1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý THIẾT kế GIÁO án điện tử vật lí 10 NÂNG CAO sử DỤNG PHẦN mềm LECTUREMAKER trần ngọc châu

99 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 7,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng việc dạy và học chủ yếu là dựa vào sách giáo khoa, mặc dù nội dung sách đã được đổi mới, nhưng việc dạy thiếu tính trực quan sinh động, không gây hứng thú học tập, khiến học sinh k

Trang 1

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN VẬT LÍ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ VẬT LÍ 10 NÂNG CAO SỬ DỤNG PHẦN MỀM LECTUREMAKER

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:

Vương Tấn Sĩ Trần Ngọc Châu

GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN: MSSV: 1087055

Dương Bích Thảo Lớp SP Vật Lí – Công Nghệ K34 Phạm Phú Cường

 Cần Thơ – 04/2012 

Trang 2



Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Sư phạm , Bộ môn Vật Lí trường Đại học Cần Thơ, các Thầy Cô giáo trường Đại học Cần Thơ đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập ở trường Đại học Cần Thơ

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thầy Vương Tấn Sĩ, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn bè và những người thân yêu đã động viên, giúp đỡ để em hoàn thành luận văn này Trong quá trình thực hiện, tuy đã cố gắng để hoàn thành tốt đề tài Nhưng do thời gian còn hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy Cô cùng các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Một lần nữa em xin chân thành cám ơn tất cả mọi người

Cần Thơ, tháng 4 năm 2012 Sinh viên thực hiện

Trần Ngọc Châu

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN



Giáo viên hướng dẫn

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN



Giáo viên phản biện

Trang 5

GVHD: Vương Tấn Sĩ SVTH: Trần Ngọc Châu

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1 Hoàn cảnh thực tế 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Giới hạn của đề tài 2

II CÁC GIẢ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 2

III CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 3

1 Phương pháp 3

2 Phương tiện 3

IV CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 3

PHẦN NỘI DUNG 5

I THỰC TRẠNG XUNG QUANH NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 5

1 Thực trạng sử dụng công nghệ thông tin trong trường học 5

2 Thực trạng xung quanh vấn đề thiết kế giáo án điện tử 6

II NGHIÊN CỨU LÍ THUYẾT 7

1 Giới thiệu sách giáo khoa Vật Lí 10 nâng cao 7

2 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật Lí 8

2.1 Tính tích cực 8

2.2 Hoạt động nhận thức 9

2.3 Tích cực hóa hoạt động nhận thức 10

2.4 Sự cần thiết của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức 11

2.5 Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS 11

2.6 Sử dụng một số phương pháp đặc thù của bộ môn Vật Lí nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS 15

3 Vai trò của công nghệ thông tin trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS 18

4 Mô phỏng và thí nghiệm ảo trong dạy học vật Lí 23

Trang 6

GVHD: Vương Tấn Sĩ SVTH: Trần Ngọc Châu

4.1 Mô phỏng trong dạy học Vật Lí 23

4.1.1 Thế nào là mô phỏng 23

4.1.2 Vai trò của mô phỏng 25

4.2 Thí nghiệm ảo trong dạy học Vật Lí 26

5 Giáo án điện tử 27

5.1 Khái niệm giáo án điện tử 27

5.2 So sánh giáo án điện tử với giáo án truyền thống 28

5.3 Ý nghĩa của việc sử dụng giáo án điện tử 28

5.4 Các tiêu chí đánh giá giáo án điện tử 29

5.5 Qui trình thiết kế giáo án điện tử 30

5.6 Một số điểm cần lưu ý khi thiết kế giáo án điện tử 32

5.7 Những ưu điểm và nhược điểm của việc giảng dạy bằng giáo án điên tử 32

III GIỚI THIỆU PHẦN MỀM THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ LECTUREMAKER 2.0 34

1 Giới thiệu 34

1.1 Tổng quan 34

1.2 Các chức năng chính 35

1.2.1 Master Slide - Tạo thể hiện thống nhất 35

1.2.2 Nhiều bộ soạn thảo khác nhau 35

1.2.3 Đa dạng nội dung đa phương tiện 35

1.2.4 Điều khiển video 35

1.3 Các tính năng đặc biệt 35

1.3.1 Thiết kế và phác thảo mẫu trình bày 35

1.3.2 Nút tương tác 35

1.3.3 Bài giảng sinh động 35

2 Giao diện và các menu của LectureMaker 36

2.1 Giao diện 36

2.2 Các menu 36

2.2.1 Menu LectureMaker 36

2.2.2 Menu Home 37

Trang 7

GVHD: Vương Tấn Sĩ SVTH: Trần Ngọc Châu

2.2.3 Menu Insert 37

2.2.4 Menu Control 38

2.2.5 Menu Design 38

2.2.6 Menu View 38

2.2.7 Menu Format 39

3 Hướng dẫn tạo nút lệnh trong LectureMaker 39

3.1 Tạo các nút nhấn có chức năng di chuyển giữa các slide, chạy, ngừng hoặc thoát khỏi bài giảng 40

3.2 Tạo nút lệnh có chức năng bất kì 41

4 Chèn các đối tượng vào slide 43

4.1 Chèn văn bản qua Text Box 43

4.2 Chèn hình ảnh 44

4.3 Chèn Video 44

4.4 Chèn âm thanh 44

4.5 Chèn Flash 45

4.6 Chèn file PowerPoint 45

4.7 Chèn file PDF/Website 46

4.8 Chèn công thức toán 46

4.9 Chèn biểu đồ 46

4.10 Dựng đồ thị hàm số 47

4.11 Chèn hình vẽ 47

5 Chèn câu hỏi trắc nghiệm 48

5.1 Tạo câu hỏi trắc nghiệm với câu trả lời nhiều lựa chọn 48

5.2 Tạo câu hỏi trắc nghiệm dạng trả lời ngắn 50

6 Qui trình soạn giáo án điện tử sử dụng phần mầm LectureMaker 51

6.1 Phân tích các bước chính của bài giảng 51

6.2 Thiết kế bài giảng sử dụng Slide Master 51

6.2.1 Tạo File bài giảng mới 51

6.2.2 Tạo Slide Master 52

Trang 8

GVHD: Vương Tấn Sĩ SVTH: Trần Ngọc Châu

IV THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 10 NÂNG CAO

56

1 Phân tích cấu trúc nội dung chương trình Vật Lí 10 nâng cao 56

1.1 Cấu trúc chương trình Vật Lí 10 nâng cao 56

1.2 Nội dung chương trình Vật Lí 10 nâng cao 57

2 Thiết kế một số giáo án điện tử chương trình Vật Lí 10 nâng cao 60

2.1 Giáo án điện tử bài 16 “Định Luật III Newton” – Chương 2 – Vật Lí 10 nâng cao 60

2.2 Giáo án điện tử bài 29 “Momen của lực Điều kiện cân bằng của một vật rắn có trục quay cố định” – Chương III – Vật Lí 10 nâng cao 69

2.3 Giáo án điện tử bài 30 “Định luật bảo toàn động lượng” - Chương 4 – Vật Lí 10 nâng cao 78

PHẦN KẾT LUẬN 88

I NHẬN ĐỊNH CHUNG 88

II NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 89

III HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 9

GVHD: Vương Tấn Sĩ SVTH: Trần Ngọc Châu

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Bài giảng điện tử

Công nghệ thông tin

Phương pháp giảng dạy

Phương tiện dạy học

DH DHVL GAĐT

GV

HS LLDH MVT PPDH PPDHTC PPGD PTDH QTDH SGK TCHHĐNT TTC

TN TNSP THPT THCS

Trang 10

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 1 SVTH: Trần Ngọc Châu

kỹ thuật cao, có năng lực tư duy sáng tạo và có khả năng độc lập giải quyết vấn đề Chính vì thế, vấn đề giáo dục và đào tạo đang rất được chú trọng trong giai đoạn hiện nay Trong đó việc đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò hết sức quan trọng

