Chỉ thị số 29/2001/CT- Bộ giáo dục và đào tạo ngày 30/07/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về tăng cường giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp: Sư phạm Vật lý-Tin học K34 MSSV: 1087038
Cần Thơ, 4/2012
Trang 2Sau một thời gian làm việc, em đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong bộ môn sư phạm Vật lý đã truyền đạt cho em những vốn kiến thức quý báu, đã tạo điều kiện cho em học tập Riêng thầy Vương Tấn Sĩ, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất Thầy đã không ngại vất vả, mệt nhọc để đọc và góp ý rất nhiều cho luận văn của em
Mặc dù đã có những cố gắng rất nhiều nhưng do còn nhiều hạn chế về thời gian, nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô và các bạn để đề tài thêm hoàn thiện hơn
Cuối cùng một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài của mình
Sinh viên thực hiện:
Lâm Trường Hải
Trang 3GVHD: Vương Tấn Sĩ
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Ngày… Tháng… Năm 2012 Giáo viên hướng dẫn
Vương Tấn Sĩ
Trang 4Nhận xét của giáo viên phản biện
Ngày….Tháng….Năm 2012
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích của đề tài 6
3 Đối tượng nghiên cứu 6
4 Giả thuyết khoa học 6
5 Nhiệm vụ của đề tài 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
6.1 Nghiên cứu tài liệu 6
6.2 Tổng kết kinh nghiệm 7
6.3 Thực nghiệm sư phạm 7
7 Phạm vi nghiên cứu 7
8 Các giai đoạn thực hiện đề tài 7
9 Các chữ viết tắt trong đề tài 8
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 ĐỔI MỚI PPDH VL Ở THPT 9
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH VL Ở THPT 9
II ĐỔI MỚI PPDH VL Ở TRƯỜNG THPT 9
1 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học 9
1.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều 9
1.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh 10
1.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học 10
1.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện DH hiện đại vào quá trình DH 10
2 Những định hướng đổi mới PPDH theo chương trình THPT mới 10
2.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức cho HS tự học, tham gia vào giải quyết các vấn đề HT 10
2.2 Áp dụng rộng rãi kiểu DH nêu và giải quyết vấn đề 11
2.3 Rèn cho HS PP nhận thức VL 12
3 Đổi mới việc thiết kế bài học (soạn GA) 12
3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn GA 12
Trang 63.2 Các bước soạn GA 13
3.3 Nội dung của việc soạn GA 13
III CNTT góp phần đổi mới PPDH 14
1 Đổi mới PPDH theo quan niệm CNTT và truyền thông 14
1.1 Dạy và học theo quan điểm CNTT 14
1.2 CNTT với vai trò PTDH, TBDH 15
2 Ưu điểm của MVT trong DH Vật lý 15
2.1 Một số chức năng cơ bản của MVT có thể ứng dụng trong DH Vật lý 18
2.2 Vai trò hỗ trợ của MVT trong quá trình DH Vật lý 18
Chương 2 TỔNG QUAN VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ 22
I KHÁI QUÁT VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ 22
1 Khái niệm giáo án điện tử 22
2 Quy trình thiết kế giáo án điện tử 23
2.1 Xác định mục tiêu bài học 23
2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản của bài dạy, xác định đúng những nội dung trọng tâm của bài, cấu trúc các kiến thức cơ bản theo ý định bài dạy học 24
2.3 Multimedia hóa kiến thức 26
2.4 Xây dựng các thư viện tư liệu 26
2.5 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học
thông qua các hoạt động cụ thể 27
2.6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện 27
II CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ 28
1 Mục tiêu chính của việc xây dựng các bài giảng điện tử 28
2 Kỹ năng trình bày 28
3 Kỹ năng giảng bài 28
4 Đáp ứng tiêu chí tự học 28
5 Kỹ năng Multimedia 28
6 Soạn câu hỏi 28
7 Nguồn tư liệu 29
8 Từ khóa 29
Chương 3 THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ SỬ DỤNG PHẦN MỀM LECTUREMAKER 30
Trang 7I GIỚI THIỆU 30
II GIAO DIỆN VÀ CÁC MENU CỦA LECTUREMAKER 31
1 Giao diện 31
2 Các Menu 32
2.1 Menu Lecturemaker 32
2.2 Menu home 32
2.3 Menu Insert 33
2.4 Menu Control 33
2.5 Menu Design 33
2.6 Menu View 34
2.7 Menu Format 34
III HƯỚNG DẪN TẠO NÚT LỆNH TRONG LECTUREMAKER 35
1 Tạo các nút nhấn có chức năng di chuyển giữa các Slide, chạy, ngừng hoặc thoát khỏi bài giảng 35
2 Tạo nút lệnh có chức năng bất kỳ 36
IV CHÈN VĂN BẢN, CÔNG THỨC TOÁN, HÌNH VẼ, ẢNH, PHIM, FLASH 38
1 Chèn văn bản 38
2 Chèn công thức toán học 39
3 Chèn hình vẽ 40
4 Chèn đồ thị 41
5 Chèn ảnh 41
6 Chèn video 42
7 Chèn File Flash 43
8 Chèn Text, hình, câu hỏi trắc nghiệm và video nghe giảng 44
V NHẬP FILE POWERPOINT, PDF, WEBSITE 44
VI CHÈN CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 44
1 Chèn câu hỏi trắc nghiệm dạng trả lời ngắn 45
2 Chèn câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn 47
VII QUY TRÌNH SOẠN GIÁO ÁN 49
1 Phân tích các nội dung của bài giảng 49
2 Thiết kế bài giảng sử dụng Slide Master 49
2.1 Tạo file bài giảng mới 49
Trang 82.2 Tạo Slide Master mới 50
2.2.1 Tạo thiết kế cho Title Master 51
2.2.2 Tạo thiết kế cho Body Master 52
VIII KẾT XUẤT BÀI GIẢNG 56
1 Kết xuất bài giảng ra định dạng Web 56
2 Kết xuất bài giảng ra định dạng SCO 57
3 Kết xuất bài giảng ra gói SCORM 58
4 Kết xuất bài giảng ra file chạy *.exe 59
IX SOẠN BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ BẰNG LECTUREMAKER 60
1 Giới thiệu bài giảng mẫu soạn bằng LectureMaker 60
Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, đất nước đang phát triển và hội nhập quốc tế Bối cảnh này đặt ra những yêu cầu mới về nhân tố con người và đặt ra những thách thức mới cho nghành giáo dục Trước những yêu cầu đó giáo dục phải đổi mới về nội dung, PP nhằm đào tạo ra những con người có khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội Hội nghị lần thứ hai
BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII đã nêu ra: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ
bản là nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có
kỹ năng thực hành giỏi…” Để đạt được mục tiêu đề ra, hội nghị cũng chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học…” [12 tr 5] Một trong những giải pháp
hữu hiệu để thực hiện mục tiêu trên là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Vì vậy, dạy học phát huy tính tích cực của học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng của giáo dục hiện nay
Thêm vào đó, ngày nay với sự tiến bộ của công nghệ và tri thức khoa học, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia Trước tình hình đó, hệ thống giáo dục Việt Nam phải đi theo hướng nâng cao tri thức, kỹ năng lao động, khả năng cạnh tranh Do đó, trong những năm qua, Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động và thực hiện phong trào đổi mới phương pháp dạy học Chỉ thị số 29/2001/CT- Bộ giáo dục và đào tạo ngày 30/07/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về tăng cường giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo tính tích cực, sáng tạo cho HS trong quá trình học tập, giúp HS chiếm lĩnh được những kiến thức khoa học sâu sắc, vững chắc, đồng thời đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS Và tất nhiên những điều này sẽ đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập Từ đó phát triển tư duy, năng lực sáng tạo và không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn có khả năng vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển hơn, hòa nhập cùng bạn bè thế giới
Trang 10Hiện nay, với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, các nhà trường đã được trang bị khá nhiều các phương tiện dạy học hiện đại như: máy vi tính, máy chiếu, phần mềm dạy học…các thiết bị này có vai trò hỗ trợ rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả, chất lượng các hoạt động dạy học
Với những lý do trên, là một người GV vật lý trong tương lai, tôi nhận thức rõ
tầm quan trọng của việc này nên đã quyết định nghiên cứu về đề tài: Thiết kế giáo án điện tử Vật lý 12 sử dụng phần mềm LectureMaker
2 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu sử dụng phần mềm LectureMaker để phục vụ thiết kế giáo
án điện tử và áp dụng vào soạn giáo án điện tử vật lý 12
Nghiên cứu sử dụng một số phần mềm khác hỗ trợ cho việc thiết kế giáo
án sử dụng phần mềm LectureMaker Nghiên cứu cách thiết kế giáo án theo chuẩn e-learning
3 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học của GV và HS nhằm sử dụng phần mềm LectureMaker thiết kế bài giảng điện tử và hỗ trợ giảng dạy Tài liệu sử dụng giảng dạy vật lý 12
4 Giả thuyết khoa học
Có thể nghiên cứu sử dụng phần mềm LectureMaker và vận dụng vào thiết kế giáo án điện tử vật lý 12, nhằm phát huy khả năng tự học của HS Có thể nghiên cứu các tài liệu giảng dạy vật lý và các phần mềm hỗ trợ dạy học khác tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy sau này
5 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu lý luận về đổi mới PPDH VL
Nghiên cứu một số tài liệu dùng để giảng dạy vật lý 12
Nghiên cứu thiết kế giáo án sử dụng phần mềm LectureMaker
Nghiên cứu nội dung, phương pháp và thiết kế giáo án các bài vật lí 12
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu lý luận từ các tài liệu: SGK Vật lý 12, sách giáo viên và SGK vật lý
12, chuẩn kiến thức kỹ năng, một số tài liệu về lý luận dạy học vật lý, phân tích chương trình vật lý THPT, đánh giá giáo dục, tài liệu bồi dưỡng giáo viên vật lý 12, một số tài liệu liên quan đến thiết kế giáo án điện tử Một số website giáo án điện tử và bài giảng trực tuyến
Trang 116.2 Tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm là đánh giá tổng kết và khái quát hóa những kinh nghiệm
đã thu thập được trong hoạt động thực tiễn, từ đó phát hiện ra những vấn đề cần khẳng định để đưa vào áp dụng rộng rãi vào thực tế hoặc cần tiếp tục nghiên cứu hay loại bỏ Nhờ đó mà nhiều khi dẫn đến việc khám phá ra những mối liên hệ có tính quy luật của những hiện tượng giáo dục
Tổng kết kinh nghiệm cần có lý luận để soi sáng, giải thích tính chất hợp lý, phù hợp với những quy luật đã được khẳng định thì mới tránh khỏi tính chất ngẫu nhiên, lộn xộn, hời hợt của kết luận
Tổng kết kinh nghiệm từ trao đổi kinh nghiệm, học hỏi từ anh chị, bạn bè, và sự giúp đỡ của thầy cô
6.3 Thực nghiệm sư phạm
Thiết kế một số bài học theo hướng nghiên cứu của đề tài, sau đó tiến hành giảng dạy và cho HS làm kiểm tra Từ đó nhận xét xem mức độ tiếp thu kiến thức của HS đối với cách thực hiện này như thế nào
7 Phạm vi nghiên cứu
Sử dụng phần mềm LectureMaker và kết hợp vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc thiết kế bài giảng điện tử vật lý 12
8 Các giai đoạn thực hiện đề tài
Giai đoạn 1: Trao đổi với thầy Vương Tấn Sĩ và nhận đề tài
Giai đoạn 2: Nghiên cứu đề tài, đọc các tài liệu có liên quan
Giai đoạn 3: Lập đề cương chi tiết
Giai đoạn 4: Viết luận văn, chỉnh sửa luận văn
Giai đoạn 5: Hoàn thành luận văn, nộp cho GVHD
Giai đoạn 6: Báo cáo luận văn
Trang 129 Các chữ viết tắt trong đề tài
Công nghệ thông tin CNTT
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 ĐỔI MỚI PPDH VL Ở THPT
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH VL Ở THPT
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “ Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” [9 tr 5]
Nghị quyết TW 2, khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước ứng dụng các phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện
và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo”
Tóm lại: Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ
thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo và có hứng thú trong học tập.[1 tr 8]
II ĐỔI MỚI PPDH VL Ở TRƯỜNG THPT
1 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học
1.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều
Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: “GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ
và nhắc lại”
Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới phương pháp dạy học Tư tưởng chủ đạo bao trùm nhất là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập
đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực nghiệm Bất
kỳ ở đâu và nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập
là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS
Trang 14Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với VL học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học [9 tr 50]
1.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS
Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học Bất cứ một việc HT nào đều phải thông qua tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Ngay trên ghế nhà trường HS đã phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động nhận thức [9 tr 51]
1.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng
mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực [9 tr 51]
1.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện DH hiện đại vào quá trình
DH
Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến trên toàn thế giới trong nửa cuối thế kỷ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lý thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lý thuyết thích nghi” của J.piaget và “lý thuyết vùng phát triển gần” của Vưgốtxki), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan [9 tr 51]
2 Những định hướng đổi mới PPDH theo chương trình THPT mới
2.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề HT
Một thói quen tồn tại đã lâu đời trong nền giáo dục ở nước ta là GV luôn chú
ý giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng, đầy đủ cho HS ngay cả khi những điều GV nói đã viết đầy đủ trong sách giáo khoa, thậm chí GV nhắc lại y nguyên rồi viết lại giống hệt trên bảng
Lúc đầu HS chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ, chờ
GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ
Trang 15tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kỹ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi
GV giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu HS tự học ở lớp
và ở nhà GV chỉ giảng giải khi học sinh tự đọc không thể hiểu được kiên quyết không làm thay học sinh điều gì mà họ có thể làm được trên lớp hay ở nhà
Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia vấn
đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thể hoàn thành được [9 tr 52]
2.2 Áp dụng rộng rãi kiểu DH nêu và giải quyết vấn đề
Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề) là kiểu dạy học trong đó dạy cho HS thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của nhà khoa học, GV vừa tạo cho HS nhu cầu, hứng thú hoạt động sáng tạo; vừa rèn luyện cho
họ khả năng sáng tạo
Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được sự mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức
đã có của mình không đủ để giải quyết
Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kỹ mới thấy những kiến thức đã có của mình không đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ hoạt động xuất phát từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kỹ năng của mình bền vững và mạnh mẽ hơn cả
- Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp giải quyết vấn đề Phương pháp tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:
+ Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
+ Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, GT) có tính chất lý thuyết, tổng quát
+ Từ dự đoán suy ra hệ quả lôgic có thể kiểm tra trong thực tế
+ Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới
+ Phát biểu kết luận [9 tr 52-53]
Trang 16Về phương pháp mô hình: Nhờ phương pháp mô hình mà người ta có thể biểu diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh Ngoài mô hình ảnh, cần hay phổ biến mô hình toán học
Về phương pháp tương tự: Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức khoa học, trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát
Phương pháp tương tự gồm các giai đoạn sau:
Tập hợp các dấu hiệu của đối tượng cần nghiên cứu và những dấu hiệu của đối tượng đã biết định đem đối chiếu
Tiến hành phân tích tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau giữa chúng Kiểm tra xem các dấu hiệu giống nhau có phải là dấu hiệu bản chất của đối tượng
3 Đổi mới việc thiết kế bài học (soạn GA)
3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn GA
Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV
- Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:
+ Trong bài học HS sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kỹ năng nào? Mức độ đến đâu?
+ Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào? HS cần huy động kiến thức, kỹ năng nào đã có? Những hoạt động đó của HS diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?
Trang 17+ GV phải chỉ đạo như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kỹ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt hiệu quả giáo dục? + Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?
3.2 Các bước soạn giáo án
Xác định mục tiêu bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình
Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học, xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS, xác định trình tự lôgic của bài học
- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS:
Xây dựng kế hoạch bài học: xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV
và hoạt động học của HS
3.3 Nội dung của việc soạn giáo án
- Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học, nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ
- Xác định những nội dung kiến thức của bài học
- Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các phương tiện dạy học cần sử dụng
- Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức trong bài học
- Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng
- Soạn nội dung bài tập về nhà
* Một số hình thức trình bày giáo án
- Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới
- Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của GV và hoạt động của
HS
- Viết 3 cột: Hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng, hoặc tiêu
đề, nội dung chính
Trang 18- Viết 4 cột: Hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng, hoặc tiêu
đề, nội dung chính và thời gian thực hiện
III CÔNG NGHỆ THÔNG TIN GÓP PHẦN ĐỔI MỚI PPDH
1 Đổi mới phương pháp dạy học theo quan niệm CNTT và truyền thông
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa PTDH, thiết bị dạy học góp phần đổi mới PPDH
1.1 Dạy và học theo quan điểm công nghệ thông tin
Theo quan điểm công nghệ thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả Để đổi mới PPDH, người ta tìm những “Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”
a) Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng PTDH sau đây:
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projector
- Phần mềm dạy học giúp HS học trên lớp và ở nhà
- Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính
- Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking để dạy học
b) Dạy học với PTDH hiện đại trên sẽ có những ưu thế sau:
- GV chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần
- Các phần mềm dạy học có thể thực hiện các thí nghiệm ảo, sẽ thay thế GV giảng dạy thực hành, tăng tính năng động cho người học, cho phép HS theo khả năng
- Các phương tiện dạy học hiện đại sẽ tạo ra khả năng để GV trình bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh của khoa học hiện đại
- Các phương tiện dạy học sẽ hỗ trợ chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp
- HS học không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ và điều quan trọng hơn là nhiều HS được dự và nghe giảng bài của nhiều
GV giỏi
Trang 191.2 CNTT với vai trò PTDH, TBDH
CNTT với vai trò PTDH, TBDH cần đảm bảo các yêu cầu:
- Sử dụng như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có chỗ mạnh và chỗ yếu, ta cần phát huy chỗ mạnh, hạn chế chỗ yếu của từng phương pháp
- Phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như PTDH, TBDH
Không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình dạy học có sử dụng CNTT Chẳng hạn sử dụng CNTT thay GV trong một số khoảng thời gian, do việc giải phóng khỏi việc dạy học đồng loạt cho cả lớp, GV có thể đi sâu giúp những HS cá biệt (cả cá biệt yếu và cá biệt giỏi) với thời gian dài hơn nhiều so với dạy học không sử dụng CNTT
- Sử dụng CNTT như PTDH, TBDH không phải chỉ nhằm thí điểm dạy học với CNTT mà còn góp phần DH về công nghệ thông tin
2 Ứng dụng của máy tính trong DH vật lý
Dạy học là một hoạt động phức hợp, trong đó có những yếu tố mang tính nghệ thuật của người GV, đồng thời cũng có những yếu tố mang tính kỹ thuật, mà theo đó
có thể xây dựng thành công nghệ DH Một trong những nét nổi bật của tiến trình đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH vật lý nói riêng, là việc áp dụng những thành tựu khoa học, kĩ thuật công nghệ vào quá trình DH, nhờ đó chất lượng DH được nâng lên một cách rõ rệt
Dựa trên cơ sở về tâm lý học, lý luận DH, cơ sở thực tiễn và những chức năng của máy vi tính, các nhà nghiên cứu giáo dục đã khẳng định rằng, hoàn toàn có thể sử dụng MVT trong quá trình DH với tư cách như một PTDH hiện đại
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết kiến thức vật lý đều gắn với thực tiễn, nên việc ứng dụng CNTT nói chung và MVT nói riêng vào DH vật lý là một hướng đi thích hợp và mang tính cấp thiết Nhờ các chương trình mô phỏng, minh họa, MVT làm tăng tính trực quan, kích thích hứng thú học tập và tạo sự chú ý ở mức độ cao đối với HS, giúp cho GV giảm thời gian thuyết trình, không mất nhiều thời gian vào việc biểu diễn, thể hiện thông tin trong giờ học Với các thí nghiệm có tính nguy hiểm đối với con người, hoặc các thí nghiệm có thời gian diễn ra rất nhanh (hoặc rất chậm) thì việc thay thế chúng bằng những thí nghiệm ảo trên MVT là một cách làm tối ưu… Có thể thấy ngay rằng, việc sử dụng MVT với tư cách là một PTDH hiện đại trong DH vật lý có rất nhiều ưu điểm nổi trội, nó có thể được ứng dụng trong nhiều giai đoạn của quá trình DH, từ việc xây dựng tình huống học tập, nghiên cứu giải
Trang 20quyết vấn đề, xây dựng kiến thức mới đến việc củng cố, vận dụng kiến thức… Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, MVT không phải là một PTDH vạn năng, có thể thay thế toàn bộ các PPDH truyền thống khác; MVT dù hiện đại đến đâu, cũng không thể thay thế toàn bộ cho người GV, mà GV luôn là người có vai trò tổ chức, thiết kế quá trình DH, là người quyết định lựa chọn phương tiện, lựa chọn thời điểm sử dụng, hình thức sử dụng và phạm vi sử dụng MVT nhằm đạt hiệu quả cao nhất của hoạt động DH
a Những ưu điểm của việc sử dụng MVT trong DH
MVT với tư cách là một PTDH hiện đại, sử dụng nó một cách hợp lý trong DH
có nhiều ưu điểm
- Nhờ các chương trình mô phỏng và minh họa được cài đặt sẵn, MVT có thể xây dựng nên các mô hình tĩnh hoặc động với chất lượng cao, thể hiện ở độ trung thực của màu sắc, các vận động tuân theo các quy luật khách quan của hiện tượng mà người lập trình đã đưa vào làm tăng tính trực quan trong DH, tăng hứng thú học tập và tạo sự chú ý học tập của HS ở mức độ cao MVT có khả năng lặp lại nhiều lần, thậm chí là vô hạn lần ở cùng một vấn đề, giúp GV và HS
có thể nghe lại, xem lại những tình huống, những hiện tượng hoặc những thông tin mà họ chưa kịp nhận biết ở lần quan sát đầu tiên Điều này rất khó thực hiện ở người GV
- Giao tiếp giữa người với máy tính trong quá trình DH là hoàn toàn chủ động, theo sự điều khiển của GV và HS Việc sử dụng MVT trong DH tạo cơ hội
để chương trình hóa không chỉ nội dung tri thức mà cả những con đường nắm vững kiến thức, hoạt động trí tuệ của HS, vì thế có thể điều khiển được quá trình dạy học GV có thể xây dựng bài giảng bằng cách lắp ráp các môđun có sẵn Để thực hiện tốt bài giảng theo kiểu này thì đòi hỏi GV phải chuẩn bị bài giảng một cách công phu, theo đó, có thể khẳng định rằng MVT không thể thay thế người
GV mà chính là vai trò của người GV được đề cao và đóng vai trò người tổ chức quá trình học tập Nhờ có MVT mà hoạt động DH của GV có thể được tự động hóa ở mức độ cao
- Một trong những ưu điểm không thể phủ nhận là việc sử dụng MVT trong việc DH có tác dụng giảm thiểu thời gian cho việc biểu diễn, thể hiện thông tin của GV trong giờ lên lớp MVT còn cho phép củng cố ngay tức thời và thường xuyên hơn so với DH truyền thống, đồng thời việc kế thừa, rút kinh nghiệm, chỉnh sửa, bổ sung bài giảng… từ kết quả của các hoạt động DH trước đó là rất thuận lợi và không mất quá nhiều thời gian
- Việc sử dụng MVT trong DH còn có tác dụng rất lớn đối với HS, trong đó
cá thể học tập của HS ở mức độ cao HS có thể học tập theo nhịp độ riêng của
Trang 21mình phù hợp với khả năng, đặc điểm tâm lý và điều kiện học tập của từng cá nhân, tạo cơ hội để HS có thể tự học một cách tốt hơn Với những chương trình
đã được cài đặt sẵn (trắc nghiệm, đố vui…) MVT có thể đưa ra lời khen ngợi mỗi khi thực hiện tốt một nội dung học tập, và cũng có thể phê phán một cách nhẹ nhàng mỗi khi các em làm không tốt nhiệm vụ của mình Vì thế HS thấy mình được tôn trọng, được cư xử công bằng và khách quan, giúp các em tự tin hơn vào chính bản thân mình Thông qua đó rèn luyện cho HS tính tự lập, tự chủ và sáng tạo Học tập thông qua MVT đòi hỏi HS phải kiên trì, nhẫn nại, cần cù và chăm chỉ, đó cũng là những nét nhân cách cần thiết phải hình thành ở HS
- Một ưu điểm khác của việc sử dụng MVT trong DH là khả năng đánh giá kết quả học tập một cách công bằng, khách quan, điều đó giúp HS đánh giá đúng khả năng học tập của mình Nhờ có MVT mà kết quả học tập của HS được lưu lại trong các tệp số liệu, giúp GV có thể so sánh, đánh giá, nhận xét quá trình học tập của HS một cách nhanh chóng, chính xác
- Trong quá trình DH nói chung và DH vật lý nói riêng, các thí nghiệm tự động hóa có sự trợ giúp của MVT được thực hiện một cách nhanh chóng với độ chính xác cao; các số liệu thực nghiệm được xử lý, đánh giá và trình bày dưới dạng bảng biểu, đồ thị hay các tệp số liệu, có thể lưu trữ trên các thiết bị nhớ ngoài của MVT, điều đó giúp GV và HS dễ dàng trong việc khảo sát và xử lý thông tin
- Việc sử dụng MVT trong DH cũng làm thay đổi nội dung và phương pháp giảng dạy các hình thức dạy học cũng từ đó mà được cải tiến, hoàn thiện theo hướng linh hoạt và phong phú hơn Các PPDH tích cực cũng có thể được hoàn thiện, bổ sung và sử dụng rộng rãi hơn khi có MVT, nhất là PPDH chương trình hóa; mô hình hóa
- MVT có một ưu thế nổi trội khác là khi kết nối vào mạng máy tính, nó tạo điều kiện để tiến hành DH từ xa một cách thuận tiện và hiệu quả GV có thể điều khiển quá trình học tập cùng lúc cho nhiều HS ở nhiều địa điểm khác nhau, có thể rất xa nhau về mặt vị trí địa lí Cũng nhờ hệ thống mạng máy tính mà GV, HS
và các nhà quản lý giáo dục có thể cùng tham gia các cuộc thảo luận, có thể chia
sẻ thông tin một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất Ngoài ra, thông qua mạng internet, GV có thể cập nhật được những thông tin mới nhất liên quan đến nội dung DH để bổ sung, hoàn thiện bài giảng một cách có chất lượng
Trang 222.1 Một số chức năng cơ bản của máy vi tính có thể ứng dụng trong dạy học vật lý
- Sử dụng MVT làm phương tiện nghe nhìn và lưu trữ thông tin
- Sử dụng MVT để thiết kế và biểu diễn các mô hình, thí nghiệm
- Sử dụng MVT để tự động hóa các thí nghiệm vật lý
- Sử dụng MVT để tích hợp với các PT DH hiện đại
- Sử dụng MVT kết hợp với multimedia
2.2 Vai trò hỗ trợ của MVT trong quá trình DH vật lý
2.2.1 Vai trò của MVT đối với các nhiệm vụ dạy học
2.2.1.1 Truyền thụ tri thức, phát triển tư duy
Trong quá trình DH nói chung và DH vật lý nói riêng, có thể thấy ngay rằng, việc
sử dụng MVT hợp lý sẽ giúp cho quá trình truyền thụ tri thức được thuận lợi và hiệu quả hơn, sự phát triển tư duy của HS cũng tốt hơn Điều này đạt được là nhờ vào khả năng khai thác và truyền thụ tri thức về các hiện tượng tự nhiên và xã hội của MVT dưới sự điều khiển của GV MVT có thể mô phỏng và minh họa bằng hình vẽ các hiện tượng và các quá trình tự nhiên và xã hội…
Trong DH vật lý, MVT có thể giúp ta tiến hành các thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp và có thể được tiến hành một cách sinh động, đáp ứng mọi yêu cầu của quá trình DH MVT còn có mặt mạnh khác là có thể biểu diễn các hiện tượng và quá trình
tự nhiên trong sự phối hợp với màu sắc, âm nhạc hoặc lời giải thích của GV, do đó MVT có sức cuốn hút HS, có khả năng kích thích hứng thú học tập, đặt HS vào vị trí chủ thể của quá trình học tập Chính vì lý do này mà hiệu quả của bài giảng và chất lượng lĩnh hội tri thức của HS được nâng lên một cách đáng kể
Việc sử dụng MVT trong DH đã tạo cho GV có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển tư duy cho HS Với các hình ảnh, mô hình, hình vẽ, hoặc các video clip về các hiện tượng và quá trình tự nhiên, xã hội GV có thể hình thành và rèn luyện cho HS cách quan sát, khả năng mô tả, diễn đạt và óc liên tưởng… Với những thí nghiệm được tiến hành nhờ sự hỗ trợ của MVT, ngoài khả năng phát triển các thao tác tư duy, GV còn có điều kiện để rèn luyện cho HS năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa
Trang 23động của xã hội có trang bị MVT Xét về mặt xã hội, việc sử dụng MVT làm PTDH trong nhà trường là một trong những biện pháp tích cực, đáp ứng yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ cho xã hội
2.2.1.3 Giáo dục nhân cách người lao động mới
Trong quá trình học tập với công cụ MVT, HS được rèn luyện tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao độ MVT không tỏ thái độ phê phán gay gắt trực tiếp HS khi trả lời sai, nhưng cũng không khoan nhượng đối với những sai sót mắc phải, buộc HS phải bằng mọi cách sửa chữa triệt để những sai sót đó Chỉ khi nào HS trả lời đúng câu hỏi đặt ra hoặc giải quyết xong nhiệm vụ được giao, MVT mới cho phép tiếp tục nghiên cứu những kiến thức sau đó, điều này khắc phục được tình trạng hỏng kiến thức trong HS hiện nay Ngoài ra, để có thể “hội thoại” đạt kết quả với MVT, HS bắt buộc phải kiên trì, nhẫn nại, cần cù và chăm chỉ
Việc sử dụng MVT để kiểm tra kiến thức của HS luôn bảo đảm được tính chính xác cao, và sự công bằng trong đánh giá MVT rất “trung thực, không vị nể” khi đánh giá, buộc HS phải suy nghĩ, lựa chọn dứt khoát câu trả lời trong thời gian đã định Nhờ
đó tính trung thực của HS cũng được rèn luyện
Khi HS thực hành với MVT, những chuẩn đạo đức cũng đòi hỏi khắt khe, vì MVT chỉ thực hiện theo câu lệnh đúng, không thể buộc nó làm theo ý người sử dụng Muốn giao cho máy những câu lệnh đúng thì người sử dụng chỉ còn cách kiên trì học tập, nghiêm túc với những quy định đã được thỏa thuận trong hệ lệnh, tự tin vào bản thân và trung thực cao độ
2.4.2 Vai trò của MVT trong các giai đoạn của quá trình dạy học
Theo lý luận DH hiện đại thì một quá trình DH nói chung hay một quá trình DH
cơ sở (một tiết dạy trên lớp) gồm các giai đoạn: Củng cố trình độ kiến thức xuất phát cho HS; xây dựng kiến thức mới; ôn luyện và vận dụng kiến thức, kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức và các kỹ năng của HS Đây vừa là những chức năng lý luận DH của quá trình DH và đồng thời cũng là những giai đoạn chính của quá trình DH Trong từng giai đoạn khác nhau, MVT có những vai trò hỗ trợ khác nhau, nhưng tựu trưng lại, sự hỗ trợ của MVT trong các giai đoạn của quá trình DH là hết sức cần thiết và nhờ có nó mà chất lượng dạy học được nâng cao đáng kể
2.4.2.1 Giai đoạn củng cố kiến thức cũ và đặt vấn đề mới
Bất kỳ một tiết học nào, khi muốn dẫn dắt đến vấn đề thì GV phải tìm cách mở đầu bài học hướng HS biết được nội dung chính của bài học cần đề cập đến Cách mở đầu một bài học có thể là một thí nghiệm, có thể là một câu chuyện, cũng có thể là sự liên hệ của bài học trước… Vấn đề cơ bản là GV phải lôi cuốn được người học ngay từ đầu, tạo sự hưng phấn, tính tò mò cho HS ngay ở dây phút đầu tiên của tiết học
Trang 24Với việc sử dụng MVT, cách mở đầu bài học đã có những thuận lợi nhất định Trong giai đoạn này, GV có thể sử dụng MVT hỗ trợ trong việc tóm tắt kiến thức đã học ở bài trước, đưa ra các hình ảnh, các đoạn phim, về các hiện tượng vật lý một cách trực quan và yêu cầu HS giải thích các hiện tượng đó GV cũng có thể sử dụng MVT
hỗ trợ trong việc đưa ra các hiện tượng mới cần nghiên cứu, đặt ra những tình huống
có vấn đề đối với HS Mặc dù trong giai đoạn này, thời gian sử dụng là không nhiều, song hiệu quả lại rất cao, vì chỉ với một thời lượng ngắn ngủi, có thể truyền tải được lượng thông tin khá nhiều và hình thức truyền tải thông tin khá hấp dẫn đối với HS, có thể đặt HS vào một trạng thái tập trung cao độ, chuẩn bị tốt cho các giai đoạn tiếp theo của tiết học
2.4.2.2 Giai đoạn xây dựng kiến thức mới
Có thể nói ngay rằng, trong giai đoạn xây dựng kiến thức mới, MVT có vai trò lớn, việc sử dụng MVT hợp lí trong giai đoạn này sẽ mang lại những hiệu quả rất cao Bằng việc vận dụng những phần mềm mô phỏng hay minh họa các hiện tượng, các quá trình vật lý, kết hợp với phương pháp đàm thoại, HS dễ dàng nhận biết, so sánh và phân tích hiện tượng Việc tiến hành thí nghiệm với sự hỗ trợ của MVT sẽ vừa là nguồn cung cấp kiến thức, vừa là phương tiện để cung cấp những kiến thức mới Thông tin dưới dạng văn bản, hình đồ họa, phim video và âm thanh xuất hiện trên màn hình chính là những đối tượng cần tìm hiểu, nghiên cứu mà HS có thể thu nhận, phân tích và xử lý tốt hơn, vì các dữ liệu trên màn hình của MVT hỗ trợ tốt cho các hoạt động quan sát, mô tả của HS, dẫn đến sự hình thành những biểu tượng hay quan niệm mới về vấn đề đang nghiên cứu Đây cũng là hình thức hữu hiệu, tạo điều kiện để tư duy HS phát triển theo hướng khái quát hóa, quy nạp, từ đó xây dựng kiến thức mới một cách chắc chắn
Ngoài ra, việc mô phỏng, minh họa các hiện tượng hay các quá trình vật lý trên màn hình còn làm nổi rõ mối quan hệ giữa các sự kiện đang khảo sát với các sự kiện
đã biết, từ đó có thể dẫn dắt tư duy phát triển theo hướng suy lý, diễn dịch để đi đến kiến thức mới
2.4.2.3 Giai đoạn ôn luyện và vận dụng kiến thức
Trong tiết học vật lý, thời lượng dành cho việc ôn luyện và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cho HS là khá ít ỏi (chỉ trong khoảng 5 đến 7 phút), với khoảng thời gian này, nếu không có sự hỗ trợ của MVT thì GV khó có thể hoàn thành công việc một cách đầy đủ
Sự hỗ trợ của MVT trong giai đọan này là hết sức cần thiết và tỏ ra có hiệu quả
Có thể giao cho HS độc lập sử dụng chương trình ôn tập đã cài sẵn trên MVT Có thể
Trang 25kết hợp sự biểu diễn của GV với việc giao nhiệm vụ cho HS, yêu cầu HS giải quyết nhiệm vụ để ôn tập và vận dụng kiến thức đã lĩnh hội
2.4.2.4 Giai đoạn tổng kết, hệ thống hóa kiến thức
Việc sử dụng MVT trong tổng kết và hệ thống hóa tri thức sẽ có nhiều thuận lợi
Có thể sử dụng phần mềm xây dựng chương trình tổng kết, đảm bảo việc hệ thống hóa
có tính logic cao về mặt nội dung Với phần mềm ôn tập thì học sinh có thể lựa chọn nội dung ôn tập với số lần thích hợp không hạn chế và dễ dàng chuyển đổi giữa các nội dung khác nhau
2.4.2.4 Giai đoạn kiểm tra trình độ đánh giá kiến thức và các kỹ năng
Khi sử dụng MVT, nếu chúng ta xây dựng được những chương trình phù hợp thì MVT sẽ là một phương tiện có tác dụng tốt trong việc giám sát chất lượng học tập của
HS Sử dụng MVT làm công tác kiểm tra, đánh giá sẽ giảm đi rất nhiều thời gian nhờ khả năng thống kê và xử lý kết quả nhanh chóng của hệ thống Ngoài khả năng cho biết nhanh chóng kết quả đánh giá, thì tính khách quan, tính chính xác của các kết quả
xử lý bằng MVT, khả năng cho phép việc kiểm tra đánh giá trên nhiều nội dung kiến thức bằng các loại câu trắc nghiệm đa dạng khác nhau là một đặc tính riêng của MVT Biết tận dụng những khả năng này của MVT trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS thì GV có thể chủ động củng cố kiến thức cho HS ở bất cứ thời điểm nào trong quá trình DH Điều này có tác dụng tốt trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của HS
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, do đó có nhiều thế mạnh đối với việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS Việc sử dụng MVT làm PTDH hiện đại trong DH VL tạo điều kiện thuận lợi để giúp HS làm quen, tìm hiểu nguyên lý của các ứng dụng trong các hệ thống thiết bị điều khiển tự động có trong thực tế sản xuất Vậy, việc sử dụng MVT vào quá trình DH là có cơ sở khoa học và phù hợp với
xu thế phát triển của thời đại ngày nay
MVT và các PTDH hiện đại có sự trợ giúp của MVT góp phần kích thích động
cơ học tập tích cực cho HS Các phần mềm dạy học, các hình ảnh mô phỏng, minh họa… giúp tăng cường tính trực quan trong học tập làm cơ sở cho việc phát triển tư duy của HS Việc DH với MVT và các phương tiện DH hiện đại tạo ra cho HS học tập
ở mức độ cao, kích thích và luôn duy trì mức độ tập trung cao của HS trong quá trình học tập
Trang 26Chương 2 TỔNG QUAN VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ
I KHÁI QUÁT VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ
Trong những năm gần đây, bài giáo án điện tử được sử dụng tương đối phổ biến
ở nhiều bộ môn Giáo án điện tử có thể được thiết kế bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tùy theo trình độ có được về CNTT của người viết hoặc dựa vào các phần mềm trình diễn
có sẵn như: PowerPoint, LectureMaker, Frontpage, Publisher,… Trong đó thiết kế bài giảng với Microsoft PowerPoint là đơn giản và dễ sử dụng nhất đối với đa số giáo viên
1 Khái niệm giáo án điện tử
Giáo án điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều thực hiện thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới dạng: văn bản (text), đồ họa (graphics), ảnh động (animation), ảnh tĩnh (image), âm thanh (audio), và phim video (video clip)
Đặc trưng cơ bản nhất của giáo án điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của giáo viên đều được multimedia hóa
Cần phân biệt các khái niệm SGK điện tử, giáo trình điện tử, giáo án điện tử và bài giảng điện tử
SGK hay giáo trình điện tử là tài liệu giáo khoa, mà trong đó kiến thức được trình bày dưới nhiều kênh thông tin khác nhau như: văn bản, đồ họa, hình ảnh động, hình ảnh tĩnh, âm thanh, …Đặc điểm quan trọng của SGK điện tử là kiến thức được khai thác theo nhiều phương án khác nhau: trọng tâm, đơn giản hoặc chi tiết…thuận tiện cho người học tra cứu và tìm kiếm nhanh thông tin Ngày nay, SGK điện tử còn cho phép kết nối và cập nhật thêm thông tin mới từ các trang Web mà địa chỉ đã có sẵn trong SGK điện tử
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử
Trang 272 Quy trình thiết kế giáo án điện tử
Giáo án điện tử có thể được xây dựng theo quy trình gồm 6 bước:
- Xác định mục tiêu bài học
- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm
- Multimedia hóa từng đơn vị kiến thức
- Xây dựng thư viện tư liệu
- Lựa chọn ngôn ngữ hoặc phần mềm dễ trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
- Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Dưới đây là nội dung cụ thể của từng bước
2.1 Xác định mục tiêu bài học
Mục tiêu là cái đích cần phải đạt được sau mỗi bài học, do chính giáo viên đề ra
để định hướng chính hoạt động dạy học mục tiêu giống mục đích ở chỗ đều là cái đề
ra nhằm đạt tới, nhưng chúng khác nhau cơ bản:
- Mục đích (aim) là mục tiêu khái quát, dài hạn
Ví dụ: mục đích của chương trình trung học phổ thông
- Mục tiêu (objective) là mục đích ngắn hạn, cụ thể
Ví dụ: mục tiêu của một bài học
Như vậy, mục đích quy định mục tiêu Mục đích chung của chương trình quy định mục tiêu cụ thể của các chương, bài cụ thể ở lớp
Xác định mục tiêu đúng, cụ thể mới có căn cứ để tổ chức hoạt động dạy học khoa học và đánh giá khách quan, lượng hóa kết quả dạy học Trong dạy học, hướng tập trung vào học sinh, thông thường mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, học sinh đạt được cái gì Ở đây là mục tiêu học tập (learning objectives) chứ không phải làm mục tiêu dạy học (teaching objectives)
Mỗi mục tiêu cụ thể nên diễn đạt bằng một động từ để xác định rõ mức độ học sinh cần phải đạt bằng hành động, tránh viết chung chung như: “nắm được”, “hiểu được” Để viết mục tiêu cụ thể, nên dùng các động từ như: phân tích, so sánh, liên hệ, tổng hợp, chứng minh, đo đạt, tính toán, quan sát, lập được, vẽ được, thu thập, áp dụng,…
Mục tiêu được đề ra nhằm vào việc đảm bảo thực hiện nhiệm vụ Liên quan với 3 nhiệm vụ cơ bản của lý luận dạy học, bài học thường có các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ
Trang 28Theo B Bloom, nhóm mục tiêu nhận thức có 6 mức từ thấp đến cao:
- Biết: nhận biết, ghi nhớ, tái hiện, định nghĩa khái niệm
- Hiểu: thông báo, thuyết minh, tóm tắt, thông tin, giải thích, suy rộng
- Áp dụng: vận dụng kiến thức vào tình huống mới
- Phân tích: nhận biết các bộ phận của một tổng thể, so sánh, phân tích, đối chiếu, phân loại
- Tổng hợp: tập trung các bộ phận thành một tổng thể thống nhất, lập kế hoạch, dự đoán
- Đánh giá: khả năng đưa ra ý kiến về một vấn đề
2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản của bài dạy, xác định đúng những nội dung trọng tâm, trọng điểm của bài, cấu trúc các kiến thức cơ bản theo ý định bài dạy học
Những nội dung đưa vào chương trình và SGK phổ thông được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, sắp xếp theo lôgic khoa học và lôgic sư phạm, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông, của chương trình Tuy nhiên trong thực tế quá trình dạy học, đã có nhiều mâu thuẫn xuất hiện giữa:
- Khối lượng tri thức phong phú và thời gian tiết lên lớp có hạn (45 phút) với nhiều nhiệm vụ đa dạng
Đánh giá Tổng hợp
Phân tích
Vận dụng
Hiểu Biết
Trang 29- Yêu cầu đảm bảo tính khoa học và đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh
- Yêu cầu đảm bảo sự lĩnh hội kiến thức vững chắc với sự phát triển toàn diện những năng lực nhận thức của học sinh…
Nhiều giáo viên đã rơi vào hai cực của việc dạy học: một số tham lam, ôm đồm kiến thức, làm cho tiết học nặn nề đối với học sinh, ngược lại một số khác rơi vào cực kia – quá “tóm lược” SGK, không đảm bảo truyền thụ đủ cho học sinh kiến thức cần thiết Kiến thức cơ bản là những kiến thức vạch ra được bản chất của sự vật hiện tượng
Chọn đúng các kiến thức cơ bản của một bài dạy học là công việc khó, phức tạp
Để chọn đúng kiến thức cơ bản của một bài dạy học, cần phải quan tâm đến các điểm sau:
- Nắm vững đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn Do tính tổng hợp cao của khoa học bộ môn mà nội dung tri thức liên quan đến hàng loạt nghành khoa học khác
- Bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn Đây là điều bắt buộc tất yếu vì sách giáo khoa là tài liệu dạy học và học tập chủ yếu; chương trình là pháp lệnh cần phải tuân theo Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản
là nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dung dạy học trong toàn quốc Mặt khác, các kiến thức trong sách giáo khoa đã được quy định để dạy cho học sinh
Do đó, chọn kiến thức cơ bản là chọn kiến thức ở trong đó chứ không phải là ở tài liệu nào khác
- Nắm vững chương trình và sách giáo khoa, ngoài nắm vững nội dung từng chương, từng bài, giáo viên phải có cái nhìn khái quát chung toàn bộ chương trình và mối liên hệ “móc xích” giữa chúng để thấy tất cả các mối liên quan và sự
kế tiếp Do đó mới xác định đúng đắn những vấn đề, khái niệm,… cần giảng kỹ, cần đi sâu, cần bổ sung vào hoặc giảm bớt đi được mà không có hại đến toàn bộ
hệ thống kiến thức, trên cơ sở đó chọn lọc các kiến thức cơ bản
Tuy nhiên, để xác định được đúng đắn kiến thức cơ bản mỗi bài thì cần phải đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn đề cần dạy học và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản Đồng thời “ muốn chọn lọc cái không nhiều, cái quan trọng thường cần phải học tập rất nhiều (hầu như tất cả mọi thứ) và không phải chỉ học tập mà còn phải hiểu biết khá sâu sắc nữa” Điều đáng chú ý là khi nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, giáo viên không chỉ dừng lại ở nội dung bài khóa mà phải nghiên cứu các bản số liệu thống kê, tranh ảnh, câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa với tư cách là một thành phần của nội dung bài giảng
Trang 30- Phải hết sức quan tâm đến trình độ học sinh (tức là chú ý đến đối tượng dạy học) Cần phải biết học sinh đã nắm vững cái gì, dựa vào kiến thức của các em
để cân nhắc lựa chọn kiến thức cơ bản của bài giảng, xem kiến thức nào cần bổ sung, cải tạo hoặc cần phát triển, đi sâu hơn
Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắp xếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các phần kiến thức của bài, từ đó
rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài Việc làm này thực sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được Cũng cần chú ý cấu trúc lại nội dung bài phải tuân thủ nguyên tắc không làm biến đổi tinh thần cơ bản của bài mà các tác giả sách giáo khoa đã dày công xây dựng
2.3 Multimedia hóa kiến thức
Đây là bước quan trọng nhất của việc thiết kế bài giảng điện tử, là nét đặc trưng
cơ bản của bài giảng điện tử để phân biệt với các bài giảng truyền thống hoặc các bài giảng có sự hỗ trợ một phần của máy vi tính Việc multimedia hóa kiến thức được thực hiện qua các bước:
- Dữ liệu hóa thông tin kiến thức
- Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ, đồ họa, ảnh tĩnh, phim, âm thanh,… Kiến thức cho một bài lên lớp thường rất nhiều, hình thức tổ chức hoạt động dạy học rất phong phú và đa dạng Giáo viên cần chọn nội dung kiến thức nào được trình bày dưới dạng văn bản, sơ đồ, tranh ảnh, video clip,… Những hình ảnh, sơ đồ, video clip đó được trình bày dưới dạng nguồn tri thức hỗ trợ cho học sinh hoạt động học tập chứ không chỉ minh họa đơn thuần
- Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng mới nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bài học Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc
từ Internet, Encarta… hoặc được xây dựng mới bằng đồ họa, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay video, bằng các phần mềm đồ họa chuyên dụng như Macromedia Flash…
- Chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết
- Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm
2.4 Xây dựng các thư viện tư liệu
Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần dùng cho bài giảng điện tử, phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý Cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong
Trang 31bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa này sang
ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác
2.5 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
Sau khi đã có các thư viện tư liệu, giáo viên cần lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử
Trước hết cần chia quá trình dạy học trong giờ lên lớp thành các hoạt động nhận thức cụ thể Dựa vào các hoạt động đó để định ra các Slide (trong PowerPoint) hoặc các trang trong Frontpage Sau đó xây dựng nội dung cho các trang (hoặc các Slide) Tùy theo nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi trang/Slide có thể là văn bản, đồ họa, tranh ảnh, âm thanh, video clip,…
Văn bản cần trình bày ngắn gọn cô đọng, chủ yếu là các tiêu đề và dàn ý cơ bản Nên dùng một loại font chữ phổ biến, đơn giản, màu chữ được dùng thống nhất tùy theo mục đích sử dụng khác nhau của văn bản như câu hỏi gợi mở, dẫn dắt, hoặc giảng giải, giải thích, ghi nhớ, câu trả lời… Khi trình bày nên sử dụng sơ đồ khối để học sinh thấy ngay được cấu trúc logic của những nội dung cần trình bày
Đối với mỗi bài dạy nên dùng khung, màu nền (background) thống nhất cho các trang/Slide, hạn chế sử dụng các màu quá chói hoặc quá tương phản nhau
Không nên lạm dụng các hiệu ứng trình diễn theo kiểu “bay nhảy” thu hút sự tò
mò không cần thiết của học sinh, phân tán chú ý trong học tập, mà cần chú ý làm nổi bật các nội dung trọng tâm, khai thác triệt để các ý tưởng tiềm ẩn bên trong các đối tượng trình diễn thông qua việc nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức nhằm phát triển tư duy của học sinh Cái quan trọng không chỉ là đối tượng trình diễn không chỉ để thầy tương tác với máy tính mà chính là hỗ trợ một cách hiệu quả sự tương tác thầy – trò, trò – thầy
Cuối cùng là thực hiện các liên kết (hyperlink) hợp lý, lôgic lên các đối tượng trong bài giảng điện tử nên cần khai thác tối đa khả năng liên kết Nhờ sự liên kết này
mà bài giảng được tổ chức một cách linh hoạt, thông tin được truy xuất kịp thời, học sinh dễ tiếp thu
2.6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Sau khi thiết kế xong, phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra các sai sót, đặc biệt là các liên kết để tiến hành sửa chữa và hoàn thiện Kinh nghiệm cho thấy không nên chạy thử từng phần trong quá trình thiết kế
Trang 32II CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
1 Mục tiêu chính của việc xây dựng các bài giảng điện tử
a Giúp người học hiểu bài dễ hơn, chính xác hơn
b Đề cao tính có thể tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính cá thể trong học tập
c Giúp người học có thể tự học ở mọi nơi, mọi lúc, trên mọi thiết bị
2 Kỹ năng trình bày
a Màu sắc không lòe loẹt
b Không có âm thanh ồn ào
c Chữ đủ to, rõ, không nhỏ quá
d Không ghi nhiều chữ chi chít
e Mỗi slide nên có chủ đề (title)
f Có slide ngăn cách khi chuyển chủ đề lớn
3 Kỹ năng giảng bài
a Tránh, không thao thao bất tuyệt từ đầu đến cuối
b Hãy đặt câu hỏi trao đổi, khuyến khích người học phát biểu
c Trước khi giảng bài, cần tìm hiểu đối tượng nghe giảng, tâm lý và mong muốn của họ Cố gắng hãy nói cái họ cần hơn là nói cái mình có
b Có video ghi giáo viên giảng bài
c Có hình ảnh, video clip minh họa về chủ đề bài giảng
d Công nghệ: chuẩn SCORM, AICC, công cụ dễ dùng, có thể online hay offline… (Giải quyết vấn đề mọi lúc, mọi nơi)
6 Soạn câu hỏi
Các câu hỏi ở đây không phải là để thi cử, lấy điểm Các câu hỏi được xây dựng nhằm kích thích tính động não của người học, thực hiện phương châm lấy người học làm trung tâm, chú trọng tính chủ động Có những nội dung không nên giảng luôn, mà chuyển sang thảo luận, trả lời câu hỏi gợi ý
Trang 337 Nguồn tư liệu
Có nguồn tư liệu phong phú liên quan đến bài học Tài liệu, website tham khảo
để người học tự chủ đọc thêm Tuy nhiên cũng nên tránh việc trích dẫn tràn lan
8 Từ khóa
Để gợi ý người học đặt từ khóa để tìm trên mạng Tốt nhất có cả tiếng Anh và tiếng Việt Thí dụ: làm thế nào để biết cách tách âm thanh ra khỏi đĩa CD, DVD? Mấu chốt nằm ở chỗ từ khóa: Ripper
Trang 34Chương 3 THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ SỬ DỤNG PHẦN MỀM
LECTUREMAKER
I GIỚI THIỆU
LectureMaker là phần mềm soạn thảo bài giảng điện tử đa phương tiện, sản phẩm của công ty Daulsoft Hàn Quốc (www.daulsoft.com) Với LectureMaker, bất kỳ ai cũng có thể tạo được bài giảng đa phương tiện nhanh chóng và dễ dàng Không chỉ có vậy, bạn còn có thể tận dụng lại các bài giảng đã có trên những định dạng khác như PowerPoint, PDF, Flash, HTLM, Audio, Video… vào nội dung bài giảng của mình Bài giảng được tạo ra từ LectureMaker tương thích với chuẩn SCORM để làm bài giảng e-Learning cho các hệ thống học tập trực tuyến
Tương tự Slide Master trong PowerPoint, việc xây dựng Slide Master trước khi đưa nội dung vào sẽ giúp bạn sắp xếp, tổ chức bài giảng nhất quán, hợp lý hơn
LectureMaker có sẵn các bộ công cụ soạn thảo trực quan cần thiết để tạo bài giảng điện tử như: soạn thảo công thức toán học, vẽ biểu đồ, vẽ đồ thị, tạo bảng, textbox, và các ký tự đặc biệt; có thể chèn nhiều loại nội dung đa phương tiện vào bài giảng của mình như: hình ảnh, video, âm thanh, flash, …
LectureMaker cung cấp sẵn nhiều mẫu trình bày, các nút liên kết nội dung và các nút định vị trang được sử dụng trong soạn thảo bài giảng nhằm định hướng nội dung bài học cũng như làm tăng khả năng tương tác học tập
Với việc sử dụng webcam (camera), microphone, chức năng bảng điện tử, khả năng tự ghi lại giúp bài giảng có thể được soạn thảo một cách hiệu quả và sáng tạo bằng cách ghi hình, ghi âm và đồng bộ bài giảng Kết quả thu được là một bài giảng sinh động với đầy đủ các hoạt động trên lớp mà qua đó người học hoàn toàn tự học được
Trang 35II GIAO DIỆN VÀ CÁC MENU CỦA LECTUREMAKER
1 Giao diện
Vùng 1: Chứa các Menu và các nút lệnh của chương trình
Vùng 2: Chứa danh sách các Slide trong bài giảng, hiển thị nội dung của từng trang
trình diễn dưới dạng nhỏ Có thể thêm, xóa một Slide hoặc di chuyển đến một Slide bằng cách click chọn vào hình Slide đó Có hai cửa sổ có thể chuyển qua lại bằng cách click vào tên của nó:
Slide: Hiển thị danh sách các Slide hiện có trong bài giảng đang mở
Slide Master: Cho phép thiết kế Layout thống nhất cho bài giảng gồm có 2
slide:
* Title Master: tương ứng với Slide đầu tiên của bài giảng, là
Slide giới thiệu thông tin về bài giảng
* Body Master: tương ứng với các Slide nội dung trong bài
giảng
Ngoài ra còn có các nút chức năng bên dưới theo thứ tự từ trái sang
phải: Normal Slide View, Multi Slide View, Run from current Slide,
Insert Group, Delete Group
Vùng 3: Vùng thao tác của Slide đang được chọn, gồm các đối tượng văn bản, hình
Trang 36Tạo File
Mở các File đã lưu Đóng File đang thao tác Lưu File (phần mở rộng.lme) Lưu File dạng khác
In File
2 Các Menu
2.1 Menu Lecturemaker
Click mouse vào sẽ xuất hiện
các lệnh: New, Open, Close,
Save, Save As, Print
2.2 Menu home
Chức năng định dạng văn bản, gồm các nút lệnh:
Clipboard: Thực hiện các lệnh Cắt (Cut), Dán (Paste), Sao chép (Copy),
Gán thuộc tính cho đối tượng (Attribute)
Slide: Tạo Slide mới (New Slide), Sao chép Slide (Copy Slide), Nhân đôi
Slide (Duplicate Slide), Xóa Slide (Delete Slide)
Font: Định dạng Font cho văn bản
Paragraph: Định dạng đoạn văn bản
Draw: Vẽ hình, định dạng màu nền và màu viền của các đối tượng
Edit: Định vị, canh hàng, nhóm, ẩn hiện các đối tượng
Trang 372.3 Menu Insert
Cho phép chèn các đối tượng như multimedia, biểu đồ, đồ thị, công thức toán
học,… gồm các nút lệnh:
Object: Dùng để chèn các đối tượng vào bài giảng như: hình ảnh, phim, âm
thanh, Flash, nút nhấn, file PDF, PowerPoint,…
Recording: Dùng để ghi lại bài giảng, âm thanh,…
Editor: Dùng chèn công thức toán học, đồ thị, hình ảnh tự vẽ,…
Text: Thao tác với văn bản, chèn các ký tự đặc biệt,…
Quiz: Dùng để chèn các câu trắc nghiệm ngắn hay nhiều lựa chọn
2.4 Menu Control
Đặt các hiệu ứng cho các đối tượng và trang trình diễn, gồm các nút lệnh:
Object Control: Điều khiển thuộc tính của đối tượng
Video/ Audio Change: Chuyển đổi các file Video, Audio
Slide Transition Effect: Tạo hiệu ứng cho Slide
2.5 Menu Design
Cho phép chèn hình nền, chọn mẫu trình bày cho bài giảng, gồm các nút lệnh:
Design: Chứa các mẫu hình nền có trong chương trình
Trang 38 Layout: Chứa các bố trí sẵn các khung giữ chỗ cho file hình ảnh, văn bản,
Flash,…
Template: Chứa các mẫu bố trí sẵn, có cả hình nền và các khung giữ chỗ
Trong Template thường sẽ có các bộ Template gồm 1 Template cho frame tiêu đề
và 3 Template cho các frame còn lại trong bài giảng
Ví dụ: Template có tên Aqua0 dùng cho frame tiêu đề và 3 Template có tên
Aqua1, Aqua2, Aqua3 cho các frame còn lại trong bài giảng
Slide Setup: Thay đổi các thuộc tính cho Slide
2.6 Menu View
Trình diễn bài giảng, mở các cửa sổ khác, gồm các nút lệnh:
Run Slide (Các chế độ trình chiếu bài giảng):
Run All Slide: Trình chiếu tất cả Slide (Bắt đầu từ Slide 1 hoặc gõ phím
F5 trên bàn phím)
Run Current Slide: Trình chiếu từ Slide hiện hành
Run Full Screen: Trình chiếu toàn màn hình
Run Web: Trình chiếu dạng Web
View Slide: Xem Slide theo độ phóng to, thu nhỏ…
Slide Master: Thiết lập và chỉnh sửa Slide Master (Thao tác chỉnh sửa sẽ
ảnh hưởng đến tất cả Slide Body)
View HTML Tag: Xem mã các Tag trong HTML
Show/ Hide: Ẩn/ Hiện thước và đường lưới, thanh trạng thái
Window: Sắp xếp cửa sổ các File đang cùng mở
2.7 Menu Format