1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý THIẾT kế GIÁO án điện tử vật lý 11 NÂNG CAO DÙNG PHẦN mềm LECTUREMAKER

108 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 5,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa QTDH là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên còn người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu cùng với sự hướng dẫn của thầy Vương Tấn Sĩ em

đã hoàn thành luận văn của mình Em xin chân thành cảm ơn thầy hướng dẫn Vương Tấn

Sĩ đã động viên và cung cấp cho em những kiến thức quý báu để hoàn thành bài luận văn

Luận văn của em không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, mong nhận được

sự thông cảm và những ý kiến đóng góp từ các thầy cô và bạn bè

Em xin chân thành cảm ơn

Cần Thơ, ngày 03 tháng 05 năm 2013 Sinh viên

Phạm Điền Danh

Trang 3

Nhận Xét Của Giảng Viên Hướng Dẫn

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày………tháng 05 năm 2013

Giảng viên hướng dẫn

Thầy Vương Tấn Sĩ

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

A MỞ ĐẦU 6

I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI……….6

II MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI……… 7

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….8

V BỐ CỤC……… 8

B NỘI DUNG……… 9

Chương I Lý luận chung về dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.9 I Lý luận chung về dạy học……… 9

1 Dạy học và ý nghĩa của nó 9

2 Nhiệm vụ dạy học 10

2.1 Những cơ sở để xác định nhiệm vụ dạy học 10

2.2 Các nhiệm vụ dạy học cụ thể 11

3 Quá trình dạy học (QTDH) 12

3.1 Định nghĩa 12

3.2 Quy luật cơ bản của QTDH 12

3.3 Động lực của QTDH 14

3.4 Lôgic của QTDH 15

3.5 Hệ thống một số nguyên tắc cơ bản của QTDH 15

4 Phương pháp dạy học (PPDH) 21

4.1 Khái niệm PPDH 21

4.2 Đặc điểm của PPDH 21

4.3 Hệ thống các PPDH 21

4.3.1.1 Phương pháp dạy học dùng lời 21

4.3.1.2 Phương pháp dạy học trực quan 25

4.3.1.3.Phương pháp dạy học thực tiễn……… 25

4.3.1.4.Các phương pháp kiểm tra và đánh giá……….26

4.3.2 Một số phương pháp dạy học mới trong QTDH hiện nay…… 27

4.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 27

4.2.2.2 Dạy học chương trình hóa 28

4.3.2.3 Phương pháp Algôrít trong dạy học 28

II.Đổi mới phương pháp dạy học……… 29

1.Tính tất yếu phải đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay 29

1.1 Tình hình thế giới 30

1.2 Tình hình trong nước 31

2 Quan điểm đổi mới PPDH 31

3 Xu hướng đổi mới phương pháp giảng dạy ở nước ta hiện nay 33

III Ứng dụng MTĐT trong dạy học……… 33

1 Lý do sử dụng máy tính điện tử trong dạy học 33

Trang 5

2.2 Sử dụng máy tính điện tử để thiết kế và biểu diễn các mô hình, thí

nghiệm 35

2.3 Sử dụng máy tính điện tử để tự động hoá các thí nghiệm vật lí 35

2.4 Sử dụng máy tính điện tử để tích hợp với các phương tiện dạy học hiện đại 36

2.5 Sử dụng máy tính điện tử kết hợp với Multimedia 36

3 Vai trò của MTĐT trong quá trình dạy học 37

3.1 Vai trò hỗ trợ của máy tính điện tử đối với các nhiệm vụ dạy học 37

3.1.1 Truyền thụ tri thức, phát triển tư duy……… 37

3.1.2 Rèn luyện kỹ năng thực hành……… 38

3.1.3.Giáo dục nhân cách người lao động mới……… 38

3.2 Vai trò hỗ trợ của máy tính điện tử trong các giai đoạn của QTDH 39

3.2.1 Giai đoạn củng cố kiến thức cũ và đặt vấn đề mới……… 39

3.2.2 Giai đoạn xây dựng kiến thức mới……… 39

3.2.3 Giai đoạn ôn luyện và vận dụng kiến thức……… 40

3.2.4 Giai đoạn củng cố tổng kết, hệ thống hoá kiến thức………40

3.2.5 Giai đoạn kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức và các kĩ năng… 40

4 Một số hình thức sử dụng MTĐT làm phương tiện dạy học 41

4.1 Giáo viên sử dụng MTĐT làm phương tiện dạy học, truyền thụ tri thức 41

4.2 Học sinh sử dụng MTĐT dưới sự hướng dẫn và điều khiển của giáo viên 42

4.3 Học sinh độc lập sử dụng MTĐT 42

5 Một số ưu nhược điểm của việc sử dụng máy tính điện tử trong dạy học.43 5.1 Ưu điểm 43

5.2 Nhược điểm 44

Chương II Tổng quan về phần mềm LectureMaker……… 45

I Sơ lược về phần mềm LectureMaker.………45

1 Giới thiệu 45

2 Cài đặt và cập nhật LectureMaker 45

2.1 Yêu cầu hệ thống 45

2.2 Cài đặt 46

2.3 Kiểm tra phiên bản 48

2.4 Gỡ chương trình cài đặt 49

II Giao diện và các menu của LectureMaker……….50

1 Giao diện 51

2 Các Menu của LectureMaker 51

2.1 Menu LectureMaker 51

2.2 Menu Home 51

2.3 Menu Insert 52

2.4 Menu Control 52

2.5 Menu Design 53

2.6 Menu View 53

2.7 Menu Format 54

3 Các chức năng cơ bản của phần mềm LecterMaker 54

3.1 Tạo nút lệnh 54

3.2 Chèn văn bản, công thức toán, hình vẽ, ảnh, phim, flash… 58

Trang 6

4 Cách đóng gói bài giảng 68

4.1 Kết xuất bài giảng ra định dạng Web 68

4.2 Kết xuất ra định dạng SCO 70

4.3 Kết xuất ra gói SCORM 71

4.4 Kết xuất định dạng ra File chạy Exe 72

III Quy trình soạn giáo án với phần mềm LectureMaker……….73

1 Phân tích các nội dung của bài giảng 74

2 Thiết kế bài giảng sử dụng Slide Master 74

2.1 Tạo File bài giảng mới 74

2.2 Tạo Slide Master 74

Chương III Ứng dụng phần mềm LectureMaker vào việc xây dựng bài giảng điện tử Vật lý 11 NC ……… ………80

I Sử dụng phần mềm LectureMaker trong dạy học Vật lý 80

1 Dạy học Vật lý ở trường phổ thông 80

1.1 Đặc điểm 80

1.2 Các nhiệm vụ của việc dạy học vật lý ở trường phổ thông 80

1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy vật lý 81

1.4 Tổ chức hoạt động dạy học 82

II Tổng quan về SGK Vật lý 11NC……… 83

III Phần mềm LectureMaker - một công cụ trong quá trình xây dựng bài giảng điện tử Vật lý 11NC……….84

1 Những thuận lợi khi thiết kế bài giảng bằng phần mềm LectureMaker 84

2 Thiết kế giáo án điện tử sử dụng phần mềm LectureMaker……… 85

2.1 Giáo án điện tử bài “Cảm ứng từ Định luật Ampe” ……… 85

2.2 Giáo án điện tử bài “Mắt” ….……… 90

2.3 Giáo án điện tử bài “Khúc xạ ánh sáng” … ……… 94

2.4 Giáo án điện tử bài “Lăng kính” ………100

C NHẬN XÉT, KẾT LUẬN……… 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….107

Trang 7

A MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thế giới hôm nay đang chứng kiến những thay đổi to lớn trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT) CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin Các nhà khoa học khẳng định rằng chưa có một ngành khoa học – công nghệ nào lại có nhiều ứng dụng như CNTT Trong thế kỷ này, Internet đã mang đến những biến đổi to lớn có tính cách mạng trên quy mô toàn cầu

có mặt ở nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục và đào tạo

Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục

vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục

và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành Giáo Dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTG

Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện

để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy

cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn

Bộ GD&ĐT triển khai việc mua tập trung các thư viện bài giảng điện tử, các kho học liệu (hình ảnh, thí nghiệm ảo, các đoạn video,…) của các công ty trên thế giới để chia sẻ dùng chung

Bộ GD&ĐT phát động phong trào thi đua và tổ chức cuộc thi “Giáo viên sáng tạo” với khẩu hiệu phấn đấu hằng năm “Mỗi giáo viên xây dựng một bài giảng điện tử”

Hiện nay các trường phổ thông đều trang bị phòng máy, phòng đa năng nối mạng Internet và môn Tin học được giảng dạy chính thức Một số trường còn trang bị thêm thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner) và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên sử dụng

Trang 8

vào quá trình dạy học của mình Do vậy việc ứng dụng những thành tựu CNTT vào đổi mới PPDH rất được hưởng ứng, đặc biệt là ứng dụng những phần mềm thông minh vào

việc dạy học trên lớp và tự học ở nhà của học sinh LectureMaker là một trong số các

phần mềm đó, điểm nổi bật của phần mềm này thể hiện ở sự đơn giản, giao diện thân thiện, dễ sử dụng ngay cả với người không chuyên trong lĩnh vực CNTT

Môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, việc giảng dạy muốn mang lại hiệu quả cao cần thực hiện nhiều thí nghiệm Nếu sử dụng thí nghiệm thật đòi hỏi phải có nguồn kinh phí lớn để mua các dụng cụ thí nghiệm và đôi khi các thí nghiệm này rất khó hoặc không thể thực hiện trên lớp Trước thực tế đó, việc áp dụng CNTT trong dạy học Vật lý

là một giải pháp tối ưu Sử dụng phần mềm LectureMaker vào giảng dạy nói chung và

dạy học Vật lý nói riêng sẽ tạo ra một PPDH mới cho cả giáo viên và học sinh, giúp việc giảng dạy và học tập thu được kết quả tốt

