại và công nghiệp Đông Dương, hãng Đại Nam công ty… đưa vốn đầu tư vào Đông Dương ngày càng nhiều và hoạt động trong nhiều ngành thương mại và công nghiệp, như khai thác mangan, sắt ở Thái Nguyên, phốt phát ở Lào Cai, Crôm ở Thanh Hóa Số vốn đầu tư của công ty này từ năm 1940 – 1943 lên tới 111 triệu frăng, nâng 1/6 tổng số vốn của các công ty Pháp ở Đông Dương Hậu quả của sự

áp bức, bóc lột của Pháp, Nhật là làm cho kinh tế suy yếu, đồng tiền Đông Đương mất giá, hàng triệu người lâm vào cảnh đói rách, bần cùng, hơn hai triệu người chết đói ở miền Bắc trong thời gian ngắn từ cuối năm 1944 đến đầu năm 1945 Tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội ở nước ta, trừ bọn tay sai của Pháp Những địa chủ, tư sản mại bản, đều chịu ảnh hưởng của sự thống trị của Pháp – Nhật với những mức độ khác nhau

Công nhân và nông dân, họ chịu hậu quả nặng nề nhất của chính sách bóc lột Công nhân phải lao động mỗi ngày từ 10 – 12 giờ, lương thấp, thất nghiệp Nông dân gánh

Trang 13

chịu sưu cao, thuế nặng, bị cướp đoạt ruộng đất, đói khổ Vì thế, họ luôn đi đầu trong đấu tranh, chống Pháp – Nhật và tay sai, quyết tâm theo cách mạng để giành độc lập tự

Địa chủ vừa và nhỏ bị xâm phạm về quyền lợi do Pháp, Nhật cướp ruộng đất, tăng thuế, thu thóc gạo, mua ngũ cốc với giá rẻ mạt… Trong chừng mục nhất định họ đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh chống đế quốc và tay sai để giành độc lập dân tộc

Thời kỳ này, Nhật thi hành chính sách bắt nông dân phá lúa trồng đay phục vụ cho chiến tranh Tàn ác hơn, chúng vơ vét thóc lúa của nông dân, đưa nông dân đến cảnh thiếu lương thực chết đói hàng loạt Ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, nông dân chết đói

cả gia đình, cả xóm, cả làng Bà con bồng bế, dắt díu nhau lên Hà Nội ăn xin với thân tàn ma dại, nằm chết la liệt ở vỉa hè, nơi công cộng Sáng ra, nhà cầm quyền cho xe bò

đi nhặt xác đem chôn cùng một hố, cảnh tượng vô cùng thê thảm Hành động tàn ác,

dã man của địch, cảnh khốn cùng cực của dân cũng làm cho nhân dân Thủ đô, mọi người, mọi tầng lớp, nhất là lớp thanh niên động lòng trắc ẩn, thức tỉnh lòng thương nước, thương dân, sôi sục căm thù quân cướp nước Mọi người hướng về cách mạng,

về Mặt trận Việt Minh Năm 1944 nạn đói do Nhật – Pháp gây nên diễn ra khủng khiếp trên toàn miền Bắc Ở Thanh Liệt, Giáp Nhất, Giáp Nhị nạn đói đã cướp đi bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình tan nát Thanh niên và quần chúng giác ngộ cách mạng tổ chức đội “khất thực” đi quyên góp gạo, tiền, nấu cơm, nấu cháo chia cho những người đói Thanh niên diễn kịch lấy tiền cứu đói, tham gia phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo, vận động phó lý ở Giáp Nhị không chống cự Việt Minh tổ chức lấy gạo chia cho dân Đền miếu đầu làng được chọn làm nơi hội hợp, thanh niên luyện tập quân sự, luyện võ, học sử dụng súng chuẩn bị tổng khởi nghĩa Trước những hoạt động bí mật và công khai của thanh nhiên, bọn tổng lý và công chức thân Nhật ngấm ngầm tìm cách chống đối Một số tuyên truyền vũ trang đã bí mật đột nhập nhà chánh tổng Bùi Nhật Tiên ở Giáp Nhị và phủ tổng Nguyễn Hữu Tứ để cảnh cáo răn đe Anh em còn trấn áp bọn lý trưởng ở các làng như: Lý Chất ở Tương Mai, Lý Sinh ở Hoàng Mai, Lý Hiệp ở Pháp Văn, Phó Vượng ở Giáp Bát Trước phong trào sôi nổi của nhân dân thì bọn giặc cướp nước và bọn tay sai cũng hết sức hoang mang và e sợ3 Trong những ngày tưng bừng của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám và lễ Độc lập qua đi rất nhanh Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á vừa được thành lập đã phải bước ngay vào cuộc đấu tranh quyết liệt cho sự tồn tại của mình Đất nước đứng trước những khó khăn to lớn, chồng chất Nền kinh tế bị đình đốn trong chiến tranh nay càng thêm khó khăn: hàng hóa khan hiếm, nạn đầu cơ tích trữ hoành hành, hàng vạn công nhân thất nghiệp… Nền tài chính đất nước kiệt quệ, ngân khố quốc gia chỉ còn hơn một triệu đồng mà phần nhiều là tiền lẻ, củ nát Ngập lụt diễn ra ở chín tỉnh miền Bắc, nạn đói khủng khiếp đã từng giết chết hai triệu đồng bào ta vẫn đang còn mối đe dọa4

Trang 14

1.2 Nguyên nhân dẫn đến nạn đói khủng khiếp

1.2.1 Những nguyên nhân trong nước

Muốn giải quyết nạn thóc gạo ở miền Bắc, ta hãy xem xét lại cớ sao mà thóc gạo khan hiếm và đắt đỏ Có phải vì dân mất mùa - hoàn toàn không phải Vì Bắc Kỳ có nhiều ruộng, chỉ mất màu ở một vài tỉnh Còn ở các tỉnh khác, lúa vẫn tốt Vả lại xưa nay Bắc Kỳ mất mùa đã nhiều Những năm mất mùa trước cao nhất là 100 đồng một

tạ Gạo chưa bao giờ lên đến 600 đồng một tạ như năm xảy ra nạn đói Có phải việc xuất cảng bị đình trệ bởi chiến tranh – cũng không phải, xưa nay gạo Bắc Kỳ chỉ xuất cảng, chưa từng phải nhập cảng của ngoại quốc Vả lại chiến tranh đã xảy ra sáu năm,

từ năm 1939; mấy năm trước, dù sự sinh hoạt có đắt đỏ, nhưng dân Bắc Kỳ chưa bao giờ khổ cực như năm 1945 Theo ý kiến riêng của tôi thì thóc gạo ở Bắc Kỳ khan hiếm

và cao giá chỉ bởi mấy cớ sau:

- Gạo miền Nam không tải ra miền Bắc được

- Chính phủ mua của dân quê một số gạo khá nhiều

- Đó là sự hạn chế việc chuyên chở thóc gạo từ tỉnh này sang tỉnh khác

- Do thiên tai

Ngoài bối cảnh chiến tranh, chính trị và kinh tế, tình hình thời tiết ngoài Bắc cũng đã

góp phần trong những động lực tạo ra nạn đói Mùa màng miền Bắc bị hạn hán và côn trùng phá hoại, khiến sản lượng vụ đông - xuân từ năm 1944 giảm sụt khoảng 20% so với thu hoạch năm trước Sau đó là lũ lụt xảy ra làm hư hại vụ mùa nên nạn đói bắt đầu lan dần Mùa đông năm 1944 – 1945, ác nghiệt thay cũng lại là một mùa đông giá rét khiến các hoa màu phụ cũng mất, tạo ra những yếu tố tai ác chồng chất giữa bối cảnh chiến tranh thế giới

Sâu bệnh hoành hành

Do mất mùa và do những thiên tai nhất là do sâu bệnh hoành hành Năm 1944, sâu bệnh gây ra mất mùa người ta gọi là lúa bị rù (bây giờ gọi là bị gầy) Thực tế sâu bệnh rất nặng, sáng xớm ra đồng trắng xóa cả cánh đồng, làm cho lúa bị bệnh nặng và kém bông, ít hạt mà còn bị lép rất nhiều thậm chí có nơi lúa bị lép hoàn toàn Nhưng nguyên suy cho cùng cũng là do bọn đế quốc, phong kiến Nó vắt kiệt sức dân, không

có dự trữ phòng cơ, lại chẳng quan tâm gì đến nông dân và nông nghiệp cả, nên khi dân vấp phải nạn đói là không thể trở tay kịp và bị đói liền mà bị đói còn rất nặng rất đau không sao cứu vãn nổi

Vỡ đê – lũ lụt tràn lan

Do những chính sách bóc lột và vơ vét nguồn lực của nước ta, bọn thực dân chỉ lo cho lợi ích của chúng, không quan tâm gì đến đời sống của nhân dân ta, trong công nghiệp chúng bóc lột cùng cực sức lao động của công nhân, thương nghiệp chúng nắm độc quyền mua bán, còn nông nghiệp chúng ra sức cướp đoạt lương thực, thực phẩm,

Trang 15

chúng chỉ lo vơ vét không đầu tư sản xuất, không quan tâm đến thủy lợi, đê điều… Do

đó, nạn lụt lại xảy ra làm vỡ đê nhiều tỉnh thuộc Bắc Bộ, 35 vạn ha ruộng bị ngập lụt Chín tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình bị mất mùa nặng Ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mất mùa tới 50% Sau lụt lại đến hạn hán, 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang Diện tích cấy trồng và sản lượng đều giảm sút Ở 15 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, diện tích cấy trồng lúa

vụ mùa năm 1945 chỉ đạt 540.000 ha (vụ mùa năm 1944 là 967.000 ha) Số ruộng bị

bỏ hoang không cấy được vì ngập lụt, thiếu nhân công, thiếu giống khoảng 265.000

ha Vụ mùa năm 1941, miền Bắc thu được 832.000 tấn thóc, cả năm 1945 chỉ thu được

500.000 tấn

Hạn hán đốt cháy mùa màng

Sau lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra làm hư hại vụ mùa nên nạn đói bắt đầu lan dần Mùa đông năm 1944 - 1945 ác nghiệt thay cũng lại là một mùa đông giá rét khiến các hoa màu phụ cũng mất trắng, càng làm cho tình hình thêm khó khăn

- Do nạn mất đất, cướp thóc gạo của địa chủ

Một trong những nguyên nhân chính của nạn thóc gạo khan hiếm và dẫn đến nạn đói

là do địa chủ và cường hào tích cực đầu cơ tích trữ thóc gạo Ai cũng hiểu do chế độ thu thóc của dân quê, được thi hành trong rất nhiều vụ mùa (từ tháng 7 năm 1943) Người Pháp, lúc đầu đã mê hoặc dân ta, để dân quê chịu hy sinh cho dân tỉnh thành; nhưng dần dần chính sách đó đã tỏ ra có hại cho toàn thể dân chúng và có lợi cho một

số ít người đã nhờ đây mà sống phú quý, từ người cầm đầu các Túc mễ cục cho đến người đi cân trong các làng, thôn xóm Trong địa hạt của mỗi tỉnh, ai tích trữ hai tấn thóc hoặc từ một tấn gạo trở lên, bất cứ vì một cớ gì đều phải làm tờ khai với quan Đốc hạt hoặc quan Đốc lý sở tại Cứ đến mỗi tháng thêm bớt bao nhiêu lại phải khai Chúng ta, ai cũng không thể quên được những vụ lạm dụng hàng trăm tấn của những nhân viên tai mắt trong Liên đoàn các nhà buôn gạo Hải Phòng và Nam Định, những

án kết các phái viên đi thu thóc về sự dùng cân thiếu, những tổng lý đã thu quá số thóc

đã quy định, v.v… Còn biết bao hành vi bán thiếu trong bóng tối của những người vô lương tâm, dựa vào quyền thế của chính phủ thâm hiểm mà hành hạ dân nộp thóc Đến nỗi có nhiều người phẩn uất phải thốt ra câu này: “Thà cho không thóc cho các Liên đoàn còn hơn là bán như thế…” Trong mỗi tỉnh, việc mua thóc gạo cho binh gia hoặc

để tiếp tế cho dân chúng đều phải giao quyền cho các Nông phố ngân hàng tỉnh, dưới

sự giám đốc và kiểm sát của ông tỉnh trưởng Số thóc gạo cần mua bao nhiêu sẽ do quan Khâm sai quyết định Các viên chức Túc mễ cục hàng tỉnh sẽ giúp nhà Ngân hàng Nông phố trong việc này Khi mua sẽ điều chỉnh với chủ điền và theo giá của nhà nước đã quy định, giá đó tùy theo từng tỉnh sẽ định theo giới hạn sau đây:

- Từ 100 đến 300 đồng một tạ thóc

- Từ 150 đến 195 đồng một tạ gạo

Riêng ba tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, giá cao nhất có thể lên tới 150 đồng một tạ thóc và 225 đồng một tạ gạo Trong các thành phố, những nhà buôn do quan Khâm sai lựa chọn sẽ được phép tiếp tế cho công chức và dân chúng, họ sẽ được phép mua một số thóc gạo nhất định ở những nhà Nông phố Ngân hàng đã chỉ sẵn Cấm ngặt không một nhà buôn nào, trừ những hàng gạo sáo được mua thóc gạo thẳng với

Trang 16

chủ điền trong địa phận Bắc Kỳ Việc chuyên chở thóc gạo bằng gánh trong địa hạt từng tỉnh và từ tỉnh này sang tỉnh khác được hoàn toàn tự do nếu số gạo chuyên chở không qúa 50 cân (kilô) một gánh Gạo chỉ được gánh chứ không được chuyên chở bằng xe cộ hoặc cách gì khác Vì chiến cuộc lượng gạo chở bằng thuyền từ trong Nam

ra Bắc bắt đầu giảm từ 126.670 tấn (1942) xuống còn 29.700 tấn (1943), và đến năm

1944 chỉ còn 6.830 tấn Tàu bè chở gạo ra bắc chỉ ra được đến Đà Nẵng Khi không quân Đồng minh mở rộng tầm oanh kích thì tàu chở gạo phải cập bến ở Quy Nhơn rồi cuối cùng chỉ ra được đến Nha Trang Giá gạo thị trường lúc bấy giờ là 200 đồng bạc Đông Dương một tấn nhưng nông dân chỉ được trả 25 đồng Bản thân lực lượng quân quản Nhật cũng thi hành chính sách "Nhổ lúa trồng đay", do cây đay là nguyên liệu quan trọng cho sản xuất quân trang, quân phục Tình hình càng khó khăn thêm khi Nhật đảo chánh Pháp vào tháng 3 năm 1945 nên bộ máy chính quyền của Pháp nhanh chóng tan rã Việc tiếp vận và phân phối sau đó càng bị tê liệt Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, đã manh nha từ đầu năm 1944 nay càng thêm trầm trọng Đế quốc Việt Nam

do Trần Trọng Kim làm thủ tướng ra chấp chính từ tháng 4 năm 1945 đã cố gắng huy động việc cứu đói cho dân ngoài Bắc nhưng những yếu tố chính trị, phương tiện và nhân sự phần nhiều vẫn nằm trong tay người Nhật nên Đế quốc Việt Nam không làm thuyên giảm được hậu quả ghê gớm của nạn đói

- Do sưu cao thuế nặng

Nạn đói xảy ra không chỉ vì do nhiều hay ít ruộng đất, mà nguyên nhân còn do chính sách sưu thuế quá nặng nề cũng làm cho đời sống nhân dân hết sức khó khăn, lao đao và dẫn đến tình trạng đói khủng khiếp đến như thế Rõ ràng, với mức thuế đinh

cũ là 2,5 đồng cũng đã quá nặng nề gây cho nhân dân quá nhiều vất vả, khốn cùng Nhưng không chỉ vậy, mà trên thực tế thì mức thuế đinh mà bọn cướp nước và bán nước thu và nhân dân bắt buộc phải đóng là đến 3,5 đồng, thậm chí có nơi còn thu hơn 3,5 đến 4 đồng/suất đinh (tương đương 140 đến 180 kg thóc) Như vậy, tính ra một suất ruộng công không đủ tiền đóng cho sưu thuế Ngoài ra, còn mức tô tức cũng vậy, không phải ở mức theo quy định, nó chiếm tới 2/3 mức thu nhập của nhân dân Còn thuế có 3 loại là nhất, nhì và ba, mà bọn bọn địa chủ cường hào thì không phải đóng như thế, ngược lại nông dân lúc nào cũng phải cày cấy trên những thửa ruộng xấu bạc màu năng suất và chất lượng hết sức thấp nhưng lại phải chịu cảnh đóng nộp sưu thuế rất cao và hết sức nặng nề Rõ ràng thuế đinh, thuế điền, tô tức là những thòng lọng buộc vào cổ người nông dân, cộng với chính sách thu mua, vơ vét thóc gạo, gặp nạn đói kém mất mùa thì nạn chết đói xảy ra là không thể tránh khỏi

– Do bệnh dịch – bội thực

Bệnh dịch

Sau vụ chiêm năm 1945, tình trạng ô nhiễm môi trường hết sức nặng nề, bệnh dịch phát sinh và hoành hành dữ dội Nó làm cho rất nhiều người chết, người này chết không ai biết và không chôn cất cẩn thận rồi lâu dần sinh ra hôi thói ô nhiễm cho các nơi sống của nhân dân Tình trạng đó càng thêm khủng khiếp khi nạn đói kéo dài Khi nạn đói không được giải quyết thì tình trạng chết do bệnh tật vẫn tiếp tục diễn ra và ngày càng nghiêm trọng

Bội thực

Trang 17

Khi có lúa ăn, mức sống thay đổi đột ngột, một số người lại chết do bội thực và có ăn

và do quá đói, đói trong một thời gian khá dài nên khi có ăn thì họ lại ăn quá nhiều nên gây nên tình tràng bội thực, vỡ bao tử mà chết khá nhiều

1.2.2 Những nguyên nhân do thực dân Pháp và phát xít Nhật

Năm 1940, phát xít Nhật vào Việt Nam qua đường biên giới Trung – Việt Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn của chúng ta nổ ra nhằm đánh Pháp, chống Nhật giành chính quyền Pháp đầu hàng Nhật, Nhật – Pháp quay lại diệt khởi nghĩa Bắc Sơn Nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ, Đô Lương lại liên tiếp nổ ra Năm 1941 Mặt trận Việt Minh ra đời, phong trào yêu nước Việt Nam với những đội quân du kích dũng cảm, kiên cường, nay lại được tổ chức một cách khoa học, trở thành đối tượng đáng lo ngại,“ một đối thủ đáng gờm” của Nhật và Pháp Về phía Nhật - Pháp, bên cạnh mâu thuẫn “ hai con chó tranh nhau một miếng mồi”, lại có cái thống nhất giữa chúng Chúng cho rằng: “ Du kích Việt Minh là một lực lượng đánh bằng súng đạn không nổi Phải tìm cách nào làm cho họ suy yếu, làm cho con người Việt Nam “ thân tàn, lực tận” Muốn vậy, chỉ có gây ra nạn đói, tức “đánh vào cái dạ dày” của họ mới là hữu hiệu Mục tiêu này lại ăn khớp với chủ trương của Nhật cần thu vét lương thực và nguyên liệu (đay, lạc, thầu dầu, ) cung cấp cho chiến tranh và chúng lại có sẵn bộ máy thuộc địa của thực dân Pháp để thực hiện Nhật bắt Pháp mỗi năm phải cung cấp một lượng lương thực ngày càng tăng: năm 1941 là 700.000 tấn gạo Năm 1942 là 1.050.000 tấn gạo và 45 tấn bột gạo Năm 1943 là 1.125 904 tấn Năm 1944 với lý do mất mùa cũng phải cung cấp cho Nhật 900.000 tấn Ngoài ra Nhật còn cho Pháp xuất khẩu gạo sang các nhượng địa của Pháp ở Trung Quốc Số lượng gạo này Pháp lạm phát giấy bạc Đông Dương để thu mua bằng biện pháp cưỡng chế, tức thu theo lũy tiến số ruộng đất canh tác Việc làm này khiến cả phú nông, địa chủ cũng không còn dự trữ thóc gạo để nông dân có thể đến ăn vay, ở đợ, cầm ruộng, đợ con, cứu đói Chúng còn ra lệnh cấm vận thóc gạo, hạn chế chuyển vận từ tỉnh này sang tỉnh khác, khiến thóc gạo không được chuyển bằng đôi vai từ Nam ra Bắc trong khi đường biển đường bộ đều bị

Mỹ, Anh phong tỏa, phá hoại Mặt khác chúng bắt nông dân những nơi có thể canh tác hoa màu phải phá lúa trồng đay, phá ngô, khoai, đỗ, để trồng lạc, thầu dầu để thay nhiên liệu xăng dầu, ) Đến vụ mùa 1944, cùng với thiên tai sâu bệnh mất mùa, sự vơ vét thóc gạo của “ kẻ ác trước ngày tàn” ( bọn phát xít sắp đến ngày bại trận) lại càng sâu nặng, khiến nạn đói diễn ra đến cực điểm vào đầu năm 1945

- Thu vét gạo thóc của Nhật – Pháp

Các hiệp định: sau khi cho quân Nhật tiến vào chiếm đóng Đông Dương, Nhật đã lựa

chọn con đường dùng chính quyền thực dân Pháp như một công cụ tay sai nhằm mục đích thực hiện những tham vọng chính trị và kinh tế của họ Hiệp ước kinh tế được kí kết giữa hai phía ngày 6 – 5 – 1941 là hiệp ước đầu tiên tăng cường hợp tác giữa chính quyền thuộc địa và Nhật Hiệp ước đã đem lại cho Nhật nhiều quyền lợi quan trọng ở Đông Dương, đặc biệt trong lĩnh vực cung ứng lúa gạo Nhờ hiệp ước này, Nhật có thể giải quyết được việc phân khối khẩu phần lương thực cho quân đội và dân chúng trong nước giữa lúc bị mất mùa ở Nhật và Triều Tiên Kể từ sau hiệp ước trên, hàng năm Nhật buộc chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương ký kết một văn bản hiệp ước mới cam kết thu nộp cho Nhật một khối lượng gạo lớn nhằm thỏa mãn nhu

Trang 18

cầu lương thực của Nhật Thông qua các hiệp ước này, có thể thấy được mọi hoạt động thu thóc của Pháp thực hiện trong giai đoạn 1941 – 1945 là nhằm thực hiện những mệnh lệnh cưỡng chế của Nhật Việc thực hiện chính sách thu lương thực để giao nộp cho Nhật đã dẫn đến tình trạng vét cạn nguồn lương thực ở Việt Nam, gây ra nạn đói khủng khiếp vào cuối năm 1944 đầu năm 1945 Như vậy, xét cho cùng, chính những văn bản hiệp định Nhật – Pháp, với những cam kết của chính quyền Đông Dương trong việc thu thóc để giao nộp cho Nhật, là những tài liệu tố cáo tội ác của Nhật trong việc gây ra nạn đói ở Việt Nam vào cuối năm 1944 đầu năm 1945

- Do thực dân Pháp

Sau vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1930, Pháp quay lại với chính sách bảo

hộ mậu dịch và độc quyền khai thác Đông Dương theo đường lối thực dân Toàn thể dân Đông Dương phải ra sức nâng cao giá trị kinh tế của khu vực, nhưng chỉ có người Pháp, một thiểu số rất ít người Việt và người Hoa gần gũi với Pháp hay một số dân chúng thành thị được hưởng lợi Hậu quả là trước Đại chiến thế giới lần thứ hai, Việt Nam vẫn chỉ là một xứ lạc hậu và nghèo đói so với nhiều quốc gia châu Á khác Khi Đại chiến thế giới bùng nổ, Pháp bị yếu thế Tại Đông Á, Nhật Bản bắt đầu bành trướng và nhìn vào Đông Dương như đầu cầu tiến qua Nam Á và khống chế Trung Quốc Giữa năm 1940, Pháp bị Đức chiếm và Nhật Bản gây sức ép với Pháp rồi năm sau tiến vào Đông Dương Việt Nam bị cuốn vào nền kinh tế thời chiến, với việc Pháp

và Nhật tranh giành quyền kiểm soát kinh tế Người ta nói đến lý do là Nhật Bản bắt dân Việt Nam trồng đay thay trồng lúa gạo để phục vụ chiến tranh, nhưng thực ra Pháp

đã tiến hành việc ấy từ trước, cụ thể là thu hẹp diện tích canh tác các hoa màu phụ như ngô, khoai, sắn, để trồng bông, đay, gai hay cây kỹ nghệ Sản lượng lúa gạo và hoa mầu quy ra thóc tại miền Bắc giảm xuống rất mạnh do diện tích canh tác bị thu hẹp Chương trình kinh tế chỉ huy nhằm độc quyền thu vét thóc gạo, làm cho nhân dân Việt Nam chết đói và không còn sức chống lại được chúng Những chính sách được chúng công bố hoặc cho phổ biến công khai trên báo chí như: Bãi bỏ lệ thu thóc ở toàn hạt Bắc Kỳ, thành lập Ủy ban điều tra để phơi ra ánh sáng những hành động ám muội của Liên đoàn Gạo và Ngô và bọn lý dịch tham nhũng,… Đều nhằm che dấu thủ đoạn thâm độc của chúng, như bãi bỏ lệ thu mua thóc của những người ít ruộng, lại cưỡng bức thu mua của những người từ 3 mẫu trở lên theo lũy tiến (tức ruộng càng nhiều, tỷ

lệ bị thu mua càng cao) Hay lên án bọn Liên đoàn và chức dịch tham nhũng là để đỗ lỗi rằng, chính những người Việt Nam tham nhũng, tồi tệ này đã gây nên nạn đói chứ không phải chúng… Những biện pháp mà chúng thực hiện như: Giảm khẩu phần cung cấp gạo cho nhân dân đô thị từ 15 cân xuống còn 7 cân (vừa bớt phần gạo cần phải cung cấp, vơ vét thêm được nhiều hơn, vừa để thị dân không có đâu mà cứu giúp bà con và những người bị đói…); Việc chỉ cho phép chuyên chở tự do trong phạm vi một tỉnh với số lượng dưới 50 cân gạo, thực chất là ngăn cấm việc chuyên chở tự do; Việc không cho mỗi nhà trữ quá 2 tấn thóc, 1 tấn gạo thực chất là để chúng có thể độc quyền thu mua được nhiều; Việc chi cho Nông phố ngân hàng các tỉnh và các Liên đoàn thóc gạo do chúng lập ra được độc quyền thu mua, cùng việc sử dụng bọn quan

lại, chức dịch tham nhũng vào cơ cấu thu mua,…

Trang 19

- Chương trình kinh tế chỉ huy trong khi thi hành không đúng theo nguyên tắc Những người cầm quyền Pháp cố ý cho thi hành sai nguyên tắc, mục đích cốt để cho dân mắc nạn đói kém Một khi dân bị nạn đói kém giày xéo theo chế độ thực dân dã man của

họ, thì lao đao khốn đốn, mất hết khí phách, còn nghĩ và làm gì được hơn là cuối đầu nghe những mệnh lệnh của họ Cho nên họ dụng tâm dung túng và che chở sự thừa hành sai lệch và gây ra biết bao tệ nhũng như ta đã thấy:

+ Việc thu thóc ở quê cho thi hành một cách mù quáng, không chịu xét thấu tình dân ruộng cấy lúa nộp lúa đã đành, ruộng gieo mạ, ruộng trồng đay, ruộng trồng hoa màu khác cũng phải nộp, ruộng không cấy nhưng đã trót khai cũng đều một loạt phải nộp thóc cho chính phủ

+ Những kẻ thực hành chức vụ từ trên xuống dưới đều được bênh vực Họ cho rằng thu thóc là thu thuế thứ hai, thứ thuế bằng hàng hóa, việc quan trọng do chính phủ đã sai, ai mà dám trái

+ Những tệ tham nhũng, hà lạm vì đó xảy ra Người ta đã thấy:

 Lý trưởng, trưởng bạ thu thóc đánh cấp của dân

 Người đi thu thóc đánh cấp lại của lý trưởng, trưởng bạ

 Hai hạng người này đánh cấp của dân rồi vi thiềng với quan địa phương để cầu che chở

+ Các quan địa phương hay các quan tỉnh là những phi lôi rất trung thành với chính phủ Pháp, hoặc đã nhận được mệnh lệnh, hoặc không, ít thấy xét hay không bao giờ xét những đơn khiếu nại về sự oan uổng hà hiếp thuộc việc thu thóc, có thể có rất nhiều hồ sơ ở các nhà chức trách

+ Việc thu thóc ở quê đã xảy ra biết bao ác tệ, rút lại chỉ lợi cho hạng người thu thóc là những tay sai con cưng của những người Pháp được cử ra để trông coi việc thu thóc Bọn tay sai con cưng ấy có đủ mánh phé tai ác về sự cân lường để được trở nên sự phú Đến khi gạo tải vào kho, rồi ở kho ra các công toa bán gạo, rồi ở chổ bán gạo bán cho dân tiêu thụ, mỗi lần hột gạo đi qua chỗ nào là một lần có thể xảy ra biết bao những tệ tham nhũng mà dân là phải chịu ảnh hưởng tai hại đó thôi

+ Một số nông dân vì tệ nhũng của sự thu thóc, họ chỉ bỏ bớt đi một số ruộng không cấy, sau khi họ tính xong số ruộng phải cấy để đủ số thóc ăn, thóc giống và thóc nộp vì theo họ, thì cày cấy nhiều có thiệt hại cho họ Đó bởi khi làm ruộng, họ phải trả tiền công cày cấy bằng giá chợ đen, đến khi bán thóc họ phải trả bằng giá hạn đinh, tất họ phải lỗ vốn Thành thử họ bỏ mất một số ruộng là lẽ tự nhiên

+ Ở các tỉnh miền Bắc, số thóc không đủ thu để bù số cung Lẽ ra những người cầm quyền Pháp phải tìm hết cách để mang gạo ở miền Nam ra Trái lại, họ tìm hết cách để ngăn cản, không cho phép vận tải gạo ở miền Nam ra Những tư nhân hay Liên đoàn buôn gạo xin phép đem gạo ở miền Nam ra, đều bị thất vọng Chính họ, họ cũng không nghĩ sự mua gạo ở miền Nam tải ra nên viện cớ này cớ khác để che đậy cái dã tâm làm cho đói lũ dân Bắc, là dân, theo họ là hay hoạt động và phản động Rõ ràng nước ta là một nước nhiều thóc gạo Trước kia mỗi năm bán ra các nước hơn một triệu tấn gạo Khi Nhật mới qua, nó bắt Tây phải nộp cho nó mỗi tháng 15 vạn tấn gạo Bây giờ nó lại bắt Tây vơ vét bao nhiêu gạo là phải nộp cho nó cả Cho đến bắp, than, bông vải cũng thế Như tỉnh Thái Bình trước kia là một tỉnh nhiều gạo nhất Bắc Kỳ mà nay

Trang 20

cũng không đủ gạo ăn Chính sách cướp thóc của Nhật – Pháp đã gây ra nhiều nỗi uất

ức trong dân gian Nhân dân ta đã đứng lên chống lại những chính sách đó Giặc Pháp

sợ rằng nếu phong trào này lan rộng, rất nguy hại cho chúng, nên chúng triệu tập các chức dịch lại nghe hiểu thị Chúng nói: “Vì có nhiều nhà giàu không chịu bán thóc nên binh lính và thợ thuyền ở thành thị không đủ gạo ăn Binh lính có cơm no, áo ấm thì mới có đủ sức giữ trị an cho dân; thợ thuyền có đủ gạo ăn, mới đủ sức chế ra các thứ cần dùng cho mọi người Bởi thế bắt buộc chính phủ phải bắt các làng nộp thóc để bán

ra hai hạng người nói trên Theo Bản hiệp ước kinh tế Nhật – Pháp, thì Đông Dương phải dâng cho Nhật 1 triệu 20 vạn tấn gạo Và số gạo phải nộp cho Nhật ngày càng nhiều hơn Pháp cũng như Nhật cả hai đều không công bố thóc gạo ấy và số thóc phải nộp cho Nhật không nhất định là bao nhiêu, miễn đủ cung cấp cho khu Đại Á như lời đại sứ Nhật đã nói Hơn nữa tàu Nhật qua lại Đông Dương thường bị tàu ngầm và máy bay quân Đồng minh đánh phá: Cửa Bể - Hải Phòng lại luôn luôn bị giội bom Một phần lớn thóc gạo cũng như nguyên liệu từ Đông Dương cho sang Nhật đa số bị chìm xuống đáy biển hay bị thiêu đốt tại các bến Số thóc gạo ấy bị hao hụt không phải ít và tất nhiên giặc Nhật lại bắt dân ta phải nộp bù Mỗi năm Đông Dương sản xuất được 7 triệu tấn gạo, chừng một phần ba số ấy cũng phải cúng cho Nhật Nên việc khan hiếm gạo là tất yếu Và lý do mà lũ giặc nói gạo đem cho binh lính và thợ thuyền ăn là vô lý trái với sự thật Hơn nữa, binh lính phải nuốt những hột cơm hôi bởi thổi bằng thứ gạo

đã tích trữ trong kho binh lương từ 1 – 3 năm Thứ gạo ngon thì binh lính đâu có được hưởng Tình cảnh thợ thuyền thì càng thảm hại hơn Đồng lương đã hạ, có tiền đong gạo cũng chật vật vô cùng Nào phải khai báo phiền phức mới lãnh được tấm thẻ gia đình đi đong gạo không khác gì đi lĩnh chẩn: không phải chỉ chầu chực, chen chúc khổ

sở, còn bị đội xếp, tuần phiên đánh đập thậm tệ mới đong được ít gạo xấu nhưng cũng không đủ ăn Như vậy, nguyên nhân làm cho gạo bị khan hiếm là không phải do nhà giàu không bán gạo mà do giặc Nhật hạ lệnh cho giặc Pháp bắt dân ta nộp thóc không phải cho binh lính và thợ thuyền ăn mà là để dâng cho Nhật Ngoài ra, lệnh thu thóc của giặc Nhật còn ngặt đến nỗi, có nơi những quan lại bắt những điền chủ chậm nộp lên huyện bắt nộp đủ số thóc cho giặc, phải lấy thóc nhà bù vào, hoặc bỏ tiền mua bông của bọn chủ thầu cân thóc cho chính phủ, để tránh những roi đòn, tiếng chửi của quan sở tại Nhiều làng còn phải nộp gạo trắng, dân tốn bao công, cơm vào việc xay giã, bỏ cả việc làm đồng Nhật – Pháp nhũng nhiễu dân ta đến cực điểm Quanh năm dân quê chỉ gặp nạn là nạn Hết trồng đay đến nộp thóc, hết nộp thóc đến cân dầu; hết thu bông đến nộp lạc Thật là đủ tình đủ tội Nhiều nơi dân quê đã bảo nhau, giàu nghèo, già trẻ, trai gái, hương chức và thường dân, nhất tề phản đối chính sách vừa mua vừa ăn cướp của lũ giặc nước Nhưng tiếc thay, nhiều nơi khác, một số hương lý

