1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sáng kiến kinh nghiệm dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số năm học 2016 2017

32 615 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 9,13 MB
File đính kèm SKKN 2016-2017.rar (9 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu Bên cạnh sự phát triển giáo dục của cả nước, trong những năm qua ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên nói chung luôn quan tâm chỉ đạo sát sao việc dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, năm học 20162017 UBND tỉnh Thái Nguyên cũng xây dựng kế họach cụ thể để thực hiện Quyết định số 1008QĐTTg, ngày 02 tháng 6 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 2805QĐBGDĐT ngày 1582016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thực hiện Đề án “Tăng cường chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số (DTTS) giai đoạn 2016 2020, định hướng đến 2025” nên chất lượng giáo dục cũng từng bước đạt được cải thiện. Tuy nhiên trong thời gian qua giáo dục tỉnh Thái Nguyên nói chung, giáo dục ở thị xã Phổ Yên nói riêng đối với các vùng dân tộc thiểu số chưa đạt được kết quả như mong muốn, sự chênh lệch về chất lượng giữa học sinh vùng dân tộc thiểu số với học sinh người kinh quá xa. Nguyên nhân cho thấy trước khi đến trường, một phần học sinh người dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt, thậm chí còn có em vào lớp 1 chưa qua mẫu giáo, vì vậy các em rất hạn chế về tiếng Việt. Học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai. Mặc dù có những em cũng đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các em trường Tiểu học vẫn là môi trường mới, tiếng Việt là ngôn ngữ chưa thật sự gần gũi các em. Sự tồn tại tình trạng này là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, do thói quen sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ còn mang tính phổ biến, tự nhiên, những buổi sinh hoạt cộng đồng, những cuộc hội họp người địa phương hầu như chỉ giao tiếp với nhau bàng ngôn ngữ mẹ đẻ, ngại sử dụng tiếng Việt, có thể vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ luôn thường trực trong họ, thói quen này sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời trường, thậm chí cả rời lớp. Học sinh thường có những khó khăn tâm lý trong quá trình tiếp nhận kiến thức, kĩ năng tiếng Việt. Giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc còn một số hạn chế đặc biệt là không biết hoặc không thành thạo tiếng dân tộc. Trong quá trình giảng dạy chưa biết vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học nhằm tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nên vốn tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế. Từ những vấn đề trên dẫn đến hiện trạng “ ngồi nhầm lớp” của học sinh phổ thông trên cả nước nói chung, tỉnh Thái Nguyên nói riêng hiện nay vẫn rải rác tồn tại cũng là vấn đề bức xúc của ngành giáo dục, được các cấp lãnh đạo, những người làm giáo dục của địa phương và dư luận xã hội quan tâm. Là một người làm công tác giảng dạy và quản lý ở xã Phúc Thuận, vùng có học sinh dân tộc thiểu số gần 30 năm và trực tiếp quản lý ở trường tiểu học Phúc Thuận III có gần 100% học sinh là dân tộc thiểu số đến nay là 4 năm, tôi thấy được những khó khăn khi trình độ nhận thức của học sinh còn hạn chế, vốn tiếng Việt của các em chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn đến chất lượng dạy và học ở đây còn rất thấp. Tôi cùng với đồng nghiệp luôn trăn trở và tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc như tuyên truyền làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, kêu gọi thu hút các nhà tài trợ để xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, tích cực đổi mới phương pháp dạy học... đặc biệt là tìm ra các giải pháp để tăng cường tiếng Việt giúp các em có vốn tiếng Việt đủ để chủ động tiếp thu kiến thức và có khả năng giao tiếp trong quá trình dạy và học, giáo viên và học sinh giảm bớt đi những khó khăn, rào cản về ngôn ngữ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và duy trì phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi mức độ II mà xã Phúc Thuận đã đạt được. Mặt khác dạy tiếng Việt lớp 1 theo chương trình công nghệ giáo dục của giáo sư Hồ Ngọc Đại năm học 2015 – 2016 được thị xã Phổ Yên tiếp nhận đưa vào giảng dạy. Do năm đầu tiên thực hiện chương trình mới tôi đã trăn trở tìm ra một số biện pháp chỉ đạo trong dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 tại trường đạt kết quả nhất định song chưa như mong muốn, năm học 20162017 là năm học thứ 2 nhà trường tiếp tục thực hiện dạy tiếng Việt lớp 1 theo chương trình công nghệ giáo dục với mong muốn đạt kết quả cao hơn năm học 20152016, với nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và cần thiết của việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nói chung và học sinh dân tộc trường tiểu học Phúc Thuận III nói riêng nên tôi tiếp tục quan tâm trăn trở tìm ra một số biện pháp chỉ đạo trong dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 1. Sau nghiên cứu và áp dụng chỉ đạo thực hiện một số giải pháp cụ thể chất lượng giáo dục đã được nâng lên, tôi mạnh dạn đưa ra để đồng nghiệp cùng tham khảo.

Trang 1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Bên cạnh sự phát triển giáo dục của cả nước, trong những năm qua ngànhgiáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên nói chung luôn quan tâm chỉ đạo sát saoviệc dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, năm học 2016-2017UBND tỉnh Thái Nguyên cũng xây dựng kế họach cụ thể để thực hiện Quyết định

số 1008/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 6 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ và Quyếtđịnh số 2805/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thựchiện Đề án “Tăng cường chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểuhọc vùng dân tộc thiểu số (DTTS) giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025”nên chất lượng giáo dục cũng từng bước đạt được cải thiện

Tuy nhiên trong thời gian qua giáo dục tỉnh Thái Nguyên nói chung, giáodục ở thị xã Phổ Yên nói riêng đối với các vùng dân tộc thiểu số chưa đạt đượckết quả như mong muốn, sự chênh lệch về chất lượng giữa học sinh vùng dântộc thiểu số với học sinh người kinh quá xa Nguyên nhân cho thấy trước khi đếntrường, một phần học sinh người dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt,thậm chí còn có em vào lớp 1 chưa qua mẫu giáo, vì vậy các em rất hạn chế vềtiếng Việt Học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học học tiếng Việt là ngôn ngữ thứhai Mặc dù có những em cũng đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối vớicác em trường Tiểu học vẫn là môi trường mới, tiếng Việt là ngôn ngữ chưa thật sựgần gũi các em Sự tồn tại tình trạng này là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trongđời sống sinh hoạt cộng đồng, do thói quen sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ còn mang tínhphổ biến, tự nhiên, những buổi sinh hoạt cộng đồng, những cuộc hội họp người địaphương hầu như chỉ giao tiếp với nhau bàng ngôn ngữ mẹ đẻ, ngại sử dụng tiếngViệt, có thể vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ luôn thường trực trong họ, thói quen này

sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sửdụng tiếng mẹ đẻ khi rời trường, thậm chí cả rời lớp Học sinh thường có nhữngkhó khăn tâm lý trong quá trình tiếp nhận kiến thức, kĩ năng tiếng Việt

Giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc còn một số hạn chế đặc biệt

Trang 2

chưa biết vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học nhằm tăng cườngtiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nên vốn tiếng Việt của các em còn nhiềuhạn chế.

Từ những vấn đề trên dẫn đến hiện trạng “ ngồi nhầm lớp” của học sinhphổ thông trên cả nước nói chung, tỉnh Thái Nguyên nói riêng hiện nay vẫn rảirác tồn tại cũng là vấn đề bức xúc của ngành giáo dục, được các cấp lãnh đạo,những người làm giáo dục của địa phương và dư luận xã hội quan tâm

Là một người làm công tác giảng dạy và quản lý ở xã Phúc Thuận, vùng

có học sinh dân tộc thiểu số gần 30 năm và trực tiếp quản lý ở trường tiểu họcPhúc Thuận III có gần 100% học sinh là dân tộc thiểu số đến nay là 4 năm, tôithấy được những khó khăn khi trình độ nhận thức của học sinh còn hạn chế, vốntiếng Việt của các em chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn đến chất lượng dạy vàhọc ở đây còn rất thấp Tôi cùng với đồng nghiệp luôn trăn trở và tìm ra nhữnggiải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc như tuyên truyềnlàm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, kêu gọi thu hút các nhà tài trợ để xây dựng

cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, tích cực đổi mới phươngpháp dạy học đặc biệt là tìm ra các giải pháp để tăng cường tiếng Việt giúpcác em có vốn tiếng Việt đủ để chủ động tiếp thu kiến thức và có khả năng giaotiếp trong quá trình dạy và học, giáo viên và học sinh giảm bớt đi những khókhăn, rào cản về ngôn ngữ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và duy trì phổcập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi mức độ II mà xã Phúc Thuận đã đạt được

Mặt khác dạy tiếng Việt lớp 1 theo chương trình công nghệ giáo dục củagiáo sư Hồ Ngọc Đại năm học 2015 – 2016 được thị xã Phổ Yên tiếp nhận đưavào giảng dạy Do năm đầu tiên thực hiện chương trình mới tôi đã trăn trở tìm ramột số biện pháp chỉ đạo trong dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 tại trường đạt kếtquả nhất định song chưa như mong muốn, năm học 2016-2017 là năm học thứ 2 nhàtrường tiếp tục thực hiện dạy tiếng Việt lớp 1 theo chương trình công nghệ giáodục với mong muốn đạt kết quả cao hơn năm học 2015-2016, với nhận thức đầy đủ

về tầm quan trọng và cần thiết của việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộcthiểu số nói chung và học sinh dân tộc trường tiểu học Phúc Thuận III nói riêng nên

Trang 3

tôi tiếp tục quan tâm trăn trở tìm ra một số biện pháp chỉ đạo trong dạy học tiếngViệt cho học sinh lớp 1 Sau nghiên cứu và áp dụng chỉ đạo thực hiện một số giảipháp cụ thể chất lượng giáo dục đã được nâng lên, tôi mạnh dạn đưa ra để đồngnghiệp cùng tham khảo.

2 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp tiếp tục chỉ đạo dạy tăng cường

tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số trường Tiểu học Phúc Thuận III thị xã Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên”.

3 Tác giả:

- Họ và tên: Lê Thị Kim Liên

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Phúc Thuận III thị xã PhổYên tỉnh Thái Nguyên

- Số điện thoại: 0984298789.Email: lelien268@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

- Họ và tên: Lê Thị Kim Liên

- Địa chỉ: Trường Tiểu học Phúc Thuận III thị xã Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên

- Số điện thoại: 0984298789.Email: lelien268@gmail.com

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

Sáng kiến được áp dụng trong công tác chỉ đạo chuyên môn

Công tác giảng dạy của giáo viên dạy các môn học của lớp 1 trong trườngtiểu học Phúc Thuận III nói riêng, đồng thời có thể áp dụng ở một số trường cóhọc sinh dân tộc trên địa bàn thị xã và địa bàn thị xã Phổ Yên Trong quá trình

áp dụng có thể lựa chọn các biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt với từng mônhọc sao cho phù hợp với đối tượng học sinh cũng như đặc trưng môn học đó

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử.

Tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số được ngành giáo dụcquan tâm chỉ đạo từ nhiều năm nay, là hiệu phó phụ trách chuyên môn tôi đãthực hiện rất nghiêm túc, năm học 2015-2016 sáng kiến này đã được áp dụng,sau một năm đúc rút kinh nghiệm, ngay từ đầu năm học 2016 – 2017, tôi đã xâydựng kế hoạch hoạt động chuyên môn cụ thể, đề xuất một số giải pháp tiếp tụcthực hiện vấn đề này trước hội đồng sư phạm vào ngày 14/9/2016, trong giảipháp nêu rõ “Tiếp tục chỉ đạo tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh lớp 1” đểcác em có vốn tiếng Việt vững chắc học tiếp lên các lớp trên

Trang 4

7 Mô tả bản chất của sáng kiến: thực trạng, giải pháp

7.1 Một số khái niệm:

Biện pháp chỉ đạo: Đó chính là cách làm, cách giải quyết một vấn đề của

nhà quản lý bằng cách xây dựng kế hoạch và hướng dẫn thực hiện kế hoạch mộtcách cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị Trong thực tế, muốn đạtđược hiệu quả cao trong công tác quản lý, chỉ đạo chủ thể phải vận dụng tổnghợp các biện pháp vì mỗi biện pháp đều có những mặt mạnh, mặt yếu riêng Khi

ta sử dụng hài hòa giữa các biện pháp để phát huy sức mạnh và hạn chế mặt yếucủa mỗi biện pháp thì sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp để giải quyết vấn đề mộtcách hiệu quả nhất