LectureMaker là phần mềm hỗ trợ mạnh cho việc thiết kế bài giảng với rất nhiều

hiệu ứng như của PowerPoint, bài tập được thiết kế ở các dạng: Trắc nghiệm dạng trả lời ngắn, trắc nghiệm nhiều lựa chọn, chèn các video, các thí nghiệm ảo dạng flash nâng cao tính tương tác với người học, trực quan trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh

Với những lý do trên, dưới sự định hướng của thầy Vương Tấn Sĩ, em đã chọn đề

tài: “Thiết kế giáo án điện tử VL11 NC dùng phần mềm LectureMaker”

Trang 9

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Tổng hợp những thành tựu và khó khăn về PPDH sử dụng MTĐT như một công cụ dạy học

Nghiên cứu và hướng dẫn sử dụng phần mềm LectureMaker để hỗ trợ cho việc dạy học

Ứng dụng phần mềm LectureMaker để xây dựng bài giảng điện tử Vật lý 11 NC

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu các tài liệu về PPDH, tâm lý học, giáo dục học;

Nghiên cứu các PPDH ở trường THPT;

Nghiên cứu các phương pháp soạn bài giảng;

Nghiên cứu bộ công cụ LectureMaker thông qua các tài liệu về phần mềm;

Nghiên cứu PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp thực nghiệm

V BỐ CỤC

A Mở đầu

B Nội dung

Chương I: Lý luận chung về dạy học và ứng dụng CNTT vào dạy học

Chương II: Tổng quan về LectureMaker

Chương III: Ứng dụng phần mềm LectureMaker vào việc xây dựng bài giảng điện

tử Vật lý 11 NC

C Kết luận, nhận xét

Tài liệu tham khảo

Trang 10

B NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẠY HỌC VÀ ỨNG DỤNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC

Chương này sẽ trình bày về lý luận dạy học nói chung: quá trình dạy học (QTDH),

ý nghĩa và nhiệm vụ dạy học, phương pháp dạy học (PPDH), định hướng và cách thức đổi mới PPDH, phương thức ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học trong đổi mới hình thức dạy học hiện nay

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẠY HỌC

1 Dạy học và ý nghĩa của nó

Trong quá trình sống và tồn tại, con người có thể tiếp nhận kinh nghiệm sống một cách tự nhiên nhờ quá trình giao tiếp và hoạt động với cộng đồng Mỗi cá nhân ngay từ

bé đã tiếp nhận được những kĩ năng - kĩ xảo về ngôn ngữ, về lao động sản xuất, về cách thức chung sống giữa người với người, giữa người với tự nhiên Trải qua thời gian, cá nhân có sự sàng lọc những gì có lợi cho mình, giúp mình tồn tại trong các mối quan hệ

xã hội, thiết lập được những kinh nghiệm sống bao gồm một hệ thống tri thức và kĩ năng thực hành nhờ chỉ dẫn của người lớn, người có kinh nghiệm bằng sự bắt chước, tập dượt

để đạt tới sự đúng - sai, giữ lại hoặc loại bỏ Năm tháng kế tiếp nhau và thế hệ này truyền lại cho thế hệ khác, tri thức được cá nhân nhận biết, lĩnh hội, thông hiểu và vận dụng Con người đã tiêu tốn hàng bốn nghìn năm để tích lũy kinh nghiệm làm nông nghiệp, ba trăm năm cho kinh nghiệm làm công nghiệp và còn ngắn hơn nữa cho những cuộc cách mạng tiếp theo Nói một cách khác, cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, con người

đã biết tự giác gìn giữ những di sản của quá khứ và hiện tại thông qua con đường dạy học Điều đó cũng có nghĩa là việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng hoạt động của tuổi trẻ có thể thực hiện bằng nhiều hình thức (tự phát hoặc tự giác), song dạy học là con đường tối ưu nhất trong việc giúp cho tuổi trẻ tiếp cận, lĩnh hội kinh nghiệm của loài người

Học tập là công việc suốt đời, học bằng nhiều cách nhưng cách tốt nhất, đem lại hiệu quả nhanh chóng nhất cho mỗi người là sự học tập đặt ra trong quá trình dạy học, được tổ chức theo một kế hoạch chặt chẽ, thực hiện một nội dung bao gồm những tri thức

Trang 11

và kĩ năng sống được tích lũy qua thời gian của nhiều thế hệ loài người và của các nhà khoa học Quá trình dạy học tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhận thức của người học, họ vừa lĩnh hội những tri thức khoa học đã được loài người tích luỹ, vừa hình thành phương pháp nhận thức thế giới khách quan làm cơ sở cho những hoạt động sáng tạo sau này

Dạy học là phương tiện đem lại hiệu quả lớn lao trong việc phát triển hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ của người học Một khi người học đã tích lũy được một khối lượng tri thức cần thiết, có được một trình độ nhận thức xác định, họ có thể nhận thức thế giới khách quan một cách sâu sắc hơn Nói cách khác, nhờ sự tăng trưởng về lượng và chất thông qua dạy học, người học dần dần hình thành cho bản thân mình những quan điểm sống, thế giới quan, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo đức phù hợp với xã hội loài người

Dạy học góp phần vào việc nâng cao trình độ học vấn cho người học, nhưng cùng với nó là sự hình thành bộ mặt nhân cách cho mỗi cá nhân, giúp họ sống có ích cho bản thân và cho cộng đồng xã hội Dạy học không đồng nhất với dạy người nhưng nó là phương tiện cơ bản giúp cho mỗi cá nhân trở thành con người xã hội theo đúng nghĩa của

2 Nhiệm vụ dạy học

2.1 Những cơ sở để xác định nhiệm vụ dạy học

Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường phổ thông được xây dựng dựa trên những cơ sở sau:

- Những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước

- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992)

- Luật Giáo dục (1998), Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng (2001) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2002, đã chỉ rõ những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục nước ta, đó là:

+ Giáo dục là quốc sách hàng đầu: Với quan điểm này, Đảng ta đã coi phát triển giáo dục là nền tảng cho quá trình tạo đựng nguồn nhân lực chất lượng cao Đây chính là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Ngày nay, giáo dục đang trở

Trang 12

thành một bộ phận của cấu trúc hạ tầng xã hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng,…

+ Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại theo định hướng XHCN, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Mục tiêu này được thể hiện trên hai phương diện:

Về phương diện xã hội: Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo cơ hội bình

đẳng để ai cũng được học hành Nhà nước có cơ chế, chính sách giúp đỡ người nghèo học tập, khuyến khích những người học giỏi phát triển tối đa năng lực của bản thân

Về phương diện phân cách: Con người Việt Nam trong thời kì CNH-HĐH và hội

nhập quốc tế phải có lí tưởng xã hội chủ nghĩa và lòng tự tôn dân tộc; có năng lực hoạt động xã hội và phẩm chất đạo đức trong sáng, biết phát huy bản sắc của văn hóa dân tộc bên cạnh sự tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; có ý thức và khả năng chung sống trong cộng đồng; có tác phong công nghiệp; có ý thức tổ chức, kỉ luật; có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp; có ý thức công dân; có sức khỏe để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

+ Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ, củng cố quốc phòng - an ninh, đảm bảo sự hợp lí về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng Thực hiện nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

+ Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân theo quan điểm nâng cao: Xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học suốt đời Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển

sự nghiệp giáo dục, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục

2.2 Các nhiệm vụ dạy học cụ thể

- Nhiệm vụ giáo dưỡng: Giúp học sinh lĩnh hội những tri thức khoa học và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

Trang 13

3 Quá trình dạy học (QTDH)

Ở phần này chúng ta sẽ nghiên cứu các quy luật cơ bản, động lực, tính lôgic và một

số nguyên tắc cơ bản của QTDH

3.1 Định nghĩa

QTDH là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên còn người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học

Từ khái niệm trên, ta thấy trong QTDH hoạt động dạy và hoạt động học liên hệ mật thiết với nhau, diễn ra đồng thời và phối hợp chặt chẽ tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học, từ đó tạo nên hiệu quả cho QTDH

3.2 Quy luật cơ bản của QTDH

- Quy luật về tính quy định của xã hội đối với quá trình dạy học

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa dạy học và phát triển trí tuệ

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa dạy học và giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa nội dung dạy học với phương pháp và phương tiện dạy học

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa việc xây dựng kế hoạch, việc tổ chức, việc điều chỉnh và việc kiểm tra hoạt động của học sinh trong tiến trình thực hiện

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học với mục đích dạy học

- Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa phương pháp dạy học với phương pháp khoa học

Trong các quy luật nêu trên, lí luận dạy học coi quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học là quy luật cơ bản của quá trình dạy học Bởi quy luật này phản ánh mối liên hệ tất yếu, chủ yếu và bền vững giữa hai thành tố cơ bản đặc trưng cho tính hai mặt của QTDH Mặt khác quy luật này chi phối, ảnh hưởng tích cực tới các quá trình khác của QTDH, các quy luật khác chỉ có thể phát huy tác dụng dưới ảnh hưởng tác động của quy luật này

Giáo viên là chủ thể tác động sư phạm có vai trò chủ đạo, đối tượng của hoạt động này là học sinh và quá trình học tập của học sinh Trong QTDH giáo viên sẽ giúp học

Trang 14

sinh xác định được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ học tập, lựa chọn nội dung và phương pháp học tập, tự kiểm tra, đánh giá quá trình lĩnh hội kinh nghiệm

Hoạt động của giáo viên là hoạt động có tính toàn diện, tinh tế, đòi hỏi người giáo viên những phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp nhất định Trách nhiệm của giáo viên là thực hiện việc dạy có hiệu quả, hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh phù hợp với yêu cầu xã hội Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động dạy và bản thân của người dạy cũng phát trển vì:

- Những yêu cầu của việc đào tạo con người cho tương lai đòi hỏi giáo viên không ngừng nâng cao kiến thức của mình về các khoa học có liên quan đến môn mình dạy, về hoạt động dạy và giáo dục

- Hoạt động dạy của giáo viên bao gồm các dạng hoạt động đòi hỏi những hiểu biết

và kĩ năng tương ứng: giao tiếp, điều khiển và quản lý, hướng dẫn và giảng giải Các hoạt động này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đều có đối tượng là học sinh

Trong QTDH thì hoạt động của học sinh được xem là hoạt động trung tâm Qua hoạt động đó học sinh có thể ý thức được một cách đầy đủ, chính xác hơn, sâu sắc hơn các mục đích, nhiệm vụ học tập; từ chưa biết đến biết và biết ngày càng sâu sắc hơn, đầy

đủ và hoàn thiện hơn; từ việc nắm vững tri thức đến việc biết đến những kỹ năng, kỹ xảo Trên cơ sở đó, học sinh ngày càng nâng cao hoàn thiện các năng lực và phẩm chất hoạt động trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học và phẩm chất đạo đức

Học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động học tập Học sinh tiếp thu những tác động của giáo viên một cách có ý thức để rồi tự thân vận động, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Như vậy chất lượng của QTDH phụ thuộc vào mức độ tích cực, độc lập, tự giác, sáng tạo của học sinh trong QTDH Hoạt động dạy và hoạt động học có quan hệ biện chứng, quy định sự tồn tại của nhau, kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia

Trang 15

3.3 Động lực của QTDH

Sự phát triển tính tích cực và những năng lực nhận thức của học sinh diễn ra trong quá trình tìm kiếm lời giải đáp, tìm cách giải quyết những nhiệm vụ nào đó xuất hiện trong QTDH

Theo triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng không ngừng vận động và phát triển Sở dĩ như vậy là do có sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, do mâu thuẫn bên trong và bên ngoài Mâu thuẫn bên trong là nguồn gốc của sự phát triển, mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện của sự phát triển Quá trình dạy học trong hiện thực khách quan cũng vận động và phát triển không ngừng, giải quyết các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài Mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố và giữa các yếu tố trong từng thành tố của quá trình dạy học như: mâu thuẫn giữa nội dung dạy học đã được cải tiến nhưng phương pháp chưa được đổi mới, hay trong PPDH xuất hiện mâu thuẫn giữa việc sử dụng nhóm phương pháp dùng lời với nhóm phương pháp trực quan

Động lực của quá trình dạy học là giải quyết tốt được mâu thuẫn bên ngoài, bên trong của quá trình dạy học, trong đó giải quyết các mâu thuẫn bên trong có ý nghĩa quyết định Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định các mâu thuẫn bên ngoài của quá trình dạy học lại có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự vận động và phát triển của nó Hay nói cách khác động lực của quá trình dạy học là sự mâu thuẫn giữa những nhiệm vụ nhận thức và nhiệm vụ thực tế do tiến trình dạy học đề ra với trình độ kiến thức, kĩ năng

và trình độ phát triển trí tuệ của học sinh Cần nhấn mạnh rằng vì những nhiệm vụ đó lại

do chính tiến trình dạy học và logic của nó đề ra nên chúng sẽ lôi cuốn học sinh Điều kiện tất yếu để mâu thuẫn trở thành động lực của học sinh là tính vừa sức của nó đối với trình độ nhận thức của học sinh Bản chất của động lực này là: Trong quá trình thống nhất hoạt động của giáo viên và học sinh, trong đó những cố gắng của họ, những câu hỏi, lời giải đáp để phỏng đoán hòa lẫn với nhau thành một dòng hoạt động thống nhất, sẽ xuất hiện những mâu thuẫn giữa hai mặt của quá trình này Những mâu thuẫn này bao gồm một bên là những bài tập, câu hỏi, những điều kiện bắt buộc phải suy nghĩ xuất hiện trong tiến trình dạy học và bên kia là những tìm tòi, ước đoán, trả lời, giải pháp tìm được

Trang 16

3.4 Lôgic của QTDH

- Lôgic của QTDH là trình tự vận động hợp quy luật, có hiệu quả tối ưu của học sinh dưới sự chỉ đạo, tổ chức của giáo viên

-Cấu trúc lôgic của QTDH:

+ Chuẩn bị về tâm lý, ý thức cho việc học tập

+ Tri giác tài liệu học tập để hình thành biểu tượng

+ Tư duy để hình thành khái niệm mới

+ Củng cố kiến thức, kỹ năng mới

+ Vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo

+ Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

3.5 Hệ thống một số nguyên tắc cơ bản của QTDH

- Nguyên tắc dạy học là những phương hướng chung được đúc kết thành những luận điểm cơ bản, có giá trị chỉ đạo toàn bộ công tác dạy học theo đúng quy luật của QTDH

- Từ trước đến nay đã từng có nhiều hướng xây dựng hệ thống các nguyên tắc dạy học Hai hướng xây dựng chính là:

+ Xây dựng hệ thống các nguyên tắc dạy học trong đó mỗi nguyên tắc phản ánh một phạm trù

+ Xây dựng hệ thống các nguyên tắc dạy học trong đó mỗi nguyên tắc phản ánh một cặp phạm trù thống nhất biện chứng Hướng xây dựng này được thể hiện trong hệ thống các nguyên tắc dạy học dưới đây:

Nguyên tắc 1: Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, giáo viên phải tuân thủ tính khoa học đồng thời tuân thủ tính giáo dục Hai phạm trù thống nhất biện chứng ở đây là tính khoa học và tính giáo dục

- Tính khoa học thể hiện ở chỗ: Tri thức được đưa ra trong dạy học phải chân chính, chính xác, tức là đúng với bản chất có thật của sự vật, hiện tượng mà học sinh cần nghiên cứu Qua đó, giúp các em hiểu đúng bản chất sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, biết sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản, có thói quen suy nghĩ, làm

Trang 17

- Tính giáo dục thể hiện ở chỗ: Thông qua việc cung cấp tri thức cần hình thành cho học sinh thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và những phẩm chất của người lao động mới Tức là bồi dưỡng cho học sinh:

+ Quan điểm duy vật biện chứng khi nghiên cứu, xem xét sự vật, hiện tượng nào đó + Thái độ đúng đắn đối với sự vật, hiện tượng đó

+ Phẩm chất nhân cách tương ứng

Nguyên tắc này phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa dạy học và giáo dục, giữa dạy chữ và dạy người trong quá trình dạy học, được quán triệt thông qua việc xây dựng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

Ở nhà trường phổ thông cần dạy cho học sinh những chân lý đã được khẳng định;

sử dụng thuật ngữ, ngôn ngữ chính xác; trình bày tri thức theo một hệ thống logic chặt chẽ…Bồi dưỡng cho học sinh quan điểm duy vật, tư duy biện chứng khi xem xét các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy Qua đó, bồi dưỡng cho các em ý thức, năng lực phân tích, phê phán những hiện tượng mê tín dị đoan, những quan điểm, lý thuyết duy tâm, phản động, phản khoa học…; Ý thức, năng lực đút kết, rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu từ nội dung bài học

Nguyên tắc 2: Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học

Nguyên tắc này phản ánh mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học Hai phạm trù thống nhất biện chứng trong nguyên tắc này là lý luận và thực tiễn Theo Bùi Hiền và các cộng sự (2001):

- Lý luận là hình thức cao nhất của tư duy khoa học, là hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật phản ánh những thuộc tính cơ bản, những mối quan hệ giữa các sự vật trong thực tiễn Lý luận là yếu tố cấu trúc cơ bản của khoa học; lý luận liên kết những

sự việc, những vấn đề, những giả định, những phương pháp nhận thức… thành một thể thống nhất

- Thực tiễn là hoạt động vật chất, tinh thần của con người nhằm tác động và cải tạo thực tế khách quan vì lợi ích của con người

Nguyên tắc này phản ánh mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Lý luận được xây dựng từ thực tiễn đồng thời lại là kim chỉ nam cho thực tiễn Thực tiễn là nguồn gốc của

lý luận đồng thời lại là nơi kiểm chứng cho lý luận, nơi thực hiện lý luận Hồ Chủ Tịch

đã từng nói: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa

Trang 18

Mác – Lênin Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn mà không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng” Đây là sự quán triệt nguyên

lý giáo dục của Đảng ta: “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học cần giúp học sinh nắm vững những tri thức lý thuyết, hiểu được tác dụng của tri thức đối với thực tiễn, với đời sống và giúp học sinh biết liên hệ lý thuyết với thực tiễn, có kỹ năng vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề do thực tiễn, do cuộc sống đề ra Nhờ thực hiện nguyên tắc này mới có thể đào tạo được những con người có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa ý thức và hành động

Do đó, để đảm bảo các yêu cầu trên khi xây dựng nội dung dạy học cần lựa chọn những tri thức khoa học hiện đại và phù hợp với thực tiễn; làm cho học sinh thấy được nguồn gốc của tri thức khoa học và vai trò của nó để học sinh có nhu cầu, hứng thú nhận thức; phản ánh (hay liên hệ) thực tiễn vào nội dung bài dạy; khai thác vốn sống của học sinh…đồng thời giáo dục để học sinh có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức Cần lựa chọn phối hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho học sinh có cơ hội ứng dụng tri thức vào thực tiễn bằng các hình thức thực hành phong phú và đa dạng: Làm các loại bài tập; làm thí nghiệm, thực nghiệm; học ở xưởng trường, vườn trường…

Nguyên tắc 3: Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong quá trình dạy học