Trong những năm gần đây, ngành giáo dục và đào tạo không ngừng đổi mới chương trình sách giáo khoa về nội dung, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Song thực tế phương pháp dạy học trong các bậc đào tạo hiện nay chủ yếu mang tính chất thông báo – tái hiện Đa số giáo viên vẫn còn sử dụng phương pháp diễn giảng truyền thống theo lối truyền thụ một chiều, học sinh thụ động ghi chép và thụ động trong việc tiếp thu tri thức Kiểu dạy học truyền thống đã làm cho khả năng tự học, tự chủ, tìm tòi, khả năng

tư duy khoa học độc lập của học sinh bị hạn chế

Nghị quyết Trung ương II khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

“Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…” Văn kiện đại hội IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “…tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy

và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục…” Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo đã nêu rõ: “Công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học” Bộ GD - ĐT quyết định lấy chủ đề năm học 2008 - 2009 là “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD - ĐT” Một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện đường lối trên là đưa học sinh vào

vị trí chủ thể hoạt động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực, trí tuệ

Trang 11

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 2 SVTH: Trần Ngọc Châu

Nhìn chung, xã hội phát triển đã đặt ra yêu cầu đổi mới cho ngành giáo dục thì cũng mang lại cho ngành giáo dục nhiều phương tiện mới để thực hiện nhiệm vụ của mình Ở đây tôi muốn nói đến sự phát triển như vũ bão của ngành công nghệ thông tin; với máy tính, máy chiếu, mạng internet, các phần mềm ứng dụng … Trong đó, phù hợp nhất với mức

độ phát triển của nước ta hiện nay là việc sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint, Violet, LectureMaker, Adobe Presenter… để thiết kế giáo án điện tử phục vụ cho giảng dạy Nếu giáo viên có một hệ thống các giáo án điện tử được thiết kế hay, theo hướng dạy học tích cực thì chắc chắn việc giảng dạy sẽ có hiệu quả cao hơn

Những lí do trên đã thúc đẩy tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu

“THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ MÔN VẬT LÍ LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO SỬ DỤNG PHẦN MỀM LECTUREMAKER” Đây là đề tài mà tôi mong

muốn thực hiện để mang lại nguồn tài liệu hỗ trợ việc dạy của giáo viên và học của học sinh

2 Mục đích của đề tài

Thiết kế giáo án điện tử Vật Lí 10 chương trình nâng cao nhằm phục vụ cho việc dạy và học môn Vật lí đạt hiệu quả cao nhất và đáp ứng nhu cầu đổi mới nền giáo dục nước ta

3 Giới hạn của đề tài

Do thời gian thực hiện đề tài có giới hạn nên nội dung kiến thức Vật lí đưa vào còn hạn chế, hình ảnh minh họa, mô hình thí nghiệm đưa vào giáo án điện tử chưa nhiều Mặt khác,

do việc nghiên cứu và tìm hiểu các phần mềm hỗ trợ cho việc thiết kế giáo án điện tử còn hạn chế nên việc hoàn thành luận văn còn gặp nhiều khó khăn

II CÁC GIẢ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nước ta đang từng bước đổi mới phương pháp dạy học và phát triển nền giáo dục Nhưng việc dạy và học chủ yếu là dựa vào sách giáo khoa, mặc dù nội dung sách đã được đổi mới, nhưng việc dạy thiếu tính trực quan sinh động, không gây hứng thú học tập, khiến học sinh khó hình dung được các hiện tượng vật lý khó nhìn thấy hoặc không nhìn thấy trong thực tế làm cho nhận thức của học sinh bị hạn chế và trở nên thụ động trong việc học, còn giáo viên cũng khó truyền thụ hết nội dung kiến thức

Nhưng với “ Giáo án điện tử Vật lí 10 nâng cao” có hình ảnh mô phỏng trực quan, các đoạn video sinh động sẽ gây hứng thú và sự tập trung cho học sinh trong việc học Như vậy học sinh dễ dàng hình dung và hiểu bài hơn, từ đó có thể phát triển vấn đề của bài học và

Trang 12

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 3 SVTH: Trần Ngọc Châu

nâng cao khả năng tư duy tích cực cho học sinh Giáo viên không những đem đến cho học sinh một lượng kiến thức về môn học mà còn dễ dàng thể hiện được các phương pháp nêu vấn đề, thực hiện đánh giá học sinh toàn diện khách quan ngay trong quá trình dạy học

“Giáo án điện tử vật lí 10 nâng cao” vừa mang lại hiệu quả cao và tiện lợi trong học tập, vừa kích thích tính tự giác học tập của học sinh Giáo án điện tử này là nguồn tài liệu bổ ích cho học sinh lớp 10 và giáo viên có thể lấy làm kho tư liệu cho việc dạy học của mình

III CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Phương pháp

- Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa

- Tìm hiểu và nghiên cứu phần mềm thiết kế giáo án điện tử Lecture Maker 2.0,

chương trình cắt hình, quay phim SnagIt 10, phần mềm Windows Media Recorder

- Các tài liệu liên quan khác

IV CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Đề tài được thực hiện qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Tìm hiểu nội dung, chuẩn bị và tìm hiểu các phần mềm hỗ trợ Tạo và tìm

kiếm các hình ảnh tư liệu liên quan

- Đọc và phân tích sách giáo khoa Vật Lí 10 nâng cao

- Vẽ và xử lý các hình ảnh trong sách giáo khoa cũng như các hình ảnh liên quan

- Tìm các mô phỏng Vật Lí có liên quan

Giai đoạn 2: Tìm hiểu phần mềm thiết kế giáo án điện tử và các chương trình hỗ trợ

- Chương trình thiết kế giáo án điện tử Lecture Maker

- Chương trình xử lý hình ảnh SnagIt 10

- Soạn thảo văn bản Microsoft Office Word 2007

Trang 13

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 4 SVTH: Trần Ngọc Châu

Giai đoạn 3: Viết luận văn và viết bài báo cáo

- Tiến hành thiết kế giáo án điện tử

- Soạn PowerPoint bài báo cáo

Giai đoạn 4: Báo cáo luận văn

Trang 14

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 5 SVTH: Trần Ngọc Châu

PHẦN NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG XUNG QUANH NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thực trạng sử dụng công nghệ thông tin trong trường học

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT) đã có văn bản gửi các cơ sở GD và ĐT yêu cầu thực hiện tốt nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả

và chất lượng giáo dục

Nhưng thực tế việc sử dụng công nghệ thông tin vào học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên hiện nay là rất ít vì những tư liệu dành cho môn học ít, cách viết chưa lôi cuốn

học sinh, nội dung ít có phần liên hệ thực tế

Với nhu cầu cấp thiết của thực tiễn giáo dục và đào tạo, những kết quả khả quan của việc ứng dụng CNTT vào phát triển và hiện đại hóa các phương tiện dạy học (PTDH) đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của nền khoa học và giáo dục hiện đại của mỗi quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới Các nhà giáo dục tìm cách nghiên cứu để phát huy một cách tốt nhất PTDH hiện đại (máy tính với môi trường dạy học Multimedia), đồng thời mở ra những triển vọng mới trong việc ứng dụng nó để cải tiến phương pháp dạy học (PPDH), nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo hiện nay

Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học (QTDH) được triển khai mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Ở các nước phát triển như Mỹ, Đức, Hàn Quốc,… các công ty sản xuất thiết bị dạy học (DH) về ứng dụng CNTT đã sản xuất nhiều sách điện tử, các PTDH hiện đại được điều khiển bởi máy vi tính, hệ thống trường học được trang bị phòng học đa chức năng với mạng máy tính, máy chiếu khuếch đại,… đã đánh dấu một cuộc cách mạng mới trong công nghệ DH Đưa QTDH từ hình thức dạy học truyền thống thành

DH trên mạng, biến Internet với các Website thành môi trường học tập và thư viện tư liệu cho học sinh (HS) truy cập

Theo báo cáo tổng kết của UNESCO (2004), việc triển khai tích hợp CNTT vào trường học thông qua các dự án thí điểm như trường học thông minh tại một số nước Châu

Á (Malaysia, Philipines, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, ) đã đem lại kết quả bước đầu rất khả quan, giúp phát triển tư duy HS