Tăng cường tiếng Việt: Là các hoạt động nhằm giúp học sinh chưa biết

hoặc biết nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống giáo dục

mà tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức Tăng cường tiếng Việt được thực hiệnxuyên suốt, đồng thời với chương trình tiểu học thông qua các hỗ trợ cho giáoviên và học sinh Yêu cầu của tăng cường tiếng Việt là làm thế nào để giáo viêndạy học sinh dân tộc có thể học chương trình tiểu học một cách có hiệu quảtrong môi trường học tập của địa phương

Vậy biện pháp chỉ đạo dạy tăng cường tiếng Việt, chính là cách làm, cáchđịnh hướng và hướng dẫn cho giáo viên áp dụng các phương pháp, biện pháp,cách thức tác động cụ thể của người dạy và người học lên đối tượng dạy và họcqua đó thực hiện nhiệm vụ và mục đích dạy học đó là cung cấp thêm vốn từtiếng Việt nhằm mục đích làm giàu vốn tiếng Việt cho học sinh

7.2 Thực trạng:

Trường Tiểu học Phúc Thuận III là một trường đóng trên địa bàn có trên95% dân số là người dân tộc Sán Dìu Là một vùng gồm 5 xóm thuần nông, sốhọc sinh thuộc hộ nghèo và cận nghèo năm sau đã giảm so hơn với năm trướcnhưng còn tương đối cao cụ thể qua theo dõi từ năm tôi về công tác tại trườngnhư sau:

Trang 5

Năm học 2016-2017: Nhà trường có 9 lớp học với 205 em là dân tộc SánDìu trong tổng số 218 em chiếm 94% Trình độ dân trí tương đối thấp vì thế việcnhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ tạo điều kiện cho con học tập của một bộphận không nhỏ người dân trong địa bàn chưa cao Qua quá trình công tác tôinhận thấy:

* Về phía học sinh: Học sinh vào lớp 1 đã qua lớp mẫu giáo vì vậy các em

không còn bỡ ngỡ khi đến trường đến lớp cũng như tham gia vào các hoạt độnghọc tập và vui chơi Tuy nhiên, vốn tiếng Việt của các em còn nghèo nên giao tiếpcủa các em còn nhiều hạn chế Mặt khác qua 3 tháng nghỉ hè các em ít có cơ hộigiao tiếp bằng tiếng phổ thông Những kiến thức về tiếng Việt các em học đượcqua lớp mẫu giáo hầu như đã quên hết Do đó khi bước vào lớp 1 kiến thức vềtiếng Việt của các em như một trang giấy trắng nên giáo viên rất vất vả trong quátrình truyền thụ kiến thức cho các em vì người giáo viên vừa phải dạy tiếng kếthợp dạy chữ Do vốn từ còn hạn chế nên các em thường rất khó khăn trong việcdiễn đạt một vấn đề một cách rõ ràng để người khác dễ hiểu Học sinh dân tộc phát

âm thường không chuẩn nhất là tiếng có âm cuối là các âm khép n; m; p và các tiếng có thanh hỏi, thanh huyền đi với các vần chứa âm ê, ơ, vần uân thường phát

âm thành vần uôn, vần uyên thành vần uên Đặc biệt qua nhiều năm giảng dạy và

quản lý, tôi thấy đa số các em học sinh người kinh bước vào lớp 1 các em đã biết

đánh vần rất đúng theo thói quen truyền miệng khi chưa biết chữ như: lặng- mẹ; ă-t –ăt; ă- n – ăn nên khi được thầy cô dạy vần mới và tiếng mới các

m-e-me-em rất đễ nhớ và ghi nhớ lâu nhưng học sinh dân tộc Sán Dìu ở trường Tiểu họcPhúc Thuận III khi vào lớp 1 các em không có thói quen này, khi dạy các vần hoặctiếng mới các cô giáo phải hướng dẫn rất rõ ràng, cụ thể nhưng có em vẫn đánhvần sai hoặc lúc học thì nhớ sau đó lại quên ngay và đánh vần sai thành những

vần, tiếng không liên quan như: ă-p –ưt; â-t- ân Do cách phát âm chưa chuẩn

nên trong các bài viết Chính tả thường các em phát âm như thế nào thì viết nhưvậy do đó các em mắc rất nhiều lỗi chính tả trong bài viết của mình

* Về phía giáo viên: Đội ngũ giáo viên nhà trường đảm bảo đủ về số

Trang 6

luôn nhiệt tình, năng nổ và có ý thức trách nhiệm trước công việc được giao.Giáo viên trong trường chủ yếu là người dân tộc kinh, có 02 đồng chí là ngườidân tộc Tày Giáo viên chủ nhiệm và đồng thời dạy Tiếng Việt lớp 1 là 2 côgiáo đã nhiều năm chủ nhiệm lớp 1 nên các cô đã có bề dày kinh nghiệm

* Về phía gia đình học sinh: Do trình độ dân trí không cao cộng với nhiều

hủ tục lạc hậu như làm lễ cúng tế; ma chay,… gia đình thường cho con em nghỉhọc không lý do vào các dịp lễ tết Đời sống của đa số nhân dân trong vùng còngặp nhiều khó khăn nên một bộ phận nhỏ học sinh còn hay phải phụ giúp côngviệc gia đình để kiếm bát cơm manh áo dẫn đến sao nhãng việc học hành Sự quantâm đến học tập của con em ít nhiều cũng có sự thay đổi so với những năm họctrước nhưng chưa thực sự sát sao, thầy cô có trao đổi về mặt tích cực hay hạn chếcủa con em thì phụ huynh cũng không phản ứng gì, chỉ nghe để đấy Sự đầu tư chocon cái về thời gian cũng như sách vở, đồ dùng học tập hầu như là phó mặc chothầy cô Mặt khác, trong sinh hoạt gia đình các thành viên vẫn ít sử dụng tiếng phổthông mà sử dụng nhiều bằng tiếng mẹ đẻ trong quá trình giao tiếp Vì vậy, các emthường ít được tiếp xúc với tiếng phổ thông, vốn tiếng Việt ở trên lớp mà các em

có được, những con chữ đầu tiên lại bị lãng quên trong tiềm thức của các em Môitrường giao tiếp bằng tiếng Việt hạn hẹp và không thuần nhất Như vậy chính lànguyên nhân dẫn đến việc hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt củacác em hết sức khó khăn Với thực tế như vậy thì việc tăng cường Tiếng Việt chocác em học sinh lớp 1 trường tiểu học Phúc Thuận III nhằm trang bị đầy đủ vốnngôn ngữ để các em học tiếp lên các lớp trên là việc làm thường xuyên và hết sứccần thiết

7.3 Giải pháp.

Trong những năm học vừa qua,đặc biệt năm học 2015-2016, nhà trường

đã cố gắng tìm nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mớiphương pháp dạy học; tăng thời lượng một số môn học cơ bản như Toán, TiếngViệt; tăng cường phụ đạo học sinh chưa hoàn thành kiến thức môn học; tổ chứccác hình thức học tập như học theo nhóm, đôi bạn cùng tiến chất lượng cũng

đã được cải thiện nhưng vẫn chưa được như mong muốn, vẫn thấy vốn tiếng

Trang 7

Việt rất hạn chế, để giải quyết 1 vấn đề giáo viên đưa ra câu hỏi đến 3 lần nhưngcác em vẫn không hiểu, không trả lời được Học sinh sau khi lên lớp vẫn còntình trạng đọc chưa thông, viết chưa thạo so với học sinh trên cùng địa bàn củathị xã Phổ Yên, tỷ lệ lưu ban sau năm học vẫn còn cao Xảy ra tình trạng nàykhông phải là do giáo viên cho học sinh lên lớp khi chưa đủ điều kiện lên lớp mà

do các em còn ít vốn tiếng Việt nên các em tiếp thu kiến thức một cách thụ động(học vẹt) nên rất dễ quên Do đó trong thời gian nghỉ hè các em đã quên khánhiều kiến thức trong đó đặc biệt quan trọng là quên việc đọc, viết và làm toándẫn đến tình trạng nhiều học sinh "ngồi sai lớp" Tiếp tục thực hiện chỉ đạo dạytăng cường tiếng Việt cho học sinh lớp 1, ngoài những biện pháp thực hiện cóhiệu quả của năm học 2015-2016, năm học này tôi tiếp tục thực hiện và có cảitiến một số giải pháp sau:

7.3.1 Công tác chỉ đạo:

* Công tác tham mưu, tuyên truyền Là cán bộ quản lý phụ trách công tác chuyên

môn của nhà trường, cần làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy, Ban giám hiệu nhàtrường Nhà trường thực hiện công tác tham mưu với chính quyền địa phươngtrong công tác tuyên truyền để toàn thể nhân dân trong địa bàn cùng chung tay gópsức ủng hộ công tác giáo dục Thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi Thực hiện tốt công tác dân vận, động viên khuyến khích nhân dântrong địa phương cũng như trong gia đình tăng cường kỹ năng giao tiếp bằng tiếngphổ thông cho các em trong độ tuổi đến trường Làm tốt công tác tuyên truyền tớitoàn thể cán bộ giáo viên, phụ huynh và học sinh trong công tác giáo dục trẻ Tạomôi trường tiếng Việt ở mọi nơi, mọi lúc để trẻ có nhiều cơ hội tiếp xúc, làm quen

và giao tiếp bằng tiếng Việt

Tạo thói quen sử dụng tiếng phổ thông ở gia đình và cộng đồng: Gia đình

là trường học đầu tiên và vô cùng quan trọng đối với mỗi đứa trẻ đặc biệt là việchình thành ngôn ngữ cho trẻ Thực tế ở nhà trường có đến trên 84% học sinh lớp

1 là người dân tộc thiểu số Các em sống với gia đình, ít có điều kiện gặp gỡ,giao lưu với người Kinh nên vốn tiếng Việt của các em rất hạn chế trong khi

Trang 8

Hiểu được tầm quan trọng của tiếng Việt đối với học sinh dân tộc thiểu sốtrước khi vào lớp nên tôi thường xuyên chỉ đạo giáo viên phối hợp với ban đạidiện cha mẹ học sinh lồng ghép nhắc nhở phụ huynh học sinh trong các cuộchọp phụ huynh quan tâm đến việc bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết của dântộc mình và tầm quan trọng của tiếng Việt trong việc tiếp thu kiến thức của họcsinh Từ đó có thói quen sử dụng tiếng phổ thông trong sinh hoạt hàng ngày Trong nhà trường, bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch thực hiện tốt công tácchuyển giao cho trẻ từ Mầm non bước vào Tiểu học Trong các cuộc họp Hộiđồng, sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề bản thân tôi luôn nhắc nhở giáo viênphải thường xuyên gặp gỡ gia đình học sinh để phối hợp với phụ huynh quantâm đến việc sử dụng tiếng phổ thông, hướng dẫn phụ huynh dạy cho con em họtập đánh vần tiếng Việt theo cách truyền miệng để các em hình thành thói quen,giúp các em dễ nhớ và nhớ lâu khi được các cô dạy tiếng mới, vần mới

Hiện nay, nhiều gia đình dân tộc thiểu số trên địa bàn trường tiểu học PhúcThuận III đã có thói quen dùng tiếng phổ thông trong sinh hoạt gia đình Vì vậytrẻ được tiếp xúc với tiếng Việt ngay tại gia đình và ở cộng đồng, vốn tiếng Việtcủa các em cũng được nâng lên rất nhiều góp phần thuận lợi cho việc tiếp thukiến thức ở trường

* Công tác chỉ đạo: Thực hiện xây dựng kế hoạch, triển khai, tổ chức

thực hiện việc dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc như:

- Đối với việc thực hiện chương trình: Thực hiện dạy học Tiếng Việt lớp 1

cho học sinh dân tộc thiểu số theo hướng điều chỉnh kế hoạch dạy học từ 350tiết/năm lên thành 560 tiết/năm (phương án tăng thời lượng Tiếng Việt), điềuchỉnh thời gian dạy học của các môn học khác để tăng thêm thời gian cho mônTiếng Việt Cụ thể cho từng phần học như sau:

* Dạy Tiếng Việt 1- CGD Tập 1, Tập 2: Học Âm- Vần: Là phần chiếm

nhiều thời lượng nhất của môn Tiếng Việt Nếu học sinh không thuộc được cácchữ cái, biết ghép các vần thì học sinh không thể đọc, viết cũng như học các mônhọc khác được Vì vậy trong công tác chỉ đạo, chúng tôi đưa ra một số giải pháp:

- Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm lớp tạo mọi điều kiện về thời gian vàtài liệu, thiết bị dạy học để học sinh được thực hành các kỹ năng đọc, viết, nghe,nói và phát triển nhiều nhất hai kỹ năng đọc, viết

Trang 9

Tăng thời lượng dạy học mỗi bài từ 2 tiết lên 3 tiết hoặc 4 tiết, buổi sáng cóthể hoàn thành việc 1, việc 2 hoặc thêm việc 3, buổi chiều ôn lại việc 1, việc 2, việc 3 dạy thêm việc 4, có thể việc 1, việc 2 dạy buổi sáng, việc 3, việc 4 dạy buổichiều Sử dụng nhiều hình thức dạy học sinh động để tạo hứng thú cho học sinh trước khi bước vào bài học mới: Hội thoại tự nhiên giữa giáo viên và học sinh.

Sử dụng triệt để các đồ dùng được cấp phát trong dạy học, giáo viên tăng cường làm và sưu tầm các đồ dùng dạy học đơn giản, có sẵn ở địa phương

Cô giáo Nguyễn Thị Duyên GVCN lớp 1A đang hướng dẫn học sinh tìm tiếng mới.

Rèn cho học sinh đọc đúng, viết đúng các âm, vần, tiếng dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương: Phụ âm đầu: l/n; vần uân/uôn, uyên/uên dấu thanh: hỏi/nặng; ngã/sắc

Cô giáo Nguyễn Thị Mai GVCN lớp 1B hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả.

Trang 10

Sử dụng ngữ liệu chứa nội dung hấp dẫn, sưu tầm các câu đồng giao, thơ

để giúp học sinh dễ thuộc, viết đúng các chữ cái Ví dụ:

- i, t hai chữ giống nhau

i ngắn có dấu, t dài có ngang

Hoặc sử dụng một số câu đố vui để giới thiệu một số âm, vần thay cho việc yêu cầu học sinh quan sát tranh để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh

Ví dụ:

- Nét tròn em đọc chữ o Khuyết đi một nửa sẽ cho chữ gì? (Chữ c)

+ Khi dạy việc 1, việc 2: Kết hợp nhiều hình thức, biện pháp tổ chức dạy

đọc thích hợp để huy động được nhiều học sinh đọc Một trong những hình thức tối ưu đó là chia nhóm, đọc nối tiếp Chú ý cho học sinh luyện đọc nhiều và sửa sai kịp thời cho học sinh những phương ngữ địa phương

Thực hiện dạy tập đọc linh hoạt phù hợp với từng thể loại văn bản và với từng giai đoạn học tập của học sinh Giáo viên cần lưu ý đọc mẫu cho học sinh phải chuẩn về âm lượng, tốc độ, ngữ điệu

+ Khi dạy việc 3:

- Giáo viên viết chữ mẫu đúng và đẹp từng kiểu chữ, mẫu chữ

- Dạy học sinh viết đúng các nét chữ cơ bản như nét gạch ngang, nét xiênphải, cong tròn, Dạy viết theo nhóm các chữ có nét cơ bản giống nhau

- Hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập với số chữ, số dòng theo trình

độ học sinh: Giáo viên hướng dẫn học sinh cụ thể về các yêu cầu kỹ thuật viết từng nét chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút trên dòng kẻ ly để hình thành nên mộtchữ cái, rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu

- Sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị hỗ trợ dạy học Tập viết: Bảng cài, bảng lớp, bảng con ; Rèn tư thế ngồi viết đúng cho học sinh

+ Khi dạy việc 4:

- Giáo viên chuẩn bị và hướng dẫn học sinh chuẩn bị tốt các phương tiện viết bài chính tả (vở, bút, bảng lớp, bảng con)

- Giáo viên chú ý cách đọc: Đọc to, rõ ràng, điều chỉnh tốc độ đọc cho phù hợp với trình độ học sinh

- Thường xuyên nhận xét bài, chữa lỗi cho học sinh, hướng dẫn học sinh cách tự nhận xét bài, chữa lỗi cho nhau

* Dạy Tiếng Việt 1 – CGD Tập 3: Đến thời điểm này đa số học sinh đã

đọc thông viết thạo, theo giáo sư Hồ Ngọc Đại nói khi học Tiếng Việt 1- CGD Tập 3 học sinh sẽ tự học, giáo viên là người hướng dẫn, giúp đỡ khi học sinh gặp khó khăn Tuy nhiên vẫn còn có những em chậm hơn, có những em mới đọc, viết được những bài học ở sách Tiếng Việt tập 1, đầu tập 2, đây là những

Trang 11

em chưa hoàn thành kiến thức môn học Lúc này giáo viên quan tâm nhiều hơn đối với những học sinh chưa hoàn thành kiến thức môn Tiếng Việt 1-CGD Tập

1 và Tập 2 để các em sớm theo kịp các bạn trong lớp

- Đối với tổ khối: Tiếp tục chỉ đạo cho các tổ khối thảo luận đưa ra các biện

pháp giải quyết đồng bộ các vấn đề, các tình huống cụ thể của từng khối lớp trongcông tác giảng dạy Phân công tổ trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm việc tăngcường tiếng Việt cho học sinh tại khối lớp mình, duy trì tổ chức dạy học 2buổi/ngày, để học sinh có nhiều cơ hội cũng như thời gian giao tiếp bằng tiếng phổthông với cô giáo và bạn bè Tăng cường công tác dự giờ, rút kinh nghiệm các tiếtdạy, đổi mới công tác đánh giá tiết dạy Việc kiểm tra công tác dạy - học chú trọngvào việc xem xét khả năng tiếp thu bài của từng đối tượng học sinh để có nhữngđiều chỉnh về phương pháp và hình thức dạy học phù hợp, đẩy mạnh phụ đạo họcsinh chưa đạt chuẩn kiến thức kỹ năng môn học, duy trì thường xuyên việc bồidưỡng và tự bồi dưỡng của giáo viên Động viên, tạo điều kiện cho cán bộ giáoviên trong việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,trình độ vi tính Đổi mới hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn ở từng tổ khối,toàn trường nội dung sinh hoạt gắn liền với nội dung dạy Tiếng Việt cho học sinh.Duy trì hiệu quả sinh hoạt chuyên môn cụm trường Thường xuyên theo dõi đánhgiá kết quả học tập của học sinh để có những biện pháp chỉ đạo kịp thời

Trang 12

Đồng chí Lê Thị Kim Liên – PHT, đồng chí Cao Thị Thủy – Khối trưởng

dự giờ Tiếng Việt 1 tiết 3,4 tuần 13 của 2 giáo viên dạy lớp 1.

Trang 13

Cô giáo Nguyễn Thị Duyên dạy bài Từng tiếng rời trong buổi sinh hoạt chuyên môn cụm.

- Đối với các tổ chức đoàn thể: Tổng phụ trách Đội TNTP làm tốt công tác xây

dựng kế hoạch, kết hợp với cán bộ thư viện tham mưu với Ban giám hiệu trong việcchỉ đạo các tổ chức đoàn thể xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợpvới tình hình thực tế của nhà trường, qua các hoạt động đó các em được giao lưu, họchỏi và được thể hiện mình giúp cho các em sẽ mạnh dạn hơn trong giao tiếp và cũng

từ đó cung cấp cho các em vốn sống và kỹ năng giao tiếp trong học tập và cuộc sốnghàng ngày

Trang 16

- Đối với cán bộ thư viện: Làm tốt công tác xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức các hoạt động thư viện phong phú, duy trì giới thiệu sách tới độc giả để thu hút người đọc, làm tốt công tác theo dõi số lượng học sinh đọc của các lớp và đưa tiêu chí này vào thi đua của các lớp, hàng tuần tổ chức giao ban tổ cộng tác viên thư viện để tổng kết hoạt động thư viện trong tuần, kết hợp với Đội TNTP đánh giá thi đua của từng lớp trong buổi chào cờ thứ 2 hàng tuần, có tuyên dương khen thưởng những lớp, những cá nhân tích cực đọc sách ở thư viện để kích cầu phong trào đọc Tạo điều kiện

về cơ sở vật chất, sắp xếp phòng đọc phù hợp để duy trì tiết đọc thư viện của các lớp đạt hiệu quả, qua các tiết đọc, mỗi tuần lớp trực tuần bình xét những cá nhân tiêu biểu của các lớp lên thi đọc, kể chuyện hoặc đọc thơ, đóng kịch trong tiết chào cờ, như vậy các em sẽ hang hái thi đua để được giao lưu, được thể hiện trước đông người, giúpcác em tự tin hơn, mạnh dạn hơn

Ngày đăng: 08/04/2018, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w