đã không biết cùng dân đoàn kết chống kẻ thù chung, lại lợi dụng cơ hội hại dân mà làm giàu Vì thế, nhân dân rất mong chính phủ bỏ lệ bán thóc cho chính phủ Nhật Vì với cái giá này, nhân dân ta coi như là mất trắng số thóc phải bán, có như vậy người có ruộng mới dám cày cấy hết số ruộng của mình, không như thực tế là họ phải bỏ ruộng

mà chỉ dám cấy độ một số ruộng của họ mà thôi Bởi vậy số ruộng bỏ không rất nhiều Muốn cấy một mẫu ruộng tính trung bình nhân dân ta phải mất Trong đó: 300 mạ giá

170 đồng một trăm mất hết 510 đồng; Ruộng thêu một mẫu mất hết 300 đồng; trâu cày

Trang 21

4 buổi, mỗi buổi thuê 15 đồng mất hết 60 đồng; Trâu bừa 4 buổi, một buổi thuê 15 đồng mất hết 60 đồng; Công người làm 8 buổi, một buổi 3 đồng mất hết 24 đồng và cơm ăn 3 bữa 1 ngày mất hết 10 đồng chưa kể tiền thuốc lá và các chi phí khác mất hết cũng khoảng 100 đồng; Phân tro 30 gánh, một gánh 3 đồng mất hết 90 đồng Như vậy tính sơ tiền chi phí cho việc cấy một mẫu ruộng phải mất tổng cộng la 1.220 đồng Nên trong sản xuất phải mất vốn bạc ngàn mà đến lúc gặt ruộng tốt mới được 4,5 tạ thóc Còn thường chỉ 3 tạ hay kém Thế mà người có ruộng ít nhất cũng phải bán theo giá chính phủ là 80 cân một mẫu giá có 25 đồng 100 cân Đó là được mùa nên không phải đi đong về để nộp cho nhà nước thì giá có khi lên đến 455 đồng 100 cân thóc, còn như giá thực tế thì là 300 đồng Vì lẽ đó các người có ruộng sợ không đủ thóc nộp cho chính phủ, kèm theo biết bao nhiêu thứ thuế về đinh, điền, nên chỉ dám cấy lấy đủ thóc

ăn Chỉ có dân ba tỉnh là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định mua gạo giá rẻ hơn Nhưng có phải toàn thể người ở ba tỉnh đó đều được cấp thẻ gia đình cả đâu, và những người có

sổ mua cũng chỉ tạm dùng đủ có độ 18 ngày trong một tháng Còn những ngày kia cũng phải mua theo những giá đắt đỏ như những người khác Dân quê đã chịu thiệt thòi nhiều nhất, đến ngay sinh mạng và tài sản của họ, họ cũng phải tự bảo vệ lấy Các thứ cần dùng hàng ngày như diêm thì phải mua 5 hào 1 bao, muối 6 trăm đồng 1 tạ, vải chúc bau 45 đồng 1 thước, thuốc 30 đồng 1 thang, trâu bò để cấy thì 1 đến 2 ngàn 1 con, nói tóm lại mọi thứ đề phải trá giá rất đắt ít nhất cũng là gấp 19 lần đã định Thế

mà lại cứ bắt dân quê phải bán rẻ các thứ nông sản Có người làm ruộng vì lúa xấu, không đủ thóc nộp phải bán nhà đi để đong thóc đền vào Nếu không thì sẽ phải lâm vào vòng tù tội Trong việc thu thóc thì chỉ có lợi cho tổng, lý, cho người được phép đi thu, cho các người từ thấp đến cao Nếu cho điều tra ngầm thì sẽ biết ngay thực tế các người có dính líu về việc thu thóc đều trở nên giàu có cả; có ổng tổng, lý nhiều nơi mới thu có hai vụ mùa mà đã làm nhà lên đến 10 vạn ví dụ như lý trưởng một làng ở làng Thanh Oai ( Hà Đông) Còn người thu thóc có người lời tới bạc triệu, chả thế mà trước năm 1941 có người chỉ làm công ăn lương 25 đồng một tháng mà nay có đem đánh bạc thua đều đều mấy trăm, nghìn và thua liền cả tuần lễ mà vậy cũng không hề

gì Tất cả những thứ trên đều là do bóc lột tiền của của nhân dân Đó là nhờ vào những thủ đoạn của chúng của bọn sâu nước hại dân Nên có chỗ chúng thu nhiều mà nộp ít, ghi là cấy 400 mẫu nhưng khi vào sổ chỉ có hơn 200 mẫu, còn thu 120 cân 1 mẫu mà chỉ biên nộp có 80 cân, có nghĩa là họ ghi vô đúng số ruộng cày cấy nhưng phân ra nhiều tên vì có lệ cứ 5 mẫu phải nộp theo quy định là bao nhiêu và 10, 100, 200 mẫu là phải nộp bao nhiêu, còn biết bao nhiêu là mánh phé khác nữa, chúng phải câu kết với nhau mới đem lại cái chỗ thóc thừa đó và đem ra tỉnh bán giá chợ đen để thu lại món lợi nhuận khổng lồ rồi có thể công nhiên tích trữ làm của riêng Nên bỏ cái lệ bán thóc cho Chính phủ, lúc này là cải tử hoàn sinh cho nhân dân ta Trong lúc đương đầu với nạn đói có người tự hỏi tai kiếp này có phải do Trời Phật Và đều đó là không có mọi chuyện đều do những chính sách của bọ giặc gây ra Nhất là chính sách thu mua thóc của chúng mà thật tế là cướp thóc của dân Trước đây, một phần thóc thu mua được của dân ta, một phần giặc Pháp tích trữ, một phần giao nộp cho giặc Nhật không chỉ để nuôi quân Nhật ở Đông Dương mà nuôi quân Nhật ở các mật trận như Trung Quốc, Miến Điện, Thái Bình Dương, và cả bên nước Nhật; còn phần rất ít chúng mới bán cho

Trang 22

công chức, binh lính, dân thành phố để lừa phỉnh và che mắt đồng bào ta Chẳng những thế, Nhật – Pháp còn thi nhau tung tiền giấy ra đong gạo, ngô, đỗ, sắn,… không

từ một thứ gì Vì vậy giá gạo tăng lên vòn vọt, thợ thuyền thì bị thất nghiệp, dân quê hết thóc, thì đàu đâu ra tiền thì kiếm ngày hai bữa cơm Và sau khi trân Nhật – Pháp chúng nó bắn nhau, những kho thóc gạo của giặc Pháp vỡ ra, bọn Việt gian thân Pháp không còn chối cãi được tội ác của chúng nó Trong khi dân ta chết đói đầy đường thì giặc Pháp có hàng trăm kho thóc gạo khóa chặc và để mục Giờ đây những kho thóc

đó lại thuộc về tay của giặc Nhật, nguyên số gạo đã có 8 triệu 25 vạn tấn, hợp với những số gạo chúng nó cướp được của nhân dân ta từ trước, nên giặc Nhật chúng nó

có thể tha hồ phè phỡn Thế mà bọn chúng vẫn chưa thõa mãn và tọi nguyện với tội ác của chúng, chúng vẫn chưa hài lòng với con số chết đói của nhân dân ta Thực tế giặc Nhật bắt nộp hết số thóc còn lại của vụ tiếp theo ở các làng cho chúng, nhiều người trong nhà không còn hột thóc nào thì đã bị chúng bắt giam đầy ở các huyện để cho dân

ta nhịn ăn mà chờ chết Chúng còn hạ lệnh mỗi người chỉ được tích trữ 6 cân gạo trở xuống Tại thành phố, số gạo thường và xấu cũng bị rút bớt, và còn sẽ bị rút nữa, chúng rút cho đến hết Chúng bảo giới hạn gạo để bán cho dân đói kém Thực ra chúng

đã giải quyết nạn đói kém bằng cách đẩy rất nhiều kẻ ăn mày vùng Hải Phòng, Kiến

An, xuống sông cho chết bớt Bọn giặc Nhật không hề biết thương xót cho dân ta, chúng dùng những lối hết sức quỷ quyệt để vắt cho kỳ hết mau mủ của nhân dân ta, bọn Việt gian thân Nhật cố ý giết đồng bào, đang cổ động nhân dân ta ủng hộ cuộc chiến tranh ăn cướp của giặc Nhật, có nghĩa là khuyên dân ta vui lòng cho giặc Nhật bóc lột, vui lòng chịu chết đói cho giặc Nhật và phe lũ của chúng sung sướng Khi đẩy nhân dân ta vào địa ngục nhân gian và vấp phải sự chống cự quyết liệt của nhân dân ta thì bọn giặc Nhật đã dùng những thủ đoạn thâm độc hơn Nên chúng muốn lừa bịp nhân dân ta thì chúng phải bỏ lệ thu thóc tạ ở Trung Kỳ Chúng thừa biết Trung Kỳ là một xứ sản xuất ít thóc gạo Bỏ lệ thu thóc gạo ở Trung Kỳ, giặc Nhật không những không đau xót mấy, lại có thể nhân đó mà tô son vẽ phấn cho tượng đài Bảo Đại và bù nhìn Kim, hòng dùng bọn đó lừa gạt nhân dân ta Ở Bắc Kỳ, chúng biết nhân dân ta rất oán giận chính sách thu thóc tạ, nên chúng tuyên bố chỉ thu thóc của những điền chủ cấy trên 100 mẫu hay nếu không đủ, từ 50 mẫu trở lên là cùng Nhưng chúng nói một đằng nhưng làm một nẻo hay đúng hơn là chúng hai giọng, đó là thói quen của Pháp Những người có dưới 50 mẫu đang hí hững mừng thầm thì bỗng một lệnh mới đã làm cho họ rất thất vọng Khi báo chí hàng ngày đăng những nhà có từ 3 mẫu trở lên cũng phải bán thóc cho chính phủ hay cho các cơ quan thầu việc tiếp tế cho nhà binh, với cái giá là 120 đồng Ngoài Nông phố Ngân hàng được độc quyền thu thóc cho quân đội Nhật, không ai được buông hay tải gạo ngoài 50 cân Tin nhân dân được tự do được buôn bán gạo đã thành lời nói xuông Lệ bán gạo bông cho dân thành thị bị bãi

bỏ Trái lại, chính phủ Nhật đang cho in thêm hai tấn giấy bạc dự định cho Nông phố Ngân hàng đi mua vét hết gạo của nhân dân Rồi đẩy giá thóc gạo lại cao vọt Chỉ chết con nhà lao động hay là nhân dân làm ruộng Giặc Pháp tìm mọi cách quỷ quyệt giữ độc quyền thóc gạo và cướp thóc Song chúng vẫn không chắc thu đủ số thóc đã định Nên chúng gán cho mỗi tỉnh Bắc Kỳ phải thu một số thóc nhiều hơn số thóc phải nộp cho Pháp từ trước (ví dụ ở tỉnh Hải Dương phải nộp 4 vạn tấn thì đến nay phải nộp 5

Trang 23

vạn 1 nghìn tấn) Theo sự dự đoán của Túc mễ cục, số thu hoạch trong vụ sản xuất này kém vụ sản xuất năm vừa qua hơn 26% mà số thóc phải nộp cho Nhật lại nhiều hơn Người ta đòi tải gạo Nam Kỳ ra thì họ kiếm đủ cớ để thoái thác và tìm đủ cách để làm khó dễ Người họ no là đủ rồi, họ cố tình bỏ rơi mười mấy triệu dân Trung – Bắc Kỳ chết đói