Trang 15

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 6 SVTH: Trần Ngọc Châu

Ở Việt Nam, thành công của sự nghiệp đổi mới trong hai thập niên qua đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng các thành tựu của CNTT trong Giáo dục và Đào tạo Môn tin học đã được đưa vào giảng dạy dưới các hình thức và mức độ khác nhau, hầu hết các trường THPT được trang bị phòng máy tính, phòng nghe nhìn đa chức năng với máy chiếu khuếch đại,… Nhiều trường THPT, các trường đại học, viện nghiên cứu đã sử dụng các thiết bị hiện đại phục vụ cho DH Việc sử dụng Internet như một công cụ học tập đang dần trở nên quen thuộc với

HS, SV Thông qua mạng tương tác trong trường học, các em có khả năng tiếp cận thông tin nhanh hơn, tìm kiếm thông tin phục vụ cho việc học tập của bản thân mình

Xác định tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT và Internet đối với việc dạy và học trong 5 năm gần đây, nền Giáo dục nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt trong việc đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa phổ thông Bên cạnh nhiều dự án thay sách giáo khoa, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, đổi mới giáo dục phổ thông, đào tạo GV phổ thông, hàng năm Nhà nước còn đầu tư một lượng ngân sách lớn cho việc trang bị cơ sở vật chất sư phạm – thiết bị DH phục vụ DH Trong các thiết bị DH hiện nay, ngoài các loại hình thiết bị DH truyền thống như tranh ảnh giáo khoa, bản đồ giáo khoa, mô hình mẫu vật, thì máy vi tính là một loại phương tiện kỹ thuật DH hiện đại không thể thiếu ở mỗi trường phổ thông Rất nhiều trường phổ thông đã có phòng học với 20 – 25 bộ máy vi tính với các thiết bị trợ giảng bằng hệ thống DH đa phương tiện

đã kết nối Internet và có trang Web về trường

2 Thực trạng xung quanh vấn đề thiết kế giáo án điện tử

So với phương tiện DH chỉ có bảng đen, phấn trắng và tranh giáo khoa thì việc thiết kế nội dung bài giảng trên máy vi tính với sự hỗ trợ của hệ thống DH đa phương tiện là một bước đột phá lớn GAĐT ngoài việc hỗ trợ cho GV, giải phóng bớt sức lao động ở trên lớp của GV, còn đem đến cho HS phổ thông nhiều thông tin hơn, hấp dẫn hơn qua các kênh thông tin đa dạng và phong phú: nội dung văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, động, các đoạn Video Clip sống động Đặc biệt, ở một số nội dung kiến thức người ta còn có thể xây dựng các mô hình mô phỏng, thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng để minh họa hoặc chứng minh định luật, đã biến quá trình HS nhận thức các kiến thức trừu tượng thành quá trình tự HS lĩnh hội kiến thức mới một cách hào hứng, tích cực

Công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV để có thể sẵn sàng tiếp cận với các PTDH

Trang 16

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 7 SVTH: Trần Ngọc Châu

hiện đại trong DH nói chung và DHVL nói riêng đang được các trường Đại học, Cao đẳng

Sư phạm dành một thời lượng đáng kể trong chương trình đào tạo Các học phần “Tin học ứng dụng trong Vật Lí”, “Phương tiện dạy học Vật Lí” đều được triển khai và cập nhật các ứng dụng cụ thể của CNTT trong việc xây dựng, phát triển và hiện đại hóa PTDH Vật Lí Theo đánh giá ban đầu thì hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong DH là khá khả quan, càng khẳng định vai trò quan trọng của CNTT trong việc đổi mới PP dạy và học Tuy nhiên, xét trên diện rộng, tình hình ứng dụng CNTT trong DH ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế như:

- Nhận thức của GV và HS: Nhiều GV, HS chưa quan tâm tới việc ứng dụng CNTT vào quá trình giáo dục do đã quen với các PPDH truyền thống Đây là khó khăn có tính tất yếu của quá trình phát triển

