1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM TOÁN một số vấn đề về xây DỰNG đề KIỂM TRA và ĐÁNH GIÁ kết QUẢ học tập môn TOÁN của học SINH lớp 4

92 240 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 552,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Việc đổi mới giáo dục hiện nay được tiến hành theo một quan điểm đồng bộ và toàn diện, bao gồm nhiều lĩnh vực: từ việc biên soạn chương trình sách giáo khoa SGK đến đổ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM TOÁN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG ĐỀ KIỂM TRA

VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN

Lớp: SP Tiểu học 02 – K33

C ần Thơ, 5 / 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

  

Trải qua bốn năm học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học

Cần Thơ, em được trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết để làm

hành trang vững tin bước vào đời

Cha mẹ đã cho em sự trưởng thành và lớn khôn, gia đình cho em

niềm tin và nghị lực để em đạt được những thành quả như hôm nay Lời

đầu tiên, con xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cha mẹ và gia đình

Em xin chân thành gởi lời cảm ơn đến quí thầy cô trường Đại học

Cần Thơ, quí thầy cô khoa sư phạm và bộ môn sư phạm Toán đã giảng

dạy, hướng dẫn em học tập, nghiên cứu trong suốt khoá học Đặc biệt,

em xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Đặng Văn Thuận đã tạo

mọi điều kiện tốt nhất cũng như đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn

thành luận văn này

Cuối cùng, em xin cảm ơn Ban giám hiệu, các quí thầy cô, bạn

bè và tập thể các em học sinh lớp 4.2 trường Tiểu học Ngô Quyền (TP

Cần Thơ); tập thể các em học sinh lớp 4.4 trường Tiểu học Lưu Nghiệp

Anh (Trà Cú – tỉnh Trà Vinh); tập thể các em học sinh lớp 4.A trường

Tiểu học Lê Quí Đôn(TP Cần Thơ) đã tạo điều kiện thuận lợi để em

hoàn thành luận văn

Xin nhận ở em lời cảm ơn chân thành nhất!

Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2011

Thạch Thị Mỹ Linh

Trang 3

MỤC LỤC

  

Trang

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Cấu trúc luận văn 2

B NỘI DUNG 4

Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 4

I.1 Tìm hiểu chung về dạy học toán ở trong trường Tiểu học 4

I.2 Những vấn đề chung về kiểm tra và đánh giá môn Toán ở Tiểu học 9

Chương II: CƠ SỞ THỰC NGHIỆM 32

II.1 Tình hình chung về kiểm tra và đánh giá môn Toán 4 ở các trường Tiểu học 32

II.2 Phân tích một số đề kiểm tra cụ thể ở các trường Tiểu học 35

Chương III: XÂY DỰNG MỘT SỐ ĐỀ KIỂM TRA 63

III.1 Xây dựng một số đề kiểm tra 63

III.2 Một số đề kiểm tra đề nghị 77

C KẾT LUẬN….……… 89

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc đổi mới giáo dục hiện nay được tiến hành theo một quan điểm đồng bộ và toàn diện, bao gồm nhiều lĩnh vực: từ việc biên soạn chương trình sách giáo khoa (SGK) đến đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường và nâng cao hiệu quả trong việc

sử dụng các thiết bị dạy học, đổi mới qui trình tổ chức kiểm tra, xây dựng đề kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh (HS) Quá trình xây dựng đề kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của HS là một khâu quan trọng, nó rất cần thiết trong giáo dục nói chung và trong giáo dục Tiểu học nói riêng Việc xây dựng đề kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của HS có chức năng, tầm quan trọng ra sao? Cách xây dựng một đề kiểm tra như thế nào là khoa học nhất? Các tiêu chuẩn nào để xây dựng đề kiểm tra nhằm đánh giá kết quả học tập của HS một cách tối ưu nhất Đó là những vấn đề, những câu hỏi mà các nhà giáo dục, các giáo viên (GV) cần phải quan tâm Đặc biệt, lớp 4 là những lớp cuối cấp ở bậc Tiểu học nên các em cần được hệ thống và nắm vững các kiến thức đã học, để làm nền tảng tiếp tục học lên các lớp trên Từ những lý do trên, cũng như để trả lời cho những câu hỏi đã đặt ra mà người viết quyết định chọn đề tài:

“MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG ĐỀ KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH LỚP 4”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu cở sở lý luận về xây dựng đề kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS

- Tìm hiểu các phương pháp, hình thức, kỹ thuật xây dựng đề kiểm tra và đánh giá môn Toán 4

- Tìm hiểu kinh nghiệm ra đề kiểm tra của GV ở các trường phổ thông bậc Tiểu học

- Phân tích một số đề kiểm tra của các trường Tiểu học để rút kinh nghiệm ra đề kiểm tra môn Toán cho phù hợp

- Đề nghị một số đề kiểm tra Toán 4

3 Đối tượng nghiên cứu

- Những tài liệu liên quan đến đề tài

- Các em HS khối lớp 4 ở các trường Tiểu học: trường Tiểu học Ngô Quyền (TP Cần Thơ), Tiểu học Lê Quý Đôn (TP Cần Thơ), Tiểu học Lưu Nghiệp Anh B (Trà Cú – Tỉnh Trà Vinh)

Trang 5

- Các quý thầy cô đã giảng dạy lâu năm ở các trường Tiểu học

- Những đề kiểm tra Toán 4

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích một số đề kiểm tra môn Toán 4

- Phương pháp so sánh, thống kê, tổng hợp kết quả các bài kiểm tra và phỏng vấn HS sau khi kiểm tra

- Phỏng vấn GV ở các trường Tiểu học để học hỏi kinh nghiệm

- Xây dựng một số đề kiểm tra mẫu, dưới sự cố vấn của các GV ở các trường Tiểu học

Bên cạnh đó, để phục vụ cho nội dung thực nghiệm thì các phương pháp như: thực nghiệm sư phạm, điều tra giáo dục cũng được sử dụng, nhằm kiểm chứng lại những vấn đề đã được nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Đối tượng nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Phạm vi nghiên cứu

6 Cấu trúc luận văn

B NỘI DUNG

Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

I.1 Tìm hiểu chung về dạy học Toán ở trường Tiểu học

I.2 Những vấn đề chung về kiểm tra và đánh giá môn Toán ở Tiểu học

Chương II: CƠ SỞ THỰC NGHIỆM

II.1 Tình hình chung về kiểm tra và đánh giá môn Toán 4 ở các trường Tiểu học

II.2 Phân tích một số đề kiểm tra cụ thể ở các trường Tiểu học

II.2.1 Cơ sở phân tích

Trang 6

II.2.2 Phân tích đề kiểm tra cụ thể

Chương III: XÂY DỰNG MỘT SỐ ĐỀ KIỂM TRA ĐỂ KIỂM CHỨNG III.1 Xây dựng đề kiểm tra

III.1.1 Quy trình ra đề kiểm tra

III.1.2 Xây dựng đề kiểm tra Toán 4

III.2 Một số đề kiểm tra đề nghị

C KẾT LUẬN

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

F PHỤ LỤC

Trang 7

B NỘI DUNG

Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

I.1 Tìm hiểu chung về dạy học toán ở trong trường Tiểu học

I.1.1 Mục tiêu dạy học chung

Để đáp ứng yêu cầu của công tác đổi mới để phù hợp với xu hướng của thời đại, mục tiêu dạy học Toán ở bậc Tiểu học cũng phải đổi mới

Trước tiên, trên cơ sở đã đạt được của chương trình Toán ở bậc Tiểu học sẽ giúp

HS rèn luyện, trao dồi khả năng tính toán, tư duy sáng tạo và các năng lực làm toán cũng như khả năng ứng dụng toán vào trong thực tiễn

Mặt khác, kiểm tra học kì môn Toán nhằm đánh giá trình độ kiến thức, kỹ năng

về toán của từng HS sau mỗi học kì, năm học Từ kết quả kiểm tra, GV có thể điều chỉnh kế hoạch dạy học, phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng HS,

để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

Trong nội dung kiểm tra cần thể hiện đầy đủ các yêu cầu cơ bản về kiến thức và

kỹ năng theo chuẩn chương trình được ban hành trong quyết định số 16/2006/QĐ/BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng GD & ĐT với các mức

độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng

Bên cạnh đó, môn Toán cũng hỗ trợ cho HS học tập các môn khác Nó rèn cho

HS tính năng động sáng tạo, kích thích HS biết tìm tòi, phát hiện, suy nghĩ để giải quyết vấn đề Từ đó, nó là cơ sở cho việc phát triển tư duy thuật toán và hình thành nhân cách con người

Trong quá trình dạy học toán sẽ giúp HS học tập và rèn luyện được tính tỉ mĩ, cẩn thận và sáng tạo

I.1.2 Mục tiêu dạy học môn Toán 4

Lớp 4 là lớp đầu của giai đoạn II ở bậc Tiểu học Nó vừa kế thừa giai đoạn đầu, vừa phát triển thêm một số kiến thức mới và mở rộng thêm cho giai đoạn II

Qua Toán 4, các em được học và làm quen với các mạch kiến thức như số học; đại lượng - đo lường; thống kê; hình học; các dạng toán có lời văn, giúp các em có thêm nhiều kiến thức mới về toán hơn Đặc biệt là HS cần phải biết các dạng toán đã

Trang 8

học và biết vận dụng những hiểu biết toán học để áp dụng chúng vào trong thực tiễn cuộc sống

I.1.3 Chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt được trong dạy học Toán 4

Đối với chương trình Toán 4, HS được học các chuẩn kiến thức gồm các phần:

số học; đại lượng và đo lường; các yếu tố thống kê; các yếu tố hình học; giải bài toán

- Đọc, viết các số có đến sáu chữ số, các số thuộc lớp triệu; giới thiệu về tỉ, đọc, viết các số tròn tỉ

- So sánh các số có đến sáu chữ số, xếp thứ tự các số tự nhiên

- Giới thiệu dãy số tự nhiên và một số đặc điểm của dãy số tự nhiên

- Giới thiệu về viết số tự nhiên trong hệ thập phân

- Dấu hiệu chia hết cho 2; 5; 9; 3 Số chẵn, số lẻ

 Về các phép tính với số tự nhiên

- Phép cộng và phép trừ các số có đến sáu chữ số

- Tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép cộng

- Phép nhân số có đến sáu chữ số với số có một, hai, ba chữ số; tích của nó không quá sáu chữ số

- Tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép nhân; tính chất nhân một số với một tổng

- Phép chia số có đến sáu chữ số cho số có một, hai, ba chữ số (chia hết, chia có dư)

b Về phân số và các phép tính với phân số

Trang 9

- So sánh hai phân số

 Về các phép tính với phân số

- Biết cộng hai phân số cùng mẫu số và khác mẫu số với nhau; cộng phân số với

số tự nhiên

- Biết trừ hai phân số cùng mẫu số và khác mẫu số với nhau; trừ phân số với số

tự nhiên và ngược lại

- Thực hiện phép nhân 2 phân số và nhân phân số với số tự nhiên

- Biết thực hiện phép chia 2 phân số

c Về các nội dung khác trong mạch số học của Toán 4

- Tính giá trị biểu thức (với số tự nhiên, phân số)

- Tính giá trị biểu thức chứa một, hai, ba chữ số (dạng đơn giản)

- Tìm một thành phần chưa biết của phép tính (Tìm x, biết x < a hoặc a < x < b với a, b là các số tự nhiên thích hợp)

- Hiểu thêm biểu đồ tranh, biểu đồ cột

- Biết tỉ lệ bản đồ và ứng dụng của tỉ lệ bản đồ

I.1.3.2 Đại lượng và đo đại lượng

a Dạy học về độ dài

- Đọc, viết số đo độ dài

- Chuyển đổi các đơn vị đo độ dài

- Làm tính và giải toán liên quan tới các số đo độ dài

- Thực hành đo và ước lượng số đo độ dài trong các trường hợp đơn giản

b Dạy học về khối lượng

- Giới thiệu tên gọi, kí hiệu, độ lớn của các đơn vị đo khối lượng: tấn, tạ, yến,

kg, hg, dag

- Hệ thống hóa các đơn vị đo khối lượng thường dùng bảng đơn vị đo khối lượng

- Chuyển đổi số đo khối lượng

- Làm tính và giải toán với các số đo theo đơn vị: tấn, tạ, yến, kg và g

- Thực hành cân các đồ vật thông dụng hằng ngày Tập ước lượng “cân nặng” trong một số trường hợp đơn giản

c Dạy học về thời gian

- Giới thiệu các đơn vị đo thời gian: giây, thế kỉ và quan hệ giữa một số đơn vị

đo thời gian như: 1 phút = 60 giây; 1 thế kỉ = 100 năm

Trang 10

- Tập chuyển đổi số đo thời gian

- Củng cố và rèn luyện kỹ năng: thực hành đo thời gian với các đơn vị đo thường gặp là phút, giờ, ngày, tháng, năm; thực hành xem lịch, xem đồng hồ

- Củng cố nhận biết về thời điểm và khoảng thời gian

d Dạy học về đo diện tích

- Giới thiệu các đơn vị đo diện tích

- Biết đọc, viết số đo diện tích theo đơn vị đo mới học

- Nhận biết quan hệ giữa một số đơn vị đo diện tích thường gặp

- Tập chuyển đổi số đo diện tích

- Biết làm tính và giải toán liên quan tới các số đo diện tích, trong đó có các bài toán về tính diện tích của hình chữ nhật, hình vuông, hình bình hành và hình thoi

e Tiền Việt Nam

- Biết giá trị tiền, đổi tiền và sử dụng tiền Việt Nam trong sinh hoạt hằng ngày

- Biết làm và giải toán liên quan tới các đơn vị tiền Việt Nam

I.1.3.3 Các yếu tố thống kê

- Thực hành phân tích “Bảng thống kê số liệu” đơn giản

- Bước đầu làm quen với biểu đồ; tập đọc và phân tích số liệu trên biểu đồ

- Bước đầu làm quen với số trung bình cộng

- Góp phần gắn dạy học với thực hành giải quyết vấn đề trong đời sống

I.1.3.4 Các yếu tố hình học

- Biết nhận dạng và vẽ các góc: góc nhọn, góc tù, góc bẹt

- Biết hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song

- Biết vẽ hai đường thẳng vuông góc, vẽ hai đường thẳng song song

- Thực hành vẽ hình chữ nhật, hình vuông

- Giới thiệu hình bình hành; biết tính diện tích hình bình hành

- Giới thiệu hình thoi; biết tính diện tích hình thoi

I.1.3.5 Giải bài toán có lời văn

- Tiếp tục dạy học giải các dạng bài toán đã được học ở các lớp 1, 2, 3; đặc biệt

là các bài toán có lời văn liên quan đến các phép tính với phân số hoặc là số đo các đại lượng mới học ở Toán 4

- Giải các bài toán có dạng:

Trang 11

+ Tìm số trung bình cộng

+ Tìm hai số biết tổng và hiệu của hai số đó

+ Tìm hai số biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó

+ Tìm phân số của một số

- Giải các bài toán có nội dung hình học

- Giải các bài toán khác liên quan đến “biểu đồ”, ứng dụng “tỉ lệ bản đồ”,

I.1.4 Những chuẩn kiến thức cần đạt được khi thực hiện kiểm tra – đánh giá định

kì môn Toán 4

I.1.4.1 Kiểm tra giữa học kì I

- Đọc viết so sánh số tự nhiên; hàng và lớp – 2 điểm

- Đặt tính và thực hiện các phép tính (cộng, trừ) đối với các chữ số có đến sáu

chữ số (có nhớ hoặc không có nhớ) – 4 điểm

- Chuyển đổi số đo thời gian, khối lượng đã học – 1 điểm

- Hình học: nhận biết góc vuông, góc nhọn, góc tù; hai đường thẳng song song,

vuông góc; tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông – 1 điểm

- Giải các bài toán: tìm số trung bình cộng; tìm hai số khi biết tổng và hiệu của

hai số đó – 2 điểm

I.1.4.2 Kiểm tra cuối học kì I

- Đọc viết so sánh số tự nhiên; hàng và lớp – 2 điểm

- Đặt tính và thực hiện các phép tính (cộng, trừ) đối với các chữ số có đến sáu chữ số (có nhớ hoặc không có nhớ); nhân với số có hai, ba chữ số; chia với số có đến

năm chữ số cho số có hai chữ số – 3 điểm

- Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9 – 1 điểm

- Chuyển đổi, thực hiện các phép tính với số đo khối lượng, số đo diện tích

hoặc tính giá trị biểu thức – 1 điểm

- Hình học: Nhận biết góc vuông, góc nhọn, góc tù; hai đường thẳng song song,

vuông góc; tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông – 1 điểm

- Giải toán có đến ba bước tính gồm các bài toán: Tìm số trung bình cộng; Tìm

hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó – 2 điểm

I.1.4.3 Kiểm tra giữa học kì II

- Nhận biết khái niệm ban đầu về phân số, tính chất cơ bản của phân số, rút gọn,

Trang 12

- Giải toán có đến ba bước tính với các số tự nhiên và phân số gồm các bài toán:

Tìm phân số của một số; Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó – 2 điểm

I.1.4.4 Kiểm tra cuối học kì II

- Nhận biết khái niệm ban đầu về phân số, tính chất cơ bản của phân số, rút gọn,

so sánh phân số, viết các phân số theo thứ tự – 3 điểm

- Thực hiện các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) hai phân số; phân số với số tự

nhiên (khác 0); tìm một thành phần chưa biết trong phép tính với phân số – 3 điểm

- Chuyển đổi thực hiện các phép tính với số đo khối lượng, diện tích, thời gian hoặc nhận biết hình dạng và đặc điểm của hình; tính chu vi, diện tích hình chữ

nhật, hình bình hành, hình thoi – 2 điểm

- Giải toán có đến ba bước tính với các số tự nhiên và phân số gồm các bài toán: Tìm trung bình cộng; Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi

biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó; Tìm phân số của một số - 2 điểm

I.2 Những vấn đề chung về kiểm tra và đánh giá môn Toán ở Tiểu học

I.2.1 Khái niệm về kiểm tra và đánh giá

I.2.1.1 Khái niệm về kiểm tra

Kiểm tra là một thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động GV sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kỹ năng và thái độ của HS trong quá trình học tập nhằm cung cấp dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả

I.2.1.2 Khái niệm về đánh giá

Có rất nhiều khái niệm về đánh giá và hầu hết thì các khái niệm đều nêu lên được những tính chất và đặc trưng cơ bản của đánh giá Sau đây, người viết sẽ giới thiệu một khái niệm đánh giá chung nhất là “Đánh giá kết quả học tập là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình

Trang 13

độ, phẩm chất của người học hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên những cơ sở mà thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra Trong khuôn khổ tài liệu này, đánh giá kết quả học tập được hiểu là đánh giá HS về mặt học lực lẫn mặt hạnh kiểm trong quá trình học cũng như tham gia hoạt động khác của HS trong phạm vi nhà trường

I.2.1.3 Mục đích của đánh giá giáo dục

 Việc đánh giá kết quả học tập của HS nhằm hướng dẫn HS tới một mục đích chung và quan trọng nhất là điều chỉnh quá trình dạy học sao cho đạt hiệu quả tốt nhất

 Đánh giá là nhằm làm sáng tỏ mức độ đạt và chưa đạt về các mục tiêu dạy học so với yêu cầu của chương trình; để từ đó có sự điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp điều kiện thực tế

 Đánh giá là nhận định về năng lực và kết quả học của HS một cách công khai, hợp lý nhất để biết được khả năng, sự tiếp thu kiến thức của HS để từ đó giúp các

em ngày càng tiến bộ và phát triển hơn

 Việc đánh giá này không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh các hoạt động dạy và học sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn

Nó được thực hiện chủ yếu thông qua việc tổ chức kiểm tra, thi một cách có hệ thống

và theo những qui định chặt chẽ

I.2.1.4 Ý nghĩa trong đánh giá giáo dục

 Đối với học sinh: việc kiểm tra và đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời những thông tin (cần thiết) giúp người học tự điều chỉnh các hoạt động học trên mọi lĩnh vực như kiểm tra, tự đánh giá; phát triển năng lực nhận thức

 Đối với giáo viên: việc kiểm tra và đánh giá cung cấp cho GV những thông tin (cần thiết) giúp GV điều chỉnh hoạt động dạy và có cách đưa ra các phương pháp kiểm tra – đánh giá phù hợp và chính xác với năng lực HS hơn

 Đối với cán bộ quản lý giáo dục: việc kiểm tra và đánh giá cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học của các đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, kịp lúc nhằm uốn nắn những lệch lạc, khuyết điểm, hạn chế…và coi trọng việc động viên, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục đề ra

Tóm lại, việc kiểm tra và đánh giá HS có ý nghĩa về nhiều mặt, trong đó quan trọng nhất vẫn là đối với bản thân mỗi HS

Trang 14

I.2.2 Vị trí, chức năng của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

I.2.2.1 Vị trí của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập Nó không những nhằm phân loại chất lượng dạy học mà còn kiểm tra – đánh giá; điều chỉnh quá trình này theo một chiều hướng tích cực, lành mạnh Nói một cách cụ thể hơn, nó nhằm đánh giá trình độ, năng lực của HS cũng như chất lượng giảng dạy của GV theo từng giai đoạn, thời điểm cụ thể, theo mục tiêu chương trình môn học Từ những cơ sở đó mà các nhà giáo dục sẽ có thể điều chỉnh nội dung dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học sao cho phù hợp với tình hình thực tế từng địa phương

I.2.2.2 Chức năng của việc đánh giá kết quả học tập

Việc đánh giá tri thức giúp cho việc xác định kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học trong suốt một quá trình học tập Đánh giá chính xác, công bằng sẽ góp phần thúc đẩy người học tiến bộ, đồng thời điều chỉnh quá trình học tập, cải tiến việc dạy và học để hình thành và phát triển nhân cách của người học Như vậy, việc đánh giá vừa mang chức năng dạy học vừa mang chức năng phát triển và chức năng giáo dục

 Chức năng giáo dục

 Chức năng giáo dục của đánh giá được hiểu thông qua hình thức trình bày sản phẩm – bài làm của người học Đó là việc trình bày bài làm chính xác, sạch đẹp, rõ ràng, hợp logic

 Chức năng này của đánh giá được cụ thể quá bằng việc có quỹ điểm số (đánh giá bằng định lượng) dành cho việc trình bày sản phẩm – bài làm của người học

 Thái độ người đánh giá ở đây (đồng tình hay phê phán) sẽ giúp cho người học rèn luyện tính cẩn thận, chính xác, cách thức trình bày bài làm; từ đó điều chỉnh thái độ, hành vi của bản thân cho phù hợp

 Chức năng dạy học

 Chức năng dạy học dùng để đánh giá việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học Trong đó, tri thức là hệ thống lý thuyết (cơ sở luận) còn kỹ năng,

kỹ xảo là hành động thực tiễn (cơ sở thực hiện)

 Các đơn vị tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có mối liên hệ với nhau Trong đó, tri thức là cơ sở ban đầu (khái niệm, định luật, công thức, tính chất, ) còn kỹ năng là hành động thực hành được áp dụng trong các tình huống thật tương tự; kỹ xảo là hành

Trang 15

động thực hành trong tình huống đã biến đổi

 Đánh giá mang chức năng phát triển là cách đánh giá tiềm năng của người được đánh giá, mang tính định hướng trong quá trình tiếp nhận kiến thức của người học

 Các chức năng của đánh giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, chức năng dạy học là cơ sở, nền tảng ban đầu trong việc đánh giá sự nắm vững tri thức của người học Có nắm vững tri thức thì mới có thể vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo trong các tình huống học tập cũng như trong đời sống thực tiễn Như thế, người học mới biết cách trình bày, diễn đạt ý kiến, hiểu biết của mình một cách rõ ràng

và khoa học

 Chức năng giáo dục là hệ quả của chức năng dạy học và chức năng phát triển Có thể nói, thông qua vấn đề đánh giá việc nắm vững tri thức và khả năng phát triển trí tuệ từ đó hình thành và phát triển nhân cách cho người học

 Chức năng phát triển là sự kế thừa chức năng dạy học Nó nhằm đánh giá khả năng sáng tạo – tính mềm dẻo, linh hoạt cho tư duy người học

Như vậy, vấn đề đánh giá kết quả giáo dục ở bậc Tiểu học vừa mang tính khoa

học vừa mang tính giáo dục Hay nói cách khác “thông qua việc dạy chữ mà dạy

người”

I.2.3 Các nguyên tắc đánh giá giáo dục

Để đảm bảo cho việc đánh giá tri thức được chính xác và công bằng thì nhà sư phạm cần tuân thủ một số yêu cầu, nguyên tắc nhất định về dạy học Các yếu tố đánh giá là cơ sở xuyên suốt trong quá trình đánh giá kết quả giáo dục và học tập của HS Trong đánh giá kết quả giáo dục thì cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

I.2.3.1 Nguyên tắc kết hợp đánh giá định tính với định lượng trong đánh giá và xếp loại

 Đánh giá định tính là đánh giá bằng nhận xét, đánh giá thông qua thái độ làm

Trang 16

việc, thông qua kết quả làm việc rồi rút ra nhận xét cho HS

 Đánh giá định lượng là đánh giá thông qua các bài kiểm tra viết hay kiểm tra miệng Đây là hình đánh giá bằng điểm số

 Sự kết hợp giữa đánh giá bằng định tính với định lượng trong đánh giá kết quả học tập là một phương hướng quan trọng nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng và toàn diện của quá trình đánh giá kết quả học tập của HS bậc Tiểu học

I.2.3.2 Nguyên tắc thực hiện công khai, công bằng, khách quan, chính xác và toàn diện

a Đảm bảo tính công khai

 HS cần được biết các tiêu chuẩn và yêu cầu về đánh giá

 Xác định rõ vai trò, nhiệm vụ và công việc cần làm

 Biết cách tiến hành các nhiệm vụ, bài tập được giao

 Quá trình thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu và đánh giá một cách khách quan

b Đảm bảo tình công bằng

 Hình thức bài kiểm tra phải quen thuộc với mọi HS

 Ngôn ngữ sử dụng trong kiểm tra phải đơn giản, rõ ràng, phù hợp với trình độ HS; bài kiểm tra không chứa những hàm tính đánh đố HS

 Giúp mỗi HS có thể tích cực vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học

 Kiểm soát các yếu tố khác ngoài khả năng thực hiện bài tập đánh giá của HS

có thể ảnh hưởng đến kết quả làm bài hay thực hiện hoạt động của các em

d Đảm bảo tính chính xác và toàn diện

 Nội dung kiểm tra và đánh giá cần bao quát được toàn bộ các nội dung trọng tâm Mục tiêu đánh giá cần bao quát nhiều loại kiến thức, kỹ năng và các mức độ nhận thức của người học

 Công cụ đánh giá cần đa dạng; không chỉ kiểm tra - đánh giá về kiến thức, về

kỹ năng mà còn đo lường được khả năng nhớ, vận dụng vào thực tiễn Từ đó, nó giúp người học có thể hình thành và xây dựng được những giá trị, phẩm chất cũng như các

kỹ năng xã hội; sự phân tích và tổng hợp vấn đề Mặt khác, nó còn là cách đánh giá

Trang 17

người học một cách chính xác và toàn diện nhất

I.2.3.3 Nguyên tắc coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của HS

“Coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của HS” là nội dung cốt lõi đảm bảo tính nhân văn và tính giáo dục trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của

HS Quan điểm coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của HS trong việc đánh giá được thể hiện qua cách tiếp cận mục đích phát triển của giáo dục và dạy học

ở bậc Tiểu học, đồng thời nó cũng phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý HS Việc đánh giá phải góp phần phát triển và nâng cao chất lượng dạy và học; sự động viên, khuyến khích người học sẽ giúp cho người học thêm hứng thú và tích cực hơn trong học tập,

có như vậy việc kiểm tra và đánh giá mới có hiệu quả cao

I.2.3.4 Nguyên tắc phát huy tính năng động, sáng tạo, khả năng tự học, tự đánh giá, xây dựng niềm tin và rèn luyện đạo đức theo truyền thống Việt Nam

 Phát triển các phương pháp dạy học tích cực để đào tạo những HS chủ động, sáng tạo, có khả năng tự học và tự đánh giá bản thân Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức cũng như rèn luyện các kỹ năng đã học mà còn phải khuyến khích khả năng vận dụng sáng tạo nhằm phát hiện sự chuyển biến về thái độ và biết được xu hướng hành vi của HS trước các vấn đề của cuộc sống gia đình

và cộng đồng xã hội

 Việc nắm tri thức, kỹ năng là điều kiện cần để nhận thức tự nhiên Một con người có tri thức về một lĩnh vực nào đó không có nghĩa là người đó phải học thuộc hết tất cả các khái niệm, qui tắc cũng như các định luật thuộc về lĩnh vực ấy một cách máy móc, sáo điều Ở đây, nó đòi hỏi sự hiểu biết đó phải được thể hiện trong những tình huống thực tại, chỉ sự vận dụng linh hoạt những cái biết vào trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống

 Trong môi trường sư phạm, HS có thể làm một bài tập hay xử lý một tình huống nào đó bằng lối suy nghĩ của bản thân hay theo sự gợi ý của GV Còn GV phải tập cho HS sự mạnh dạn, tự tin thông qua một số phương pháp dạy học đổi mới như phương pháp dạy học theo nhóm, phương pháp dạy học động não,

I.2.3.5 Nguyên tác đảm bảo tính thống nhất giữa vừa sức chung và vừa sức riêng

 Đây là nguyên tắc đòi hỏi nhiều ở tính mềm dẻo, linh hoạt trong cách dạy học và cách ra đề kiểm tra Trong một tập thể, sự khác biệt về năng lực nhận thức luôn

Trang 18

tồn tại Nếu chỉ để ý đến sự vừa sức cho tập thể thì những cá nhân giỏi, tích cực sẽ không được khích thích, phát huy tính sáng tạo Còn ngược lại, nếu chỉ hướng đến các

cá nhân giỏi thì những cá nhân còn nhận thức kém sẽ không theo kịp Vì vậy, ngoài mức độ trung bình của lớp, GV cần đảm bảo điều kiện cho mọi HS có thể phát huy và

tự thể hiện khả năng của mình

 Khi ra một đề thi hay đề kiểm tra người ra đề cần chú ý đảm bảo tính vừa sức chung, vừa sức riêng Nghĩa là đề thi, đề kiểm tra phải căn cứ vào tình hình, trình

độ chung của HS Một đề kiểm tra được xem là tốt nếu nó vừa có các câu hỏi cho HS trung bình, đồng thời có những câu hỏi dành cho HS khá, giỏi để kích thích sự tư duy sáng tạo của HS

 Khi giảng bài GV cần chú ý đến tốc độ giảng, tình hình học tập chung của lớp Đối với tập thể lớp có nhiều HS khá, giỏi, GV cần giảng nhanh đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo học sinh yếu Do đó, điều quan trọng GV cần nắm

rõ tình hình học tập chung của cả lớp để biết và theo sát các hoạt động học của HS

I.2.3.6 Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục, phát triển, hệ thống và củng cố tri thức để rèn luyện kỹ năng cũng như thói quen học tập cho HS

 Qua kết quả học của từng phần sẽ cho ta thấy được sự tiến bộ, cần cù, cố gắng của HS trong quá trình học, cũng như sự nhận định và kết luận của GV về năng lực học tập của HS

 Đánh giá nhất thiết phải góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

 Phương pháp và công cụ đánh giá góp phần kích thích quá trình dạy học phát huy tính tự học, chủ động, tích cực trong học tập Đặc biệt là sự chú trọng trong thực hành, rèn luyện và phát triển kỹ năng Bên cạnh đó, đánh giá là hướng đến việc duy trì,

sự phấn đấu, phát triển lòng tự tin, tự trọng, tiến bộ của người học; giúp cho người học

có điều kiện khai thác, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để góp phần phát triển cũng như hình thành năng lực tự đánh giá khả năng của người học

 Đây là một quá trình chuẩn bị nội dung đánh giá sao cho phù hợp với mục tiêu, chương trình dạy học của từng phân môn, từng giai đoạn, từng đối tượng học cụ thể cũng như điều kiện tương ứng của từng trường học cụ thể Mặt khác, mục tiêu đó phải tương thích với mục tiêu cũng như phương pháp dạy học Đặc biệt, đó là độ khó của các bài học hay hoạt động đánh giá sẽ càng ngày càng cao theo sự phát triển của các cấp học

Trang 19

 GV phải chú trọng cho HS ôn tập, vận dụng nhiều và thường xuyên; cần tăng cường kiểm tra và luyện tập đều đặn cho HS Vì nếu không chú trọng rèn luyện kỹ năng, thói quen tự học cho trẻ ngay từ đầu thì sau này lớn lên, trẻ chỉ nắm được một

mớ kiến thức nông cạn, không có khả năng vận dụng vào thực tiễn và chúng sẽ quên dần các kiến thức cũ do không được ôn tập, củng cố và thực hiện thường xuyên

I.2.4 Quan điểm đổi mới trong kiểm tra, đánh giá

I.2.4.1 Quan điểm trước đây về đánh giá

 Trước đây, quan điểm về đánh giá là GV giữ độc quyền về đánh giá, còn HS

là đối tượng được đánh giá Quá trình dạy học này được quan niệm là quá trình tiếp thu và lĩnh hội; thông qua đó hình thành kiến thức, tư tưởng, tình cảm

 Về bản chất: đây là tác dụng một chiều của việc truyền thụ tri thức, chứng minh cũng do GV thực hiện Do đó, việc đánh giá, kiểm tra HS tiếp thu kiến thức từ

GV được thực hiện một cách cứng nhắc, thiếu sự nhịp nhàng, linh hoạt

 Về hình thức: chủ yếu là kiểm tra, đánh giá theo hình thức tự luận Đây là hình thức còn nhiều hạn chế vì nó không kiểm tra được nhiều mảng kiến thức và tạo cho HS hay có tư tưởng học tủ Bên cạnh đó, nó cũng giúp cho GV kiểm tra và đánh giá HS ở nhiều mức độ khác nhau như biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, và giúp người học phát triển khả năng diễn đạt ngôn ngữ

 Những quan điểm này gây ra nhiều hạn chế trong học tập cũng như đánh giá

Nó phản ánh không đúng năng lực HS, không tạo điều kiện cho sự phát triển tư duy của HS

I.2.4.2 Quan điểm hiện nay về đánh giá

 Hiện nay, nền giáo dục được đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng các yêu cầu mục tiêu và nội dung dạy học mới Chính vì thế mà việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cũng được đổi mới Từ đó, quan điểm đổi mới kiểm tra, đánh giá cũng ngày càng đúng đắn và phù hợp hơn

 Một vài năm trước đây, sự xuất hiện của hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan đã gây không ít tranh luận Do nó còn mới nên có nhiều bỡ ngỡ và khó thích nghi được trong thời gian ngắn nhưng đến bây giờ thì đã rất quen thuộc với mọi người Việc kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của HS; khuyến khích HS biết cách vận dụng một cách linh hoạt, nhạy bén các kiến thức, kỹ

Trang 20

năng đã học vào thực tế nên hình thức trắc nghiệm được chú trọng và áp dụng rộng khắp

 Quan niệm đánh giá hiện nay là bám sát mục tiêu từng bài, từng chương, từng môn học ở từng lớp học

 Việc kiểm tra, đánh giá thực hiện công bằng, khách quan, do các hình thức kiểm tra, đánh giá đưa ra các dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm chủ yếu chú trọng đến quá trình lĩnh hội tri thức của HS; quan tâm đến thái độ học tập tích cực, chủ động của

HS ở từng môn học, tiết học

 Do đó, từ việc đổi mới quan điểm kiểm tra, đánh giá mà giúp cho GV chủ động hơn trong hoạt động dạy và học của HS cũng tích cực, sáng tạo hơn trong học tập, có điều kiện thể hiện mình hơn

I.2.5 Các bậc đánh giá của Bloom – cơ sở để đánh giá kết quả học tập của học sinh

Theo B.S Bloom, nhận thức của con người có sáu cấp độ từ thấp đến cao là: Biết  Hiểu  Vận dụng  Phân tích  Tổng hợp  Đánh giá Nội dung các cấp độ này được trình bày trong bảng tóm tắt dưới đây:

họa

1 Mức độ biết: là mức độ nhớ

lại những kiến thức đã được học

Nhớ lại những sự kiện cụ thể cho

đến những lý thuyết từ các tài liệu

đã học

Biết những khái niệm thông dụng, những sự kiện, nguyên tắc, quy luật, tính chất, phương pháp, quá trình thực hiện

Liệt kê, miêu tả, nhận diện, nêu tên, kể lại, trình bày, xếp loại lại,…

2 Mức độ hiểu: là khả năng nắm

được ý nghĩa của tài liệu Đó là sự

chuyển tải tài liệu từ hình thức này

sang hình thức khác, khả năng giải

thích, lý giải, suy đoán, khái quát

hóa và những dạng hình thức thể

hiện khả năng lĩnh hội

- Hiểu những sự kiện và những nguyên tắc

- Giải thích sự kiện, mô hình, lược đồ,… đã học

- Nhận xét những sản phẩm, quá trình thực hiện

để ra kết quả từ những số liệu đã thống kê

Giải thích mối quan hệ, chuyển đổi, diễn giải, đưa

ví dụ, dự đoán, lập dàn ý, dẫn chứng, kết luận, tóm tắt…

Trang 21

vào những tình huống mới, cụ thể

Đó là việc ứng dụng những qui

định, phương pháp, quy luật, lý

thuyết

huống mới, thực tế hơn

- Đưa ra cách giải quyết, xây dựng vấn đề cần trình bày

quyết, áp dụng, thu thập thông tin,

sử dụng, liên hệ, khám phá…

- Thao tác phân tích giúp rèn luyện cho HS khả năng phân tích, xác lập các bộ phận, so sánh, đối chiếu để tìm ra sự giống và khác nhau của chúng

Suy luận, phân biệt, so sánh, suy diễn, mổ xẻ, đối chiếu, lựa chọn, đưa ra những mối liên hệ

5 Mức độ tổng hợp: Là khả

năng liên kết các phần vào với

nhau để hình thành nên một phần

mới Đó là việc tạo nên một chủ đề

hay một bài viết thống nhất hay

lập một kế hoạch hành động nào

đó

- Viết một chủ đề, bài viết, câu chuyện ngắn hay thơ ca,…

- Đề nghị hay đưa ra một sáng kiến hay kế hoạch mới để thực hiện

Tạo lập, kết hợp, thiết kế, sáng tạo,

tổ chức, thực hiện, lập kế hoạch, cấu trúc, tổng hợp lại,…

6 Mức độ đánh giá: Là khả

năng nhận xét một tài liệu cho một

mục đích nhất định Từ đó người

học có thể dựa vào các tiêu chí của

mục tiêu đề ra hoặc tự đưa ra cho

mình những tiêu chí mới để thực

hiện đánh giá chất lượng, giá trị

của một việc nào đó

- Nhận xét tính liên tục, phù hợp với kết luận của tài liệu đưa ra từ những số liệu thống kê

- Nhận xét giá trị của công việc bằng cách dựa các tiêu chí bên ngoài lẫn bên trong

Tranh luận, phê phán, quyết định, xét đoán, phân biệt, giải thích, xác minh hoặc hợp thức hóa,…

I.2.6 Các hình thức đánh giá ở bậc Tiểu học

I.2.6.1 Đánh giá đầu vào

Hình thức đánh giá này nhằm để kiểm tra kiến thức, năng lực xuất phát ban đầu của HS Trong thực tế, loại đánh giá này thường được sử dụng với vai trò là kiểm tra

Trang 22

chất lượng đầu năm học Với hình thức đánh giá này, thời gian kiểm tra hợp lý, nội dung kiểm tra đa phần phải là kiến thức và kỹ năng tổng hợp

I.2.6.2 Đánh giá chẩn đoán

 Đây là hình thức đánh giá khá đặc biệt và nó được tiến hành song song với tiến trình dạy học Mục đích là để phát hiện những sai sót, khiếm khuyết của HS về kiến thức hay phát hiện những khó khăn mà HS gặp phải trong học tập, từ đó tìm ra những biện pháp để kịp thời khắc phục

 Hình thức đánh giá này do GV tự nhận biết chứ không có tính định kì trước Tất nhiên điều này đòi hỏi người GV phải thật sự có kinh nghiệm và thật linh hoạt trong dạy học Cũng như trong khi thiết kế các đề kiểm tra sao cho HS có thể phát huy tối đa các kỹ năng cần đánh giá

 Một số lưu ý đối với loại hình đánh giá này là “không lưu điểm loại kiểm tra này vào những cột điểm qui định chung” Qua hình thức đánh giá chẩn đoán, GV sẽ tự điều chỉnh các phương pháp dạy học của mình sao cho có hiệu quả nhất Mặt khác, những bài kiểm tra này còn có tác dụng tạo cho HS có động lực học tập hơn

I.2.6.3 Đánh giá thường xuyên

 Loại đánh giá này không tổ chức thành một kì kiểm tra như các loại hình đánh giá khác mà nó được đánh giá dựa trên sự theo dõi các hoạt động học tập của HS trong suốt quá trình mà các em học như sự hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập được giao, tinh thần hăng hái trong học tập,… những kết quả này sẽ là phần bổ sung có hiệu quả cho phần đánh giá tổng kết

 Hình thức của đánh giá thường xuyên như kiểm tra miệng đầu giờ (phải kiểm tra hết lượt HS rồi cho điểm) Việc đánh giá thường xuyên này còn góp phần chống rủi ro trong quá trình đánh giá toàn diện HS Đây cũng là loại hình đánh giá khá tốt để bổ trợ cho các loại hình đánh giá khác

I.2.6.4 Đánh giá định kì

 Đây là hình thức đánh giá được tiến hành song song với tiến trình dạy học và khi HS học kết thúc một phần hay một chương của chương trình học Mục đích của loại hình đánh giá này là để GV nắm được những thông tin phản hồi cần thiết từ việc học của HS để từ đó có thể tự điều chỉnh cách dạy và học của thầy và trò Những bài tập trên lớp, các bài kiểm tra 15 phút hay một tiết là nhằm vào mục đích đánh giá này

Trang 23

 Mặt khác, hình thức này tuy là cơ sở chính để đánh giá sức học của HS nhưng không thể mang tính quyết định học lực của HS trong cả năm học được vì nó còn mang nhiều rủi ro Kết quả đánh giá này có thể tham khảo cho các đánh giá khác nhằm đi đến mục tiêu đánh giá một cách thật chính xác năng lực của HS Thông qua loại hình này, GV còn rèn luyện được cho mình, trong việc xây dựng các loại đề kiểm tra, hướng tới mục tiêu đổi mới giáo dục trong tình hình hiện nay

I.2.6.5 Đánh giá tổng kết

 Đây là loại đánh giá kết quả HS ở cuối học kì hay cuối năm học Mục tiêu của loại đánh giá này là xác định mức độ tiếp thu kiến thức của HS so với những mục tiêu học tập của toàn bộ chương trình đề ra ban đầu

 Hình thức đánh giá này rất quan trọng vì điểm số của mỗi bài kiểm tra này

có tính quyết định học lực của HS Các bài kiểm tra, đánh giá tổng kết thường mang tính tổng hợp và thường kiểm tra HS ở nhiều bậc nhận thức khác nhau và thời lượng cho HS thì khá dài từ 40 phút đến 60 phút

 Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu từng loại hình đánh giá, người viết nhận thức được rằng tuy có nhiều mục đích khác nhau ở từng loại hình đánh giá, nhưng tất cả đều hướng đến một mục đích chung, đó là điều phản ánh chất lượng học tập của HS một cách khách quan và chính xác nhất Việc đánh giá HS ở nhiều khía cạnh khác nhau để hướng đến tính toàn diện trong đánh giá Chính vì vậy, mỗi GV sẽ thật linh hoạt và chủ động trong tùy từng giai đoạn, đối tượng và điều kiện cụ thể mà

có cách lựa chọn hình thức đánh giá sao cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy và học

I.2.7 Các hình thức kiểm tra ở bậc Tiểu học

I.2.7.1 Kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì

a Kiểm tra thường xuyên:

 Đây là tiến trình thu thập thông tin về việc học tập của HS một cách liên tục

và thường xuyên trong lớp học Các hình thức kiểm tra thường xuyên là kiểm tra miệng, kiểm tra viết dưới 20 phút

 Kết quả của kiểu kiểm tra này được dùng để theo dõi sự tiến bộ của người học trong suốt tiến trình giảng dạy Đây là quá trình truyền đạt và phản hồi thông tin liên tục của GV và HS; nhằm giúp cho GV có những biện pháp điều chỉnh kịp thời việc giảng dạy cũng như giúp HS nhận ra những tiến bộ và chưa tiến bộ của bản thân

Trang 24

để từ đó có thể tự điều chỉnh cách học sao cho phù hợp nhất

b Kiểm tra định kì:

Đây là phương thức xem xét kết quả học tập theo từng thời điểm Mục đích của kiểm tra định kì này góp phần giúp GV thu được các thông tin phản hồi sau khi HS học xong một chương, một phần sau đó Điểm số thu được chính là kết quả dùng để đánh giá, phân loại HS

I.2.7.2 Kiểm tra đột xuất và kiểm tra tổng kết

a Kiểm tra đột xuất

 Kiểm tra đột xuất là phương thức xem xét kết quả học tập không theo những thời điểm được ấn định trước Kết quả thu được từ các bài kiểm tra đột xuất phản ánh hành vi học tập điển hình của người học, nghĩa là những điều người học làm được trong điều kiện bình thường, không có sự chuẩn bị hay nổ lực tối đa như trong kiểm tra tổng kết

 Những bài kiểm tra đột xuất trong phạm vi lớp học thường được dùng để chẩn đoán các mặt đã thực hiện và mặt tồn tại của quá trình dạy học để từ đó đề ra các phương hướng hay quyết định điều chỉnh việc dạy học Mặt khác, nó còn được dùng như một công cụ thanh tra và quản lý giáo dục nhằm xác định trình độ HS của một trường so với một trình độ của một nhóm chuẩn hay so với hệ thống tiêu chí về kỹ năng và kiến thức mà người học cần lĩnh hội ở một cấp học nào đó

b Kiểm tra tổng kết

Kiểm tra tổng kết là phương thức xem xét thành quả học tập được thực hiện vào cuối môn học hoặc khóa học Các kết quả thu được từ kiểm tra tổng kết chỉ ra khả năng người học đã đạt những gì khi đã có sự nổ lực hết mình cũng như có sự chuẩn bị tối đa Hình thức kiểm tra này được xem là phương tiện để đo mức độ lĩnh hội của HS trong các lĩnh vực học tập Nó được dùng để xếp loại học tập hoặc để xác định thành quả của người học đạt được những kết quả học tập tổng quát nào đã được xác định trong mục tiêu dạy học đề ra Vì vậy, kiểm tra tổng quát còn được gọi là hình thức đánh giá thành tích học tập của HS và có ý nghĩa quan trọng về mặt quản lý

I.2.8 Một số dạng bài kiểm tra và đánh giá

I.2.8.1 Một số dạng kiểm tra

a Kiểm tra miệng

 Hình thức này được thực hiện thường xuyên và được thực hiện dưới các

Trang 25

dạng: hỏi đáp với câu hỏi đóng vai; hỏi đáp với câu hỏi trắc nghiệm khách quan; trò chơi, giải quyết tình huống; thảo luận, bài tập thực hành

Dựa vào tính chất nhận thức của dạng kiểm tra miệng được chia làm các kiểu:

 Kiểm tra sự ghi nhớ, tái hiện lại kiến thức

 Kiểm tra sự ghi nhớ, vận dụng, sáng tạo

 Kiểm tra sự ghi nhớ, vận dụng giải quyết vấn đề

 Đây là một trong những hình thức kiểm tra thường xuyên Ngoài ra, hình thức này còn có tác dụng rèn luyện các kỹ năng giao tiếp và phát triển ngôn ngữ cho HS

b Kiểm tra bài tự luận

 Trong môn Toán ở bậc Tiểu học các bài tập tự luận thường được sử dụng trong các lần kiểm tra định kì hay kiểm tra tổng kết Theo sự đổi mới phương pháp giảng dạy cũng như đổi mới kiểm tra đánh giá thì các bài tự luận được phối hợp với các bài trắc nghiệm trong một bài kiểm tra

 Đối với bài tự luận thì các nhà sư phạm đưa ra một hay nhiều yêu cầu, đôi khi

là bài toán nhận thức, nêu khái niệm, định nghĩa, giải thích nguyên tắc,… Kiểm tra tự luận còn đòi hỏi người học phải phân tích các yêu cầu hoặc giải quyết các yêu cầu đã

 Hình thức kiểm tra này giúp phát triển kỹ năng lựa chọn, tổ chức, vận dụng, phối hợp, liên kết các kiến thức đã học của HS

 Hình thức kiểm tra này giúp phát triển kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ cho HS Bên cạnh đó, bài kiểm tra tự luận cũng có những hạn chế nhất định Nó thường mang tính áp đặt, nội dung kiểm tra thì không đa dạng, phong phú Trong cùng một thời lượng thì nội dung kiểm tra rất ít, GV phải mất nhiều thời gian cho bài kiểm tra, đặc biệt là hạn chế tính khách quan trong đánh giá

Trang 26

c Kiểm tra bài trắc nghiệm

 Bài trắc nghiệm thường gồm nhiều mệnh đề, câu hỏi hay mô hình (tranh, sơ đồ) còn câu hỏi trả lời thì khác nhau có thể là các dấu hiệu đơn giản hay một từ, cụm

từ, đôi khi là một số,… mà nhà sư phạm đưa ra để yêu cầu người học phải chọn đáp

án cho phù hợp và chính xác nhất

 Bài trắc nghiệm mang tính qui ước, vì hệ thống đánh giá bằng điểm mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá Kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm có 5 dạng: Trắc nghiệm Đúng – Sai; Trắc nghiệm nhiều lựa chọn; Trắc nghiệm nối cột (đối chiếu cặp đôi); Trắc nghiệm trả lời ngắn (điền khuyết); Trắc nghiệm mô hình Mỗi dạng sẽ có những ưu nhược điểm riêng:

* Trắc nghiệm loại 1: Trắc nghiệm Đúng – Sai

Bài trắc nghiệm này gồm hai phần: Phần (1) là một câu hỏi hoặc lời phát biểu, định luật, định nghĩa,… còn gọi là phần mệnh đề; Phần (2) là hai phương án chọn lựa: Đúng – Sai; Phải – Không phải; Đồng ý – Không đồng ý

Yêu cầu:

Chọn một trong hai phương án trả lời

Ưu điểm:

•Dễ xây dựng

•Tốn ít thời gian ra đề, có thể ra nhiều câu hỏi trong một lúc

•Khả năng bao quát chương trình lớn

•Tránh các câu mệnh đề quá dài, phức tạp

•Tránh lấy nguyên văn từ SGK

•Lưu ý tính chặt chẽ khi dùng câu gồm hai mệnh đề có quan hệ nhân quả

Trang 27

* Trắc nghiệm loại 2: Trắc nghiệm nhiều lựa chọn

Bài trắc nghiệm này gồm phần thân nêu vấn đề dưới dạng câu chữ hoàn thành hoặc câu hỏi và phần các phương án lựa chọn

Yêu cầu:

Chọn một phương án trả lời phù hợp, đúng nhất trong số các phương án cho sẵn

Ưu điểm:

•Khả năng đoán mò thấp hơn trắc nghiệm Đúng – Sai

•Biết được khả năng người làm bài qua phản ứng của họ đối với mọi phương án lựa chọn

•Kiểm tra người học ở nhiều mức độ nhận thức khác nhau: hiểu, biết, vận dụng

Nhược điểm:

•Khó biên soạn các câu hỏi để đánh giá các kỹ năng nhận thức bậc cao

•Khó xây dựng câu hỏi chất lượng có các phương án (nhiễu) mồi nhử phân biệt với phương án đúng

Lưu ý:

•Tránh dùng các câu hỏi phủ định

•Cố gắng tạo ra các phương án sai khó phân biệt với phương án đúng

•Tránh những phương án mơ hồ, vỏ đoán không căn cứ cụ thể và phương án này bao hàm phương án khác

•Tránh đưa ra các phương án quá phân biệt tạo ra những tiết lộ cho đáp

án đúng

•Tránh trường hợp có thể có hai hay nhiều hơn hai phương án đúng trong số các phương án có sẵn

* Trắc nghiệm loại 3: Trắc nghiệm nối cột (đối chiếu cặp đôi)

Bài trắc nghiệm này gồm hai phần: phần thông tin bảng truy và phần thông tin

ở bảng chọn Hai phần này thường thiết kế ở hai cột

Yêu cầu:

Lựa chọn yếu tố tương đương hoặc có sự tương hợp của mỗi cặp thông tin từ hai bảng, giữa các cặp ở hai bảng có mối liên hệ với nhau trên cơ sở đã định Có hai hình thức: đối chiếu cặp đôi hoàn toàn, đối chiếu cặp đôi không hoàn toàn

Trang 28

•Chủ yếu chỉ kiểm tra khả năng nhận biết

•Thông tin có tính dàn trải, không nhấn mạnh được điều quan trọng hơn

•Sắp xếp các mục trả lời theo một trật tự logic

* Trắc nghiệm loại 4: Trắc nghiệm trả lời ngắn (điền khuyết)

Kiểu trắc nghiệm này có hai hình thức: câu hỏi với giải đáp ngắn; một phát biểu chưa hoàn chỉnh với một hoặc nhiều chỗ để trống

•Gây hứng thú, kích thích các hoạt động tư duy của người học

•Người học không thể đoán mò mà tự mình đưa ra câu trả lời

Nhược điểm:

•Thường dùng để kiểm tra ở mức độ biết và hiểu đơn giản

•Đôi khi khó đánh giá đúng nội dung câu trả lời khi HS viết sai chính tả hoặc câu gợi nhiều hướng đáp án đúng

Lưu ý:

•Câu hỏi phải nêu bật được ý muốn hỏi, tránh dài dòng

Trang 29

•Không đưa ra các thuật ngữ không rõ ràng

•Không lấy những lời nói trực tiếp từ SGK

•Đáp án cho mỗi câu trắc nghiệm trả lời có thể là một từ, một ngữ, một câu hay số hoặc ký hiệu nhưng cần ngắn gọn

* Trắc nghiệm loại 5: Trắc nghiệm mô hình

Đây là loại trắc nghiệm trong đó nhà sư phạm đưa ra mô hình dạy học (tranh ảnh, vật thật, sơ đồ, bản đồ,… ) chưa hoàn thiện

Yêu cầu:

Người học phải hoàn thành mô hình dạy học này sao cho mệnh đề và đoạn văn của mô hình trở nên có nghĩa

Ưu điểm:

•Phát triển tư duy cho người học

•Khả năng hệ thống hóa, khái quát hóa nội dung bài học

sử dụng hình thức đánh giá này như Thủ công, Âm nhạc, Kỹ thuật, Thể dục, Tự nhiên – xã hội,… và đánh giá hạnh kiểm HS

Trang 30

 Muốn đưa ra một nhận xét tốt GV cần phải lưu ý:

- Xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể, quan sát, theo dõi hoạt động học tập của

HS một cách thường xuyên, có năng lực bao quát lớp cao

- Trong trường hợp nội dung quan sát hẹp, GV cần thường xuyên tham khảo các tiêu chí đã được xác lập để hình dung rõ ràng trong lúc đánh giá

- Xây dựng bảng hướng dẫn đánh giá trong trường hợp nội dung quan sát hoặc kiểm tra rộng khắp và phức tạp; những bài tập lớn mà kết quả của nó sẽ được chính thức sử dụng xếp loại HS

- Quan sát và ghi nhận các biểu hiện hành vi của HS theo các tiêu chí đã định

- GV cần thu thập thông tin đủ, phù hợp và tránh định kiến

- Trước khi bắt đầu đưa ra lời nhận xét hay nhận định nào cần xét xem căn cứ thu thập được có thích hợp không hoặc nó đã đầy đủ để đánh giá chưa thì mới được đánh giá

I.2.9 Những điều cần lưu ý khi xây dựng các đề kiểm tra – thi

I.2.9.1 Cấu trúc đề kiểm tra – thi

Những nội dung đề kiểm tra được cấu trúc cân đối giữa các mạch kiến thức:

- Số và các phép tính: khoảng 6 điểm

- Đại lượng và đo đại lượng: khoảng 1 điểm

- Hình học: khoảng 1 điểm

- Giải bài toán có lời văn: khoảng 2 điểm

Tỉ lệ câu trắc nghiệm và câu tự luận trong đề kiểm tra:

Trang 31

- Số câu tự luận (kỹ năng tính toán và giải toán): khoảng 40% - 60%

- Số câu trắc nghiệm khách quan: khoảng 40% - 60%

Số câu trong một đề thi không quá 20 câu

I.2.9.2 Mức độ đề kiểm tra

- Phần nhận biết và thông hiểu chiếm khoảng 80%, phần vận dụng khoảng 20%

- Trong mỗi đề có câu hỏi kiểm tra phần kiến thức cơ bản để HS trung bình có thể đạt 6 điểm và câu hỏi vận dụng sâu để có phân loại HS

Nội dung

Mức độ

Nhận biết Thông hiểu

Vận dụng (Dành cho học sinh khá, giỏi)

Đại lượng và đo đại lượng 1 – 2 câu 1 – 2 câu

I.2.9.3 Hướng dẫn thực hiện

- Căn cứ vào phần hướng dẫn cách ra đề kiểm tra và đối tượng HS cụ thể theo từng vùng, miền để ra đề cho phù hợp

- Khi ra đề thì người ra đề cần căn cứ theo trình độ kiến thức và kỹ năng chuẩn đối với HS lớp 4 về môn Toán Khi thiết kế một đề cụ thể thì người ra đề phải biết linh hoạt là tùy vào tình hình thực tế của từng địa phương mà có cách xây dựng đề cho phù hợp với HS

- Thời lượng làm bài kiểm tra là 40 phút Đối với HS vùng khó khăn, thời gian làm bài có thể kéo dài tối đa đến 60 phút

I.2.10 Một số văn bản quy định đánh giá xếp loại HS Tiểu học

Theo quy định của đánh giá và xếp loại HS Tiểu học (Ban hành kèm theo thông tư số: 32/2009/TT–BGDÐT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (TT 32)) trích chương III: ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI HỌC LỰC

Điều 6: Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì

- Kết quả đánh giá xếp loại của HS Tiểu học sẽ trên cơ sở kết hợp đánh giá của

GV và tự đánh giá của HS, kết hợp đánh giá định lượng với định tính

Trang 32

- Đó là tiêu chuẩn đánh giá xếp loại HS Tiểu học theo quy định mới vừa được

Bộ GD & ĐT ban hành ngày 27 tháng 10 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 11 tháng 12 năm 2009 dựa trên nguyên tắc coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến

bộ của HS, không tạo áp lực cho cả HS và GV

- Theo đó, kết quả xếp loại chung được tính dựa trên kết quả đánh giá hạnh kiểm và học lực vào cuối học kì năm học

- Với một số môn đặc thù như âm nhạc, thể dục, thủ công, mỹ thuật… kết quả xếp loại của HS được đánh giá theo nhận xét mà không tính điểm và được xếp loại theo ba mức: hoàn thành tốt (A+), hoàn thành (A), chưa hoàn thành (B)

- Quy định mới cũng đề cao việc tôn trọng quyền của HS và phụ huynh Theo

đó, GV không được thông báo kết quả chưa tốt của từng HS trước lớp và trong cuộc họp cha mẹ; hiệu trưởng nhà trường có trách nhiệm giải quyết đơn từ khiếu nại về kết quả xếp loại chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận đơn, HS được quyền nêu ý kiến thắc mắc của mình về kết quả xếp loại với GV chủ nhiệm

Điều 7: Đánh giá bằng điểm số kết hợp với nhận xét

- Đối với đánh giá và xếp loại học lực, các môn học được chia thành hai loại: môn học đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét và các môn chỉ đánh giá bằng nhận xét trong quá trình học tập, không có bài kiểm tra định kì Theo đó, Bộ GD & ĐT quy định các môn học có đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét bao gồm Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Ngoại ngữ, Tin học Những môn còn lại gồm Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thủ công, Thể dục sẽ đánh giá bằng nhận xét theo hai mức hoàn thành (A) và chưa hoàn thành (B)

- Số lần kiểm tra thường xuyên trong tháng:

+ Môn Tiếng việt: 4 lần

+ Môn Toán: 2 lần

+ Các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ, Tin học: 1 lần / môn

- Số lần kiểm tra định kì:

+ Môn Tiếng việt, Toán một năm có 4 lần kiểm tra định kì

+ Các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ, Tin học: 2 lần / môn

Điều 8: Đánh giá bằng nhận xét:

- Ở lớp 1, 2, 3: Các môn Đaọ đức, Tự nhiên xã hội, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thủ công, Thể dục

Trang 33

- Ở lớp 4, 5: Các môn Đạo đức, Âm nhạc, Mỹ thuật, Kỹ thuật, Thể dục

Điều 9: Xếp loại học lực học sinh

- Xếp loại học lực môn:

+ Loại giỏi: Học lực môn đạt từ điểm 9 đến điểm 10

+ Loại khá: Học lực môn đạt từ điểm 7 đến điểm 8

+ Loại trung bình: Học lực môn đạt từ điểm 5 đến điểm 6

+ Loại yếu: Học lực môn đạt được dưới điểm 5

- Đối với những HS hoàn thành chương trình, đồng thời thể hiện rõ năng lực học tập môn học có thể được đánh giá ở mức hoàn thành tốt (A+) Kết quả đánh giá, xếp loại về hạnh kiểm và học lực sẽ được kết hợp để nhà trường xét lên lớp, xét hoàn thành chương trình Tiểu học, xếp loại giáo dục và xét khen thưởng đối với HS Để được xếp loại giỏi, HS Tiểu học cần được xếp loại hạnh kiểm “Thực hiện đầy đủ”, đạt loại giỏi đối với các môn học có đánh giá bằng điểm (đạt điểm 9 và 10) và đạt loại hoàn thành (A) đối với các môn học đánh giá bằng nhận xét

 Những vấn đề còn bất cập trong quá trình dạy và học cũng như qui định

đánh giá xếp loại HS Tiểu học:

Đó là một nguyên tắc được Bộ GD & ĐT quy định đối với việc đánh giá và xếp loại đối với HS Tiểu học theo quy định mới vừa được ban hành ngày 29 tháng 10 năm

2009 Bộ GD & ĐT cho biết HS Tiểu học sẽ được đánh giá, xếp loại theo quy định mới này kể từ tháng 12 năm 2009, tức là từ học kì I của năm học 2009-2010

Theo dự thảo, một số môn học chính thì đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét, một số môn phụ đánh giá bằng nhận xét, quy định xếp loại hạnh kiểm, học lực… Một số đổi mới cũng được Bộ ban hành như không tổ chức thi tuyển lớp 1, bắt đầu từ năm 2009-2010 chấm dứt việc dạy học theo kiểu “đọc- chép” Liệu sự đổi mới này có đem lại kết quả khả quan, trong khi điều kiện tiên quyết nhất để đổi mới, nâng cao chất lượng, đó là chương trình và SGK vẫn nằm trong vòng “kiểm tra, đánh giá”?

Cần phải làm rõ mục tiêu này để có một chương trình, SGK phù hợp với mục tiêu đào tạo Phải chăng sự đổi mới của Bộ GD & ĐT thông qua Dự thảo “Đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học” chính là “khâu đột phá” từ bậc học đầu tiên của chương trình với chủ trương giảm tải đối với HS và GV?

Trang 34

 Kế hoạch kiểm tra đánh giá môn Toán 4: (Thông tư 32/2009/TT-GDĐT)

Đảm bảo công khai, công bằng, khách quan, chính xác và toàn diện trong đánh giá

Việc đánh giá với HS Tiểu học lấy động viên, khuyến khích sự tiến bộ của các em là chính, không gây áp lực cho cả GV và HS, đảm bảo lợi ích chính đáng của

HS

Kết hợp đánh giá định lượng (điểm số) và đánh giá định tính (nhận xét), kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS, kết hợp đánh giá thường xuyên với đánh giá định kì

Điểm mới của TT 32 thể hiện rõ nhất ở việc coi trọng đánh giá ở cuối năm học, vì đặc điểm kiến thức và kĩ năng ở Tiểu học cấu trúc theo đường thẳng nên bài kiểm tra cuối năm học là điều kiện cần và đủ để đánh giá khả năng nắm vững kiến thức và kĩ năng của HS ở mỗi lớp học

Trước đây theo Quyết định số 30/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 30 tháng 09 năm

2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (QĐ 30), điểm học lực môn để xét lên lớp là điểm trung bình cộng của điểm kiểm tra cuối kì I và điểm kiểm tra cuối kì II Nay theo TT 32 thì điểm kiểm tra định kì cuối năm sẽ là điểm học lực môn để xét lên lớp

Trong TT 32 cũng đề cao quyền và trách nhiệm của GV Tiểu học trong việc kiểm tra đánh giá HS, thông qua việc tổ chức bàn giao chất lượng cuối năm giữa các lớp ở Tiểu học, bàn giao chất lượng HS lớp 5 giữa trường Tiểu học và trường trung học cơ sở, mỗi GV phải chịu trách nhiệm cá nhân về chất lượng HS của lớp mình phụ trách

Ngoài ra, việc kiểm tra thường xuyên diễn ra ở các tiết mà GV đứng lớp sẽ trực tiếp ra nội dung để kiểm tra Còn kiểm tra định kì thực hiện ở giữa học kì I, giữa học kì II sẽ do Phòng giáo dục chỉ đạo Hiệu trưởng ra đề; đối với kiểm tra định kì thực hiện ở cuối học kì I, cuối học kì II sẽ do Sở GD & ĐT hướng dẫn của Phòng giáo dục chỉ đạo Hiệu trưởng ra đề theo hướng dẫn của Bộ GD & ĐT

Tất cả các HS đều được kiểm tra đánh giá và xếp loại học lực Kết quả kiểm tra định kì được thông báo đến phụ huynh và kết quả được lưu lại tại trường cho các cấp Tiểu học

Trang 35

Chương II: CƠ SỞ THỰC NGHIỆM

II.1 Tình hình chung về kiểm tra và đánh giá môn Toán 4 ở các trường Tiểu học.

- Trước đây theo QĐ 30 điểm học lực môn để xét lên lớp là điểm trung bình cộng của điểm kiểm tra cuối kì I và điểm kiểm tra cuối kì II Nay theo TT 32 thì điểm kiểm tra định kì cuối năm sẽ là điểm học lực môn để xét lên lớp

- Đó là tiêu chuẩn đánh giá xếp loại HS Tiểu học theo quy định mới vừa được

Bộ GD & ĐT ban hành ngày 27 tháng 10 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 11 tháng 12 năm 2009 dựa trên nguyên tắc coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến

bộ của HS, không tạo áp lực cho cả HS và GV

- Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn toán phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng trong từng giai đoạn học tập, phối hợp kiểm tra đánh định kì và kiểm tra đánh giá thường xiêng; giữa đánh giá bằng nhận xét và đánh giá điểm số; giữa đánh giá của GV và tự đánh của HS…

- Các đề thi kiểm tra đánh giá phải:

+ Đảm bảo tính toàn diện, tính công bằng, tính khách quan, phân loại được HS + Phối hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận

+ Đảm bảo tính vừa sức; kịp thời phát hiện và bồi dưỡng những HS có năng lực toán học cũng như hướng dẫn phụ đạo các HS còn yếu kém

 Thông tin từ trường Tiểu học Ngô Quyền

Câu hỏi: Thưa cô, ai sẽ phụ trách ra đề kiểm tra tháng, giữa học kì, cuối học kì

của trường mình ạ?

Trả lời: Trường Tiểu học Ngô Quyền tất cả đề kiểm tra đều do cô hiệu phó

chuyên môn phụ trách Theo cô việc hiệu phó ra đề chung như vậy sẽ gây không ít khó khăn cho GV đứng lớp trong vấn đề ôn tập chuẩn bị cho HS kiểm tra Tuy nhiên, nếu việc ra đề chung như vậy sẽ đánh giá được kết quả học tập của các em HS một cách

khách quan và công bằng hơn giữa các lớp với nhau (theo cô Lâm Thị Thúy Lan – tổ

trưởng khối 4 trường Tiểu học Ngô Quyền)

Câu hỏi: Thưa cô, những hình thức kiểm tra – thi mà cô đã sử dụng để đánh

giá kết quả học tập môn Toán của HS và cô căn cứ vào đâu để phân loại HS cuối năm?

Trang 36

Trả lời: Đối với trường Tiểu học Ngô Quyền thường có hai kì kiểm tra thường

xuyên (1 lần / tháng) và kiểm tra định kì 2 lần / học kì) Ngoài ra, cô còn cho HS làm bài tập vào vở để theo dõi năng lực của HS hằng ngày Việc đánh giá kết quả học tập của HS cuối năm thì trước đây ta lấy trung bình cộng kết quả giữa kì với kết quả cuối

kì, còn bây giờ theo TT 32 thì điểm kiểm tra định kì cuối năm sẽ là điểm học lực môn (ĐHLM) để xét lên lớp Nhưng còn các kết quả kiểm tra thường xuyên 1 lần / tháng vẫn được ghi vào sổ theo dõi để Ban giám hiệu kiểm tra và theo dõi kết quả cũng như tình hình học tập của HS trong trường

Phân loại HS đối với môn toán

Loại giỏi Loại khá Loại trung bình Loại yếu

10 ≥ ĐHLM ≥ 9 9 > ĐHLM ≥ 7 7 > ĐHLM ≥5 ĐHLM < 5

(Theo cô Nguyễn Thị Kiều Hạnh – GV trường Tiểu học Ngô Quyền)

 Thông tin từ trường Tiểu học Lưu Nghiệp Anh

Câu hỏi: Thưa thầy! Hình thức của một đề kiểm tra thường thì phần trắc

nghiệm sẽ chiếm bao nhiêu phần trăm đối với trường mình?

Trả lời: Hình thức kiểm tra trắc nghiệm trong đề kiểm tra đã được triển khai từ

năm học 2006-2007 nên đa số HS đã khá quen với hình thức này Thông thường trong một đề thi, đề kiểm tra thì phần trắc nghiệm sẽ chiếm khoảng 30% - 40% Đối với trường mình, thi định kì giữa học kì I, cuối học kì I thì đề ra vừa có trắc nghiệm, vừa

có tự luận và tỉ lệ thì 40% trắc nghiệm còn 60% là tự luận; riêng giữa học kì II vừa qua thì theo chỉ thị của phòng thì cả huyện Trà Cú ra đề không có trắc ngiệm mà là 100%

tự luận (theo thầy Kim Trung Hữu – GV trường Tiểu học Lưu nghiệp Anh B)

Câu hỏi: Thưa cô, theo kinh nghiệm dạy học lâu năm của mình thì việc ôn tập

và những nội dung cần ôn tập để chuẩn bị cho HS thi của lớp mình được cô tiến hành như thế nào ạ?

Trả lời: Để chuẩn bị tốt cho các em thi thì cô đã ôn tập cho HS các dạng bài tập

mà tháng đó các em đã học đồng thời nhắc lại trọng tâm kiến thức của tháng Thông thường thì trong quá trình cô dạy thì cô đã nhấn mạnh các nội dung của bài nên khi cho HS ôn lại cũng nhẹ nhàng hơn Đối với nội dung ôn tập thì khi cô cho HS làm xong hết các bài tập trong SGK thì cô sẽ cho HS mình làm thêm một số bài tập khác

Trang 37

nữa ngoài SGK để giúp các em củng cố kiến thức vững hơn (theo cô Dương Thị Ngọc

Hân - GV trường Tiểu học Lưu nghiệp Anh B)

Câu hỏi: Thưa cô, khi ra một đề thi – đề kiểm tra thì cô thường quan tâm nhất

đến những vấn đề gì?

Trả lời: Những vấn đề cô thường quan tâm khi ra đề bao gồm:

- Nội dung kiến thức và kỹ năng cần kiểm tra

- Nội dung đề kiểm tra phải kiểm tra đầy đủ kiến thức các phần theo qui định

và các câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng đủ ý

- Thiết kế đề kiểm tra và đáp án phải rõ ràng; đặc biệt là trong khung đáp án phải dự đoán được các phương án trả lời để cho điểm HS

(theo cô Dương Thị Ngọc Hân - GV trường Tiểu học Lưu nghiệp Anh B)

Câu hỏi: Thưa cô, một đề kiểm tra được xem là tốt và thành công thì cần đạt

các yêu cầu gì? Và cách bố trí cũng như qui định thời gian như thế nào là hợp lí?

Trả lời: Đề kiểm tra được xem là tốt khi đề đó kiểm tra được kiến thức của HS

ở nhiều mảng và cách phân bố các mảng kiến thức đó phải hợp lí theo chuẩn kiến thức qui định (Ví dụ: Đề thi toán ở lớp 4 thì gồm: Hình học khoảng 10%, đại số khoảng 60%, đại lượng khoảng 10%, toán có lời văn khoảng 20%)

- Đề cho phải phù hợp đối tượng HS, phải có tính phân loại HS, tránh tình trạng

là phù hợp nhất với lứa tuổi HS vì nếu ngắn quá sẽ không đủ thời gian còn dài quá sẽ tạo cho HS tâm lý quá sức (theo cô Dương Thị Ngọc Hân - GV trường Tiểu học Lưu nghiệp Anh B)

Câu hỏi: Thưa cô, vậy việc ra đề thi – kiểm tra thường xiêng và định kì của

trường là do ai sẽ phụ trách ra đề và cách ra đề thì như thế nào ạ?

Trang 38

Trả lời: Đối với hình thức kiểm tra thường xiêng, trong quá trình cô dạy thì cô

tự ra đề luôn để kiểm tra kiến thức của HS đã đạt hoặc chưa đạt ở mức độ nào theo từng thời điểm học Còn kiểm tra định kì của mỗi học kì thì sẽ do tổ trưởng khối sẽ hợp lại và sẽ ra đề sao cho phù hợp trình độ HS và dựa theo chuẩn kiến mà HS cần đạt

theo từng thời điểm (theo cô Dương Thị Ngọc Hân - GV trường Tiểu học Lưu nghiệp

Anh B)

Câu hỏi: Thưa thầy, theo kinh nghiệm khi ra đề thì Thầy thường quan tâm đến

vấn đề gì? Và cấu trúc của đề thi thường thì như thế nào ạ?

Trả lời: Trước tiên thì chúng ta cần phải nắm vững được nội dung kiến thức

cần kiểm tra theo từng giai đoạn Các nguyên tắc chung khi ra đề thi như: đề phải minh bạch rõ ràng, rõ nghĩa, phải đảm bảo tính phân loại HS Một đề kiểm tra thông thường thì sẽ kiểm tra 70% kiến thức ở thời điểm đang học và 30% kiến thức cũ ở thời điểm trước đó đã học rồi Ví dụ: Khi ta kiểm tra tháng 2 thì lấy 70 % kiến thức tháng 2

và 30 % kiến thức tháng 1

Đối với các vùng quê thì việc ra đề kiểm tra giữa kì và cuối kì do phòng giáo dục huyện ra đề Cấu trúc đề kiểm tra thường thì có 2 phần: trắc nghiệm và tự luận nhưng không qui định là bao nhiêu phần trăm trắc nghiệm, bao nhiêu phần trăm tự

luận (theo thầy Kim Trung Hữu- GV trường Tiểu học Lưu nghiệp Anh B)

II.2 Phân tích một số đề kiểm tra cụ thể ở các trường Tiểu học

II.2.1 Cơ sở phân tích

- Căn cứ vào hệ thống kiến thức, chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn Toán 4 do

bộ qui định

- Căn cứ vào hướng dẫn kiểm tra định kì của môn Toán 4

- Căn cứ vào các chỉ đạo của Phòng, Sở giáo dục và đào tạo về việc triển khai kiểm tra, đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm

- Căn cứ vào các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá môn Toán ở bậc Tiểu học

- Phân tích ưu nhược điểm của một số đề kiểm tra học kì năm 2010 – 2011 ở các trường Tiểu học

Trang 39

II.2.2 Phân tích đề kiểm tra cụ thể

TRƯỜNG TIỂU HỌC NGÔ QUYỀN

A Chữ số 1 thuộc hàng triệu – lớp triệu

B Chữ số 1 thuộc hàng chục triệu – lớp triệu

II Điền khuyết (1 điểm)

1 (0.5 điểm) Viết số thích hợp vào chỗ chấm

+ Với m = 27 thì giá trị của biểu thức m + 453 là ………

+ Với n = 27 thì giá trị của biểu thức 572 - n là ………

2 (0.5 điểm) Số?

Trang 40

Phần II: Tự luận (6 điểm)

1 (1 điểm) a) Đọc số:

+ 85 609 120:

+ 830 402 961:

b) Viết số:

+ Tám trăm triệu không trăm linh bốn nghìn:

+ Một trăm triệu bảy trăm hai mươi nghìn không trăm ba mươi:

2 (1 điểm) Đặt tính rồi tính:

a) 987 864 + 98 704 b) 576930 – 89 907

3 (1 điểm) Đúng ghi Đ, sai ghi S vào: A

a) AH là đường cao của hình tam giác ABC

b) AB là đường cao của hình tam giác ABH

c) AB là đường cao của hình tam giác ABC

d) AN là đường cao của hình tam giác AHC B H N C

4 (1 điểm) Điền vào chỗ chấm:

4 phút 20 giây = giây

300 giây = phút

16 tấn 3 tạ = .kg

27 000 kg = tấn

5 (2 điểm) Giải toán:

Một cửa hàng ngày đầu bán

được 120 m vải Ngày thứ

hai bán được bằng

2

1

số mét vải bán trong ngày đầu, ngày

thứ thứ ba bán được gấp đôi

ngày đầu Hỏi trung bình

mỗi ngày cửa hàng đã bán

được bao nhiêu mét vải?

Bài làm

... Việc kiểm tra, đánh giá kết học tập mơn tốn phải vào chuẩn kiến thức, kỹ giai đoạn học tập, phối hợp kiểm tra đánh định kì kiểm tra đánh giá thường xiêng; đánh giá nhận xét đánh giá điểm số; đánh. .. (điểm số) đánh giá định tính (nhận xét), kết hợp đánh giá GV với tự đánh giá HS, kết hợp đánh giá thường xuyên với đánh giá định kì

Điểm TT 32 thể rõ việc coi trọng đánh giá cuối năm học, ... Tình hình chung kiểm tra đánh giá mơn Tốn trường Tiểu học.

- Trước theo QĐ 30 điểm học lực môn để xét lên lớp điểm trung bình cộng điểm kiểm tra cuối kì I điểm kiểm tra cuối kì II Nay

Ngày đăng: 08/04/2018, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w