Hai phạm trù thống nhất biện chứng trong nguyên tắc này là cái cụ thể và cái trừu tượng Theo Hoàng Phê và các cộng sự (1994) cái cụ thể là cái có hình thể, có tồn tại vật chất mà các giác quan con người có thể nhận biết được (bản thân của các sự vật, hiện tượng hay hình ảnh của chúng) còn cái trừu tượng là thuộc tính, quan hệ được tách ra trong tư duy con người khỏi các thuộc tính, các quan hệ khác của sự vật (khái niệm) Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học cần vận dụng tốt hai con đường nhận thức biện chứng:

- Con đường đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng: Ở con đường này cần cho học sinh

Trang 19

- Con đường đi từ cái trừu tượng đến cái cụ thể: Ở con đường này cần cho học sinh nắm lý thuyết trừu tượng, khái quát (nguyên tắc, quy tắc, khái niệm chung) rồi từ đó phân tích, xem xét những cái cụ thể, cái riêng biệt

Nếu hướng dẫn học sinh nhận thức theo con đường thứ nhất thì cái cụ thể là điểm xuất phát trực quan của các em, từ đó hướng dẫn các em thực hiện các thao tác tư duy trừu tượng để hình thành khái niệm (con đường quy nạp); từ khái niệm lại tiếp tục xem xét những cái cụ thể trong cuộc sống Còn nếu hướng dẫn học sinh nhận thức theo con đường thứ hai thì cái trừu tượng là điểm xuất phát, từ đó hướng dẫn các em sử dụng tư duy để tái hiện cái cụ thể, cái riêng biệt (con đường diễn dịch); từ những cái cụ thể, riêng biệt lại tiếp tục xem xét khẳng định tri thức khái quát

Nguyên tắc này thể hiện mối liên hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng trong logic nhận thức

Các biện pháp thực hiện:

- Sử dụng nhiều loại phương tiện trực quan khác nhau

- Kết hợp hệ thống tín hiệu một và hệ thống tín hiệu hai khi trình bày

- Rèn luyện óc quan sát và khả năng khái quát

- Sử dụng ngôn ngữ giàu hình tượng

- Cho học sinh làm những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập được mối quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng Ví dụ: Giải các bài tập về thiết kế-kỹ thuật, lập sơ đồ…

Nguyên tắc 4: Nguyên tắc đảm bảo sự vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và tính mềm dẻo của tư duy

Hai phạm trù thống nhất biện chứng trong nguyên tắc này là sự vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và tính mềm dẻo của tư duy

Theo nghĩa chung nhất, vững chắc là có khả năng chịu sự tác động mạnh từ bên ngoài mà vẫn giữ nguyên trạng thái, tính chất, không bị phá hủy, đổ vỡ, còn mềm dẻo là biết thay đổi, điều chỉnh ít nhiều cách đối xử cụ thể cho hợp hoàn cảnh, đối tượng

Nguyên tắc này đòi hỏi trong QTDH học sinh phải nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để khi cần có thể vận dụng một cách mềm dẻo hay linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống hoạt động nhận thức hoặc hoạt động thực tiễn Mối quan hệ giữa sự vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và tính mềm dẻo của tư duy trong dạy học là mối quan hệ nhân quả giữa việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo (đối tượng của hoạt động nhận thức) với kết quả đạt được của phương thức lĩnh hội (phẩm chất về tính linh hoạt của trí tuệ)

Trang 20

Để thực hiện nguyên tắc này cần giúp học sinh:

- Ghi nhận tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ban đầu một cách chính xác

- Khắc sâu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

- Cho học sinh vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, kỹ xảo bằng nhiều hình thức thực hành phong phú, đa dạng khác nhau

Nguyên tắc 5: Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong quá trình dạy học

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học cần lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với phát triển chung của mọi thành viên trong lớp đồng thời phù hợp với từng học sinh

Đây là nguyên tắc về tính vừa sức Đối tượng dạy học của giáo viên trong nhà trường là tập thể và cá nhân học sinh Cho nên dạy học phải vừa có tính vừa sức chung lại vừa có tính vừa sức riêng

Dạy học vừa sức tức là đề ra những yêu cầu, nhiệm vụ mà học sinh có thể hoàn thành được với sự nỗ lực cao nhất về trí tuệ và sức khỏe

Nguyên tắc này đảm bảo cho quá trình dạy học đáp ứng được với thực trạng phát triển không đồng đều về tâm, sinh lý của học sinh diễn ra trong quá trình dạy học nhằm kích thích sự phát triển chung của cả tập thể cũng như sự phát triển của từng loại học sinh và từng học sinh riêng biệt

Việc quán triệt nguyên tắc này được thực hiện trong dạy học theo hướng phân hóa

Đó là dạy học trong đó chú ý đến sự khác biệt của học sinh để dạy cho phù hợp

Có thể dạy học theo hướng phân hóa bên ngoài hoặc theo hướng phân hóa bên trong:

- Dạy học theo hướng phân hóa bên ngoài là dạy học trong đó học sinh được phân thành từng nhóm có hứng thú và khả năng đối với nhóm các môn học nào đó (dạy học phân ban)

- Dạy học theo hướng phân hóa bên trong là dạy học trong một tập thể có chú ý đến đặc điểm của từng loại học sinh, từng học sinh Dạng phân hóa này chính là dạy học cá

Trang 21

Nguyên tắc 6: Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của người dạy và vai trò tự giác, tích cực, độc lập của học sinh

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, hoạt động của giáo viên phải giữ vai trò chủ đạo, giáo viên phải là người tổ chức, người điều khiển và lãnh đạo hoạt động nhận thức của học sinh Học sinh trong quá trình học tập vừa là đối tượng, khách thể của hoạt động dạy, vừa là chủ thế nhận thức, chủ thể chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng theo mục đích, nhiệm vụ của quá trình dạy học Để học tập có hiệu quả, học sinh phải không ngừng phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập trong quá trình học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Tính tự giác trong học tập thể hiện ở việc học sinh tự mình thực hiện những hoạt động nhận thức mà không cần người khác nhắc nhở, đốc thúc Tính tự giác là cơ sở, tiền

đề hình thành ở học sinh tính tích cực nhận thức

Tính tích cực nhận thức được thể hiện ở học sinh khi các em biết huy động ở mức

độ cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là các chức năng tư duy trừu tượng Nó được thể hiện ở những hiện tượng như: Sự tập trung chú ý (nghe giảng, nhìn lên hình vẽ trên bảng, làm bài tập…); hăng hái phát biểu ý kiến; hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao…Tính tích cực nhận thức phát triển đến mức độ cao sẽ hình thành ở học sinh tính độc lập nhận thức

Tính độc lập nhận thức được đặc trưng ở việc học sinh có thể tự mình phát hiện được vấn đề, tự mình tìm ra phương án giải quyết vấn đề và tự mình giải quyết vấn đề

Để thực hiện được nguyên tắc này, trước hết hoạt động dạy học cần hướng các em học tập bằng chính hoạt động của mình Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, người giúp

đỡ để các em học tập bằng chính hoạt động của mình Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, người giúp đỡ để học sinh học tập tốt

Nguyên tắc này phản ánh quy luật cơ bản của quá trình dạy học

Tóm lại, các nguyên tắc dạy học trên tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh Các nguyên tắc này cần phải được vận dụng và đồng bộ thông qua hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh Việc quán triệt các nguyên tắc dạy học tạo nên nghiệp vụ sư phạm của người giáo viên trong quá trình dạy học, được thể hiện ở sự lựa chọn và sử dụng nội dung, phương pháp dạy học

Trang 22

Nguyên tắc 7: Đảm bảo thống nhất giữa cá nhân và tập thể

Học sinh luôn nằm trong một khuôn khổ nhất định trong một nhóm, một tập thể Cho nên việc học ở trường chính là nhờ các tác động của tập thể Muốn giải quyết cho cá nhân thì phải chú ý đến tập thể Bản thân việc học lại mang tính cá nhân (không ai học thay cho ai), đặc biệt trong làm bài, thi hay kiểm tra

4 Phương pháp dạy học (PPDH)

4.1 Khái niệm PPDH

PPDH là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học

4.3.1 Một số phương pháp dạy học truyền thống

4.3.1.1 Phương pháp dạy học dùng lời

Dựa trên nguồn phát thông tin là lời nói (ngôn ngữ nói) và chữ viết (ngôn ngữ viết), chúng ta có thể kể đến các phương pháp cụ thể như: phương pháp thuyết trình; phương pháp sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác; phương pháp hỏi đáp; phương pháp dạy học nêu vấn đề - tìm tòi - sáng tạo

Phương pháp thuyết trình

Bản chất của phương pháp: Đặc điểm cơ bản nổi bật của phương pháp thuyết trình

là tính chất thông báo qua lời giảng của giáo viên và tính chất tái hiện sau khi lĩnh hội tri thức của học sinh

Mục đích của phương pháp: Trình bày tài liệu mới một cách có hệ thống trong một khoảng thời gian xác định, kết hợp trong bài giảng với bổ sung những vấn đề phức tạp

mà tự học sinh khó có thể nắm được hoặc trình bày, giới thiệu những vấn đề thực tế, hệ

Trang 23

Cấu trúc lôgic của phương pháp:

- Đặt vấn đề: Dựa trên cơ sở của đề bài, giáo viên thông báo những vấn đề chung nhất mà bài học phải thực hiện nhằm tạo tâm thế và nhu cầu tiếp thu những kiến thức mới

- Phát biểu vấn đề: Giáo viên trình bày những vấn đề bộ phận nằm trong vấn đề chung mà bài học sẽ đề cập tới

- Giải quyết vần đề: Là luận giải, chứng minh tìm hiểu bản chất của những vấn đề

cụ thể đã nêu ra trong giai đoạn trước Công việc giải quyết vấn đề được thực hiện theo các lôgic phổ biến là quy nạp - diễn dịch