- Cơ sở hạ tầng CNTT còn thấp: đây là vấn đề nan giải nhất Ứng dụng CNTT trong giáo dục đi liền với đầu tư hệ thống máy tính, mạng máy tính nội bộ, mạng Internet phục vụ cho

GV và HS, các thiết bị ngoại vi như máy chiếu, hệ thống cung cấp điện, phòng máy đạt tiêu chuẩn,… là khó khăn lớn không dễ giải quyết trên diện rộng

- Trình độ tin học của GV và HS còn có những bất cập với các ứng dụng cụ thể của các phần mềm, các thí nghiệm với máy tính…

- Hình thức tổ chức lớp học truyền thống sẽ có những điều chỉnh khi đưa CNTT vào DH Thay đổi hình thức tổ chức lớp học, phương thức dạy và học sẽ gây khó khăn cho cả GV, HS

và cả các nhà quản lý giáo dục Chẳng hạn muốn tổ chức một giờ học bằng bài giảng điện tử,

sử dụng projector trang bị cho toàn trường (vì không có điều kiện trang bị đến từng lớp học) thì phải có sự di chuyển địa điểm học tập, GV sẽ phải mất thời gian cho việc chuẩn bị PTDH cho giờ học đó

II NGHIÊN CỨU LÍ THUYẾT

1 Giới thiệu sách giáo khoa Vật Lí 10 nâng cao

Sách giáo khoa Vật Lí 10 nâng cao được soạn thảo trên cơ sở SGK thí điểm Vật Lí 10 cho Ban Khoa Học Tự Nhiên bộ sách 1, đã được dạy thí nghiệm trong nhiều trường THPT từ năm học 2003 – 2004 Các tác giả tiếp thu những ý kiến đóng góp trong quá trình thí điểm

và dựa vào chương trình mới sửa đổi để tu chỉnh SGK thí điểm đó và viết thành SGK Vật Lí

10 nâng cao SGK Vật lí 10 nâng cao không những được viết theo tinh thần nối tiếp chương

Trang 17

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 8 SVTH: Trần Ngọc Châu

trình THCS mới, mà còn dùng cho những học sinh mới, có kiến thức, thói quen và phương pháp học tập có phần khác trước SGK đã tạo được điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần phát huy tính chủ động của HS Trong từng bài có phần để cho

HS nhận xét, đối chiếu, vận dụng… giáo viên khai thác những phần ấy để dẫn dắt HS hoạt động trí tuệ một cách chủ động

Một yêu cầu rất quan trọng của chương trình Vật Lí là coi trọng thí nghiệm, cố gắng để 30% tiết học Vật Lí có thí nghiệm SGK Vật Lí 10 nâng cao đã trình bày một số thí nghiệm với những thiết bị bình thường mà phần lớn các trường THPT đã được trang bị, giúp cho HS nắm được phương pháp thực nghiệm của Vật Lí học Bên cạnh việc coi trọng phương pháp thực nghiệm, SGK còn coi trọng các phương pháp khác của Vật Lí dựa trên những suy luận Thí dụ, khi nghiên cứu chuyển động của một vật trên mặt phẳng nghiêng SGK dùng phương pháp suy diễn: Áp dụng định luật III Newton tính gia tốc của vật và suy ra rằng vật chuyển động nhanh dần đều với gia tốc đã tính, sau đó mới dùng thí nghiệm kiểm chứng lại kết quả tính toán trên, kiểm chứng như thế tức là kiểm chứng định luật Newton và biểu thức của lực

ma sát

Sách giáo khoa Vật lí 10 nâng cao gồm có 2 phần được chia thành 8 chương trong đó có tất cả là 60 bài học, trong đó có 56 bài lý thuyết và 4 bài thực hành Các bài thực hành giúp

học sinh dễ tiếp thu kiến thức hơn

2 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật Lí

2.1 Tính tích cực (TTC): là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội

Con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động tạo ra những của cải vật chất cần thiết cho sự sống, sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Từ đây, con người bộc lộ năng lực sáng tạo, khả năng khám phá, tạo ra các nền văn minh ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội

Tính tích cực trong học tập: TTC được biểu hiện trong hoạt động của mỗi người, đặc biệt là những hoạt động mang tính chủ động của chủ thể Trong giáo dục, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của chủ thể giáo dục TTC trong học tập về bản chất là tích cực nhận thức, sự mong muốn hiểu biết và có khát vọng chiếm lĩnh tri thức về thế giới khách quan

Trang 18

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 9 SVTH: Trần Ngọc Châu

Quá trình nhận thức của loài người là quá trình nghiên cứu, tìm kiếm khám phá thế giới khách quan Do đó, trong học tập, người học phải tích cực, chủ động khám phá những điều chưa biết đối với bản thân TTC nhận thức trong hoạt động học tập có liên quan đến động cơ học tập Động cơ học tập đúng đắn sẽ tạo ra hứng thú Hứng thú là cơ sở, tiền đề của tính tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực TTC trong học tập thể hiện ở các hoạt động khác nhau như hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài, tích cực trình bày các vấn đề được nêu, hay nêu thắc mắc, không thỏa mãn với các câu trả lời của mọi người, kể cả câu trả lời của bản thân, chịu khó tư duy trước các vấn đề khó, kiên trì giải quyết các bài tập theo các cách khác nhau

TTC học tập được phân chia thành các cấp độ từ thấp đến cao:

- Bắt chước: cố gắng hành động theo mẫu của giáo viên và bạn bè

- Tìm tòi: độc lập trong tư duy khi giải quyết các vấn đề, tìm kiếm các cách giải quyết khác nhau về một vấn đề…

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo…

Phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC): hướng tới tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nhằm phát huy TTC, chủ động sáng tạo của người học

Với PPDHTC, người dạy đóng vai trò chủ đạo, người học đóng vai trò chủ động chiếm lĩnh tri thức

Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực:

- Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của HS

- DH chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS

- DH phân hóa kết hợp với hợp tác

2.2 Hoạt động nhận thức

Nhận thức là cơ sở của hành động, nhận thức đúng thì hành động mới đem lại hiệu quả cao như mong muốn Nhận thức có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Chính vì vậy, biện pháp tăng cường hoạt động nhận thức là biện pháp có vị trí quan trọng, quyết định hướng đi và hiệu quả của việc nâng cao chất lượng dạy học

Trang 19

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 10 SVTH: Trần Ngọc Châu

2.3 Tích cực hóa hoạt động nhận thức (TCHHĐNT)

Tích cực hóa (TCH) là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập

TCHHĐNT của HS là một trong những nhiệm vụ của thầy giáo trong nhà trường nhằm phát hiện những quan niệm sai lệch của HS Qua đó, thầy giáo có biện pháp để khắc phục những quan niệm sai lầm đó và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng

DH Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới DH hiện nay thì việc TCHHĐNT của HS là một vấn đề được đặc biệt quan tâm

Nhiều nhà vật lý học trên thế giới đang hướng tới việc tìm kiếm con đường tối ưu, nhằm TCHHĐNT của HS, nhiều công trình luận án tiến sĩ cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình DH nhằm đáp ứng được yêu cầu DH trong giai đoạn phát triển mới Trong

đó HS chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm kiến thức Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để HS tự mình khám phá kiến thức mới

Quá trình TCHHĐNT của HS sẽ góp phần làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn TCH vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ DH, đồng thời nó góp phần rèn luyện cho HS những phẩm chất của người lao động mới: tự chủ, năng động, sáng tạo Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường phải hướng tới

Những dấu hiệu quan trọng của sự tích cực trong hoạt động nhận thức:

- HS hăng hái tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV Bổ sung các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình trước một vấn đề nêu ra

- HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi được giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày chưa

Trang 20

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 11 SVTH: Trần Ngọc Châu

2.4 Sự cần thiết của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức

HS phổ thông của chúng ta đã quen với cách học truyền thống: thụ động ngồi nghe GV giảng bài sau đó ngồi chờ GV đọc và chép như một cái máy Do đó, HS trở nên có tác phong chậm chạp, thụ động trong suy nghĩ và hành động Vì vậy, không thể tự lực giải quyết vấn

