1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM sử lê đức THỌ và NGHỆ THUẬT đàm PHÁN của ÔNG ở hội NGHỊ PARI về CHẤM dứt CHIẾN TRANH, lập lại hòa BÌNH ở VIỆT NAM

96 330 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng chưa có cuốn sách nào viết về Lê Đức Thọ một cách cụ thể và trọn vẹn, để hiểu sâu sắc hơn đồng chí Lê Đức Thọ về cuộc đời cũng như hoạt động ngoại giao của đồng chí, vì vậy tôi quy

Trang 1

Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện

Th.S KHOA NĂNG LẬP NGUYỀN THỊ THANH TUYỀN

MSSV: 6086366 Ngành: Sƣ Phạm Lịch Sử - K34

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

    

Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Lịch sử là một môn học phần nằm trong chương trình đào tạo ngành Cử nhân Sư phạm Lịch Sử của trường Đại Học Cần Thơ Nhằm giúp cho sinh viên củng cố lại kiến thức của mình trong quá trình học tập Đồng thời tạo ra một cơ hội cho sinh viên đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, tiếp cận những nguồn kiến thức mới, cọ sát với thực tế, rút ra những kinh nghiệm cho bản thân sau này

Để hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình từ nhiều tập thể, cá nhân Qua đề tài này:

Em gởi lời cám ơn sâu sắc đến thầy Khoa Năng Lập đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài luận văn

Chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Bộ môn Lịch sử - Khoa sư phạm – Trường Đại Học Cần Thơ những người giảng dạy và hướng dẫn em trong suốt thời gian em học tập tại trường

Em gởi lời cám ơn chân thành đến tập thể Cán bộ Trung tâm Học liệu Trường Đại Học Cần Thơ, thư viện Khoa Sư Phạm Trường Đại Học Cần Thơ, thư viện Thành phố Cần Thơ (sự giúp đỡ của cô Thuận) đã tạo mọi điều kiện về tư liệu tham khảo để

em được hoàn thành tốt đề tài

Cuối cùng em xin gởi lời cám ơn đến gia đình (Cha, Mẹ) em và các bạn sinh viên lớp Sư Phạm Lịch sử K34 đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến để em có thể hoàn thành tốt đề tài luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng cho bản thân nhưng do thời gian có hạn và hiểu biết thực tế của em còn hạn chế nên Luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong Thầy, Cô góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

    

Cần Thơ, ngày… tháng 5 năm 2012

Cán bộ hướng dẫn

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN

    

Cần Thơ, ngày… tháng 5 năm 2012

Cán bộ phản biện

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Bố cục của đề tài 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA LÊ ĐỨC THỌ 1.1 Vài nét về cuộc đời 10

1.2 Những đóng góp lớn trong sự nghiệp chính trị của Lê Đức Thọ 14

1.2.1 Những hoạt động trước cách mạng tháng Tám 1945 15

1.2.2 Những hoạt động từ 1945 - 1955 15

1.2.3 Những hoạt động từ 1955 – 1975 16

1.2.4 Sau chiến thắng 1975 18

CHƯƠNG 2 CÁC CUỘC THƯƠNG LƯỢNG LÊ ĐỨC THỌ -

KISSINGER TẠI PARIS (TỪ 1970 ĐẾN 1971) 2.1 Đợt đầu đàm phán về quan điểm của hai bên (21-2-1970 đến 4-4-1970) 21

2.1.1 Cuộc gặp gỡ ngày 21 tháng 2 năm 1970 22

2.1.2 Cuộc gặp gỡ ngày 16 tháng 3 năm 1970 26

2.1.3 Cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger hôm 4 - 4 - 1970 29

2.2 Đợt hai đàm phán về đề nghị của hai bên (31-5-1971 đến 16-8-1971) 32

2.2.1 Cuộc gặp gỡ riêng ngày 31-5-1971 33

Trang 6

2.2.3 Cuộc gặp riêng ngày 12 và 26-7-1971 37

2.2.4 Cuộc gặp riêng ngày 16-8-1971 39

CHƯƠNG 3 CÁC CUỘC THƯƠNG LƯỢNG LÊ ĐỨC THỌ - KISSINGER TẠI PARIS (TỪ 1972 ĐẾN 1-1973) 3.1 Những tuyên bố về chính sách chung và thương lượng Dự thảo Hiệp định (1972).42 3.1.1 Các cuộc gặp gỡ riêng từ tháng 5 đến tháng 9-1972 42

3.1.2 Các cuộc đàm phán từ ngày 8 đến ngày 12-10-1972 46

3.2 Các cuộc đàm phán về Dự thảo Hiệp định 50

3.2.1 Đợt đàm phán tháng 11-1972 50

3.2.2 Các cuộc gặp riêng trong tháng 12-1972 54

3.3 Các cuộc thương lượng cuối cùng giữa Lê Đức Thọ với Kissinger: hoàn thành Hiệp định (8-1-1973 đến 13-1-1973) 62

3.3.1 Bối cảnh dẫn đến đợt đàm phán cuối cùng, hoàn thành Hiệp định 1973 62

3.3.2 Cuộc gặp riêng ngày 8-1-1973 63

3.3.3 Cuộc gặp riêng ngày 9-1-1973 64

3.3.4 Ngày họp cuối cùng ngày 13-1-1973 65

CHƯƠNG 4 NGHỆ THUẬT ĐÀM PHÁN VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LÊ ĐỨC THỌ TRONG HIỆP ĐỊNH PARIS 4.1 Nghệ thuật đàm phán của nhà ngoại giao Lê Đức Thọ 68

4.1.1 Giữ vững lập trường cương quyết, cứng gắn 69

4.1.2 Phát huy quyền chủ động, độc lập, tự chủ 71

4.1.3 Tranh thủ bạn bè, dư luận quốc tế đồng tình và ủng hộ 72

4.1.4 Tìm tòi xây dựng lý lẽ, lập luận đấu tranh sắc bén 73

4.2 Những đóng góp của Lê Đức Thọ trong đàm phán Paris chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam 74

PHẦN KẾT LUẬN 78

PHỤ LỤC 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

- -

1 Lí do chọn đề tài

Cuộc đàm phán Pari về Việt Nam kéo dài gần 5 năm thực sự là cuộc đấu tranh

vô cùng gay go, phức tạp, đầy kịch tính trên mặt trận ngoại giao của chúng ta cuối cùng đã đi đến thắng lợi, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của dân tộc

Trong cuộc đàm phán này có đàm phán công khai và bí mật, đàm phán công khai và bí mật hỗ trợ nhau trong việc hoàn thành hiệp định Pari Trong các đợt đàm phán bí mật đoàn đàm phán ta thể hiện bản lĩnh, quyết đoán và sự kiên định của mình

Mà tiêu biểu là đồng chí Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Lưu Văn Lợi, Và người ta biết về đồng chí Lê Đức Thọ là một nhà lãnh đạo chính trị nhiều hơn là một nhà lãnh đạo về đối ngoại Nhưng đồng chí lại rất nổi tiếng về ngoại giao khi làm Cố vấn đặc biệt cho Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Pari về Việt Nam

Là một người năng nổ, xông xáo, kiên nghị, nên được Bác Hồ và Bộ Chính trị giao nhiệm vụ phụ trách đàm phán trực tiếp với Mỹ, đồng chí xác định đó là một nhiệm vụ cách mạng, ý thức sâu sắc được những thuận lợi và khó khăn cần phải khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt này Trước khi sang Pari, đồng chí đã được Bác Hồ trực tiếp gặp và dặn dò, giao nhiệm vụ Trong suốt quá trình chỉ đạo và thực hiện trực tiếp đàm phán với đại diện của Mỹ ở Pari, đồng chí đã luôn quán triệt sâu sắc

và vận dụng triệt để tư tưởng và phong cách ngoại Hồ Chí Minh Trong quá trình đấu tranh ngoại giao, ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật đàm phán của Lê Đức Thọ và đã được lưu truyền đến hôm nay

Trong cuộc hòa đàm lịch sử kéo dài 5 năm ở Pari, đồng chí Lê Đức Thọ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một nhà ngoại giao chiến lược thời đại Hồ Chí Minh

Qua cuộc đàm phán có rất nhiều sách viết về cuộc đàm phán Pari và các cuộc thương lượng giữa Lê Đức Thọ - Kissinger Nhưng chưa có cuốn sách nào viết về Lê Đức Thọ một cách cụ thể và trọn vẹn, để hiểu sâu sắc hơn đồng chí Lê Đức Thọ về cuộc đời cũng như hoạt động ngoại giao của đồng chí, vì vậy tôi quyết định chọn đề tài

“Lê Đức Thọ và nghệ thuật đàm phán của ông ở Hội nghị Pari về chấm dứt chiến

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu

Khi nhắc đến các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nói chung và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng của dân tộc ta, thì mọi người nghĩ ngay đến chiến thắng ở chiến trường Nhưng khi đi sâu vào những khía cạnh của cuộc cách mạng ta mới thấy

đó là cả một quá trình chiến đấu kết hợp giữa tất cả các mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao,…mà đặc biệt là sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao hay nói cách khác là vừa đánh vừa đàm

Trong lịch sử của dân tộc ta có rất nhiều nhà lãnh đạo đã sử dụng phương pháp này như: Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi,…Kế thừa những kinh nghiệm đánh – đàm mà các bậc tiền bối đã để lại, ta đã áp dụng thành công trong kháng chiến chống Pháp, tiếp theo đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, hy sinh to lớn của dân tộc ta Sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh ngoại giao đã được áp dụng một cách rất hiệu quả trong cuộc đấu tranh này Mà nổi lên là những cuộc đàm phán bí mật Lê Đức Thọ - Kissinger

Về cuộc đấu tranh ngoại giao đã có nhiều sách viết về cuộc đàm phán này mà nổi bật lên là quyển:

Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris - NXB Công an nhân dân, 2002 Sách gồm hai phần, phần 1 nói về các cuộc tiếp xúc bí mật Việt Nam – Hoa Kỳ trước hội nghị Paris Phần hai nói về các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris Nội dung sách đề cập rất rõ về các cuộc đàm phán Pari

Góp phần kỉ niệm 58 năm Ngày thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 58 năm ngày thành lập ngành Ngoại giao (1945 – 2003), Bộ ngoại cho ra mắt cuốn sách Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam Cuốn sách là một tập hợp các hồi ức, hồi ký, chính luận và trích đoạn của những người, mà phần đông là những nhân chứng lịch sử,

đã từng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia Hội nghị Pari

Nguyễn Thành Lê, Cuộc đàm phán Pari về Việt Nam (1968 – 1973), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 1998 Nội dung cuốn sách nói về cuộc đàm phán đòi Mỹ

Trang 9

chấm dứt ném bom và các hành động chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hội nghị bốn bên và Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam

Nhiều tác giả, Lê Đức Thọ Người cộng sản kiên cường, Nhà lãnh đạo tài năng, NXB Chính trị quốc gia, 2011 Nội dung cuốn sách là tập hợp những bài viết về cuộc đời, quá trình hoạt động của đồng chí trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ

Nguyễn Văn Sự, Những mẫu chuyện lịch sử ngoại giao Việt Nam (Thời kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước), NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 Nội dung sách là những mẫu chuyện đòi thi hành Hiệp định Geneve và những cuộc thương lượng giữa

Lê Đức Thọ và Kissinger

Bộ quốc phòng viện lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), tập VII thắng lợi quyết định năm 1972, NXB Chính trị quốc gia, 2007 Sách đã trình bày khá chi tiết và tương đối đầy đủ về cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc và chiến trường Đông Dương, cả trên mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao

Ngoài ra còn có nhiều sách khác cũng viết về Lê Đức Thọ và Hiệp định Pari như Nhớ về anh Lê Đức Thọ (hồi ký), Ngoại giao Việt Nam phương sách và nghệ thuật đàm phán, Lịch sử Việt Nam 1954 – 1975,

Như vậy, đã có rất nhiều sách nói về Lê Đức Thọ và các cuộc thương lượng của ông Dựa vào những tác phẩm trên em đã đi sâu vào nghiên cứu về đồng chí Lê Đức

Thọ và mạnh dạn chọn đề tài “Lê Đức Thọ và nghệ thuật đàm phán của ông ở Hội nghị Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” để làm đề tài

nghiên cứu

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tƣợng: Vài nét về cuộc đời của Lê Đức Thọ, các cuộc thương lượng của Lê

Đức Thọ - Kissinger trong hiệp định Paris và nghệ thuật đàm phán của ông

- Phạm vi nghiên cứu: Lê Đức Thọ là một cán bộ tài năng trên nhiều lĩnh vực: Quân

sự, ngoại giao, tổ chức,… đồng chí được Đảng và Bác Hồ tín nhiệm giao nhiều trọng trách của Đảng, của đất nước Để nghiên cứu về đồng chí Lê Đức Thọ thì có rất nhiều vấn đề nghiên cứu nhưng thời gian không cho phép nên phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 10

nguyên nhân và diễn biến cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris từ năm

1970 đến tháng 1-1973, đóng góp và nghệ thuật đàm phán của ông trong Hiệp định Pari từ 1968 đến 1973

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trên cở sở phân tích tổng hợp tư liệu từ sách, báo,…tìm tòi và chọn lọc những tư liệu thích hợp nhất để hoàn thành đề tài Trong quá trình hoàn thiện đề tài em sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic để phân tích, đánh giá, nhận xét, trích dẫn nhằm làm nổi bật nội dung đề tài

5 Bố cục của đề tài

Bố cục của đề tài gồm ba phần:

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

Nội dung gồm có 4 chương:

Chương 1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Đức Thọ

Chương 2 Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris (từ 1970 đến 1971)

Chương 3 Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris (từ 1972 đến 1973)

Chương 4 Nghệ thuật đàm phán và đóng góp của Lê Đức Thọ trong Hiệp định Paris PHẦN KẾT LUẬN

Trang 11

Đồng chí Lê Đức Thọ là một người cộng sản kiên cường, một người lãnh đạo tài năng, một trong những học trò xuất sắc, cộng sự thân cận của chủ tịch Hồ Chí Minh, đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

Đồng chí Lê Đức Thọ tên chính là Phan Đình Khải, sinh ngày 10-10-1911 tại

xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là xã Nam Vân, huyện Nam Ninh, tỉnh Hà Nam Ninh Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho ở vùng ngoại ô thành phố Nam Định thuộc phủ Thiên Trường xưa, nơi phát tích của Vương triều Trần với hào khí Đông A nổi tiếng trong lịch sử, đồng chí Lê Đức Thọ sẵn mang trong mình tinh thần yêu nước và truyền thống quật cường của dân tộc

Năm 1926, lúc mới 15 tuổi đồng chí đã giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng Năm 18 tuổi (10-1929) đồng chí trở thành đảng viên cộng sản Trong những năm hoạt động cách mạng đồng chí sớm thể hiện khả năng thiên bẩm trong tư duy chiến lược và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn cùng bản lĩnh cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân

Là một cán bộ tài năng trên nhiều lĩnh vực: Quân sự, ngoại giao, tổ chức,… đồng chí được Đảng và Bác Hồ tín nhiệm giao nhiều trọng trách của Đảng, của đất nước Ở cương vị công tác nào, đồng chí cũng tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần lạc quan cách mạng và một dũng khí chiến đấu kiên cường, đầy nhiệt huyết, sẵn sàng xả thân vì lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sóng gió vào Nam, ra Bắc, đồng chí Lê Đức Thọ đã đem hết tâm sức, tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ

Trang 12

Lê Đức Thọ là cán bộ lãnh đạo vốn sống chan hòa tình cảm, gắn bó với anh em

và là người dễ gần Đối với những đồng chí có mối quan hệ thân tình, Lê Đức Thọ thường cư xử rất tự nhiên, như gọi bằng cậu, bằng thằng trong khi trò chuyện với một

số cán bộ nhỏ tuổi hơn mình

Kissinger đã tả phút đầu gắp gỡ Lê Đức Thọ như sau:

“ Tóc hoa râm, đường bệ, Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán xám hoặc marông Đôi mắt to và sáng, ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi mười sáu tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp Ông bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh, thái độ bao giờ cũng không có điều gì chê trách được, trừ một hai lần Ông tận tụy và khéo léo,…Lê Đức Thọ tiếp tôi với sự lễ phép có khoảng cách của con người

mà ưu thế hiển nhiên đến mức không thể làm khác được bằng một kiểu lễ phép gần như sự hạ cố” [5: 343]

Là chiến sĩ cộng sản kiên cường, sôi nổi, nhiệt tình, đồng chí Lê Đức Thọ có mặt ngay trong những ngày đầu của cuộc cách mạng, và là một trong những đồng chí lãnh đạo chủ yếu của cuộc cách mạng Tháng Tám thành công 1945

Năm 1925, khi 14 tuổi, đồng chí lên thành phố Nam Định học tập Đây là trung tâm công nghiệp dệt lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ, một trong những cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, nơi phong trào yêu nước phát triển rất mạnh Đắm mình trong phong trào sục sôi ấy, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng

Đồng chí hoạt động cách mạng từ năm 1926, tham gia bãi khóa và dự lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh Năm 1928, đồng chí được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh niên và tháng 10-1929 trở thành đảng viên của Đông Dương cộng sản Đảng, làm Bí thư chi bộ học sinh và phụ trách công tác thanh niên học sinh

Do tích cực tham gia những hoạt động yêu nước và cách mạng, đầu tháng

11-1930 đồng chí bị bắt và ngày 27-1-1931 bị tòa án thực dân kết án khổ sai chung thân, sau giảm xuống còn 10 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo, làm Bí thư chi bộ và Thường

vụ chi ủy nhà tù

Năm 1936 được trả tự do, đồng chí trở lại quê hương Nam Định tiếp tục hoạt động cách mạng và bị mật thám Pháp bắt lại vào tháng 9-1939 Đầu năm 1940, đồng

Trang 13

chí bị tòa án thực dân kết án 5 năm tù, lưu đày tại các nhà tù Hỏa Lò – Hà Nội và Sơn

và sau này là một trong những đồng chí lãnh đạo có công lớn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Tháng 8-1945, tại hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang

để quyết định Tổng khởi nghĩa, đồng chí được chỉ định vào Thường vụ Trung ương Đảng, cùng ban lãnh đạo tối cao của Đảng lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tháng 9-1948, trên cương vị Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí được Bác Hồ và Trung ương Đảng cử làm Trưởng phái đoàn của Đảng, Chính phủ và quân đội vào kiểm tra, giúp đỡ cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ Do yêu cầu thực tiễn của chiến trường, đồng chí Lê Đức Thọ đã được Bác

Hồ, Thường vụ Trung ương Đảng chấp thuận để đồng chí ở lại Nam Bộ cùng đồng chí

Lê Duẩn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến ngày thắng lợi

Hiệp định Giơnevơ được kí kết, sau khi cùng xứ Ủy và đồng chí Lê Duẩn sắp xếp lại tổ chức chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới Tháng 1-1955 đồng chí tập kết ra Bắc và được phân công làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương Cuối năm đó đồng chí được bổ sung vào Bộ Chính trị phụ trách công tác sửa sai trong cuộc vận động cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức Từ cuối năm 1956 trở đi, đồng chí phụ trách công tác tổ chức xây dựng Đảng và giữ trọng trách này trong một thời gian dài Từ tháng 11-1956 đến năm 1961 kiêm chức Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9-1960, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Đồng chí tiếp tục giữ cương vị quan trọng này

Trang 14

Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương cùng các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng

Sau đợt một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, do yêu cầu của chiến trường Miền Nam, Bộ Chính trị cử đồng chí làm Phó Bí thư Trung ương Cục để đồng chí Phạm Hùng trực tiếp lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở Miền Nam

Tháng 5-1968, đồng chí Lê Đức Thọ được Bác Hồ và Bộ Chính trị gọi ra miền Bắc làm Cố vấn đặc biệt của Phái đoàn đàm phán của Chính phủ ta tại Hội nghị Pari Tháng 6-1968, đồng chí đến Pari tiến hành cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử của các cuộc chiến tranh, trực tiếp đương đầu với những nhà ngoại giao kỳ cựu của nước Mỹ để cuối cùng đi đến ký kết Hiệp định Pari vào ngày 27-1-1973, hoàn thành được di huấn của Bác Hồ “ đánh cho Mỹ cút” để tiến tới “đánh cho ngụy nhào” [12: 7]

Tháng 3-1975 với đòn đánh hiểm nguyệt vào Buôn Ma Thuột, quân và dân ta giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, mở ra khả năng quét sạch ngụy quân, đánh đổ chế độ Sài Gòn ngay trong năm 1975

Trước thời cơ chiến lược vừa được mở ra, cuối tháng 3-1975, đồng chí Lê Đức Thọ vào chiến trường mang theo ý chí sắt đá của Bộ Chính trị quyết tâm giải phóng hoàn toàn Miền Nam và trực tiếp cùng Trung ương Cục và Bộ chỉ huy quân giải phóng miền Nam lãnh đạo, chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi

Tháng 12-1976, tại Đại Hội lần thứ IV của Đảng, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, đồng chí được phân công làm Phó ban đại diện của Đảng và Chính phủ để ổn định tình hình miền Nam và phụ trách công tác đặc biệt Từ năm 1978, khi bọn phản động Pônpốt – IêngXari cho quân xâm lược toàn tuyến biên giới nước ta ở phía Tây Nam và gây thảm họa diệt chủng đối với dân tộc Campuchia, đồng chí được phân công lãnh đạo cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ở phía Tây Nam và giúp cách mạng Campuchia đánh đổ Khơme đỏ diệt chủng

Trang 15

Năm 1980, được cử làm Bí thư Thường trực và phụ trách công tác tổ chức, tháng 10-1980, kiêm chức hiệu trưởng trường Chính trị đặc biệt Năm 1983 được chỉ định làm phó chủ tịch Ủy ban quốc phòng của Đảng Năm 1986, làm Trưởng Tiểu ban nhân sự Đại Hội lần thứ VI của Đảng Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) được Đại Hội cử làm cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Trải qua hơn 64 năm hoạt động cách mạng đầy sóng gió, đồng chí Lê Đức Thọ

đã đem hết tâm sức, tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng

vẻ vang của Đảng và nhân dân Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí gắn liền với những giai đoạn của cách mạng Việt Nam, gắn liền với những thành quả cách mạng vĩ đại của dân tộc Đảng và nhà nước ta đã tặng đồng chí Huân Chương Sao vàng và nhiều Huân chương khác, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng: Đảng và nhà nước Liên Xô tặng đồng chí Huân chương cách mạng Tháng Mười, Đảng và nhà nước Campuchia tặng đồng chí Huân chương Ăngco

Cuộc đời hoạt động cách mạng kiên cường của đồng chí Lê Đức Thọ là tấm gương sáng về lòng thiết tha yêu nước, yêu dân, lòng trung thành tận tụy với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, về tinh thần quốc tế trong sáng

Tên tuổi và sự nghiệp Lê Đức Thọ - Anh sáu Thọ kính mến, gắn liền với những thành quả cách mạng vĩ đại của Đảng và nhân dân ta Đồng chí Lê Đức Thọ đã đi xa, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí với những gì đồng chí cống hiến cho Đảng

và đất nước sẽ còn sống mãi với thời gian, với lịch sử, được toàn Đảng, toàn dân ta yêu mến và kính trọng

1.2 Những đóng góp lớn trong sự nghiệp chính trị của Lê Đức Thọ

Lê Đức Thọ là một cán bộ tài năng trên nhiều lĩnh vực: Quân sự, ngoại giao, tổ chức,… đồng chí được Đảng và Bác Hồ tín nhiệm giao nhiều trọng trách của Đảng, của đất nước Nhớ về đồng chí Lê Đức Thọ, cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn nhớ đến những đóng góp to lớn của đồng chí với cách mạng Việt Nam trong vai trò của một nhà tổ chức, một trong những đồng chí lãnh đạo chủ chốt của cách mạng trên chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, một nhà ngoại giao tài ba sắc sảo Trong đó, gần cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí đã giành nhiều thời gian, tâm sức cho công tác xây dựng Đảng Có thể

Trang 16

nói, trên nhiều cương vị công tác quan trọng, tên tuổi của đồng chí Lê Đức Thọ đã gắn liền với những thành quả vĩ đại trong nhiều giai đoạn của cách mạng Việt Nam

1.2.1 Những hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám 1945

Ngay trong những năm tháng hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám 1945, đồng chí Lê Đức Thọ thể hiện “một tầm nhìn chiến lược sắc bén, tinh thần chiến đấu kiên cường và khả năng tổ chức chặt chẽ” [12: 284] Vào những năm 1939 – 1944, sau khi mặt trận dân chủ nhân dân Đông Dương bị giải tán, hầu hết cơ sở đảng trong toàn quốc

bị thực dân Pháp khủng bố rất gắt gao, cán bộ, đảng viên bị bắt hàng loạt, số cán bộ hoạt động ở ngoài còn rất ít Chính trong thời điểm đó, Mặt trận Việt Minh được thành lập (5 – 1941), nhu cầu về cán bộ lãnh đạo phong trào cách mạng, chuẩn bị thời cơ giành chính quyền rất cấp thiết Việc bổ sung cán bộ cho các ban lãnh đạo từ Trung ương đến các cấp gặp nhiều khó khăn

Cuối năm 1943, Thường vụ Trung ương đã quyết định chủ trương vượt ngục cho cán bộ đang bị giam cầm trong các nhà tù đế quốc để tăng cường cán bộ cho phong trào và kiện toàn các cấp ủy đảng, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đón lấy thời cơ đang có lợi cho ta Đó là một chủ trương sáng suốt, kịp thời, có ý nghĩa chiến lược

Với vai trò Bí thư chi bộ Nhà tù Hòa Bình, đồng chí Lê Đức Thọ là người lãnh đạo thực hiện thành công chủ trương trên, đã giải thoát nhiều cán bộ trong nhà tù, tăng cường lực lượng cho cách mạng, chuẩn bị tiến hành Tổng khởi nghĩa

1.2.2 Những hoạt động từ 1945 - 1955

Tháng 8 -1945, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, đồng chí Lê Đức Thọ được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng: 12-1946, đồng chí dự Hội nghị ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định toàn quốc kháng chiến Đồng chí đã giúp Trung ương bố trí, phát triển lực lượng Đảng, đoàn thể, chính quyền, đặc biệt là phụ trách công tác chuyển bộ máy kháng chiến từ Hà Nội lên chiến khu Việt bắc để tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Với cách mạng miền Nam, đồng chí Lê Đức Thọ có nhiều đóng góp to lớn, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân Nam Bộ từ giữa cuộc chiến chống thực dân Pháp gian khổ: nhiều năm sống, hoạt động và chiến đấu cùng nhân dân miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đến thắng lợi vĩ đại của chiến dịch

Trang 17

Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Tháng 9-1948, đồng chí Lê Đức Thọ được phân công là Trưởng phái đoàn của Ban chấp hành Trung ương Đảng vào Nam Bộ công tác, làm Trưởng ban Đảng vụ kiêm Trưởng ban Dân vận xứ ủy Nam Bộ Sau khi nghiên cứu kỹ, nắm chắc tình hình cách mạng miền Nam, đồng chí khẳng định: “Phải xây dựng, củng cố Đảng trong lực lượng vũ trang, trong công an, trong vùng bị địch tạm chiếm, phát triển Đảng phải đi đôi với củng cố Đảng, phải dìu dắt Đảng viên mới trong công tác thực tế, phải mở lớp huấn luyện ngắn ngày cho họ Phải luôn luôn chăm lo củng cố chi bộ, đề phòng bọn địch chui vào trong Đảng, phá hoại Đảng từ bên trong” [12: 285]

Đồng chí đã chủ động cùng đồng chí Xứ ủy rà soát, nắm lại cán bộ chủ chốt của các cấp ủy trong các khu ủy, tỉnh ủy, Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định; từng bước kiện toàn bộ máy lãnh đạo Xứ ủy, chấn chỉnh lề lối làm việc, khẩn trương triển khai một số biện pháp cấp bách nhầm chấn chỉnh, kiện toàn một số cấp ủy Đồng thời, đồng chí Lê Đức Thọ và Thường vụ Xứ ủy luôn giữ vững nguyên tắc báo cáo, xin chỉ thị của Thường vụ Trung ương và Bác Hồ về những vấn đề cần thiết Các hoạt động ấy

đã trực tiếp củng cố, phát triển lực lượng của cách mạng miền Nam và bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Thường vụ Trung ương Đảng, của Bác Hồ với chiến trường miền Nam

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cách mạng, của Đảng ở miền Nam, đồng chí Lê Đức Thọ đã chủ động đề xuất với Thường vụ Xứ ủy mở lớp huấn luyện, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của cán bộ tỉnh, khu, lấy tên là Trường Trường Chinh Bản thân đồng chí đã trực tiếp tham gia giảng dạy với những bài giảng hàm chứa với những nội dung phong phú, sâu sắc cả về lí luận và thực tiễn Từ năm 1950 – 1954, hàng trăm cán bộ trung, cao cấp đã được thực hiện, bồi dưỡng nâng cao trình độ đáp ứng cho nhu cầu cách mạng miền Nam

Trang 18

khó khăn, nhiều cơ sở Đảng ở nông thôn bị nghi ngờ, nhiều cán bộ chủ chốt các cấp bị bắt tù, bị nghi oan… Thực hiện chủ trương kiên quyết sửa sai của Bộ Chính trị và Bác

Hồ, Ban Tổ chức Trung ương do đồng chí Lê Đức Thọ làm trưởng ban đã cử hàng nghìn cán bộ của Trung ương về địa phương, cơ sở xin lỗi dân và minh oan cho cán

bộ Đồng chí đã tập trung sức vào công tác sửa sai, từng bước củng cố lại tổ chức cơ

sở đảng và phục hồi danh dự, minh oan cho hàng nghìn cán bộ, đảng viên, khôi phục

được lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng

Trong cuộc kháng chiến khốc liệt chống Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, tương quan lực lượng giữa ta và địch vô cùng chênh lệch, có thời kỳ, nhiều cơ sở đảng bị xóa, số đảng viên tại miền Nam từ 50.000 đồng chí (1954) đến năm 1959 chỉ còn lại 7.000 đồng chí, số cán bộ đảng viên bị giết, bị tù ngày càng nhiều Chính trong thời điểm hiểm nghèo đó, được Trung ương giao nhiệm vụ chăm lo công tác tổ chức xây dựng Đảng phục vụ cách mạng miền Nam, đồng chí đã đề xuất việc thành lập Vụ miền Nam và cục cán bộ B trực thuộc Ban tổ chức Trung ương để giúp Đảng điều động cán

bộ tăng cường cho chiến trường cũng như đón tiếp, chăm sóc cán bộ từ chiến trường ra miền Bắc chữa bệnh, học tập và công tác Với phong cách làm việc sâu sát, đồng chí luôn đưa ra ý kiến chỉ đạo cụ thể, thông qua từng kế hoạch, đề ra cách thức, tiêu chuẩn đều động cán bộ tăng cường cho từng vùng, từng chiến trường, sao cho phát huy hiệu quả, hạn chế hi sinh, tổn thất

Đồng chí trực tiếp thông qua danh sách cán bộ trung, cao cấp bổ sung cho chiến trường, lắng nghe ý kiến đề xuất và nguyện vọng của từng cán bộ, kịp thời động viên tinh thần cũng như vật chất trước khi cán bộ vượt Trường Sơn vào chiến trường Bản thân đồng chí cũng được Trung ương cử vào miền Nam nắm tình hình, trực tiếp làm việc với các đồng chí Trung ương cục miền Nam, nhờ đó việc chỉ đạo của Trung ương đối với miền Nam được sâu sát hơn, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của chiến trường, bảo đảm sự thắng lợi trong hoạt động quân sự của ta trên chiến trường miền Nam Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cán bộ công tác ở chiến trường

ra miền Bắc chữa bệnh, công tác, học tập đều được chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và đồng chí Lê Đức Thọ đặc biệt quan tâm Trước những yêu cầu chi viện cho chiến trường, thay mặt Trung ương Đảng, đồng chí trực tiếp giao nhiệm vụ cho các ban, ngành tạo điều kiện giải quyết sớm nhất, tốt nhất các yêu cầu chi viện đó Trong

Trang 19

những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, các ban, ngành đã đón tiếp, chăm sóc 25.500 cán bộ từ chiến trường miền Nam ra Bắc chữa bệnh và học tập, xây dựng được

25 đơn vị đón tiếp, điều trị, điều dưỡng và học tập cho cán bộ Trên 7.000 cán bộ được

đi học ở các trường văn hóa, trường đại học, trung học chuyên nghiệp, trường lí luận chính trị 4.000 cán bộ được bố trí đi chữa bệnh, nghĩ dưỡng tham quan học tập ở nước

ngoài

Trong công tác tổ chức xây dựng Đảng

Trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ đặc biệt quan tâm nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở của Đảng Ngay trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đồng chí đã đề xuất và chỉ đạo cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt” (sản xuất, chiến đấu tốt, chấp hành chính sách tốt, công tác quần chúng tốt và củng cố Đảng tốt) Cuộc vận động đã đem lại kết quả quan trọng; tổ chức cơ sở Đảng được củng cố, phát huy tác dụng lãnh đạo sâu sát, toàn diện đối với mọi hoạt động ở cơ sở, bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu và chính sách của Đảng, của nhà nước, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng

và quần chúng Thông qua thực tiễn cuộc vận động nhiều cấp ủy Đảng đã khắc phục được thái độ xem nhẹ công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, quan tâm chỉ đạo củng cố

cơ sở đảng Đó là bài học kinh nghiệm quý, mang ý nghĩa thời sự cho đến hôm nay

1.2.4 Sau chiến thắng năm 1975

Mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi vẻ vang, đất nước ta được thống nhất Tình hình, nhiệm vụ mới đặt ra những yêu cầu mới

to lớn đối với công tác tổ chức Một trong những vấn đề lớn và khó khăn nhất lúc đó là điều động, bố trí lại cán bộ cao cấp, hàng vạn cán bộ lãnh đạo, quản lí và cán bộ chuyên môn cho miền Nam, bảo đảm cho việc thực hiện các công việc chính trị Một bài học cực kì sâu sắc trong công tác tổ chức, cán bộ là với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng, Bác Hồ đã dày công đào tạo, rèn luyện một đội ngũ đông đảo cán bộ là con em miền Nam ở miền Bắc và các nước xã hội chủ nghĩa Đó là một lực lượng quan trọng

để bố trí, sắp xếp cán bộ ở miền Nam sau giải phóng Thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, đồng chí Lê Đức Thọ đã cùng các đồng chí trong Trung ương, trong Bộ Chính trị và đội ngũ những người làm công tác tổ chức

Trang 20

củng cố hệ thống chính trị thống nhất trong cả nước, trong đó bao gồm việc xây dựng các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp ở vùng mới được giải phóng, nhanh chóng bắt tay vào công tác chuẩn bị nhân sự cho Quốc Hội và Chính phủ khi đất nước thống nhất, chuẩn bị Đại hội IV của Đảng

Kinh qua nhiều môi trường hoạt động thực tiễn và các chiến trường, học tập được cách hiểu người, sử dụng người, đào tạo người hiền tài cho đất nước của chủ tịch

Hồ Chí Minh, với tính cách quyết đoán, trung thực, nghiêm khắc với cán bộ, bản thân

và cả gia đình trong thực hiện nhiệm vụ cũng như trong cuộc sống, với nhiều kinh nghiệm trong công tác tổ chức, đồng chí Lê Đức Thọ đã góp phần to lớn đặt nền móng cho công tác tổ chức xây dựng Đảng và cả tổ chức hệ thống chính trị nước ta

Trong đó, đồng chí tập trung sức vào việc xây dựng, quản lí bố trí đội ngũ cán

bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng Đặc biệt từ Đại hội III đến Đại hội VI của Đảng, với vai trò Trưởng tiểu ban nhân sự, đồng chí tận tụy đến tận nơi xem xét, cân nhắc thận trọng trước khi giới thiệu cán bộ vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, giúp Bộ Chính trị chuẩn bị tốt nhân sự cho lựa chọn, bầu cử Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư vào các kì Đại hội Đảng Đồng chí luôn nhắc nhở cán bộ tổ chức phải chú ý phương châm: thận trọng, dân chủ, lắng nghe ý kiến cơ sở, ý kiến tập thể Sau khi đã cân nhắc mọi mặt, với trách nhiệm được giao, đồng chí thể hiện chính kiến một cách dứt khoát

Theo đồng chí điều quan trọng nhất của việc chuẩn bị nhân sự cấp cao của Đảng là phải biết lắng nghe nhiều ý kiến của cán bộ các cấp, không nghe một chiều hoặc ý kiến của một, hai cá nhân Phải đặt yêu cầu hàng đầu, quyết định là chất lượng cán bộ, nhất là tiêu chuẩn đức tài khi chọn cán bộ tham gia cấp ủy, tham gia hệ thống chính trị

Nhìn lại cuộc đời 64 năm hoạt động cách mạng, hơn 20 năm gắn bó với công tác tổ chức xây dựng Đảng của đồng chí Lê Đức Thọ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận những đóng góp to lớn của đồng chí vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc nói chung và công tác tổ chức xây dựng Đảng nói riêng Ở đồng chí Lê Đức Thọ, ta thấy sự kết hợp chặt chẽ giữa năng lực hoạch định, xây dựng đường lối với tài năng chỉ đạo, tổ chức cụ thể, giữa tính kiên định về nguyên tắc với tính sáng tạo và tinh thần đổi mới trong hành động: giữa lý luận với thực tiễn, giữa lời nói và việc làm

Trang 21

Đồng chí xứng đáng là “một trong những học trò xuất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”, xứng đáng với những “công trạng to lớn vì Đảng, vì dân” mà Đại hội lần thứ VI

đã khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu, kính trọng của đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức và của hàng triệu trái tim con người Việt Nam [12: 293]

Đồng chí Lê Đức Thọ đã có những đóng góp lớn trong sự nghiệp chính trị của mình và những đóng góp của đồng chí là những bài học kinh nghiệm quý báu về công tác tổ chức xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ mà những bài học ấy vẫn còn nguyền giá trị đến ngày nay

Trang 22

ta chủ động mở cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao

Ngoài các cuộc họp công khai, trong năm 1969 có một số cuộc họp bí mật, giữa lãnh đạo đoàn Việt Nam dân chủ Cộng hòa gồm các đồng chí Lê Đức Thọ, Xuân Thủy với lãnh đạo đoàn Mỹ là Cabot Lodge Trong cuộc họp ngày 7-5-1969 và ngày 8-7-

1769, các đồng chí lãnh đạo của đoàn ta đã tố cáo chính sách can thiệp và xâm lược của Mỹ ở Việt Nam: nghiêm khắc lên án tội ác chiến tranh của Mỹ đối với hai miền Tuy nhiên các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật trong năm 1969 không có chuyển biến

2.1 Đợt đầu đàm phán về quan điểm của hai bên (21-02-1970 đến 4-4-1970)

Ngày 11-3-1970 và ngày 30-3-1970, lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã gửi điện cho đoàn ta ở Pari, nêu một số ý kiến sau: Mỹ vẫn ngoan cố bám vào Việt Nam hóa chiến tranh, rút quân nhỏ giọt (thực tế đến ngày 30-12-1970, Mỹ còn 280 nghìn quân ở miền Nam Việt Nam sau 3 đợt rút quân trong năm)

Mỹ vẫn ngoan cố duy trì bọn Thiệu, Kỳ, Khiêm Việc Mỹ tăng cường xâm lược Campuchia chứng tỏ Mỹ kéo dài cuộc chiến tranh Lãnh đạo ta chỉ thị cho hai đoàn: kiên trì tố cáo địch, tích cực tranh thủ dư luận quốc tế và dư luận Mỹ, nhận định tình hình trước mắt chưa thuận lợi để đề ra giải pháp gì mới

Cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã phủ thêm bóng đen lên Hội nghị Pari Ta đã bỏ không họp phiên thứ 66 (ngày 6-5-1970),

để phản đối Mỹ xâm lược Campuchia

Cùng với việc lên án chính sách xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam, trong nhiều tháng hai đoàn Nam, Bắc đã tập trung vạch trần chiến tranh xâm lược của Mỹ, ngụy ở Campuchia, đòi chúng rút khỏi Campuchia, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản

Trang 23

của Campuchia Hai đoàn bài tỏ sự ủng hộ chí tình đối với Chính phủ đoàn kết dân tộc Campuchia và Mặt trận đoàn kết dân tộc Campuchia

Do đó, trong năm 1970 ta hầu như không đưa ra giải pháp gì mới trong các phiên họp công khai Về họp công khai trong năm 1970, trước sự phản đối mạnh mẽ của ta, của dư luận Mỹ và quốc tế, 7-1970, chính quyền Nixon đã cử David A.Engel làm trưởng đoàn thay cho Cabot Lodge

2.1.1 Cuộc gặp gỡ ngày 21 tháng 2 năm 1970

Đã năm tháng trôi qua mà không có cuộc gặp gỡ riêng nào giữa Mỹ và Việt Nam Ngày 14 tháng 1 năm 1970, tướng V.Walters gặp Mai Văn Bộ đề nghị có cuộc gặp riêng giữa Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thủy ngoài khuôn khổ hiện nay “với mục đích tạo ra một khung cảnh cho một giải pháp nhanh chóng cho cuộc xung đột trên cơ

sở công bằng cho tất cả” [5: 342] Hơn một tháng sau, vào ngày 16 tháng 2, Mai Văn

Bộ trả lời cho Walters rằng Bộ trưởng Xuân Thủy sẵn sàng gặp Kissinger ngày 20 hoặc 21 tháng 2 năm 1970

Kissinger đến cùng với Richard Smyer, chuyên gia về vấn đề Việt Nam, Tony Lake, và tướng Walters Xuân Thủy ra đón ông và dẫn vào phòng khách nhỏ bên trong phòng ăn Đây là giây phút đáng gọi là lịch sử: Kissinger gặp Lê Đức Thọ lần đầu tiên, hai con người hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc xã hội, bản chất con người, lý tưởng chính trị, gặp nhau để rồi bàn cãi quyết liệt trong ba năm để cùng giải quyết vấn đề Việt Nam và cuối cùng chia nhau giải Nobel về hòa bình Theo như Kissinger thuật lại thì, sở dĩ có cuộc gặp này là vì ông ta luôn luôn nghĩ rằng thời cơ tốt nhất để đàm phán

là lúc mọi việc chạy tốt nhất

Đi vào nội dung, ông ta nhắc lại ba khả năng mà ông Lê Đức Thọ đã nói với ông Hariman ngày 14-1-1969, và khẳng định rằng Mỹ muốn đàm phán trên cơ sở thiện chí và với thái độ nghiêm chỉnh Ông ta biết rằng cuộc đàm phán là rất khó khăn vì một là khó xác định được mục đích của mỗi bên muốn đạt, thứ hai cũng rất khó khăn

là làm thế nào đạt được mục đích đó

Ông ta nhắc lại gợi ý hồi tháng 8 năm ngoái và cho rằng Việt Nam đã bỏ lỡ thời

cơ vì tình hình của “các ngài không được cải thiện gì và dù có lâu hơn nữa nó vẫn không được cải thiện” [5: 344] Ông phân tích: tình hình nước Mỹ có lợi hơn cho

Trang 24

Việt Nam không còn là vấn đề trung tâm mà mọi người nhất trí chú ý Phía Việt Nam không còn được sự ủng hộ như trước nữa, kể cả một số nước vẫn ủng hộ Việt Nam Kissinger nói: “Tình hình có thể như thế này: theo chúng tôi hình như các ngài muốn được bảo đảm – coi như một điều kiện cho đàm phán – là sẽ được ưu thế chính trị, và lúc đó chúng tôi tùy theo sự thành thật và sự kiềm chế của các ngày sau này Có

lẽ theo các ngày thì hình như chúng tôi muốn giành được ưu thế về quân sự và chúng tôi yêu cầu các ngày phải tin vào sự thành thật và sự kiềm chế của chúng tôi sau này

Hai là chúng tôi thừa nhận các ngày có vấn đề đặc biệt là đặt vấn đề về quân đội của các ngày ở miền Nam Việt Nam trên cùng một cơ sở pháp lý như quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam Chúng tôi biết rằng chưa bao giờ các ngày chính thức thừa nhận rằng các ngày có quân đội ở Nam Việt Nam và không bao giờ thừa nhận quân đội đó là quân đội nước ngoài ở Nam Việt Nam Chúng tôi thừa nhận vấn đề này, chúng tôi tôn trọng các ngày về vấn đề này Chúng ta thử tìm xem có thể có một giải pháp cho vấn

đề đặc biệt khó khăn này không, một giải pháp thực tế chứ không phải một giải pháp

có tính lý thuyết

Giải pháp về chính trị, chúng tôi nghĩ rằng có hai cơ sở để giải quyết: một là khi các lực lượng bên ngoài rút ra khỏi Nam Việt Nam rồi thì người Việt Nam tự giải quyết với nhau Nhưng nếu việc giải quyết vấn đề này là một bộ phận của nội dung đàm phán của chúng ta thì chúng tôi xin nêu ra hai nguyên tắc dưới đây:

- Bất cứ giải pháp chính trị công bằng nào cũng phải phản ánh tương quan lực lượng chính trị hiện có ở Nam Việt Nam

- Chúng ta phải thừa nhận rằng không một bên nào có thể cho rằng phía bên kia

sẽ từ bỏ ở bàn đàm phán những gì mà họ không chịu bỏ ở chiến trường” [5: 344, 345]

Kissinger cũng đề ra hai cách làm việc: thảo luận cả mười điểm của Mặt trận và tám điểm của Nixon, hai là gạt 10 điểm và tám điểm ra mà xác định với nhau những nguyên tắc chung Khi đã thống nhất rồi thì để cho các đoàn ở Kléber giải quyết các chi tiết Hoa Kỳ không cứng nhắc, Hoa Kỳ muốn chấm dứt chiến tranh một cách thực

tế chứ không phải về lý thuyết Ông nhấn mạnh rằng sự tiến bộ của việc làm này tùy thuộc vào việc không có sự tăng cường bạo lực ở Nam Việt Nam Đó là điều không có lợi cho cả hai bên mà có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng…Ông nói Tổng thống Nixon còn cầm quyền bảy năm nữa, không phải là điều đáng mong muốn gì cho

Trang 25

cả hai bên nếu muốn thử thách lòng dũng cảm của mình hơn nữa Sau khi chiến tranh chấm dứt, Mỹ sẽ sẵn sàng giúp nhân dân Việt Nam – toàn thể nhân dân Việt Nam – đổi mới và xây dựng lại Một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập phồn vinh và

tự tin vào mình là phù hợp với quyền lợi của quốc gia, của Hoa Kỳ, và trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào Hoa Kỳ sẽ không bao giờ là mối đe dọa cho nền độc lập của Việt Nam

Bộ trưởng Xuân Thủy nhắc lại rằng tình hình đàm phán từ sau cuộc gặp riêng tháng 8 năm ngoái đã xấu đi Mỹ nói muốn giải quyết nhanh trước ngày 1 tháng 11 năm 1969, nhưng không đưa ra nội dung cụ thể gì mà chỉ mở ra một diễn đàn mới với

cố vấn Kissinger

“Trong khi đó chúng tôi đưa ra hai nội dung cụ thể: Một là Mỹ rút hết quân và rút nhanh trong vòng năm, sáu tháng Hai là lập Chính phủ Liên hiệp ba thành phần Tổng thống Nixon trong diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1969 đã nhấn mạnh dùng Việt Nam hóa để giải quyết chiến tranh… chúng tôi cho rằng tin Việt Nam hóa sẽ thắng lợi

là chủ quan và lừa dối dư luận” [5: 346]

Cuộc gặp gỡ buổi chiều bắt đầu bằng việc hai bên trả lời các câu hỏi của phía bên kia Kissinger nhấn mạnh rằng Tổng thống Nixon đã đồng ý cho ông hành động như là một nhân vật chính trên cơ sở không chính thức để giải quyết những vấn đề cơ bản thật quan trọng trong các cuộc gặp nhau đều đặn với những nhân vật mà phía Việt Nam chỉ định Nhưng vấn đề lớn đối với ông ta là phía Việt Nam thật sự đàm phán như phía Hoa Kỳ hiểu chữ đàm phán không? “Quả thật đối với những người đã tỏ ra là những người dũng cảm tận tụy thì bây giờ khó mà xem xét việc chấm dứt chiến tranh

mà không được bảo đảm tất cả các mục tiêu của mình” [5: 347] Vì vậy mà ông ta chưa đưa ra một danh sách đề nghị cụ thể cho Việt Nam mà chỉ nhắc lại thiện chí và sự mềm dẻo của Mỹ trong vấn đề rút quân không phải là Nam Việt Nam

Nhưng buổi chiều chủ yếu là phát biểu tổng quát của Cố vấn Lê Đức Thọ Ông nói:

“Theo ông đánh giá về tình hình chúng tôi thì không đúng với chiến trường hiện nay Đó là quyền của ông Trong suốt mười lăm năm qua, khi đánh giá về tương quan lực lượng hai bên, các ông đã đánh giá rất sai về tình hình chúng tôi Tôi muốn

Trang 26

nhắc lại điều này để từ đó các ông có thể thấy phải đánh giá như thế nào cho đúng Có đánh giá đúng thì giải quyết vấn đề mới đúng được” [5: 347]

Tiếp đó Lê Đức Thọ nêu lên bốn lần Mỹ đánh giá sai:

Lần thứ nhất, khi Mỹ dựng lên Chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm với một đội quân tàn sát nhân dân

Lần thứ hai, việc Mỹ phát động chiến tranh đặc biệt ở Miền Nam tưởng có thể đàn áp được nhân dân Miền Nam bằng chính sách ấp chiến lược nhưng đã không thực hiện được

Lần thứ ba, Mỹ đưa quân ồ ạt vào Miền Nam, dùng một khối bom đạn có thể nói là cao hơn tất cả các cuộc chiến tranh từ trước đến nay của Mỹ

Sau Tết Mậu Thân đến nay các ông lại đánh giá tình hình không đúng “Các ông nói Việt Nam hóa chiến tranh thắng lợi nhưng thực ra nó bắt đầu thất bại” [5: 347]

“Các ông định mở thêm một chiến trường ở Lào để phối hợp với chiến trường miền Nam, nhưng bây giờ cánh đồng Chum đã mất về tay Pathet Lào” [5: 348] Cố vấn Lê Đức Thọ còn nói về phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ, và điều này Kissinger tỏ ra bực bội và xót xa vì sự chia rẽ trong nước ông Lê Đức Thọ nói đến phong trào thế giới ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời, đến ảo tưởng của Mỹ về sự thay đổi đường lối của Hà Nội và sau khi Hồ Chủ Tịch mất và kết luận:

“Không phải chúng tôi không có hy sinh mất mát lớn và cũng có nhiều gian khổ nhưng chúng tôi đã thắng

Trong hai con đường hòa bình và chiến tranh, các ông nên chọn lấy một Nếu các ông chọn con đường hòa bình thì chúng ta có thể giải quyết vấn đề một cách hòa bình, và như ông nói sau khi hòa bình lập lại, quan hệ hai nước chúng ta mở ra một trang sử mới” [5: 349]

Kissinger hoan nghênh sự thẳng thắn của Lê Đức Thọ và đặt ra một số câu hỏi Hai bên nhanh chóng đồng ý về cách thảo luận mười điểm và tám điểm Phía Mỹ hiểu thái độ của ta đối với chính quyền miền Nam là thay người và thay đổi chính sách Đó

là một điều kiện

Về mặt ngoại giao, ông ta “tiếc đã nhận gặp vào ngày 21 tháng 2, nghĩa là theo lịch do Hà Nội ấn định Đó là một bước lùi, chấp nhận một đòi hỏi vô lý, chúng ta đã

Trang 27

gây nên một cảm giác vội vàng vô ích cho phép Hà Nội ghi một bàn thắng về tâm lý

mà họ vẫn kiên trì từ lâu” [5: 351]

2.1.2 Cuộc gặp ngày 16 tháng 3 năm 1970

Kissinger nói phía Mỹ muốn đi vào thực chất Và ông ta đọc một chỉ thị của Nixon gửi cho ông ta trước khi đi Pari rằng phải nói với người Việt Nam “phải đi vào trung tâm của vấn đề” [5: 352] Rồi ông ta trình bày hai vấn đề: việc rút quân Mỹ và thời gian biểu việc rút quân đó

Chúng tôi sẵn sàng đàm phán về việc rút lui toàn bộ quân Hoa Kỳ, điều đó bao gồm việc rút tất cả quân và rút hết các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ mà không có điều ngoại lệ nào Về thời gian biểu rút quân, căn cứ vào số quân Mỹ có mặt ở Miền Nam Việt Nam đến 15 tháng 4 năm 1970 là 422.000 người Ông ta nói sẽ rút hết trong 16 tháng

Tháng thứ nhất: 5000 Tháng thứ hai và thứ ba: mỗi tháng 10.000 Tháng thứ tư: 27.000 Năm tháng sau đó: mỗi tháng 35.000 Tháng thứ 10: 10.000 Tháng thứ 11: 15.000 Tháng thứ 12: 10.000 Tháng thứ 13,14 và 15 mỗi tháng 40.000 Tháng thứ 16: 4.000

Ông ta giải thích một số điểm về kỹ thuật rút và nhắc lại rằng trong việc rút quân này “thực tế đòi hỏi phải có đi có lại chừng nào đó, và chính vì thế mà chúng ta

có mặt ở đây để đàm phán” [5: 352]

Nhắc lại phía Việt Nam không thừa nhận có quân ở Miền Nam, ông ta nói:

“Chúng tôi rất chú ý đến quan điểm đặc biệt này của các ông Chúng tôi cũng đã có ý kiến cụ thể về vấn đề này Nhưng tốt nhất là để các ông trình bày ý kiến của các ông Như vậy lúc đó chúng ta có thỏa thuận về hai kế hoạch, hai kế hoạch này cũng được thực hiện đồng thời nhưng không liên quan với nhau” [5: 352, 353]

Kissinger còn nói về vấn đề kiểm soát và vấn đề thả tù binh Bộ trưởng Xuân Thủy nhận xét ngay rằng thời hạn rút quân mà Kissinger đưa ra không phù hợp với tuyên bố trước đây của Mỹ rút quân trong 12 tháng Điều đó làm cho người ta nghĩ Mỹ kéo dài việc rút quân để gắn với kế hoạch Việt Nam hóa, như vậy không giải quyết được vấn đề Bộ trưởng cũng lưu ý Kissinger là ông ta chưa nói gì đến vấn đề chính trị

Trang 28

Kissinger lại giải thích mối liên quan giữa thương lượng và Việt Nam hóa, và nói thêm: thời gian rút quân vẫn có yếu tố mềm dẻo

Trước sự thúc giục của Xuân Thủy, Kissinger đề nghị: 25% các lực lượng không phải Nam Việt Nam phải hoàn thành trong 5 tháng Sau 8 tháng rút hết 50% Sau 12 tháng rút hết 75% Sau 16 tháng rút hết hoàn toàn Và những trại trên đất Campuchia và Lào và các con đường thâm nhập cũng phải rút

Lê Đức Thọ nhận xét:

“Đề nghị về thời hạn rút quân là một bước lùi so với thời gian các ông nêu ra ở Kléber Cách rút quân mà các ông trình bày có tính nhỏ giọt hơn cả kế hoạch Việt Nam hóa Có tháng chỉ có 5.000 so với mỗi tháng trước các ông rút đến 10.000 mà chúng tôi đã nói là quá nhỏ giọt Bởi vậy ông nói là đi vào thực chất và không nên mặc

cả thì lời nói đó trái ngược với thực tế này

Các ông càng dùng áp lực quân sự đối với chúng tôi thì các ông càng thất bại hơn nữa Các ông đã xé bỏ Hiệp định Geneve về Lào Nếu các ông không rút bài học

đó mà cứ muốn biến Campuchia thành một Lào thứ hai thì chính các ông sẽ thất bại như ở Nam Việt Nam và Lào” [5: 354]

Lúc này chưa xảy ra đảo chính lật đổ Sihanuc ở Campuchia nhưng chúng ta cũng có nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ mở rộng chiến tranh sang Campuchia Vì vậy Lê Đức Thọ đã cảnh cáo trước:

“Nếu các ông không tôn trọng những điều đã ký kết thì ba dân tộc chúng tôi sẽ đoàn kết chiến đấu và các ông nhất định thất bại” [5: 354]

Cố vấn Nhà Trắng bào chữa và nói rằng Mỹ giảm 25% hoạt động của không quân ở Campuchia Riêng vấn đề Lào thì đã nổ ra một cuộc tranh luận ai là kẻ phá hoại Hiệp định Geneve về Lào Phía Mỹ cũng thanh minh là không có ý định chiếm lại đất đai hiện nay do Pathet Lào kiểm soát Nhưng lúc này “địch đang điều động cấp tốc lực lượng các quân khu 1,2,3 ở Lào về tăng cường phòng thủ Long Chẹng, sào huyệt của bọn phỉ Vàng Pao ở Lào” [5: 354]

Kissinger cũng nói Mỹ không có cố gắng nào để buộc Campuchia từ bỏ chính sách trung lập Ông ta nhắc lại: Lịch rút quân không phải là trở ngại không vượt qua được! Ông cũng xác nhận: lần sau, theo yêu cầu của Việt Nam, thảo luận cả vấn đề quân sự và chính trị Phía Mỹ sẵn sàng thảo luận hai vấn đề đó cùng nhau

Trang 29

Hai bên hẹn gặp nhau vào ngày 4 hoặc 5 tháng 4 và sẽ đi vào cụ thể Kissinger

về báo cáo cho Nixon rằng: Bắc Việt Nam có vẻ quan tâm đến thời hạn rút quân và kết luận là “thêm hai cuộc họp nữa sẽ rõ” [5: 355]

Cuộc họp lần này diễn ra trong lúc Đông Dương chuyển sang một bước ngoặt

Ở Lào, ngày 27 tháng 3, quân phái hữu cùng quân Thái, với sự hỗ trợ của không quân Mỹ mở một đợt tấn công chung quanh Long Chẹng, chiếm lại khu vực Sảm Thông, tạo điều kiện cho Mỹ tiếp tế cho lực lượng Vàng Pao Nhưng sự kiện quan trọng hơn xảy ra trên đất Angko Chỉ hai ngày sau cuộc gặp bí mật giữa Lê Đức Thọ - Xuân Thủy và Kissinger nói trên, các lực lượng thân Mỹ do LonNol, Thủ tướng, Sirik Matak, Phó thủ tướng thứ nhất chỉ huy đã lật đổ Quốc trưởng Sihanuc và phát động chiến tranh chống Việt Nam

Được sự ủng hộ và viện trợ của Việt Nam và Trung Quốc Ngày 18 tháng 4, Sihanuc lập Chính phủ Kháng chiến Khơ Me Các đơn vị vũ trang của Việt Nam được chỉ thị phối hợp với bạn mở vùng giải phóng giành quyền làm chủ ở bảy tỉnh phía Đông – Đông Bắc và ba tỉnh phía Tây – Nam, xây dựng chính quyền cách mạng, phát triển chiến tranh du kích

Chỉ trong một thời gian ngắn, vùng nông thôn ở tỉnh Kratie, sáu huyện ở TaKeo, Cămpôt, đã được giải phóng

Mỹ vội vàng tăng cường viện trợ 200 triệu đôla cho bọn tay sai ở Campuchia,

cố gắng đưa lực lượng của LonNol từ 35.000 đến 60.000 người

Ngày 28 tháng 4, các đơn vị quân ngụy Sài Gòn mở chiến dịch “Toàn thắng 42” vượt biên giới Campuchia đánh vào vùng Mỏ Vẹt

Ngày 30 tháng 4 Mỹ cho một lực lượng hỗn hợp gồm 50.000 quân Mỹ, 50.000 quân Sài Gòn tiến vào vùng Móc Câu, tiến sâu vào đất Campuchia từ 30 đến 40 km Đồng thời máy bay Mỹ ném bom miền Bắc nước ta ở vùng Quảng Bình, Vĩnh Linh trong mấy ngày liền

Việc mở rộng chiến tranh sang Campuchia là một sai lầm chiến lược của Nixon Trong tình thế phải “phi Mỹ hóa”, rút dần quân Mỹ ra khỏi chiến trường chính, Mỹ lại đưa quân Mỹ sang Campuchia tạo nên một chiến trường mới, do đó bỏ trống cả miền Nam Việt Nam và giơ lưng cho đối phương đánh

Trang 30

Họ đã tạo cho Chính phủ Cách mạng lâm thời thời cơ vừa giúp cách mạng Campuchia, vừa đưa lực lượng trở lại miền Nam, từng bước phá âm mưu của địch, tạo chuyển biến lớn trong cục diện chiến tranh có lợi cho ta

2.1.3 Cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger hôm 4 tháng 4 năm 1970

Đi vào nội dung, Kissinger bắt đầu nói về một số điều chỉnh trong lịch rút quân ông ta đưa ra lần trước, nâng con số sẽ rút trong tháng thứ tư và thứ năm lên một chút Xuân Thủy bác bỏ việc Mỹ đòi hai bên cùng rút quân trong thời gian 16 tháng của Mỹ

là một bước thụt lùi, và phê phán Mỹ vẫn chưa cử trưởng đoàn mới ở Hội nghị công khai

Nhắc lại các sự kiện ở Lào và Campuchia Xuân Thủy nói:

“- Chính các ông đã dùng áp lực quân sự và áp lực chính trị để hòng ép chúng tôi nhận những điều kiện của các ông

- Bộ trưởng ủng hộ đề nghị rút quân Mỹ trong sáu tháng của Chính phủ Cách mạng lâm thời và chuyển sang vấn đề chính trị

- Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thừa nhận độc lập và trung lập của miền Nam Việt Nam Cụ thể:

+ Chúng tôi thừa nhận chính quyền Sài Gòn là một thực tế nhưng phải thay đổi bọn cầm đầu hiện nay là Thiệu – Kỳ - Khiêm, kẻ đang cản trở việc giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam

+ Thành lập Chính phủ lâm thời gồm ba thành phần: Những Đại biểu của Chính phủ Cách mạng lâm thời, những đại biểu của chính quyền Sài Gòn không có Thiệu –

Kỳ - Khiêm, và những đại biểu các lực lượng chính trị ngoài hai lực lượng trên

+ Sau khi Mỹ rút, tổ chức tuyển cử bầu ra Quốc hội, thông qua Hiến pháp mới

Trang 31

nay như thế nào và phải thỏa thuận với nhau về quá trình chính trị phải thực hiện để phản ánh tương quan lực lượng đó

Kissinger tóm tắt đề nghị của ông ta như sau:

1 Chúng tôi đồng ý về nguyên tắc phải rút toàn bộ quân Hoa Kỳ và quân đồng minh

2 Chúng tôi đã trình bày một kế hoạch chi tiết về việc rút quân đó và chúng tôi cũng

đã nói rằng vấn đề thời gian rút quân là vấn đề mềm dẻo và sẽ không để nó thành một trở ngại cho việc giải quyết

3 Chúng tôi đã nói chúng tôi không cam kết duy trì một lực lượng chính trị nào trong chính quyền một khi đạt được một giải pháp

4 Chúng tôi đã nói về phương pháp thích hợp để biết được ý muốn của nhân dân nhưng chúng tôi cũng sẵn sàng bàn những đề nghị khác về các vấn đề đó

5 Chúng tôi đã nói là chúng tôi không những sẵn sàng bàn vấn đề về tuyển cử một cách trừu tượng mà còn sẵn sàng bàn mối liên quan giữa tuyển cử và quyền lực chính trị, mối liên quan giữa các vấn đề về quân sự và chính trị, giữa quyền hành pháp và lập pháp, vấn đề bảo vệ các lực lượng thiểu số,…Nói cách khác chúng tôi không nói đến bầu cử một cách trừu tượng mà nói đến một cơ cấu chính trị cụ thể

6 Chúng tôi sẵn sàng xem xét vấn đề chính trị và vấn đề quân sự có liên quan với nhau không chỉ một cách chung chung mà cả vấn đề cụ thể nữa, đặc biệt qua thảo luận vấn đề ngừng bắn

Kissinger còn nói rằng Mỹ không có ý định dùng vấn đề Lào, làm áp lực quân

sự đối với Việt Nam Chính phủ Hoa Kỳ sẵn sàng tiến tới một giải pháp thực hiện trên

cơ sở giữ nguyên trạng ở Lào,…sẵn sàng thực hiện với ta một sự thỏa thuận để bảo đảm nền trung lập của Lào và để bảo đảm an ninh cho lực lượng của Việt Nam khỏi bị những hoạt động đối địch xuất phát từ Lào

Về vấn đề Campuchia, ông nói Mỹ không dính dáng vào và đã không dùng vấn

đề campuchia làm áp lực với Việt Nam và tuyên bố sẵn sàng hôm nay thỏa thuận với Việt Nam về những sự sắp xếp để bảo đảm nền trung lập của Campuchia không bị xâm phạm

Lê Đức Thọ bằng lời lẽ mạnh mẽ ông nói một cách thẳng thắn:

“Trong hai lần gặp vừa qua ông đều nói rằng các ông muốn giải quyết hòa bình,

Trang 32

những việc làm thực tế của các ông làm cho chúng tôi không thể tin được vào lời nói của các ông

Về Lào, trong hai, ba năm qua chiến sự vẫn diễn ra bình thường nhưng thử hỏi:

Ai đã đánh chiếm cách đồng Chum cho nên nhân dân Lào phải đánh trả lại và chiếm lại Cánh Đồng Chum, và bây giờ các ông lại đưa quân Thái vào Lào ném bom Cách Đồng Chum rất ác liệt

Về Campuchia, ai đã tổ chức cuộc đảo chính ở Campuchia, đã xóa bỏ nền độc lập và trung lập của Campuchia và đưa một tập đoàn phản động ở đó lên cầm quyền? không ai khác hơn là Mỹ Các ông nói các ông không uy hiếp Việt Nam trong vấn đề Lào và các ông không dính dáng đến vấn đề Campuchia, điều đó hoàn toàn là không đúng sự thật” [5: 362]

Lê Đức Thọ nói rõ thái độ của ta là ủng hộ tuyên bố năm điểm của Sihanuc, và chừng nào chính quyền LonNol-Sirik Matak còn ở Phnom Pênh thì không giải quyết được vấn đề Campuchia

“Vậy ngày nay có giải quyết được vấn đề hòa bình ở Việt Nam, Lào và Campuchia hay không, điều đó không tùy thuộc ở chúng tôi mà chính là tùy thuộc ở các ông Chúng tôi vẫn để ngỏ một cách cửa cho một giải pháp hòa bình Nhưng ông Nixon chưa muốn giải quyết vấn đề và còn nhiều tham vọng Mong rằng giáo sư Kissinger có đầu óc nghiên cứu nắm vấn đề để giải quyết, hãy tỉnh táo nhìn vào thực tế” [5: 363]

Về tương quan lực lượng ở miền Nam Việt Nam Lê Đức Thọ nhấn mạnh: Lực lượng Thiệu – Kỳ - Khiêm mà các ông nói, có thể điếm được trên đầu ngón tay, còn nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân miền Nam là hòa bình, trung lập Chỉ có một thiểu số tướng tá là thích chiến tranh thôi

Hai bên còn tranh luận thêm về vấn đề Lào và Campuchia và hứa nghiên cứu ý kiến của nhau

Tóm lại: Đợt đầu đàm phán Lê Đức Thọ và Kissinger chấm dứt với phiên họp

ngày 4 tháng 4 Trong đợt này hai bên có đi vào vấn đề thực chất, nhưng nói chung vẫn giữ quan điểm của mình Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh, tuy có rút một số quân Mỹ, nhưng vẫn mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tăng cường chiến sự ở Lào, họ chưa thật muốn bàn bạc nghiêm chỉnh một giải pháp

Trang 33

2.2 Đợt hai đàm phán về đề nghị của hai bên (31-5-1971 đến 16-8-1971)

Năm 1971 là năm bản lề, vì năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống và Quốc hội ở

Mỹ Muốn thắng cử, Nixon phải giải quyết chiến tranh Việt Nam Ngay từ giữa tháng

7 năm 1970, Nixon đã thổ lộ riêng với Kissinger rằng “chiến tranh làm sụp đổ sự ủng

hộ mà Nixon thu được trong nước” do đó “phải chấm dứt chiến tranh trước năm 1972” [8: 63]

Tháng 11 năm 1970 Nixon bàn với Kissinger phương án ba điểm:

1 Rút gần hết quân Mỹ trong năm 1971, chỉ để lại một lực lượng hạn chế khoảng 50.000 người

2 Phong tỏa miền Bắc Việt Nam

3 Ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam

Thực hiện phương án đó, chính quyền Nixon đã mở chiến dịch đường 9 – Nam Lào từ đầu tháng 2 năm 1971 Đó là một sức ép quân sự

Về sức ép ngoại giao, nửa đầu tháng 7 năm 1971, Kissinger đi thăm bí mật Trung Quốc, sau đó Nixon công bố việc đi thăm Trung Quốc và Liên Xô hòng gây khó khăn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta Trong hồi kí Kissinger viết: “Hà Nội bị tác động mạnh do việc hai đồng minh cộng sản lớn của họ cải thiện quan hệ với Oasinhtơn mặc dù có chiến tranh Đông Dương Điều đó chỉ làm lợi cho thế đàm phán của Mỹ” [8: 64]

Về sức ép công luận, chính quyền Nixon, từ những năm 1969-1970, đã tập trung sức cố dấy lên một phong trào đòi thả tù binh Mỹ nhằm tập hợp lực lượng và nhằm gây khó khăn cho ta Sang năm 1971, chính quyền Nixon khuấy mạnh phong trào này để gây sức ép với ta

Về phía ta, trong năm 1971, nhân dân ba nước Đông Dương, đông đảo nhân dân Mỹ, trong đó có nhiều nghị sĩ Mỹ, các lực lượng hòa bình trên toàn thế giới tiếp tục tăng cường sức ép nhiều mặt đối với chính quyền Nixon

Trên chiến trường, quân và dân ba nước Đông Dương giành được nhiều thắng lợi lớn, đặc biệt là thắng lợi đường 9 – Nam Lào có ý nghĩa chiến lược quan trọng Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ gặp nhiều khó khăn và thất bại Chính

Trang 34

Trong nội bộ chính quyền Mỹ bộc lộ nhiều mâu thuẫn Nixon chủ trương ném bom thật mạnh, đẩy mạnh Việt Nam hóa chiến tranh để rút quân Mỹ nhanh Kissinger thì chủ trương không nên rút nhanh vì rút nhanh thì không có con bài để mặc cả

Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ ngày càng phát triển Quốc hội Mỹ ngày càng nghiêng về phía đòi rút nhanh quân Mỹ về nước miễn là tù binh Mỹ được thả sớm

Tháng 5-1971 Bộ Chính trị Trung ương Đảng của ta đã đề ra nhiệm vụ khẩn cấp: trên cơ sở phương châm, chiến lược đánh lâu dài, kịp thời nắm bắt thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972

Như vậy có sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa ta và đối phương trong chủ trương giải quyết chiến tranh trong năm 1972, vì thế năm 1971 là năm bản lề Những cuộc đàm phán trong năm 1971 diễn ra trong bối cảnh đó Trong năm 1971 có tới 6 cuộc gặp riêng giữa các đồng chí lãnh đạo đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Kissinger

2.2.1.Cuộc gặp riêng ngày 31-5-1971

Kissinger đưa ra một chương trình bảy điểm tóm tắt như sau:

1 Hoa Kỳ sẵn sàng ấn định một thời hạn cho việc rút tất cả lực lượng Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam

2 Người Việt Nam và người các nước Đông Dương sẽ thỏa thuận với nhau cách thức rút tất cả lực lượng ngoại nhập khác ra khỏi Đông Dương

3 Ngừng bắn tại chỗ trên toàn Đông Dương bắt đầu khi rút quân Mỹ

4 Không được đưa thêm vào các nước Đông Dương các lực lượng ngoại nhập

5 Giám sát quốc tế về ngừng bắn và các điều khoản quân sự

6 Tôn trọng các Hiệp định Geneve năm 1954 về Campuchia và năm 1962 về Lào,

có thể được chính thức hóa tại một Hội nghị quốc tế

7 Phóng thích tất cả tù binh và thường dân vô tội toàn Đông Dương trên cơ sở nhân đạo hoặc một bộ phận của giải pháp bắt đầu với việc rút quân Mỹ

Mong phía Việt Nam xem xét các đề nghị cuối cùng của Mỹ với tinh thần xây dựng

Sau đó Bộ trưởng Xuân Thủy nói về hai điểm trong bảy điểm của Mỹ:

- Hoa Kỳ chỉ nói là sẵn sàng đưa ra một thời hạn rút quân chứ không nói dứt khoát ngày nào tháng nào năm nào Mỹ sẽ rút hết

Trang 35

- Thứ hai là ông Cố vấn đã thỏa thuận là trong gặp riêng là sẽ thảo luận cả vấn

đề quân sự và chính trị Nếu các ông trở lại ý kiến ban đầu là không bàn vấn đề chính trị thì không giải quyết được một trong những vấn đề cơ bản

Bộ trưởng cũng nói đến vấn đề tù binh mà Mỹ đã dùng để tuyên truyền lừa bịp

dư luận

Vấn đề Lào và Campuchia, Xuân Thủy nhắc lại Việt Nam tôn trọng Hiệp định Geneve năm 1954 về Campuchia và 1962 về Lào Bộ trưởng nhấn mạnh: Việt Nam sẵn sàng giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam Bộ trưởng đã ở Paris từ năm 1968 Ông

và Cố vấn Lê Đức Thọ, một nhà lãnh đạo Việt Nam có đủ thẳm quyền để giải quyết Xuân Thủy nhắc lại sẽ nghiên cứu bảy điểm của Mỹ

Hai bên định lại ngày gặp lại nhau, Kissinger có ý muốn vào tháng 7, nhưng Xuân Thủy muốn sớm hơn và đồng ý gặp lại nhau vào ngày 26-6

2.2.2 Cuộc gặp riêng ngày 26-6-1971

Vào nội dung, Cố vấn Lê Đức Thọ nói Mỹ chưa thật sự muốn giải quyết vấn đề

và đặt cách giải quyết vấn đề chưa đúng

“Trước hết, các ông muốn tách vấn đề quân sự với vấn đề chính trị Nhưng đó

là một đề nghị không thực tế Hồi đầu tháng năm 1970, các ông đã đồng ý thảo luận vấn đề quân sự và vấn đề chính trị đi đôi Không có cuộc chiến tranh nào mà không có mục đích chính trị Quân sự chỉ là một thủ đoạn, một phương tiện để đạt mục đích chính trị mà thôi Nếu tách vấn đề quân sự với vấn đề chính trị thì không giải quyết được vấn đề Nếu cuộc chiến đấu của chúng tôi không đạt được mục đích chính trị, tức

là hòa bình, tự do, độc lập thật sự, thì cuộc chiến đấu đó còn tiếp tục Các ông đề nghị giải quyết vấn đề quân sự rồi ngừng bắn ngay trong khi chưa giải quyết vấn đề chính trị là nhằm mục đích củng cố ngụy quyền tay sai Các ông tiếp tục dùng tay sai để củng cố Việt Nam hóa chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt, dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới

Các ông lấy đề nghị quân sự để ép chúng tôi về vấn đề chính trị Các ông lại nói

đề nghị bảy điểm của các ông là đề nghị cuối cùng Đó là tối hậu thư Chúng tôi nghĩ rằng trong cuộc đàm phán thương lượng thật sự thì không có đề nghị cuối cùng được Với tất cả đề nghị như vậy thì làm sao giải quyết được vấn đề và tin rằng các ông

Trang 36

Lê Đức Thọ còn nói nhiều đến sai lầm trước đây của Mỹ, đến tương lai thất bại của Việt Nam hóa chiến tranh Ông nói:

“Các ông đã đưa chủ lực Ngụy ra mở các cuộc tấn công, nhưng quân Ngụy, cái xương sống của Việt Nam hóa chiến tranh, vừa qua đã liên tiếp thất bại,….Các cuộc bình định của các ông cũng không đạt được mục đích, chúng tôi nghĩ từ nay đến hết nhiệm kỳ của ông Nixon hoặc ông Nixon có trúng cử một nhiệm kỳ nữa cũng không thể thực hiện được Thời gian không ủng hộ các ông…

Chiến tranh đã diễn ra trên toàn Đông Dương Chúng tôi muốn giải quyết hòa bình khu vực này Chúng tôi muốn Nam Việt Nam, Lào và Campuchia là một khu vực hòa bình, độc lập, trung lập và không liên kết thật sự Miền Nam Việt Nam không thể trở thành thuộc địa kiểu thực dân mới, nhưng cũng không phải xã hội chủ nghĩa và thật

sự độc lập và trung lập, phải có một Chính phủ hòa hợp dân tộc gồm có các bên Phải

có một chính quyền thật sự độc lập, dân chủ, trung lập, mong muốn hòa bình để nói chuyện thật sự với Chính phủ Cách mạng lâm thời giải quyết vấn đề hòa bình Nam Việt Nam Nếu các ông vẫn còn duy trì chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thì không giải quyết được vấn đề gì” [5: 394, 395]

Vấn đề Lào và Campuchia, Lê Đức Thọ nói Việt Nam sẵn sàng góp phần vào việc giải quyết vấn đề Lào và Campuchia sẵn sàng bàn với các bạn Lào và Campuchia….rồi lại nhắc lại phải giải quyết cả vấn đề quân sự và chính trị Có giải quyết xong toàn bộ vấn đề như vậy mới có thể đi đến ngừng bắn có giám sát quốc tế

và bảo đảm quốc tế

Kissinger nói:

“Quả thật đây là đề nghị cuối cùng của chúng tôi, nhưng các ngày có thể đưa ra

đề nghị của các ngài Chúng tôi đàm phán chứ chúng tôi không đưa ra tối hậu thư” [5: 395] Kissinger cũng bào chữa cho chính quyền Thiệu và nói Nixon thành thật muốn hòa bình Xuân Thủy đề nghị nghỉ giải lao

Khi trở lại phòng họp, nỗi vui mừng của Kissinger tăng thêm và đúng như ông

ta nói, thấy hy vọng khác thường khi Xuân Thủy trình bày đề nghị chín điểm:

1 Rút hết quân Hoa Kỳ và quân nước ngoài thuộc phe Hoa kỳ trong năm 1971

2 Việc thả hết quân nhân và thường dân bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành cùng một lúc với việc rút quân nói trên

Trang 37

3 Hoa Kỳ phải chấm dứt ủng hộ Thiệu – Kỳ - Khiêm, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền mới tán thành hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ nói chuyện với chính quyền đó để giải quyết công việc nội bộ miền Nam và thực hiện hòa hợp dân tộc

4 Hoa Kỳ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, phải bồi thường những thiệt hại do

Mỹ gây ra cho cả nước Việt Nam

5 Hoa Kỳ phải tôn trọng các hiệp định Geneve năm 1954 về Campuchia và năm

1962 về Lào, chấm dứt can thiệp và xâm lược các nước Đông Dương

6 Các vấn đề liên quan đến các nước Đông Dương sẽ do các bên Đông Dương giải quyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tham gia vào việc giải quyết các vấn đề đó

7 Các bên sẽ thực hiện ngừng bắn sau khi Hiệp nghị được ký kết

8 Quy định giám sát quốc tế

9 Có bảo đảm quốc tế đối với những quyền dân tộc cơ bản của các nước Đông Dương

Những điểm trên đây là một thể thống nhất

Kissinger hỏi thêm nhiều điểm và hứa sẽ nghiên cứu kỹ, trước hết ông có nhận xét

về điểm 4 Ông nói rằng Mỹ không chấp nhận được vì Hoa Kỳ là một nước lớn Chúng tôi đã nói nhiều lần là chúng tôi đồng ý cung cấp viện trợ kinh tế tự nguyện và thiện chí vì đó là nguyên tắc và danh dự của Tổng thống

Xuân Thủy:

“Nước Mỹ được người ta quý trọng không phải Mỹ có nhiều vũ khí và đôla Điều cao quý ở đời là sự bình đẳng giữa các dân tộc dù lớn hay nhỏ Mỹ đã gây ra thiệt hại, tất nhiên Mỹ phải đền bù Đó là chuyện bình thường” [5: 396]

Đến đây cuộc gặp tạm dừng, hai bên nói sẽ giữ bí mật và nghiên cứu ý kiến của nhau

Để phối hợp đấu tranh công khai với bí mật ngày 1-7-1971, trong phiên họp công khai lần thứ 119, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

đã công khai hóa giải pháp 9 điểm ngày 26-6-1971 bằng cách đưa ra lập trường bảy điểm, trong đó có một số điểm đáng chú ý như sau:

Trang 38

1 Lập Chính phủ hòa hợp dân tộc rộng rãi gồm ba thành phần làm nhiệm vụ trong thời gian từ hòa bình lập lại đến tổng tuyển cử

2 Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam cùng nhau giải quyết

Giải pháp 7 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam được dư luận thế giới, nhất là dư luận Mỹ nhiệt liệt hoan nghênh

2.2.3 Cuộc gặp riêng ngày 12 và 26 -7-1971

Lê Đức Thọ bình luận về đề nghị của Kissinger

Trong bảy điểm của các ông có những điểm mà chúng tôi đồng ý về nguyên tắc nhưng chưa đi vào cụ thể, có điểm về nguyên tắc chúng tôi đồng ý Ví dụ:

- Việc giám sát quốc tế về ngừng bắn tuy còn thảo luận nhưng về nguyên tắc thì đồng ý

- Việc tôn trọng Hiệp định Geneve năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Geneve năm 1962 về Lào, chúng tôi cũng đồng ý và chúng tôi đã làm Các ông nói phải có thể thức bảo đảm quốc tế, chúng tôi cũng đồng ý

Còn vấn đề tù binh của hai bên, chúng tôi nói thả tù binh chiến tranh, các ông nói thả cả tù binh ở Đông Dương Để thả tù binh chúng tôi đòi Hoa Kỳ phải định ngày rút quân Chính ông Nixon cũng nói thả tù binh thì Hoa Kỳ rút hết quân

Có những điểm ông đưa ra chúng tôi không đồng ý Thí dụ: điểm hai của các ông và điểm sáu của chúng tôi về việc giải quyết các vấn đề giữa người Đông Dương với nhau còn khác xa lắm

Tiếp theo Kissinger bình luận từng điểm một trong đề nghị của Việt Nam

Về điểm 1 Chúng tôi sẵn sàng đưa ra một thời hạn rút toàn bộ lực lượng Hoa

Kỳ và đồng minh như mục 1 của chương trình làm việc một khi chúng ta đã đạt được thỏa thuận về cái khung, chưa đi vào cụ thể cái khung đó

Về điểm 2 Chúng tôi chấp nhận cách viết của các ngài với hai điểm nói rõ thêm như sau:

+ Hai bên sẽ đưa danh sách quân nhân và thường dân vô tội bị giam giữ trên toàn Đông Dương vào ngày đạt được thỏa thuận

Trang 39

+ Việc thả tù binh sẽ bắt đầu cùng ngày với việc rút quân của chúng tôi theo một thời gian biểu được thỏa thuận và sẽ hoàn thành cùng ngày với các cuộc rút quân

Các ngày nhận thấy chúng tôi bỏ điểm nói rằng tù binh phải được thả hết hai tháng trước khi hoàn thành các cuộc rút quân, xem đó là cử chỉ thiện chí và nhằm đẩy nhanh tiến bộ

Về điểm 3 Tôi muốn gác lại và thảo luận riêng trong phần cuối những nhận xét của chúng tôi

Về điểm 4 Không thể chấp nhận được về nguyên tắc như tôi đã nói lần trước Tôi sẽ bình luận về điểm này sau khi tôi đã phát biểu về các điểm khác

Về điểm 5 Chúng tôi chấp nhận về nguyên tắc nhưng không theo lời lẽ dự thảo hiện nay Chúng tôi sẵn sàng tôn trọng Hiệp định Geneve năm 1954 và năm 1962 trên

cơ sở có đi có lại áp dụng cho tất cả các nước Chúng tôi xem những từ ngữ như “Hoa

Kỳ xâm lược” là những sáo ngữ không thể chấp nhận được và phải bỏ đi

Về điểm 6 Chúng tôi chấp nhận nguyên tắc là tương lai của Đông Dương phải

do các bên Đông Dương giải quyết trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không can thiệp vào nội bộ của nhau

Về điểm 7 Chúng tôi chấp nhận về nguyên tắc, nhưng muốn viết lại: sẽ có một cuộc ngừng bắn chung trên toàn Đông Dương bắt đầu khi Hiệp định được ký kết, xem như một phần của ngừng bắn, không được đưa thêm lực lượng ngoại nhập vào các nước Đông Dương

Chúng tôi chấp nhận điều 8 và điều 9

Như thế là chúng tôi đồng ý về các điểm 8 và 9, đồng ý về nguyên tắc các điểm 1,2,5,6,7

Về điểm 4, Kissinger nói:

“Như tôi đã nói trong phiên họp lần trước, quan niệm về bồi thường là không thể chấp nhận được Tuy nhiên Tổng thống cho phép tôi nói với các ngài rằng chúng tôi muốn khởi đầu một mối quan hệ với các ngài cũng như đối với các nước Đông Dương

Do đó, sau khi ký kết hòa bình, Tổng thống sẵn sàng mở đầu một chương trình

Trang 40

làm việc đó như một hành động tự nguyện mà các ngài có thể tin cậy, chứ không xem như một nghĩa vụ hay một điều kiện hòa bình

Mặc khác chúng tôi có thể chấp nhận về nguyên tắc điểm 3 của các ngài theo nghĩa chung của nó Chúng tôi có thể đồng ý là chúng tôi không cam kết với bất cứ một Chính phủ nào ở Sài Gòn, nhưng cũng theo nguyên tắc ấy chúng tôi phải được quan hệ với bất cứ Chính phủ nào tồn tại ở đó” [5: 402, 403]

Cuối cùng Kissinger kết luận: Bây giờ là thời gian chủ chốt để hai bên có những cố gắng to lớn nhằm thực hiện những tiến bộ để đi đến thỏa thuận Không có lúc nào thuận lợi hơn để đem lại hòa bình cho nhân dân chúng ta và nhân dân thế giới

Ngoài ra trong phiên họp riêng bí mật này ta tập trung đòi Mỹ phải từ bỏ Nguyễn Văn Thiệu như Cố vấn Lê Đức Thọ nói: Có lẽ đây là trở ngại lớn nhất vì Chính quyền này rất độc tài, hiếu chiến….còn Thiệu thì không thể có hòa bình được…có thể nói vấn đề thay Thiệu hay không là thước đo ý định của các ông muốn hòa bình hay muốn tiếp tục Việt Nam hóa chiến tranh Nếu các ông thay Thiệu thì chúng tôi sẵn sàng giải quyết vấn đề chiến tranh một cách nhanh chóng không những ở Việt Nam mà ở cả Đông Dương Lê Đức Thọ nhấn mạnh quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta cho đến khi đạt được độc lập tự do, và nhắc lại việc thay Thiệu

2.2.4 Cuộc gặp riêng ngày 16-8-1971

Trong cuộc gặp này Kissinger đưa ra lập trường 8 điểm tóm tắt như sau:

1 Hoa Kỳ sẽ rút hết quân vào ngày 1-8-1972 nếu Hiệp định cuối cùng được ký vào 1-11-1971

2 Việc thả các tù binh sẽ bắt đầu cùng ngày và kết thúc cùng ngày với việc rút quân Hoa Kỳ

3 Tương lai chính trị của Nam Việt Nam do nhân dân Nam Việt Nam quyết định không có sự can thiệp của nước ngoài Hoa Kỳ tuyên bố:

- Không ủng hộ bất cứ ứng cử viên nào và sẽ giữ hoàn toàn trung lập trong bầu

cử sắp tới ở Việt Nam

- Sẽ tôn trọng kết quả cuộc bầu cử và mọi quá trình chính trị khác do nhân dân Nam Việt Nam tự đặt ra

- Sẵn sàng qui định mối quan hệ về viện trợ quân sự và chính trị giữa Hoa Kỳ với bất cứ Chính phủ nào tồn tại ở Nam Việt Nam, kể cả việc qui định những giới

Ngày đăng: 08/04/2018, 11:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w