Nếu đi theo con đường quy nạp, giáo viên có thể áp dụng một số cách trình bày bài giảng như sau:

- Quy nạp từng phần: Phân chia nội dung bài học thành những phần độc lập tương đối, rồi phân tích từng phần của bộ phận để rút ra kết luận sơ bộ Kết luận này là cơ sở để phân tích vấn đề thứ hai, mà cứ như vậy cho tới khi giải quyết hết các vấn đề đã đặt ra Kết luận của bộ phận cuối cùng sẽ được coi là kết luận của bài học

- Quy nạp song song: Nếu nội dung của bài học bao gồm những vấn đề tương phản, giáo viên có thể áp dụng lối phân tích song song đặt những vấn đề này bên cạnh nhau trong cùng một hoàn cảnh để so sánh, đối chiếu những thuộc tính hoặc quan hệ tương phản giữa chúng, từ đó rút ra kết luận cho từng thuộc tính đã đem ra so sánh (cả về mặt giống nhau và khác nhau của những vấn đề thuộc nội dung bài học)

Bài học cũng có thể được tiến hành theo con đường diễn dịch:

- Đi theo cách này giáo viên trình bày những kết luận dự kiến, sơ bộ của toàn bài hay từng phần của nội dung bài học, sau đó tiến hành giải quyết vấn đề theo những cách

mà con đường quy nạp vẫn thực hiện, nghĩa là khi đó ta sẽ có các kiểu: diễn dịch từng phần, diễn dịch phát triển theo điểm tựa và diễn dịch song song Những kết luận rút ra theo ba cách diễn dịch sẽ giữ vai trò khẳng định cho kết luận dự kiến ban đầu

- Kết luận vấn đề: Nội dung của kết luận là sự kết tinh cô đọng, chính xác, đầy đủ

và khái quát nhất bản chất của nội dung bài học

Trang 24

Phương pháp dùng sách giáo khoa và các tài liệu học tập

Sách nói chung là một trong những nguồn thông tin bổ ích mà ở mọi thời đại nó đều tồn tại và được mọi người sử dụng Một xã hội văn minh càng cần đến sách, bởi trong nó phản ánh những kinh nghiệm đã được hệ thống hóa và khái quát hóa mà nhân loại đã tích lũy được trong quá khứ, hiện tại và cả những dự báo cho tương lai

Việc sử dụng sách như là nguồn tri thức nếu có sự quan tâm đúng mức của giáo viên Sách sẽ góp phần mở rộng, đào sâu vốn hiểu biết, rèn luyện ngôn ngữ, tăng cường năng lực cảm thụ, óc nhận xét, phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, tình cảm và tư tưởng cho học sinh

Phương pháp hỏi – đáp

Phương pháp hỏi - đáp thực chất là phương pháp mà trong đó giáo viên đặt ra một

hệ thống câu hỏi để học sinh lần lượt trả lời, đồng thời có thể trao đổi qua lại dưới sự định hướng của giáo viên nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mới, rút ra những kết luận cần thiết từ những tài liệu đã học cũng như từ những kinh nghiệm đã tích lũy được trong hoạt động thực tế, nhờ đó mà học sinh được củng cố, mở rộng và đào sâu những tri thức đã học, kiểm tra được việc nắm vững tri thức của học sinh Có thể nói trong phương pháp này, hệ thống hỏi - đáp là nguồn kiến thức chủ yếu cung cấp cho học sinh trong giờ học Tương ứng với những chức năng nêu trên, căn cứ vào tính chất nhận thức của người học hoặc thực tiễn dạy học ở nhà trường phổ thông, hiện nay đang tồn tại một số phương pháp hỏi - đáp cơ bản sau:

+ Hỏi - đáp tái hiện: Bản chất của phương pháp này là giáo viên đặt ra những câu hỏi, học sinh phải nhớ lại những gì đã học để trả lời Ở phương pháp này học sinh không cần đến sự suy luận mà thường chỉ sử dụng tới ghi nhớ máy móc

+ Hỏi - đáp giải thích - minh hoạ: Phương pháp này có mục đích nhằm giải thích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó có kèm theo những ví dụ minh họa cho lập luận của mình Nội dung giải thích được kiến tạo thành một hệ thống câu hỏi - lời đáp

+ Hỏi - đáp Ơrixtíc: Phương pháp này là phương pháp mà trong đó giáo viên tổ chức sự trao đổi, kể cả tranh luận giữa giáo viên với học sinh; giữa học sinh với nhau,

Trang 25

động của học sinh là hoạt động của người đi tìm chân lí một cách chủ động với một quyết tâm cao

+ Hỏi - đáp tìm tòi sáng tạo: Phương pháp này có ý nghĩa lớn lao trong việc đào tạo những con người tự lực, sáng tạo cho xã hội Nó tạo điều kiện cho học sinh phát huy được tính tích cực, độc lập nhận thức, phát triển được hứng thú học tập và khát vọng tìm kiếm chân lí mới Việc tổ chức phương pháp hỏi - đáp theo cách thức này thường được

sử dụng trong hình thức tổ chức dạy học thảo luận Xêmina

Phương pháp dạy học nêu vấn đề - tìm tòi - sáng tạo

Trong sự phân loại các phương pháp dạy học, hoạt động dạy học có thể được thực hiện theo các kiểu: kiểu thông báo - tái hiện; kiểu làm mẫu - bắt chước và kiểu nêu vấn

đề - Ơrixtíc Ở hai kiểu đầu tiên thường chỉ đưa học sinh đạt tới trình độ tái hiện và vận dụng thành thạo những kiến thức, kĩ năng đã học vào những tình huống quen thuộc Để đạt tới trình độ sáng tạo của sự lĩnh hội, tức là khả năng vận dụng sự hiểu biết vào những tình huống mới, cần sử dụng kiểu dạy học nêu vấn đề - Ơrixtíc mà trong đó giáo viên là người nêu vấn đề và tổ chức hoạt động còn học sinh thì tự tìm tòi, phát hiện khi hoạt động trên đối tượng (vấn đề được đặt ra)

Phương pháp dạy học nêu vấn đề - Ơrixtíc không phải là một phương pháp dạy học

cụ thể đơn nhất, mà nó là một phân hệ dạy học chuyên biệt hóa bao gồm một tập hợp nhiều phương pháp dạy học liên kết chặt chẽ và tương tác với nhau, trong đó phương pháp xây dựng bài toán Ơrixtíc giữ vai trò trung tâm, chủ đạo Như vậy, ngoài phương pháp xây dựng bài toán Ơrixtíc, còn có sự tham gia của những phương pháp quen thuộc khác như thuyết trình, thí nghiệm, đàm thoại

Một số cách thức xây dựng bài toán nêu vấn đề - Ơrixtíc:

- Tình huống nghịch lí và bế tắc

- Tình huống lựa chọn

- Tình huống tại sao?

Trang 26

4.3.1.2 Phương pháp dạy học trực quan

Phương pháp giảng dạy trực quan bao gồm phương pháp quan sát và phương pháp trình bày trực quan Giữa hai phương pháp này luôn tồn tại sự gắn bó và quan hệ mật thiết với nhau Quan sát là hành động của học sinh đối với các phương tiện dạy học thông qua các cơ quan cảm giác trực tiếp của các em, còn trình bày trực quan là hoạt động của giáo viên trong giảng dạy nhờ vào các vật thật, sơ đồ, biểu mẫu có liên quan

và phục vụ nội dung bài học

Quan sát được thực hiện trong nhiều bài học, nhiều môn học, tùy thuộc vào tính chất môn học mà có đối tượng quan sát tương ứng, chúng rất phong phú và đa dạng Chẳng hạn, đối với các bộ môn: Lí, Hóa, Sinh… đối tượng quan sát có thể là những vật thể, vật chất thực sự như máy móc, thiết bị kĩ thuật, tranh ảnh, phim, video,…

Phương pháp trình bày trực quan

Trình bày trực quan là phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan trước khi, trong khi và sau khi nắm tài liệu mới Phương pháp này còn được sử dụng trong quy trình ôn tập, củng cố và thậm chí cả khi thi kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

4.3.1.3 Phương pháp dạy học thực tiễn

Phương pháp làm thí nghiệm

Phương pháp làm thí nghiệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, đặc biệt đối với những môn khoa học tự nhiên như Toán, Lí, Hóa, Sinh Thông qua hoạt động trên những đối tượng thực trong phòng thí nghiệm, việc nắm

Trang 27

số thói quen hoạt động công nghiệp như bảo quản, giữ gìn công cụ, máy móc ngăn nắp, gọn gàng

Có thể nói, thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực về kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo và là một trong những phương tiện giúp ích đắc lực cho sự hình thành ở học sinh kĩ năng, kĩ xảo thực hành và

tư duy kĩ thuật

Phương pháp luyện tập

Với tư cách là một phương pháp dạy học, luyện tập là quá trình lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhất định một cách có ý thức, có sáng tạo trong những hoàn cảnh khác nhau, nhằm hình thành và cũng cố các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết Luyện tập cần được tiến hành một cách có tổ chức và có kế hoạch Luyện tập mang tính đa dạng, tùy thuộc vào đặc thù môn học, song ở tất cả các môn học, chúng ta thấy có những kĩ năng, kĩ xảo chung về tư duy như: quan sát; lựa chọn, sắp xếp sự kiện, số liệu theo những dấu hiệu nào đó, ghi chép, vẽ, phân tích, so sánh, tổ hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa và rút ra kết luận Vì thế, luyện tập luôn mang ý nghĩa của sự phát triển trí tuệ trong dạy học

4.3.1.4 Các phương pháp kiểm tra và đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

Kiểm tra - đánh giá là hai hoạt động trong cùng một khâu dạy học, được thực hiện tuần tự hoặc xen kẽ nhau Nhờ kiểm tra và đánh giá, những kết quả định tính và định lượng về trình độ nhận thức của học sinh được phản hồi trở lại người giáo viên, giúp cho

họ thấy được những gì cần bổ sung, điều chỉnh trong nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức sao cho phù hợp với đối tượng giảng dạy Cũng nhờ những kết quả thu được qua kiểm tra, đánh giá, nhà trường nhận rõ trách nhiệm chuyên môn của mình trong việc đảm bảo kế hoạch chương trình, nội dung, bồi dưỡng giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy và học, đây cũng là cơ sở giúp nhà trường tạo dựng mối liên hệ với các lực lượng giáo dục khác nhau ngoài xã hội

Về phía cá nhân học sinh, thông qua kiểm tra các em có điều kiện ôn tập, củng cố kiến thức, hoàn thiện học vấn, bổ sung những gì mình còn thiếu hoặc yếu, đồng thời nhờ

Trang 28

đánh giá mà các em có điều kiện tự kiểm tra lại mình về mức độ lĩnh hội tri thức, trình độ

kĩ năng, phương pháp học tập, từ đó hình thành thái độ và trách nhiệm đối với hoạt động học tập của bản thân, có thêm ý chí và nghị lực đạt tới kết quả cao hơn, rèn luyện tính tự chủ, tự giác và tránh xa những biểu hiện thiếu trung thực trong làm bài, thi cử

Về phía tập thể học sinh, trong kiểm tra - đánh giá tạo ra những dư luận lành mạnh, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tăng cường mối quan hệ gắn bó về chuyên môn và tình cảm giữa thầy và trò

Ngoài ra với kết quả do kiểm tra - đánh giá mang lại, hoạt động này còn có chức năng thông tin tư vấn cho cha mẹ học sinh và tổ chức đoàn thể xã hội, tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau để tạo dựng sức mạnh giáo dục học sinh

Một số phương pháp kiểm tra - đánh giá:

- Kiểm tra vấn đáp

- Kiểm tra viết

- Kiểm tra (thi) thực hành

4.3.2 Một số phương pháp dạy học mới trong quá trình dạy học hiện nay

4.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là phương pháp dạy học mà trong đó giáo viên tổ chức hoạt động nhận thức, tìm tòi, sáng tạo cho học sinh trước một vấn đề do nội dung hoặc hoạt động thực tiễn đặt ra đối với các em

Chức năng cơ bản của phương pháp: Hình thành khả năng tận dụng tri thức đã học

để giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn; tạo điều kiện giúp học sinh làm quen với phương pháp nhận thức khoa học; hình thành năng lực hoạt động sáng tạo; bồi dưỡng, nâng cao hứng thú, nhu cầu với hoạt động tìm tòi khoa học

Nội dung của phương pháp: Giáo viên đưa ra vấn đề nghiên cứu, nêu rõ mục đích, yêu cầu cần giải quyết, chỉ ra những nét cơ bản mang tính định hướng cho hoạt động nghiên cứu, tổ chức cho học sinh tự lực nghiên cứu theo từng bước Ở đây, học sinh là người tác động, tìm tòi và khám phá trực tiếp đối tượng nghiên cứu, còn giáo viên là người chỉ đạo, tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh

Trang 29

4.3.2.2 Dạy học chương trình hóa

Dạy học chương trình hóa là sự dạy học được thực hiện dưới sự chỉ đạo sư phạm của một chương trình dạy đã được soạn thảo thành một Algôrít dạy học, nhằm xác định chặt chẽ sự hoạt động của từng học sinh riêng lẻ

Trong dạy học chương trình hóa, những chức năng của hệ dạy học được khách quan hóa và sự hoạt động của hệ học được chương trình hóa

4.3.2.3 Phương pháp Algôrít trong dạy học

Phương pháp Algôrít được mang tên nhà toán học người Ả-rập thời Trung cổ là Algôríthm, người đầu tiên sáng chế ra một công trình thuật toán trên bàn tính trong đó phân đoạn sự tính toán thành từng khâu, từng bước hợp lí theo một hệ thống lôgic chặt chẽ mà sau này gọi là những quy trình Công trình đó chìm lắng dần theo thời gian, mãi đến đầu thế kỉ XX khi khoa học - công nghệ có sự phát triển mạnh mẽ, Algôrít được xem

là một phương pháp tư duy và đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực khoa học, đặc biệt là công nghệ tin học (Algôrít là công cụ chủ yếu để phân đoạn, chia nhánh lập trình trong các phần mềm của máy vi tính) Đến giữa thế kỉ XX, một số nhà giáo dục ở các nước tiên tiến đã vận dụng Algôrít như là một phương pháp có hiệu quả nhằm thu thập thông tin,

xử lí thông tin để giải quyết các vấn đề phức tạp trong dạy học

Như vậy, phương pháp Algôrít trong dạy học là sự tổng hợp cách thức thiết kế và thi công một hệ thống các thao tác hợp lí theo một trình tự lôgic chặt chẽ nhằm đạt kết quả tối ưu các nhiệm vụ dạy học

Đặc điểm của phương pháp Algôrít là tiến trình bài học được chia nhỏ thành các giai đoạn, các bước, các công đoạn giúp người học có thể dễ dàng thực hiện các nhiệm

vụ dạy học

Trang 30

II ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

1 Tính tất yếu phải đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay

1.1 Tình hình thế giới

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn và nhanh chóng hơn Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ; phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại, đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm, năng lực của các thệ hệ hiện nay và mai sau

Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Bối cảnh trên tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội, gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học- công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển

Các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm các yêu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phương pháp dạy học

Trang 31

1.2 Tình hình trong nước

Những nhược điểm của PPDH truyền thống

Những PPDH truyền thống đó là: thuyết trình, đàm thoại, trực quan, ôn tập, luyện tập, kiểm tra Đó là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ Với phương pháp này hoạt động của người thầy là chính Giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là kho tri thức sống, học sinh là người nghe, nhớ và ghi chép theo Với phương pháp dạy truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể Do đó nội dung bài dạy theo phương pháp truyền thống

có tính hệ thống cao, tính logic cao, nhưng do quá đề cao người thầy nên nhược điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy đơn điệu buồn tẻ, kiến thức thiên về lí luận, ít chú ý đến kĩ năng thực hành của người học do đó kĩ năng vận dụng vào thực tế bị hạn chế

Đổ i mới PPDH ở nước ta được chọn đi tiên phong

Trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, đổi mới PPDH được chọn

đi tiên phong, được triển khai ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước Nhiều vị nguyên thủ quốc gia và cũng như lãnh đạo ngành Giáo dục đào tạo đã trực tiếp chỉ đạo vấn đề

này Nghị quyết Trung ương II Đại hội Đảng VII đã khẳng định “Đổi mới phương pháp

dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học” (1991) Năm 1994, cố Thủ tướng Phạm Văn

Đồng đã nêu định hướng đổi mới PPDH Tiếp theo, năm 1995, nguyên bộ trưởng Bộ

GD và ĐT Trần Hồng Quân cũng viết “Cách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt

mới, sức sống mới cho thời đại mới” Tiếp đến 1999, nguyên bộ trưởng Bộ GD và ĐT

Nguyễn Minh Hiển cũng khẳng định lại định hướng đổi mới PPDH“Đổi mới chương

trình và PPDH ở bậc tiểu học theo hướng ổn định, gắn kết chặt chẽ việc dạy chữ và dạy người” Cũng vào những năm này, một loạt các bài viết, các công trình nghiên cứu đổi

mới PPDH ở các bậc học được đề cập ở nhiều góc độ, từ Triết lý dạy học đến Lý luận dạy học đại cương, Lý luận dạy học môn học (hay còn gọi là Phương pháp giảng dạy môn học) mà bài nghiên cứu có thể coi như sự mở đầu đó là bài viết của PGS TS Lê Đức Phúc Một số công trình nghiên cứu đổi mới PPDH ở các bậc học được triển khai,

tiêu biểu có thể kể đến Đổi mới PPDH ở bậc tiểu học của TS Đỗ Đình Hoan; Đổi mới

PPDH ở trường THCS của PGS.TS.Trần Kiều,…

Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định : “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp

Trang 32

hóa - hiện đại hoá” ; “Coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hoá” Do đó, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là vấn đề mang tính cấp thiết, là giải pháp quan trọng nhất để nền giáo dục ở nước ta trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI có thể tiến kịp với sự phát triển của khoa học trên thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Rõ ràng là việc đổi mới PPDH ở Việt Nam được khởi động từ sau 1986, đặc biệt từ sau Nghị quyết Hội nghị lần 2 BCH TW Đảng Trung ương khóa VII (1991), cho đến nay

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, dự án triển khai ở tất cả các bậc học, cấp học Việc triển khai đổi mới PPDH đã mang lại một số chuyển biến tích cực trong nền giáo

dục ở nước ta hiện nay

1.3 Quan điểm đổi mới PPDH

Nghị quyết TW2 khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”

Những thay đổi trong vai trò người học:

Trang 33

Những thay đổi trong quá trình dạy học:

- Học tập là một quá trình chủ động không phải là quá trình bị động

- Học tập là một quá trình tự nhiên

- Học tập là một quá trình mang tính xã hội

- Quá trình học tập không phải lúc nào cũng là một đường thẳng

Những thay đổi trong quá trình dạy:

Người chuyển giao tri thức, nguồn

thông tin, chuyên gia trong lĩnh vực

giảng dạy, nguồn của tất cả các câu trả

lời

Người hướng dẫn quá trình, người huấn luyện, người cố vấn, người tìm tòi, hiểu trước các tri thức sẽ dạy

