1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý THIẾT kế GIÁO án điện tử vật lí 12 NÂNG CAO sử DỤNG PHẦN mềm LECTUREMAKER

81 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 7,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ thị số 29/2001/CT- Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 30/07/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về tăng cường giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

Riêng thầy Vương Tấn Sĩ, em xin bày tỏ long biết

ơn chân thành và sâu sắc Thầy đã không ngại vất vả,

mệt nhọc để đọc và góp ý rất nhiều cho đề tài của em

Mặc dù cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được những

ý kiến quí báu của quí thầy cô và bạn bè để đề tài của em

được phong phú và hoàn thiện hơn

Cuối lời em xin kính chúc thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe và công tác tốt

Em xin chân thành cảm ơn!

SVTH: Mai Thị Hương Xuân

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

GVHD

Vương Tấn Sĩ

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

GVPB

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Đặt vấn đề 4

2 Mục đích của đề tài 4

3 Giả thuyết khoa học 4

4 Nhiệm vụ của đề tài 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đối tượng nghiên cứu 5

7 Phạm vi nghiên cứu 5

8 Các giai đoạn thực hiện đề tài 5

9 Các chữ viết tắt trong đề tài 6

PHẦN NỘI DUNG 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC THPT VÀ TIN HỌC HỖ TRỢ 7

I ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở THPT 7

1 Quan điểm DH 7

2 Tiến trình DH 7

3 Phương pháp DH 7

4 Định hướng đổi mới PPDH 7

5 Mục đích của đổi mới PPDH 8

6 Đặc trưng của PPDH tích cực 8

7 Yêu cầu đổi mới PPDH 8

8 Một số PPDH tích cực 9

9 Một số hình thức DH theo hướng đổi mới 9

10 Một số kỹ thuật góp phần đổi mới PPDH 9

11 Thiết bị DH góp phần đổi mới PPDH 10

II ĐỔI MỚI PPDH VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT 10

1 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH 10

2 Những định hướng đổi mới PPDH VL ở lớp 12 theo chương trình đổi mới 11

3 Đổi mới thiết kế bài giảng 13

Trang 6

III CÔNG NGHỆ THÔNG TIN GÓP PHẦN ĐỔI MỚI PPDH 15

1 Đổi mới PPDH theo quan niệm CNTT và truyền thông 15

2 Ứng dụng của MVT trong DH Vật lí 16

Chương 2 TỔNG QUAN VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ 24

I KHÁI QUÁT VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ 24

1 Khái niệm giáo án điện tử 24

2 Quy trình thiết kế giáo án điện tử 25

II CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ 30

1 Mục tiêu chính của việc xây dựng các bài giảng điện tử 30

2 Kỹ năng trình bày 30

3 Kỹ năng giảng bài 30

4 Đáp ứng tiêu chí tự học 30

5 Kỹ năng Multimedia 30

6 Soạn câu hỏi 31

7 Nguồn tư liệu 31

8 Từ khóa 31

Chương 3 THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ SỬ DỤNG PHẦN MỀM LECTUREMAKER 32

I GIỚI THIỆU 32

II GIAO DIỆN VÀ CÁC MENU CỦA LECTUREMAKER 33

III HƯỚNG DẪN TẠO NÚT LỆNH TRONG LECTUREMAKER 37

IV CHÈN VĂN BẢN, CÔNG THỨC TOÁN, HÌNH VẼ, ẢNH, PHIM, FLASH 40 V NHẬP FILE POWERPOINT, PDF, WEBSITE 46

VI CHÈN CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 47

VII QUI TRÌNH SOẠN GIÁO ÁN 51

VIII KẾT XUẤT BÀI GIẢNG 59

IX THIẾT KẾ BÀI 6 DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA VẬT LÍ 12 NÂNG CAO 64

Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75

1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 75

2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 75

Trang 7

3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 75

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong xu thế thời đại ngày nay, với sự tiến bộ của công nghệ và tri thức khoa học, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia Vì vậy, Hệ thống giáo dục Việt nam phải đi theo hướng nâng cao tri thức, kỹ năng lao động, khả năng cạnh tranh Trước tình hình đó, trong những năm qua, Bộ Giáo dục và đào tạo đã phát động và thực hiện phong trào đổi mới phương pháp dạy học Chỉ thị số 29/2001/CT- Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 30/07/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về tăng cường giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo tính tích cực, sáng tạo cho HS trong quá trình học tập, giúp HS chiếm lĩnh được những kiến thức khoa học sâu sắc, vững chắc, đồng thời đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS Và tất nhiên những điều này sẽ đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập Từ đó phát triển tư duy, năng lực sáng tạo và không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn có khả năng vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển hơn, hòa nhập cùng bạn bè thế giới

Để làm được như vậy thì đòi hỏi những nhà giáo dục học không ngừng tìm tòi và sáng tạo ra các phương tiện DH công nghệ hiện đại nhằm phục vụ cho việc giáo dục Đặc biệt là đội ngũ GV đã, đang và sắp bước vào con đường giáo dục

Với những yêu cầu đã xác định ở trên, là một người GV vật lí trong tương lai tôi nhận thức rõ tầm quan trọng của việc này nên đã quyết định nghiên cứu về đề tài:

“Thiết kế giáo án điện tử Vật lí 12 Nâng Cao sử dụng phần mềm LectureMaker”

2 Mục đích của đề tài

 Nghiên cứu phần mềm LectureMarker để phục vụ thiết kế giáo án điện tử vào giảng dạy vật lí 12 Nâng Cao

3 Giả thuyết khoa học

 Nghiên cứu thiết kế giáo án điện tử

 Có thể nghiên cứu phần mềm LectureMarker Vận dụng vào thiết kế giáo án điện tử vật lí 12 Nâng cao

Trang 9

4 Nhiệm vụ của đề tài

 Nghiên cứu nội dung và cách thiết kế giáo án điện tử xây dựng các bài vật lí 12 Nâng cao

 Nghiên cứu thiết kế giáo án sử dụng phần mềm LectureMaker

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu tài liệu

Sử dụng SGK vật lý 12 Nâng cao, chuẩn kiến thức kỹ năng, các tài liệu của môn lí luận dạy học vật lí, phân tích chương trình, đánh giá giáo dục, tài liệu bồi dưỡng giáo viên, sách giáo viên và SGK vật lí lớp 10, 11, các tài liệu liên quan đến PPDH và ứng dụng công nghệ thông tin vào DH

5.2 Tổng kết kinh nghiệm

Tổng kết kinh nghiệm từ đánh giá tổng kết và khái quát quá những kinh nghiệm

đã thu thập được trong hoạt động thực tiễn, từ đó phát hiện ra những vấn đề cần thiết

để đưa vào áp dụng thực tế hoặc cần tiếp tục nghiên cứu hay loại bỏ Nhờ đó mà khám phá ra những mối liên hệ có tính quy luật của những hiện tượng giáo dục

Tổng kết kinh nghiệm cần có lí luận để soi sáng, giải thích tính chất hợp lí, phù hợp với những quy luật đã được khẳng định thì mới tránh khỏi tính chất ngẫu nhiên, lộn xộn, hời hợt của kết luận

Tổng kết kinh nghiệm từ trao đổi kinh nghiệm, học hỏi của anh chị, bạn bè

5.3 Thực nghiệm sư phạm

Thiết kế bài học theo đề tài, sau đó cho HS làm kiểm tra Từ đó nhận xét xem mức độ tiếp thu kiến thức của HS đối với cách thực hiện này như thế nào

6 Đối tượng nghiên cứu

Các hoạt động dạy và học của GV và HS trong việc áp dụng phần mềm LectureMaker thiết kế giáo án điện tử

7 Phạm vi nghiên cứu

Vận dụng phần mềm LectureMaker vào việc thiết kế giáo án điện tử vật lí 12 Nâng cao

8 Các giai đoạn thực hiện đề tài

Giai đoạn 1: Trao đổi với GVHD và nhận đề tài

Trang 10

Giai đoạn 2: Nghiên cứu đề tài, đọc các tài liệu có liên quan

Giai đoạn 3: Lập đề cương chi tiết

Giai đoạn 4: Viết luận văn, chỉnh sửa luận văn

Giai đoạn 5: Hoàn thành luận văn, nộp cho GVHD

Giai đoạn 6: Báo cáo luận văn

9 Các chữ viết tắt trong đề tài

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

THPT VÀ TIN HỌC HỖ TRỢ

I ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở THPT

1 Quan điểm dạy học (QĐDH)

Là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện, hình thức tổ chức dạy học, những định hướng vai trò của GV và HS trong quá trình DH

2 Tiến trình dạy học

Tiến trình DH mô tả cấu trúc của quá trình DH theo một trình tự xác định của các bước DH, quy định tiến trình thời gian, tiến trình logic hành động Tiến trình DH hay còn gọi là các bước DH hay tiến trình lí luận DH, tiến trình PPDH

3 Phương pháp dạy học

PPDH là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình DH

4 Định hướng đổi mới PPDH

Cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động, chống lại thói quen hay học thụ động : Đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của

GV và HS, đổi mới hình thức tổ chức DH, đổi mới hình thức tương tác xã hội trong

DH với định hướng:

 Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông

 Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể

 phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS

 phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường

 phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy- học

 Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các PPDH truyền thống

 Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu

ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin

Trang 12

5 Mục đích của đổi mới PPDH

Mục đích của việc đổi mới PPDH là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo PPDH tích cực

6 Đặc trưng của PPDH tích cực

 Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua

tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của HS

 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS

 Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác

 Kết hợp đánh giá của thầy giáo với đánh giá của bạn, với tự bản thân đánh giá

 Tăng cường khả năng, kỹ năng vận dụng thực tế, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất

 Đem lại niềm vui, tạo hứng thú trong học tập cho HS đạt kết quả cao

7 Yêu cầu đổi mới PPDH

7.1 Yêu cầu chung

 Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS

 DH kết hợp giữa học tập cá nhân với học tập hợp tác

 DH thể hiện mối quan hệ tích cực giữa GV và HS

 DH chú trọng đến việc rèn luyện các kỹ năng, năng lực, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học vào thực tiễn

 DH chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu

 DH chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy học

 DH chú trọng đến việc đa nội dung, các hình thức, cách thức đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá

7.2 Yêu cầu đối với HS

 Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức

 Tích cực sử dụng thiết bị dạy, đồ dùng học tập

 Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân

Trang 13

 Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm

7.2 Yêu cầu đối với GV

 Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập

 Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS được tham gia một cách tích cực, chủ động và sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội tri thức

 Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy

10 Một số kỹ thuật góp phần đổi mới PPDH

10.1 Huy động tư duy:

Là hình thức học đặc biệt nhằm xới lên vấn đề để giải quyết

Bốn nguyên tắc của hoạt động tư duy:

 Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên

 Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày

 Khuyến khích số lượng ý tưởng

 Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng

10.2 Tham vấn bằng phiếu

Người tham gia viết những suy nghĩ của mình dưới dạng cụm từ ngắn gọn lên những miếng bìa, sau đó ghim chúng lên bảng

Trang 14

10.3 Kĩ thuật phòng tranh

Tất cả các thành viên phác họa những suy nghĩ đầu tiên về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa, rồi dính lên bàn hay lên tường

10.4 Thông tin phản hồi

Thông tin phản hồi trong DH là GV và HS cùng nhận xét, đánh giá, đưa ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có thể ảnh hưởng tới quá trình học tập

Phản hồi bằng kỹ thuật “Tia chớp” là lấy thông tin phản hồi nhanh nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp

10.5 Kĩ thuật điều phối

Sử dụng khi điều khiển sự làm việc triển khai theo chương trình, SGK nói chung

11 Thiết bị dạy học góp phần đổi mới PPDH

 Sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH không chỉ là phương tiện của việc dạy

mà còn là phương tiện của việc học

 Đảm bảo tính đồng bộ, tính hệ thống và có chất lượng cao của thiết bị DH

 Chú trọng thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm

 Cần lưu ý tới các hướng dẫn sử dụng, bảo quản và căn cứ vào điều kiện cụ thể của trường

 Cần tính tới việc thiết kế các thiết bị DH mới bằng cách GV tự làm

 Hỗ trợ GV biết sử dụng phương tiện DH hiệu quả, đặc biệt là phương tiện dạy học mới

II ĐỔI MỚI PPDH VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT

1 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH

1.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều

Đặc trưng của truyền thụ một chiều: GV độc thoại, HS thụ động nghe, nhớ lại

GV quyết định tất cả các khâu của quá trình DH, HS hoàn toàn thụ động

Cần phải đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong học tập của HS bằng cách: Tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động DH, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề, bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS Ngoài ra cần đổi mới SGK và thiết bị thí nghiệm

Trang 15

1.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu

Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học bằng hình thức giao nhiệm vụ học tập cho HS như phát phiếu học tập ở nhà cho HS, đọc tài liệu trước,…

1.3 Rèn luyện thành nếp sống tư duy sáng tạo của người học

Muốn rèn luyện được nếp sống tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là phải biết tổ chức, tạo điều kiện cho HS tích cực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập

Vai trò của GV không còn là giảng dạy mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động

1.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện hiện đại vào quá trình DH

Nền giáo dục của toàn thế giới hiện nay đang quan tâm vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của HS Nhiều lý thuyết về sự phát triển đã ra đời như: Lý thuyết thích nghi của J.Piaget, Lý thuyết về vùng phát triển gần của Vưgôtxki Nhiều PPDH mới đã được thử nghiệm và đạt được những kết quả khả quan

Sử dụng các phương tiện hiện đại: Mô phỏng, minh họa một cách trực quan các hiện tượng, quá trình VL Sử dụng MVT hỗ trợ các thí nghiệm, hỗ trợ phân tích băng video các quá trình VL thực

2 Những định hướng đổi mới PPDH VL ở lớp 12 theo chương trình đổi mới

2.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng dạy, minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập

Lúc đầu HS chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ, chờ GV dạy tóm tắt

Để kích thích hứng thú học tập của HS, GV cần tạo tình huống để tập cho HS biết phát hiện vấn đề, chú trọng vốn kinh nghiệm hiểu biết của HS

GV cần kiên quyết yêu cầu HS tự học ở lớp và ở nhà, GV chỉ giảng dạy khi HS tự đọc không hiểu

HS cũng cần được giao những nhiệm vụ đòi hỏi phải vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã thu được không những vào tình huống quen thuộc, mà còn vào những tình huống mới

Dạy HS phương pháp tự học thông qua toàn bộ quá trình DH

Mục tiêu dạy học không chỉ dừng lại ở kết quả học tập cụ thể, mà quan trọng ở

Trang 16

quả của HS Mục tiêu dạy HS PP tự học chỉ có thể đạt được khi bản thân HS chủ động, tích cực, chỉ đạt được sau quá trình rèn luyện của HS

Muốn HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia một vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là

có thể hoàn thành được

Trong một loạt công việc cần thực hiện trong quá trình học tập, GV cần tính toán xem với thời gian cho phép trên lớp, trình độ HS thì việc gì được giao cho HS tự làm, việc gì cần có trợ giúp của GV, còn việc gì GV phải cung cấp thêm thông tin để HS có thể hoàn thành vấn đề cần giải quyết

2.2 Áp dụng rộng rãi kiểu DH phát hiện và giải quyết vấn đề

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề hiểu dưới dạng chung nhất là toàn bộ các hành động như tổ chức tình huống có vấn đề, biểu đạt vấn đề giúp đỡ những điều kiện cần thiết để HS GQVĐ

Kiểu dạy học này giúp HS có thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học, nhằm phát triển được năng lực sáng tạo của HS

Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết trình độ, khả năng, kiến thức đã có của mình không đủ để giải quyết

Có rất nhiều cách để tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kỹ thì thấy kiến thức của mình không đủ trả lời Từ đó động cơ học tập của HS xuất hiện

Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp giải quyết vấn đề

DH phát hiện và GQVĐ gồm các giai đoạn sau:

Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi

Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát

Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế

Tổ chức thí nghiệm kiểm tra

2.3 Rèn cho HS phương pháp nhận thức vật lý

Một trong những nét đặc trưng trong tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm, ngẫu nhiên Có các phương pháp sau:

Trang 17

Phương pháp thực nghiêm: Tùy tình hình cụ thể mà GV và HS có thể tiến hành thí nghiệm kiểm tra hay thí nghiệm xây dựng đại lượng cần khảo sát

Phương pháp mô hình: Nhờ PP mô hình mà người ta có thể biểu diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh ngoài mô hình ảnh, còn hay phổ biến hình toán học

Phương pháp tương tự: Là PP nhận thức khoa học, trong đó sử dụng tương tự và phương pháp suy luận tương tự để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát

3 Đổi mới thiết kế bài giảng

3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn GA

Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của HS là yêu cầu nổi bật với việc soạn GA của người GV

Khi soạn GA GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:

 Trong bài học HS sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kỹ năng nào? Mức độ đến đâu?

 Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào?

HS cần huy động những kiến thức, kỹ năng nào đã có? Những hoạt động đó của

HS diễn ra dưới hình thức cá nhân hay làm việc theo nhóm?

 GV phải chỉ đạo như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kỹ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?

 Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?

3.2 Các bước xây dựng một GA

 Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn KT, KN và yêu cầu về thái độ trong chương trình

 Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để:

 Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học

 Xác định những KT, KN, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS

 Xác định trình tự logic của bài học

 Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS

 Xác định những KT, KN mà HS đã có và cần có

Trang 18

 Dự kiến những khó khăn, tình huống có thể nảy sinh và phương án giải quyết

 Lựa chọn phương pháp DH; TBDH; hình thức tổ chức DH và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực tự học

 Xây dựng kế hoạch bài học: Xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm

vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV và hoạt động HS

3.3 Nội dung của việc soạn GA

Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học, nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến thức,

kỹ năng, thái độ

Xác định những nội dung kiến thức của bài học

Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các PPDH cần sử dụng

Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức trong bài học

Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng

Soạn nội dung bài tập về nhà

3.4 Một số hình thức trình bày một GA

Viết hệ thống các HĐ theo thứ tự tuyến tính từ trên xuống dưới

Viết hệ thống các HĐ theo 2 cột: HĐ của GV và HĐ của HS

Viết 3 cột: HĐ của GV, HĐ của HS, nội dung ghi bảng hoặc tiêu đề nội dung chính

Viết 4 cột: HĐ của GV, HĐ của HS, nội dung ghi bảng, tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện

Phân chia hệ thống các hoạt động thành 5 nhóm HĐ theo trình tự kế hoạch bài học

 Nhóm 1: HĐ nhằm kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp sang bài mới

 Nhóm 2: HĐ nhằm hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình huống, đặt

và nêu vấn đề

Trang 19

 Nhóm 3: HĐ nhằm để HS tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiệm, qui nạp, suy diễn, để tìm ra kết quả, giải quyết vấn đề

 Nhóm 4: Rút ra kết luận, tổng kết, hệ thống kết quả HĐ và đưa ra kết luận giải quyết vấn đề

 Nhóm 5: Tiếp tục củng cố, khắc sâu KT, rèn luyện kĩ năng để vận dụng vào giải bài tập và áp dụng vào cuộc sống

III CÔNG NGHỆ THÔNG TIN GÓP PHẦN ĐỔI MỚI PPDH

1 Đổi mới phương pháp dạy học theo quan niệm CNTT và truyền thông

Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa PTDH, thiết bị dạy học góp phần đổi mới PPDH

1.1 Dạy và học theo quan điểm công nghệ thông tin

Theo quan điểm công nghệ thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả Để đổi mới PPDH, người ta tìm những “ Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”

1.1.1 Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng PTDH sau đây:

 Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead

 Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projector

 Phần mềm dạy học giúp HS học trên lớp và ở nhà

 Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính

 Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking để dạy học

1.1.2 Dạy học với PTDH hiện đại trên sẽ có những ưu thế sau:

GV chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần

Các phần mềm dạy học có thể thực hiện các thí nghiệm ảo, sẽ thay thế GV giảng dạy thực hành, tăng tính năng động cho người học, cho phép HS theo khả năng

Trang 20

Các phương tiện dạy học hiện đại sẽ tạo ra khả năng để GV trình bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh của khoa học hiện đại

Các phương tiện dạy học sẽ hỗ trợ chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp

HS học không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ và điều quan trọng hơn là nhiều HS được dự và nghe giảng bài của nhiều GV giỏi

([5], trang 77)

1.2 CNTT với vai trò PTDH, TBDH

CNTT với vai trò PTDH, TBDH cần đảm bảo các yêu cầu:

Sử dụng như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có chỗ mạnh và chỗ yếu, ta cần phát huy chỗ mạnh, hạn chế chỗ yếu của từng phương pháp

Phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như PTDH, TBDH

Không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình dạy học có sử dụng CNTT Chẳng hạn sử dụng CNTT thay GV trong một số khoảng thời gian, do việc giải phóng khỏi việc dạy học đồng loạt cho cả lớp, GV có thể đi sâu giúp những HS cá biệt (cả cá biệt yếu và cá biệt giỏi) với thời gian dài hơn nhiều so với dạy học không sử dụng CNTT

Sử dụng CNTT như PTDH, TBDH không phải chỉ nhằm thí điểm dạy học với CNTT mà còn góp phần DH về công nghệ thông tin

2 Ứng dụng của máy vi tính trong DH vật lí

Dạy học là một hoạt động phức hợp, trong đó có những yếu tố mang tính nghệ thuật của người GV, đồng thời cũng có những yếu tố mang tính kỹ thuật, mà theo đó

có thể xây dựng thành công nghệ DH Một trong những nét nổi bật của tiến trình đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH vật lý nói riêng, là việc áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật công nghệ vào quá trình DH, nhờ đó chất lượng DH được nâng lên một cách rõ rệt

Dựa trên cơ sở về tâm lí học, lí luận DH, cơ sở thực tiễn và những chức năng của máy vi tính, các nhà nghiên cứu giáo dục đã khẳng định rằng, hoàn toàn có thể sử dụng MVT trong quá trình DH với tư cách như một PTDH hiện đại

Trang 21

Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết kiến thức vật lí đều gắn với thực tiễn, nên việc ứng dụng CNTT nói chung và MVT nói riêng vào DH vật lí là một hướng đi thích hợp và mang tính cấp thiết Nhờ các chương trình mô phỏng, minh họa, MVT làm tăng tính trực quan, kích thích hứng thú học tập và tạo sự chú ý ở mức độ cao đối vói HS, giúp cho GV giảm thời gian thuyết trình, không mất nhiều thời gian vào việc biểu diễn, thể hiện thông tin trong giờ học Với các thí nghiệm có tính nguy hiểm đối với con người, hoặc các thí nghiệm có thời gian diễn ra rất nhanh (hoặc rất chậm) thì việc thay thế chúng bằng những thí nghiệm ảo trên MVT là một cách làm tối ưu… Có thể thấy ngay rằng, việc sử dụng MVT với tư cách là một PTDH hiện đại trong DH vật

lý có rất nhiều ưu điểm nổi trội, nó có thể được ứng dụng trong nhiều giai đoạn của quá trình DH, từ việc xây dựng tình huống học tập, nghiên cứu giải quyết vấn đề, xây dựng kiến thức mới đến việc củng cố, vận dụng kiến thức… Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, MVT không phải là một PTDH vạn năng, có thể thay thế toàn bộ các PPDH truyền thống khác; MVT dù hiện đại đến đâu, cũng không thể thay thế toàn bộ cho người GV, mà GV luôn là người có vai trò tổ chức, thiết kế quá trình DH, là người quyết định lựa chọn phương tiện, lựa chọn thời điểm sử dụng, hình thức sử dụng và phạm vi sử dụng MVT nhằm đạt hiệu quả cao nhất của hoạt động DH

2.1 Những ưu điểm của việc sử dụng MVT trong DH

MVT với tư cách là một PTDH hiện đại, sử dụng nó một cách hợp lý trong DH có nhiều ưu điểm

Nhờ các chương trình mô phỏng và minh họa được cài đặt sẵn, MVT có thể xây dựng nên các mô hình tĩnh hoặc động với chất lượng cao, thể hiện ở độ trung thực của màu sắc, các vận động tuân theo các quy luật khách quan của hiện tượng mà người lập trình đã đưa vào làm tăng tính trực quan trong DH, tăng hứng thú học tập và tạo sự chú

ý học tập của HS ở mức độ cao MVT có khả năng lặp lại nhiều lần, thậm chí là vô hạn lần ở cùng một vấn đề, giúp GV và HS có thể nghe lại, xem lại những tình huống, những hiện tượng hoặc những thông tin mà họ chưa kịp nhận biết ở lần quan sát đầu tiên Điều này rất khó thực hiện ở người GV

Giao tiếp giữa người với máy tính trong quá trình DH là hoàn toàn chủ động, theo

sự điều khiển của GV và HS Việc sử dụng MVT trong DH tạo cơ hội để chương trình hóa không chỉ nội dung tri thức mà cả những con đường nắm vững kiến thức, hoạt động trí tuệ của HS, vì thế có thể điều khiển được quá trình dạy học GV có thể xây dựng bài giảng bằng cách lắp ráp các môđun có sẵn Để thực hiện tốt bài giảng theo kiểu này thì đòi hỏi GV phải chuẩn bị bài giảng một cách công phu, theo đó, có thể khẳng định rằng MVT không thể thay thế người GV mà chính là vai trò của người GV

Trang 22

được đề cao và đóng vai trò người tổ chức quá trình học tập Nhờ có MVT mà hoạt động DH của GV có thể được tự động hóa ở mức độ cao

Một trong những ưu điểm không thể phủ nhận là việc sử dụng MVT trong việc

DH có tác dụng giảm thiểu thời gian cho việc biểu diễn, thể hiện thông tin của GV trong giờ lên lớp MVT còn cho phép củng cố ngay tức thời và thường xuyên hơn so với DH truyền thống, đồng thòi việc kế thừa, rút kinh nghiệm, chỉnh sửa, bổ sung bài giảng… từ kết quả của các hoạt động DH trước đó là rất thuận lợi và không mất quá nhiều thời gian

Việc sử dụng MVT trong DH còn có tác dụng rất lớn đối với HS, trong đó cá thể học tập của HS ở mức độ cao HS có thể học tập theo nhịp độ riêng của mình phù hợp với khả năng, đặc điểm tâm lý và điều kiện học tập của từng cá nhân, tạo cơ hội để HS

có thể tự học một cách tốt hơn Với những chương trình đã được cài đặt sẵn (trắc nghiệm, đố vui…) MVT có thể đưa ra lời khen ngợi mỗi khi thực hiện tốt một nội dung học tập, và cũng có thể phê phán một cách nhẹ nhàng mỗi khi các em làm không tốt nhiệm vụ của mình Vì thế HS thấy mình được tôn trọng, được cư xử công bằng và khách quan, giúp các em tự tin hơn vào chính bản thân mình Thông qua đó rèn luyện cho HS tính tự lập, tự chủ và sáng tạo Học tập thông qua MVT đòi hỏi HS phải kiên trì, nhẫn nại, cần cù và chăm chỉ, đó cũng là những nét nhân cách cần thiết phải hình thành ở HS

Một ưu điểm khác của việc sử dụng MVT trong DH là khả năng đánh giá kết quả học tập một cách công bằng, khách quan, điều đó giúp HS đánh giá đúng khả năng học tập của mình Nhờ có MVT mà kết quả học tập của HS được lưu lại trong các tệp số liệu, giúp GV có thể so sánh, đánh giá, nhận xét quá trình học tập của HS một cách nhanh chóng, chính xác

Trong quá trình DH nói chung và DH vật lý nói riêng, các thí nghiệm tự động hóa

có sự trợ giúp của MVT được thực hiện một cách nhanh chóng với độ chính xác cao; các số liệu thực nghiệm được xử lí, đánh giá và trình bày dưới dạng bảng biểu, đồ thị hay các tệp số liệu, có thể lưu trữ trên các thiết bị nhớ ngoài của MVT, điều đó giúp

GV và HS dễ dàng trong việc khảo sát và xử lí thông tin

Việc sử dụng MVT trong DH cũng làm thay đổi nội dung và phương pháp giảng dạy các hình thức dạy học cũng từ đó mà được cải tiến, hoàn thiện theo hướng linh hoạt và phong phú hơn Các PPDH tích cực cũng có thể được hoàn thiện, bổ sung và

sử dụng rộng rãi hơn khi có MVT, nhất là PPDH chương trình hóa; mô hình hóa

MVT có một ưu thế nổi trội khác là khi kết nối vào mạng máy tính, nó tạo điều kiện để tiến hành DH từ xa một cách thuận tiện và hiệu quả GV có thể điều khiển quá

Trang 23

trình học tập cùng lúc cho nhiều HS ở nhiều địa điểm khác nhau, có thể rất xa nhau về mặt vị trí địa lí Cũng nhờ hệ thống mạng máy tính mà GV, HS và các nhà quản lý giáo dục có thể cùng tham gia các cuộc thảo luận, có thể chia sẻ thông tin một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất Ngoài ra, thông qua mạng internet, GV có thể cập nhật được những thông tin mới nhất liên quan đến nội dung DH để bổ sung, hoàn thiện bài giảng một cách có chất lượng

2.2 Một số chức năng cơ bản của máy vi tính có thể ứng dụng trong dạy học vật lí

 Sử dụng MVT làm phương tiện nghe nhìn và lưu trữ thông tin

 Sử dụng MVT để thiết kế và biểu diễn các mô hình, thí nghiệm

 Sử dụng MVT để tự động hóa các thí nghiệm vật lí

 Sử dụng MVT để tích hợp với các PT DH hiện đại

 Sử dụng MVT kết hợp với Multimedia

 Vai trò hỗ trợ của MVT trong quá trình DH vật lí

2.3 Vai trò của MVT đối với các nhiệm vụ dạy học

2.3.1 Truyền thụ tri thức, phát triển tư duy

Trong quá trình DH nói chung và DH vật lí nói riêng, có thể thấy ngay rằng, việc

sử dụng MVT hợp lý sẽ giúp cho quá trình truyền thụ tri thức được thuận lợi và hiệu quả hơn, sự phát triển tư duy của HS cũng tốt hơn Điều này đạt được là nhờ vào khả năng khai thác và truyền thụ tri thức về các về các hiện tượng tự nhiên và xã hội của MVT dưới sự điều khiển của GV MVT có thể mô phỏng và minh họa bằng hình vẽ các hiện tượng và các quá trình tự nhiên và xã hội…

Trong DH vật lí, MVT có thể giúp ta tiến hành các thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp và có thể được tiến hành một cách sinh động, đáp ứng mọi yêu cầu của quá trình DH MVT còn có mặt mạnh khác là có thể biểu diễn các hiện tượng và quá trình

tự nhiên trong sự phối hợp với màu sắc, âm nhạc hoặc lời giải thích của GV, do đó MVT có sức cuốn hút HS, có khả năng kích thích hứng thú học tập, đặt HS vào vị trí chủ thể của quá trình học tập Chính vì lí do này mà hiệu quả của bài giảng và chất lượng lĩnh hội tri thức của HS được nâng lên một cách đáng kể

Việc sử dụng MVT trong DH đã tạo cho GV có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển tư duy cho HS Với các hình ảnh, mô hình, hình vẽ, hoặc các video clip về các hiện tượng và quá trình tự nhiên, xã hội GV có thể hình thành và rèn luyện cho HS cách quan sát, khả năng mô tả, diễn đạt và óc liên tưởng… Với những thí nghiệm được

Trang 24

tiến hành nhờ sự hỗ trợ của MVT, ngoài khả năng phát triển các thao tác tư duy, GV còn có điều kiện để rèn luyện cho HS năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa

2.3.3 Giáo dục nhân cách người lao động mới

Trong quá trình học tập với công cụ MVT, HS được rèn luyện tính độc lập, tự chủ

và sáng tạo cao độ MVT không tỏ thái độ phê phán gay gắt trực tiếp HS khi trả lời sai, nhưng cũng không khoan nhượng đối với những sai sót mắc phải, buộc HS phải bằng mọi cách sửa chữa triệt để những sai sót đó Chỉ khi nào HS trả lời đúng câu hỏi đặt ra hoặc giải quyết xong nhiệm vụ được giao, MVT mới cho phép tiếp tục nghiên cứu những kiến thức sau đó, điều này khắc phục được tình trạng hổng kiến thức trong HS hiện nay Ngoài ra, để có thể “hội thoại” đạt kết quả với MVT, HS bắt buộc phải kiên trì, nhẫn nại, cần cù và chăm chỉ

Việc sử dụng MVT để kiểm tra kiến thức của HS luôn bảo đảm được tính chính xác cao, và sự công bằng trong đánh giá MVT rất “trung thực, không vị nể” khi đánh giá, buộc HS phải suy nghĩ, lựa chọn dứt khoát câu trả lời trong thời gian đã định Nhờ

đó tính trung thực của HS cũng được rèn luyện

Khi HS thực hành với MVT, những chuẩn đạo đức cũng đòi hỏi khắt khe, vì MVT chỉ thực hiện theo câu lệnh đúng, không thể buộc nó làm theo ý người sử dụng Muốn giao cho máy những câu lệnh đúng thì người sử dụng chỉ còn cách kiên trì học tập, nghiêm túc với những quy định đã được thỏa thuận trong hệ lệnh, tự tin vào bản thân

và trung thực cao độ

2.4 Vai trò của MVT trong các giai đoạn của quá trình dạy học

Theo lí luận DH hiện đại thì một quá trình DH nói chung hay một quá trình DH

cơ sở (một tiết dạy trên lớp) gồm các giai đoạn: Củng cố trình độ kiến thức xuất phát cho HS; xây dựng kiến thức mới; ôn luyện và vận dụng kiến thức, kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức và các kĩ năng của HS Đây vừa là những chức năng lí luận DH của

Trang 25

quá trình DH và đồng thời cũng là những giai đoạn chính của quá trình DH Trong từng giai đoạn khác nhau, MVT có những vai trò hỗ trợ khác nhau, nhưng tựu trưng lại, sự hỗ trợ của MVT trong các giai đoạn của quá trình DH là hết sức cần thiết và nhờ có nó mà chất lượng dạy học được nâng cao đáng kể

2.4.1 Giai đoạn củng cố kiến thức cũ và đặt vấn đề mới

Bất kỳ một tiết hoc nào, khi muốn dẫn dắt đến vấn đề thì GV phải tìm cách mở đầu bài học hướng HS biết được nội dung chính của bài học cần đề cập đến Cách mở đầu một bài học có thể là một thí nghiệm, có thể là một câu chuyện, cũng có thể là sự liên hệ của bài học trước… Vấn đề cơ bản là GV phải lôi cuốn được người học ngay từ đầu, tạo sự hưng phấn, tính tò mò cho HS ngay ở dây phút đầu tiên của tiết học

Với việc sử dụng MVT, cách mở đầu bài học đã có những thuận lợi nhất định Trong giai đoạn này, GV có thể sử dụng MVT hỗ trợ trong việc tóm tắt kiến thức đã học ở bài trước, đưa ra các hình ảnh, các đoạn phim, về các hiện tượng vật lí một cách trực quan và yêu cầu HS giải thích các hiện tượng đó GV cũng có thể sử dụng MVT

hỗ trợ trong việc đưa ra các hiện tượng mới cần nghiên cứu, đặt ra những tình huống

có vấn đề đối với HS Mặc dù trong giai đọa này, thời gian sử dụng là không nhiều, song hiệu quả lại rất cao, vì chỉ với một thời lượng ngắn ngủi, có thể truyền tải được lượng thông tin khá nhiều và hình thức truyền tải thông tin khá hấp dẫn đối với HS, có thể đặt HS vào một trạng thái tập trung cao độ, chuẩn bị tốt cho các giai đoạn tiết theo của tiết học

2.4.2 Giai đoạn xây dựng kiến thức mới

Có thể nói ngay rằng, trong giai đoạn xây dựng kiến thức mới, MVT có vai trò lớn, việc sử dụng MVT hợp lí trong giai đoạn này sẽ mang lại những hiệu quả rất cao Bằng việc vận dụng những phần mềm mô phỏng hay minh họa các hiện tượng, các quá trình vật lí, kết hợp với phương pháp đàm thoại, HS dễ dàng nhận biết, so sánh và phân tích hiện tượng Việc tiến hành thí nghiệm với sự hỗ trợ của MVT sẽ vừa là nguồn cung cấp kiến thức, vừa là phương tiện để cung cấp những kiến thức mới Thông tin dưới dạng văn bản, hình đồ họa, phim video và âm thanh xuất hiện trên màn hình chính là những đối tượng cần tìm hiểu, nghiên cứu mà HS có thể thu nhận, phân tích và xử lí tốt hơn, vì các dữ liệu trên màn hình của MVT hỗ trợ tốt cho các hoạt động quan sát, mô tả của HS, dẫn đến sự hình thành những biểu tượng hay quan niệm mới về vấn đề đang nghiên cứu Đây cũng là hình thức hữu hiệu, tạo điều kiện để tư duy HS phát triển theo hướng khái quát hóa, quy nạp, từ đó xây dựng kiến thức mới một cách chắc chắn

Trang 26

Ngoài ra, việc mô phỏng, minh họa các hiện tượng hay các quá trình vật lí trên màn hình còn làm nổi rõ mối quan hệ giữa các sự kiện đang khảo sát với các sự kiện

đã biết, từ đó có thể dẫn dắt HS suy luận để đi đến kiến thức mới

2.4.3 Giai đoạn ôn luyện và vận dụng kiến thức

Trong tiết học vật lí, thời lượng dành cho việc ôn luyện và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cho HS là khá ít ỏi (chỉ trong khoảng 5 đến 7 phút), với khoảng thời gian này, nếu không có sự hỗ trợ của MVT thì GV khó có thể hoàn thành công việc một cách đầy đủ

Sự hỗ trợ của MVT trong giai đoạn này là hết sức cần thiết và tỏ ra có hiệu quả

Có thể giao cho HS độc lập sử dụng chương trình ôn tập đã cài sẵn trên MVT Có thể kết hợp sự biểu diễn của GV với việc giao nhiệm vụ cho HS, yêu cầu HS giải quyết nhiệm vụ để ôn tập và vận dụng kiến thức đã lĩnh hội

1.4.4 Giai đoạn tổng kết, hệ thống hóa kiến thức

Việc sử dụng MVT trong tổng kết là hệ thống hóa tri thức sẽ có nhiều thuận lợi

Có thể sử dụng phần mềm xây dựng chương trình tổng kết, đảm bảo việc hệ thống hóa

có tính logic cao về mặt nội dung Với phần mềm ôn tập thì học sinh có thể lựa chọn nội dung ôn tập với số lần thích hợp không hạn chế và dễ dàng chuyển đổi giữa các nội dung khác nhau

2.4.5 Giai đoạn kiểm tra trình độ đánh giá kiến thức và các kĩ năng

Khi sử dụng MVT, nếu chúng ta xây dựng được những chương trình phù hợp thì MVT sẽ là một phương tiện có tác dụng tốt trong việc giám sát chất lượng học tập của

HS Sử dụng MVT làm công tác kiểm tra, đánh giá sẽ giảm đi rất nhiều thời gian nhờ khả năng thống kê và xử lý kết quả nhanh chóng của hệ thống Ngoài khả năng cho biết nhanh chóng kết quả đánh giá, thì tính khách quan, tính chính xác của các kết quả

xử lý bằng MVT, khả năng cho phép việc kiểm tra đánh giá trên nhiều nội dung kiến thức bằng các loại câu trắc nghiệm đa dạng khác nhau là một đặc tính riêng của MVT Biết tận dụng những khả năng này của MVT trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS thì GV có thể chủ động củng cố kiến thức cho HS ở bất cứ thời điểm nào trong quá trình DH Điều này có tác dụng tốt trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của HS

Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, Do đó có nhiều thế mạnh đối với việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS Việc sử dụng MVT làm PTDH hiện đại trong DH VL tạo điều kiện thuận lợi để giúp HS làm quen, tìm hiểu nguyên lí của các ứng dụng trong các hệ thống thiết bị điều khiển tự động có trong thực tế sản xuất

Trang 27

Vậy, việc sử dụng MVT vào quá trình DH là có cơ sở khoa học và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay

MVT và các PTDH hiện đại có sự trợ giúp của MVT góp phần kích thích động cơ học tập tích cực cho HS Các phần mềm dạy học, các hình ảnh mô phỏng, minh họa… giúp tăng cường tính trực quan trong học tập làm cơ sở cho việc phát triển tư duy của

HS Việc DH với MVT và các phương tiện DH hiện đại tạo ra cho HS học tập ở mức

độ cao, kích thích và luôn duy trì mức độ tập trung cao của HS trong quá trình học tập

Trang 28

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ

I KHÁI QUÁT VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ

Trong những năm gần đây, bài giáo án điện tử được sử dụng tương đối phổ biến ở nhiều bộ môn Giáo án điện tử có thể được thiết kế bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tùy theo trình độ có được về CNTT của người viết hoặc dựa vào các phần mềm trình diễn

có sẵn như: Powerpoint, Lecture Maker, Frontpage, Publisher,… Trong đó thiết kế bài giảng với Microsoft Powerpoint là đơn giản và dễ sử dụng nhất đối với đa số giáo viên

1 Khái niệm giáo án điện tử

Giáo án điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều thực hiện thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo ra Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới dạng: văn bản (text), đồ họa (graphics), ảnh động (animation), ảnh tĩnh (image), âm thanh (audio), và phim video (video clip) Đặc trưng cơ bản nhất của giáo án điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của giáo viên đều được multimedia hóa

Cần phân biệt các khái niệm SGK điện tử, giáo trình điện tử, giáo án điện tử và bài giảng điện tử

SGK hay giáo trình điện tử là tài liệu giáo khoa, mà trong đó kiến thức được trình bày dưới nhiều kênh thông tin khác nhau như: văn bản, đồ họa, hình ảnh động, hình ảnh tĩnh, âm thanh, …Đặc điểm quan trọng của SGK điện tử là kiến thức được khai thác theo nhiều phương án khác nhau: trọng tâm, đơn giản hoặc chi tiết…thuận tiện cho người học tra cứu và tìm kiếm nhanh thông tin Ngày nay, SGK điện tử còn cho phép kết nối và cập nhật thêm thông tin mới từ các trang Web mà địa chỉ đã có sẵn trong SGK điện tử

Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử

Trang 29

2 Quy trình thiết kế giáo án điện tử

Giáo án điện tử có thể được xây dựng theo quy trình gồm 6 bước:

 Xác định mục tiêu bài học

 Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm

 Multimedia hóa từng đơn vị kiến thức

 Xây dựng thư viện tư liệu

 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc phần mềm dễ trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể

 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện

Dưới đây là nội dung cụ thể của từng bước

2.1 Xác định mục tiêu bài học

Mục tiêu là cái đích cần phải đạt được sau mỗi bài học, do chính giáo viên đề ra

để định hướng chính hoạt động dạy học mục tiêu giống mục đích ở chỗ đều là cái đề

ra nhằm đạt tới, nhưng chúng khác nhau cơ bản:

 Mục đích (aim) là mục tiêu khái quát, dài hạn

Ví dụ: mục đích của chương trình trung học phổ thông

 Mục tiêu (objective) là mục đích ngắn hạn, cụ thể

Ví dụ: mục tiêu của một bài học

Như vậy, mục đích quy định mục tiêu Mục đích chung của chương trình quy định mục tiêu cụ thể của các chương, bài cụ thể ở lớp

Xác định mục tiêu đúng, cụ thể mới có căn cứ để tổ chức hoạt động dạy học khoa học và đánh giá khách quan, lượng hóa kết quả dạy học Trong dạy học, hướng tập trung vào học sinh, thông thường mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, học sinh đạt được cái gì Ở đây là mục tiêu học tập (learning objectives) chứ không phải làm mục tiêu dạy học (teaching objectives)

Mỗi mục tiêu cụ thể nên diễn đạt bằng một động từ để xác định rõ mức độ học sinhphair cần đạt bằng hành động, tránh viết chung chung như: “nắm được”, “hiểu được” Để viết mục tiêu cụ thể, nên dùng các động từ như: phân tích, so sánh, liên hệ, tổng hợp, chứng minh, đo đạt, tính toán, quan sát, lập được, vẽ được, thu thập, áp dụng,…

Mục tiêu được đề ra nhằm vào việc đảm bảo thực hiện nhiệm vụ liên quan với 3 nhiệm vụ cơ bản của lý luận dạy học, bài học thường có các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ

Trang 30

Theo B Bloom, nhóm mục tiêu nhận thức có 6 mức từ thấp đến cao:

 Biết: nhận biết, ghi nhớ, tái hiện, định nghĩa khái niệm

 Hiểu: thông báo, thuyết minh, tóm tắt, thông tin, giải thích, suy rộng

 Áp dụng: vận dụng kiến thức vào tình huống mới

 Phân tích: nhận biết các bộ phận của một tổng thể, so sánh, phân tích, đối chiếu, phân loại

 Tổng hợp: tập trung các bộ phận thành một tổng thể thống nhất, lập kế hoạch,

dự đoán

 Đánh giá: khả năng đưa ra ý kiến về một vấn đề

2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản của bài dạy, xác định đúng những nội dung trọng tâm, trọng điểm của bài, cấu trúc các kiến thức cơ bản theo ý định bài dạy học

Những nội dung đưa vào chương trình và SGK phổ thông được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, sắp xếp theo logic khoa học và logic sư phạm, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính hổ thông, của chương trình Tuy nhiên trong thực tế quá trình dạy học, đã có nhiều mâu thuẫn xuất hiện giữa:

 Khối lượng tri thức phong phú và thời gian tiết lên lớp có hạn (45 phút) với nhiều nhiệm vụ đa dạng

Trang 31

 Yêu cầu đảm bảo tính khoa học và đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh

 Yêu cầu đảm bảo sự lãnh hội kiến thức vững chắc với sự phát triển toàn diện những năng lực nhận thức của học sinh…

Nhiều giáo viên đã rơi vào hai cực của việc dạy học: một số tham lam, ôm đồm kiến thức, làm cho tiết học nặn nề đối với học sinh, ngược lại một số khác rơi vào cực kia – quá “tóm lược” SGK, không đảm bảo truyền thụ đủ cho học sinh kiến thức cần thiết Kiến thức cơ bản là những kiến thức vạch ra được bản chất của sự vật hiện tượng

Chọn đúng các kiến thức cơ bản của một bài dạy học là công việc khó, phức tạp

Để chọn đúng kiến thức cơ bản của một bài dạy học, cần phải quan tâm đến các điểm sau:

 Nắm vững đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn Do tính tổng hợp cao của khoa học bộ môn mà nội dung tri thức liên quan đến hàng loạt nghành khoa học khác

 Bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn Đây là điều bắt buộc tất yếu vì sách giáo khoa là tài liệu dạy học và học tập chủ yếu; chương trình là pháp lệnh cần phải tuân theo Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản là nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dung dạy học trong toàn quốc Mặt khác, các kiến thức trong sách giáo khoa đã được quy định để dạy cho học sinh Do đó, chọn kiến thức cơ bản là chọn kiến thức ở trong đó chứ không phải

là ở tài liệu nào khác

 Nắm vững chương trình và sách giáo khoa, ngoài nắm vững nội dung từng chương, từng bài, giáo viên phải có cái nhìn khái quát chung toàn bộ chương trình và mối liên hệ “móc xích” giữa chúng để thấy tất cả các mối liên quan và

sự kế tiếp Do đó mới xác định đúng đắn những vấn đề, khái niệm,… cần giảng

kỹ, cần đi sâu, cần bổ sung vào hoặc giảm bớt đi được mà không có hại đến toàn bộ hệ hống kiến thức, trên cơ sở đó chọn lọc các kiến thức cơ bản

Tuy nhiên, để xác định được đúng đắn kiến thức cơ bản mỗi bài thì cần phải đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn đề cần dạy học và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản Đồng thời “ muốn chọn lọc cái không nhiều, cái quan trọng thường cần phải học tập rất nhiều (hầu như tất cả mọi thứ) và không phải chỉ học tập mà còn phải hiểu biết khá sâu sắc nữa” Điều đáng chú ý là khi nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, giáo viên không chỉ dừng lại ở nội dung bài khóa mà phải nghiên cứu các bản số liệu thống kê, tranh ảnh, câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa với tư cách là một thành phần của nội dung bài giảng

Trang 32

 Phải hết sức quan tâm đến trình độ học sinh (tức là chú ý đến đối tượng dạy học) Cần phải biết học sinh đã nắm vững cái gì, dựa vào kiến thức của các em

để cân nhắc lựa chọn kiến thức cơ bản của bài giảng, xem kiến thức nào cần bổ sung, cải tạo hoặc cần phát triển, đi sâu hơn

Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắp xếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các phần kiến thức của bài, từ đó rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài Việc làm này thực sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được Cũng cần chú ý cấu trúc lại nội dung bài phải tuân thủ nguyên tắc không làm biến đổi tinh thần cơ bản của bài mà các tác giả sách giáo khoa đã dày công xây dựng

2.3 Multimedia hóa kiến thức

Đây là bước quan trọng nhất của việc thiết kế bài giảng điện tử, là nét đặc trưng

cơ bản của bài giảng điện tử để phân biệt với các bài giảng truyền thống hoặc các bài giảng có sự hỗ trợ một phần của máy vi tính Việc multimedia hóa kiến thức được thực hiện qua các bước:

 Dữ liệu hóa thông tin kiến thức

 Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ, đồ họa, ảnh tĩnh, phim, âm thanh,… Kiến thức cho một bài lên lớp thường rất nhiều, hình thức

tổ chức hoạt động dạy học rất phong phú và đa dạng Giáo viên cần chọn nội dung kiến thức nào được trình bày dưới dạng văn bản, sơ đồ, tranh ảnh, video clip,… Những hình ảnh, sơ đồ, video clip đó được trình bày dưới dạng nguồn tri thức hỗ trợ cho học sinh hoạt động học tập chứ không chỉ minh họa đơn thuần

 Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng mới nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bài học Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc từ Internet, Encarta… hoặc được xây dựng mới bằng đồ họa, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay video, bằng các phần mềm đồ họa chuyên dụng như Macromedia Flash…

 Chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết

 Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh Khi

sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm

Trang 33

2.4 Xây dựng các thư viện tư liệu

Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần dùng cho bài giảng điện tử, phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý Cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa này sang

ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác

2.5 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể

Sau khi đã có các thư viện tư liệu, giáo viên cần lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử

Trước hết cần chia quá trình dạy học trong giờ lên lớp thành các hoạt động nhận thức cụ thể Dựa vào các hoạt động đó để định ra các Slide (trong PowerPoint) hoặc các trang trong Frontpage Sau đó xây dựng nội dung cho các trang (hoặc các Slide) Tùy theo nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi trang/Slide có thể là văn bản, đồ họa, tranh ảnh, âm thanh, video clip,…

Văn bản cần trình bày ngắn gọn cô đọng, chủ yếu là các tiêu đề và dàn ý cơ bản Nên dùng một loại font chữ phổ biến, đơn giản, màu chữ được dùng thống nhất tùy theo mục đích sử dụng khác nhau của văn bản như câu hỏi gợi mở, dẫn dắt, hoặc giảng giải, giải thích, ghi nhớ, câu trả lời… Khi trình bày nên sử dung sơ đồ khối để học sinh thấy ngay được cấu trúc logic của những nội dung cần trình bày

Đối với mỗi bài dạy nên dùng khung, màu nền (background) thống nhất cho các trang/Slide, hạn chế sử dụng các màu quá chói hoặc quá tương phản nhau

Không nên lạm dụng các hiệu ứng trình diễn theo kiểu “bay nhảy” thu hút sự tò

mò không cần thiết của học sinh, phân tán chú ý trong học tập, mà cần chú ý làm nổi bật các nội dung trọng tâm, khai thác triệt để các ý tưởng tiềm ẩn bên trong các đối tượng trình diễn thông qua việc nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức nhằm phát triển tư duy của học sinh Cái quan trọng không chỉ là đối tượng trình diễn không chỉ để thầy tương tác với máy tính mà chính là hỗ trợ một cách hiệu quả sự tương tác thầy – trò, trò – thầy

Cuối cùng là thực hiện các liên kết (hyperlink) hợp lý, lôgic lên các đối tượng trong bài giảng điện tử nên cần khai thác tối đa khả năng liên kết Nhờ sự liên kết này

mà bài giảng được tổ chức một cách linh hoạt, thông tin được truy xuất kịp thời, học sinh dễ tiếp thu

Trang 34

2.6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện

Sau khi thiết kế xong, phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra các sai sót, đặc biệt là các liên kết để tiến hành sửa chữa và hoàn thiện Kinh nghiệm cho thấy không nên chạy thử từng phần trong quá trình thiết kế

II CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

1 Mục tiêu chính của việc xây dựng các bài giảng điện tử

 Giúp người học hiểu bài dễ hơn, chính xác hơn

 Đề cao tính có thể tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính cá thể trong học tập

 Giúp người học có thể tự học ở mọi nơi, mọi lúc, trên mọi thiết bị

2 Kỹ năng trình bày

 Màu sắc không lòe loẹt

 Không có âm thanh ồn ào

 Chữ đủ to, rõ, không nhỏ quá

 Không ghi nhiều chữ chi chít

 Mỗi slide nên có chủ đề (title)

 Có slide ngăn cách khi chuyển chủ đề lớn

3 Kỹ năng giảng bài

 Tránh không thao thao bất tuyệt từ đầu đến cuối

 Hãy đặt câu hỏi trao đổi, khuyến khích người học phát biểu

 Trước khi giảng bài, cần tìm hiểu đối tượng nghe giảng, tâm lý và mong muốn của họ ? Cố gắng hãy nói ái họ cần hơn là nói cái mình có

 Có video ghi giáo viên giảng bài

 Có hình ảnh, video clip minh họa về chủ đề bài giảng

 Công nghệ: chuẩn SCORM, AICC, công cụ dễ dùng, có thể online hay offline… (Giải quyết vấn đề mọi lúc, mọi nơi)

Trang 35

6 Soạn câu hỏi

Các câu hỏi ở đây không phải là để thi cử, lấy điểm Các câu hỏi được xây dựng nhằm kích thích tính động não của người học, thực hiện phương châm lấy người học làm trung tâm, chú trọng tính chủ động Có những nội dung không nên giảng luôn, mà chuyển sang thảo luận, trả lời câu hỏi gợi ý

7 Nguồn tư liệu

Có nguồn tư liệu phong phú liên quan đến bài học Tài liệu, website tham khảo để người học tự chủ đọc thêm Tuy nhiên cũng nên tránh việc trích dẫn tràn lan

8 Từ khóa

Để gợi ý người học đặt từ khóa để tìm trên mạng Tốt nhất có cả tiếng Anh và tiếng Việt Thí dụ: làm thế nào để biết cách tách âm thanh ra khỏi đĩa CD, DVD ? Mấu chốt nằm ở chỗ từ khóa: Ripper

([2], trang 77)

Trang 36

Chương 3 THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ SỬ DỤNG PHẦN MỀM

LECTUREMAKER

I GIỚI THIỆU

LectureMaker là phần mềm soạn thảo bài giảng điện tử đa phương tiện, sản phẩm của công ty Daulsoft Hàn Quốc (www.daulsoft.com) Với LectureMaker, bất kỳ ai cũng có thể tạo được bài giảng đa phương tiện nhanh chóng và dễ dàng Không chỉ có vậy, bạn còn có thể tận dụng lại các bài giảng đã có trên những định dạng khác như PowerPoint, PDF, Flash, HTLM, Audio, Video… vào nội dung bài giảng của mình Bài giảng được tạo ra từ LectureMaker tương thích với chuẩn SCORM để làm bài giảng e-Learning cho các hệ thống học tập trực tuyến

Tương tự Slide Master trong PowerPoint, việc xây dựng Slide Master trước khi đưa nội dung vào sẽ giúp bạn sắp xếp, tổ chức bài giảng nhất quán, hợp lý hơn

LectureMaker có sẵn các bộ công cụ soạn thảo trực quan cần thiết để tạo bài giảng điện tử như: soạn thảo công thức toán học, vẽ biểu đồ, vẽ dồ thị, tạo bảng, textbox, và các ký tự đặc biệt; có thể chèn nhiều loại nội dung đa phương tiện vào bài giảng của mình như: hình ảnh, video, âm thanh, flash, …

LectureMaker cung cấp sẵn nhiều mẫu trình bày, các nút liên kết nội dung và các nút định vị trang được sử dụng trong soạn thảo bài giảng nhằm định hướng nội dung bài học cũng như làm tăng khả năng tương tác học tập

Với việc sử dụng webcam (camera), microphone, chức năng bảng điện tử, khả năng tự ghi lại giúp bài giảng có thể được soạn thảo một cách hiệu quả và sáng tạo bằng cách ghi hình, ghi âm và đồng bộ bài giảng Kết quả thu được là một bài giảng sinh động với đầy đủ các hoạt động trên lớp mà qua đó người học hoàn toàn tự học được

Trang 37

II GIAO DIỆN VÀ CÁC MENU CỦA LECTUREMAKER

1 Giao diện

Vùng 1: Chứa các Menu và các nút lệnh của chương trình

Vùng 2: Chứa danh sách các Slide trong bài giảng, hiển thị nội dung của từng trang

trình diễn dưới dạng nhỏ Có thể thêm, xóa một Slide hoặc di chuyển đến một Slide bằng cách click chọn vào hình Slide đó Có hai cửa sổ có thể chuyển qua lại bằng cách click vào tên của nó:

Slide Master: Cho phép thiết kế Layout thống nhất cho bài giảng gồm có 2

slide:

* Title Master: tương ứng với Slide đầu tiên của bài giảng, là Slide giới thiệu

thông tin về bài giảng

* Body Master: tương ứng với các Slide nội dung trong

bài giảng

Ngoài ra còn có các nút chức năng bên dưới theo thứ tự từ trái

sang phải: Normal Slide View, Multi Slide View, Run from

current Slide, Insert Group, Delete Group

Vùng 3: Vùng thao tác của Slide đang được chọn, gồm các đối

tượng văn bản, hình ảnh, phim…

Vùng 4: Danh sách các đối tượng có trên Slide được chọn

Trang 38

Tạo File

Mở các File đã lưu Đóng File đang thao tác Lưu File (phần mở rộng.lme) Lưu File dạng khác

In File

2 Các Menu

2.1 Menu Lecturemaker

Click mouse vào sẽ xuất hiện

các lệnh: New, Open, Close,

Save, Save As, Print

2.2 Menu home

Chức năng định dạng văn bản, gồm các nút lệnh:

 Clipboard: Thực hiện các lệnh Cắt (Cut), Dán (Paste), Sao chép (Copy),

Gán thuộc tính cho đối tượng (Attribute)

 Slide: Tạo Slide mới (New Slide), Sao chép Slide (Copy Slide), Nhân đôi

Slide (Duplicate Slide), Xóa Slide (Delete Slide)

 Font: Định dạng Font cho văn bản

 Paragraph: Định dạng đoạn văn bản

 Draw: Vẽ hình, định dạng màu nền và màu viền của các đối tượng

 Edit: Định vị, canh hàng, nhóm, ẩn hiện các đối tượng

Trang 39

2.3 Menu Insert

Cho phép chèn các đối tượng như multimedia, biểu đồ, đồ thị, công thức toán

học,… gồm các nút lệnh:

Object: Dùng để chèn các đối tượng vào bài giảng như: hình ảnh, phim, âm

thanh, Flash, nút nhấn, file PDF, PowerPoint,…

Recording: Dùng để ghi lại bài giảng, âm thanh,…

Editor: Dùng chèn công thức toán học, đồ thị, hình ảnh tự vẽ,…

Text: Thao tác với văn bản, chèn các ký tự đặc biệt,…

Quiz: Dùng để chèn các câu trắc nghiệm ngắn hay nhiều lựa chọn

2.4 Menu Control

Đặt các hiệu ứng cho các đối tượng và trang trình diễn, gồm các nút lệnh:

 Object Control: Điều khiển thuộc tính của đối tượng

 Video/ Audio Change: Chuyển đổi các file Video, Audio

 Slide Transition Effect: Tạo hiệu ứng cho Slide

2.5 Menu Design

Cho phép chèn hình nền, chọn mẫu trình bày cho bài giảng, gồm các nút lệnh:

 Design: Chứa các mẫu hình nền có trong chương trình

 Layout: Chứa các bố trí sẵn các khung giữ chỗ cho file hình ảnh, văn bản,

Flash,…

 Template: Chứa các mẫu bố trí sẵn, có cả hình nền và các khung giữ chỗ

Trong Template thường sẽ có các bộ Template gồm 1 Template cho frame tiêu đề

Trang 40

Ví dụ: Template có tên Aqua0 dùng cho frame tiêu đề và 3 Template có tên

Aqua1, Aqua2, Aqua3 cho các frame còn lại trong bài giảng

 Slide Setup: Thay đổi các thuộc tính cho Slide

2.6 Menu View

Trình diễn bài giảng, mở các cửa sổ khác, gồm các nút lệnh:

 Run Slide (Các chế độ trình chiếu bài giảng):

 Run All Slide: Trình chiếu tất cả Slide (Bắt đầu từ Slide 1 hoặc gõ phím

F5 trên bàn phím)

 Run Current Slide: Trình chiếu từ Slide hiện hành

 Run Full Screen: Trình chiếu toàn màn hình

 Run Web: Trình chiếu dạng Web

 View Slide: Xem Slide theo độ phóng to, thu nhỏ…

 Slide Master: Thiết lập và chỉnh sửa Slide Master (Thao tác chỉnh sửa sẽ

ảnh hưởng đến tất cả Slide Body)

 View HTML Tag: Xem mã các Tag trong HTML

 Show/ Hide: Ẩn/ Hiện thước và đường lưới, thanh trạng thái

 Window: Sắp xếp cửa sổ các File đang cùng mở

 Animation: Tạo hiệu ứng cho đối tượng trong Slide

Nếu trên thanh Ribon không hiển thị đầy đủ các nút lệnh liên quan đến đối tượng

trong Slide thì hãy D_Click mouse vào đối tượng

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm