Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, vì vậy việc lồng ghép các thí nghiệm vào trong các bài học Vật lí là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần tích c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ VẬT LÝ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP WEBSITE MÔ PHỎNG THÍ NGHIỆM VẬT LÝ PHỔ THÔNG GVHD:VƯƠNG TẤN SĨ SVTH: NGUYỄN VĂN ĐƯỢC GVPB: DƯƠNG BÍCH THẢO MSSV: 1070304 PHẠM PHÚ CƯỜNG LỚP: SP VẬT LÝ – TIN HỌC K33
`
Cần Thơ – tháng 04/2011
Trang 2Em có thể hoàn thành đề tài “ Website mô phỏng thí nghiệm vật lý phổ thông” là nhờ có sự giúp đỡ của quý thầy cô bộ môn Vật lý - Khoa Sư phạm - Trường Đại học Cần Thơ, gia đình và bạn bè
Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn thầy Vương Tấn Sĩ, thầy chính là người đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề tài này Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, đồng thời cung cấp tài liệu và các phần mềm ứng dụng, hỗ trợ thiết kế website Nếu không có sự giúp đỡ tận tình của thầy thì đề tài này em khó có thể thực hiện được
Em cũng xin chân thành cảm ơn cô Dương Bích Thảo và thầy Phạm Phú Cường là hai giáo viên phản biện đã đóng góp những ý kiến quý báu để đề tài luận văn của em được hoàn chỉnh hơn
Và đồng thời tôi cũng xin chân thành cám ơn gia đình các bạn sinh viên đã giúp
đỡ và đóng góp ý kiến trong suốt quá trình thực hiện đề tài để tôi hoàn thành đề tài này
Cần Thơ, ngày 25 tháng 04 năm 2011
Nguyễn Văn Được
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do - giả thuyết của đề tài:
1 Hoàn cảnh thực tế - lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài: 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi của đề tài: 2
4 Giả thuyết của đề tài: 2
II Phương pháp và phương tiện thực hiện đề tài 1 Phương pháp 2
2 Phương tiện 2
III Các bước tiến hành 1 Chuẩn bị 2
2 Các giai đoạn thực hiện 3
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN I Cơ sở lí luận 1 Thực trạng của đề tài 3
2 Vai trò của thực nghiệm trong giảng dạy Vật lý 3
3 Công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học 4
II Các vần đề về phương pháp dạy học 1 Các phương pháp dạy học 5
1.1 Phương pháp diễn giải 5
1.2 Phương pháp đàm thoại gợi mở 7
1.3 Phương pháp dạy học nêu vấn đề 8
1.4 Phương pháp dạy học khám phá 10
1.5 Khái niệm về kiểu nhóm 12
2 Đổi mới phương pháp dạy học 12
2.1 Đổi mới nội dung dạy học 12
2.2 Đổi mới PPDH 13
2.3 Đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá 14
Trang 43 Dạy học Vật lý 15
3.1 Các nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học Vật lí ở trường phổ thông 15
3.2 Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý 17
CHƯƠNG II SƠ LƯỢC CÁC PHẦN MỀM HỖ TRỢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI I Các phần mềm hỗ trợ thiết kế website 1 Phần mềm Flash Menu Labs Pro V2 19
2 Phần mềm Sothink Glanda V4.1 21
3 Phần mềm SnagIt10 22
II Phần mềm mô phỏng thí nghiệm vật lý: Phần mềm Crocodile 605 22
1 Khởi động chương trình 22
2 Giao diện chương trình 23
3 Các thành phần chính 23
4 Các thao tác trong Crocodile 25
CHƯƠNG III THIẾT KẾ WEBSITE SỬ DỤNG ADOBE DREAMWEAVER CS4 I Tổng quan về WEBSTIE 1 Khái niệm cơ bản về website 26
2 Ngôn ngữ HTML: 27
2.1 Cơ bản về HTML 27
2.2 Các cặp thẻ trong HTML 27
II Phần mềm thiết kế website Adobe Dreamweaver CS4: 1 Cài đặt và khởi động phần mềm 28
2 Thiết kế website sử dụng Dreamweaver CS4 31
2.1 Giao diện chương trình và các chế độ làm việc 31
2.2 Thiết kế Website sử dụng Dreamweaver CS4 (DRWCS4) 32
2.2.1 Định nghĩa Website 32
2.2.2 Thiết kế một trang Web (Web Page): 33
2.2.3 Sử dụng Frameset để tạo trang web 38
Trang 5THỰC HIỆN WEBSITE MÔ PHỎNG THÍ NGHIỆM TÓM TẮT LÝ THUYẾT VÀ BÀI TẬP VẬT LÝ PHỔ THÔNG
I TỔNG QUAN WEBSITE MÔ PHỎNG THÍ NGHIỆM TÓM TẮT LÝ THUYẾT VÀ BÀI TẬP VẬT LÝ PHỔ THÔNG
1 Giới thiệu cấu trúc và sơ đồ Website 40
2 Tổng quan các trang 40
2.1 Trang chủ (index) 40
2.2 Trang thí nghiệm 41
2.3 Trang bài tập 41
2.4 Trang vật lý vui 41
II THỰC HIỆN WEBSITE 1 Trang chủ (index) 42
1.1 Thành phần trang chủ 42
1.2 Thực hiện trang chủ 42
2 Trang thí nghiệm 59
2.1 Tạo trang mẫu 59
2.1.1 Tạo trang mẫu cho trang con (trang con cấp 1) 59
2.1.2 Tạo trang mẫu cho các bài 59
2.2 Thí nghiệm vật lý 10 60
2.2.1 Trang Vật lý 10 60
2.2.2 Trang khảo sát độ biến dạng của lò xo 61
2.2.3 Chuyển động thẳng đều 62
2.2.4 Trang chuyển động thẳng biến đổi đều 64
2.2.5 Trang chuyển động của các phân tử khí 65
2.2.6 Trang chuyển động ném xiên 66
2.2.7 Trang gia tốc phụ thuộc vào khối lượng và lực tác dụng 67
2.2.8 Trang khảo sát sự rơi tự do 68
2.3 Thí nghiệm Vật lý 11 69
2.3.1 Trang vật lý 11 69
Trang 62.3.3 Trang khúc xạ ánh sáng 71
2.3.4 Trang thí nghiệm lăng kính 72
2.3.5 Trang tán sắc ánh sáng 73
2.3.6 Chỉnh lưu dòng điện xoay chiều 74
2.4 Thí nghiệm Vật lý 12 75
2.4.1 Trang vật lý 12 75
2.4.2 Trang dao động con lắc đơn 76
2.4.3 Trang dao động con lắc lò xo 75
2.4.5 Trang giao thoa sóng cơ học 78
2.5 Trang bài tập 79
2.5.1 Trang tóm tắt lý thuyết 79
2.5.2 Trang bài tập 79
2.6 Trang vật lý vui 80
PHẦN KẾT LUẬN I KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 81
II NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA ĐỀ TÀI 81
III HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7pháp dạy học, nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức của người học Chỉ thị
58-CT/TW của Bộ Chính Trị đã khẳng định: “…Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đạo tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội”. Việc sử dụng CNTT đã thực sự cải tiến được phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức của người học
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, vì vậy việc lồng ghép các thí nghiệm vào trong các bài học Vật lí là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học, góp phần tích cực trong hoạt động truyền đạt kiến thức cho học sinh Hiện nay,
để có được tất cả các dụng cụ thí nghiệm hoàn chỉnh là một yêu cầu khó đối với cơ sở vật chất của các trường phổ thông Bên cạnh đó, khối lượng kiến thức trong mỗi bài học đều tăng lên, hầu hết các bài đều có thí nghiệm Vì vậy việc sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lí là một giải pháp quan trọng trong giảng dạy, giúp học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng, sâu sắc Đồng thời tạo hứng thú học tập cho học sinh Các phần mềm thí nghiệm Vật lí ảo (Crocodile Physics 605, Working
model, Optics Mar.03 ) đáp ứng được hầu hết các yêu cầu về thí nghiệm Vật lí trong
trường phổ thông hiện hành Vì các lí do trên tôi chọn đề tài “WEBSITE MÔ PHỎNG
THÍ NGHIỆM VẬT LÝ PHỔ THÔNG” làm đề tài nghiên cứu khi làm luận văn tốt
nghiệp
Trang 82 Mục đích của đề tài
Với các lí do chọn đề tài như trên thì mục của website mô phỏng thí nghiệm vật
lý phổ thông nhằm phục vụ nhu cầu học tập và giảng dạy môn vật lý ở trường THPT Website là nguồn học liệu bổ ích cho học sinh ôn tập môn vật lý trong các kì thi, tài liệu cho giáo viên truyền thụ kiến thức cho người học, thúc đẩy ứng dụng CNTT vào dạy học và khắc phục những khó khăn trong giảng dạy môn vật lý như đã nêu ở phần
trước Xa hơn nữa là website phục vụ tất cả những ai đam mê vật lý
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi của đề tài