Giáo viên kiểm soát các điều kiện,

tất cả các hoạt động của quá trình học

tập

Giáo viên cho phép người học có nhiều lựa chọn, yêu cầu họ có trách nhiệm hơn với quá trình học tập của họ

Thực hiện định hướng lấy người học làm trung tâm:

- Đưa ra các câu hỏi mở để khuyến khích người học tư duy phê phán về chủ đề thảo luận

- Tạo ra mô hình lớp học không bị ngăn cách với thế giới bên ngoài, sử dụng các nguồn tri thức điện tử và các mạng máy tính để kết nối học sinh với các nhà giáo dục trên toàn cầu

- Đánh giá một cách trung thực kết quả học tập của học sinh

- Ứng dụng có hiệu quả công nghệ khoa học trong việc dạy và học

Trang 34

1.4 Xu hướng đổi mới phương pháp giảng dạy ở nước ta hiện nay

- Phát triển công nghệ dạy học hiện đại (Technology of teaching)

- Dạy học theo khuynh hướng sáng tạo (Creatology)

- Cách tân truyền thống, chuyển mình đón nhận những thành tựu dạy học hiện đại,

lấy phương pháp nêu vấn đề - đối thoại làm then chốt

III ỨNG DỤNG MÁY TÍNH ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC

1 Lý do sử dụng máy tính điện tử trong dạy học

Dạy học là một hoạt động phức hợp, trong đó có những yếu tố mang tính nghệ thuật

của người giáo viên (GV) đồng thời cũng có những yếu tố mang tính kĩ thuật, mà theo đó

có thể xây dựng thành công nghệ dạy học Một trong những nét nổi bật của tiến trình đổi

mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học vật lí nói riêng là

việc áp dụng những thành tựu của khoa học - kĩ thuật vào quá trình dạy học, nhờ đó chất

lượng dạy học đã từng bước được nâng lên một cách rõ rệt

Dựa trên các cơ sở về tâm lí học, lí luận dạy học, cơ sở thực tiễn và những chức

năng của máy tính điện tử (MTĐT), các nhà nghiên cứu giáo dục đã khẳng định rằng:

hoàn toàn có thể sử dụng MTĐT trong quá trình dạy học với tư cách như một phương

tiện dạy học (PTDH) hiện đại

Tại Việt Nam, từ năm 1986 các nhà khoa học đã có những nghiên cứu bước đầu để

ứng dụng MTĐT vào dạy học Các viện nghiên cứu, trường Đại học và nhiều Công ty đã

hình thành các nhóm nghiên cứu về việc sử dụng MTĐT trong dạy học và đã thu được

những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ, chẳng hạn “Phòng thí nghiệm vật lí ảo” của

nhóm nghiên cứu ở Đại học Bách khoa Hà Nội; phần mềm STD dùng cho việc ôn tập,

kiểm tra kiến thức của Viện Công nghệ thông tin; …

Đối với các môn khoa học thực nghiệm nói chung và vật lý nói riêng, hầu hết kiến

thức đều gắn với thực tế, nên việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và MTĐT nói

riêng vào dạy học là một hướng đi thích hợp và mang tính cấp thiết Nhờ các chương

trình mô phỏng, minh hoạ, MTĐT làm tăng tính trực quan, kích thích hứng thú học tập

và tạo sự chú ý ở mức độ cao đối với học sinh, giúp cho GV giảm thời gian thuyết trình,

Trang 35

là một cách làm tối ưu … Có thể thấy ngay rằng, việc sử dụng MTĐT với tư cách là một PTDH hiện đại trong dạy học có rất nhiều ưu điểm nổi trội, nó có thể được ứng dụng trong nhiều giai đoạn của quá trình dạy học, từ việc xây dựng tình huống học tập, nghiên cứu giải quyết vấn đề, xây dựng kiến thức mới đến việc củng cố, vận dụng kiến thức …

2 Một số chức năng cơ bản của máy tính điện tử có thể ứng dụng trong dạy học 2.1 Sử dụng máy tính điện tử làm phương tiện nghe nhìn và lưu trữ thông tin

Tính năng nổi bật của MTĐT là khả năng lưu trữ thông tin rất lớn Các văn bản, hình ảnh tĩnh hoặc động, các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị … được lưu trên các thiết bị nhớ của MTĐT với một số lượng đáng kể Cùng với những phần mềm được cài sẵn, kho dữ liệu của MTĐT còn có thể cho phép biểu diễn các mô hình, các hiện tượng, các quá trình vật lí … GV và HS có thể truy cập rất nhanh tới kho dữ liệu này để lấy ra những dữ liệu cần thiết, phục vụ cho việc dạy và học một cách nhanh chóng và chính xác Không những thế, GV và HS còn có thể đồng thời quan sát cùng một lúc một số lượng lớn các tranh ảnh minh hoạ cho một nội dung kiến thức cần nghiên cứu

Nhờ tính năng đồ họa phong phú và khả năng xử lí các kiểu dữ liệu khác nhau của MTĐT, ta có thể xây dựng các đoạn phim video clip dạy học, nhằm biểu diễn trực quan các hiện tượng, các quá trình vật lí Với các chương trình mô phỏng, minh hoạ trên MTĐT, học sinh có thể quan sát được các sự kiện, từ đó hiểu rõ bản chất vật lý của các hiện tượng, hiểu sâu hơn bản chất của các quá trình …

So với các phương tiện trực quan truyền thống khác thì MTĐT có khả năng phối hợp đồng thời nhiều phương tiện nghe nhìn (văn bản, hình ảnh, âm thanh …) cũng như các khả năng khác như khả năng lặp lại một cách tùy ý, khả năng phóng to, thu nhỏ, chậm dần, nhanh dần các hiện tượng vật lý cần nghiên cứu

Đặc biệt, khi kết nối MTĐT vào hệ thống mạng internet thì khả năng tìm kiếm, lưu trữ thông tin càng phát huy mạnh mẽ, khả năng truyền dẫn thông tin của MTĐT cũng được ứng dụng một cách có hiệu quả, khả năng tương tác hai chiều MTĐT được vận dụng một cách linh hoạt Đây chính là thế mạnh của MTĐT mà các PTDH truyền thống không có được khi sử dụng chúng trong quá trình dạy học

Trang 36

2.2 Sử dụng máy tính điện tử để thiết kế và biểu diễn các mô hình, thí nghiệm

Trong những trường hợp không thể thực hiện được các thí nghiệm thực (các thí nghiệm mang tính nguy hiểm, diễn biến của các hiện tượng xảy ra rất nhanh hoặc rất chậm …) ngay trong giờ học thì với MTĐT, GV có thể sử dụng các phần mềm để thiết

kế các sơ đồ thí nghiệm, thực hiện các thí nghiệm ảo trên MTĐT để cho HS quan sát Hiện nay, có rất nhiều phần mềm hỗ trợ công việc thiết kế mô hình, thí nghiệm trên MTĐT, đó là các chương trình CAD (Computer Assisted Design) Chương trình Or CAD hoặc Ar CAD hỗ trợ thiết kế các mạch điện tử; phần mềm Electronics Workbench cho phép lắp đặt các linh kiện, các đồng hồ đo vào mạch điện, khi cho mạch điện hoạt động trì trên màn hình hiển thị đường cong kết quả trên Ossiloscope; chương trình Auto CAD

hỗ trợ thiết kế mô hình các chi tiết máy; hoặc Crocodile Physics cho phép thiết kế các thí nghiệm, mô hình trong vật lý …

2.3 Sử dụng máy tính điện tử để tự động hoá các thí nghiệm vật lí

Trong dạy học nói chung và dạy học vật lí nói riêng việc nghiên cứu, cải tiến các thí nghiệm là một trong những nhiệm vụ quan trọng và phải được thực hiện một cách thường xuyên Với tính năng có thể xử lí các tín hiệu điện sau khi đã được số hoá của MTĐT, ta có thể thiết kế các thí nghiệm vật lí nhờ sự trợ giúp của MTĐT Trong các thí nghiệm vật lí có sự hỗ trợ của MTĐT thì MTĐT có thể đóng vai trò như một máy đo vạn năng, có thể dùng MTĐT để đo các đại lượng vật lí, tính toán các đại lượng vật lí liên quan khác thông qua các công thức toán học biểu diễn các định luật vật lí MTĐT cũng

có thể được sử dụng như một dao động kí điện tử, để ghi lại các hình ảnh dao động Một chức năng nổi trội khác của MTĐT là khả năng đo đạc một cách chính xác các đại lượng, đồng thời lưu trữ các số liệu đo trên các thiết bị lưu trữ (đĩa cứng, USB, đĩa

CD, thẻ nhớ,…) và có thể biểu diễn các kết quả đo dưới dạng bảng biểu, đồ thị Đặc biệt, MTĐT có thể được sử dụng để viết các chương trình làm tròn số liệu, xử lí các sai số của phép đo, sao cho kết quả thí nghiệm phù hợp nhất với các quy luật vật lí Thông qua các thí nghiệm tự động hoá trên MTĐT, HS có thể từng bước làm quen với các hệ thống điều khiển tự động đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong đời sống và trong các ngành

Trang 37

2.4 Sử dụng máy tính điện tử để tích hợp với các phương tiện dạy học hiện đại

Một tính năng rất quan trọng mà MTĐT có được là việc trao đổi thông tin không chỉ được thực hiện thông qua các thiết bị đầu vào chuẩn như bàn phím, chuột … mà còn

có thể kết nối thông qua các cổng giao tiếp khác Việc sử dụng các cổng nối tiếp, cổng song song, các khe cắm chuẩn trên bo mạch chủ của MTĐT thông qua các mạch giao tiếp (Interface Card) có thể kết nối MTĐT với các thiết bị ngoại vi Việc kết nối MTĐT với các thiết bị hiện đại khác sẽ nâng cao được khả năng khai thác những thế mạnh riêng của mỗi phương tiện, phối hợp các thế mạnh của mỗi phương tiện riêng rẽ thành một hệ thống hoàn chỉnh, khắc phục tốt những hạn chế của mỗi thiết bị (Chẳng hạn, tổ hợp MTĐT với Camera thông qua bộ giao tiếp VideoKit, cho phép khai thác khả năng quay phim của Camera, kết hợp với khả năng lưu trữ, xử lí hình ảnh, âm thanh của MTĐT để xây dựng các phim học tập hoặc trao đổi các tệp đồ hoạ)

Đặc biệt, trong hệ thống kết nối MTĐT với các phương tiện hiện đại khác, ta có thể khai thác tối đa khả năng điều khiển, truy cập, chọn lọc, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng Các hệ thống ghép nối thường đi kèm với một phần mềm điều khiển tương ứng, các phần mềm này có thể chạy trên môi trường hệ điều hành MS – DOS hoặc hệ điều hành Windows, chúng có thể được xây dựng kèm theo thiết bị ghép nối hoặc có thể

do các nhà lập trình tạo nên theo yêu cầu sư phạm của GV

2.5 Sử dụng máy tính điện tử kết hợp với Multimedia

Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông, một phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều dạng truyền thông tin như văn bản, đồ hoạ và âm thanh cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác Công nghệ

đa phương tiện, nhờ khả năng nghe – nhìn (Audio-Video) đang được ứng dụng ngày càng

rộng rãi trong huấn luyện, giáo dục, trò chơi và tiếp thị trong thương mại Thông tin multimedia là thông tin được truyền đạt bằng các hệ thống truyền đa phương tiện, gọi tắt

là thông tin multimedia và nó được thể hiện ở các dạng sau: dạng văn bản(Text); dạng hình họa(Graphics); dạng hoạt ảnh(Animation); dạng ảnh chụp(Image); dạng Video và

Trang 38

hợp các chức năng của các phương tiện dạy học cổ truyền Nó không những cho phép đảm bảo tính chân thực của các đối tượng nghiên cứu trước mắt người học, làm tăng niềm tin vào tri thức, kích thích hứng thú, tạo động cơ học tập trong quá trình dạy học,

mà còn có tác dụng giáo dục toàn diện: phát triển tính tự lực sáng tạo, cá biệt hoá cao độ người học, phát triển tư duy logic, tư duy hình tượng, tối ưu hoá quá trình nhận thức và điều khiển quá trình nhận thức, góp phần giáo dục những phẩm chất, thái độ hành vi đạo đức, những phản ứng tích cực trong việc tái tạo và cải tạo thế giới theo hướng có lợi cho con người

Sự ra đời của Multimedia đã làm thay đổi diện mạo, vai trò của MTĐT với tư cách

là công cụ trong dạy học nói chung và trong dạy học vật lý nói riêng

3 Vai trò của MTĐT trong quá trình dạy học

3.1 Vai trò hỗ trợ của máy tính điện tử đối với các nhiệm vụ dạy học

3.1.1 Truyền thụ tri thức, phát triển tư duy

Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học vật lý nói riêng, có thể thấy ngay rằng việc sử dụng MTĐT hợp lý sẽ giúp cho quá trình truyền thụ tri thức được thuận lợi

và hiệu quả hơn, sự phát triển tư duy của HS cũng tốt hơn Điều này đạt được là nhờ vào khả năng khai thác và truyền thụ tri thức về các hiện tượng tự nhiên - xã hội của MTĐT dưới sự điều khiển của GV

Trong dạy học, MTĐT có thể giúp ta tiến hành các thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp và có thể được tiến hành một cách sinh động, đáp ứng mọi yêu cầu của quá trình dạy học MTĐT còn có mặt mạnh khác là có thể biểu diễn các hiện tượng và quá trình tự nhiên trong sự phối hợp màu sắc, âm nhạc hoặc lời giải thích của giáo viên Do đó MTĐT có sức cuốn hút HS, có khả năng kích thích hứng thú học tập, đặt HS vào vị trí chủ thể của quá trình học tập Chính vì lý do này mà hiệu quả của bài giảng và chất lượng lĩnh hội tri thức của HS được nâng lên một cách đáng kể

Việc sử dụng MTĐT trong dạy học đã tạo ra cho GV có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển tư duy cho HS Với các hình ảnh, mô hình, hình vẽ hoặc video clip về các hiện tượng và quá trình tự nhiên - xã hội, GV có thể hình thành và rèn luyện cho HS cách

Trang 39

trừu tượng hoá

3.1.2 Rèn luyện kỹ năng thực hành

Trong dạy học ở trường phổ thông, MTĐT không những được dùng làm phương tiện biểu diễn mà nó còn có thể được dùng làm công cụ thực hành cho HS Sử dụng MTĐT để xử lý thông tin, HS được rèn luyện các kỹ năng cơ bản, tư duy thuật toán, kĩ năng lập trình, Nhờ đó HS có khả năng thích ứng nhanh chóng với mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội có trang bị MTĐT Xét về mặt xã hội, việc sử dụng MTĐT làm PTDH trong nhà trường là một trong những biện pháp tích cực, đáp ứng yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ cho xã hội

3.1.3 Giáo dục nhân cách người lao động mới

Trong quá trình học tập với công cụ là MTĐT, HS được rèn luyện tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao độ MTĐT không tỏ thái độ phê phán gay gắt trực tiếp học sinh khi trả lời sai, nhưng MTĐT cũng không bao giờ khoan nhượng đối với những sai sót mắc phải, buộc HS phải bằng mọi cách sửa chữa triệt để những sai sót đó Chỉ khi nào HS trả lời đúng câu hỏi đặt ra hoặc giải quyết xong nhiệm vụ được giao, MTĐT mới cho phép tiếp tục nghiên cứu những kiến thức sau đó, điều này khắc phục được tình trạng hổng kiến thức trong HS hiện nay Ngoài ra, để có thể “hội thoại” đạt kết quả với MTĐT, HS bắt buộc phải kiên trì, nhẫn nại, cần cù và chăm chỉ

Việc sử dụng MTĐT để kiểm tra kiến thức của học sinh luôn bảo đảm được tính chính xác cao, và sự công bằng trong đánh giá MTĐT rất "trung thực, không vị nể" khi đánh giá, buộc học sinh phải suy nghĩ, lựa chọn dứt khoát câu trả lời trong một khoảng thời gian đã định Nhờ đó, tính trung thực của HS cũng được rèn luyện

Khi HS thực hành với MTĐT, những chuẩn đạo đức cũng đòi hỏi khắt khe, vì MTĐT chỉ thực hiện theo câu lệnh đúng, không thể buộc nó làm theo ý người sử dụng Muốn giao cho máy những câu lệnh đúng thì người sử dụng chỉ có cách là phải kiên trì học tập, nghiêm túc với những quy định đã được thoả thuận trong hệ lệnh, tự tin vào bản thân và trung thực cao độ

Trang 40

3.2 Vai trò hỗ trợ của máy tính điện tử trong các giai đoạn của quá trình dạy học

Theo lí luận dạy học hiện đại thì một quá trình dạy học nói chung hay một quá trình dạy học cơ sở (một tiết dạy trên lớp) gồm các giai đoạn: Củng cố trình độ kiến thức xuất phát cho HS; xây dựng kiến thức mới; ôn luyện và vận dụng kiến thức; tổng kết, hệ thống hoá kiến thức; kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức và các kĩ năng của HS Đây vừa là những chức năng lí luận dạy học của quá trình dạy học và đồng thời cũng là những giai đoạn chính của quá trình dạy học Trong từng giai đoạn khác nhau, MTĐT có những vai trò hỗ trợ khác nhau, sự hỗ trợ của MTĐT trong các giai đoạn của quá trình dạy học là hết sức cần thiết và nhờ có nó mà chất lượng dạy học được nâng cao đáng kể

3.2.1 Giai đoạn củng cố kiến thức cũ và đặt vấn đề mới

Bất kỳ một tiết học nào, khi muốn dẫn dắt đến vấn đề thì GV phải tìm cách mở đầu bài học hướng HS biết được nội dung chính bài học cần đề cập đến Cách mở đầu một bài học có thể là một thí nghiệm, có thể là một câu chuyện, cũng có thể là một sự liên hệ của bài học trước…Vấn đề cơ bản là giáo viên phải lôi cuốn được người học ngay từ đầu, tạo ra sự hưng phấn, tính tò mò cho HS ngay ở giây phút đầu tiên của tiết học

Với việc sử dụng MTĐT, cách mở đầu bài học đã có những thuận lợi nhất định Trong giai đoạn này, GV có thể sử dụng MTĐT hỗ trợ trong việc tóm tắt kiến thức đã học từ các bài trước, đưa ra các hình ảnh, các đoạn phim về các hiện tượng vật lí một cách trực quan và yêu cầu HS giải thích các hiện tượng đó GV cũng có thể sử dụng MTĐT hỗ trợ trong việc đưa ra các hiện tượng mới cần nghiên cứu, đặt ra những tình huống có vấn đề đối với HS Mặc dù trong giai đoạn này, thời gian sử dụng MTĐT là không nhiều, song hiệu quả lại rất cao vì chỉ với một thời lượng ngắn ngủi, có thể truyền tải được lượng thông tin khá nhiều và hình thức truyền tải thông tin là khá hấp dẫn đối với HS, có thể đặt HS vào một trạng thái tập trung cao độ, chuẩn bị tốt cho các giai đoạn tiếp theo của tiết học

3.2.2 Giai đoạn xây dựng kiến thức mới

Có thể nói ngay rằng, trong giai đoạn xây dựng kiến thức mới MTĐT có vai trò lớn, việc sử dụng MTĐT hợp lí trong giai đoạn này sẽ mang lại những hiệu quả rất cao Bằng

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm