Lịch sử nghiên cứu vấn đề Với sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, ngoại giao Việt Nam đã đứng trước những thử thách vô khắc nghiệt là cuộc đối đầu với hai nền n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
MSSV: 6095939
LỚP:SD0918A1
Cần Thơ, tháng 5 năm 2013
Trang 2Em cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Thầy Nguyễn Hữu Thành, Cô Lê Thị Minh Thu, Thầy Phạm Đức Thuận đã giúp đỡ, truyền lửa rất nhiều cho em những khi gặp khó khăn trong học tập và cuộc sống
Đồng thời, em cũng xin cảm ơn quí anh, chị thủ thư Thư viện tỉnh Cần Thơ đã tạo điều kiện cho em đọc và mượn tài liệu để hoàn thành luận văn
Mặc dù em muốn viết bài luận văn thật hay, nhưng với bàn tay nhỏ bé và
bộ óc tầm thường thì chắn chắn còn nhiều sai sót, cho nên em rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 10- 4 - 2013
Đặng Minh Hoàng
Trang 3NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Bố cục đề tài
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA ĐẢNG TA
1.1 Tác động của tình hình quốc tế đến Việt Nam 1
1.1.1 Sự căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Xô những năm đầu thập niên 60 1
1.1.2 Việt Nam trở thành một tâm điểm của Chiến tranh lạnh 2
1.1.3 Mỹ là cường quốc số 1 trên thế giới, có tham vọng lãnh đạo toàn thế giới 5
1.2 Cơ sở hình thành đường lối ngoại giao độc lập tự chủ của Đảng ta 7
1.2.1 Kế thừa truyền thống của dân tộc 7
1.2.2 Bài học từ Hội nghị Geneva về Đông Dương 10
1.2.3 Sự lựa chọn và quyết tâm của Đảng 12
CHƯƠNG 2:ĐƯỜNG LỐI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA ĐẢNG TA TRONG CUỘC ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TỪ 1965 ĐẾN TRƯỚC HỘI NGHỊ PARIS 2.1 Đường lối độc lập, tự chủ của Đảng ta với Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Dương 14
2.1.1 Đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ với Liên Xô 14
2.1.2 Đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ với Trung Quốc 19
2.1.3 Cân bằng quan hệ Xô- Trung, tăng cường đoàn kết với Lào, Campuchia .21
a Cân bằng quan hệ Xô – Trung 21
b Tăng cường đoàn kết với Lào và Cambodia 23
2.2 Các đòn tiến công ngoại giao của ta với Mỹ từ 1965 đến trước Hội nghị Paris 24
2.2.1 Giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, làm thất bại các chiến dịch hòa bình của Mỹ 24
a Làm thất bại chiến dịch hòa bình mang mật danh Hoa tháng năm: 24
b Làm thất bại chiến dịch hòa bình mang mật danh X.Y.Z 25
c Làm thất bại chiến dịch hòa bình mang mật danh Kế hoạch Pinta 26
d Làm thất bại chiến dịch hòa bình mang mật danh Hoa hướng dương 28
2.2.2 Mở các đòn ngoại giao trực tiếp tiến công Mỹ: 30
a Chủ động ra Tuyên bố 4 điểm và Tuyên bố 5 điểm: 30
b Mở rộng mạng lưới ngoại giao, vạch trần các thủ đoạn lừa dối của Mỹ 31
- Vạch trần các chính sách mị dân 32
- Vạch trần thủ đoạn lôi kéo thêm Đồng minh 33
Trang 6c Từng bước tiến tới thỏa thuận mở Hội nghị Paris 33
CHƯƠNG 3: ĐƯỜNG LỐI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA ĐẢNG TA TRONG CUỘC ĐẤU TRANH TẠI HỘI NGHỊ PARIS 3.1 Đường lối độc lập tự chủ của Đảng ta trước tác động của Liên Xô- Trung Quốc trong quá trình đàm phán ở Paris 38
3.1.1 Với Liên Xô 38
3.1.2 Với Trung Quốc 40
3.2 Ta giữ vững thế tiến công ngoại giao từ 1968 đến 1971 41
3.2.1 Bày tỏ quan điểm, thăm dò đối phương: 41
3.2.2 Tiến công địch trên những điểm mấu chốt 45
3.3 Những đòn tiến công ngoại giao của ta trong năm 1972 và đi đến ký kết Hiệp định 47
3.3.1 Những cuộc đàm phán đi vào thực chất 48
3.3.2 Dự thảo Hiệp định – đòn bứt phá ngoạn mục 52
3.3.3 Những cuộc đấu tranh cuối cùng dẫn tới ký kết Hiệp định Paris 53
PHẦN KẾT LUẬN 55
PHỤ LỤC 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam ta có truyền thống lịch sử mấy ngàn năm, trong suốt quá trình lịch sử đó, tổ tiên ta vừa dựng nước mà cũng phải giữ nước, chống lại âm mưu bành trướng xâm lược của phong kiến phương Bắc, sau này là kẻ thù đến từ phương Tây Trong những cuộc chạm trán đó ông cha ta cũng đã phải chấp nhận những thất bại cay đắng, nhưng nổi trội hơn là những chiến công vang dội lưu danh mãi đến ngàn thu, với những chiến công Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ
Nhưng, khi lật lại cũng những trang sử đó đôi lúc ta vẫn thấy sự trăn trở, ông cha ta đã chiến thắng vẻ vang nhưng vẫn phải xưng thần, cống nạp bọn phong kiến phương Bắc, nhắc đến món nợ Liễu Thăng thử hỏi ai không hận? Bản Hiệp định Geneva vẫn là bài học vô giá cho các nhà ngoại giao Việt Nam, và mãi là nỗi đau không phải của một thế hệ
Từ nhỏ tôi đã rất say mê những câu chuyện trong Việt Sử giai thoại, Đại Việt
Sử ký, Đông Chu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí Đó là những cảnh ứng đối xuất thần của cụ Lê Văn Thịnh, cụ Mạc Đĩnh Chi, cụ Giang Văn Minh, hay những cảnh Tào Tháo tán Quan Công, Trương Nghi du thuyết các nước, những chuyện đàm phán của Lê Đức Thọ, của Nguyễn Thị Bình với các đại diện Mỹ được ông tôi kể lại Cùng với thời gian đó niềm say mê đó cũng lớn dần lên Khi bước vào mái trường Đại học Cần Thơ được những giảng viên giàu bản lĩnh và tâm huyết của bộ môn Sư
phạm Lịch sử hướng dẫn và đặc biệt sau khi học xong học phần “Lịch sử ngoại giao Việt Nam” tôi lại thêm sự đam mê và quyết tâm khám phá những điều thú vị
trong những câu truyện đó, nhưng với cách viết nghiêm túc và khoa học chứ không phải theo một loại chuyện dã sử nào đó
Cũng vẫn trên những trang sử đó ta thấy chiến thắng rực rỡ của ngoại giao
ta, lần này trước một đối thủ sừng sỏ “Hoa Kỳ”, ta đã không thua họ trong thời gian
Trang 8đầu và thắng trong những khoảng thời gian sau, và những chiến thắng đó mang tính quyết định Tại sao lại như vậy? Các nhà đàm phán ta đã làm gì, con đường đi đến chiến thắng đó như thế nào? Đảng ta đã làm gì trong thắng lợi chung của dân tộc?
Đó là những điều sẽ được giải đáp trong luận văn này
Trong cuộc đấu tranh ngoại giao gian khổ, nhiều lúc chúng ta đã phải chấp nhận những hy sinh, nhân nhượng cần thiết, những mất mát đau đớn và cho đến hôm nay các thế lực phản động, bọn chống đối vẫn vin vào đó để xuyên tạc, bôi đen tuyên truyền những luận điệu sai trái Thêm vào đó trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay những thông tin độc hại này xuất hiện trên internet rất nhiều, để phân biệt đúng sai là không dễ Với luận văn này tôi hy vọng rằng góp thêm được chút gì đó để chuyển tới những ai còn băn khoăn có cái nhìn gần hơn với sự thật
Đó là tất cả những lý do để tôi đi tới quyết định chọn đề tài “Đường lối độc lập, tự chủ của Đảng ta trong cuộc đấu tranh ngoại giao với Mỹ từ 1965 đến
ký Hiệp định Paris 1973 ” làm luận văn tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, ngoại giao Việt Nam đã đứng trước những thử thách vô khắc nghiệt là cuộc đối đầu với hai nền ngoại giao sừng sỏ của Pháp và sau này là Mỹ để bảo vệ chế độ, bảo vệ nền độc lập dân tộc do vậy để tổng kết cuộc đấu tranh đó dưới sự chỉ đạo của Đảng, Bộ ngoại giao đã cùng với những nhân chứng lịch sử và các nhà sử học đã tiến hành biên soạn những công trình lớn, có giá trị lịch sử và bài học thực tiễn cao:
Năm 2002, Dưới sự chủ trì của Đại sứ Nguyễn Đình Bin (Thứ trưởng thường trực bộ ngoại giao, nguyên ủy viên Trung ương) đã xuất bản tác phẩm
“Ngoại giao Việt Nam 1945- 2000” đây là một tác phẩm tập hợp trí tuệ của những
nhân vật tiếng tăm của ngành ngoại giao nên đã tạo nên một tác công trình khắc họa đậm nét, tổng kết cả một chiều dài lịch sử hơn năm mươi năm của ngoại giao Việt Nam với sự phân chia theo từng giai đoạn cụ thể, phù hợp với nội dung, biện pháp của cuộc đấu tranh ngoại giao trong thời kỳ đó Đây là tài liệu tham khảo gốc
mà bất cứ một tác phẩm viết về lịch sử ngoại giao đều sử dụng
Hai năm sau đó, Lưu Văn Lợi một nhà ngoại giao lão thành đã tham gia hầu
Trang 9hết vào các sự kiện quan trọng của ngoại giao Việt Nam Từ Hội nghị Quân sự Trung Giã, cho đến cuộc đàm phán Hòa Bình giữa Lê Đức Thọ và Kissinger, soạn thảo những quy định về biển và trời, làm công tác biên giới ở tuổi 72… và rất nhiều công việc quan trọng khác trong hành trình dài của đất nước đã xuất bản tác phẩm
“Ngoại giao Việt Nam (1945- 1995)” đã khắc họa những nét cơ bản của cuộc đấu
tranh ngoại giao của ta trong suốt hai cuộc kháng chiến và đưa ra những nhận định quý báu và sâu sắc về công cuộc đấu tranh ngoại giao đó
Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước ngoại giao Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa quốc gia đơn thuần nữa mà đó còn là một cuộc đấu tranh phản ánh bình diện quốc tế do vậy, năm 2004, Bộ ngoại giao nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã, tập hợp những bài viết, bài nghiên cứu của các vị lãnh đạo Đảng nhà nước,
những nhân chứng lịch sử cho ra đời công trình “Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm
phán Paris về Việt Nam” xoay quanh các vấn đề: Lãnh đạo Đảng và Nhà nước với
hội nghị Paris, nghệ thuật đàm phán ký kết hiệp định, đòi đấu tranh thi hành Hiệp định Paris, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam sau đó tổng kết lại những nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa và bài học của hiệp định đỉnh cao này
Năm 2000, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ đã xuất bản cuốn “Tiếp xúc bí
mật Việt Nam- Hoa Kỳ trước hội nghị Paris” trong tác phẩm này tác giả đã viết rất
chi tiết về các cuộc tiếp xúc bí mật giữa ta và Mỹ trước khi hội nghị Paris chính thức diễn ra
Đó là những tác phẩm mang tính đại cương chung và phổ quát
Về vấn đề tính độc lập tự chủ của ngoại giao Việt Nam trong cuộc đối đầu
với Mỹ thì tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh năm 2010 đã cho in tác phẩm “Cuộc kháng
chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam tác động của những nhân tố quốc tế” trong
tác phẩm này ta sẽ thấy được những mối quan hệ chằng chéo nhau trong quan hệ quốc tế, trong quan hệ Việt- Xô, Việt- Trung, Xô- Trung và sự độc lập tự chủ của Việt Nam trong các mối quan hệ đó
Trong bài viết “Liên Xô với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt
Nam” đăng trên “Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4- 2012” Nguyễn Khắc Huỳnh đã đưa
ra một cái nhìn mới về quan hệ Việt Nam- Liên Xô trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ nói chung và trên mặt trận ngoại giao nói riêng
Trang 10Bài viết “Đường lối quốc tế đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong thời kỳ
chống Mỹ, cứu nước” của Trần Quang Cơ cũng đa chỉ ra những nét độc đáo và
nghệ thuật ứng phó của Đảng ta trong các mâu thuẫn của đồng minh, việc chung hòa lợi ích giữa các bên để bảo vệ quyền lợi cho dân tộc mình
Như vậy, Ngoại giao Việt Nam đã được nghiên cứu và tổng kết bằng những công trình lớn, nhưng riêng về vấn đề độc lập tự chủ của ngoại giao Việt Nam thì chưa chưa thấy có riêng một công trình nào viết riêng, thể hiện một cách cụ thể Có thể là vấn đề nhạy cảm nên những chuyện đấu tranh của ta với Liên Xô, Trung Quốc để bảo vệ lập trường quyền lợi dân tộc chỉ thấy xuất hiện trên các hồi ký trên internet, các bài báo mạng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn khai thác những cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta và Mỹ trước khi hội nghị bốn bên chính thức diễn ra và trong quá trình đàm phán dẫn tới ký kết Hiệp định Với các kế hoạch hòa bình mà thực chất đó là những thủ đoạn ngoại giao của Mỹ để buộc ta chấp nhận đàm phán theo
ý đồ của Mỹ Những sức ép, thủ đoạn ngoại giao của Mỹ khi đàm phán chính thức
và những chủ trương biện pháp mà Đảng ta đề ra để đánh bại, phá vỡ các kế hoạch hòa bình giả tạo,buộc Mỹ đến Paris đàm phán và chấp nhận ký kết Hiệp định Paris Qua đó chỉ ra tính độc lập tự chủ của ngoại giao Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: chỉ tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian
từ năm 1965 đến khi Hiệp định Paris được ký kết (1973) Coi trọng xem xét các mối quan hệ chủ yếu Việt-Trung, Việt-Xô, Việt-Mỹ và với một vài nước khác
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã tập trung sưu tầm, tổng hợp, phân tích các tài liệu để tìm ra những phần cần thiết để làm tư liệu từ nhiều nguồn sách báo, tạp chí, internet, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, tham khỏa ý kiến Thầy Cô, bạn bè Trong quá trình thực hiện tác giả sử dụng chủ yếu các phương pháp lịch sử và phương pháp logic để thể hiện đề tài Song song với đó là những nhận xét suy nghĩ diễn dải của bản thân
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung được chia làm ba chương:
Trang 11- Chương 1: Tác động của tình hình quốc tế và cơ sở hình thành đường lối ngoại
giao độc lập tự chủ của Đảng ta
- Chương 2: Đường lối độc lập, tự chủ của Đảng ta trong giai đoạn đấu tranh ngoại
giao trước hội nghị Paris (1965- 1968)
- Chương 3: Đường lối độc lập, tự chủ của Đảng ta trong cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris (1968 - 1973)
Chương 2, 3 là sự thể hiện tâm huyết của tác giả và cũng là sự cố gắng cao nhất trong quá trình thực hiện đề tài Đường lối ngoại giao độc lập tự chủ của ta với Liên
Xô, Trung Quốc và với đối thủ chủ yếu Hoa Kỳ là cội nguồn cho mọi thắng lợi của Cách mạng VN
Phần kết luận: Là sự tổng kết lại những vấn đề đã trình bày và bày tỏ những suy nghĩ cá nhân
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA ĐẢNG TA 1.1 Tác động của tình hình quốc tế đến Việt Nam
1.1.1 Sự căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Xô những năm đầu thập niên 60
Liên Xô có bước phát triển thần kỳ về khoa học kỹ thuật (phóng vệ tinh nhân tạo, đưa người lên vũ trụ) Khrushchov đang ở thời kỳ đỉnh cao quyền lực Ở Mỹ Kennedy lên nắm quyền với kế hoạch xây dựng một nước Mỹ hùng mạnh Trong quá trình phát triển đó, Xô- Mỹ lại đụng chạm đến quyền lợi của nhau, làm cuộc chiến tranh lạnh nóng dần lên với biểu hiện là:
Thứ nhất: cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai Liên Xô tiếp tục đưa ra yêu cầu các cường quốc phương Tây rút khỏi thành phố này, đặt dưới quyền quản lý của Liên hợp quốc và đe dọa ký một hiệp ước hoà bình riêng rẽ với Đông Đức Việc này sẽ dẫn tới chấm dứt các thoả thuận bốn cường quốc đảm bảo quyền tiếp cận của Mỹ, Anh và Pháp với Tây Berlin Ba cường quốc đáp trả rằng không một hiệp ước đơn phương nào có thể thủ tiêu các quyền lợi và trách nhiệm của họ ở Tây Berlin, gồm cả quyền tiếp cận không bị giới hạn với thành phố này Bức tường Berlin được xây dựng để ngăn cản sự di cư của người dân từ Đông Đức sang Tây Đức Cuộc khủng hoảng cuối cùng được dàn xếp sau những cuộc đàm phán trực tiếp giữa Ulbricht và Kennedy
Thứ hai: cuộc khủng tên lửa tại Cuba Sau khi chế độ độc tài Batista được sự hậu thuẫn của Mỹ bị lật đổ, Fidel Castro đưa Cuba theo chế độ cộng sản Liên Xô
có được một đồng minh chỉ cách Mỹ vài chục dặm biển Không yên tâm với mũi giáo ngay bên sườn này, Mỹ đã dùng những người Cuba di tản mở cuộc đổ bộ lên vịnh Con Lợn (15-4-1961) nhưng thất bại, Mỹ tăng cường bao vây cấm vận Cuba Lấy cớ bảo vệ đồng minh, Liên Xô đặt căn cứ tên lửa tầm trung tại Cuba, chĩa thẳng vào Mỹ Kennedy báo động quân đội, phong tỏa Cuba, nguy cơ đụng đầu trực tiếp Xô-Mỹ Đến nay, ta thấy rõ được rằng cuộc khủng hoảng tên Cuba thực chất là cuộc đối đầu, thử sức của Xô- Mỹ trong bối cảnh chiến tranh lạnh để giải
Trang 13quyết những vấn đề hai bên cùng quan tâm Đây chỉ là một trận “bão táp trong ly nước”, một cuộc căng thẳng khiến cho cả thế giới phải nín thở được giải quyết qua các cuộc điện đàm giữa hai vị lãnh đạo quyền lực hàng đầu thế giới Hai nước đều
có những mục đích của riêng mình để mặc cả với đối phương Liên Xô đưa tên lửa hạt nhân vào Cuba với lý do bảo vệ đồng minh, nhưng thực chất là sự đe dọa to lớn tới an ninh nước Mỹ Với các tên lửa R-14 và R-12 có thể mang đầu đạn hạt nhân mạnh gấp 80 lần quả bom mà Mỹ nén xuống Nhật Bản và với tầm bắn 2500 km khiến Mỹ lo sợ Cả Mỹ và Liên Xô đều được xem là đã chiến thắng trong cuộc đối đầu này với việc Liên Xô rút các khí tài ra khỏi Cuba để đổi lại việc Mỹ hứa không xâm lược nước này và rút các tên lửa Jupiter ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ Bên chịu thiệt duy nhất lúc này là Cuba, họ chỉ nhận được lời cam kết “không xâm lược” “bằng miệng” của Tổng thống Hoa Kỳ thông qua Thủ tướng Liên Xô Trong khi đó Cuba vẫn bị bao vây cấm vận và bị phong tỏa chặt chẽ Độc lập chủ quyền của một quốc gia, dân tộc bị “người ta” mặc cả, trả giá đó là điểm không lạ trong chiến tranh lạnh
và tác động của nó tới những chủ trương chính sách của bất cứ nước nào cũng là không nhỏ Đây là bài học xương máu mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ
1.1.2 Việt Nam trở thành một tâm điểm của Chiến tranh lạnh
Với sự lựa chọn ngả hẳn vào phe cộng sản của Đảng ta và sự dính líu ngày càng sâu của Mỹ vào cuộc chiến tranh Đông Dương thì cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta dần trở thành tâm điểm cuộc đụng đầu Đông-Tây Việt Nam trở thành người lính tiên phong của phong trào hòa bình dân chủ chống nguy cơ chiến tranh đe dọa loài người, của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống lại chủ nghĩa thực dân cũ Do dặc điểm đó mà nhiều nước lớn như Anh, Ấn Độ, Nhât Bản và nhiều nước có vị trí quốc tế khác đều có dính líu và tìm kiếm lợi ích trong vấn đề Việt Nam Sau cuộc cuộc đụng độ chưa phân thắng bại giữa 2 phe xã hội chủ nghĩa
và tư bản chủ nghĩa ở Triều Tiên dẫn tới hệ quả để mất Trung Quốc về phe cộng sản Trong một thời gian dài, vì chuyện này mà phái Cộng hòa chỉ trích phái Dân chủ, không muốn đi theo vết xe đổ của đối thủ chính trị của mình là tiếp tục để mất Đông Dương Chính quyền Eisenhower đánh giá khu vực Đông Nam Á là nơi có vị trí xung yếu trong cuộc xung đột với cộng sản Họ vẽ ra viễn cảnh nếu để Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung rơi vào tay cộng sản, sẽ dẫn tới phản ứng dây
Trang 14chuyền của hiệu ứng Đominos thì cả vùng Đông Nam Á sẽ cộng sản hóa, dẫn tới sự
uy hiếp các đồng minh của Mỹ ở khu vực Đông Bắc Á, tạo lá chắn an toàn cho Liên Xô, Trung Quốc Mỹ cũng quyết tâm không để chiến tranh chống Pháp của nhân dân Đông Dương có thể trở thành cơ hội tốt để Trung cộng có thể gây ảnh hưởng của mình vào khu vực này Bản thân Mỹ cũng không bao giờ muốn có một cuộc chiến tranh trên bộ nữa với người Trung Quốc, nếu có xảy ra do sự can thiệp vào Việt Nam và Đông Dương thì Mỹ chỉ chấp nhận chi viện hỏa lực của không quân và hải quân còn bộ binh thì Pháp cam kết tiến hành Cho nên Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp thể hiện qua gánh nặng chi phí cho cuộc chiến tranh Đông Dương ngày càng chuyển sang phía Mỹ Quân đội Pháp ngày càng cần
sự viện trợ của Mỹ để duy sức mạnh trên chiến trường Song song với việc viện trợ cho Pháp, Mỹ cũng chuẩn bị những con bài để thay thế Pháp và làm tay sai phục vụ
ý đồ của họ sau này bằng việc nuôi dưỡng Ngô Đình Diệm, rồi ép Pháp trao cho Diệm chức Thủ tướng, thay thế Bửu Lộc và từng bước gạt Pháp khỏi Đông Dương Thêm vào đó, cái nhìn của Mỹ về vấn đề Đông Dương luôn gắn liền với vấn đề Trung Quốc Thậm chí Bộ trưởng ngoại giao, kiến trúc sư của chính sách đối ngoại dưới thời Eisenhower còn gắn liền các vấn đề Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam theo cách rất riêng và nhấn mạnh :
Triều Tiên và Đông Dương là hai bên sườn Lực lớn Trung Cộng nằm ở trung tâm Nếu như lực lượng ở trung tâm có thể duy chuyển sang một bên sườn, rồi lai sang sườn bên kia mà không gặp sự cản trở gì thì không một nền hòa bình nào mà chúng ta mong đợi có thể được thiết lập ở Triều Tiên và Đông Dương Tôi tin là phải uy hiếp vùng trung tâm để giữ gìn và dìm chúng xuống và khi đó chúng ta sẽ
có cơ hội tốt hơn giành thắng lợi ở hai bên sườn 1
Theo những quy định của hội nghị Yalta và Postđam, Liên Xô đã im lặng trước lời kêu gọi công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ Trong chuyến thăm Liên Xô của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1949), Stalin và Bộ chính trị nước này vẫn rất
e dè trong việc bộc lộ công khai quan hệ với chính quyền Việt Minh Nhưng sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi thì Liên Xô,Trung Quốc và các nước Đông Âu lần lượt công nhận và ủng hộ chúng ta Họ toan tính cách mạng Việt Nam thành công
1
Lưu Văn Lợi, Nguyễn Hồng Thạch, Pháp tái chiếm Đông Dương và chiến tranh lạnh, NXB Công an nhân dân, 2002 tr 191
Trang 15sẽ là điều kiện tốt để chủ nghĩa xã hội phát triển xuống khu vực Đông Nam Á và uy hiếp trực tiếp đến các đồng minh của Mỹ ở khu vực Đông Bắc Á
Về phía nước láng giềng Trung Quốc thì với tư tưởng Đại Hán lâu đời, không lúc nào người phương Bắc bỏ mộng thôn tính nước ta nhưng trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ họ phải chấp nhận và công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để
có thêm đồng minh, đồng thời đảm bảo cho các tỉnh phía nam Trung Quốc Đặc biệt sau chiến tranh Triều Tiên, Trung Quốc bị tổn thất nặng nề, kinh tế thì nghèo nàn lạc hậu, tiếp tục khắc phục hậu quả của nội chiến, bên ngoài thì bị Mỹ bao vây cấm vận, rơi vào thế cô lập
Trong hoàn cảnh đó, dù xét về mặt nào đi chăng nữa Chính phủ Hồ Chí Minh và lực lượng kháng chiến Việt Nam cũng là đồng minh của Trung Quốc Vì thế họ công nhận và viện trợ vũ khí đạn dược, đào tạo cán bộ, cử cố vấn sang giúp chúng ta Hơn nữa trong nước cờ cao của Mao Trạch Đông thì viện trợ cho Việt Nam đánh thắng Pháp về mặt quân sự thì nhất định các cường quốc Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô phải triệu tập hội nghị giải quyết và phải mời Trung Quốc tham dự Họ sẽ dùng Việt Nam làm con tốt thí, làm vật ngã giá với các nước phương Tây Với những toan tính phức tạp của các cường quốc, vô hình chung cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam lại trở thành cuộc đối đầu trực tiếp của hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Nhưng sự can dự của Mỹ và Xô- Trung vào tình hình Việt Việt Nam lại phụ thuộc vào tình trạng quan hệ và đối đầu của hai nước này Sau hiệp định Genève, trong quá trình hòa hoãn thì Mỹ chỉ mới giúp chính quyền Ngô Đình Diệm kinh tế, vũ khí và hậu cần, trong khi Liên Xô và
Trung Quốc đề nghị hai miền thực thi hiệp định đã ký kết
Giữa những năm 60, Xô - Mỹ gằm ghè nhau khắp nơi Mỹ nhảy vào Việt Nam với hơn 50 vạn quân và nhiều loại vũ khí tối tân Liên Xô, Trung Quốc tuy mâu thuẫn nhưng cơ bản đồng lòng viện trợ Việt Nam chống Mỹ với các loại vũ khí mạnh, máy bay, xe tăng, tên lửa, các loại pháo lớn và lương thực, ngoại tệ Đồng thời, họ cũng tích cực giúp ta xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc để chi viện cho miền Nam Đến đầu những năm 70, chiến tranh lạnh dịu đi phần nào, xu thế hòa hoãn xuất hiện phổ biến, Mỹ lợi dụng Xô, Trung nhằm giải quyết vấn đề Việt Nam nhưng không đi tới đâu, cuối cùng chấp nhận ký kết hiệp
Trang 16định Paris rút quân về nước Cuộc chiến Việt Nam là một bộ phận, chịu tác động nhiều chiều của chiến tranh lạnh, đòi hỏi Đảng ta phải có đường lối đúng đắn để giữ được độc lập tự chủ, đáp ứng tối đa lợi ích dân tộc
1.1.3 Mỹ là cường quốc số 1 trên thế giới, có tham vọng lãnh đạo toàn thế giới
- Về Kinh tế:
Sau một thời gian phát triển nhanh chóng, kinh tế Mỹ vươn lên đứng đầu thế giới, trở thành siêu cường số một Mỹ nắm 75% lượng vàng dự trữ của thế giới và hơn 50% tàu bè đi lại trên mặt biển là của Mỹ Trong hai thập kỷ đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai Mỹ trở thành trung tâm kinh tế tài chính mạnh nhất thế giới thế giới
Sang đến thập niên 50, 60 và 70 kinh tế Mỹ tiếp tục phát triển nhanh, sự phát triển kinh tế này trong những năm 50 được gọi là thời kỳ ưng ý, các thập niên 60,
70 là thời kỳ có sự thay đổi lớn Tỷ lệ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp trong những năm năm mươi, sáu mươi đạt từ 4,5-5%, năm 1970 đã tăng 1.24 lần so với năm 1950 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tăng nhanh:
Năm 1945 1953 1960 1970 GNP (tỉ
USD)
353.2 112.2 503.7 971.1
Bảng tăng trưởng GNP của Mỹ từ 1945-1970 1
Thu nhập bình quân đầu người đạt 2579 USD.(1970)
Nền nông nghiệp đạt được sự phồn thịnh to lớn từ sau thế chiến II Tuy số người lao động giảm đi rất nhiều, từ 1/6 số nhân khẩu (1947) xuống còn 1/20 vào năm 1970, nhưng năng suất không ngừng tăng lên do được đầu tư kỹ thuật và hiện đại hóa sản xuất Năm 1950 mỗi người nông dân Mỹ nuôi sống được 15.5 người thì vào năm 1970 con số này tăng lên 47.1 người Cũng vào năm 1970, người nông dân Mỹ sản xuất 43% và 74% sản lượng ngô và đậu nành toàn thế giới
Mậu dịch đối ngoại và xuất khẩu tư bản của Mỹ ra nước ngoài cũng tăng lên nhanh chóng:
1.Đỗ Thanh Bình, Lịch sử thế giới hiện đại, Quyển 1, NXB Đại học sư phạm, 2008, trang 241, 243
Trang 17Năm Xuất khẩu (tỉ
USD)
Nhập khẩu (tỉ USD)
Thặng dư (tỉ USD)
Cán cân thương mại của Mỹ (từ 1950-1970) 2
Từ 1960-1970 chỉ tính riêng đầu tư ra nước ngoài, các nhà tư bản Mỹ đã thu
về 62.3 tỉ USD lợi nhuận
- Về tiềm lực khoa học- kĩ thuật và quân sự
Là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai nên Mỹ đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực khoa học cơ bản, sáng tạo ra các vật liệu mới, tư liệu sản xuất mới Nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đó đã được ứng dụng vào nền khoa học quốc phòng làm cho tiềm lực quân sự của Mỹ mạnh lên nhanh chóng Lục quân từ vị trí thứ 17 trước chiến tranh đã vươn lên hàng đầu thế giới Với chính sách phát triển sau hội nghị Washington, Hải quân Hoa Kỳ vươn lên hàng đầu thế giới và đã chứng tỏ sức mạnh trong thế chiến thứ hai ở mặt trận Thái Bình Dương Sau chiến tranh, Hải quân tiếp tục phát triển với các hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng hạt nhân đã duy trì vị thế bá chủ trên mặt biển của họ Không quân của Mỹ cũng đứng ở vị trí số một thế giới với số lượng nhiều các loại máy bay tính năng chiến đấu cao, trong chiến tranh Việt Nam đã được sử dụng với các loại máy bay Thần sấm, Con ma, F111 (cánh cụp cánh xòe), F4, và pháo đài bay B52
Là nước đầu tiên có bom nguyên tử và phương tiện chuyên chở vũ khí nguyên tử (các máy bay chiến lược hoạt động tầm xa) với hệ thống căn cứ quân sự dày đặc trên thế giới với hơn 3000 căn cứ là điều kiện thuận lợi để họ chuyển khai chiến lược của mình Do đó, tổng thống nào của Mỹ lên cầm quyền cũng đề ra cho mình một chủ trương, chiến lược riêng nhằm phục vụ cho mưu đồ đưa nước Mỹ trở thành bá chủ, nắm quyền chi phối thế giới
Từ thời tổng thống Truman người Mỹ dần xác định vai trò quan trọng của Đông Nam Á đối với lợi ích của mình do đó họ đã gánh lấy với xu hướng ngày càng lớn chi phí của cuộc chiến tranh Việt Nam cho Pháp Khi bước vào Nhà Trắng
2
Đỗ Thanh Bình, sđd Tr 241, 243
Trang 18Eisenhower đã đề ra học thuyết mang tên mình với mục đích “lấp lỗ trống” trong tình hình mà các nước Anh, Pháp dần phải rút khỏi các khu vực mà họ đang thống trị và nâng cao tầm quan trọng của “sự sụp đổ dây chuyền” của các quân bài Đomino và sự lan tràn mạnh mẽ của “làn sóng đỏ” xuống Đông Nam Á Đe dọa uy hiếp các đồng minh chiến lược của của Mỹ ở khu vực Đông Bắc Á và một số khu vực khác, do đó Mỹ tiếp tục việc thành lập các khối quân sự Anzus (1951), Seato (1950), Cento (1959), học thuyết này được thực hiện đầu tiên ở Việt Nam với sự lấp lỗ trống khi Pháp buộc phải rút quân khỏi Đông Dương và Việt Nam cũng trở thành điểm mấu chốt để ngăn chặn sự sụp đổ dây chuyền Đominos Nó được thực hiện trên thực tế bằng chiến lược chiến tranh đơn phương với hệ thống cố vấn Mỹ, nên họ đã viện trợ để đưa Ngô Đình Diệm trở thành người thống trị miền Nam Tuy chỉ đảm nhận vai trò Tổng thống Hoa kỳ trong một khoảng thời gian không dài nhưng Kenedy cũng đã kịp dựa trên kinh nghiệm từ những thất bại ở Việt Nam, Cu Ba, Trung Quốc và một số thành công của Mỹ, Anh khi đàn áp phong trào cách mạng Mã Lai, Philippines đề ra một học thuyết mang tên mình với nội dung là chống nổi dậy để chống lại phong trào cách mạng đang dâng cao trên thế giới và để ứng phó với cái ô độc quyền hạt nhân đang mất dần đi Học thuyết này là sử dụng bộ máy chính quyền và quân đội bản xứ do Mỹ đào tạo để chống lại lại nhân dân dưới sự yểm trợ của hỏa lực và sự chỉ huy của cố vấn Mỹ Kế hoạch này cũng được tiến hành ở Việt Nam với tên gọi chiến tranh đặc biệt
Sau cái chết của Kenedy, Jonhson trở thành Tổng thống Hoa Kỳ đứng trước những khó khăn của tình hình Việt Nam Ông đã lựa chọn leo thang chiến tranh và tiến hành một loạt biện pháp ngoại giao nhằm đưa nước Mỹ ra khỏi những khó khăn ở Việt Nam, nhưng những cố gắng đó không thành công đã chôn vùi sự nghiệp chính trị của Jonhson và để lại khá nhiều vấn đề nan giải cho người kế tục Tóm lại, vô hình chung các học thuyết, các chiến lược của Mỹ tuy phục vụ cho mưu đồ bá chủ, tham vọng ngăn chặn các nước xã hội chủ nghĩa nhưng hầu hết được thực hiện ở Việt Nam khi Việt Nam trở thành tâm điểm của cuộc chiến tranh lạnh
1.2 Cơ sở hình thành đường lối ngoại giao độc lập tự chủ của Đảng ta
1.2.1 Kế thừa truyền thống của dân tộc
Trang 19Dân tộc ta có truyền thống yêu nước từ ngàn xưa Đó là điều không ai có thể
chối cãi được Trong suốt ngàn năm Bắc thuộc đó nhân dân ta đã không cam chịu
mà họ liên tục đấu tranh Khi thì công khai mạnh mẽ, khi thì âm ỉ vô hình Những cuộc đấu tranh vô hình đó là sự đấu tranh bảo tồn bản sắc, tập tục dân tộc như tiếng nói, của tổ tiên chống lại quá trình đồng hóa lâu dài và thâm độc của các viên quan cai trị phương Bắc Cuộc đấu tranh đó ông cha ta đã không phủ nhận hoàn toàn những gì thuộc về tinh túy, tinh hoa của kẻ cai trị mà họ đã tiếp thu một cách có chọn lọc để bổ sung vào kho tàng văn hóa Việt Nam Đó là Nho Giáo đã được từ bỏ nguyên lý Hoa di Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam đã mang tính quần chúng hơn nhiều, điều này vô hình chung đã làm cho các vị Sỹ Nhiếp, Nhâm Diên, Cao Biền lao tâm khổ tứ uổng công vô ích vì họ đã không thể đồng hóa dân ta mà lại giúp nước ta có thêm những dấu ấn đặc sắc
Các cuộc đấu tranh công khai thì quyết liệt và mạnh mẽ hơn nhiều Vì đó là những cuộc khởi nghĩa vũ trang có quy mô, có tổ chức và đương nhiên có sức mạnh không thể xem thường Đầu tiên là cuộc đấu tranh của Hai Bà Trưng làm cho
Tô Định phải cắt tóc cạo râu trốn về Trung Quốc và tiếp sau đó Người Việt tiếp tục hâm nóng giữ vững tinh thần chống sự đô hộ ý chí kháng cự mạnh mẽ bằng những cuộc đấu tranh của Bà Triệu (248), của Lí Bí- Triệu Quang Phục với nhà nước Vạn Xuân (542-602 Những cải cách quan trọng của họ Khúc giành quyền tự chủ đó là
cơ sở vững chắc để sau này Tiền Ngô Vương đem quân mới hợp của nước Việt ta
để dẹp tan trăm vạn quân của Hoằng Thao, đem lại kỷ nguyên độc lập tự chủ cho dân tộc
Những vị vua tiếp theo của các triều đại Đinh, Tiền Lê, các vua đầu triều Lý
đã củng cố tiềm lực đất nước một cách vững trãi để tạo ra nền móng cơ bản nhất cho thế hệ con cháu mai sau có được thế và lực nhất định để tiếp tục đánh bại quân Tống lần thứ hai (1076-1077) Nhà Trần ba lần đánh bại giặc Nguyên (1258, 1285, 1288) Khởi nghĩa Lam Sơn dẹp tan sự thống trị của nhà Minh (1427) Quang Trung đánh bại quân Xiêm (1785), quân Thanh (1789), đó là những trang sử vàng hùng tráng bất diệt của dân tộc, đó còn là niềm tự hào dân tộc lớn lao để nuôi dưỡng lòng yêu nước cho các thế hệ mai sau
Đấu tranh để giành lấy quyền độc lập tự chủ cho đất nước trên chiến trường
Trang 20thì rõ ràng rằng ai cũng có thể nhận thấy, nhưng trên mặt trận ngoại giao những đóng góp của các nhà ngoại giao và công cuộc đấu tranh ngoại giao cũng không nhỏ chút nào Trong thời đại phong kiến quan hệ ngoại giao của các triều đại phong kiến Việt Nam chủ yếu diễn ra với Trung Quốc mà những biểu hiện là những cuộc
đi sứ và tiếp sứ Đi sứ vào thời đó chủ yếu là nộp cống, cầu phong, hoặc thương nghị các vấn đề quan trọng trong bang giao giữa hai nước, chọn người đi sứ có học vấn uyên bác, khả năng ứng phó tốt với các tình huống, và các sứ thần phải tuyệt đối tôn trọng nguyên tắc hàng đầu là lợi ích dân tộc đặt lên hàng đầu, hay đó là không làm nhục mệnh vua, hoàn thành sứ mệnh của chuyến đi Trong lịch sử nước
ta mãi ghi dấu chuyến đi sứ đòi đất của Lê Văn Thịnh, lý lẽ biện luận không chấp nhận gọi dân Việt là man di của Lê Quý Đôn, hay sự dũng cảm bảo vệ quốc thể của Giang Văn Minh Những cuộc tiếp sứ cũng đã đi vào lịch sử như cuộc tiếp sứ giả nhà Tống của Lê Hoàn, hay những cuộc tiếp đón các sư thần của nhà Nguyên, các vua ta không bao giờ chấp nhận các yêu sách vi phạm đến lợi ích đất nước, vinh nhục quốc gia
Để chống lại những điều hạch sách, lí lẽ thiên triều của bọn phong kiến phương Bắc ông cha ta đã có một chủ trương rất sáng suốt đó là chấp nhận sự nhún nhường theo phương châm “trong đế ngoài vương” Trong các văn bản qua lại chính thức giữa hai nước chúng ta vẫn phải xưng thần, khi lập vua mới thì đều phải cầu phong, theo định kỳ phải nộp cống Nhưng như vậy không có nghĩa là sợ chúng
mà chẳng qua là một sự nhún mình cần thiết vì nếu xét cho cùng họ vẫn mạnh hơn
ta rất nhiều, nếu có chiến tranh dù thắng cũng có chết chóc đau thương mà thôi Tuy là bên ngoài ta vẫn xưng thần như vậy nhưng thực tế trong nước thì các vị vua nước ta vẫn có danh xưng hoàng đế rõ ràng, vẫn sử dụng các ấn tín riêng mà không dùng các loại ấn tín mà Trung Quốc làm cho
Nói tóm lại, độc lập tự chủ là một yếu tố cực kỳ quan trọng mà bất cứ dân tộc độc lập nào cũng không thể thiếu được Đối với dân tộc ta tinh thần độc lập tự chủ đã có từ lâu và trở thành truyền thống Những cuộc đấu tranh vũ trang, đấu tranh ngoại giao, đấu tranh trên lĩnh vực ý thức tư tưởng xét đến cùng thì chẳng qua cũng là vì bốn chữ độc lập tự chủ này thôi Cho nên chính từ những yếu tố xuất phát từ truyền thống đó, những bề dày văn hóa, chiều sâu của lịch sử đó đã là cơ sở
Trang 21vững chắc cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại
1.2.2 Bài học từ Hội nghị Genève về Đông Dương
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta là một cuộc chiến đấu phi thường khi mà một quân đội mới hợp của một nước thuộc địa, nhỏ bé mà đập tan đội quân viễn chinh hùng mạnh của một trong những đế quốc thực dân mạnh hàng đầu thế giới Với chiến thắng Điện Biên Phủ ta bước vào hội nghị Genève với
tư cách người chiến thắng nhưng đó chỉ là danh nghĩa mang tính chất cổ vũ tinh thần thôi, đàm phán trên thực tế còn đồi hỏi thực lực nữa Ai cũng biết Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã từng tuyên bố rằng: “Nếu có những nước trung lập nào muốn xúc tiến
việc chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam bằng cách thương lượng thì
sẽ được hoan nghênh nhưng việc thương lượng đình chiến chủ yếu sẽ là việc của chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và chính phủ Pháp 3 ” Nhưng tình hình
quốc tế và toan tính của các nước đồng minh đã không cho ta có cơ hội thực hiện quyền tự quyết của mình
Thứ nhất, tham dự hội nghị có chín đoàn đại biểu: Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc,Việt Nam dân chủ cộng hòa, Vương quốc Laos, Vương quốc Cambodia, và Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại) Như vậy trong thành phần tham dự chia làm hai phe rõ rệt ta ba, địch sáu Trong nội bộ phe ta cũng không phải là hoàn toàn nhất trí với nhau Liên Xô và Trung Quốc đều có những tính toán riêng, ta thì
có quân tình nguyện chiến đấu tại Laos và Cambodia như vậy tương quan lực lượng là một chọi sáu, vô cùng bất lợi cho ta Liên Xô ủng hộ ta cũng chẳng có gì
là mạnh mẽ khi họ vẫn đang kiên trì chủ trương duy trì hòa bình, hòa hoãn với các nước phương Tây Trong cương vị Chủ tịch hội nghị, Liên Xô đã đứng ra dàn hòa những vấn đề gay cấn, quan trọng, nhưng với một thái độ rất kín kẽ và luôn tỏ ra cân bằng Như vậy trong hoàn cảnh ta còn yếu về lực lượng, chưa có kinh nghiệm đàm phán quốc tế, thiếu thông tin thì sự ủng hộ của những nước lớn là rất quan trọng Xét trên tình thế lúc đó thì ta cũng chẳng còn sự lựa chọn nào khác, việc cần làm chỉ là cố gắng giành được nhiều nhất những gì có thể mà thôi
Thứ hai, Trung Quốc đã lợi dụng chiến thắng của nhân dân Việt Nam để mặc
3
Lưu Văn Lợi, Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, NXB Công An nhân dân, 2004, tr 149
Trang 22cả với các nước phương Tây, Hội nghị Genève là một sự tính toán từ lâu của Mao Trạch Đông Nhân cơ hội này họ thực hiện cùng lúc ba mục tiêu lớn: Giải quyết vấn đề Đông Dương lấy vùng tập kết của Laos và Việt Nam là lá chắn an ninh cho Trung Quốc, đề cao vị thế quốc tế của Trung Quốc, mở rộng quan hệ với các nước phương Tây phá vỡ thế bao vây cấm vận của Mỹ Với tư cách là người giúp đỡ nhiều nhất cho ba nước Đông Dương nên họ tự đứng ra giành lấy vai trò mặc cả, là người đối thoại chính và vì quyền lợi của mình, họ sẵn sàng bán rẻ những ai không liên quan Trên một loạt các vấn đề: giới tuyến quân sự, thời hạn tổng tuyển cử, vấn
đề Cambodia Đúng như lời nhận xét “Như vậy trên tất cả các vấn đề quan trọng
chính là Trung Quốc và Liên Xô đã ép Phạm Văn Đồng có những sự nhân nhượng cần thiết để đạt được những thỏa thuận mà họ mong muốn 4 ”
Bị chèn ép như vậy là do lực ta chưa mạnh, thế ta chưa có: Về binh lực phải khẳng định rằng quân đội ta đã có sự lớn mạnh vượt bậc so với hồi cách Mạng Tháng 8 mới thành công nhưng vẫn chưa áp đảo được Pháp Về vị thế quốc tế lúc này ta chưa có được là bao bạn bè Thế giới chỉ mới biết đến dân tộc Việt Nam bằng chiến thắng Điện Biên còn lại cụ thể như thế nào thì thông tin còn hạn chế Đứng trong vòng vây, sự thỏa thuận của các nước lớn tiếng nói của chúng ta bị át đi
và cũng không thể làm người ta chú ý hơn
Khi đó quân Pháp còn rất mạnh (30 vạn quân trang bị tốt), Mỹ sẵn sàng nhảy vào Đông Dương Quân ta tuy chiến thắng ở Điện Biên Phủ nhưng cũng bị tổn thất nhiều, thế chẻ tre chưa có mặc dù ở Nam Bộ địch đang tan rã hàng loạt (yếu tố tâm lí), quân ta cũng chưa phải là bất khả chiến bại khi trung đoàn Bắc- Bắc đã thất bại
và tổn thất nặng nề khi tiến công cứ điểm Vĩnh Yên và Cầu Lồ Chu Ân Lai thì tuyên bố sẽ không thể viện trợ cho ta nữa Chấp nhận ký hiệp định là một sự lựa chọn tốt nhất lúc bấy giờ, đó là bài học lớn cho nền ngoại giao non trẻ nước nhà khi
mà cuộc chiến gay go với đế quốc Mỹ là không tránh khỏi Cuộc đàm phán ở Geneve đã để lại những bài học đắt giá:
Thứ nhất: Trong quan hệ quốc tế sẽ chẳng có sự cho không lợi ích, không có một nhà chính trị nào làm những việc vô nghĩa, chỉ có một yếu tố lợi ích là cùng tồn tại do vậy ta phải tìm ra được mẫu số chung trong lợi ích của những đồng minh
4
Nguyễn Khắc Huỳnh, Ngoại giao Việt Nam - Phương sách và nghệ thuật đàm phán, NXB Chính trị Quốc gia, 2006 tr 188
Trang 23và lợi ích của chúng ta Trong kháng chiến chống Mỹ yếu tố này đã được tận dụng rất tốt khi ta tìm đúng được mối quan hệ chung giữa lợi ích cơ bản của cuộc chiến trang chống Mỹ của nhân dân Việt Nam với lợi ích dân tộc, đường lối chiến lược của Liên Xô, Trung Quốc
Thứ hai: Ta phải có thực lực của mình, cái gì không thể giành lấy trên chiến trường thì cũng không thể có được trên bàn đàm phán Đó là vấn đề hết sức sâu sắc, cốt lõi Vì vậy khi giải phóng miền Bắc ngay lập tức ta bắt tay vào củng cố, xây dựng trên tất cả các mặt kinh tế, quốc phòng Rõ ràng nếu trên chiến trường miền Nam ta không thể thắng Mỹ, trên bầu trời miền Bắc ta không thể bắn rơi hàng loạt máy bay của Mỹ thì đừng hòng có chuyện viện trợ
Thứ ba: Phải tăng cường được sức ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế Đây là một nguyên nhân lớn mà trong hội nghị Genève ta yếu thế Vì vậy trong kháng chiến chống Mỹ ta đã xây dựng hàng loạt những phòng thông tin, những sứ quán và cử nhiều đoàn đại biểu đi thăm các nước khác để họ biết thêm về chúng ta Thứ tư: khi đã có thực lực, phải kiên quyết nắm lấy quyền tự chủ của mình không để cho nước khác can thiệp, chi phối
1.2.3 Sự lựa chọn và quyết tâm của Đảng
- Hội nghị BCH trung ương Đảng lần thứ 15 (1959), lựa chọn con đường bạo lực để giải phóng miền Nam
Trong bối cảnh lịch sử phức tạp của tình hình thế giới và áp lực bất lợi từ phía hai nước đồng minh Xô- Trung và thực tiễn của cách mạng miền Nam, Đảng
ta phải đứng trước sự lựa chọn khó khăn:
Cần đưa ra đường lối phù hợp cho cách mạng miền Nam
Hoặc là chấp nhận xu thế chung của thế giới, đơn phương tuân thủ Hiệp định Genève trong khi những người Đảng viên, Quần chúng kiên trung đang bị tàn sát, Cách mạng miền Nam lâm nguy
Sau một thời gian cân nhắc kỹ lưỡng trong bộ chính trị và yêu cầu cấp thiết của cách mạng miền Nam, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 chấp nhận để nhân dân miền Nam dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản
cách mạng Hội nghị chỉ rõ “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam
ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, theo tình hình cụ thể
Trang 24và theo yêu cầu của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân 5 ” Hội nghị còn đưa ra dự đoán “Đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có thể chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ Trong tình hình cuộc đấu tranh sẽ chuyển sang một cục diện mới, đó là chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch, thắng lợi cuối cùng nhất định về ta 6 ” Nghị quyết đã đáp ứng đúng
yêu cầu của cách mạng miền Nam, là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng
về sau và cũng là nghị quyết lựa chọn cuộc đối đầu với đế quốc Mỹ Thêm vào đó nghị quyết trung ương lần thứ 15 đã đáp ứng nhu cầu mong muốn và khát vọng của
đồng bào chiến sỹ miền Nam “Dân chấp nhận đi theo Đảng trong những hoàn
cảnh khó khăn nhất nhưng không thể buộc họ phải lấy tây không đấu với súng máy, phải chấp nhận hy sinh khi trong tay có vũ khí mà không thể chống cự Đó là sự hi sinh vô nghĩa 7 Và thực tế rõ ràng đã cho thấy khi nhân dân ta có vũ khí trong tay
thì họ đã làm nên một cuộc Đồng khởi như sóng dậy, đập tan chính quyền Ngô Đình Diệm ở nông thôn
- Hội nghị chính trị đặc biệt, khẳng định quyết tâm chống Mỹ
Ngày 27/3/1964 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt để biểu thị quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam Trong báo cáo đọc tại Hội
nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến
những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc 8” Cuối cùng Người khẳng
định “Nếu đế quốc Mỹ liều lĩnh đụng đến miền Bắc thì chắc chắn chúng sẽ thất bại
thảm hại 9 ” Từ sau Hội nghị này một phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt 10 ” đã được phát động Hội nghị này được xem như là hội
nghi Diên Hồng của thế kỷ XX
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐƯỜNG LỐI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA ĐẢNG TA TRONG CUỘC ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TỪ 1965 ĐẾN TRƯỚC HỘI NGHỊ PARIS
2.1 Đường lối độc lập, tự chủ của Đảng ta với Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Dương
2.1.1 Đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ với Liên Xô
Trong các mối quan hệ quốc tế thì “chẳng có kẻ thù nào là vĩnh viễn, đồng
minh nào là lâu dài, cũng không có kẻ thù nào là vĩnh cửu, chỉ có lợi ích là cùng nhau tồn tại 11 ” Vì thế đến nay khi lịch sử có độ lùi nhất định ta mới có điều kiện
để nhìn nhận lại một số vấn đề hoặc là trước đây ta đã tô hồng hoặc đánh giá quá khắt khe mà nó đã vượt qua giới hạn cần thiết của nó Cuộc chiến tranh ở Việt Nam nói chung và cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao nói riêng cũng cần phải có đồng minh cho mỗi bên tham chiến Do đó, tùy vào tương quan lực lượng, thực lực của mỗi bên, tình hình và bối cảnh thế giới trong thời điểm đó mà sự tương tác ảnh hưởng qua lại của mối quan hệ này cũng không đồng nhất Nhưng tựu chung lại các bên phải làm sao bảo vệ được quyền lợi của dân tộc mình, và tất yếu các Đồng minh của chúng ta cũng không ngoại lệ, xét về khía cạnh tình cảm ta chân thành biết ơn sự giúp đỡ quý báu đó, cả về vật chất và tinh thần của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước thế giới thứ ba) đã dành cho chúng ta Song khách quan cũng phải nói rằng, sâu sa bên trong sự giúp đỡ đó cũng là để bảo đảm quyền lợi dân tộc của họ Chẳng ai cho không ai cái gì và cũng chẳng có một dân tộc nào đem mồ hôi xương máu của dân tộc mình đến cho dân tộc khác mà không thu lại gì
Cuộc đối đầu Việt Nam- Hoa Kỳ hội tụ đầu đủ những mâu thuẫn thời đại những biểu hiện của cuộc chiến tranh lạnh đối đầu Đông- Tây Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh này góp phần to lớn vào thắng lợi chung của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đó là cuộc chiến của phe cách mạng với
11
Vũ Dương Ninh, Lịch sử quan hệ quốc tế, NXB Đại học sư phạm, 2010, trang 144
Trang 26phe phản cách mạng, nó góp phần bảo đảm an ninh cho các nước xã hội chủ nghĩa khác Nhưng quan trọng hơn hết cuộc chiến tranh Việt Nam đang làm Mỹ suy yếu
toàn diện xét về thực lực và vị thế quốc tế khi phải huy động vào “đây 70% lục
quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân và 60% không quân của nước Mỹ, với 6.5 triệu lượt thanh niên tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh Việt Nam, 22000
xí nghiệp sản xuất để phục vụ cuộc chiến tranh, với tiêu tốn 900 tỉ USD 12” Còn
tình hình trong nước thì rối ren, chia rẽ sâu sắc với phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ Mỹ đòi chấm dứt cuộc chiến tranh, rút quân Mỹ về nước Trong các mối quan hệ quốc tế thì các nước mà Mỹ đã tình khống chế được đang từng bước thoát ra khỏi ảnh hưởng của Washington, độc lập hơn trong chính sách của mình Như vậy tạo điều kiện cho các nước xã hội chủ nghĩa thời gian hòa bình của cố thực lực, phát triển tiềm lực của mình, tạo điều kiện đấu tranh với Mỹ trên các vấn
đề có tính điểm nóng khác Với quy mô quốc tế và ảnh hưởng sâu rộng như vậy cuộc chiến Việt Nam đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự tính toán và chính sách của một số nước, nhất là những nước có quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với Việt Nam Liên Xô, nhìn cuộc chiến tranh ở Việt Nam như là một mối tương đồng về lợi ích đó đánh bại Mỹ trên chiến trường, đấu tranh kiên trì trên bàn đàm phán buộc họ rút quân về nước đó là mục tiêu của Việt Nam, còn Liên Xô lại muốn kiềm chế làm suy yếu Mỹ đặt họ vào mối quan tâm Việt Nam hơn là các vấn đề khác để họ có thời gian củng cố xây dựng phát triển kinh tế nhằm đuổi kịp Mỹ về tổng sản phẩm
về thế cân bằng chiến lược Vả lại giúp Việt Nam là một nghĩa vụ không thể chối từ của một nước có cùng chung ý thức hệ, một nước đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc chống đế quốc mà Liên Xô đang là người đứng đầu nắm giữ ngọn cờ lãnh đạo đó, thắng lợi của nhân dân Việt Nam có tác động trực tiếp đến uy tín của Liên Xô trong phong trào cách mạng thế giới Hơn nữa giúp Việt Nam là yêu cầu, nguyện vọng xuất phát từ tình cảm của nhân dân Liên Xô với nhân dân
Việt Nam “Theo báo cáo của bộ quốc phòng lên tổng bí thư Brezhnev thì họ đã
nhận được 750 đơn tình nguyện sang chiến đấu bên cạnh nhân dân Việt Nam 13”,
Trang 27trong thời gian mà Liên Xô đón Nixon cũng có dư luận không đồng tình trong nhân dân
Mặc dù vậy, những toan tính của Liên Xô đôi lúc không phù hợp với lợi ích chung của nhân dân Việt Nam, còn phía ta thì kiên trì độc lập, tự chủ bảo vệ ý kiến của mình, khiến quan hệ hai nước, hai đảng cũng có những khúc mắc Trước hết, là
do xu thế chủ trương đề ra từ đại hội lần thứ 20 (1960) Liên Xô thực hiện đường lối hòa bình nên trong Hội nghị của 81 Đảng cộng sản, họ đã đưa ra văn kiện thảo luận cho đại hội rất tiêu cực khi đề cao vai trò của vũ khí hạt nhân, đề cao quá mức vai trò của cuộc đấu tranh ở các nước lớn mà hạ thấp xuống vai trò của những cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, chủ trương chung sống hòa bình với chủ nghĩa đế quốc, phê phán mạnh Trung Quốc Trong hoàn cảnh như thế đoàn ta do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn dẫn đầu vẫn có cách ứng xử khéo léo bằng cách phát biểu theo hướng trung lập không nghiêng hẳn về bên nào, khi ra nghị quyết chống Trung Quốc thì ta phản đối nhưng nói rõ tại sao phản đối, làm như vậy trước hết là để bảo vệ trực tiếp cuộc kháng chiến của chúng ta khi cái nhìn của Liên Xô vào vấn đề Việt Nam lúc này rất xem nhẹ mà với bản thông cáo chung chống Trung Quốc nữa thì lại càng chồng chất lên những khó khăn, như vậy bên cạnh bảo vệ quan điểm của mình không bị hút vào bên này hay bên kia là rất quan trọng, cách làm của chúng ta được một số đoàn khác tham khảo thực hiện Sau khi Bác sang trực tiếp dự hội nghị, Người đã có những hoạt động ngoại giao mang tính trung gian nhằm hạn chế những mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc nên cuối cùng Hội nghị cũng ra được tuyên bố chung mang tính trung lập (hiểu như thế nào cũng được)
Trên mặt trận ngoại giao ta cũng kiên quyết độc lập tự chủ với Liên Xô vì những toan tính của họ nhiều khi đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng
ta Đối với cuộc chiến Việt Nam xu thế chung của dư luận thế giới là muốn giải quyết bằng thương lượng, Liên Xô cũng không nằm ngoài xu thế chung đó Khi
Mỹ tăng cường các chiến dịch hòa bình chống Việt Nam và tuyên bố muốn có đàm phán thì Liên Xô tích cực đứng ra làm trung gian để xúc tiến nhanh cuộc nói chuyện giữa ta và Mỹ Những hành động như vậy để làm cho quan hệ Xô- Mỹ dịu
Trang 28bớt lại, tiến tới thương lượng những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm nhưng bị ngăn trở về lập trường trong chiến tranh Việt Nam Thực tế như trong kế hoạch
“Hoa tháng năm” của Mỹ, Liên Xô cũng đã chuyển công hàm của Mỹ cho Hà Nội Giám đốc hãng thông tấn TASS của Liên Xô với danh nghĩa cá nhân cũng tiến hành hàng loạt hoạt động thăm dò Nhưng rút cuộc cũng không ăn thua gì do sự kiên quyết im lặng từ phía Việt Nam Dù biết những hành động đó của Liên Xô chỉ mang tính thân thiện nhưng chúng ta kiên quyết khước từ sự trung gian của bạn vì
đó là chủ trương chung của Đảng đã xác định trước, Mỹ giở trò đàm phán lúc này chẳng qua là để che mắt dư luận cho những hành động leo thang chiến tranh quy
mô của họ mà thôi, chứ Mỹ đâu có thiện chí hòa bình, vì quân Mỹ đang đổ bộ lên
Đà Nẵng, Quảng Nam với số lượng ngày càng lớn, thời cơ chưa chín muồi thì tuyệt đối không đàm phán non Kiên quyết thực hiện theo đường lối của mình ngay trong những vấn đề nhỏ nhất đó chính là cơ sở để ta giữ vững quyền tự quyết sau này Suốt trong quá trình sau đó nếu cơ hội Liên Xô đều tìm cách làm trung gian cho cuộc đàm phán chính thức bắt đầu nhanh hơn, để làm sao cho dư luận quốc tế nhìn nhận được vai trò trung gian thiện chí của mình đối với cuộc hội đàm chính thức Việt- Mỹ Do vậy, khi ta và Mỹ đang tranh luận địa điểm sẽ diễn ra các cuộc gặp chính thức thì ngay lập tức Liên Xô đề nghị nên họp trên một chiến hạm của nước này hoặc là sứ quán Liên Xô tại Paris Ta không chấp nhận vì nếu họp như vậy tác động và ảnh hưởng của họ vào cuộc đàm phán sẽ là rất lớn, thêm vào đó
Mỹ cũng sẽ dễ dàng lợi dụng ảnh hưởng của Liên Xô và dư luận quốc tế gây sức ép với Việt Nam, ta hoàn toàn độc lập tự chủ chọn địa điểm đàm phán là Paris mà không hề chịu sự tác động, sức ép của ai kể cả Liên Xô, Trung Quốc hay Mỹ Tuy độc lập tự chủ nhưng không có nghĩa là ta bác bỏ hoàn toàn mọi ý kiến từ bên ngoài những ý kiến này hợp lý ta vẫn tiếp thu như việc ta chấp nhận gợi ý về cái bàn họp vì đây là đề xuất hợp lí nhất cho cách thể hiện quan điểm lập trường của cả hai phía
Liên Xô có thái độ trung gian như vậy là do Liên Xô chưa tin tưởng vào khả năng thắng Mỹ của nhân dân Việt Nam vì mọi sự so sánh lực lượng theo hướng vật chất, theo quan điểm, đường lối chiến tranh của Liên Xô thì ta không có chút cơ hội nào để thắng Mỹ Thêm vào đó, họ sợ rằng cuộc chiến tranh cục bộ có thể trở thành
Trang 29cuộc chiến tranh tổng lực chiến tranh hạt nhân Nhưng cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam thì không thể dùng những lý thuyết vật chất để đo đếm được cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến đặc biệt của loài người Đó là một cuộc chiến tranh bất quy tắc Việc chúng ta cần làm là phải chứng minh cho Liên Xô thấy quyết tâm chống Mỹ và khả năng thắng Mỹ Năm 1965 trong cuộc họp với ba lãnh đạo Liên
Xô (lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Brezhnev, Chủ tịch Xô Viết tối cao Podgorny, Thủ tướng Kossigine) về tình hình cuộc chiến đối với Mỹ của Việt Nam, Podgonưi đã phản đối gay gắt việc Việt Nam tiến hành chiến tranh vũ trang để thống nhất đất nước vì "Mỹ rất mạnh, Việt Nam không thể thắng Mỹ " Lúc đó bí
thư thứ nhất Lê Duẩn đã nổi nóng: "Nhất định chúng tôi phải đánh Mỹ và thắng
Mỹ Nếu các đồng chí ủng hộ, có thể chúng tôi chỉ chết có một triệu người Nếu các đồng chí không ủng hộ, chúng tôi có thể hi sinh nhiều người hơn nữa Nhưng chúng tôi phải thực thiện được mục tiêu cuối cùng là thống nhất đất nước 14 " Đó là chân
lý không có gì quý hơn độc lập tự do Nhân dân ta quyết không sợ tổn thất hy sinh, khi thắng giặc Mỹ rồi ta sẽ xây dựng lại quê hương to đẹp hơn Nhân dân ta chiến đấu để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ cái tất yếu thuộc về chúng ta Tuyệt đối dù thế nào đi chăng nữa ta cũng không thể đàm phán với Mỹ khi mà binh lực của chúng còn quá mạnh và đàm phán theo lập trường không điều kiện của Mỹ được, chấp nhận đàn phán khi thời cơ chưa đến tức là tự nắm lấy lưỡi dao sẽ ảnh hưởng đến đại cục Trong kế hoạch Hoa hướng dương của Mỹ thì họ cũng đã tính toán rằng dung vai trò của hai đồng chủ tịch Hội nghị Genève để giải quyết vấn đề Việt Nam, cho nên Washington đã của Cooper sang soạn thảo văn bản hội đàm cho Wilson và Kossygine Và trước khi đi London thủ tướng Nga cũng đã chuyển cho phía Việt Nam bức thông điệp của Mỹ về việc đổi chác: dừng ném bom miền Bắc, đổi lại với yêu cầu miền Bắc không tiếp tục chi viện cho miền Nam, và tất nhiên ta không trả lời vì đây là cuộc hội đàm mà ta không thể tự quyết định được kết quả của nó, ta chỉ yêu cầu phía Liên Xô ủng hộ lập trường trong tuyên bố ngày 28/1 của bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh Với chủ trương khéo léo này ta đã tranh thủ được dư luận quốc tế và không làm Liên Xô phản đối Đó là một sự thành công rất
Trang 30Trong quan hệ với Việt Nam nói chung và mặt trận ngoại giao nói riêng chưa
có khi nào Liên Xô dùng vấn đề viện trợ để công khai ép Việt Nam như Trung Quốc Nhưng đó không phải là họ sợ Việt Nam, cũng không phải là Việt Nam quá cần thiết với họ mà là vì Đảng ta đã có những cư xử rất đúng mực Cụ thể là trong Hội nghị Trung ương họp thông qua Nghị quyết 9 về các vấn đề quốc tế, chống chủ
nghĩa xét lại hiện đại Đa số Ủy viên Trung ương tán thành, sau Hội nghị Trung
ương Bộ chính trị và Bác Hồ cử Lê Duẩn sang gặp Đảng cộng sản Liên Xô, nói rõ lập trường quan điểm của Đảng ta và kiến nghị Liên Xô xem xét lại quan điểm của
mình “Phía Liên Xô cũng đã biết về nghị quyết 9 (1963) và chuẩn bị phản kích
nhưng trong hội đàm bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã tránh đi những vấn đề nhạy cảm
mà chỉ nói đến quan hệ hợp tác nên thông cáo chung được thông qua, lại tranh thủ được viện trợ 15 ” Từ đó rút ra một quan điểm hết sức chí lý là “chúng ta đang cần
họ giúp đỡ trang bị cho Quân Giải phóng miền Nam thì dại gì mà ra mặt chống đối 16 ”, lịch sử đã chứng tỏ rõ ràng bằng bài học của Albani, rằng ta chỉ chống xét
lại chứ không chống Đảng và nhà nước Liên Xô, trắng đen minh bạch rõ ràng như vậy đã tạo điều kiện to lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta thắng lợi
2.1.2 Đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ với Trung Quốc
Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập ( 1949), Trung Quốc đại lục được giải phóng nhưng bộn bề những khó khăn thử thách Sau chiến tranh Triều Tiên Trung Quốc bị tổn thất nặng nề về quân sự bị bao vây cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị Tình thế đó buộc họ nhìn về phía Nam và Mao đã đi
một nước cờ rất cao: tăng cường viện trợ cho Việt Minh đánh Pháp, đẩy quân Pháp
vào tình thế sa lầy rồi buộc phải tiến tới đàm phán mà ở đó vai trò của Trung Quốc
là không thể thiếu, lúc đó họ sẽ tận dụng tình hình để vươn lên Và lịch sử đã chứng minh như vậy trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này cũng thế, Trung Quốc vẫn viện trợ cho nhân dân miền Nam đánh Mỹ nhưng cũng dùng xương máu người Việt Nam để thực hiện những tính toán của mình, nhằm một lúc nào đó tìm lấy một cơ hội như năm 1954
Không giống như Liên Xô, Trung Quốc sử dụng cây gậy và củ cà rốt của mình một cách công khai theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng của nó Trong các cuộc
Trang 31hội đàm giữa đại diện hai Đảng, hai Chính phủ họ luôn dùng viện trợ để nhắc nhở
ta trong những vấn đề chưa thống nhất Do đó cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao chống lại Trung Quốc còn khó khăn hơn cả với Mỹ mà ta đã phải tốn bao tâm huyết mới hoàn thành được
Trung Quốc chủ yếu gây sức ép lên ta trong những vấn đề “đánh hay đàm, thời điểm của nó, vấn đề lập trường của ta với Liên Xô ” Tất nhiên những tính toán đó phải phù hợp với lợi ích của Trung Quốc và chẳng mấy khi lợi ích của họ
và ta trùng nhau Do đó việc chống lại các áp lực đó là cần thiết và cấp bách vì nhân nhượng là phạm đến quyền lợi dân tộc Trong giai đoạn ta đang thăm dò đàm phán với Mỹ thì họ ngăn cản quyết liệt và công khai cho rằng làm như vậy là tuân theo sự chỉ đạo của Liên Xô, là gạt vai trò Mặt Trận dân tộc giải phóng ra khỏi cuộc đấu tranh chung, là bán rẻ anh em Về điểm này, Mao tính sẽ chia rẽ mối quan hệ
Hà Nội- Moskva, gạt bỏ ảnh hưởng và sự hiện diện của Liên Xô trong cuộc chiến Việt Nam, để một mình họ độc quyền nắm lấy ngọn cờ viện trợ cho nhân ta chống
Mỹ Mặc dù đứng trước sức ép to lớn như vậy, nhưng ta vẫn tiến hành các biện pháp thăm dò Mỹ theo đúng chủ trương của mình như vẫn tiếp đại diện Mỹ Gullion, vẫn nhận tiếp xúc bí mật ở Warzsawa, nhưng kiên quyết từ chối đàm phán khi thời cơ chưa tới mà theo ý Trung Quốc là cứ im lặng
Những sự phản đối như vậy chỉ là sao cho phù hợp với lợi ích của họ mà
thôi, đó là toan tính làm suy yếu cả hai bên như lời Chu Ân Lai nói với Nasser “Mỹ
càng đưa nhiều quân vào Việt Nam thì chúng tôi càng vui lòng, vì chúng tôi biết rằng chúng ta nắm được chung trong tay, chúng tôi có thể lấy máu của chúng Nếu ngài muốn giúp đỡ người Việt Nam thì cần khuyến khích Mỹ ném càng nhiều lính
Mỹ vào Việt Nam càng tốt 17” Nếu ta nhìn vào quá khứ một chút thì nhận thấy một
cách dễ dàng rằng chưa bao giờ người Trung Quốc thật tâm muốn cách mạng Việt Nam thắng lợi Hiệp định Genève họ phá ta, sau Hiệp định thì họ ngăn cản ta chống lại sự đàn áp của Mỹ và chính quyền thân Mỹ Sau đó bật đèn xanh cho Mỹ tấn công miền Bắc bằng những tuyên bố bất tương xâm Sau đợt một của Tổng tấn công Tết Mậu Thân ta nhận thấy tình hình có những khó khăn nhất định và không
17
Hội đồng chính phủ, Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua, NXB Sự thật, 1979
Trang 32thể ép Mỹ hơn được nữa nên ta chủ động ra tuyên bố ngày 3/4/1968 mở cuộc tiếp xúc với Mỹ thì Trung Quốc không tán thành họ cho rằng cần phải giữ cao giọng vì đàm phán lúc này là chưa đúng thời cơ, nhưng chúng ta bất chấp sự phản đối của Trung Quốc đi một bước mạnh hơn nữa là bài trả lời phỏng vấn hãng thông tấn truyền hình CBS Làm như vậy rõ ràng là phù hợp với tình hình ở miền Nam khi
mà tương quan lực lượng chưa quá mất cân bằng, cuộc chạy đua vào Nhà Trắng đã đến hồi quyết liệt ta cần phải mở cho họ một con đường, mà cũng là để gián tiếp ủng hộ cho ứng cử viên có xu thế hòa bình của đảng Dân Chủ, nhưng Trung Quốc phản đối quyết liệt vì chúng ta đi ngược lại toan tính của họ
Chỉ với bốn chữ “độc lập tự chủ” nhưng đã nói lên bao nhiêu điều, cha ông
ta đã tốn bao nhiêu mồ hôi công sức để giành lấy và giữ gìn nó Không chỉ có ông cha ta mà con cháu cái thế hệ tiếp theo cũng sẽ tiếp tục trân trọng và giữ gìn bốn chữ này bằng tất cả quyết tâm và cả máu của mình nếu Tổ Quốc cần
2.1.3 Cân bằng quan hệ Xô- Trung, tăng cường đoàn kết với Laos, Cambodia
a Cân bằng quan hệ Xô – Trung
Đối với ngoại giao Việt Nam quan trọng nhất là phải kiên quyết thực hiện đường lối độc lập tự chủ nhưng việc giữ vững và phát huy các mối quan hệ chiến lược với Liên Xô- Trung Quốc và các đồng minh khác vẫn là mối quan tâm hàng đầu của các sách lược ngoại giao mà ta đặt ra:
Bước vào những năm cuối thập niên năm mươi quan hệ Xô- Trung bắt đầu có những rạn nứt, mâu thuẫn bắt đầu xuất hiện, bước đầu có sự phân liệt về tổ chức trong phong trào cộng sản quốc tế, thì việc rất quan trọng mà ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn này phải chú trọng là đảm bảo việc cho được mối quan hệ cần thiết với Liên Xô và Trung Quốc tranh thủ sự giúp đỡ của bạn để phục vụ cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta Tuy cần tranh thủ viện trợ nhưng cũng phải cân nhắc lấy cái gì và lấy của ai Khi Đặng Tiểu Bình đề nghị chúng ta từ bỏ Liên Xô một năm họ sẽ viện trợ 2 tỷ NDT nhưng chúng ta phải thấy rõ rằng tuy đó là con số không nhỏ nhưng một số mặt hàng ta cần nhất là về vũ khí và các linh kiện thay thế thì chỉ có Liên Xô mới có Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập chung nghiên cứu tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quan hệ mỗi nước với Việt
Trang 33Nam, tìm hiểu chính sách cụ thể của mỗi nước với cuộc chiến tranh của chúng ta, xác định những mẫu số chung mà cả hai nước cùng quan tâm thực hiện đó là nghĩa
vụ quốc tế đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta, dùng cuộc chiến Việt Nam để kìm chế, tạo thế mặc cả với Mỹ cho nên trên cơ sở này ta tích cực hoạt động để tranh thủ viện trợ, nhưng đảm bảo không để chịu sự chi phối và tác động
từ bên ngoài vào công việc nội bộ, đảm bảo tính độc lập tự chủ trên cơ sở tôn trọng đại cục, tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài làm thất bại âm mưu của Mỹ
Trong công tác ngoại chúng ta phải tuyệt đối tránh tình trạng đứng núi này trông núi nọ, tức là phải giữ thế cân bằng trông quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc trong các cuộc hội đàm, các phát ngôn phải tránh để cho một trong hai phía
có thể hiểu lầm là ta thiên về bên này hoặc bên kia như trong lần kỷ niệm sinh nhật của tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô thay vì gửi điện mừng ta chỉ nâng cốc chúc mừng sinh nhật và qua đại sứ Liên Xô gửi lời chúc sức khỏe đến người đứng đầu Đảng cộng sản Liên Xô, còn về phía Trung Quốc Suốt thời kỳ Cách mạng Văn hoá Trung Quốc, phía bạn luôn yêu cầu Việt Nam bày tỏ ủng hộ, ta chỉ xem đó là công việc nội bộ của hộ và không đưa ra quan điểm cụ thể Trong một cuộc mít-tinh của thanh niên sinh viên Trung Quốc ủng hộ Việt Nam, trung Quốc yêu cầu trong phát biểu của Đại sứ Việt Nam có đoạn ủng hộ Cách mạng Văn hoá Trong thế khó xử, Đại sứ Việt Nam chỉ nói về cách mạng Văn hoá Trung Quốc một cách chung chung
mà không bày tỏ sự ủng hộ Những người thuộc phái Giang Thanh rất bất bình Hôm sau, Nhân dân nhật báo cũng không đăng nội dung bài phát biểu của Đại sứ Việt Nam Báo chí quốc tế thường ví von ngoại giao chúng ta đã "làm xiếc thăng bằng" trong quan hệ với hai ông bạn lớn Về các chủ đề gây bất hòa thì tránh đề cập tới Ví dụ như những việc mà Trung Quốc không đồng tình thì ta gác lại, như vận chuyển hàng quá cảnh, xây dựng căn cứ không quân ở Hoa Nam, Trung Quốc muốn triệu tập “Hội nghị 11 Đảng thân Trung Quốc” không có Liên Xô, Việt Nam không tham gia Liên Xô Họp 75 Đảng Cộng sản và công nhân không có Trung Quốc, Việt Nam khước từ Như trong Hội nghị 81 Đảng Cộng sản Liên Xô đưa ra văn kiện chống Trung Quốc ta không tán thành, nhưng khi Trung Quốc phê phán Liên Xô đã đi vào con đường xét lại, đang đi vào con đường tư bản thì ta cũng phản đối Việt Nam đấu tranh cho sự hòa hợp của phong trào chứ không lợi dụng bên
Trang 34này để công kích bên kia
Những vấn đề quan trọng nhạy cảm trong quan hệ hai nước thì thường do Bác, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn hoặc Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp làm việc với bạn, trong vấn đề chống xét lại ta tuy có nghị quyết phê phán nhưng phải chọn cách bộc lộ một các ý tứ và tế nhị tuyệt nhiên không ra mặt lại Liên Xô Tuy vậy nhưng những vấn đề đụng chạm đến chủ trương chính sách chung của Đảng thì ta kiên quyết giữ vững lập trường, kiên quyết độc lập tự chủ, như trong vấn đề liên hệ với Mỹ qua các kênh trung gian của Liên Xô trong kế hoạch Hoa tháng năm, khi nhận thấy thời gian chưa phù hợp để tiếp xúc ta kiên quyết từ chối sự trung gian của Liên Xô Khi ta tuyên bố Mỹ phải ngừng ném bom hoàn toàn thì sẽ có thương lượng trực tiếp giữa ta và Mỹ (vào dịp đầu và cuối năm 1967) ta phải tích cực phát huy quyền tự chủ của mình mới vượt qua được khó khăn trước thái độ trái ngược của Liên Xô và Trung Quốc phía Liên Xô tích cực xúc tiến thương lượng nhằm đưa ta và Mỹ đến bàn đàm phán, còn Trung Quốc thì chưa muốn đàm phán, họ cho rằng cần phải cao giọng với Mỹ, đàm phán lúc này là mắc mưu xét lại là bỏ rơi miền Nam Ta đã kiên trì giải thích thuyết phục cả Liên Xô, Trung Quốc với nhiều chuyến đi của những phái đoàn cao cấp, một mặt ta tích cực thực hiện các biện pháp của mình cuối cùng Trung Quốc cũng phải chấp nhận ủng hộ Việt Nam
b Tăng cường đoàn kết với Laos và Cambodia
Từ xưa trong lịch sự bán đảo Đông Dương đã có mối gắn bó máu thịt với nhau như thế môi hở răng lạnh Vì vậy trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương đã có sự phối hợp với nhau Trước những âm mưu và hành động của kẻ thù, nhân dân ba nước Đông Dương cùng nhau đoàn kết chiến đấu giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, hòa bình cho đất nước nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc Liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc hình thành trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp tục được bồi đắp, củng cố và phát triển trong những năm kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước Trong liên minh chiến đấu đó, Việt Nam luôn tỏ rõ thái độ, trách nhiệm của mình, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết trong sáng, thủy chung, làm hết sức mình cho tình đoàn kết, hữu nghị, gắn bó giữa ba dân tộc và nhân dân ba nước Suốt trong những năm kháng chiến, Chính phủ và Mặt trận của mỗi nước luôn phối
Trang 35hợp với nhau về chính trị, ngoại giao; lực lượng vũ trang ta và bạn sát cánh chiến đấu bên nhau, tạo ra thế chiến lược tiến công địch trên chiến trường ba nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược của địch trên chiến trường Đông Dương Ngay trong khi Mỹ đang triển khai đưa quân ồ ạt vào miền nam Việt Nam,
từ ngày 1 đến 9-3-1965, Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương được triệu tập tại Phnom Penh để biểu thị tình đoàn kết chống Mỹ, chống âm mưu chia rẽ của kẻ thù Hội nghị đã thông qua Nghị quyết cực lực lên án Chính phủ Mỹ đã vi phạm Hiệp định Genève, gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, can thiệp vũ trang vào Lào và tiến công khiêu khích Cambodia, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải củng cố tình đoàn kết chiến đấu chân thành và bền vững của các dân tộc Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung Đối với ngoại giao của ta được mối quan hệ chiến lược với Laos và Cambodia là vô cùng cần thiết vì đây là hai nước láng giềng có vị trí gần gũi với ta, đường mòn Hồ Chí Minh của ta có đoạn
quan trọng đi qua đất Lào, và cũng có nhiều căn cứ hậu cần trên đất Cambodia vì
vậy ta đã thiết lập quan hệ cấp Đại sứ với Cambodia vào tháng 6.1967 và Chính phủ họ cũng đã công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam là người đại diện chân chính và duy nhất của nhân dân miền Nam Sự ổn định trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng một mặt đã giúp ta thuận lợi trên chiến trường, thêm bạn bớt thù trong đấu tranh ngoại giao
2.2 Các đòn tiến công ngoại giao của ta với Mỹ từ 1965 đến trước Hội nghị Paris
2.2.1 Giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, làm thất bại các chiến dịch hòa bình của Mỹ
a Làm thất bại chiến dịch hòa bình mang mật danh Hoa tháng năm:
Sau hai tháng thực hiện chiến dịch Sấm rền, ném bom miền Bắc và đưa quân ồ
ạt vào miền Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh cục bộ thì dư luận trong nước Mỹ
và quốc tế đã có sự phản ứng khá mạnh : “Ngày 3/3/1965 tổng thống Nam Tư Tito
gửi thư cho Jonhson yêu cầu ngừng ném bom không điều kiện, ngày 8/3/1965 tổng thư ký Liên Hợp Quốc Uthant đề nghị họp hội nghị các nước lớn và hai miền Nam- Bắc để giải quyết vấn đề Việt Nam, trong nước thì sinh viên chặn trang trại của
Trang 36Jonhson yêu cầu chấm dứt chiến tranh Việt Nam 18” Jonhson ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc nhân ngày lễ Phật Đản và từ ngày 12/5 sẽ tiến hành trao trực tiếp công hàm cho chính phủ ta trong một chiến dịch hòa bình có mật danh là “Hoa tháng năm”
Để chuyển được công hàm tới phía Việt Nam trước hết Mỹ chọn kênh Moskva vì họ hy vọng vào quan hệ đồng minh và sự ảnh hưởng nhất định của Liên
Xô Nhân viên sứ quán Mỹ đến sứ quán Việt Nam trao công hàm nhưng bị trả lại, đại sứ Mỹ Kohler đến gặp bộ ngoại giao Liên Xô nhờ chuyển giùm công hàm cho
Hà Nội, nhưng không có kết quả gì Sau đó Mỹ lại tiếp tục dùng lãnh sự Anh tai Hà Nội cho người chuyển đến Sở ngoại vụ Hà Nội bức công hàm đã bị trả lại ở Liên
Xô và lần này nó cũng cùng kết quả với lần trước Không nản lòng Mỹ dùng Pirre Salinger đang có mặt tại Liên Xô vốn là bạn bè với giám đốc hãng thông tấn Liên
Xô TASS để chuyển tin cho Việt Nam, nhưng tất cả những cố gắng của Mỹ đều thất bại
Không chuyển được công hàm cho Việt Nam, chiến dịch Hoa tháng năm thất bại Nhưng với kế hoạch này Mỹ đã tỏ ra là con bồ câu trắng hòa bình trong dư luận quốc tế, làm người ta hiểu lầm rằng Mỹ mền dẻo và muốn thương lượng nhưng sự ngoan cố và cứng đầu của các nhà lãnh đạo Hà Nội đã bóp chết nó Nhưng kế hoạch này lại tỏ ra nhỏ bé và thô thiển để có thể che đậy hàng vạn quân
Mỹ đang lũ lượt kéo vào miền Nam với vũ khí trang bị đến tận răng, với hàng trăm, hàng nghìn máy bay, xe tăng để giết chóc và tàn phá đất nước Việt Nam Một tuần sau, Mỹ tiếp tục ném bom với luận điệu vừa ăn cướp vừa la làng Hoa tháng năm một cái tên đẹp nhưng đầy chết chóc
b Làm thất bại chiến dịch hòa bình mang mật danh X.Y.Z :
Mở chiến dịch hòa bình mới thay vì chọn một cái tên hoa Mỹ như lần trước, lần này họ đặt cho nó một mật danh rất bí ẩn X.Y.Z để đảm bảo là nó sẽ tuyệt đối bí mật Nhưng thực chất thì đây chỉ là mật danh của những nhân vật có liên quan trong kế hoạch nay mà thôi:
- X- Gullion ,Y- Strum, Z- Mai Văn Bộ
18
Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, NXB Chính trị Quốc gia, 2002 tr 216
Trang 37Việc sử dụng Moskva trong việc thiết lập cầu nối với ta không thành công, Mỹ chuyển qua dùng kênh Paris để tiếp xúc với Mai Văn Bộ tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp, nó được vạch ra làm ba bước:
1 Thông qua chính phủ Pháp
2 Cuộc nói chuyện với một công dân Mỹ
3 Tiếp xúc với một đại diện được phép nhưng không chính thức của Mỹ
Rõ ràng kế hoạch lần này rất bài bản Nó được vạch ra một cách rất chi tiết và được đích thân tổng thống Jonhson đã đích thân giao cho Geogre Ball, thứ trưởng ngoại giao thực hiện Kế hoạch này với nhiệm vụ hết sức rõ ràng dành cho Gullion
“Thăm dò ý nghĩa những tuyên bố chung và riêng của Hà Nội nhằm xác định xem
còn có khả năng nào cho cuộc thương lượng thật sự không 19 ” Trong các cuộc gặp
của Gullion và Mai Văn Bộ chủ yếu chỉ mang tính chất thăm dò là chính, lập trường bốn điểm của ta được đại diện Mỹ tỏ ra quan tâm nhằm xác định: lập trường bốn điểm là cơ sở như thế nào cho đàm phán, gồm một hay nhiều cơ sở, Mỹ rút quân trước có phải là điều kiện tiên quyết không ? Do đó các cuộc gặp này cũng chẳng đi đến một cái gì đó cụ thể về vấn đề Việt Nam Nhận thấy âm mưu của Mỹ trong cuộc tiếp xúc, chính phủ yêu cầu Mai Văn Bộ từ chối không tiếp Gullion nữa thì Mỹ lại tiếp tục cử Strum gặp Võ Văn Sung- bí thư thứ nhất trong cơ quan tổng đại diện ta tại Pháp Cũng giống với Gullion ông ta thăm dò rồi lại đưa ra các yêu cầu đàm phán không điều kiện, có đi có lại nên cuối cùng cũng thất bại
Xét cho cùng kế hoạch X.Y.Z này vẫn dùng để che đậy leo thang chiến tranh nhưng ta cũng thấy rõ rằng Mỹ thật sự muốn có đàm phán, thương lượng nhưng với bản chất trịch thượng của mình họ vẫn muốn thương lượng trên thế mạnh, nên ta không chấp nhận Qua đó Đảng ta cũng thấy được những âm mưu cơ bản của Mỹ
để phục vụ cuộc đấu tranh ngoại giao sau này
c Làm thất bại chiến dịch hòa bình mang mật danh Kế hoạch Pinta
Westmoreland, tướng tổng tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam liên tục đòi tăng quân, từ 175000 (năm 1965) ông ta muốn có 325000 (7/1966) và vẫn còn khả năng tăng thêm nữa mà vẫn không chắc chắn có thể đạt được các mục tiêu đề ra hay không, tổng thống Jonhson và bộ trưởng quốc phòng Mc Namara đều lo sợ rằng
19
Nguyễn Văn Sự: Những mẩu chuyện lịch sử ngoại giao Việt Nam NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr 22
Trang 38tình hình đang dần tuột khỏi sự kiểm soát của lãnh đạo nước Mỹ Do đó sau chuyến
đi thị sát miền Nam về Mc.Namara trình lên Jonhson hai phương án: Một là đi đến thỏa hiệp thấp hơn mục tiêu, hoặc là đáp ứng các yêu cầu của Westmoreland và tăng cường ném bom miền Bắc Sau khi cân nhắc cẩn trọng tham khảo ý kiến của các cố vấn ông chủ Nhà Trắng chọn giải pháp thứ hai để xứng tầm cường quốc số một của mình Do lần này leo thang sẽ mạnh hơn, vì thế chiến dịch hòa bình phải được tiến hành rầm rộ và quy mô hơn các lần trước và nhất định phải có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn Chiến dịch hòa bình mang tên Pinta ra đời để đáp ứng cho sự toan tính đó
Ngày 23/12/1965, Jonhson tuyên bố một cuộc ngừng bắn 30 giờ và sau đó kéo dài thêm một hai ngày nữa, đến ngày 27 thì kéo dài vô thời hạn đây là một bước đi nằm trong kế hoạch Pinta nhằm tranh thủ dư luận quốc tế gây sức ép trực tiếp lên Việt Nam, địa điểm thực thi kế hoạch là Budapest, Rangoon, Paris và Moskva Tiếp theo Mỹ đưa ra kế hoạch hòa bình gồm 14 điểm với tiêu đề: Các đóng góp của Mỹ vào cái giỏ hòa bình Sau đó Mỹ cử đại diện tới 40 nước, vận động 113 chính phủ giải thích lập trường của Mỹ và quy trách nhiệm cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Đây là cuộc vận động ngoại giao quy mô lớn nhất trong nhiệm kỳ của tổng thống Jonhson, cuộc vận động này đã gây những khó khăn không nhỏ cho chúng ta
Khi nghiên cứu bản đề nghị hòa bình của Mỹ thì thấy đó là một sự vá víu, lắp ráp tất cả những đề nghị hòa bình liên quan tới vấn đề Việt Nam, như lập trường 4 điểm của Hà Nội, lời kêu gọi của các nước không liên kết ở Beogard, đề nghị của Liên Xô về một hội nghị quốc tế về Campuchia….làm như vậy không phải vì Mỹ không có những nhà ngoại giao đủ tầm cỡ để soạn thảo ra một đề nghị riêng mà là
vì họ muốn chứng tỏ thiện chí của mình bằng cách tỏ ra sẵn sằng tiếp thu mọi ý kiến của nhiều phía, miễn sao có được hòa bình, có thể giải quyết vấn đề Việt Nam bằng thương lượng Mục đích cuối cùng vẫn là muốn thổi phồng thiện chí của Mỹ
và che lấp đi sự leo thang chiến tranh Mặc củ cà rốt hòa bình có to tới đâu đi chăng nữa thì cũng chẳng thể lấp hết ngọn lửa chiến tranh ở hai miền Nam, Bắc Việt Nam…Trước yêu cầu của thực tế chiến trường, quân đội Mỹ chẳng thể chiến đấu nếu thiếu chi viện hỏa lực và quân đội đó cũng chẳng thể làm gì để tiêu diệt quân
Trang 39Giải Phóng miền Nam nếu họ vẫn nhận được sự chi viện từ miền Bắc vì vậy ngày 28/1/1966 Mỹ tiếp tục ném bom miền Bắc, kế hoạch Pinta phá sản không kèn, không trống
d Làm thất bại chiến dịch hòa bình mang mật danh Hoa hướng dương
Từ lâu hai đồng chủ tịch của hội nghị Genève đã tỏ ra quan tâm sâu sắc đến vấn đề Việt Nam nhưng đôi lúc do khác nhau về ý thức hệ mà nó chưa được thực hiện một cách đầy đủ, nhưng khi có dịp cả Anh và Liên Xô đều tìm cách thúc đẩy Việt- Mỹ đến bàn thương lượng, nắm được điểm này Mỹ đã vạch ra một kế hoạch hòa bình mới có tên Hoa hướng Dương để tận dụng cuộc hội đàm giữa Kossygine
va Wilson để hy vọng có một giải pháp có lợi cho mình Đây là một kế hoạch khá quy mô, kéo dài trong 4 tháng đầu năm 1967, một phần là đại diện Việt- Mỹ tại Moskva và một phần tại London
Ngày 9/1/1967 trong hoàn cảnh bí mật, tránh con mắt nhòm ngó của giới báo chí đại diện lâm thời Việt Nam tại Liên Xô, Lê Trang tiếp đại diện Mỹ Gutherie hai bên
đã trao đổi những vấn đề mang tính thực chất để hoàn thành cho một giải pháp thật
sự Tuy nhiên phái Mỹ lại chơi trò hai mặt xảo quyệt khi vùa tiếp xúc bí mật thì vẫn ném bom Hà Nội bằng những máy bay chiến đấu hiện đại, làm như vậy vừa có thể thăm dò ta lại có thể tăng cường chiến tranh, họ liên tiếp tung ra các đòn hỏa mù mang tính chất gây ảo giác như đề nghị ngừng bắn trong dịp tết, gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi đó ở miền Nam Mỹ lại mở những trận càng lớn Cedar Fall, Junction City với những lực lượng mạnh nhất như sư đoàn Anh Cả Đỏ, sư đoàn bộ binh số 25, lữ đoàn dù 173…
Đầu tháng 2/1967 chủ tịch hội đồng bộ trưởng Liên Xô Kossygine sang thăm vương quốc Anh, cũng như một năm trước đó trong chuyến thăm Liên Xô của Wilson vấn đề Việt Nam được hai nhà lãnh đạo thảo luận trong nhiều phiên họp Thủ tướng Wilson đã rất lạc quan khi Việt Nam tuyên bố có thể nói chuyện nếu Mỹ ngừng ném bom và khi Mỹ đơn phương ngừng ném bom trong dịp tết nhưng chính
sự tráo trở của Mỹ đã dập tắt mọi hy vọng và cố gắng của nhà lãnh đạo vương quốc Anh mà với sự bật đèn xanh của Mỹ đã trao đổi với Kossygine về giải pháp thương lượng cho cuộc chiến Việt Nam, buộc ông này phải xin rút lại những thỏa thuận của
mình Với bản công hàm ngang ngược và thiếu hiểu biết: “Hoa kỳ chỉ kéo dài việc
Trang 40ngưng ném bom trong dịp tết nguyên đán nếu chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ tuyên bố bí mật hoặc trực tiếp với Mỹ, hoặc qua Wilson, hoặc qua Kossygine là Việt Nam sẽ không chuyển người và hàng tiếp tế vào miền Nam Như thế ngừng ném bom sẽ kéo dài vô thời hạn và sau đó mấy ngày Hoa Kỳ sẽ đình chỉ việc tăng quân vào miền Nam Trong trường hợp đó Hoa Kỳ hy vọng hai bên có thể bắt đầu cuộc thương lượng 20” Công hàm ra yêu cầu Hà Nội trả lời trước 10h sáng ngày 13/2 (giờ London) Một yêu cầu phi thực tế mà Hà Nội không thể đáp ứng về mặt thời gian nếu có chấp nhận bản công hàm đó, còn trên thực tế sẽ chẳng có mệnh lệnh nào cho chiến trường mà lại có thể thực hiện nhanh trong vòng mấy tiếng đồng hồ như vậy Và tất nhiên Jonhson lại bắt đầu ca bài ca quen thộc của
mình với giọng điệu ủy mị, ướt át quy trách nhiệm cho Việt Nam: “Bất chấp những
cố gắng của chúng ta và các bên thứ ba, không có sự đáp ứng nào của Hà Nội….Cánh cửa hòa bình vẫn mở, chúng ta sẵn sàng đi quá nửa đường để đáp ứng một đề nghị công bằng của phía bên kia” 21
Lá thư đầu tiên gửi đến Hồ Chủ tịch chưa nhận được trả lời thì ngày 14/2/1967
Mỹ lại ném bom trở lại điều này phải chăng nói rằng người đứng đầu nước Mỹ quá thiếu kiên nhẫn, đến khi ta từ chối không nhận lá thư thứ hai của Jonhson ngày 6/4/1967 thì màn đầu tiên của kế hoạch Hoa Hướng Dương kết thúc
Dựa trên cơ sở pháp lý của tuyên bố bốn điểm của thủ tướng Phạm Văn Đồng và tuyên bố năm điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng ta đã kiên quyết đấu tranh chống lại các chiến dịch hòa bình và luận điệu đàm phán không điều kiện của Mỹ,
và lần lượt làm cho những kế hoạch này thất bại, như trong chiến dịch “Hoa tháng năm” ta im lặng không trả lời bằng cách không nhận công hàm, biện pháp này làm cho bức công hàm trịch thượng của Mỹ trở thành đòn đánh vào hư không, ta không trả lời thì mục đích chính của kế hoạch này không hoàn thành, vì công hàm chưa đến tay chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Còn trong kế hoạch X.Y.Z ta nhận công hàm, tiếp chuyện đại diện của Mỹ nhưng không trả lời công hàm và trong hội đàm cũng không đưa ra bất cứ vấn đề quan trọng nào để trao đổi, đó là những biện pháp sáng tạo rất phù hợp với tình hình