Nội dung lý thuyết vật lý THPT, Các thí nghiệm vật lý phổ thông được mô
phỏng bằng các phần mềm như: Crocodile Physics 605, Working model, Optics
Mar.03, Interactive Physics… Các dạng bài tập, các đề thi vật lý
Phạm vi của đề tài là thiết kế website sử dụng Adobe Dreamweaver CS4 với nội dung như đã nêu, thực hiện website với với các chương trình hỗ trợ như Photoshop, Sothink Glanda, Snagit_10, Java…Áp dụng vào thực tế, đưa website lên
mạng internet
4 Giả thuyết của đề tài
Nếu website được thực hiện như kế hoạch đã đề ra và phù hợp với phương hướng đổi mới giáo dục thì đây hẳn là công cụ hữu ích cho học sinh và giáo viên THPT trong việc tham khảo và khai thác, nhằm phục vụ tốt cho việc giảng dạy, mang lại sự yêu thích của học sinh trong quá trình học vật lý, từ đó chất lượng giảng dạy và học tập của tiết dạy được nâng cao
1 Phương pháp
- Tìm hiểu và thiết kế website sử dụng Adobe Dreamweaver CS4
- Tìm hiểu các phần mềm thí nghiệm ảo vật lý, thiết kế các thí nghiệm trong chương trình vật lý phổ thông
- Chuẩn bị các đĩa CD cài đặt các phần mềm
- Viết các nội dung cho website
Trang 92 Các giai đoạn thực hiện
- Học thiết kế web và các chương trình hỗ trợ thiết kế web từ tháng 10/2010 đến hết năm 2010
- Chuẩn bị tư liệu để làm phần nội dung bao gồm: tóm tắt lý thuyết, bài tập, phần mềm mô phỏng (hướng dẫn sử dụng và minh họa), video minh họa Thời gian: trong quá trình học thiết kế web tháng 1 đến tháng 2 năm 2011
- Thực hiện website và viết báo cáo Từ tháng 3 đến hết tháng 4 năm 2011
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Thực trạng của đề tài
- Trên thực tế, ở nước ta đã có nhiều công trình xây dựng website vật lý đã thực
hiện thành công Tuy nhiên, GV sẽ không thuận tiện trong quá trình tham khảo cách thức tổ chức hoạt động dạy học Ngoài ra, trên thị trường hiện nay có một số sách bài tập, sách tham khảo nhưng các sách không linh hoạt trong quá trình học tập vì thiếu các hình ảnh, hoạt ảnh, phim, flash…Và cũng chưa có website chuyên sâu về thí nghiệm vật lý phổ thông
- Theo tôi, nếu muốn có một bài giảng có hệ thống và sinh động trong dạy học thì cần có các hình ảnh, phim, flash… vừa thuận lợi trong việc tham khảo cách thức tổ chức các hoạt động dạy học Và đặc biệt là mô phỏng các thí nghiệm khó hay không thể thực hiện ở trường phổ thông
2 Vai trò của thực nghiệm trong giảng dạy Vật lý
Một trong những điều quan trọng của phương hướng cải cách chương trình vật
lý phổ thông là: “Chương trình phải bao gồm những kiến thức về những phương pháp vật lý cơ bản” Ngoài việc cung cấp kiến thức, việc xây dựng và phát triển các năng lực tư duy cho học sinh là một yêu cầu có tính nguyên tắc Muốn vậy, làm cho học sinh không những nắm được kiến thức mà còn hiểu rõ được con đường dẫn đến kiến thức, hiểu rõ các phương pháp nhận thức khoa học
Đối với môn vật lý, phương pháp thực nghiệm là một trong những phương pháp nhận thức cơ bản quan trọng Vì vậy, trong chương trình cải cách vật lý phổ thông cần phải coi trọng áp dụng Phương pháp thực nghiệm của khoa học vật lý trong quá trình
Trang 10dạy học Trong quá trình dạy học, cần làm cho học sinh hiểu được phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu vật lý và từng bước hướng dẫn học sinh tập vận dụng phương pháp thực nghiệm của vật lý học trong khi nghiên cứu các kiến thức theo chương trình và sách giáo khoa
Để có thể vận dụng được phương pháp thực nghiệm của vật lý trong quá trình dạy học ta cần làm rõ hai vấn đề sau:
1 Thứ nhất là: Phương pháp thực nghiệm trong quá trình sáng tạo khoa học vật
lý, với tư cách là một phương pháp nhận thức của khoa học vật lý, là gì? Nó bao gồm những giai đoạn nào?
2 Thứ hai là: Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý, với tư cách là một phương pháp dạy học (là sự vận dụng phương pháp thực nghiệm của khoa học vật
lý vào dạy học vật lý, nhằm rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức của vật lý học) được thực hiện theo các bước dạy học như thế nào khi hình thành một kiến thức
cụ thể cho học sinh?
3 Công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học
Như đã nêu trên: Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính Trị đã khẳng định: “…Đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đạo tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội”. Việc sử dụng CNTT đã thực sự cải tiến được phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức của người học Do đó internet hiện nay đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống nói chung và trong giáo dục nói riêng
Các hình thức ứng dụng CNTT thường gặp trong giáo dục hiện nay:
CBT (Computer Base Training) là hình thức giáo viên sử dụng máy vi tính
trên lớp, kèm theo các trang thiết bị như máy chiếu, các thiết bị multimedia để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến học sinh, kết hợp với phát huy các thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệu, ảnh, tương tác giữa người và máy
E-learning: là hình thức học sinh sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà
giáo viên đã soạn sẵn, hoặc xem các đọan phim về tiết dạy của giáo viên, hoặc có thể trao đổi trực tuyến với giáo viên qua mạng internet
Trang 11Bài giảng điện tử (BGĐT): BGĐT không phải là phần mềm dạy học mà sử
dụng phần mềm để tạo ra nó, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của giáo viên Hay nói
cách khác BGĐT là một phương tiện thay thế một phần các phương tiện truyền thống
Việc truyền đạt kiến thức vẫn dựa trên giao tiếp thầy – trò, chứ không phải là giao tiếp
máy - người Vì giáo viên vẫn là người trực tiếp điều hành việc sử dụng phần mềm nên
có thể khai thác tối đa được những kiến thức cần chuyển tải trong phần mềm, tùy
thuộc vào trình độ của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên BGĐT là sự
kết hợp những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống và của các công nghệ hiện đại Đây là một phương tiện có nhiều ưu điểm: giúp người dạy dễ dàng truyền tải kiến thức trong quá trình dạy học, hạn chế tiếp xúc với những phương tiện ảnh hưởng đến sức khỏe người dạy cũng như người học; giúp giờ dạy thêm sinh động thu hút người học đến bài giảng làm cho hoạt động dạy và học có hiệu quả
Tuy nhiên BGĐT cũng có mặt hạn chế của nó:
- Tính cứng nhắc trong nội dung bài giảng, thường không thể áp dụng trên quy mô rộng, khó có thể áp dụng cho những giáo viên khác
- Giá thành cao: đòi hỏi phải có một đội ngũ kỹ thuật viên có đủ chuyên môn và kinh nghiệm làm việc, phải đầu tư nhiều cho việc thiết kế, sản xuất và bảo trì phần mềm, trang thiết bị
- Phản tác dụng giảng dạy nếu giáo viên quá chú ý vào tính trình chiếu, lạm dụng các hiệu ứng âm thanh, hình ảnh
Sử dụng các phần mềm mô phỏng trong các môn có thực nghiệm, các môn sử dụng phần mềm để tính toán: toán học, vật lý, hóa học…Một số phần mềm được sử dụng như: Maple, Crocodile Physics, Crocodile Chemistry…
Các trang web dạy học trực tuyến, các diễn đàn dành cho giáo viên, học sinh Dùng các phần mềm trắc nghiệm dùng trong kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh
1 Các phương pháp dạy học: Một số phương pháp dạy học phổ biến hiện nay:
1.1 Phương pháp diễn giải
Diễn giải là phương pháp dạy học thuộc nhóm phương pháp dùng lời, là cách dạy học đơn giản nhất mà xưa nay vẫn thường dùng Diễn giải được dùng ở mọi cấp, mọi lớp, chỉ khác nhau ở độ dài bài diễn giảng tương ứng ở từng cấp học Tuy
Trang 12nhiên để có một bài diễn giảng tốt cần nghiên cứu kĩ cấu trúc và con đường đi của bài diễn giảng sao cho có thể phát huy hết ưu thế của phương pháp quan trọng này
Hình 1.1 Hình 1.1 chỉ ra cấu trúc bài diễn giảng hai chiều, nếu trước kia trong bài diễn giảng chỉ có giáo viên nói, học sinh ngồi nghe và ghi theo lệnh (diễn giảng một chiều) nghĩa là thầy tác động vào tài liệu (soạn nội dung), lựa chọn phương pháp, đưa kiến thức đến cho học sinh, thì bây giờ, trong giờ diễn giảng học sinh cũng phải tham gia các hoạt động của mình vào việc xây dựng, nghiên cứu tài liệu mới bằng việc trả lời những câu hỏi tái hiện, bằng việc vận dụng kiến thức vào thực tế (mối liên hệ nghịch
từ “học sinh” đến tài liệu mới), bằng việc tự ghi chép, muốn được như vậy thì phải có
sự tác động trực tiếp từ thầy đến học sinh Đôi khi học sinh cũng có thể hỏi thêm cho
rõ hoặc đề nghị thầy giới thiệu thêm nội dung và phương pháp học ở nhà Các mối liên
hệ nghịch này cũng là cơ sở để thầy đánh giá học sinh trong quá trình dạy học cho chính xác
Cách trình bày một bài diễn giảng được tiến hành theo 4 bước sau: (chú ý: ở đây chỉ nói đến giai đoạn 2 của tiết học nghiên cứu tài liệu mới nơi cần phân biệt 4 bước của giai đoạn này với 4 giai đoạn của một tiết học đã được trình bày ở mục trên)
Bước 1: Đặt vấn đề (cho nội dung một đoạn diễn giảng, phân biệt với mở đầu tiết học)
Nội dung tài liệu mới phải được thông báo bằng những lời giới thiệu ngắn gọn, nhằm hướng sự chú ý của học sinh vào trực tiếp nội dung diễn giảng
Bước 2: Phát triển vấn đề
Mục đích bài diễn giảng được nêu ra, chúng ta sẽ đi tìm cái gì, phải “đi” tới đâu thì bài diễn giảng kết thúc
Bước 3: Trình bày tài liệu mới
Đây là phần chính và quan trọng nhất của phương pháp diễn giảng Ngoài nghệ thuật nói, viết của thầy thì vấn đề lập luận rõ ràng, khúc chiết sẽ mang lại sự thuyết
Thầy
Trang 13phục về nội dung bài giảng đồng thời dạy cho học sinh các con đường tư duy như quy nạp, diễn dịch Ở mỗi con đường có 3 cách làm, tùy nội dung tài liệu sách giáo khoa
Bước 4: Kết thúc bài diễn giảng
Cái đích của bài giảng cần phải đạt tới là ở bước này Những kết luận đưa ra là những câu trả lời sắc bén, đầy đủ và thuyết phục cho những câu hỏi đã đặt ra ở bước 2
Có hai con đường diễn giảng để đi đến kết luận của bài học, đó là con đường quy nạp và con đường diễn dịch Cấu trúc bài giảng theo con đường này hoặc con đường kia có thể do tác giả sách giáo khoa biên soạn hoặc do chính người giáo viên tự biên soạn lại dựa trên nội dung của sách giáo khoa
1.2 Phương pháp đàm thoại gợi mở
Đàm thoại có nghĩa là hỏi đáp Song nếu trong dạy học các câu hỏi đáp lẻ không có ý đồ nối tiếp nội dung bài giảng, nối tiếp các hoạt động của thầy và trò, hơn nữa, không có ý đồ phát triển trí tuệ học sinh thì đó không phải là phương pháp đàm thoại Thực chất ngày nay chúng ta hiểu, khi dùng phương pháp đàm thoại, cần đặt ra một hệ thống câu hỏi để thầy và trò cùng làm việc, vừa mang tính nhất quán (câu hỏi trước là cơ sở để trả lời câu hỏi sau, sao cho các câu trả lời đúng của học sinh, đặc biệt
là học sinh trả lời cuối cùng sẽ đưa đến một nội dung nào đó trong bài học, thay vì thầy phải giảng nội dung đó), vừa mang tính cấu trúc của câu hỏi (gợi mở) với ý đồ học tập cho học sinh tư duy một vấn đề khoa học Nếu gọi tên đầy đủ thì đây là phương pháp đàm thoại gợi mở Tuy nhiên để cho ngắn gọn gọi là phương pháp đàm thoại
Vậy, đàm thoại là phương pháp mà trong đó thầy đặt ra một hệ thống câu hỏi để một hoặc một số học sinh lần lượt trả lời dưới sự chỉ đạo của thầy, qua đó trò lĩnh hội được nội dung bài học một cách tích cực
Cách tổ chức hoạt động bằng Phương pháp đàm thoại:
Mô hình thứ nhất: đối thoại thầy trò riêng biệt (kiểu bóng bàn)
Ở mô hình này, thầy có một hệ thống nhiều câu hỏi cho một học sinh Có thể thầy chủ định gọi một học sinh hoặc để học sinh xung phong trả lời Thầy làm việc với học sinh đó cho đến câu hỏi cuối cùng Nguồn thông tin tổng hợp cho cả lớp là tổng hợp các câu trả lời tương ứng Vấn đề là ở chỗ, độ khó của câu hỏi cuối cùng trong hệ thống câu hỏi có phù hợp với học sinh hay không
Trang 14Tuy nhiên, chúng ta thấy kiểu đàm thoại “bóng bàn” này cũng bộc lộ nhược điểm là: cuộc thoại thầy với một trò khá đơn điệu, dù rằng cuối cùng học sinh ấy có khả năng trả lời và tổng hợp được khái niệm mới Có thể lúc này chỉ có hai người làm việc (thầy trò đánh bóng bàn với nhau), những học sinh khác sẽ không dễ theo dõi cuộc thoại ấy, đôi khi họ nghĩ rằng thầy giáo đã bỏ quên họ
Mô hình thứ hai: đối thoại thầy – trò kết hợp (kiểu bóng chuyền)
Ở mô hình này, thầy dùng một câu hỏi ở mức độ tương đối khó, cho một học sinh nào đó Khi em đó còn chưa biết trả lời ra sao thì thầy “tung” tiếp một vài câu gợi
ý cho các học sinh khác Các câu trả lời của các em này là sự gợi ý cho học sinh đầu tiên trả lời câu hỏi chính Có thể những câu gợi ý của thầy là những cái “bẫy” tập cho học sinh tránh những sai lầm trong quá trình tìm ra chân lí… Tất nhiên chân lí cuối cùng là thầy phát biểu hoặc thầy chỉ đạo cho học sinh tự điều chỉnh rồi chính xác hóa kết quả
Mô hình thứ ba: Thảo luận (kiểu bóng rổ)
Câu hỏi đặt ra là một vấn đề để học sinh thảo luận, các em thảo luận tranh luận trong nhóm (truyền bóng cho nhau) để sau đó một học sinh đại diện trả lời (đưa bóng vào rổ), thầy có thể chia nhỏ lớp học để có nhiều nhóm tranh luận Đây chính là một hình thức tổ chức của phương pháp dạy học khám phá
1.3 Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Thông thường ta vẫn gọi là “phương pháp dạy học nêu vấn đề” Thật ra đây là một kiểu phương pháp chuyên biệt, theo một cấu trúc mà trong đó mọi hoạt động của thầy đều hướng vào một mục đích là kích thích và hỗ trợ để học sinh tìm kiếm lời giải của bài toán, giữ nhiệm vụ trung tâm chỉ đạo Đó là việc xây dựng bài toán “tìm tòi” ơrictic (Ở đây hiểu khái niệm “bài toán” theo nghĩa rộng, tức là một nhiệm vụ học tập, bài toán nhận thức hay bài toán học tập) Cách xây dựng này đã lôi kéo học sinh tự giác tham gia vào giải quyết nhiệm vụ học tập của mình Bài toán nhận thức có thể được xây dựng trên cơ sở một phương pháp dạy học cụ thể hóa đó như diễn giảng, thuyết trình, thí nghiệm, lúc đó các phương pháp này được gọi là diễn giảng nêu vấn
đề, thí nghiệm nêu vấn đề,
Ta có thể nhận biết và tiếp cận phương pháp dạy học nêu vấn đề bằng 3 đặc trưng cơ bản của nó
Trang 15Giáo viên đặt ra trước học sinh bài toán nhận thức (tình huống có vần đề) nhưng được cấu trúc một cách sư phạm để tình huống đó trở thành tình huống có vấn
đề đối với học sinh
Học sinh có tiếp nhận được tình huống đó để trở thành nhiệm vụ học tập của mình hay không Tức là lúc đó, trong học sinh xuất hiện trạng thái tâm lí đặc biệt, có nhu cầu bức bách muốn giải quyết bằng được tình huống đó, bằng cách các em đề xuất được một số giả thuyết để giải bài toán nhận thức
Bằng cách tổ chức để học sinh tham gia giải bài toán nhận thức như vạch kế hoạch các bước tiến hành kiểm tra giả thuyết khẳng định giả thuyết đúng… các em
học được kiến thức và cách giải bài toán, để có niềm vui sáng tạo (“Eureka!”)
Cấu trúc dạy học nêu vấn đề
Nhìn chung dạy học nêu vấn đề cũng được chia thành 3 giai đoạn như một bài nói hay một bài viết: mở đầu, giải quyết vấn đề (hay chứng minh vấn đề) và kết luận vấn đề Tuy nhiên nếu nhìn vào các bước thực hiện bên trong của các giai đoạn dạy học nêu vấn đề thì đó là quá trình kích thích để có những ý tưởng sáng tạo của học sinh
Giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề: đây không phải là một sự mở bài bình thường, dù sự mở đầu ấy có thể đưa ra được một tình huống Song nếu tình huống được xuất hiện một cách đột ngột thì ở học sinh chưa thể xuất hiện trạng thái tâm lí đặc biệt mà người ta gọi là tình huống có vấn đề được Giờ học như vậy chỉ mang tính chất kích thích sự chú ý của học sinh vào những sự giải quyết tiếp theo của thầy
Ở đây, xây dựng tình huống có vấn đề là nhằm “dẫn dắt” học sinh đi từ chỗ sự việc, hiện tượng xảy ra có vẻ hợp lí đến chỗ không còn hợp lí nữa, hoặc đi từ những vấn đề học sinh biết nhưng biết chưa chính xác, đến chỗ ngạc nhiên, cần biết chính xác,… để rồi các em bị “rơi” vào trạng thái tâm lí bức xúc, mong muốn giải quyết bằng được tình huống gặp phải Cho nên đây là giai đoạn quyết định cho kiểu dạy học nêu vấn đề Để cấu trúc được giai đoạn này cho một bài dạy học nêu vấn đề không những người giáo viên tìm những tình huống cho phù hợp nội dung bài học mà còn phải biết “chuyển và cấy” tình huống đó vào học sinh Đó là giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề
Trang 16Kết thúc giai đoạn một là phát biểu vấn đề Bước này nhằm tóm tắt lại tình huống đã đặt ra đồng thời có thể dựa vào đó để biết học sinh có bị “rơi” vào tình huống có vấn đề hay không Tốt nhất là để các em phát biểu tình huống
Giai đoạn giải quyết vấn đề: Ở giai đoạn này có hai bước quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong quá trình dạy học Đó là, học sinh đề xuất được các giả thuyết và học sinh
có khả năng lập kế hoạch để kiểm tra giả thuyết (chủ yếu trong khoa học tự nhiên) hoặc có khả năng phân tích, lí giải để chứng minh giả thuyết đúng Nếu như học sinh
đề xuất được giả thuyết (dù rằng có giả thuyết gần đúng, có giả thuyết không tinh tế lắm, thậm chí có phần ngớ ngẩn), có nghĩa là các em đã ở trong tình huống có vấn đề, tức là phương pháp này đã thành công một phần quan trọng Nếu các em thờ ơ, không
có ý kiến gì cả hoặc ngay lập tức đã có giả thuyết duy nhất đúng thì chúng ta phải xem lại tình huống có quá khó hoặc quá dễ hay không Để có giả thuyết hay từ học sinh, giáo viên cần trao đổi và có những gợi ý cần thiết
Bước tiếp theo là vạch kế hoạch kiểm tra giả thuyết và tiến hành kiểm tra (hoặc
lí giải chứng minh) giả thuyết Vì thời gian không cho phép, giáo viên cần trao đổi ngắn gọn với học sinh, lập luận để loại trừ sớm những giả thuyết có vẻ ngớ ngẩn (nhưng cũng cần động viên, không nên tỏ ra chê bai tác giả của chúng), tập trung vào giải quyết giả thuyết còn lại Cho nên việc quay trở lại tìm giả thuyết khác để kiểm tra tiếp (sau khi đánh giá thấy chưa đúng) chỉ là nguyên tắc, không thể thực hiện được trong dạy học Tuy nhiên trong một số trường hợp, vấn đề ngắn gọn, kiểm tra nhanh (diễn giảng, thuyết trình) diễn giả vẫn thực hiện “chu trình” đó
Giai đoạn vận dụng: Cũng giống như các phương pháp dạy học khác, kết thúc bài học bao giờ cũng là sự vận dụng kiến thức mới thu được vào thực tế cuộc sống, thực tế địa phương (hay còn gọi là liên hệ thực tế) Tuy nhiên giai đoạn vận dụng ở phương pháp dạy học nêu vấn đề mang màu sắc tâm lí phấn chấn hơn ở học sinh, bởi
vì kiến thức có được ở đây là do chính các em tìm ra Các kiến thức đó sẽ làm chính xác hóa những gì các em đã ngộ nhận, đã không biết (nếu quay lại các vấn đề đã nêu ở giai đoạn một để giải thích), hoặc các em có thể giải thích những vấn đề khác trong thực tế mà trước nay chưa được biết đến Điều thú vị là trong khi làm những việc đó
có thể các em lại vấp phải những vấn đề mới, một tình huống mới xuất hiện để giải quyết tiếp hoặc để nối tiếp bài học hôm sau
Trang 171.4 Phương pháp dạy học khám phá
Dạy học khám phá không phải là một phương pháp dạy học mới lạ mà chỉ là một cách tổ chức dạy học theo bất kì phương pháp nào, song trong tiến trình giảng dạy, người giáo viên thiết kế xen kẽ các nhiệm vụ học tập mang tính tình huống để học sinh tự giải quyết trong một thời gian ngắn (khoảng 2-3 phút) Các nhiệm vụ này có thể là các nhiệm vụ khám phá, chúng phải phù hợp với nội dung và tiến trình bài học
Cấu trúc của dạy học khám phá thường có hai hình thức như sau:
Thứ nhất: Giáo viên tác động trực tiếp và chủ yếu vào nội dung tài liệu học và cũng tự mình mang kiến thức đó đến cho học sinh Đối với những giáo viên có kinh nghiệm, trong giờ học còn có hướng tác dụng từ họ đến học sinh, đó là những lúc đàm thoại, trò chuyện, hướng dẫn giải bài tập tại lớp
Thứ hai: Trong giờ học, giáo viên có chuẩn bị những nhiệm vụ khám phá để học sinh làm việc trong lớp Kiến thức mà học sinh có được từ bài học là do giáo viên mang đến và cũng một phần do tự các em tìm kiếm thông qua việc giải quyết các nhiệm vụ khám phá
Cho nên đặc trưng để nhận biết một giờ dạy khám phá được thể hiện qua các nhiệm vụ khám phá và chất lượng giờ dạy học khám phá cũng sẽ thể hiện bằng chất lượng của các nhiệm vụ khám phá được giáo viên thiết kế cũng như việc tổ chức cho
học sinh giải quyết nhiệm vụ khám phá ấy
Đặc trưng của dạy học khám phá:
Muốn nói đến đặc trưng của dạy học khám phá thì phải nói đến các đặc trưng của nhiệm vụ khám phá trong giờ học khám phá
Nhiệm vụ khám phá (NVKP) là một tình huống trong học tập được giao cho học sinh mà độ khó của nó sao cho học sinh có thể giải quyết được trong một thời gian ngắn để bài học có thể tiếp tục cùng với kết quả của lời giải mà học sinh đã đạt được
Về nội dung NVKP phải phù hợp với nội dung bài học Cho nên:
- NVKP là một tình huống xuất hiện trên con đường tiến triển của bài học
- NVKP có thể là một yêu cầu học sinh tìm kiếm nhanh trong thực tế, trong nội dung kiến thức cũ để làm ví dụ cho bài học hoặc làm bước đệm tiếp nối đoạn bài học tiếp theo
- NVKP có thể là một yêu cầu suy luận từ kết quả của một thí nghiệm vừa mới thực hiện,…
Trang 18Về hình thức, NVKP có thể ra dưới hình thức một câu hỏi thuần túy bằng lời sau khi giảng hoặc sau khi xem một đoạn phim, một mệnh lệnh, một yêu cầu tìm kiếm
ví dụ thực tế, một câu đố hoặc giải đáp một bức tranh vẽ sẵn trên giấy phát cho học sinh, chiếu lên màn hình Tuy nhiên, các nhiệm vụ khám phá không phải là một vấn đề quá khó mà học sinh không thể giải quyết ngay trong giây phút và cũng không quá dễ đến mức học sinh không cần tư duy, không cần trao đổi với nhau cũng vẫn trả lời được
NVKP phải hấp dẫn và được giao thẳng cho học sinh Cần phân biệt NVKP với các câu hỏi trong phương pháp dạy học đàm thoại hoặc những câu hỏi thông thường khác mà giáo viên đặt ra cho học sinh trả lời chỉ với mục đích làm cho giờ học thêm sinh động Tính hấp dẫn của nhiệm vụ được giao phụ thuộc vào nội dung tình huống (học sinh có cảm giác dễ mà không thể phát biểu ngay, cần trao đổi bàn bạc cho chắc chắn, cần tích cực tư duy một chút, ) phụ thuộc vào hình thức ra tình huống (không đơn điệu, một chút dí dỏm, ) nó cuốn hút học sinh vào hoạt động học tập
Hoạt động học tập giải quyết NVKP chủ yếu tập trung vào các hoạt động nhóm, lớp học sinh đông một cách thực sự
Các phương tiện dạy học hiện đại sẽ tạo cho giáo viên thiết kế cũng như giao NVKP trên lớp thêm phong phú
Mỗi một NVKP được thiết kế có thể coi là một khám phá của giáo viên, vì vậy
phương pháp dạy học này sẽ kích thích sự khám phá của giáo viên
1.5 Khái niệm về kiểu nhóm
Nhóm dài hạn: Nhóm này được thành lập cho mục đích học tập nào đó, không phải trong lớp học, kéo dài thời gian trong ngày hoặc rải ra trong tuần
Nhóm đôi (Pairwork): Nhóm này có hai người, thường dùng trong học ngoại ngữ (trong lớp, ngoài lớp) để cùng nhau rèn luyện các kĩ năng nghe nói
Nhóm thảo luận (hoặc nhóm tạm thời): Tổ chức ngay trong lớp học để thảo
luận, khám phá theo yêu cầu của giáo viên
2 Đổi mới phương pháp dạy học
2.1 Đổi mới nội dung dạy học
Ở đây đặc biệt nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa mục đích và nội dung và giữa nội dung với phương pháp Trong nhiều thập kỉ qua, chúng ta đã nhiều lần thay đổi nội dung dạy học ở trường phổ thông Mỗi lần thay đổi xuất phát từ những yêu cầu nhất
Trang 19định của nhà nước, của Bộ chủ quản Song, như trong bài viết của Lê Hải Châu trên
tạp chí Tia sáng (4/2002) “Môn toán ở trường Phổ Thông” về vấn đề thay đổi sách
giáo khoa ở nước ta, có nói: “… những thay đổi, dù thường xuyên chỉ là đưa lên, đưa xuống, thêm chỗ này bớt chỗ kia, còn trên căn bản đến đầu thế kỉ 21 này phải thừa nhận rằng chúng ta vẫn dạy toán theo kiểu những năm 50 của thế kỉ trước Cũng giống như các tòa nhà trong các khu tập thể cũ xây dựng từ những năm 60, tuy qua mấy chục năm có thay đổi nhiều, nhưng căn bản chỉ là cơi nới đằng trước, đằng sau, bên phải, bên trái,… còn chỉ là một kiến trúc cũ kỉ, lạc hậu, khác xa những nhà hiện đại bây giờ”
Ở một khía cạnh khác, nội dung lại là phương tiện để chuyển tải phương pháp
tư duy, phương pháp làm việc khoa học, là phương tiện để người giáo viên tổ chức cách thức học tập cho học sinh Nói một cách ngắn gọn, nội dung phải tạo điều kiện để người giáo viên có thể thực hiện các phương pháp dạy học tích cực
2.2 Đổi mới PPDH
Có thể tóm gọn bản chất các phương pháp truyền thống như sau:
Thầy là nhân vật trung tâm
Các hoạt động dạy học chủ yếu là sự truyền đạt các kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa và của thầy với sự tham gia thụ động của học sinh
Hình thức tổ chức học tập nghèo nàn, đơn điệu
Thầy là quyền uy, là nhân vật đánh giá duy nhất và quyết định toàn bộ tiến trình dạy học theo cách thức đã định sẵn
Những mặt mạnh của phương pháp truyền thống như: kiến thức hàn lâm, đầy
đủ, vững chắc, học sinh học trật tự, nghiêm túc,…cũng không thể khỏa lấp được nhũng điểm yếu của phương pháp này Dĩ nhiên, kiến thức có giá trị riêng của nó nhưng không một ai lại nghĩ rằng giáo dục chỉ đơn giản thu thập kiến thức và sự kiện Carl Rogers đã viết : “Các bạn đừng làm một toa xe chở đầy đạn, các bạn hãy làm một khẩu súng bắn được”
Đối nghịch của những điểm yếu trên lại chính là cái mà phương pháp dạy học mới cần đến để có thể đáp ứng được mẫu người mà xã hội của nền kinh tế tri thức cần
Dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh chủ yếu nằm theo 3 hướng mà tên gọi của chúng (kiểu phương pháp) không chỉ nằm trong phạm trù phương pháp mà còn là mục tiêu đào tạo con người
Trang 20Dạy học nêu vấn đề: Kiểu dạy học này đặt nặng vào việc thầy (cùng trò) xây dựng tình huống có vấn đề để trò có thể đưa ra giả thuyết giải quyết bài toán nhận thức
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học tình huống) Kiểu dạy học này đặt mạnh vào việc giải quyết bài toán nhằm rèn luyện năng lực ứng xử và năng lực giải quyết các tình huống trong cuộc sống cũng như trong công tác Đây là một trong những năng lực quan trong nhất mà nhà trường cần hình thành và phát triển cho con người
Dạy học khám phá: Kiểu dạy học này được xây dựng trên bốn giả thuyết cho cách học mới
- Học trong hành động
- Học là vượt qua trở ngại
- Học trong tương tác ( người – người, người – xã hội)
- Học thông qua giải quyết vấn đề
2.3 Đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá
Đánh giá giáo dục cũng nằm trong hệ thống các môn học sư phạm cốt lõi Tuy nhiên, ai cũng biết rằng dạy theo kiểu gì thì đánh giá phải thích hợp với hiệu quả của kiểu dạy học ấy Ở đây chúng ta không bàn đến kiểu kiểm tra tự luận hay trắc nghiệm
mà sẽ nói đến 2 yếu tố cơ bản cần đổi mới
Đổi mới mục đích kiểm tra và đánh giá: ba tiêu chí đầu tiên để đánh giá học sinh là: Kiến thức, hiểu và vận dụng ( K-H-V) Như vậy là chúng ta không chú ý nhiều đến tính hàn lâm, học thuộc lòng của học sinh nữa Dù thời gian ngắn hay dài, khi thiết
kế bài kiểm tra cần chú ý ba yếu tố trên Với tiêu chí K-H-V, chúng ta đánh giá học sinh ở hai vấn đề: Tính chuẩn xác của kiến thức thu lượm được và nguyên nhân của những lỗi lầm trong phương pháp nhận thức
Đa dạng hóa hình thức kiểm tra và đánh giá: Phương pháp truyền thống dựa trên hình thức kiểm tra là viết từ học sinh theo yêu cầu nhất định của thầy Trong phương pháp dạy học mới, cách kiểm tra trên vẫn duy trì nhưng việc đánh giá không chỉ dựa trên hai kết quả ấy mà còn dựa vào nhiều kì kiểm tra khác Thầy có thể đánh giá học sinh thông qua các lần tiếp xúc, trao đổi với học sinh, qua thảo luận, qua kết quả các hoạt động học phong phú của học sinh Đôi khi học sinh cũng tham gia vào đánh giá mình Những đánh giá ấy phải được thực hiện thường xuyên thì mới chính xác và kịp thời khích lệ học sinh
Trang 21Vậy là có hai nhân vật cùng đánh giá kết quả của học sinh: Thầy đánh giá trò và trò tự đánh giá mình Theo quan điểm hiện đại, việc trò tự đánh giá là quan trọng hơn
cả Thông qua bài kiểm tra, thông qua thảo luận, thông qua trao đổi với thầy … trò sẽ vừa biết mức độ chính xác của kiến thức, vừa cảm nhận một cách sâu sắc mức độ phát
triển của mình
2.4 Khai thác tối đa các phương tiện kĩ thuật hiện đại
Ngày nay con người có trong tay những phương tiện kĩ thuật hiện đại phục vụ đắc lực cho mọi ngành kinh tế, xã hội và đó cũng là khả năng tuyệt vời cho ngành giáo dục biết khai thác triệt để chúng Biết rằng không có một phương tiện nào có thể thay thế được người thầy trong quá trình dạy học nhưng thời đại thông tin sẽ làm tăng thêm gấp nhiều lần khả năng của người thầy trong các hoạt động dạy và hỗ trợ, kích thích mạnh mẽ các hoạt động học của học sinh Chỉ nói tới chiếc máy tính thôi, với những phần mềm hiện có, người giáo viên có thể thiết kế những bài giảng phong phú về nội dung, đa dạng về phương pháp và cập nhật nhanh chóng Hệ thống Internet là kho tàng thông tin khổng lồ bao giờ cũng là một sân chơi thú vị phục vụ hoạt động của học sinh
Một khía cạnh khác không kém phần quan trọng trong cuộc cách mạng học đường, đó là các thiết bị trường học như phòng ốc, bàn ghế, sân chơi, thư viện, phòng thí nghiệm, cần được cải tiến hoặc trang bị phù hợp với các phương pháp nội dung dạy học mới Hiện nay các phương tiện mới của nhà trường chúng ta đã quá cũ kĩ, lạc hậu (từ bàn ghế, bảng viết), đã cản trở không nhỏ đến những người đi tiên phong trong việc thử nghiệm các phương pháp dạy học tích cực
3 Dạy học Vật lý
Đặc thù của môn Vật lý là môn học gắn liền với thực nghiệm, gắn liền với những định luật Do vậy khi dạy học vật lý cần có những phương pháp và phương tiện
dạy học riêng phù hợp với những đặc thù trên
3.1 Các nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Căn cứ vào mục tiêu chung của hệ thống giáo dục quốc dân, của nhà trường phổ thông, căn cứ vào vị trí và đặc điểm của bộ môn Vật lý, việc dạy học Vật lý ở trường phổ thông có các nhiệm vụ cơ bản như sau:
M
Mụụụục tic ti c tiêu ki êu kiêu kiếếếến thn thn thứ ức: c:
- Các hiện tượng Vật lý
Trang 22- Các khái niệm vật lý
- Các định luật vật lý
- Nội dung chính của các thuyết vật lý
- Các thí nghiệm vật lý cơ bản
- Một số kiến thức về lịch sử vật lý, các tư tưởng và phương pháp nghiên cứu vật
lý, các ứng dụng quan trọng của vật lý trong kĩ thuật và công nghệ
Hệ thống kiến thức phổ thông về cơ học, vật lý phân tử và nhiệt học, điện học,
quang học, vật lý nguyên tử và hạt nhân được trình bày theo quan điểm hiện đại, gắn
liền với cuộc sống và góp phần chuẩn bị tiềm lực cho học sinh tham gia lao động sản xuất, đồng thời tiếp tục học tập nâng cao trình độ
Mục tiêu kỹ năng: Trong dạy học vật lý phải chú ý rèn luyện cho học sinh
những kỹ năng sau:
Các kỹ năng thu lượm thông tin về vật lý từ quan sát thực tế, thí nghiệm, điều tra, sưu tầm tài liệu, tìm hiểu trên các thông tin đại chúng, khai thác mạng internet (nếu điều kiện cho phép)
Các kỹ năng xử lý thông tin về vật lý học như: Xây dựng bảng, biểu đồ, vẽ đồ thị, rút ra kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận tương tự, khái quát hóa,…
Các kỹ năng truyền đạt thông tin về vật lý như: thảo luận khoa học, báo cáo viết…
Kỹ năng sử dụng kiến thức để giải thích hiện tượng và giải các bài tập vật lý phổ thông
Kỹ năng thực hành vật lý, bao gồm các kỹ năng sử dụng các dụng cụ đo lường vật lý đơn giản, kỹ năng lắp đặt các thí nghiệm vật lý đơn giản
Khả năng đề xuất dự án khoa học và phương án thí nghiệm kiểm tra
Mục tiêu tình cảm, thái độ, tác phong: Trong dạy học vật lý cần chú ý bồi
dưỡng cho học sinh những tình cảm, thái độ và tác phong mà môn vật lý có nhiều ưu thế để thực hiện, đó là:
Sự hứng thú học tập môn vật lý, nói rộng hơn là lòng yêu thích khoa học
Ý thức sẵn sàng áp dụng những hiểu biết về vật lý của mình vào các hoạt động trong gia đình và xã hội để cải thiện điều kiện sống và bảo vệ môi trường
Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, tỉ mỉ
Tính trung thực trong khoa học
Trang 23Tinh thần nỗ lực phấn đấu cá nhân, kết hợp chặt chẽ với tinh thần hợp tác trong
lao động học tập và nghiên cứu Ý thức tự học cũng như học hỏi người khác
Quá trình hình thành kiến thức vật lý cho học sinh bao gồm: quá trình hình thành khái niệm, quá trình hình thành định luật, quá trình hình thành các thuyết…
Về phương pháp dạy học thì môn vật lý cũng có thể áp dụng những phương pháp dạy học đã trình bày Sau đây tôi chỉ trình bày phương pháp thực nghiệm
3.2 Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý
Phương pháp thực nghiệm trong quá trình sáng tạo khoa học được vận dụng trong quá trình dạy học vật lý Thực chất của phương pháp dạy học này là ở chỗ: Giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh theo các bước tương tự như các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm trong quá trình sáng tạo khoa học,
để phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức, làm cho học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách sâu sắc, vững chắc, đồng thời qua đó góp phần phát huy năng lực sáng tạo của học sinh
Tất nhiên khi áp dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý giáo viên phải sử dụng thí nghiệm (dưới dạng thí nghiệm biểu diễn của giáo viên và thí nghiệm của học sinh làm) Không sử dụng thí nghiệm thì không thể nói đến phương pháp thực nghiệm Nhưng cũng cần lưu ý rằng, điều này không có nghĩa là
hễ cứ có sử dụng thí nghiệm trong dạy học thì đã là áp dụng phương pháp thực nghiệm như vừa nói ở trên Bởi vì trong dạy học vật lý, có khi thí nghiệm được sử dụng chỉ như một phương tiện trực quan đơn thuần, chứ không phải là nó được thiết lập và thực hiện trong tiến trình nghiên cứu theo đòi hỏi của việc xác lập hoặc kiểm tra một giả thuyết nào đó Việc sử dụng thí nghiệm trong trường hợp như thế thì không phải theo tinh thần áp dụng Phương pháp thực nghiệm của vật lý học
Các giai đoạn trong của phương pháp thực nghiệm trong giảng dạy vật lý:
Để giúp học sinh bằng những hoạt động của bản thân mình mà tái tạo, chiếm lĩnh được các kiến thức vật lý thì tốt nhất giáo viên phỏng theo phương pháp thực nghiệm của các nhà khoa học mà tổ chức cho học sinh hoạt động theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Giáo viên mô tả một hoàn cảnh thực tiễn hay biểu diễn một vài thí nghiệm và yêu cầu các em dự đoán diễn biến của hiện tượng, tìm nguyên nhân
Trang 24hoặc xác lập một mối quan hệ nào đó, tóm lại là nêu lên một câu hỏi mà học sinh chưa biết câu trả lời, cần phải suy nghĩ tìm tòi mới trả lời được
Giai đoạn 2: Giáo viên hướng dẫn, gợi ý cho học sinh xây dựng một câu trả lời
dự đoán ban đầu, dựa vào sự quan sát tỉ mỉ, kĩ lưỡng, vào kinh nghiệm của bản thân, vào những kiến thức đã có, (ta gọi là xây dựng giả thuyết) Những dự đoán này có thể còn thô sơ, có vẻ hợp lý nhưng chưa chắc chắn
Giai đoạn 3: Từ giả thuyết dùng suy luận logich hay suy luận toán học suy ra một hệ quả: Dự đoán một hiện thượng trong thực tiễn, một mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý
Giai đoạn 4: Xây dựng và thực hiện một phương án thí nghiệm để kiểm tra xem
hệ quả dự đoán ở trên có phù hợp với kết quả thực nghiệm không Nếu phù hợp thì giả thuyết trên trở thành chân lý, nếu không phù hợp thì phải xây dựng giả thuyết mới
Giai đoạn 5: Ứng dụng kiến thức, học sinh sử dụng kiến thức để giải thích hay
dự đoán một số hiện tượng trong thực tiễn, để nghiên cứu các thiết bị kỹ thuật Thông qua đó trong một số trường hợp, sẽ đi tới giới hạn áp dụng của kiến thức và xuất hiện mâu thuẫn nhận thức mới cần giải quyết
Trang 25CHƯƠNG II
SƠ LƯỢC CÁC PHẦN MỀM HỖ TRỢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I Các phần mềm hỗ trợ thiết kế website
1 Phần mềm Flash Menu Labs Pro V2
Flash Menu Labs Pro V2 là phần mềm dùng để thiết kế menu động cho website, tạo ra các menu dạng sổ ngang, dọc giúp người dùng sử dụng website một cách hiệu quả Với phần mềm này người thiết kế có nhiều lựa chọn với những mẫu có sẵn hoặc
tự tạo ra một mẫu menu động cho riêng mình một cách dễ dàng
Hình 2.1: Giao diện làm việc của Flash Menu Labs Pro V2 Cài đặt phần mềm: cài đặt như mọi phần mềm chuyên dụng khác
Sau khi thiết kế xong một menu động vừa ý người dùng dễ dàng chèn vào trang web với chức năng xuất bản ra các đoạn code và có thể dễ dàng chỉnh sửa các liên kết trong menu với các file xuất ra dưới dạng xml hoặc có thể sửa toàn bộ menu với file nguồn có định dạng fml
Dưới đây là đoạn code giúp ta chỉnh sửa liên kết một cách dễ dàng:
<?xml version="1.0"?>
<menu type="slide down pro v 2.0">
Trang 26<media_to_load lev0_top_path=""
lev0_mid_normal_path="menu_data/lev0_normal.swf"
lev0_mid_mouseover_path="menu_data/lev0_mouseover.swf"
lev0_mid_selected_path="menu_data/lev0_mouseover.swf" lev0_bottom_path="" lev0_arrow_path="menu_data/lev0_arrow.swf"
call_function_name="" call_function_parameter="" take_level_colorize_data="1"/>
<item text="Vật Lý 11" url="D:\Web\Thi nghiem\Vat ly 11\Vat ly 11.html" icon="" open_window="mainFrame"
call_function_name="" call_function_parameter="" take_level_colorize_data="1"/>
<item text="Vật Lý 12" url="D:\Web\Thi nghiem\Vat ly 12\Vat ly 12.html" icon="" open_window="mainFrame"
call_function_name="" call_function_parameter="" take_level_colorize_data="1"/>
</item>
<item text="Bài Tập" url="" icon="" open_window="" call_function_name="" call_function_parameter="" take_level_colorize_data="1">
Trang 27<item text="Tóm Tắt Lý Thuyết" url="" icon="" open_window="" call_function_name="" call_function_parameter=""
take_level_colorize_data="1"></item>
<item text="Bài Tập" url="" icon=""
open_window="" call_function_name="" call_function_parameter=""
Trang 28Hình 2.3: Giao diện làm việc của Sothink Glanda
3 Phần mềm SnagIt10
SnagIt 10 là một phần mềm giúp chúng ta có thể quay lại các hoạt động diễn
ra trên màn hình máy tính, chụp ảnh màn hình hay tất cả những gì diễn ra trên màn hình File được tạo ra có định dạng jpg, avi….dễ dàng sử dụng cho website
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi còn sử dụng đến những phần mềm đồ họa: Photoshop, Xilisoft Video Converter…
II Phần mềm mô phỏng thí nghiệm vật lý Crocodile Physics 605
Crocodile Physics 605 là phần mềm mô phỏng các thí nghiệm vật lý hay có thể nói đây là một phòng thí nghiệm vật lý ảo giúp giáo viên và học sinh có thể làm việc hiệu quả hơn trong hoạt động dạy và học Với Crocodile Physics 605 chúng ta có thể tạo ra hầu hết các thí nghiệm ảo ở các chủ đề: cơ học, điện học, quang học, sóng…
Về cài đặt chương trình thì cách cài đặt thì Crocodile Physics cũng như các phần mềm khác Trong phạm vi đề tài sẽ không đề cập đến cách cài đặt Crocodile Physics
1 Khởi động chương trình
Khi đã cài đặt chương trình ta có thể vào chương trình bằng rất nhiều cách:
Khởi động từ Start menu: bạn có thể khởi động chương trình từ Start menu,
xem hình dưới đây:
Trang 30giáo viên Có một số thiết bị không kí hiệu theo quy ước nhưng rất dễ nhận ra đó là thiết bị gì Thiết bị được tổ chức theo từng ngăn lớn, trong mỗi ngăn lớn lại có các ngăn nhỏ:
Electronics: Các dụng cụ thí nghiệm điện, điện tử
Optics: Các dụng cụ thí nghiệm quang học
Motion & Forces: Các dụng cụ thí nghiệm cơ học
Wave : Các dụng cụ thí nghiệm sóng âm, sóng cơ, sóng điện từ
Presentation: Các thiết bị trình diễn, hiển thị
Thanh công cụ:
Xóa đối tượng (Delete) Chọn đối tượng rồi ấn nút này để xóa đối tượng đó Tạo một bài thí nghiệm mới (Ctrl + N)
Mở một bài thí ngiệm đã có (Ctrl + O)
Lưu bài thí nghiệm đang tiến hành (Ctrl + S)
In một tài liệu (Ctrl + P)
Cắt một tượng được chọn lưu vào clipboard (Ctrl + X) Chọn các đối tượng cần cắt rồi ấn nút này Copy một tượng được chọn lưu vào clipboard (Ctrl + C) Chọn các đối tượng cần copy rồi ấn nút này Đưa một tượng đang có trong clipboard ra màn hình (Ctrl + V) (được thực hiện sau thao tác cắt, copy trước đó) Nút Undo (Ctrl + Z): Hủy thao tác vừa thực hiện
Nút Redo (Ctrl + Y): Thực hiện lại thao tác vừa hủy
Phóng to đối tượng
Hiển thị thuộc tính của màn hình đang làm việc
Cho chạy hoặc dừng thí nghiệm (Ctrl + Shift + P)
Trang 314 Thao tác trong Crocodile
Chọn đối tượng: Click mouse vào đối tượng hoặc drag mouse chọn một
vùng trên màn hình, các đối tượng có một phần trong khung chọn sẽ được chọn
Đưa dụng cụ thí nghiệm vào khung làm việc: Click chọn đối tượng trong kho rồi kéo thả vào khung làm việc
Thay đổi kích thước đối tượng:
- Chọn đối tượng, xuất hiện các núm xung quanh đối tượng
- Dùng mouse kéo để thay đổi kích thước đối tượng tại các núm này
Ta cũng có thể thay đổi kích thước bằng cách thiết lập thuộc tính của nó trong mục Properties (sẽ nói sau)
Di chuyển đối tượng : Click mouse vào đối tượng rồi kéo đến vị trí mới
Xoay đối tượng:
- Chọn đối tượng
- Đưa mouse vào núm tròn cạnh đối tượng, mouse biến thành hình
- Click giữ và kéo mouse để xoay đối tượng đến vị trí cần
Thay đổi thuộc tính đối tượng: Đối với một đối tượng, có những thuộc tính thay đổi được và không thay đổi được Ta vào Properties để tiến hành thay đổi.
- Chọn đối tượng.
- Thay đổi các thuộc tính cần thiết trong mục Properties
Cho dừng thời gian lại: Chức năng này sẽ làm cho đồng hồ của máy dừng lại và thí nghiệm sẽ không thực hiện nữa mà vào trạng thái chờ Các hiện tượng vật
lý dừng lại (pause)
Trang 32CHƯƠNG III THIẾT KẾ WEBSITE SỬ DỤNG ADOBE DREAMWEAVER CS4
I Tổng quan về website
1 Khái niệm cơ bản về website
Trang web chứa thông tin bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh và thậm chí cả video được kết hợp với nhau
Website là hệ thống các trang web liên kết với nhau và được đưa lên trên mạng internet hay lưu trên các thiết bị lưu trữ thông thường Đây là nơi giới thiệu những thông tin, hình ảnh về doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp (hay giới thiệu bất cứ thông tin gì) để khách hàng có thể truy cập ở bất kỳ nơi đâu, bất cứ lúc nào hay thông tin của các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể, trường học, cá nhân…
Để tạo nên một website cần phải có 3 yếu tố cơ bản:
- Cần phải có tên miền (domain)
- Nơi lưu trữ website (hosting)
- Nội dung các trang thông tin (web page)
- Website tĩnh do lập trình bằng ngôn ngữ HTML theo từng trang, không có cơ
sở dữ liệu và không có công cụ quản lý thông tin trên website Thông thường website tĩnh được thiết kế bằng các phần mềm như FrontPage, Dreamweaver, Đặc điểm của website tĩnh là ít thay đổi nội dung, sự thay đổi nội dung này thường liên quan đến sự thay đổi các văn bản đi kèm thể hiện nội dung trên đó
- Tên miền (domain): Tên miền chính là địa chỉ website trên internet chỉ tồn tại duy nhất một địa chỉ (tức là tồn tại duy nhất một tên miền)
Dịch vụ World Wide Web: World Wide Web (WWW) hoặc web là một dịch
vụ của internet
Trang 332 Ngôn ngữ HTML
2.1 Cơ bản về HTML
HTML là một ngôn ngữ lập trình web có thể nói dễ hiểu và dễ sử dụng nhất trong các ngôn ngữ lập trình Web Nó giúp cho người lập trình có thể dễ dàng thiết kế một website và đặt biệt là website tĩnh Tuy nhiên html có một nhược điểm là tính bảo mật không cao, thiết kế website động không hiệu quả bằng các ngôn ngữ lập trình web
khác
2.2 Các cặp thẻ trong HTML
Thẻ (tag) là một đoạn mã được giới hạn bởi cặp dấu ‘<’ và ‘>’ html có hai dạng thẻ: thẻ đơn và thẻ kép
Thẻ đơn: Chỉ có thể bắt đầu <TÊN THẺ>
Thẻ kép: Bao gồm hai thẻ, một thẻ bắt đầu và một thẻ kết thúc
<TÊN THẺ> Phần tử thông tin </ TÊN THẺ>
Tên thẻ không phân biệt chữ hoa chữ thường Các thẻ có thể lồng nhau
Nhiều cấu trúc thẻ có chứa các thuộc tính Các thuộc tính có thể đặt trong thẻ đơn hoặc thẻ bắt đầu của một thẻ kép
<TÊN THẺ thuộc tính 1 thuộc tính 2… tuỳ chọn 1 thuộc tính 2…>: Đối với thẻ đơn
<TÊN THẺ thuộc tính 1 thuộc tính 2… tuỳ chọn 1 thuộc tính 2…> phần tử thông tin
</TÊN THẺ>: Đối với thẻ kép
Cấu trúc cơ bản của một trang web html:
<html>
<head>
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=windows-1252">
<title>New Page 1</title>
<body>
</body>6
</html>
Trong đó: <html> và </html>: Đánh dấu điểm bắt đầu và kết thúc của một tài liệu
HTML, đồng thời báo cho trình duyệt biết phần tài liệu nằm giữa cặp thẻ này được viết bằng ngôn ngữ html
<head> và </head>: Chỉ định một phần giới thiệu và tiêu đề trang web Thẻ này có thể được bỏ qua
<body> và </body>: Đánh dấu nơi toàn bộ nội dung tài liệu xuất hiện Các thuộc tính của thẻ body:
<BODY BACKGROUND= “url” BGCOLOR= “color” BGPROPERTIES= “fixed”
Trang 34LEFTMARGIN = “n” LINK =“color” VLINK =“color” ALINK =“color” TEXT=“color”
LEFTMARGIN= “n”: Canh trái cho trang web theo pixel, n là một số nguyên dương xác định số pixel
LINK= “color”: Chỉ định màu cho các hyperlink khi chưa được được kích hoạt trong trang web
VLINK= “color”: Chỉ định màu cho các hyperlink được được kích hoạt trong trang web
ALINK= “color”: Chỉ định màu cho các hyperlink đã được được kích hoạt trong trang web
TEXt=“color”: Chỉ định màu văn bản trong trang web
TOPMARGIN= “n”: Canh lề trên trang web
<title> Tên trang web </title>: Chứa tiêu đề trang, tiêu đề này sẽ xuất hiện trên thanh tiêu đề của trình duyệt khi trang web được định vị Thẻ này chỉ được xuất hiện trong thẻ <head> và </head>
<meta>:được dùng để đưa vào các thông tin mà không được định nghĩa hay xác định
bởi phần tử khác trong phần head
II Phần mềm thiết kế website Adobe Dreamweaver CS4 là phần mềm dùng để
thiết kế web có thể nói là thịnh hành nhất hiện nay
1 Cài đặt và khởi động phần mềm
- Mua đĩa CD phần mềm Dreamweaver CS4
Đưa đĩa CD vào máy tính, extract phần mềm vào ổ cứng ta được thư mục chức các thư mục con và tập tin như hình 3.1
Trang 35Hình 3.1 Click vào file Setup để cài đặt Trình cài đặt tự động chạy đến khi xuất hiện hộp thoại sau:
Hình 3.2
click vào Install để cài đặt Trình cài đặt cài đặt Dreamweaver CS4 vào ổ cứng:
Trang 36Hình 3.3: Quá trình cài đặt DRWCS4 vào ổ cứng
Phần mềm cài đặt xong click Exit để hoàn tất:
Hình 3.4 Khởi động phần mềm: Bạn có thể khởi động phần mềm từ Start menu
Trang 372 Thiết kế website sử dụng Dreamweaver CS4
2.1 Giao diện chương trình và các chế độ làm việc
Sau khi khởi động phần mềm bạn gặp một giao diện sau:
Hình 3.5 Click chọn HTML(ngôn ngữ thực hiện đề tài) và vào vùng làm việc của Dreamwear CS4 (tạo một trang HTML):
Hình 3.6
Trang 38Giao diện chương trình như hình trên Các menu thanh công cụ tham khảo giáo trình Dreamweaver CS.
2.2 Thiết kế Website sử dụng Dreamweaver CS4 (DRWCS4)
2.2.1 Định nghĩa Website
Để thiết kế web trong DRWCS4 bạn cần phải định nghĩa website và tạo từng trang trong website đó Để định nghĩa wesite mới ta làm như sau: chọn thực đơn Site rồi chọn New Site xuất hiện hộp thoại sau:
Hình 3.7 Đặt lại tên Site vào ô có chữ Unnamed Site Ô dưới bạn để trống nếu bạn chưa đăng kí tên miền Nhấn enter để tiếp tục Chương trình tiếp tục với hộp thoại sau:
Hình 3.8 click Next ta gặp hộp thoại:
Trang 39Hình 3.9 nhập đường dẫn đến thư mục ảnh của website vào ô trống phía dưới Click Next bạn gặp hộp thoại mới thì click Done để hoàn tất việc định nghĩa Website mới
2.2.2 Thiết kế một trang web (Web Page)
Khởi động DRWCS4 và chọn HTML, nếu DRWCS4 được mở sẵn bạn chọn Flie/ New xuất hiện hộp thoại:
Hình 3.10 chọn HTML và nhấp Create bạn đã tạo được một trang html mới
Trang 40* Tùy chỉnh thuộc tính trang (Page Properties): các thuộc tính trang được
thể hiện ở panel phía dưới cùng Nếu panel này không hiển thị bạn chọn Modify rồi chọn page properties (hình 3.11)
Hình 3.11 Chọn page properties xuất hiện hộp thoại:
Hình 3.12sửa các thuộc tính như: title: Trang web…….Encoding: unicode (UTF – 8)
* Soạn thảo văn bản trên DRWCS4: sử dụng tương tự như trình soạn thảo
Micosoft Words
* Sử dụng bảng (table): để chèn bảng thực hiện thao tác: Insert/ Table xuất
hiện hộp thoại:
Hình 3.13