“Côn Lôn đi dễ khó về Già đi bỏ xác, trai về nắm xương” Đó chính là hai câu thơ nói về Nhà tù Côn Đảo - Địa ngục trần gian, vốn được mọi người cả trong nước và trên thế giới biết đến, k
Trang 2Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy Khoa Năng Lập đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên trong suốt quá trình làm luận văn, giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này
Xin cảm ơn quý thầy cô ở thư viện Khoa Sư Phạm, Trung tâm học liệu, thư viện Thành phố Cần Thơ… đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc sưu tầm tài liệu, sách báo nói về nhà tù Côn Đảo
Bản thân mặc dù đã rất cố gắng nhưng do khả năng tổng hợp, phân tích cũng như kiến thức của một sinh viên có giới hạn, vì vậy mà bài luận văn này sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Do đó, em rất mong nhận được sự thông cảm
và góp ý tận tình của quý thầy cô cùng toàn thể các bạn sinh viên quan tâm đến vấn
đề này, để bài luận văn có thể được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Cần thơ, ngày 20 tháng 4 năm 2012 Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Hường
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
đoạn thâm độc và tinh vi của địch nên tôi quyết định chọn đề tài “Cuộc đấu tranh
của tù nhân nhà tù Côn Đảo dưới sự cai trị của Mỹ - ngụy 1954 - 1975”
“Côn Lôn đi dễ khó về Già đi bỏ xác, trai về nắm xương”
Đó chính là hai câu thơ nói về Nhà tù Côn Đảo - Địa ngục trần gian, vốn được mọi người cả trong nước và trên thế giới biết đến, không chỉ đây là một nhà tù lâu đời, tồn tại suốt 113 năm dưới sự thống trị của hai Đế quốc sừng sỏ nhất thế giới là Pháp và Mỹ, thông qua bộ máy tay sai chính quyền tay sai ở Miền Nam Việt Nam
mà chính là những tội ác do các giới cầm quyền nối tiếp nhau đã gây ra cho những người vì Hòa bình, Độc lập, Tự do của Tổ quốc, vì lí tưởng tiến bộ của xã hội đã không may sa vào ngục tù, làm xúc động lương tri nhân loại
Đặc biệt trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta, tội ác ở nhà tù Côn Đảo được nhân lên rất nhiều lần so với thời Thực dân Pháp cai trị ở Việt Nam, bởi sự tàn ác và thâm độc từ kiểu cách giết người thời trung cổ được kết hợp với những phương tiện hiện đại nhất hành tinh Không phải chỉ là để tiêu diệt thân xác người tù, mà cao hơn là sự hủy diệt tư tưởng của tù nhân
Người tù không chỉ phải đối mặt với lao động khổ sai nặng nhọc dưới đòn roi, đối mặt với gông cùm, bệnh tật, chết chóc như dưới thời thực dân Pháp, mà từng phút, từng giây trong suốt cuộc đời tù, thần kinh con người phải căng ra trước đôi mắt soi mói của địch và đám tay sai, buộc phải lựa chọn giữa hai con đường: một là cái chết dần, chết mòn, chết từng đường gân, thớ thịt, chết vì khô cạn tinh lực, chết
vì bệnh hiểm nghèo bởi đối sách thâm độc của lũ người không còn nhân tính, để bảo vệ lí tưởng cao đẹp mà mình tôn thờ, bảo vệ nhân phẩm cả truyền thống đạo lý Việt Nam hào hùng: sẵn sàng “hi sinh đời ông, đời cha cho đời con, đời cháu” Hai
là giữ lấy mạng sống và bị địch khuất phục về chính trị và tư tưởng
Kẻ địch đã đưa chiến tranh vào ngay trong tư tưởng của mỗi tù nhân!
Trang 5Sự nham hiểm, thâm độc của quân thù đã làm cho không ít người nhiều lần bị vấp ngã Nhưng rồi, tinh thần bất khuất của nhiều thế hệ cha ông, hình ảnh thiêng liêng của Hồ chủ tịch trong trái tim của mỗi người tù, tình cảm thân thương và sự chăm sóc chân tình của đồng đội, một sức mạnh vô hình đã giúp cho hàng trăm người giữ vững vị trí chiến đấu của mình, mặc dù hầu hết trong số đó phải bỏ xương trên đất đất đảo Nhiều người không còn lưu dấu vết trên cõi đời, ngoại trừ trong tâm trí đồng đội Hàng trăm người khác lại đứng lên giữ lấy vị trí vinh quang của người chiến sĩ Cách mạng, người chiến sĩ Cộng sản kiên cường Những thế hệ
tù nhân nối tiếp lại được sự cổ vũ, động viên giúp đỡ và giáo dục của lớp người đi trước đã viết tiếp những trang sử Côn Đảo hào hùng cho đến ngày đất nước hoàn toàn được giải phóng
Đối với những chiến sĩ cách mạng, Côn Đảo được thực sự là một trường học lớn mà bài học lớn nhất là sự thử thách tình yêu Tổ quốc và khí tiết cách mạng, là tinh thần và nội dung của cuộc chiến đấu ngàn lần không cân sức của những người
tù chính trị ở ngục tù Côn Đảo trong giai đoạn toàn dân kháng chiến chống ách xâm lược của Đế quốc Mỹ
Chính vì những điều đó, đã giúp tôi quyết tâm chọn đề tài làm luận văn tốt
nghiệp của mình là “Cuộc đấu tranh của tù nhân nhà tù Côn Đảo dưới sự cai trị của Mỹ - ngụy 1954 - 1975” Tìm hiểu tất cả những vấn đề trên sẽ giúp tôi rất nhiều
trong việc bổ sung thêm tri thức, đồng thời tôi muốn thể hiện tấm lòng tri ân sâu sắc của những thế hệ con cháu với những người đã anh dũng hi sinh trong nhà tù và những người đã may mắn sống sót trở về với cuộc sống tự do Tất cả những yếu tố trên chính là nguyên nhân thúc đẩy tôi chọn đề tài về nhà tù Côn Đảo để làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tôi là “Cuộc đấu tranh
của tù nhân nhà tù Côn Đảo dưới sự cai trị của Mỹ - ngụy 1954 - 1975” Xác định
được như vậy nên trọng tâm vấn đề mà tôi nghiên cứu ở đây là quá trình đấu tranh của tù nhân ở Côn Đảo đã diễn ra với hình thức và quy mô như thế nào trước âm
mưu và thủ đoạn thâm độc tinh vi của Mỹ - ngụy
Nói về nhà tù Côn Đảo là một đề tài vô cùng rộng lớn vì thế trong nội dung luận văn của mình tôi chỉ tập trung nghiên cứu về cuộc đấu tranh của tù nhân Côn Đảo dưới thời Mĩ – ngụy giai đoạn từ năm 1954 – 1975 Đây là giai đoạn ác liệt nhất trong cuộc đấu tranh của tù nhân Côn Đảo, tội ác ở nhà tù Côn Đảo được nhân lên rất nhiều lần so với thời Thực dân Pháp cai trị ở Việt Nam
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về nhà tù Côn Đảo Phần lớn các tác giả đều đã trải qua nhà tù, chưa kể những tài liệu rải rác trong thư khố hay trong một số công trình nghiên cứu, riêng số sách có nội dung tố cáo tội ác của nhà tù đã được xuất bản trong và ngoài nước có thể kể được hàng chục tác giả và
tác phẩm có giá trị Có thể kể đến quyển sách “Côn Đảo – Kí sự và tư liệu” (Do Ban
Trang 6Liên Lạc Tù Chính Trị, Sở Văn Hóa Thông Tin và Nhà Xuất Bản Trẻ Thành Phố
Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện) là một trong những đề tài lớn cách mạng Đây là một quyển sách được xuất bản tháng 4 – 1995 với nhiều tác giả và nhiều tác phẩm
từ thời Pháp cho đến thời Mỹ đã được trích đoạn, trích dẫn hoặc trích dịch Điều đó khiến cho quyển sách có nhiều nội dung phong phú, nhiều sức thuyết phục và nhiều tình cảm đậm đà
Tác phẩm “ Côn Đảo – 6.694 ngày đêm” cũng là một công trình biên soạn về
nhà tù Côn Đảo đã được tác giả Bùi Văn Toản (một cựu tù chính trị đã bị giam giữ
5 năm rưỡi ở Côn Đảo) cùng Nhà xuất bản trẻ hợp tác thực hiện, sách được xuất bản vào tháng 4 năm 2000
Rất nhiều người biết đến Bùi Văn Toản với cái tên "Ác liệt Côn Đảo" - đó
không chỉ là tác phẩm đầu tay của ông mà đó còn là cái tên được gọi bằng sự kính trọng, ngưỡng mộ đối với một "tư liệu sống của Côn Đảo" Được xuất bản vào năm
2005, quyển sách "Ác liệt Côn Đảo" là sự khởi đầu cho những tháng ngày sưu tập
những tư liệu liên quan đến những chứng tích của hòn đảo lịch sử này Những câu chuyện có thật, những số phận hiện lên qua trang viết của ông như tái hiện lại bức tranh của những tháng ngày khốc liệt và hào hùng của những tù nhân Côn Đảo Tỉ mẩn, ông chép lại từ những nguồn tư liệu khác nhau, đọc, nghiên cứu… rồi phân tích, kết nối lại tạo thành những chứng cứ thuyết phục để mỗi trang sách là mỗi hình ảnh, mỗi câu chuyện sống động
Liền kề hai năm sau đó, hai quyển sách "Những bức tranh Côn Đảo” (2006)
và "Vượt ngục Côn Lôn" (1997) tiếp tục ra mắt độc giả
Với lợi thế là nhân chứng sống của "địa ngục trần gian", trong những cuốn sách của ông, có các chi tiết do chính ông và những bạn tù trải nghiệm bằng chính máu xương của mình và giờ được ông trải lòng bằng những trang viết
Không ngưng nghỉ, ông lại tiếp tục cho ra mắt "Những tờ báo của tù nhân Côn Đảo" (2002), "Côn Đảo - Bản anh hùng ca bất khuất" (2006), Huyền thoại Côn Đảo (2008)… Đó là nguồn tư liệu vô cùng quý giá với đầy đủ năm sinh, quê quán,
ngày hy sinh, ngày mất, số tù, mức án, nội dung bản án… như là một tài liệu khoa học
Ngoài ra, còn có tác phẩm “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo (1862 - 1975)” do tập thể
tác giả Nguyễn Đình Thống – Nguyễn Linh – Hồ Sĩ Thành cùng Nhà xuất bản Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh hợp tác thực hiện, được xuất bản vào tháng 1 năm
2010
Ngoài các thể loại sáng tác và biên khảo, còn có 3 Luận án Tiến sĩ về nhà tù Côn Đảo, trong đó có một Luận án tiến sĩ y khoa đã được hạng tối danh dự và nhận được lời khen ngợi của Hội đồng giám khảo
Chưa bao giờ một mảnh đất bé nhỏ, xa xôi như Côn Đảo lại thu hút sự chú ý của người cầm bút nhiều đến như vậy Hai tiếng Côn Đảo là một đề tài lớn, một đề tài mẹ đẻ ra hàng loạt đề tài con
Riêng bản thân tôi là một sinh viên, trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài cho một luận văn, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước,
Trang 7qua đó cố gắng đi sâu tìm hiểu phân tích để là nổi bật nội dung đề tài là “Cuộc đấu tranh của tù nhân nhà tù Côn Đảo dưới sự cai trị của Mỹ - Ngụy 1954 - 1975”
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp trực quan, phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết hợp với phương pháp logic, liệt kê, khái quát hóa để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu Ngoài ra với những ý kiến chủ quan của bản thân thì tôi đã đưa vào bài luận văn của mình một số nhận xét, đánh giá để làm nổi bật trọng tậm của vấn đề Với những phương pháp này đã từng bước giúp tôi xây dựng được đề cương tổng quát, đề cương chi tiết, xác định được trọng tâm nghiên cứu đề tài, từ đó hoàn thành bản thảo và hoàn chỉnh đề tài luận văn này
5 Bố cục luận văn
Bố cục luận văn gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận:
Riêng phần nội dung có 4 chương:
Chương 1 Nhà tù và người tù thời Mỹ-ngụy 1954 – 1975
Chương 2 Cuộc đấu tranh của tù nhân Côn Đảo từ 1954 đến 1960
Chương 3 Cuộc đấu tranh của tù nhân Côn Đảo từ 1960 đến 1973
Chương 4 Cuộc đấu tranh đòi thi hành hiệp định Pari và cuộc nổi dậy giải phóng Côn Đảo 1973 - 1975 Sau cùng là phần phụ lục một số tư liệu về hình ảnh Nhà tù Côn Đảo, thư mục tài liệu tham khảo chủ yếu của luận văn
Trang 8-
-,
Trang 9
-:
2 -
ph
Trang 10
- -
-
-5, đ
- Phong
,
Viên
Trang 11
1.2.
-30-4-1975, Cô:
Trang 12í
1.3 Số lƣợng và cơ cấu tù nhân
- -
) ) Nghi can : 1226
-
-
:
: )
Trang 13
: )
,:
Trang 14
100
Mỹ thực hiện kế hoạch mở Tru
nh đ
Trang 16
Phương châm của Mỹ-ngụy là “muốn giữ tù yên thì không bao giờ để cho tù được yên” Đã cưỡng bức được họ ly khai Cộng sản thì phải tiếp tục bắt họ học tố cộng, chào cờ “quốc gia” hô khẩu hiệu phản động, kí kiến nghị ủng hộ Ngô Đình Diệm, đả đảo Hồ Chí Minh nhằm gột rửa tư tưởng cộng sản, biến người cách mạng thành kẻ phản bội lý tưởng của mình, phản bội tổ chức và lãnh tụ của mình, làm tha hóa phẩm chất, nhân cách đến mức có được trả tự do cũng không thể dung nạp vào đội ngũ chiến đấu được nữa
Cuộc đấu tranh anh dũng của các chiến sĩ cách mạng trong nhà tù thời Mỹ- ngụy trước khi có Hiệp định Pari (27-1-1973) đã diễn ra vô cùng quyết liệt và có sự phân biệt rõ nét của hai thời kỳ: chống tố cộng, diệt cộng rất cực đoan theo kiểu Ngô Đình Diệm và chống các thủ đoạn tâm lý chiến, chiêu hồi thời kỳ sau Ngô Đình Diệm với sự gia tăng của cố vấn Mỹ, viện trợ Mỹ, phương thức quản trị tù nhân và phương tiện đàn áp kiểu Mỹ
Có thể thấy so với thời Pháp thì nhà tù Côn Đảo dưới thời Mỹ ngụy hệ thống nhà lao phức tạp và số lượng tù nhân lớn hơn nhiều Thêm vào đó, người tù thời Mỹ-ngụy cũng cực khổ hơn vì những tên chúa đảo cai trị hết sức gian ác với những thủ đoạn cai trị hiểm độc và tinh vi chưa từng có
Trang 17CHƯƠNG 2 CUỘC ĐẤU TRANH CỦA TÙ NHÂN CÔN ĐẢO
TỪ 1954 ĐẾN 1960
Cộng sản 1957- 3.1960
2.1.1 Cuộc đấu tranh của tù chính trị câu lưu Trại I từ 1957- 3.1960
Sau cuộc bạo động của tù nhân ở Chí Hòa (4-1956) và nhất là cuộc nổi dậy
tự giải thoát của 462 tù chính trị tại Trung tâm Huấn chính Biên Hòa (2-12-1956), Ngô Đình Diệm quyết định chuyển tất cả chính trị phạm nguy hiểm ra Côn Đảo
Ngày 11-11-1957, chuyến lưu đày Côn Đảo đầu tiên chở 360 tù chính trị thuộc các tỉnh miền Đông từ nhà lao Biên Hòa rời cảng Sài Gòn Tính đến ngày 12-
1957 ngụy quyền lưu đày ra Côn Đảo 10 chuyến, tổng cộng 3080 tù nhân Lớp tù nhân đầu tiên thời Mỹ-ngụy bị đày ra Côn Đảo tháng 1-1957 là tù chính trị không
án, bị câu lưu (giam giữ, chỉ định nơi cư trú) Họ là những người ngụy quyền cho là nguy hiểm nhất được thanh lọc từ các nhà lao, đày ra Côn Đảo để tiếp tục các thủ đoạn “tố cộng” trong tù với mức độ ác liệt hơn
Vào cuối tháng 3-1957, ngụy quyền Côn Đảo bắt đầu thực hiện “tố cộng” đối với tù chính trị câu lưu bằng thủ đoạn cưỡng bức ly khai Đảng cộng sản, chúng thành lập Trại Quốc gia (Trại 2), vận động tù chính trị ly khai Việt cộng trở về với
“quốc gia” Đợt đầu tiên chỉ có 269 người chịu ly khai, về Trại Quốc gia, còn 995 người kiên quyết chống, ở Trại 1 mang tên Trại Cộng sản
Kể từ đó, tù chính trị câu lưu bị phân thành hai tuyến: tuyến thứ nhất là những người trực diện chống ly khai ở Trại 1 mà địch gọi là Trại Cộng sản, tuyến thứ hai gồm những người chịu điều kiện ly khai ở Trại 2 mà địch gọi là “Trại quốc gia”
Trong các văn bản của nhà tù, ngụy quyền Côn Đảo gọi Lao 1 là Trại 1, Trại Cộng sản Công văn số 204/TTHC/CS/2M ngày 15-4-1958 của Quản đốc nhà tù ghi rõ: Trại 1 là nơi an trí bọn Việt Cộng ngoan cố, chống học cải tạo tư tưởng, không nhìn nhận chủ nghĩa quốc gia, biểu hiện dưới các hình thức: không dự lễ chào cờ,
suy tôn Ngô Đình Diệm, không hô khẩu hiệu huấn chính: “ủng hộ Ngô Tổng thống,
đả đảo Hồ Chí Minh"
Chống ly khai là hình thức đấu tranh cao nhất, là không thừa nhận chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, là đấu tranh cho mục tiêu hòa bình thống nhất nước nhà, bảo vệ đường lối giải phóng của Đảng, bảo vệ lý tưởng Cộng sản, bảo vệ uy tín Chủ tịch Hồ Chí Minh Đấu tranh chống ly khai là ngọn cờ, là linh hồn trong phong trào đấu tranh của tù chính trị Côn Đảo trong phong trào đấu tranh của tù chính trị Côn Đảo trong thời kì này
Những người tù chống ly khai đã trải qua nhiều cực hình đày đọa: cấm cố, nhốt chật, đóng cửa cây (cửa gỗ), bớt cơm, bớt nước uống, cúp nước tắm, không cho thuốc khi đau ốm
Trang 18Trước tình hình đó thì nội bộ của lực lượng tù nhân chống ly khai lúc bấy giờ còn nhiều phức tạp Tuy cùng thống nhất yêu cầu đấu tranh là chống ly khai Cộng sản, nhưng thành phần, nhận thức, động cơ của mỗi người khác nhau Anh em lại được tập hợp từ nhiều nguồn, nhiều địa phương chưa hiểu biết nhau, mức độ thử thách trong đấu tranh và sức chịu đựng của từng người khác nhau Cho nên khi địch gia tăng đánh phá, một số người rời bỏ hàng trận chiến đấu là đều không tránh khỏi
Cũng như ở bất cứ nhà lao nào, công việc đầu tiên của những người tù là ổn định, sắp xếp tổ chức cho phù hợp với điều kiện sinh hoạt và đấu tranh Ở tất các phòng đều hình thành một Ban lãnh đạo bí mật từ 3 đến 5 người, mang tính liên hiệp giữa các địa phương, gồm các đại biểu của các miền do anh em các tỉnh đề cử Những anh em này phải hội đủ các tiêu chuẩn:
Thứ nhất là không bị lộ hồ sơ, khi bị bắt không khai báo nghiêm trọng
Thứ hai là đã có quá trình đấu tranh chống địch vững vàng qua các nhà lao Tiếp đến là được quần chúng, đặc biệt là trong từng địa phương từng tỉnh tín nhiệm
Tuy không lấy danh nghĩa là một tổ chức Đảng nhưng trong mọi sinh hoạt đều lấy tinh thần lãnh đạo của Đảng và ý thức kỷ luật tự giác của mỗi người làm phương châm hành động Về mặt công khai, mỗi phòng có ban đại diện công khai 3 người Thường có một người trong Ban lãnh đạo bí mật tham gia ban đại diện công khai của toàn trại Tất cả anh em đều tập hợp vào các mâm ăn từ 10 đến 12 ngườ i mỗi mâm Giai đoạn đầu thường ghép theo từng địa phương, hoặc các tỉnh kề cận nhau Mỗi mâm ăn có 2 cán bộ nòng cốt phụ trách trưởng và phó mâm Thời gian đầu khi địch chưa tiến hành phân hóa, anh em của từng tỉnh đã móc ráp hình thành một bộ phận tạm thời làm nhiệm vụ lãnh đạo chung của toàn trại
Hình thức nói trên tỏ ra phù hợp với hoàn cảnh thực tế trong tù và tồn tại trong một thời gian dài Sau này, qua quá trình chiến đấu, nội bộ hiểu nhau hơn, nội phận lãnh đạo được chọn từ những cán bộ tiêu biểu trong đấu tranh chống địch cũng như đoàn kết xây dựng nội bộ mà không căn cứ vào yêu cầu liên hiệp giữa các địa phương nữa Tuy nhiên vẫn giữ nguyên phương châm hoạt động như lúc đầu
Mặc dù kẻ địch biết rõ có tổ chức, có bộ máy bộ máy lãnh đạo trong từng phòng giam qua theo dõi cách thức sinh hoạt đấu tranh và kết quả khai thác nhưng những người không chiụ đựng nổi gian khổ, hi sinh phải rời bỏ hàng ngũ, nhưng chúng cũng đành bất lực không dò la được đầu mối lãnh đạo trong tù Chúng đối phó bằng cách bắt đại diện công khai đem nhất hầm đá, tra khảo, đánh đập trả thù
Tù nhân bị đày ra Côn Đảo ngày càng đông, lực lượng quản tù cũng được tăng cường, nhu cầu sinh hoạt cũng tăng lên Lao động khổ sai hàng ngày được lấy
từ tù thường phạm và một số anh em “chịu điều kiện” không đáp ứng đủ Thiếu nhân công địch quyết định đưa một số chống ly khai ra làm khổ sai Việc chống khổ sai anh em có đưa ra bàn bạc trao đổi, hầu hết anh em thống nhất đây là một nội dung cần chống, nhưng trong trường hợp cần thiết để phục vụ yêu cầu cao nhất là chống ly khai Cộng sản, bảo vệ phẩm chất người chiến sĩ Cách mạng, làm theo sức mình, không để địch bóc lột sức lao động Hơn nữa trong hiện tại anh em cũng cần
Trang 19ra ngoài vừa có tác dụng xóa bỏ một phần tình trạng cầm cố, cải thiện sức khỏe và
có thể phát huy khí thế của lực lượng chống ly khai trên đảo
Có thể thấy đoàn tù ly khai đi làm khổ sai có khác Mặc cho lính gác, trật tự hối thúc, anh em vẫn thong thả đếm bước chân đi Định mức đề ra anh em cũng mặc, lấy lý do bị cầm cố, sức khỏe yếu, không khiêng vác được Gặp sĩ quan địch trên đường, trật tự đứng nghiêm, chào và hô khẩu hiệu Anh em vẫn phớt lờ, tiến bước Gặp chào cờ, anh em tảng lờ như không biết, kẻ đứng, người ngồi Địch mất mặt, tìm cách trả thù, bắt một số anh em nhốt hầm đá, đánh đập buộc ly khai Số còn lại vẫn giữ nguyên thái độ như cũ Bất lực trước thái độ dứt khoát của anh em, mười lăm ngày sau, địch chấm dứt bắt tù chống ly khai đi làm khổ sai, chuyển tất cả sang Trại 1, áp dụng chế độ cấm cố nghiêm ngặt
Khác với chế độ cấm cố dưới thời Pháp thuộc, chỉ nhằm cách ly, cô lập tuyệt đối người tù, chế độ cấm cố ở Côn Đảo dưới thời Mỹ - ngụy được nâng lên thành một biện pháp tấn công tư tưởng, buộc người tù phải chấp nhận ly khai Cộng sản Địch thanh lọc bắt số cán bộ bị lộ tung tích và những người chúng cho là thành phần nguy hiểm, cầm đầu đấu tranh ở các phòng, tập trung lại ở phòng 6, áp dụng chế độ kiểm soát, siết bóp nghiêm nhặt hơn Tất cả các phòng đều bị nhốt chật, cúp nước, không cho tắm rửa và cung cấp khẩu phần ăn tồi tệ nhất Đồ dùng cá nhân của người tù đều bị tước sạch Hàng ngày, mỗi lần mở cửa cho anh em ra lấy cơm, khiêng nước… đám trật tự chực sẵn, vừa luôn miệng hối thúc, vừa đấm đá túi bụi, chúng cứ nhằm chỗ hiểm của anh em mà đánh Nhiều người phải bỏ ăn sau mỗi phiên trực sinh
Hơn 200 người tù chen chúc nhau trong một phòng giam, mỗi người chỉ có một diện tích vừa cho tấm lưng, thường phải nằm nghiêng, chân của người này xỏ tận háng của người kia mới có đủ chỗ nằm Đông đúc như thế, cả phòng giam chỉ có một cửa ra vào, cửa bên ngoài bằng gỗ cũng bị địch bít suốt ngày đêm, chỉ có vài ô cửa tò vò sát mái phòng giam làm chỗ thoát hơi nóng ra ngoài
Chật chội, nóng bức như thế, kẻ địch còn hạn chế nước uống và nước sinh hoạt của người tù Mỗi ngày một người chỉ được hai lon sữa bò nước uống và hai lon guigoz nước rửa Cả phòng giam hơn 200 người chỉ có 2 chỗ tiêu tiểu Có những lúc năm bảy ngày liền địch không cho đổ cầu Giòi bọ lúc nhúc, bò cả vào phòng giam Mùi xú uế tràn ngập khắp phòng, người bên ngoài mới bước bên ngoài mới bước vào không sao chịu nổi
Thời gian đầu, chế độ ăn uống của tù nhân Côn Đảo, ngoài khô, mắm, tương, còn được cung cấp thịt, rau tươi từ Sài Gòn chở ra hoặc sản xuất được tại đảo Nhưng đối với những người tù cầm cố, mọi định lượng tùy theo ý bọn cai ngục Địch chọn số tù thuộc giáo phái Hòa Hảo, Bình Xuyên thay thế số tù câu lưu nấu bếp Chúng kích động hận thù và khuyến khích đàm tù tay sai này tìm mọi cách làm sao cho tù ăn càng ít càng hay, lấy đó làm thước đo tinh thần chống Cộng để được giảm án, sớm trở về với gia đình Được dịp, đám tù giáo phái này ra sức tác oai, tác quái Cơm không bị khê, sống thì bị cháy, lúc khô, lúc nhão Khô, mắm, chúng lựa
Trang 20chọn thứ còn tốt để phần cho chúng và biếu xén bọn cai ngục Phần còn lại, chỉ là khô mục, thính mắm chúng cho nước vào quậy loãng mang cho tù ăn
Bức xúc trước cuộc sống quá khắc nghiệt đang đe dọa sinh mạng của mình, anh em trao đổi kế hoạch đấu tranh Đầu tiên chỉ với hình thức thấp Đại diện đề nghị gặp Trưởng trại để nêu yêu cầu Chẳng những địch không giải quyết còn bắt đại diện nhốt hầm đá, đánh đập suốt ngày đêm cưỡng ép ly khai Tại phòng, địch
tuyên bố: “đòi thứ gì, cúp thứ ấy” Thế là cúp nước, mỗi bữa ăn chỉ còn nửa lon sữa
bò nước uống, nước rửa chỉ còn một lon guigoz mỗi người trong một ngày Chén bát không được rửa, cứ phải để nguyên, đến bữa mang ra dùng lại Nhiều anh em uống cả nước rửa loại nước giếng rất bẩn, nhưng vẫn không đủ, phải uống thêm nước tiểu của mình Thiếu nước, đông người, nóng bức, anh em cứ trần truồng như nhộng Quần áo cứ xé lần ra từng mảnh nhỏ để đi cầu Sau gần 3 tháng bị cầm cố, siết bóp đời sống, đội ngũ những người tù chống ly khai ở Trại 1 vẫn vững vàng, số
bị rơi rớt không đáng kể
Địch căn cứ vào hồ sơ cá nhân, thấy đa số tù nhân chống ly khai không phải
là thành phần Cộng sản cốt cán Chúng cho rằng trong số 1.462 người chống ly khai chỉ có 88 người thuộc thành phần nguy hiểm, khó cải tạo tư tưởng, còn lại 1.374 người chỉ là “phần tử xu hướng”, chỉ bám giữ vị trí này vì sĩ diện, không dám nói thật tư tưởng mình trước đám đông mà thôi Với nhận định đó, địch hy vọng có thể cạy gở được một số lớn phải ly khai khi tách riêng từng người để gạn hỏi và bắt xác định thái độ Giữa tháng 7-1957, địch cho mở cửa, lần lượt đưa tất cả ra sân Mỗi người được đưa một mảnh giấy với lời dặn: “chịu ly khai thì gạch tréo chữ thập (+), không ly khai thì gạch chữ O” Kết quả hoàn toàn làm cho địch bất ngờ, số chịu ly khai chỉ có lẻ tẻ vài người Số chống ly khai trong tháng 8-1957 giảm 13 người so với tháng 7, nhưng chủ yếu là bị chết trong cấm cố
Trong đợt siết bóp này, hàng loạt anh em phát sinh bệnh tật nhưng kẻ địch vẫn tuyên bố thẳng thừng sẽ không chữa trị nếu không chịu ly khai Cộng sản Trong thời gian này đã có 3 anh em chết tại chỗ ở trong phòng 4
Tình hình đó càng kích thích bọn cai ngục tiếp tục dẫn sâu vào con đường tội
ác Tên thiếu úy Võ Văn Nguyệt, Phó Quản đốc vốn là kẻ đầu hàng phản bội khi còn là tù nhân Côn Đảo dưới thời Pháp thuộc, có tên trong danh sách trao trả sau Hiệp định Geneve 1954, nhưng hắn xin ở lại miền Nam làm tay sai cho chính quyền
Ngô Đình Diệm Hắn vào Trại 1 huênh hoang tuyên bố công khai rằng: “Tao sẽ giết bọn Cộng sản này bằng cơm gạo trắng” Những bữa cơm được nấu bằng gạo lức,
gạo đỏ trước đây – nguồn cung cấp sinh tố B1 chủ yếu của người tù không còn nữa, thay vào đó là cơm gạo trắng được chà kỹ hết lớp vỏ cám bên ngoài cùng với khô mục, mắm loãng, tương chua thay nhau hàng ngày Chỉ một tuần đầu anh em đều lơ cơm, phải cố gắng nín thở, nuốt trộng từng miếng nhỏ để duy trì cuộc sống Sang tuần lễ thứ hai, nhiều anh em chỉ nghe mùi cơm là nôn ọe không sao ăn được Đến lúc này, bệnh tật tràn lan Các chứng bệnh phổ biến là đau nhức, bại xuội, đen chân, sưng nướu răng làm mủ và kiết lỵ là nguyên nhân do thiếu sinh tố đến mức nghiêm trọng
Trang 21Bệnh tật như thế nhưng địch quyết tâm bỏ chết anh em Chúng mong muốn lấy cái chết để tác động tinh thần buộc tù nhân chấp nhận ly khai Không một viên thuốc, không một lần khám bệnh Người bị bệnh truyền nhiễm như ho lao, kiết lỵ, thương hàn địch vẫn nhốt chung với người chưa bị bệnh trong điều kiện chật chội,
dơ bẩn Có trường hợp một anh trong cơn hấp hối, anh em trong phòng nóng lòng trước sinh mạng của đồng đội đã gọi cấp cứu Địch mở của gỗ bên ngoài vào tuyên bố: “Chỉ khi nào có người chết hẳn mới được gọi”, rồi bước ra đóng sầm cửa lại
Bằng tình cảm đồng chí, đồng đội, anh em tự chăm sóc cho nhau Tình cảm
mà anh em trao cho nhau trong cơn hoạn nạn giữa chốn lao tù vừa trong sáng, vừa thắm thiết không một thứ tình cảm nào so được
Thiếu sinh tố thực sự là nỗi ám ảnh của người tù cầm cố ở Trại 1 lúc bấy giờ
Từ một vài chấm nhỏ ở bàn chân, những vết thâm đen nhanh chóng phát triển dần lên Đen đến đâu, nhức nhối đến đó còn ở phía dưới hoàn toàn mất cảm giác, như một phần thân thể đã chết đi Nhiều anh em qua một đêm sáng dậy, hai hàm răng đã lung lay, nướu bị sưng tấy lên, mưng mủ đau nhức vô cùng, không ăn uống được gì nữa Anh Hồ Phi Long quê ở Bình Định, không chịu đựng được cơn đau đã rút hết 2 hàm răng và trở thành cụ già móm sọm khi ở tuổi 27
Một căn bệnh không kém phần nguy hiểm đến tính mạng người tù là bệnh kiết lỵ Không thuốc men, những người tù chỉ còn cách nhịn đói hoặc đốt cơm cháy thành than rồi nhai Vậy mà nhiều người đã khỏi bệnh
Trong hoàn cảnh cực kỳ nguy khốn ấy, sự giúp đỡ của anh em Trại 2 là vô cùng quý giá, kịp thời cứu sống được nhiều người Những anh em làm công việc dọn dẹp vệ sinh, đổ cầu hàng ngày đã tranh thủ mọi cách đánh lạc hướng sự chú ý của đám trật tự luôn kè sát, thông qua lỗ cầu tiêu đưa vào phòng giam, khi thì vài viên thuốc, chút đường, chút muối anh em dành dụm được hoặc có khi chỉ vài cọng rau lang, nắm cỏ tươi Ít ỏi chỉ có vậy nhưng lại là những món thuốc quý Chỉ một viên Vitamine C có thể giữ lại được cả hàm răng đang lung lay Một viên B1 cũng
đủ cứu sống một mạng người đang bị đen chân Nhai một đoạn dây lang hoặc và cọng cỏ nuốt lấy nước cũng có thể chữa được bệnh kiết lỵ đang ra máu
Tuy nhiên, sự tiếp tế bất thường và ít ỏi đó cũng không sao ngăn được những cái chết diễn ra hàng loạt ở Trại 1 Theo báo cáo của ban Quản đốc nhà lao, số lượng tù câu lưu chết từ tháng 8-1957, chủ yếu ở Trại 1 như sau:
Sự kiện anh em ở Trại 1 chết hàng loạt với tiếng kêu báo chết vang vọng
(1) Tổng hợp các báo cáo hàng tháng của Ban quản đốc TTHC và văn phòng Tỉnh trưởng Côn Sơn Hồ sơ lưu tại bảo tàng BR-VT và ban quản lí di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo
Trang 22trong đêm có tác động mạnh mẽ trong hàng ngũ viên chức, binh lính và vợ con họ trên đảo đã phần nào làm cho kẻ địch có chùn bước
Tháng 9-1957, địch lấy phòng 8, phòng 9 làm bệnh xá, đưa những bệnh nhân bệnh nặng tập trung về đây Một tổ 14 người còn “mạnh khỏe” do anh Lê Văn Thả phụ trách chia nhau phục vụ, chăm sóc tận tình người bệnh ở cả hai phòng Bằng sự kiên trì, khéo léo, anh em “y tá tù ” đã vận động được anh Nhiên, y tá chính quyền
bí mật cung cấp thuốc tồn kho, không được sử dụng để chữa trị cho anh em Dù là thuốc cũ đã hết hạn nhưng trong điều kiện lao tù, số thuốc đó cũng đã cứu sống được nhiều mạng người
Trong bệnh xá, chỉ những người sắp chết mới được “y tá chính quyền” và một trợ lý là “y tá tù” ở Ty y tế đến khám bệnh, phát thuốc, nhưng hầu như tất cả người bệnh đều phải đối mặt với điều kiện chúng đưa ra: “chịu ly khai mới được trị bệnh” Những người tù vẫn giữ vững ý chí thà chết chứ không chịu khuất phục Thế
là những ống thuốc chích được bơm thẳng vào tường Tên Y tá chính quyền phủi tay rời khỏi bệnh xá Những người địch hy vọng có thể rúng ép ly khai được, chúng
ra lệnh chuyển sang bệnh xá Trại 2 để có điều kiện điều trị tốt hơn Tuy nhiên hầu hết anh em đều kiên quyết không rời Trại 1
Địch lập ra bệnh xá Trại 1, nhằm ngăn chặn những tiếng kêu báo chết văng vẳng trong đêm của các phòng giam làm tác động tâm lý trong hàng ngũ của chúng Bệnh xá Trại 1 thực chất là nơi gom xác của những người sắp chết Chết là dấu chấm hết cho một đời người Nhưng đối với những người chứng kiến, những đám
ma tù thật thê lương và ảm đạm vô cùng
Đối với 100 chị em bị đày ra Côn Đảo, sáu chị có con mọn Tiêu biểu có chị
Đỗ Hữu Bích mang con từ đất liền ra ngày 9-1957 Sau những đợt gạn lọc căng thẳng, có 42 chị kiên quyết ly khai, trong đó có chị Bích Chị quyết định gởi đứa con còn ẵm ngửa cho chị em bên ngoài nuôi dưỡng, còn mình tiếp tục chịu đựng cảnh đọa đày trong xà lim tối tăm, ẩm thấp Địch biết được nên cấm tiệt không cho
ai được nuôi, buộc phải trả cháu bé về mẹ Trong cảnh xà lim hôi thối, ngột ngạt, để đảm bảo tính mạng cho cháu bé, chị em khuyên chị Bích nên chấp nhận ra ngoài
Ẵm con trong tay, gạt nước mắt, từ biệt đồng đội, chị rời vị trí chiến đấu mà lòng quặn đau khôn xiết 41 chị chống ly khai còn lại, dù địch không đánh đập hành ngày, nhưng mức độ đày ải, hành hạ không khác gì nam giới Sau một thời gian nhất chật ở hầm đá Trại 1, không cạy gở được gì, địch chuyển sang nhất cách ly ở hầm đá Trại 2, vẫn áp dụng chế độ siết bóp, đọa đày dã man Với đặc điểm sinh lý của giới tính, nước sinh hoạt là một yêu cầu cấp thiết nhưng kẻ địch đã lợi dụng điều đó để hạn chế đến mức tối đa Trong điều kiện chật chội, nóng bức ở xà lim, hầu hết chị em phải cát cắt đi mái tóc mà mình đã chăm chút cẩn thận khi ở ngoài đời cho đỡ nóng và cởi bỏ quần áo sang một bên, sinh hoạt chẳng khác gì nam giới Ôi! Các chị thật sự là những con người kiên cường, và có một ý chí mạnh mẽ
Cuối tháng 11-1957, tình hình thiếu hụt nhân công tại đảo đến mức nghiêm trọng vì phần lớn lực lượng tù nhân “chịu điều kiện” được huy động vào việc sửa chữa Trại 3 và khu vực chuồng Cọp Địch quyết định đưa 200 anh em ở Trại 1 ra
Trang 23đốn củi và 30 anh em khác cũng được đưa ra quyết dọn vệ sinh nội trại Sau một thời gian, địch phát hiện anh em này viết khẩu hiệu chống chính quyền nên đưa vào nhất cầm cố, rút số khác ra thay thế Trong thời gian này, mỗi lần có tàu tiếp tế từ đất liền ra, địch đều huy động lực lượng tù Trại 1 đi dọn hàng
Việc địch đưa số tù chống ly khai ra đốn củi, dọn tàu đã nảy sinh nhiều vấn
đề mới Một bộ phận anh em được đi ra ngoài, gặp lúc địch đang tổ chức chào cờ,
do không được trao đổi thống nhất từ trước cho nên hành động đối phó thiếu rập ràng Một số anh em ngồi ngay xuống đất Số còn lại, tuy không chào nhưng vẫn dừng lại Trong lúc dọn tàu, một số anh em lấy một ít đường, vài con khô, nắm đậu xanh… đem dấu đưa về phòng giam Có khi bị trật tự phát hiện đã đánh đập và lên tiếng xúc phạm, sỉ nhục hoặc xúc phạm, sau đó cúp phạt cả phòng Số còn lại phản đối việc làm này Ngay cả việc một số anh em thấy các tàn thuốc lá hút dở, ném bỏ bên vệ đường cũng lượm về để hút hoặc cho anh em nghiện trong phòng, cũng bị anh em phản ứng không đồng tình…
Những bất đồng trong thái độ xử lý trước các tình huống nêu trên được đưa
ra các phòng thảo luận công khai Tuy nhiên vượt qua những bất đồng quan điểm tổ chức, vượt qua bệnh tật gian khổ, anh em vẫn giữ vững khối đoàn kết, đối xử với nhau bằng tất cả tình cảm yêu thương chân thành, tổ chức và duy trì nề nếp sinh hoạt trong phòng giam phong phú và bổ ích Ngoài thời gian dành cho việc trao đổi, bàn bạc kế hoạch đối phó với âm mưu, thủ đoạn của quân thù, anh em đã dành trọn cho việc học tập Học chính trị, văn hóa chuyên môn trên tinh thần người biết dạy cho người chưa biết, người biết nhiều dạy cho người biết ít Phương tiện chỉ là những mẩu san hô làm phấn viết, còn nền phòng giam là tấm bảng đen Dù chỉ là phong trào tự phát nhưng hầu hết tất cả anh em đều tham gia theo từng nhóm trình
độ Buổi tối được dành hẳn cho việc giải trí, tâm tình Anh em ngồi kể chuyện phim, chuyện sách, bộc bạch tâm tình với nhau… Những buổi sinh hoạt tinh thần ấy chiếm trọn hết thời gian của một ngày tù, vừa giúp anh em tự nâng nhận thức của chính mình, vừa giúp anh em tạm quyên những nỗi nhớ riêng tư, lại được dịp thư giãn đầu óc dù chỉ là những thời khắc ngắn ngủi
Lao vào cuộc chiến đấu, học tập, giải trí hăng say, những người tù họ thấy dường như thời gian trôi nhanh hơn Ngoài hai bữa cơm gạo trắng mà mọi người xem như cực hình, đánh dấu một ngày tù, thời gian còn lại đều hình dung như mình đang trong lớp học Trong đó mỗi người đều phấn đấu hết mức để tự khẳng định tư cách của mình Một điều mà kẻ địch không bao giờ có thể ngờ được bởi chúng vẫn tin vào một công thức sáo mòn “thời gian tù đày sẽ làm nhụt ý chí chiến đấu của người Cộng sản”
Đầu năm 1958, Đại úy Nguyễn Văn Giỏi thay Đại úy Bùi Văn Năm làm Quản đốc nhà lao Đối sách của Giỏi đối với tù chính trị có thay đổi mặc dù ý đồ chung vẫn là tấn công hòng phá rã lực lượng tù chính trị chống ly khai ở Trại 1 Giỏi thường lân la vào Trại 1 để tìm hiểu và làm ra vẻ bất nhẫn trước cảnh sống của anh em Việc bắt tù ăn “gạo trắng” được thay bằng gạo đỏ Chế độ ăn uống phần
Trang 24nào được cải thiện hơn nhờ anh em Trại 2 trực tiếp đứng ra nấu bếp thay thế cho số
tù Hòa Hảo trước đây
Nhu cầu liên hệ trao đổi thông tin giữa các phòng đã trở nên cấp thiết Trước đây anh em chuyền cho nhau bằng bảng mọot của hướng đạo sinh thường dùng Nhưng bảng mọot này khó học nên chỉ có một số ít anh em nắm được Anh Lê Văn Thả suy nghĩ ra một bảng mọot mới bằng cách ra dấu, chỉ vào từng bộ phận trên mặt, trên người để tượng trưng cho một chữ cái, sau đó phổ biến cho anh em các phòng Việc liên hệ giữa các phòng thông suốt, nhưng vẫn còn trở ngại khi bị cấm
cố Sau này anh em phát triển áp dụng một bảng mọot gồm 25 chữ cái có thể truyền qua tường bằng cách gõ
Tết Nguyên đán 1958, địch nới lỏng thêm một bước trong quản lý bằng việc cho anh em hai Trại 1, 2 thăm viếng lẫn nhau Thực chất ý đồ của địch là dùng cảnh sống và lực lượng tù Trại 2 để chiêu dụ anh em Trại 1 Anh em Trại 1 cùng nhau bàn bạc kế hoạch đối phó với tình huống có thể xảy ra Thái độ chung là cố tạo không khí hòa dịu, nhưng nếu sự việc nào đụng đến sinh mạng chính trị thì dứt khoát phải chống quyết liệt
Sáng Mùng Một Tết, chúng tổ chức lễ chào cờ trong sân trại giam từ hệ thống lao bên Trại 2 phát ra Anh em vẫn đứng yên tại chỗ, không chào, không hát cũng không tỏ thái độ chống Đến khi bài hát “Suy tôn Ngô Tổng thống” được hát lên, tất cả các anh em đồng loạt ngồi hết xuống đất Địch hoàn toàn bị bất ngờ, đám trật tư nhốn nháo, hầm hè nhưng rồi chúng cũng bỏ lơ, không có phản ứng gì
Sau đó, từng toán anh chị em ở Trại 2 mang theo quà đã chuẩn bị làm lấy từ trước gồm: thịt, cốm, trà, thuốc hút, bánh, rau củ, và một tán đường, hủ chao, cây cải, chút dầu, điếu thuốc… anh em ở Trại 2 đều vét sạch để tặng cho anh em Trại 1 như tặng tất cả tình cảm và lòng mến phục của mình đối với người đồng đội đang giương cao ngọn cờ bất khuất trong vòng tay tù ngục
Gặp nhau tay bắt mặt mừng, ôm nhau thắm thiết, dù cho trong số ấy, nhiều người chưa từng một lần biết đến tên nhau Một cái tết trong chốn ngục tù, mọi thứ chuẩn bị cho ngày đầu năm được dọn ra hết nhưng không ai đụng tới Anh em chỉ tập trung cười nói và rơi nước mắt
Trại 1, Trại 2 Côn Đảo cách nhau bởi một bức tường dày, bởi chế độ phân biệt đối xử do địch đề ra, nhưng qua cái tết đầu tiên, mọi ngăn cách đều tan biến bởi anh chị em đã thực sự hiểu nhau hơn và tất cả đều xác định cùng chung trận tuyến chống quân thù
Sau Tết, một luồng dư luận lan truyền rộng rãi trong đám trật tự, vợ con binh
lính, giám thị hoàn toàn bất lợi cho địch: “Lâu nay, chính quyền Quốc gia vẫn nói cộng sản là vô thần, không có tình cảm, nhưng những gì đã diễn ra ở Trại 1, Trại 2 trong mấy ngày Tết vừa qua giữa những người không phải bà con, ruột thịt quá đủ
để thấy họ có những tình cảm sâu đậm như thế nào rồi Thử hỏi mấy ông Quốc gia
có được tình cảm như vậy không ?” [2 : 106]
Trang 25Dư luận đến tai bọn chúa đảo Ý đồ lôi kéo anh em Trại 1 trong dịp Tết không thực hiện được Trại 1 Cộng sản không những vẫn tồn tại mà còn có tác dụng ngược lại đối với hàng ngũ địch Nội bộ chúng lục đục đổ lỗi cho nhau
Không lôi kéo được số đông, địch chuyển sang dùng thủ đoạn tác động lẻ tẻ, từng bước một, bắt anh em phải đứng im khi chào cờ như sự việc xảy ra vào ngày Mùng Một Tết Địch tiếp tục sử dụng từng nhóm ra làm vệ sinh, khiêng củi vào giờ các trại khác chào cờ Một số anh em đứng yên, một số khác ngồi ngay xuống đất Trật tự nhận mặt, khi về trại chúng bắt nhốt riêng, tiến hành đánh đập số anh em không chịu đứng Sự việc xảy ra đòi hỏi anh em phải có thái độ dứt khoát Cả trại tiến hành thảo luận kỹ và đi đến thống nhất “Chống chào cờ là một trong những nội dung của cuộc đấu tranh bảo vệ khí tiết của người chiến sĩ cách mạng trong nhà
tù” Từ nhận thức đó, mỗi lần bị gọi ra làm việc bên ngoài dù ít hoặc nhiều người,
gặp địch tổ chức chào cờ, anh em đều ngồi hết xuống đất Bị đánh đập, thương tích nhưng hết người này đến người khác, anh em đều giữ vững nhu cầu Không khuất phục được anh em, đồng thời cũng tránh bẻ mặt, địch cho trật tự dẫn anh em đi đường khác, tránh xa các trại trong giờ chào cờ
2.1.2 Chống thủ đoạn chia rẽ “Kháng chiến và cộng sản”
Thực hiện “Quốc sách tố cộng”, ngụy quyền Côn Đảo tìm mọi cách cưỡng bức Trại 1 học tố cộng Ngày 16-7-1958 chúng gắn loa cho tên Nguyễn Kim Sáu,
Bí thư Đảng “ Cần lao Nhân vị” Trưởng Ty Thông tin kiêm Trưởng Ban Dẫn đạo Chính trị tỉnh Côn Sơn đọc bản “Tuyên cáo 8 điểm toàn dân đòi hỏi chính quyền Miền Bắc ” Bản tài liệu có nội dung xuyên tạc miền Bắc, nói xấu Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh Địch bắt anh em tù Trại 1 ra sân ngồi xếp hàng rồi cho trật tự khóa hết cửa lại, bên ngoài chúng đặt bàn, mắc dây, kéo lao khắp trại giam và thao thao đọc Tuyên cáo với giọng điệu tố cộng rất hăng Biết mình bị mắc lừa, anh em nhao nhác phản đối rồi kéo hết về phòng, làm náo loạn cả trại giam Thất bại ê chề
nhưng không làm được gì, địch đành bất lực, bỏ dở “buổi học tập”
Không thể tập hợp được tù nhân ra ngoài sân được, địch chuyển sang mắc loa phóng thanh vào các cửa phòng giam để bắt buộc người tù phải nghe những gì chúng nói Nhưng ngay từ lần phát đầu tiên đã bị anh em tẩy chay, không thực hiện được Cay cú trước thái độ chống đối quyết liệt của anh em, địch nâng thời lượng và công suất máy lên thành một chiến dịch khủng bố tinh thần, tư tưởng tù nhân suốt ngày đêm Cứ hai giờ một lần, địch lại mở máy Nội dung vẫn là những bài viết tố cộng ca tụng “chính sách và công đức” của Ngô Đình Diệm, những bài viết của những tên tù mất chất, những bức thư khêu gợi tình cảm gia đình…
Mục đích của chiến dịch phát loa này được ghi rõ trong Báo cáo số 354/ TTHCCS2M ngày 15-8-1958 của Nguyễn Văn Giỏi gửi Tổng Giám đốc Công an Cảnh sát Sài Gòn:
1- Nếu không tác động có lợi cho chính sách, chủ trương của chính phủ thì ít nhất cũng làm cho chúng mệt mỏi vì những giờ phát thanh này để không có thì giờ nghĩ ngợi đến một công cuộc phá hoại hoặc chống đối (đây chỉ là một hình thức chặn dứng tổ chức, song song với các biện pháp an ninh khác)
Trang 262- Với sự mềm dẻo và khéo léo, Thiểm trung Tây hi vọng sẽ lôi kéo lần lần một số không phải là Cộng Sản mà chỉ bị ảnh hưởng hay xu hứng theo Cộng sản
3- Gây sự khó khăn về tinh thần để chúng vì mệt mỏi phải mâu thuẫn, lục đục lẫn nhau, có tác dụng đối với các phần tử không có lập trường vững chắc về Cộng sản hay thiếu tinh thần chịu đựng, thúc đẩy chúng đầu hàng và xin chịu ly khai Cộng sản [2 : 110]
Tiếng loa oang oang đến buốt óc Trong một vài ngày đầu, đầu óc rất căng thẳng, anh em không thể ngủ được và cũng không thiết gì đến ăn uống Người gầy rạc, bơ phờ như kẻ mất hồn Anh em lại bàn kế hoạch đối phó: Bằng mọi cách phải thể hiện cho được việc xem tiếng loa chẳng có tác dụng gì đến sinh hoạt bình thường của anh em Giờ ngủ anh em cứ nằm ngủ, ai không ngủ được cứ nằm giả như ngủ say Ban ngày cứ làm ra vẻ đang chăm chú học tập hăng say, hay đánh cờ, chuyện vãn…
Trật tự theo dõi, báo cáo tình hình Tên Trưởng Trại và bọn Quản Đốc lẻn
vào xem xét Chúng ngại nhiên thốt lên: “Lạ thật! Tiếng loa không có tác dụng gì đến bọn Cộng sản này cả” Đồng thời, chính chiến dịch phát loa liên tục đã gây
phản ứng ngay trong hàng ngũ địch Mọi sinh hoạt gia đình của đám công chức, giám thị, binh lính ở gần Trại 1 đều bị ảnh hưởng, đảo lộn Từ đó, đã dẫy lên dư luận phản đối khá mạnh mẽ Địch buộc phải kết thúc chiến dịch sau một tuần thực hiện
Đánh đập, siết bóp đời sống, tạo không khí căng thẳng thần kinh, không cho người tù có lấy môt phút thanh thản đầu óc, dùng cái chế trước mắt để ly khai Cộng sản, với những xác tù chiều chiều được khiêng ra cổng để về hướng nghĩa địa Hàng Dương, nhưng những người tù Trại 1 vẫn giữ nguyên vị trí chiến đấu của mình Kẻ địch không thể nào hiểu được về những người tù, tuy thân xác tiều tụy, rã rời nhưng lại có một lòng tin và quyết tâm cao độ không gì lay chuyển được
Thấy tiếng loa không có tác dụng, tháng 7-1957 địch tiến hành kế hoạch kế tiếp với nội dung có vẻ “nhẹ nhàng” hơn Đó là chiến dịch phân hóa Kháng chiến và Cộng sản Trước đây, địch đồng hóa Kháng chiến và Cộng sản thì nay chúng giở
giọng rêu rao: “ Kháng chiến là có công với nước, với dân vì kháng chiến đánh Tây, giành lại độc lập cho nước nhà còn Cộng sản cướp công Kháng chiến, phản bội dân tộc” Nếu ai nhận theo Kháng chiến sẽ được “quốc gia” ưu đãi, trọng dụng, còn
ai nhận theo Cộng sản sẽ bị trừng trị nghiêm khắc Một bộ phận nhỏ tù chính trị chống ly khai Trại 1 đã nhận theo kháng chiến, còn đại bộ phận đã kiên quyết chống đối thủ đoạn phân hóa của địch Địch đưa những người nhận là “kháng chiến” vào
hai phòng 1 và 2, gọi là Khám kháng chiến, các phòng còn lại của Trại 1 là Khám Cộng sản Khám Cộng sản chịu chế độ cầm cố, bị đóng cửa cây, bớt cơm, bớt nước,
ốm đau không thuốc Khám Kháng chiến được đưa ra sân chơi, tắm giặt thoải mái, tuần vài lần đi tắm biển, đi chùa Khám Cộng sản ăn tương chua, khô đắng, mắm thối, còn Khám kháng chiến thì hàng tuần có rau tươi, thịt cá
Thấm thía trước nỗi đau về âm mưu chia rẽ của kẻ thù Khám kháng chiến đã đấu tranh đòi trả về ở chung với các Khám Cộng sản
Trang 27Được một thời gian, trò phân hóa Kháng chiến - Cộng sản xem ra không còn chút tác dụng gì đối với anh em Trại 1 Chính tên Bạch Văn Bốn đã phải thốt lên :
“Không Kháng chiến – Cộng sản gì nữa cả Kháng chiến hay Cộng sản với chúng chỉ là một mà thôi” [2 : 114] Từ đó, địch trở lại thực hiện cấm cố, siết bóp hai
phòng 1 và 2 như các phòng còn lại
So với năm 1957, năm 1958 địch có nới lỏng hơn về mặt đời sống trong từng giai đoạn nhưng đồng thời trực tiếp tấn công tư tưởng với những thủ đoạn tinh vi, nham hiểu và rất căng thẳng đi đôi với việc xé nhỏ lực lượng để tấn công bằng vũ lực
Qua thực tiễn đấu tranh, anh em đã thống nhất được các nội dung cụ thể của các cuộc đấu tranh chống ly khai Cộng sản trong nhà tù Nội dung đó ngoài việc chống ly khai còn chống các hình thức tố Cộng, làm giảm uy tín và thanh danh cách mạng bao gồm các việc chống chào cờ, chống học tập, chống suy tôn Ngô Đình Diệm, chống việc xúc phạm đến lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng việc hô khẩu hiệu hoặc viết trên bao thư gửi về gia đình…
Tháng 1-1959, địch bắt 30 anh em ở phòng 4 ra làm khổ sai Anh em được đưa xuống Trại 3 để xây dựng nhà lao Anh em tuyên bố dứt khoát tẩy chay việc đi sửa chữa nhà lao với lý do không ai có thể đi xây dựng nhà lao để tự nhốt mình Địch rất hậm hực nhưng cũng đành bất lực, ra lệnh cấm cố đóng của nghiêm ngặt hơn
Ngày 9-2-1959, do sơ hở khi anh em phòng 8 ném bức thư của anh Sáu Cao, lãnh đạo của phòng gói trong chiếc lá bàng sang khu vực dối diện thuộc phòng 4 gồm những anh em mới bị đày ra đảo, trật tự bắt được Sau đó, chúng kéo vào phòng 8 bắt đi 2 đại diện là anh Sơn và anh Ngư đem như nhốt hầm đá, tiến hành đánh đập để khai thác truy tìm bộ máy lãnh đạo trong phòng và tác giả bức thư Sau
đó phòng 8 nổ ra cuôc đấu tranh, hình thức hô la tạo thể với khẩu hiệu đòi trả đại diện phòng Các phòng khác cùng hưởng ứng và nêu thêm khẩu hiệu đòi mở cửa, đòi giải quyết đời sống Tiếng hô rập ràng vang dội cả khu vực thị trấn ngay những ngày đầu năm tạo nên không khí hoang mang trong hàng ngũ địch và vợ con gia đình họ Trong thời gian đó trước sức đánh đập dã man của địch cả hai anh Sơn và Ngư không chịu nổi nên đã khai anh Sáu Cao và chấp nhận sang Trại 2 sinh hoạt Sau đó chúng bắt anh Sáu Cao nhốt vào hầm đá đánh đập, khai thác tổ chức và cưỡng ép ly khai nhưng không có kết quả gì
Cuộc đấu tranh bằng hình thức hô la tập thể lần đầu tiên ở Côn Đảo của anh
em tù chính trị câu lưu Trại 1 phải ngưng lại vì nguyên nhân trực tiếp nổ ra cuộc đấu tranh đã bị địch khuất phục Tuy nhiên tiếng hô la tập thể của tù nhân Trại 1 đã gây ảnh hưởng rất lớn, tác động mạnh đến tư tưởng của hàng ngũ địch và gia đình
họ Chính họ đâm nghi ngờ về “chính sách nhân đạo của chính phủ Quốc gia” mà
bọn cầm quyền chóp bu ở Côn Đảo thường rêu rao
Trang 282.1.3 Bước phát triển đấu tranh của tù chính trị câu lưu Trại 2 từ 1957 – 3.1960
Trại 1 – Trại Cộng sản, trại chống ly khai là ngọn cờ, là đỉnh cao trong phong trào đấu tranh bảo vệ khí tiết của tù chính trị Côn Đảo Bên cạnh đó, tù chính trị Trại 2 cũng tham gia đấu tranh bảo vệ khí tiết với những mức độ và hình thức khác nhau
Sau các đợt phân hóa cuối tháng 4 – 1957 và các chuyến tàu lưu đày tiếp theo, số anh chị em không trực diện chống ly khai Cộng sản bị địch dồn chung lại, giam vào Trại 2 Nơi đây, địch không dừng lại mà tiếp tục tiến hành việc phân hóa những người tù đã “ly khai” thêm một bước nữa Quá trình sàng lọc, đến cuối năm
1957, số người hoàn tê liệt tinh thần chiến đấu, chấp nhận công tác trên đảo, số được trả tự do làm dân trên đảo được địch chuyển xuống nhốt riêng ở Trại 3 Anh
em gọi số trên là tù áo trắng Địch gọi Trại 3 là Trại ưu tú, còn Trại 2 là Trại Quốc gia hay Trại giác ngộ
Ỏ Trại 2, địch thực hiện chế độ quản lý mị dân rất thâm độc, với danh nghĩa
tù tự quản nhưng nội dung là quy chế kiểm soát, theo dõi rất gắt gao mọi sinh hoạt, thái độ của từng tù nhân Cú sốc của trò phân hóa Cộng sản – Quốc gia đang còn ray rứt trong lòng thì địch lại buộc những người tù Trại 2 phải đối mặt với những quy định khắt khe, nghiệt ngã là thực hiện 10 điều nội quy của Trung tâm Huấn chính do địch đặt ra Trong đó có việc phải chào cờ, phải hát, phải hô khẩu hiệu ủng
hộ, suy tôn Ngô Đình Diệm, phải đả đảo lãnh tụ Hồ Chí Minh, phải học tập tố cộng, phải khai báo, phát giác đồng đội… và phải tích cực đi lao động khổ sai hàng ngày
Để phục vụ cho ý đồ tiêu diệt sinh mệnh chính trị của anh em Trại 2, địch có nới lỏng hơn so với anh em Trại 1
Tình hình nội bộ trong Trại 2 rất phức tạp, tư tưởng người tù luôn diễn biến, dao động trước âm mưu và thủ đoạn thâm độc của kẻ thù nơi chiến trường hoàn toàn mới mẻ Anh em lại được tập hợp từ những địa phương khác nhau, không hiểu được quá trình, hoàn ảnh của nhau nên chưa có thể tin tưởng nhau, ngoại trừ những người cùng địa phương hoặc đã có thời gian dài chung sống ở các nhà tù trong đất liền Tất cả những điều đó càng làm cho đại bộ phận anh em Trại 2 cả thấy xót xa,
ân hận về bản thân mình Nhất là khi nghĩ đến anh em Trại 1, tuy bị đọa đày trong cảnh sống khắc nghiệt nhưng bù lại tinh thần lại được thanh thản, anh em lại bị dằn vặt nhiều hơn
Không thể bó tay cam chịu trước âm mưu tiêu diệt sinh mệnh chính trị của người tù, một số cán bộ được sự tín nhiệm của anh em trong từng địa phương, đã vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu, tự tìm đến nhau trao đổi, bàn bạc cách đối phó Anh em nhanh chóng thống nhất được phương hướng hành động Một đợt sinh hoạt chính trị nội bộ theo đơn vị từng địa phương được tiến hành dưới hình thức đơn lẻ từng người hoặc từng nhóm nhỏ đã quen biết và tin tưởng nhau Nội dung đợt sinh hoạt nhằm kiểm điểm tư tưởng của cá nhân trước diễn biến tình hình đã qua để củng
cố đội ngũ, xây dựng quyết tâm trong việc chống lại chủ trương Tố cộng, Diệt cộng của địch, bảo vệ phẩm giá, khí tiết của người án bộ, chiến sĩ cách mạng Hai tháng
Trang 29sinh hoạt kiểm điểm trôi qua, đến tháng 7 – 1957, lực lượng Trại 2 được củng cố một bước Anh em thông suốt tư tưởng, tình cảm gắn bó, tin tưởng nhau hơn trong từng địa phương
Ngày 7-7-1957, kỷ niệm 3 năm chấp chính của chính quyền bù nhìn, địch bắt
tù nhân Trại 2 ký kiến nghị ủng hộ Ngô Đình Diệm, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh Anh em có tới 422 trong tổng số 1375 tù nhân chống kiến nghị Đây là cuộc đấu tranh chống kiến nghị đầu tiên của tù chính trị Trại 2, điều đó khẳng định rằng một
bộ phận tù chính trị ở Trại 2 đã xác lập cuộc đấu tranh bảo vệ khí tiết với hình thức
và mức độ và trình độ nhận thức của họ lúc đó
Trong lúc Trại 1 giương cao ngọn cờ chống ly khai thì Trại 2 liên tục đấu tranh chống học tố cộng bằng nhiều hình thức Năm 1958, Ban tố cộng Trại 2 thuyết trình tài liệu “Cộng sản với cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam”, nội dung xuyên tạc lịch sử rằng, cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đầu có tính chất Quốc gia, sau cộng sản khủng bố các đảng phái, cướp công kháng chiến, lái kháng chiến theo con đường cộng sản Tài liệu này đã gây một luồng phản ứng mạnh mẽ khắp Trại 2, nhiều tù nhân đã dũng cảm đứng lên vạch mặt “quốc gia” giả hiệu, bảo
vệ chân lý lịch sử, bảo vệ uy tín Đảng và Bác Hồ, bảo vệ chính nghĩa của cuộc cách mạng
Ngày 26- 10- 1959, “Quốc khánh Việt Nam cộng hòa”, ngụy quyền Côn Đảo
tổ chức meeting, bắt tù chính trị Trại 2 ký nghị ủng hộ Ngô Đình Diệm.(3)
Lực lượng chống kiến nghị vượt qua con số 800, song sau khi đàn áp, chỉ còn gần 400 trụ lại được Đó là những người đã sàng lọc được qua hơn một năm chiến đấu Một
số người được Ban lãnh đạo Trại 2 giao nhiệm vụ liên lạc, địch vận, trật tự đã phải cắn răng nuốt hận kí vào bản kiến nghị phả động, chịu trá hàng để hoạt động nội tuyến phục vụ cuộc đấu tranh lâu dài
Một thủ đoạn thâm độc nữa của địch là tổ chức anh em ở Trại 2 sang thăm Trại 1 và dùng số trí thức đã ly khai để tác động, lôi kéo anh em Trại 1 Trong khi
đó, anh em Trại 2 lợi dụng việc này để tiếp tế và động viên tinh thần anh em Trại 1 Thủ đoạn thâm độc của địch trong việc kết hợp nới lỏng cấm cố với lợi dụng tình cảm thân quen để tác động tư tưởng tỏ ra có kết quả nhất định Tháng 9- 1957 có 14 người và tháng 10-1957 có thêm 50 người nữa chịu ly khai
Một hình thức tấn công tư tưởng người tù có vẻ nhẹ nhàng nhưng rất thâm độc so với việc bắt tham gia học tố Cộng là văn ngệ và bích báo Chúng cho lập ra Tiểu ban Văn nghệ Tố cộng và cho ra mắt tập san bích báo, tổ chức diễn các vở kịch có nội dung phản động, chủ yếu là Tố cộng và bắt anh em ra sân ngồi xem Nhưng anh em các phòng đều đồng loạt phản đối và kéo hết về phòng Địch bị bẽ mặt, chúng bắt một số anh em nhốt hầm đá, không cho ăn cháo sáng, bắt đi đắp đập ngăn ao nuôi cá Tuy nhiên anh em vẫn không nao núng tinh thần mà cố ra vẻ làm việc tích cực để phá vỡ ý đồ của địch
Tù chính trị lưu câu là những người không có án tòa quy định thời hạn giam
(3) Báo cáo tháng 10 – 1957 của Tỉnh trưởng Côn Sơn Hs lưu Bảo tàng BRVT Tài liệu đã dẫn
Trang 30giữ, thanh niên chiếm số lượng khá đông Địch hy vọng qua thời gian giam giữ, lưu đày có thể khuất phục và sử dụng họ để bổ sung cho lực lượng quân đội miền Nam, phục vụ yêu cầu mở rộng chiến tranh trong thời gian tới Chúng bắt anh em đi lính nhưng anh em đều thể hiện thái độ chống đối và có nhiều ý kiến rất phong phú Nhiều anh em ghi: “bản thân bị quân đội Quốc gia bắt giam nên không thể nào đi lính cho Quốc gia”; “hoặc bản thân là tù thì không thể nào nói chuyện quân dịch”… Mỗi người một kiểu nhưng tự chung lại là không một người nào chịu đi lính Bị thất bại hoàn toàn, không cạy gở được lấy một người, địch hằn học trả thù Chúng cho trật tự vào tập trung tất cả thanh niên đánh đập đến bật máu tươi rồi cho xát muối ớt làm cháy bỏng thịt da Đau rát vô cùng, nhưng kẻ địch đâu ngờ làm như vậy các vết thương lại mau lành
Do đặc điểm tình hình trong giai đoạn đầu còn phân tán nên mức độ đấu tranh lại thấp với các hình thức tiêu cực, vận dụng lý lẽ trục tiếp là chủ yếu Nội bộ tuy phân tán, nhưng đã có một lượng đông đảo anh em đã ổn định tư tưởng, tích cực đấu tranh cho yêu cầu chính trị lẫn dân sinh, dân chủ Tình hình đó cấp thiết phải có một bộ máy lãnh đạo để thống nhất hành động chung Qua trao đổi bàn bạc giữa các cán bộ đại biểu các tỉnh, Ban lãnh đạo Trại 2 được hình thành và xem như là một cấp ủy Đảng, gồm 3 đại diện anh em miền Trung và 2 đại diện anh em miền Nam Cũng trong thực tế đấu tranh, việc phát hiện sớm ý đồ của địch để có kế hoạch chủ động đối phó, hạn chế đến mức thấp nhất tổn thất đã trở thành một yêu cầu cấp thiết Lãnh đạo trại đã phân công người động viên chuyển hóa một số người trong Ban chấp hành đoàn, trật tự và những người ra làm công sở ở ngoài thành tai mắt, cung cấp tin tức địch cho anh em để có cách đối phó kịp thời
Đầu năm 1958, Đại úy Nguyễn Văn Giỏi thay thế Bùi Văn Năm làm Quản đốc nhà lao Thái độ của Giỏi có khác Năm, hắn mềm dẻo, tập trung dụ dỗ bằng cách nới rộng về đời sống, tuy rằng ý đồ chung vẫn không có gì thay đổi
Việc đấu tranh của anh em đi làm khổ sai ở ngoài đã chuyển qua một phương thức mới đó là phá hoại cho bằng được kết quả mà địch làm ra Anh em lén đào gốc dừa non, móc lất “cổ hủ” rồi lấp đất lại Anh em được bữa ăn tươi, còn dừa héo dần đến chết Ở lò gạch, khi nung anh em lén tưới nước cho ướt trước khi nung Gạch nung vỡ vụn không dùng được Ở Sở chăn nuôi, anh em lén lấy đậu xanh bỏ vào tai Heo hoặc bắt bò cạp cho chích, heo bỏ ăn, anh em giết thịt Nuôi bò, dê, anh em cứ đánh hoặc đâm vào móng chân cho què rồi đi báo cáo… Rốt cuộc mọi sinh vật không sinh sản kịp đà vật chết Anh em làm ruộng ở Sở Quang Trung, khi cấy cứ ngắt ngang thân mạ, cho rễ quay ngược lên trời, mấy ngày sau chỉ còn là đất trống Địch biết rằng tù nhân chống phá nhưng đành bất lực vì không tìm ra chứng cớ
Những việc làm có vẻ đơn giản như thế, nhưng trong điều kiện kiểm soát gắt gao, đòi hỏi phải có sự nhất trí và quyết tâm cao trong anh Đồng thời mỗi người phải sẵn sàng chấp nhận các hành động đối phó của kẻ địch khi bị phát giác Đó chính là biểu hiện lòng tin tưởng lẫn nhau của một đội ngũ được rèn đúc, thử thách qua đấu tranh ác liệt
Trang 31Thắng lợi đã đạt được qua quá trình đấu tranh trong hai năm 1957, 1958 đã tạo sự phấn khởi, tin tưởng trong anh em Những mặc cảm trong những ngày đầu đến đảo bị xóa đi Sự tín nhiệm của tập thể đối với anh em tích cực đấu tranh chống địch cũng như xây dựng nội bộ ngày càng thể hiện rõ nét Trước tình hình đó Đảng
ủy Trại 2 được hình thành vào cuối năm 1958 Các chi bộ trực thuộc được tổ chức theo từng địa phương Các Đảng viên ở cùng địa phương ở chung một phòng được tập hợp trong một tổ chức Đảng, ngoài ra còn tổ chức ra những nhóm cốt cán
Tổ chức Đảng Trại 2 được thành lập trên cơ sở một số anh em tự nhận lấy trách nhiệm trước tập thể Đó là một cố gắng rất lớn Tuy nhiên tính chất, quy mô tập hợp và điều kiện hoạt động còn nhiều hạn chế
Năm 1959, Đảng ủy Trại 2 đề ra chủ trương giai đoạn trước mắt là:
Nâng thêm một bước việc đấu tranh chống học tập Tố cộng, chống ý kiến nghị và các thủ đoạn của địch nhằm triệt hạ uy thế của tù nhân
Tiếp tục chống lại việc bóc lột khổ sai, kết hợp với việc phá họai kinh tế địch
Đẩy mạnh đấu tranh dân sinh, dân chủ để chia lửa với anh em Trại 1 Tìm mọi cách chi viện để duy trì cuộc đấu tranh chống ly khai của anh em Trại 1
Khẩu hiệu, yêu cầu đấu tranh tùy tương quan mà đề ra mức độ cho thích hợp Tận dụng các hình thức đấu tranh hợp pháp để tránh tổn thất và phát triển được lực lượng Bố trí số anh em phẩm chất tốt thâm nhập vào các tổ chức do địch đặt ra để tranh thủ nắm bắt tình hình kịp thời, hạn chế được tác hại do địch gây ra.[2 : 154]
Anh em Trại 2 chủ động đề ra việc xây dựng một tổ chức lãnh đạo chung của
tù nhân toàn đảo, để phối hợp kế hoạch đấu tranh với danh xưng là “ Đảo ủy” Thành phần gồm có: 1 đại biểu Trại 1, 2 đại biểu Trại 2, 2 đại biểu Trại 3
Nội dung hoạt động của Đảo ủy lúc bấy giờ là:
Giữ mỗi liên hệ chặt chẽ trong 3 trại 1, 2, 3, củng cố xây dựng nội bộ, tạo niềm tin lạc quan, nâng cao lòng căm thù địch, chuẩn bị mọi mặt cho các cuộc đấu tranh hợp đồng phạm vi toàn đảo, hỗ trợ anh em Trại 1 bám giữ vị trí chống ly khai
Chuẩn bị tinh thần, vật chất lực lượng để khi có điếu kiện là tổ chức cướp tàu, vượt biển về đất liền.[2 : 155]
Do thiếu vắng vai trò chủ chốt là đại biểu Trại 1 – yếu tố có tính chất quyết định sự hình thành của tổ chức, mặt khác những nội dung đề ra chưa thật phù hợp
và thực tế tình hình lúc này Riêng Trại 2, tuy vẫn giữ thế hợp pháp, nhưng những cuộc đấu tranh của anh em không kém phần dai dẳng và quyết liệt
Việc chống khổ sai luôn là nguyên nhân của những trận khủng bố, đánh đập,
tù từng cá nhân đến tập thể Tập trung nhất là những cuộc đấu tranh đòi giảm định mức đốn củi khiêng củi, chống xây dựng Lao 4 Lại giằng co bị khủng bố, bị nhốt hầm đá, cúp phạt Nhưng cuối cùng địch đành bất lực, nhượng bộ Căng thẳng nhất vẫn là chống học tố Cộng Vấn đề ăn uống, thuốc men có tác động trực tiếp đến vấn
đề sống còn của anh em Qua quá trình đấu tranh dai dẳng, cuối cùng kẻ địch phải chấp nhận cho anh em trực tiếp quản lí nhà bếp, lương thực, thực phẩm, thuốc men
Trang 32Kiên trì với phương châm và hình thức đấu tranh hợp pháp, anh em Trại 2 đã triển khai cuộc đấu tranh một cách toàn diện ở niều mức độ trong những tình huống khác nhau Các chủ trương do địch đưa ra, lần lượt bị anh em phá rã mà anh em không có cớ đối phó đàn áp được Những nhận định, đánh giá của địch đối với tù chính trị câu lưu trước đây đã thay đổi, nhất là đối với Trại 2 Từ một lực lượng được xem đã bị khuất phục, đã quay về với “Chính nghĩa Quốc gia”, thì nay đã trở thành lực lượng đáng sợ nhất đối địch một khi tình hình có biến đổi bất thường
Nếu lực lượng Trại 1 đã giương cao ngọn cờ đấu tranh bất khuất, kiên cường, sẵn sàng chấp nhận hy sinh xương máu để giữ trọn khí tiết người chiến sĩ Cách mạng, người chiến sĩ Cộng sản khi lỡ sa vào tay giặc, là điểm tựa, là nguồn cổ vũ động viên tinh thần của mọi sắc tù trên đảo vùng lên đấu tranh Những tấm gương
hi sinh dũng cảm, sức chịu đựng phi thường của anh em Trại 1 là bài học thực tế sâu sắc để mọi người nhận thức đúng bản chất của kẻ thù, tự xây dựng cho mình lòng kiên trung với dân, với Đảng thì cuộc chiến đấu của bộ phận nòng cốt ở Trại 2 lại bộc lộ rõ tác dụng ở khía cạnh khác Đó là bài học thực tiễn về phương châm, phương pháp đấu tranh: tập hợp, phân công lực lượng, xác định nội dung cụ thể, phù hợp tương quan lực lượng, từng bước làm thất bại âm mưu của địch, đồng thời hạn chế phần lớn tổn thất trong đấu tranh, duy trì và phát triển lực lượng phục vụ yêu cầu đấu tranh lâu dài
Rõ ràng Trại 2 không còn ý nghĩa là Trại Quốc gia Đối với địch, ý đồ đánh phá, quyết xóa Trại 1 Cộng sản phải đồng thời với việc vô hiệu hóa lực lượng nòng cốt của Trại 2 Từ đó, địch quyết định nhanh chóng dời 285 anh em qua nhiều lần chống kí kiến nghị, chống học tập, xuống cấm cố tại Trại 3 Địch lại phân loại anh
em thoe số lần chống đối để nhốt riêng và có đối sách khác nhau
Ba năm lưu đày tù chính trị câu lưu ra Côn Đảo - một nhà tù bị cô lập, cách
ly hoàn toàn ở giữa biển khơi – địch đã sử dụng đủ mọi cực hình dã man kết hợp với những thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi hòng khuất phục, bắt buộc những người tù phải ly khai Cộng sản, từ bỏ lý tưởng cao đẹp, phản bội lại nhân dân Cũng trong 3 năm đó, những người tù phải luôn đối mặt với tử thần trong một cuộc chiến ngàn lần không cân sức Chỉ bằng ý chí và lòng tin, người tù đã hiên ngang chống lại các phương tiện bạo lực hung hãn của quân thù, những cám dỗ của vật chất, tình cảm, chống lại chính bản năng sinh tồn cơ bản nhất của con người Ba năm ròng, những người tù như đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết Hàng trăm anh em đã dũng cảm hy sinh mà lòng vẫn thanh thản vì đã đóng góp phần nhỏ bé của mình cho cuộc đấu tranh anh hùng của dân tộc
Ba năm trong nanh vuốt của quân thù tại chốn địa ngục trần gian, Trại 2 trại Cộng sản vẫn hiên ngang tồn tại như biểu hiện tuyệt vời của lòng yêu nước và ý chí bất khuất của ngàn đời cha ông truyền lại
Những anh em ở Trại 2, đã biết nén nỗi đau, tập hợp lại lực lượng, từng bước vươn lên đấu tranh, đồng thời cổ vũ, lôi kéo các sắc tù trên đảo tham gia, ủng hộ, tranh thủ, phân hóa lực lượng địch bằng mọi cách, hình thành một mặt trận đấu tranh không nghỉ ngơi, liên tục dồn địch vào thế bị động, đối phó
Trang 33Cuộc chiến đấu nào cũng có cái giá phải trả Những tổn thất, mất mát là điều tất yếu Trong cuộc thử lửa quyết liệt này, những người tù – những chiến sĩ trong tay không có thời gian, cũng chẳng có hậu phương hay căn cứ địa Một tích tắc dao động tư tưởng cũng đủ để quyết định sinh mệnh chính trị của một con người…
Tuy nhiên, những gì đã xảy ra trong 3 năm 1957 – 1960 cũng chỉ là bước khởi đầu Cả một thời gian đằng đẳng gần như vô hạn với những thủ thách ghê gớm đang còn ở phía trước Những người tù chính trị câu lưu vẫn sẵn sàng lao vào cuộc chiến đấu tiếp theo
2.1.4 Chống chiến dịch Chày vồ của tù chính trị câu lưu Trại 3 từ 1957 đến 4-1960
Đầu năm 1959, ngụy quyền Sài Gòn đưa Trung úy Nguyễn Đắc Dận, một tên
ác ôn từ nhà lao Phú Lợi ra làm Trưởng Ban An ninh Trung tâm Cải huấn Côn Sơn, Nguyễn Đắc Dận vừa tốt nghiệp hạng ưu khóa “Nhân vị”, khóa học chuyên huấn luyện các mánh khóe tố cộng, diệt cộng của Ngô Đình Diệm Dận tổng kết tất cả những điều đã học được trong một câu: “Cứ tẩn tợn giết tợn là ly khai hết”
Nguyễn Đắc Dận có lối truy bức đến cùng, khuất phục bằng được Hắn có thể ngồi rỉ rả thâu đêm để khêu gợi bản năng sống từng người, vờ vịt xót xa trước mỗi cảnh ngộ éo le, oan trái nhưng rồi bất thần, hắn chộp lấy giây phút lo âu, mệt mỏi, núng thế của từng người mà tấn công, tăng đòn, khuất phục
Dận chế tạo ra một loại chày vồ bằng gỗ cứng, đường kính 1 tấc, dài 2 tấc, nặng 1 kg, có tay cầm Hắn bắt người tù úp mặt hoặc lưng vào tường, rồi giang tay quật chày vồ thẳng cánh vào lưng, vào ngực Người nào khỏe chỉ chịu được 5-7
chày là hộc máu, ngất xỉu Dận là hiện thân của chính sách “bàn tay nhung – bàn tay sắt” của chế độ Ngô Đình Diệm mà bàn tay nào cũng đẫm máu
Chiến dịch “chày vồ” kéo dài trong vòng một tháng Dận cưỡng bức được gần 30 người Trong số những người chịu ly khai có ông Nguyệt quê Bến Tre ân hận và hổ thẹn vì sự yếu hèn của mình đã xé quần áo, bện thành dây treo cổ tự tử trong cầu tiêu Anh em Trại 2 cứu được, đưa ông ra bệnh xá Khi được hỏi vì sao tự
vẫn, ông trả lời: “Tôi bị đánh đập dã man, sức già không chịu được, phải qua đây chứ thực lòng không ly khai, không bao giờ phản lại cụ Hồ Tôi nghĩ ở Lao 2 cũng chết vì đòn bộng khổ sai, cho nên tôi chết luôn cho khỏi nhục” [2 : 120] Những anh
khác, nhân dịp này đã lên tiếng cực lực tố cáo hành động dã man của Dận trong thời gian vừa qua Phó Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Giỏi nghe vậy đã xé bản cam kết ly khai của ông và ra lệnh ngưng “chiến dịch chày vồ”, trả tất cả số bị cưỡng bức về Trại 1
Tháng 7-1959, việc sửa chữa Trại 3 và khu Chuồng Cọp 1 đã hoàn tất Riêng khu Chuồng Cọp 2, việc sửa chữa còn dở dang Dù vậy, địch vẫn quyết định nhanh chóng chuyển hết số tù “chống đối” ra khỏi khu vực trung tâm thị trấn để hạn chế ảnh hưởng bất lợi về mặt tư tưởng ngay trong hàng ngũ chúng
Ngày 15-7-1959, địch vào từng phòng tuyên bố dời trại Anh em do được Trại 2 báo tin trước nên đã bàn bạc, thống nhất không chống lại chủ trương dời trại
mà chủ trương lợi dụng việc dời trại để phát huy khí thế của người tù Trại 1 ngay
Trang 34trên đường di chuyển Ra khỏi cổng anh em đều dừng lại quay mặt về phía trại giam giành một phút im lặng, cúi đầu tưởng niệm những đồng đội đã hi sinh trong hai năm qua tại nơi này Cuộc dời trại biến thành cuộc biểu tình 2 tuần hành của 1.445 người tù chính trị chống ly khai Suốt quãng đường dài hai cây số, anh em liên tục
hô các khẩu hiệu: “Việt Nam Hòa Bình - Thống Nhất – Độc Lập – Dân Chủ muôn năm” Toàn bộ anh em đều bị nhốt vào Trại 3 Số anh em địch nghi cầm đầu
ở các phòng trên Trại 1, số bị nhốt hầm đá và số bị phát hiện khởi xướng hô khẩu hiệu trên đường đi, bị tách riêng đem nhốt Chuồng Cọp 1.(2)
Chế độ cầm cố ở Trại 3 không khác gì Trại 1 Vẫn là đối sách tăng cường siết bóp đời sống: tước đoạt khẩu phần, bớt nước uống, nước sinh hoạt, không cho tắm giặt Không đủ nước uống, nhiều anh em phải uống nước lạnh, mà nước nơi đây gần nghĩa địa Hàng Keo nên rất độc, nước múc lên có màu vàng, bên trên thêm một lớp nhờn nhờn Vẫn những trận đánh đòn bất thình lình không có nguyên cớ để tác động tinh thần anh em khi ra lấy cơm của đám trật tự Hòa Hảo và đám trật tự ác
ôn khét tiếng Người bệnh lại không có thuốc, chỉ sống được nhờ sự chăm sóc tận tình của anh em Hậu quả tất yếu của sự đối xử dã man đó là số lượng tù nhân chết hàng loạt cuối năm 1957, 1958 Chỉ tháng đầu tiên dời xuống Trại 3, đã có 11 anh
em gởi xương ở đất đảo
Không thể bó tay chờ đợi cái chết đến với mình, anh em tìm cách liên lạc với nhau qua con đường đi nằm bệnh xá để bàn bạc kế hoạch mở đợt đấu tranh chống lại những hành động và ý đó tàn bạo của quân thù Đa số anh em nhất trí phải tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt với hình thức cao nhất là tuyệt thực để buộc địch phải giải quyết những yêu cầu về đời sống, chấm dứt việc khủng bố, đánh đập tù nhân, đồng thời tác động buộc địch sớm giải quyết các yêu cầu của 4 anh đang tuyệt thực tại Chuồng Cọp Tuy nhiên, điểm qua lực lượng, vẫn còn 1 số khá đông anh
em chưa thật quyết tâm cao Nếu địch ngoan cố kéo dài hoặc tiến hành khủng bố mạnh, khi đó bản thân không giữ vững được, sợ sẽ ảnh hưởng tới tập thể Cuộc vận động, thuyết phục đấu tranh trong nội bộ diễn ra rất khẩn trương và không kém phần căng thẳng Một số anh em tư tưởng chưa dứt khoát được bố trí đưa lên bệnh
xá
Tháng 8-1959, các phòng 12, 14 phát yêu sách và tuyên bố tuyệt thực Hôm sau các phòng ở Lao 4 đều lao vào cuộc Yêu sách của cuộc đấu tranh, mỗi phòng viết một cách nhằm không cho địch biết là anh em có trao đổi thống nhất trước với nhau, nhưng đều tập trung vào các yêu cầu:
Về dân sinh: Phải có rau, thịt cá hàng tuần, bớt tương, mở cửa gỗ, đủ nước uống, nước tắm giặt, ốm đau phải có thuốc chữa trị, lao động vừa sức…
Về dân chủ và chính trị: được cử đại diện phòng, Tổng đại diện Trại Không được khủng bố, đánh đập tù nhân Không bắt ép ly khai, được tự do tư tưởng Trả tự
do cho người già cả, giam giữ lâu ngày…
Như các đợt đấu tranh trước, khi các phòng đầu tiên nổ ra, địch huy động trật
(2) Ảnh Chuồng Cọp đính kèm Phụ lục
Trang 35tự vào khủng bố, đánh đập, chia cắt lực lượng thành từng nhóm nhỏ để ép buộc phải
bỏ cuộc, một số anh em đem đi nhốt Chuồng Cọp Nhưng khi toàn trại đều lao vào cuộc, địch phải chùn tay Cũng qua thực tế đấu tranh, anh em hiểu rõ thêm về tổ chức trật tự, công cụ đắc lực của địch, lấy được cảm tình của một số tên trật tự Trước tinh thần đấu tranh kiên quyết của anh em, địch núng thế xuống trước Cuộc đấu tranh tuyệt thực của toàn Trại 3 lần đầu tiên trên Côn Đảo đã giành được thắng lợi quan trọng Chính tên Chúa đảo phải trực tiếp xuống tận nơi để giải quyết các yêu sách Thắng lợi đó đã làm tăng thêm sự tin tưởng, phấn khởi trong anh em Điều quan trọng mà anh em rút ra được qua cuộc đấu tranh là kẻ địch tuy tàn bạo, nham hiểm nhưng cũng phải chùn bước trước sức mạnh của tập thể phải được thể hiện qua hình thức đấu tranh thống nhất, rập ràng trên tinh thần chủ động tấn công Đây là thực tế kinh nghiệm quan trọng mà anh em đã vận dụng trong suốt thời gian dài sau này, làm cho địch luôn lúng túng bị động
Tuy nhiên trong một thời gian ngắn, địch trở mặt lật lọng, tiến hành tước sạch những gì mà chúng đã hứa hẹn giải quyết Vẫn đóng cửa cầm cố, hạn chế nước uống, nước sinh hoạt Vẫn cơm với khô mục, mắm đắng, tương chua và những trận đập vô cớ với những ngón đòn hiểm độc của bọn trật tự ác ôn diễn ra liên tục hàng ngày Đến cuối tháng 9-1959, tình trạng bệnh tật lan tràn khắp các phòng, đặc biệt
là bệnh kiết lỵ, nhưng chẳng có thuốc men chữa trị Anh em gọi cấp cứu, dù đang bị bệnh kiết lỵ, địch vẫn phát thuốc ký ninh, lúc Aspirine – một kiểu trị bệnh giết người chỉ có riêng ở Côn Đảo Khủng khiếp hơn cả là thời gian này chúng chủ trương đánh đập người tù Địch nuôi dưỡng và huấn luyện cả một bộ máy trật tự ác
ôn chuyên làm việc đó như một cỗ máy Đánh tù không chỉ là một biện pháp bắt tù khuất phục chính trị mà còn là một trò giải trí, một thú tiêu khiển của địch Có trăm ngàn lí do để chúng đánh tù Một đánh một, rồi cả đám xúm nhau để đánh một người tù Có chuyện vui chúng lôi tù ra đánh thêm cho vui Gặp chuyện buồn, lôi tù
ra đánh giải khuây Bị cấp trên khiển trách, kéo tù ra đánh để trút cơn bực tức Hỏi
tù, tù trả lời – Đánh Tù giả lơ không trả lời – Đánh vì xem thường Trả lời đúng ngày tháng – Đánh vì tội tính tháng, tính ngày để chuẩn bị đấu tranh Tù trả lời sai – Đánh vì tù ở không có bao nhiêu đó mà không biết Tù cười – Đánh, tù buồn – Đánh ….Đánh bất kể giờ giấc, đêm, ngày Thâm độc và tàn bạo hơn, chúng đánh tù đến điên loạn, như trường hợp của anh Hòa, rồi kích động ngay người tù điên ấy đánh những người còn tỉnh và đánh bằng những dụng cụ hết sức nguy hiểm
Điệp khúc cuộc sống nơi Chuồng Cọp Côn Đảo là như thế Mọi thế giới với bên ngoài hầu như bị cắt đứt hoàn toàn, đến nỗi ngày tháng những người tù cũng chỉ đoán mò
Ròng rã 6 tháng trời, từ tháng 10 – 1959 đến hết tháng 3 – 1960, những người tù chống ly khai như sống giữa bầy quỷ dữ Đặc biệt là ở Chuồng Cọp, sự ác độc được nhân lên một cách khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử nhà tù miền Nam Giữa những trận đánh đập, thời gian còn lại, những người tù như bị phơi trần,
bị giám sát chặt chẽ dưới những cặp mắt cú vọ của bầy trật tự Những hành động cử chỉ trong cuộc sống hàng ngày không còn là vấn đề riêng tư của mỗi người Bên
Trang 36trong sự im lặng rợn người ở các phòng giam ở khu Chuồng Cọp là một cuộc chiến rất dữ dội trong tư tưởng Sống và chết, ly khai hay không ky khai, vinh và nhục cứ đan quyện vào nhau Từng chặp, từng phút, từng dây nó lại xuất hiện, quay cuồng làm cho đầu óc người tù chực muốn nổ tung
Chẳng ai muốn chịu nhục, nhưng rồi cái chết cứ hiện ngay trước mắt Ai mà không quý mạng sống, sức chịu đựng của con người nào phải vô hạn, có ai lại giống được ai Và rồi hàng ngũ lại thưa dần Đến cuối tháng 3 – 1960, chỉ còn hơn 900 người vẫn còn hiên ngang phất cao ngọn cờ cộng sản ngay giữa “địa ngục trần gian Côn Đảo”
Trang 37CHƯƠNG 3 CUỘC ĐẤU TRANH CỦA TÙ NHÂN CÔN ĐẢO
TỪ 1960 ĐẾN 1973
3.1 Cuộc đấu tranh bảo vệ khí tiết cách mạng trong tù 4 – 1960 đến 8 – 1964
3.1.1 Chiến dịch đánh phá lực lượng tù chính trị câu lưu chống ly khai
Suốt ba năm đày ải, nhục hình lẫn dụ dỗ, với ý đồ buộc người tù chính trị phải chấp nhận ly khai Cộng sản, hàng trăm người tù Trại 1 phải gởi thây ngoài nghĩa địa Hàng Dương, nhưng vị trí Trại 1 vẫn sừng sững tồn tại Gần một ngàn người vẫn kiên quyết bám giữ yêu cầu dù cho kẻ địch có di chuyển, phân tán ra cả hai khu vực riêng biệt ở Trại 3 và Chuồng Cọp Uy thế chính trị của tù Trại 1 càng được sự nể phục trong các sắc tù, trong lược lượng binh lính, công chức, giám thị và
vợ con họ trên đảo
Trong lúc đó, lực lượng Trại 2 nơi kẻ địch hí hửng khoe là “Trại Quốc gia”, phong trào đấu tranh lại diễn ra liên tục, với nhiều hình thức rất phong phú, đến
mức kẻ địch phải thốt lên “đây là lực lượng trá hàng, còn tư tưởng vẫn giữ nguyên
là Cộng sản” Rõ ràng, dù rất tàn bạo và xảo quyệt, bọn cai ngục vẫn không khuất
phục được ý chí sắt đá của người tù chính trị Tình hình đó đã tác động trực tiếp đến
cả bộ máy cầm quyền Sài Gòn Như một cái gai trước mắt làm cho đám Trung ương ngụy quyền miền Nam mất ăn, mất ngủ Chính vì vậy mà 13- 1 -1960, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 04/NV thành lập cơ quan Quản đốc các Trung tâm Cải Huấn miền Nam do Đại tá Nguyễn Văn Y làm Tổng Quản Đốc, để chuyên trách đối phó với các cuộc đấu tranh của tù nhân Bên cạnh đó, còn có một số người như Bộ trưởng Nội vụ Sài Gòn Lâm Lễ Trinh, Dương Văn Hiếu là Trưởng Đoàn công tác Đặc biệt miền Trung tại Sài Gòn, Thiếu tá Đỗ Kế Nhai chỉ huy trưởng Đại đội nhảy
dù, tất cả được điều động ra Côn Đảo để thực hiện chiến dịch đánh phá lực lượng tù chính trị câu lưu chống ly khai Cộng sản
Chiến dịch có nhiệm vụ chính là giải quyết tình trạng phản ứng, chống đối Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa của các quân phạm chính trị ở Côn Sơn, cải huấn tất cả số phạm nhân ngoan cố, đưa chúng vào kỷ luật để học tập, khai thác tổ chức lãnh đạo Việt Cộng ở Trại giam để cô lập, loại trừ bọn đầu sỏ phá hoại… (5)
Năm tiểu ban trực thuộc Ban chỉ huy được thành lập và một số đã triển khai hoạt động từ trước ngày mở màn chiến dịch là: Tiểu ban Y tế, Tiểu ban Tuyên Huấn, Tiểu ban Điều tra – Khai thác, Tiểu An ninh và Quân sự, Tiểu ban Liên lạc Ngoài ra còn có Thiếu tá Lê Văn Thể được cử ra để thay thế cho Bạch Văn Bốn Một tiểu đoàn bảo an, Cảnh sát, 12 cán bộ huấn chính, 2 đại úy quân y và 15 nhân
(4) Đây là một chiến dịch quy mô lớn do Trung Ương ngụy quyền trực tiếp chỉ huy, nhằm mục đích xóa sổ trại tù chống ly khai Cộng sản tại nhà tù Côn Đảo.
(5) Báo cáo của Dương Văn Hiếu cho Ngô Đình Cẩn số 135/ĐCT/TV/M ngày 23-4-1960 Hs lưu Bảo tàng
Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trang 38viên y tế cùng một số nhân viên của Tổng nha Cảnh sát ngụy cũng được điều ra để phục vụ cho chiến dịch
Trong ba ngày đầu của chiến dịch, chúng đã vào các phòng giam ở các Trại
và Chuồng Cọp làm bộ hỏi thăm sức khỏe, tình hình và điều kiện ăn uống của tù nhân, cố ra vẻ lắng nghe và trút đổ hết trách nhiệm cho Bạch Văn Bốn Chúng còn bóng gió cho biết sẽ thay đổi cách đối xử, thay đổi điều kiện sinh hoạt, ăn ở vệ sinh cho anh em tù nhân trong thời gian tới Trong những ngày đó, địch ngưng việc đánh đập tù nhân và tiến hành các đợt phun thuốc diệt muỗi, rệp và tổ chức khám bệnh, phát thuốc cho anh em
Ba ngày ngắn ngủi trôi qua, cuộc sống tù đày có vẻ dễ chịu Việc ăn ngủ tạm yên bình, không còn cảnh trực sinh phải quằn quại, đau đớn vì các đòn hiểm độc của trật tự, không có cúp phạt, chửi bới… nhưng tâm trí của những người tù chống
ly khai luôn căng thẳng chờ đợi một biến cố mới
Kế hoạch của địch bắt đầu thực hiện vào sáng ngày 1-4-1960, đám cải huấn, trật tự vào mở tất cả các cửa phòng giam và xà lim Chuồng Cọp và chúng áp giải tù nhân đi về hai hướng: một hướng về Lò Vôi và một hướng về Thị trấn Tất cả anh
em đều biết mình sắp phải đối mặt với một đợt tấn công mới của quân thù, nhưng hoàn cảnh chia cắt lại bị bám sát cho nên không thể nào trao đổi, động viên nhau được Mỗi người chỉ còn có thể quyết định số phận chính mình mà thôi Tất cả anh
1143 người tù bị áp giải về bốn địa điểm địch chuẩn bị trước là:
- 316 anh em ở “Lao 4” thuộc Trại 3 được dồn về địa điểm Lò Vôi
- 285 anh em còn lại bị dồn về địa điểm chợ Côn Sơn
- 257 anh em ở Chuồng Cọp bị dồn về địa điểm Bãi Dương sát mé biển.
- 285 anh em chống kiến nghị ở Trại 2, địch đưa xuống cầm cố ở “Lao 3” dịp đầu năm, nay bị địch dồn đến địa điểm Hàng Dương trên đường lên An Hải
Tại mỗi địa điểm, địch dồn những người tù giữa trời, quây quanh bằng những vòng dây kẽm gai và một vòng lính gác, luôn chĩa nòng súng vào trong phía những người tù ốm yếu, bệnh hoạn Sự việc diễn ra ngoài dự kiến và tưởng tượng của anh em Dù bị địch giám sát chặt chẽ ngăn cản không cho liên hệ, nhưng anh
em vẫn xé rào, thì thầm trao đổi, cố tìm lời lí giải trước tình huống chưa từng có ở nhà lao Côn Đảo, nhưng anh em vẫn không thể đoán được thái độ của địch sắp tới,
chỉ còn biết động viên nhau : “Dù bất cứ tình huống nào, quyết không khuất phục
địch”
Tại Lò Vôi, địch bắt đầu mở màn chiến dịch: Phát thuốc cho người bệnh Chúng buộc những người tù kiệt sức, bệnh hoạn lê từng bước dài mấy cây số giữ trời đất hoang vu để cấp thuốc, chữa bệnh, thật khó hiểu và mỉa mai thay cho những hành động của những thầy thuốc mặc áo trận này! Anh em đều biết đó là thủ đoạn kéo dài thời gian gây hoang mang, căng thẳng tinh thần, để chuẩn bị cho hành động tấn công khốc liệt sắp diễn ra Đồng thời chúng xáp vô, lân la hỏi chuyện, vẫn là những trò quen thuộc, những giọng điệu cũ rích Anh em không ai buồn đáp lại Đến trưa, sau khi cơm nước xong, màn tấn công chính thức bắt đầu Địch bắt tù ngồi yên dưới nắng, chúng buông hết lời kêu gọi quay về với “chính nghĩa Quốc
Trang 39gia” để hưởng sự khoan hồng, rồi lại giở giọng hăm dọa, từng chặp chúng lại lặp lại điệp khúc chiêu hồi Cả một đám trật tự và bọn cải huấn lại ngồi chung với anh em,
cố tình khêu gợi, bắt chuyện khuyên anh em rời vị trí Song song đó, địch còn giở thủ đoạn tấn công lẻ tẻ gọi từng người ra chiêu dụ, nhưng hầu hết anh em vẫn giữ vững yêu cầu Anh em không làm cách nào có thể trao đổi được với nhau để tìm cách đối phó, chỉ còn biết tự động viên mình cố gắng giữ lấy yêu cầu Thật là kinh khủng khi anh em phải đi tiểu, tiểu ngay tại chỗ, mùi hôi thối nồng nặc bốc lên, nhưng địch vẫn bắt anh em ngồi tại chỗ
Ở địa điểm Bãi Dương, Hàng Dương, địch cũng tiến hành những thủ đoạn tương tự, nhưng anh em vẫn giữ vững lập trường của mình
Ở địa điểm Chợ Côn Sơn, nơi tập trung 285 anh em “Lao 4” đa phần là anh
em miền Trung bị lưu đày từ Đà Nẵng ra Côn Đảo, tình hình lại có khác Anh em tập trung phản bác lại những luận điệu của đám cải huấn, chiêu hồi, chất vấn liên tục, dồn chúng vào thế bí không phương chống đỡ Cuối cùng địch phải lộ nguyên bản chất tàn bạo của chúng, tuyên bố thẳng tay, trừng trị những người tù ngoan cố, chống đối Suốt một ngày phơi mình dưới nắng, nhiều anh em sức yếu ngã lăn trên nền cát cháy bỏng, nhưng địch vẫn dựng đậy để chịu đựng trò tấn công tư tưởng lẫn thân xác một cách dã man này
Màn đêm buông xuống, một trận mưa như trút tuôn trào xuống đảo, kèm theo gió giật và sấm chớp liên hồi, cả 1143 người tù bị ươt ngoi ngót, lạnh run Những tiếng la uất hận không ngớt vang lên, hòa trong tiếng mưa rơi, tiếng sấm chớp Nhưng địch vẫn mặc kệ, những người tù vẫn phải phơi mình dưới nước mưa
và gió buốt, anh em chỉ biết co cụm tựa sát vào nhau tìm kiếm chút hơi ấm để chống chọi với cái rét kinh người
Suốt hai ngày đêm bị hành hạ, cưỡng bức, thần kinh luôn căng thẳng đến tột cùng, lại phải đối mặt với một lực lượng đông đảo, trang bị đầy đủ các phương tiện bạo lực, luôn hầm hè chực ăn tươi nuốt sống những mạng tù ốm yếu Bị dồn đến bước đường cùng anh em buộc phải chọn thái độ dứt khoát Ranh giới giữa sự sống
và cái chết giờ đây thật mong manh Cũng lúc này đây, dường như ai cũng nhận ra viễn cảnh vừa tàn khốc, vừa lâu dài và rất quyết liệt mà những người tù phải chịu đựng trước âm mưu thâm độc và quyết tâm xóa sổ trại tù chống ly khai của địch Anh em không sợ trước cái chết nhưng phải kéo dài cảnh dở sống, dở chết trong thời gian dài mờ mịt là điều băn khoăn không lối thoát Và thế là tư tưởng đâm ra giao động Lần lượt, một số anh em đã bỏ cuộc gượng đứng dậy bước ra để cho địch dẫn về Trại 2 Chỉ một phút hoang mang nhất thời trong cuộc chiến đấu quyết liệt sinh tử đã biến những con người suốt ba năm trời trui rèn trong lửa phải dao động tư tưởng Lần lượt anh em phải đứng dậy rời vị trí Kết quả đến chiều lực lượng chiến đấu ở địa điểm Chợ không còn
Tất cả anh em đều thấy rõ ý đồ của địch Không phải chỉ là những đợt đàn
áp, khủng bố như năm 1957, 1959 mà quyết tâm của địch là phá rã hoàn toàn vị trí chống ly khai Cộng sản của tù chính trị câu lưu bằng mọi giá Mỗi người đều phải
tự quyết định lấy sinh mệnh chính trị của mình chứ không thể trông chờ hoặc dựa
Trang 40vào tập thể được nữa Chấp nhận rút lui trước cuộc chiến đầu này tức là chấp nhận
ly khai Đảng trước địch, là đánh mất sinh mệnh chính trị của mình, làm ảnh hưởng đến uy danh của Đảng Cái cuộc sống vô hình nhưng có một sức mạnh tiềm tàng đã nâng vị trí người chiến sĩ cách mạng lên tầm cao quý, mà vì nó, anh em không tiếc xương máu suốt hơn 3 năm qua
Hoặc tiếp tục cuộc chiến đấu bằng tấm thân gầy gò, kiệt quệ, đối mặt chống chọi với cả một bộ máy, đàn áp trang bị đầy đủ phương tiện giết người Tiếp tục cuộc chiến đấu là chấp nhận cái chết về thể xác nhưng làm rạng danh Đảng, nêu cao
uy thế cách mạng Nhưng quyết định thế nào đây là bài toán hóc búa trong tình trạng thần kinh căng thẳng đến tột cùng Hàng trăm con người như bị xoáy tít giữa dòng nước lũ Một bên là bản năng sinh tồn, một bên là uy danh của Đảng, là phẩm chất người chiến sĩ Cách mạng Trong lúc đó địch không ngừng truy bức, bám sát anh em
Địch chuyển sang một hướng tấn công mới nhẹ nhàng hơn là đi sâu vào tâm
lý, tình cảm của anh em:
“ Chúng tôi không cần các anh chống Cộng Chống cộng là công việc của chúng tôi Việc các anh tôn thờ lý tưởng nào là quyền của các anh Chúng tôi chỉ yêu cầu các anh sang Trại 2 để tạo điều kiện cho chúng tôi cứu sống được hàng trăm sinh mạng con người và đề lên Chính phủ trả tự do cho các anh về sum họp với gia đình Như vậy, tôi thực hiện chính sách nhân đạo Còn các anh vẫn không sứt mẻ gì về lí tưởng Theo hay không là quyền của các anh…”[2 : 180]
Lập luận của chúng trong thời điểm căng thẳng này rỏ ra có tác dụng Nhiều
ý nghĩ nhận định trước tình hình mới diễn ra, nhưng do không có điều kiện trao đổi với nhau nên không thể nào có nhận định thống nhất được Đến chiều ngày 3-4-
1960, số anh em cương quyết bám giữ vị trí chỉ còn lại khoảng một trăm người Tất cả bị địch dồn hết ra sân vận động, chúng dùng vũ lực lôi bừa anh em về Lao 2 nhưng anh em vẫn giằng co chống lạị, lúc này toàn bộ bản chất dã man của địch được phơi bày ngay trên sân cỏ Một cảnh hỗn chiến diễn ra, mỗi bên đều cố giành giật, giữ lấy những con người cụ thể Cả sân vận động biến thành một bãi chiến trường đẫm máu Gần một trăm người tù đang trong cơn kiệt lực bởi đòn bộng và bệnh tật triền miên, trong tay không có chút gì tự vệ, chỉ với một tinh thần sẵn sàng
và kiên trì chịu đựng, đối mặt với hàng trăm tên côn đồ có đầy đủ trong tay gậy gộc, hèo mây, dùi cui, ma trắc… Con người ai cũng bằng da, bằng thịt, sức chịu đựng của mỗi con người có giới hạn nhất định, cho nên không tránh khỏi những diễn biến
tư tưởng trong phút giây quyết định Và cứ trong tích tắc của sự diễn biến là một chiến sĩ phải rời vị trí chiến đấu
Đến 10 giờ đêm ngày 3-4-1960, số anh em còn trụ vững ở vị trí chống ly khai là 59 người Địch kết thúc chiến dịch và đưa tất cả về Chuồng Cọp, chúng lại tiến hành đánh đập tàn bạo hơn, nhiều anh em bất tỉnh không còn hay biết gì Sáng ngày 4-4-1960, địch tập trung tất cả anh em và tổ chức lễ mừng “thắng lợi trong việc xóa sổ Trại 1 chống li khai Cộng sản” bằng cuộc mittinh với cờ 3 que, biểu ngữ
và có cả “diễn văn”, “kiến nghị”, “tuyên thệ” Sau đó địch lại bắt tù diễu hành ở