- Về kinh tế, chúng chiếm tất cả các sở kinh tế của Pháp, in giấy bạc tung ra thị trường,

vơ vét nguyên liệu, hàng hóa, lương thực và trắng trợn tước đoạt tài sản của nhân dân ta; làm cho nền kinh tế của ta bị kiệt quệ, cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân điêu đứng, cùng quẫn Giá gạo ở Bắc Kỳ vào tháng 10 – 1944 còn là 150 đồng/ tạ, thì đến tháng 2 – 1945 đã là 1.000 đồng/ tạ Tình trạng đó đã dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm 1945, làm chết gần 2 triệu người

Việc bắt phá màu trồng đay cũng là nguyên nhân quan trọng gây nên nạn đói Vì nhu cầu phục vụ chiến tranh, Nhật đã bắt Pháp cưỡng ép nhân dân Việt Nam trồng các thứ cây có sợi và có dầu như đay, gai, bông và lạc, thầu dầu, vừng,… Theo thống kê của Pháp thì diện tích trồng các thứ cây trên, chủ yếu là đay, năm 1944 là 45.000 ha tức là gấp 9 lần diện tích trồng các thứ cây đó năm 1940 Nếu năm 1940 cũng chỉ trồng bằng năm 1940, tức 5.000 ha thôi thì nhân dân Bắc Kỳ còn dư ra 40.000 ha để trồng được 88.000 tấn khoai lang, giá trị bằng 64.000 tấn thóc, và nạn đói sẽ không đến nỗi trầm trọng như vậy

Nguyên nhân đay được chú ý trồng nhiều: Nhu cầu cấp thiết của bao tải đay Bao tải đay ở Đông Dương trước đây do Ấn Độ cung cấp, nhưng vào năm 1944 không nhập khẩu được của Ấn Độ nữa, nên việc phát triển ngành sản xuất đay ở đây là một vấn đề cấp thiết Bao tải đay dùng để chuyên chở vật tư trong Khối thịnh vượng chung Đông

Á, đang trở thành vấn đề thiết thực Vì vậy Nhật Bản đang cần nhiều vật tư ở nước ta (Đông Dương), khối lượng phải đạt tới 3 vạn tấn đay Ở Đông Dương đang có số lượng lên tới 500 tấn Nhật đưa lên 3 vạn tấn trong kế hoạch 5 năm Trong khi đó ở Đài Loan sản lượng đay là 1 vạn 2 nghìn tấn Nhật đã có kế hoạch tăng sản lượng lên 3 vạn tấn đay trong kế hoạch 5 năm Và Đông Dương là niềm hy vọng của Nhật Do đó,

sự mong đợi đối với nhà đương cục Đông Dương sẽ dừng lại ở mức độ cần thiết tối thiểu và phải tổ chức công ty khai thác đặc biệt (tạm gọi là công ty Đông Dương) Công ty này là công ty cổ phần được tổ chức do đại diện của người có thế lực trong xã hội được chính phủ Nhật Bản thừa nhận với tư cách pháp nhân Chủ trương độc quyền trong lĩnh vực sản xuất đay (khuyến khích trồng trọt, thu mua, chế biến, xuất nhập khẩu đay nguyên liệu và cung cấp phân phối trong phạm vi Đông Dương) dưới sự

Trang 24

quản lí của chính phủ Công ty đay Đông Dương, một trong những thủ phạm gây ra nạn đói Trong đó, 10 công ty đay của Nhật Bản độc quyền kinh doanh mặt hàng đay ở Đông Dương, thu mua đay của nông dân Việt Nam… Nói đúng hơn là bắt buộc nông dân Việt Nam trồng đay

Chính sách cưỡng bức trồng đay của Nhật: Công ty đay Đài Nam đảm nhiệm việc trồng đay ở tỉnh Bắc Ninh, một tỉnh phái Đông Bắc thành phố Hà Nội, mười công ty của Nhật Bản độc quyền việc trồng đay hình như không cạnh tranh nhau mà phân chia nhau từng tỉnh riêng biệt để bắt nông dân trồng rồi thu mua Toàn bộ tình hình phân chia giữa các công ty, theo bản báo cáo của đoàn điều tra tài nguyên Đông Dương thì

có nêu các tỉnh trồng đay chủ yếu lúc bấy giờ (năm 1939) là: Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hải Dương, Kiến An Tóm lại, vùng trồng đay là vùng châu thổ hình thành do hai con sông là sông Hồng và Thái Bình ở về phía đông Hà Nội Hình như cơ quan theo dõi việc cưỡng bức trồng và thu mua đay của các công ty là Ban Kinh tế Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội Đây cũng là nơi cung cấp tiền mặt để trả cho từng nông dân, đồng thời ra các thông tư, chỉ thị,… Hơn nữa, số tiền nông dân có được không phải là món tiền có thể để dành về sau, bởi vì chiến tranh càng gần tới ngày kết thúc thì giá trị đồng bạc Đông Dương càng giảm Để duy trì quân đội và sự thống trị của chúng, quân đội Nhật Bản đóng ở Đông Dương đã gây sức ép với chính quyền thực dân Pháp buộc Ngân hàng Đông Dương phải phát hành nhiều giấy bạc Do đó vật giá leo thang, nạn lạm phát thời chiến càng trầm trọng Không riêng gì đay, Nhật Bản tính toán đến cả việc ép nông dân bán gạo cho Nhật Có thể nói rằng chính Nhật Bản là kẻ thủ phạm đẩy nông dân Việt Nam vào nền kinh tế hỗn loạn thời chiến

Thực trạng trồng đay gây ra nạn đói: Ở Việt Nam cũng như ở Nhật Bản có nhiều dư luận nói rằng, Nhật bắt nông dân Việt Nam nhổ bỏ ngô để trồng đay là một trong những nguyên nhân gây ra vụ hai triệu người chết đói Cụ thể là việc Nhật bắt nông dân ta phá lúa trồng đay Nhiều nơi ở Thượng du, Tây bắt dân ta bỏ lúa trồng đay và trồng bông, để mùa mỗi xuất đinh phải nộp 1 cân sợi, người nào không nộp sẽ bị phạt nặng Ở Thái Bình vì dân thiếu gạo, phải bỏ đay để cấy lúa Tây bắt dân nhổ lúa mà trồng đay lại Ai không nghe thì bị bắt, hay ở Bắc Ninh hơn 300 mẫu ruộng đương giồng khoai bị Nhật bắt phá đi để lấy đất trồng đay cho chúng Đến vụ cấy lúa, đay chưa chặt được Nếu để thì mất mùa lúa, dân cày phá đi để cấy lúa thì bị Tây và Nhật phạt tù rất nặng và phải nộp đủ giá tiền 300 mẫu đay,…

Nạn đói ở Việt Nam năm 1945 do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra là một thảm họa có một không hai trong lịch sử dân tộc ta, từng được cả nhân loại quan tâm Trong Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Mùa Thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó dân ta chịu cảnh hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta

bị chết đói”

Trang 25

Chú thích:

1,2 Trích, Việt Nam từ 1930 đến nay, tr 30,35

3 Trích, Qua những chặng đường dựng nước, giữ nước, đổi mới và xây dựng đất

nước, tr 24

4 Trích, Hồ Chí Minh tiểu sử, tr 359

5 Trích, Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam những chứng tích lịch sử, tr 601

Trang 26

có tất cả 28 nhân khẩu Tất cả những thứ có thể bán được để cứu đói thì cả dòng họ đều bán sạch, bán hết đất ruộng, bán đồ đạc trong nhà… không còn gì để bán thậm chí

có gia đình bán cả cái nhà gồm 5 - 6 gian nhà tre và 10 thước đất cuối cùng để cấm dùi

mà chỉ được có 16 chén gạo để cả gia đình chống đói Nhưng cuối cùng cả dòng họ không chống lại được nạn đói khủng khiếp và số phận nghiệt ngã nên đã chết sạch không còn ai Khủng khiếp hơn nữa là có những trường hợp chết đói mà không ai biết, thối ra chuột bọ ăn thịt Đói đến nỗi cả những gia đình khá giả cũng phải chết đói, còn những gia đình nghèo khổ thì hiếm được thoát khỏi1 Tất cả những trường hợp chết đói thật đáng thương tâm Như nhà ông Bùi Văn Dị có 2 vợ chồng, 2 đứa con, chỉ có 1 suất đinh ruộng công mà cho người ta cấy thuê, cả nhà đi làm thuê (vì không có tiền thuê trâu cày để cấy ruộng) cứ hết màu là phải chịu cảnh hết gạo và bị đói rách Năm

1944, do mất mùa và bị đói rất nặng nên phải bán cả nhà và 1 sào đất nhưng chỉ có được 200 đồng thì trừ nợ hết 100 đồng, còn 100 đồng chia đôi, vợ 50 đồng, chồng 50 đồng rồi chia nhau ra tự tìm kế sinh nhai Ông bố dẫn đứa con trai đi Hà Nội nhưng cuối cùng cũng chết Còn bà vợ cùng đứa con còn lại về quê ngoại nương tựa nhưng người con gái vẫn không thoát chết do bị đói rồi suy dinh dưỡng, bụng phình to trướng lên rồi chết rất đáng thương Hay những gia đình khác như: gia đình của cụ Hoàng Văn Duẩn có 5 khẩu chỉ đi làm thuê, mò cua bắt ốc, chết đói cả nhà, gia đình người em

là Hoàng Riếc, chồng đi đánh dậm, vợ mò cua, cả nhà có 5 khẩu cũng chết hết cả nhà… Hai anh em nhà này thuộc vào những người chết xớm nhất ở địa phương Trong thời gian nạn đói xảy ra, cuộc sống hàng ngày của nhân dân thật hết sức khó khăn, hàng ngày họ phải ăn cháo cám, mà cám cũng không phải nguyên chất mà còn phải pha mùn cửa Không chỉ thế, họ còn ăn tất cả những gì họ tìm thấy và có thể ăn được, thật đáng thương và thảm khóc Nạn đói ở Thái Bình kéo dài suốt 7 tháng từ đầu năm

1945, nghiêm trọng nhất là từ tháng 3 đến tháng 6 và kéo dài đến tháng 7 Trong thời gian này, có khá nhiều người chết ở địa phương Những người còn sống thì kéo nhau

ra chợ, đường cái, các chợ (chợ Bo), thị trấn và các vùng khác, miễn là có thể tìm ra miếng ăn, nhưng đại bộ phận họ cũng chết tha phương Họ chết không kịp chôn, ruồi

bọ, kiến, chim muông đến rỉa xác thối rữa Việc chôn người chết đói trông vào những người tuần đinh được thuê Bụng họ cũng đói meo, sức lực cũng cạn kiệt, chỉ có thể

Trang 27

đào hố nông, kéo người chết ào xuống, có nguồi còn sống vẫn bị chôn luôn Còn ở gần biển, người chôn cào xác người chết đói ra biển làm mồi cho cá ăn

Thực tế nạn đói xảy ra ở Thái Bình thật đau thương, thời kỳ này toàn tỉnh Thái Bình có

28 vạn dân, chiếm 25% dân số toàn tỉnh Chết nhiều nhất ở huyện Kiến Xương, rồi đến Tiền Hải, Vủ Thư, Thư Trì, Thái Ninh, cuối cùng là Đông Hưng, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Hưng Hà, Thái Thụy Có làng chết đến 45%, thậm chí có làng tới 70%, như làng Thượng Tầm, bây giờ là xã Đông Hoàng, 4.000 dân chết đến 2.000 dân; làng Thượng Thọ có 1.205 người chết đến 956 người (tỷ lệ là 76,48%); làng Thanh Nê có 4.164 người chết đến 1.854 người; xã An Ninh có 5.500 người chết đến 2.500 người (trên 45%); xã Trà Giang có 3.000 người chết đên 1.000 người (trên 30%); xã Đông Hoàng

có 4.000 người chết đến 2.000 người (chiếm đến 50%); xã Sơn Thọ có 1.205 người chết đến 956 người (chiếm đến 79%); xã Tây Ninh có 3.624 người chết đến 1.812 người (chiếm đến 50%); xã Hồng Việt có 2.950 người chết đến 1.336 người (chiếm đến 45%),…Trong số những xã trên có những gia đình chết hết cả nhà như ở xã Tây Ninh có 171 gia đình chết hết cả nhà Ngoài ra, ở xã Nam Cao có 2 thôn: Nam Đường

và Cao Bảng Ở Nam Đường chết đến 545 người, trong đó có 52 gia đình chết hết Còn ở thôn Cao Bảng chết đến 702 người trong đó có 58 gia đình chết hết Toàn xã có 4.256 người chết đến 1.217 người (chiếm đến 28%), trong đó có 108 gia đình chết hết Còn ở xã An Quý có tất cả là 308 người chết đói trong đó có đến 18 gia đình chết hết… Rất nhiều xã có hoàn cảnh như thế thật thê thảm

2.1.2 Nam Định

Nam Định là một tỉnh đồng bằng trù phú Dân số đông nhất các tỉnh miền Bắc: Năm 1943 với số dân là 1.233.400 người Về kinh tế, thì ngoài nông nghiệp là ngành mưu sinh chính thì Nam Định còn có vùng biển Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Xuân Thủy mà một số dân cư sống bằng ngư nghiệp và làm mắm muối Làng Đồng Côi có tất cả là

360 mẫu ruộng, trừ thổ cư, để giữ nước và các bãi tha ma… nên ruộng đất canh tác còn rất ít còn khoảng ít hơn 300 mẫu Cuộc sống của nhân dân làng Đồng Côi rất khó khăn, làng Đồng Côi có khoảng 1.400 nhân khẩu và với tổng cộng khoảng 2260 suất đinh Ruộng cày cấy phần lớn tập trung trong tay của các địa chủ lớn Nên năm 1945, khi nạn đói nổ ra và hoành hành khắp nơi trên đất nước ta Thì ở làng Đồng Côi lại càng khủng khiếp hơn, cướp đi nhiều sinh mạng của nhân dân ta Đường vắng hẳn bóng người đi, lò tắt lửa, phần còn lại không có tay nghề đành phải phiêu bạc khắp nơi Còn những gia đình thợ thủ công vẫn sống bám vào ruộng đất Nhưng ruộng đất vốn đã quá ít, bạc màu, không tươi tốt nên lại phải chịu cảnh mất mùa liên tiếp, thóc gạo lại ngày càng khan hiếm Đó là do những chính sách thu vét của bọn thực dân Pháp – Nhật Chúng không chỉ vơ vét thóc gạo mà còn lên giá thóc gạo và nạn lạm phát, nên nạn đói diễn ra rất trầm trọng và thật tế của nạn đói ở làng Đồng Côi được thống kê như sau

Đồng Côi Thực trạng

Trang 28

Số người chết tính theo nghề nghiệp:

Hoạt động kinh tế chính Số gia đình Số người chết

họ phải dành dụm tất cả để có thể ăn trong cả một năm dài Ngoài ra, dân Tây Yên còn kiếm kế sinh nhai bằng tất cả các nghề có thể làm như: kiếm củi, làm thuê, mò cua bắt

ốc ở các đầm ngòi… thậm chí có một số người còn đi tha phương cầu thực Theo cụ Nguyễn Văn Ngẫu, cụ Tiệc, cụ Viễn cho biết: vào tháng 8 năm 1944, bị nạn lụt rất lớn chưa từng thấy trước đây Nước ngập cao lên đến mái nhà Đồng ruộng, hoa màu bị ngập lụt trong thời gian dài nên bị hư úng hết sạch Không chỉ thế vừa bớt lũ thì một cơn bão rất lớn ập đến Do mất mùa, thóc gạo lại rất khan hiếm Những nhà giàu phải gánh thóc đi bán cho Nhật theo đầu sào Theo cụ Ninh Văn Bính cho biết: năm ấy Tuần phủ sức giấy về bắt nhân dân ta bán thóc cho Nhật mỗi sào 10 kg trở lên Người bán còn phải tự mình gánh xuống chợ Sanh, chợ Bút bán cho Nhật với giá rất rẻ số tiền bán được đó chỉ có thể đủ cho việc chuyên chở Số thóc thu mua được của nhân dân ta được đưa xuống tàu chở đi theo đường sông cho Nhật Không chỉ thế mà nhà nào mà không bán hoặc chậm trễ thì bọn tổng lý, kỳ hào bắt trối ở cột đình Khi nào vợ con thuê người gánh thóc đi bán đủ mới được tha về2 Vì vậy, mà nhiều nhà đã bán ruộng, bán đồ lấy tiền đong thóc đắt để bán rẻ cho Nhật – Pháp Vì thế, do đất đai ít, bạc màu, sản xuất kém hiệu quả, lại phải gặp thiên tai mất mùa cùng với đủ thứ thuế

hà khắc của bọn địa chủ độc ác Tồi tệ hơn là người dân còn phải gánh chịu thêm những chính sách hết sức vô lý và tàn ác của bon thực dân Pháp – Nhật là thu vét thóc

Trang 29

gạo, lại bắt dân ta nhổ màu trồng đay… Vì vậy, đời sống của nhân dân ta rất khó khăn

và điêu đứng Nên khi nạn đói ập đến là không thể tránh khỏi Trong tình hình kinh tế kiệt quệ như vậy thì xảy ra nạn đói, không sao kiếm ra thóc gạo để cứu đói được và phải chịu thảm cảnh của nạn đói gây ra, và hậu quả của nạn đói được thống kê qua số liệu dưới đây

Số người chết tính theo nghề nghiệp:

Hoạt động kinh tế chính Số gia đình Số người chết

ở đây có tất cả khoảng 336 mẫu ruộng, trong đó có 49 mẫu ruộng công điền, còn lại tất

cả là ruộng tư điền và phần lớn số đất đai đó tập trung vào tay của một số địa chủ lớn

và những gia đình khá giả Bỉnh Trung nằm trong vùng chiêm trũng, nước ngập quanh năm Cuộc sống của nhân dân ta ở đây rất nghèo nàn, cực khổ, nguồn sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, nhưng cũng chỉ có thể cấy được một vụ Bình quân ruộng đất của mỗi suất đinh có chỉ là 1 sào/ người Sản lượng bình quân của sản xuất rất thấp khoảng 30 – 40 kg/sào Đời sống của nhân dân ta đã rất khó khăn và điêu đứng Thóc gạo không có ăn, ăn đói đi đôi với cái rét cắt da cắt thịt, áo quần thì rách rưới thậm chí

có người còn không có một mãnh vải che thân, phải mặc đùm mặc rách, có người còn phải mặc cả bao tải Hậu quả, là đã làm cho rất nhiều người phải chết Nạn đói xảy ra

Trang 30

từ tháng Một đến giáp tháng Tư ta Bỉnh Trung có 6 xóm Trong đó xóm Vòng Hoàng

là chết đói nhiều nhất Trong số những gia đình của Bỉnh Trung thì có đến 13 gia đình chết không còn một ai trong tổng số 44 gia đình Đại bộ phận người dân xóm Bãi Hoàng và Vòng Hoàng không có ruộng vườn, còn gọi là xóm “bạch đình”, không có lúa thóc gì để dự trữ Ở thôn Bỉnh Trung, gần như nhà nào cũng có người chết đói, trong tổng số 336 hộ gia đình thì có tới 331 hộ gia đình có người chết do đói Hậu quả của nạn đói gây ra thật quá lớn và quá khủng khiếp Có những trường hợp người chết thật thê thảm và ghê sợ như có người chết vì quá nghèo, nghèo đến nỗi không có ván

gỗ để chôn cất người thân của họ đã chết, chỉ có thể bó chiếu hoặc bó giát, khó khăn đến nỗi không có điều kiện mang người chết ra nghĩa trang mà phải chôn tạm đâu đó qua loa cho xong việc, có thể chôn ngay vệ đường hay bất cứ đâu có thể trong rất thảm khốc Lúc bấy giờ ở đấy có 50 gia đình, mà trong số đó có tới 4 – 5 gia đình tương đối một tí tức là khá giả một tí cũng chỉ có thể có một bữa ăn nhưng rất thiếu thốn để qua ngày Họ phải rang thóc lên rồi giã thành thính mà chia cho nhau ăn chứ không được

ăn cơm hay cháo Còn đại bộ phận người còn lại thì họ cắt khoai ngứa rồi thái ra đem

đi nấu cháo chia cho nhau ăn mà vượt qua đau khổ do cơn đói hoành hành Nhưng những cách đó cũng không giải quyết được cơn đói đang hoành hang dữ dội, đói quá

và vào tháng 3 ngô đang có bắp, bẻ ngô còn non ăn trước, có gia đình đói quá không

có bắp hay ăn hết bắp non phải tước như mía mà ăn cho đỡ đói; mất mùa lúa thóc kém càng làm cho tình hình xấu và trầm trọng hơn Có những trường hợp chết rất thương tâm là trường hợp của cô Tự, cô ấy chết lúc lúa đã nặng bông và sắp chín Cô ta rúc vào giang buồng hàng xóm chứa rạ chết trong đó mà không ai hay biết gì cả, đến khi

có mùi thối bốc lên, rồi ruồi nhặng bò khắp nơi thì người ta mới biết, rồi mang xác cô

ta chôn ngay vệ đường thật thê thảm Hay có những gia đình chết gần hết hoặc hết cả nhà như gia đình của ông cụ Chữ, gia đình ông Thùy có 8 – 9 người mà tất cả đều chết hết Gia đình cụ Vĩnh bán nhà được có hơn 2 thúng thóc rồi cũng chết sạch cả nhà Từ trung tuần tháng Giêng đến giáp tháng Tư, không có ngày nào mà không có người chết đói, không chỉ có người ở làng này chết không mà còn có những người ở nơi khác đến

ăn xin cũng chết ở đây rất nhiều, họ đi ăn xin ở ngoài đường, chợ rồi chết đói tại nơi

đó Có những hoàn cảnh chết rất đau xót nhưng không bằng những cảnh người chết rồi

mà những người còn sống không biết trông đợi vào ai như hoàn cảnh của gia đình bà Khuất, ông bà đã chết rồi, nhưng những đứa con nhỏ dại đâu biết gì cứ bò quanh quẩn thân xác của cha mẹ mà khóc la thảm thiết, chúng cố tìm vú mẹ để bú vì quá đói nhưng không còn gì ngoài da xương lạnh buốt của người mẹ và đau xót nhất là cuối cùng thì chúng cũng chết theo bố mẹ Không chỉ thế, đau khổ vì đói rách là quá sức chịu đựng của người dân ở Bỉnh Trung rồi, vậy mà họ còn phải gánh chịu nhiều nỗi đau khác thật thê thảm và tàn ác của bọn cầm quyền độc ác Bọn địa chủ cường hào phong kiến bắt nhân dân ta chân thì chúng đóng cùm, tay thì chúng kẹp Cái kẹp là mảnh tre già chẻ 2 cạnh buộc một đầu lại, rồi đút tay vào buộc lại, kẹp dù không đức tay nhưng nỗi đau thì thấu trời xanh, rất là đau và đó là những hình phạt cho những người không có tiền mà nộp sưu, nộp thuế cho chúng Năm 1945 rét rất dữ dội, cộng với cái đói khủng khiếp hành hạ thì dân ta khổ cực vô cùng Có người đang ăn chiếc bánh, thì người đứng ở sau cướp bỏ vào miệng ăn thật nhanh, hay có người ra chợ ăn

Trang 31

cắp một nắm cám bỏ ngay vào miệng ăn mà sặc sụa rất đáng thương Ăn đói, mặc rách, đói rét nên chết rất nhiều người, người ăn xin không có tắm rữa nên lắm bọ rận

bò lổm ngổn: Người chết rồi, tóc xõa ra mà bọ rận cứ bò đầy quanh xác Mẹ chết rồi,

mà con cứ bò quanh tìm vú mẹ mà bú, bú mãi nhưng không có gì rồi cuối cùng đứa bé cũng chết, hai mẹ con chết cùng một chỗ3 Khi đói người dân ăn tất cả những gì có thể

ăn mong có thể giúp họ vượt qua cơn đói Họ ăn đến nỗi mà cây râm bụt, rau má, lá súng, củ chuối,… cũng không còn nữa Có nhà quấy cháo với lá sung lúc ban đầu nấu lên cũng thấy rất ngon, dẻo vì quá đói, nhưng thật ra với họ thứ đó cũng không bằng cám heo ăn Những cảnh đói có thể nói là “cha bỏ con, tớ bỏ thầy” Có nhà đói vài ba ngày không được một tí hồ cháo nào, thậm chí có làm được bác cháo cũng bị người ta

ăn trộm hết vì ở đây gần sông nên trộm cắp rất nhiều do “bằng cùng sinh đạo tặc” Nhiều người chết đến nổi, đi một quãng ngắn đường lại có người chết đói nằm ngay trên đường, chết nhiều đến nổi không có ai chôn, gây nên ô nhiễm môi trường, ruồi nhặng nhiều vô số kể, nó bu đen xì cả xác người chết, cỏ mọc ngập đầu, hoang vu, chết đến nỗi xóm làng vắng hẳn bóng người, rất âm u và đáng sợ Có ăn nhưng ăn lộn xộn không có dinh dương gì đói quá cũng lăn ra chết rất nhiều, chết ngay trong nhà cũng có mà chết ở ngoài đường hay bất cứ đâu cũng có

Có phát chẩn nhưng rất ít, mỗi người chỉ được có một chén lưng lưng, thậm chí người đến sau cũng phải chịu cảnh đói tiếp tục vì hết cháo Đói quá có người nhai sống thóc, không đợi được đem về nhà mà rang Có những anh em nhà nghèo nên tổ chức đi ăn cướp của nhà giàu, nhưng cũng không được nhiều, ngay ở những nơi đầu cầu hay xóm chợ có tổ chức ăn cướp, đã đường cùng rồi thì họ không còn sợ gì nữa hết, kể cả cái chết như trường hợp ông Bồi đi nhổ trộm mạ để đem ra chợ bán nhưng bị phát hiện và

bị người ta đánh cho đến chết rất thương tâm Hay ở ngoài chợ có người khá giả đang

ăn bánh, người nghèo đói cướp giật bánh ăn mà cũng bị người ta đánh đến chết, có người chết ngay tại chổ cũng có người về nhà rồi sinh bệnh mà chết thật đáng câm thù chỉ vì cái bánh nhỏ bé mà đánh đổi cả sinh mạng một con người Có những lần phát chẩn chỗ hai bên bờ đê, trương tuần, phó lý họ bốc, còn những dân nghèo phải xếp hàng mà chìa nón van xin miếng ăn, có được bao nhiêu thóc, họ về bỏ vào mảnh bát

vỡ, nồi đất mà rang lên, rồi giã lấy vỏ xúc cho con cháu ăn thật thê thảm Đó là những hoàn cảnh cũng như những cái chết hết sức thương tâm mà nạn đói đem lại dưới sự tàn

ác của bọn thực dân cướp nước đáng câm thù Những thiệt hại đó về người mà Bỉnh Trung phải chịu thì đã được cụ thể hóa bằng những số liệu rất đỗi đau thương và khủng khiếp dưới đây

Thôn Bỉnh Trung Thực trạng

Số người chết tính theo nghề nghiệp:

Trang 32

Hoạt động kinh tế chính Số gia đình Số người chết

Xã Phương Thông Thực trạng

Trang 33

Số người chết tính theo nghề nghiệp:

Hoạt động kinh tế chính Số gia đình Số người chết

Tứ Lộc cũng trở thành một nắm mồ với số người chết đói trên 15.000 người Điển hình là xã Tân Kỳ và Hà Thành chết đói lên trên 20% trên tổng số dân… Các xã Nguyên Giáp, Tiên Động, Tân Tiến chết đói trên 16% dân số Riêng Tiên Động, có

426 người chết đói, trong đó có 47 gia đình chết đói hết cả nhà (chiếm tỷ lệ số người chết đói là 17,2% dân số toàn xã) Hay xóm Đáy và thôn Hòa Nhuệ chết đói gần hết, không hộ nào là không có người chết đói, còn số ít người sống xót phải đi tha phương cầu thực, ăn xin, ăn mày mà kiếm sống Sau năm 1945, xóm Đáy (Hòa Nhuệ) coi như

đã bị xóa sổ Xã Tân Kỳ chết đói cũng rất nhiều, với tổng số người chết đói lên tới 252/ 3.576 người (chiếm tỷ lệ là 7% dân số), xã Quang Phục cũng chết đói không kém,

số người chết đói lên tới 716/4.769 người (chiếm tỷ lệ là 15% dân số) Nói đến sự tổn thất về người nhiều nhất thì phải kể đến thôn Nhũ Tỉnh (huyện Tứ Kỳ) Thôn Nhũ Tỉnh xưa là xã Nhũ Tỉnh, tổng Mạc Xá, Phủ Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Thời Nhật – Pháp thống trị, xã Nhũ Tỉnh gồm hai thôn (thôn Sói và thôn Nhũ), chia làm 7 xóm: xóm Thượng, xóm Bắc, xóm Tây, xóm Trung, xóm Đông, xóm Nam, xóm Xuân có 16 dòng họ Nhũ Tỉnh ngày xưa thuộc về xã Quang Khải, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Hưng, bốn bề là sông bao bọc, phía Đông giáp Vũ Xá, Minh Đức, phía Tây giáp sông Nhũ và

xã Quyết Thắng, phía Bắc giáp Đồng Quang, chiều dài 3 km, chiều rộng 1 km Diện

Trang 34

tích tự nhiên là: 867 mẫu 9 sào 13 thước, trong đó có 723 mẫu 6 sào canh tác (chủ yếu

là cấy lúa), nhưng cũng chỉ cấy được một vụ lúa, còn vụ mùa cấy được cũng rất bấp bênh chứ không được ổn định Trong tổng số 723 mẫu 6 sào canh tác lúa thì công điền chỉ có 130 mẫu, chiếm tỷ lệ là 17,96% Tổng diện tích canh tác của địa chủ và phú nông chiếm tới 220 mẫu 5 sào/723 mẫu 6 sào và chiếm tỷ lệ là 30,47% tổng số diện tích đất canh tác Tầng lớp trung nông trở xuống đến cố nông chỉ có 310 mẫu/ 723 mẫu 6 sào và chiếm tỷ lệ là 42,84% tổng diện tích canh tác, còn tuyệt đại đa số dân cư còn lại là đi làm thuê, làm mướn cho địa chủ hay những gia đình giàu có để kiếm sống qua ngày Vào thời điểm năm 1944 và 1945, Nhật – Pháp cai trị nước ta, chúng ra sức

vơ vét của cải của nông dân đủ mọi thứ Nào là thuế thân, thu thóc mà giá thóc lúc bấy giờ là 3 hào – 4 hào một thúng (1 thúng khoảng 20 kg) Một suất đinh phải nộp tương đương với 6 đến 7 thúng thóc như thế cho bọn chúng Ngoài ra, thuế điền cũng rất nặng nề, 1 mẫu ruộng phải nộp 250 kg/năm (ruộng lúa nhất đẳng cũng chi thu có 80 kg/sào, nhưng phải nộp 25 kg/sào, chiếm 31,25% sản phẩm thu được) Người nông dân phải làm đầu tắt mặt tối suốt 6 tháng trời mới thu được chỉ 80 kg/sào thì đã phải nộp cho bọn chúng tới 25 kg/sào chiếm 31,25% sản phẩm Năm 1944, xã Nhũ Tỉnh phải nộp thuế điền là 197 tấn thóc Tuyệt đại đa số là nông dân nghèo khổ, làm không

đủ ăn lại còn phải chịu cảnh sưu cao, thuế nặng Trong khi đó, địa chủ, cường hào vâng theo lệnh của quan Tây, quan Nhật, vơ vét, ức hiếp nhân dân ta, tịch thu thóc, ngô, khoai để đưa sang đồn (quận) đưa vào kho thóc nhưng chúng để đó đến nỗi mọt đụt hoặc cho ngựa ăn, chứ không cứu dân ta thoát đói, nên đã dẫn đến thảm họa chết đói, chết do bệnh dịch khủng khiếp vào năm 1945 Hậu quả của nó vô cùng lớn, làm cho rất nhiều người đau khổ vì đói và cuối cùng cũng phải cắn răng mà chết Như có gia đình có đến 7 – 9 người bị chết đói, thậm chí có trường hợp chết cả nhà như gia đình của ông Vũ Văn Ôm (xóm Thượng), ông Vũ Văn Phướn (xóm Bắc), ông Vũ Văn Thoản (xóm Bắc), ông Nguyễn Văn Bàn (xóm Nam),… Anh Vũ Văn Thận đi chợ ăn xin, cướp được nắm cám để ăn vì quá đói, nhưng đi về được nửa đường cũng đã lăn ra chết Có người đói quá, đến các đống vỏ ốc bên góc chợ, ruồi nhặng đã bu đầy, nhưng

họ bới đống ốc đó lên để kiếm từng vỏ ốc để cắn, mút, nhưng không có gì nhiều và cuối cùng thì tất cả họ cũng lăn ra chết vì đói quá Có người chết đói bên lề đường đến hai ba ngày mà không ai hay và đến khi phát hiện ra thì thân xác đã thối rữa và những người khác dùng dây thừng tròng vào cổ lôi đi chôn, như bà Ngảng, ông Phảng trông cảnh tượng đó mà đầy xót xa và đáng sợ Trong xã có tới 160 hộ gia đình/500 hộ gia đình (chiếm 32% số hộ trong xã) có người bị chết do đói, trong đó có tới 56 hộ gia đình/500 hộ gia đình (chiếm11,2% số hộ trong xã) chết đói hết cả nhà Một số người đói quá phải bỏ quê hương đi tha phương cầu thực, đi làm thuê cho các đồn điền cao

su, ra những hầm mỏ làm mướn… để kiếm sống với những hy vọng nhỏ nhoi là có thể sống được qua ngày, nhưng tất cả họ đều chết ở những nơi đó hoặc mất tích không bao giờ trở về quê hương nữa Có những bà mẹ đã chết vì quá đói, những đứa con nhỏ không biết gì vẫn còn nằm trên người mẹ mà tìm vú để bú mong tìm được những giọt sữa để qua cơn đói nhưng không bao giờ có và cuối cùng những đứa trẻ đó cũng chết (như mẹ con bà Hiệu) Với những thảm cảnh như vậy thì quả là nạn đói quá khủng

Trang 35

khiếp và đáng sợ, hậu quả của nạn đói đã được cụ thể bằng những số liệu thật hải hùng dưới đây

Thôn Nhũ Tỉnh Thực trạng

(Trích, Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam những chứng tích lịch sử, tr 381)

2.2 Các đô thị và vùng ven đô thị ở Bắc Bộ

111 (chiếm tỷ lệ là 45,10% số hộ có người chết) gia đình có nạn nhân chết do nạn đói

và được thống kê như sau5

Thôn Cam Thôn Hội Thôn Vàng Tổng cộng

Trang 36

trong các hộ

đó

Số hộ bị chết

Số người chết tính theo nghề nghiệp:

Hoạt đông kinh tế chính Số gia đình Số người chết

930 nhân khẩu Khu 6 có 167 gia đình và có tất cả 870 nhân khẩu Trước Cách mạng,

ở Tiền Phong có 22 gia đình địa chủ họ chiếm tới 2% dân số và chiếm tới 63% ruộng đất của xã Do đó nông dân rất ít đất sản xuất Trước Cách mạng, gần một nửa số hộ trong thôn làm nghề nhặt phân rơi bán kiếm tiền Ngoài ra họ cũng có làm ruộng nhưng rất ít, họ còn làm nhiều nghề khác để mưu sinh như: làm thuê, mò cua bắt ốc, hay có những trường hợp đi tha phương cầu thực, đi mót ngô, khoai nhưng tất cả đều phải chịu chung một cảnh sống cơ cực và thê thảm Cả thôn chỉ có bảy mái nhà ngói của 3 nhà có người đi lính Tây, còn lại là của các nhà khá giả Vào những năm 1944 –

1945, ở thôn Do Nhân Hạ có khoảng hơn 100 gia đình và có tất cả 500 nhân khẩu Năm 1945, xã Tiền Phong có 4.675 người, những nạn đói đã cướp mất 549 người (chiếm 1/8 dân số) Nạn đói đã cướp đi của thôn Do Nhân Hạ rất nhiều người và được thống kê như sau6

Số người thiếu sưu

thuế phải bán nhà

– tù tội

(chiếm tỷ lệ là 7,00%)

Số người bị bắt đi

Trang 37

điền cao su

Số người chết tính theo nghề nghiệp:

Hoạt đông kinh tế chính Số gia đình Số người chết

bị gánh chịu hậu quả của nạn đói nặng nề nhất và thảm khóc nhất đó là thôn Quần Mục (xã Đại Hợp, huyện Kiến Thủy) và thôn Chi Lai (xã Trường Thanh, huyện An Lão) Về kinh tế, thì đa số dân cư ở hai thôn này đều làm nông nghiệp Ngoài ra, họ cũng làm tất cả những gì có thể nuôi sống họ Nhưng điểm chung ở họ là cuộc sống của họ hết sức khó khăn nên nạn đói ập đến là họ phải gánh chịu mà không có cách nào cứu vãn được

- Thôn Quần Mục

Thôn Quần Mục có tổng cộng 660 gia đình và có tất cả là 9.244 nhân khẩu Trong

đó, có 160 gia đình với tổng cộng là 684 nhân khẩu chuyên làm ruộng Đất canh tác có tất cả là 85 mẫu Bắc Bộ Với 491 gia đình gồm 2.370 nhân khẩu sống bằng nghề đánh bắt tôm cá biển, buôn bán và làm thủ công Ngoài những nghề tiêu biểu trên thì nhân dân ở đây còn làm nhiều nghề để sinh sống như: làm thuê đội đất đá, làm thuê, làm thầy thuốc,…

Nên thực tế khi nạn đói xảy ra thật khủng khiếp và hết sức đau thương Có rất nhiều người chết đói với những hoàn cảnh rất thảm thương và khủng khiếp Như ông Ngô Quang Phong năm 1945 ông làm nghề chở xe ngựa thuê cho chủ, ông cho biết người chết đói rất nhiều, những nhà chết hết hoặc những người chết không còn thân nhân, những xác chết ngoài đường, ngoài chợ… lý dịch phải thuê xe, thuê người nhặt xác đem ra bãi tha ma Thật hết sức thương tâm, có người còn chưa chết hẳn, nhưng không nói được không có thể thốt lên một lời vì họ đã quá đói và không còn sức lực nữa, không cử động được nữa cũng bị bóc lên xe mang ra bãi và đẩy cả xuống hố chôn hết Đau xót nhất là trường hợp: Một lần nọ, có người còn nói chuyện được, lúc đó ông Phong đang ngồi trên xe còn nghe thấy giọng nói yếu ớt từ trong mấy xác chết ở thùng

Trang 38

xe rên rỉ “Tôi vẫn còn sống, đừng vứt tôi ra bãi” Nhưng khi chiếc xe chở người chết

và người còn sống đó ra đến bãi tha ma thì người đó không còn sống nữa cuối cùng người đó cũng chết vì đói và đành phải nằm yên với những cảnh đời đau thương như nhau7 Đối với những hố chôn tập thể hay những bãi tha ma, thì thật lớn và rất ghê tởm, vì có những nơi số người chết được chôn chung với nhau lên đến mấy trăm người Có những bãi tha ma rất đáng sợ như có bãi tha ma có tất cả là 207 bộ hài cốt

đó là những người chết do nạn đói gây ra Những hài cốt đó nằm chung một hố nhưng chỉ được vùi lấp qua loa, hoặc là những hài cốt ở các tư thế nằm sấp, nghiêng, ngồi co vấp không được chôn cất theo nghi thức bình thường Có không ít những hài cốt vẫn còn cả sợi dây thép dùng để kéo xác người chết mà lôi quẳng ra những bãi tha ma Nạn đói không từ ai cả ai nó cũng hành hạ và đày đọa, cái chết đến thật là khủng khiếp và đáng sợ, có rất nhiều người chết, thậm chí có những gia đình chết hết không còn một

ai như nhà ông Vông có đến 6 người nhưng chết hết cả 6, nhà ông Nhân có 7 người chết hết cả 7 Nhà ông Hàm, nhà bà Bản, nhà bà Cường mỗi nhà có 5 người nhưng đều chết hết Nhà ông Nguyễn Văn Lừng chết 5 người, riêng ông và cha ông còn sống là nhờ bỏ làng đi và làm thuê cho Nhật ở sân bay mới thoát được cái nạn đói tàn ác đó Trong và sau nạn đói ở những làng đó vơi vắng hẳn đi bóng người, rất ít nhà không có người chết đói Những người sống xót cũng không ra hình người, không còn sức lực

để lao động, để đi biển hay làm gì khác Trong làng người rất thưa thớt, ngoài mặt biển không một bóng thuyền Có những người cho biết những đêm do quá vắng lặng cùng bầu không khí ảm đạm, nên họ rất lo sợ và đâm ra không ngủ được, thậm chí họ rất mong được nghe một tiếng chó sủa mà cũng không bao giờ có Như lời của bà Ngô Thị Toan là sau Tết năm 1945 bà cứ nghĩ làng này chắc có lẽ là sẽ chết hết Số người chết mỗi ngày một nhiều, những người chết trước còn được chôn cất tử tế Sau chết nhiều quá, rồi người sống cũng kiệt dần không còn sức đâu mà đào huyệt nửa Những người chết chỉ được bó chiếu và vùi lấp qua loa mà thôi… Đúng là nạn đói đã cướp đi rất nhiều sinh mạng của những người dân vô tội và những cái chết thật thảm thương đến đáng căm phẩn Với thực tế như thế thì số người chết ở Quần Mục được thống như sau

Trang 39

Số người chết tính theo nghề nghiệp:

Hoạt động kinh tế chính Số gia đình Số người chết

(Trích, Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam những chứng tích lịch sử, tr 143)

- Thôn Chi Lai

Thôn Chi Lai thuộc xã Trường Thành, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân số Chi Lai có khoảng 350 người, sống chính nhờ sản xuất nông nghiệp Các nghề phụ khác như là nghề đục đá, bắt tôm cá, làm thuê,… Làng không có ruộng công Có khoảng 100 mẫu tư điền, quá nửa chỉ cấy được một vụ, lại bấp bênh do không có đê ngăn nước mặn tràn vào Do tình trạng kinh tế khó khăn như thế nên cuộc sống của nhân dân rất khó khăn và điêu đứng Vì thế khi nạn đói ập đến thì hậu quả quả là không ai đoán trước được và tình hình của nạn đói diễn ra ở Chi Lai hết sức nghiêm trọng và được thống kê như sau

Số người chết tính theo nghề nghiệp:

Hoạt động kinh tế chính Số gia đình Số người chết

Trang 40

có ruộng Lúc bấy giờ, La Khê có khoảng 2.100 người dân, nhưng phải bị chết đói đến 1.200 người (chiếm tỷ lệ khoảng 57% dân số) Có xóm chết gần hết, họ Bạch chết hết chỉ còn có vài người Một số nhà giàu có cũng phải chịu cảnh đói kém đến nổi họ phải bán luôn đi cái sập gụ, tủ chè rồi đến cả nhà cửa nhưng cuối cùng họ cũng phải lâm vào tình cảnh chết đói hàng loạt Nhiều gia đình còn phải bỏ làng ra ngoài thành phố kiếm ăn hay đi tha phương La Khê vốn là một làng dệt cổ truyền, sau thời kỳ phát đạt nhất là những năm 1930 – 1940, khi Nhật đem quân vào nước ta, cũng là thời điểm nghề dệt ở đây bắt đầu sa sút hàng ngoại nhập vào nhiều, giá lại hạ hơn và cũng do tình hình kinh tế bắt đầu có nhiều khó khăn, nên nạn đói xảy ra là hậu quả vô cùng lớn, nhất là về người Không chỉ có những khó khăn về kinh tế và về chuyện nghề dệt sa sút mà người dân ở đây còn phải gánh chịu nhiều khó khăn khác rất đau xót Lúc nạn đói xảy ra, thì thóc gạo rất khan hiếm, và nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân ta nhất là những gia đình hay những người làm nghề thủ công Trong ba thôn của Văn Khê hiện nay, Thì La Khê lâm vào nạn đói khủng khiếp nhất La Khê Bắc không phải là thôn bị nặng nhất, chỉ ở diện trung bình Trong nạn đói năm 1945, người La Khê chết đói rất nhiều, có xóm chết hết không còn một gia đình điển hình như xóm Ngòi Vốn là dân thủ công nên vấp phải nạn đói, họ đều bị phá sản, họ phải buộc lòng

bỏ làng ra đi tha phương cầu thực Họ nào, gia đình nào cũng có người bỏ đi, sau nạn đói chỉ còn vài người có thể trở về quê hương Không chỉ có số người chết đói quá nhiều mà những người mất tích đến nay vẫn chưa có tin tức gì cũng rất nhiều Trong lúc nạn đói đang xảy ra, không chỉ có những người nghèo không có ruông đất phải chịu chết đói mà cả những người giàu có hay những gia đình khá giả cũng phải gánh chịu chung số phận là bị đói kém và phải chết đói Như nhà ông bá Liêu rất giàu có cũng bị đói kém đến nỗi phải thắt cổ tự tử Có những trường hợp chết đói mà không ai hay biết đến nỗi thân xác phải thối rữa Có lúc số người chết lên con số là 20 – 30 người trong một ngày Đau thương nhất là xóm Ngòi chết đói hết và xóm này đã bị xóa sổ Có những gia đình và dòng họ chết gần hết vì nạn đói, như họ Phạm có rất nhiều gia đình và số nhân khẩu cũng khá nhiều, nhưng khi vấp phải nạn đói thì nó đã làm cho dòng họ này phải bị tổn thất rất lớn nhất là về tính mạng của những người thân trong dòng họ, nạn đói đã cướp mất của dòng họ này tới 63 người, chỉ còn 22 người sống xót, trong đó có đến 8 gia đình chết hết không còn một ai8 Thật sự cái chết đến với mọi người quá bất ngờ và đau khổ mà thôn La Khê Bắc phải gánh chịu, và những con số đầy đau thương đó mà thôn la Khê Bắc phải gánh chịu thì được cụ thể bằng những số liệu rất đỗi đau thương và xót xa dưới đây

Ngày đăng: 08/04/2018, 11:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w