đề một cách toàn diện được Đứng trước tình hình đó, Bộ Giáo dục yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học nhằm tạo ra những con người có năng lực, phẩm chất tốt đẹp: Biết tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tự bộc lộ quan niệm riêng của mình và tích cực tham gia vào hoạt động nhận thức Xuất phát từ yêu cầu chung của ngành, yêu cầu riêng của

bộ môn, muốn thực hiện đổi mới PPDH trong QTDH cần thiết có sự tác động bên ngoài vào nhận thức, tình cảm, ý chí của HS để tạo điều kiện kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của HS Sự tác động của các yếu tố bên ngoài phải kích thích vào tính tích cực bên trong của HS, có như vậy HS mới có thể có thái độ tích cực đối với quá trình nhận thức và làm cho kết quả được nâng cao Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của người học là vấn đề cần thiết của việc nâng cao hiệu quả học tập Do vậy nhiệm vụ quan trọng của người thầy là phải khơi dậy lòng ham học, nhu cầu học bằng các tác động sư phạm tích cực dựa vào phương pháp sư phạm hợp lý trên cơ sở tâm lý của HS để hình thành ở HS trạng thái tích cực trong học tập

2.5 Các biện pháp để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS

TCHHĐNT của HS có liên quan đến nhiều vấn đề, trong đó các yếu tố như động cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý chí của cá nhân, không khí DH… đóng vai trò rất quan trọng Các yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng tới việc TCHHĐNT của

HS trong học tập Trong đó có nhiều yếu tố là kết quả của một quá trình hình thành lâu dài

và thường xuyên, không phải là kết quả của một giờ học mà là kết quả của cả một giai đoạn, của sự phối hợp nhiều người, nhiều lĩnh vực và cả xã hội

Do đó với vai trò của mình, thầy giáo phải là người góp phần quan trọng trong việc tạo ra những điều kiện tốt nhất để HS học tập, rèn luyện và phát triển

Sau đây chúng ta đi vào một số biện pháp cụ thể:

Trang 21

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 12 SVTH: Trần Ngọc Châu

2.5.1 Đảm bảo cho HS có điều kiện tâm lý thuận lợi để tự lực hoạt động

Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú tìm cái mới: gây kích thích bên trong bằng mâu thuẫn nhận thức, mâu thuẫn giữa nhiệm vụ mới phải giải quyết và khả năng hiện

có của HS còn hạn chế, chưa đủ, cần cố gắng vươn lên tìm kiếm một giải pháp mới, kiến thức mới Việc thường xuyên tham gia vào giải quyết những mâu thuẫn nhận thức này

sẽ tạo ra thói quen, lòng ham thích hoạt động trí óc có chiều sâu, tự giác, tích cực

Ví dụ: Khi giảng dạy bài “Dòng điện trong kim loại” HS đã được học về mạng tinh thể

của kim loại nhưng khi đốt nóng thì các phân tử của kim loại chuyển động như thế nào và khi đặt kim loại vào trong một điện trường thì hiện tượng gì xảy ra thì HS hoàn toàn chưa biết GV dựa vào đó để đặt ra những câu hỏi dẫn dắt nhằm đưa HS vào tình huống có vấn đề cần có nhu cầu giải quyết

Tạo môi trường sư phạm thuận lợi: HS lâu nay quen học thụ động, ít tự lực suy nghĩ, thường rụt rè, lúng túng, chậm chạp, phạm sai lầm khi thực hiện các hành động học tập GV cần phải tạo điều kiện để HS mạnh dạn tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến của riêng mình, nêu thắc mắc, lật ngược vấn đề, dành nhiều thời gian cho HS phát biểu, thảo luận dần dần tốc độ suy nghĩ và phát biểu của HS sẽ nhanh lên

Ví dụ: GV phải tổ chức, điều khiển lớp học sao cho không khí lớp sôi động, tích

cực, đặt câu hỏi từ dễ đến khó để những HS yếu, kém cũng có thể trả lời được và

luôn giúp đỡ để HS hoàn thành nhiệm vụ của mình Trước những câu trả lời của

HS, GV nên để các HS khác nhận xét, bổ sung cuối cùng GV mới đưa ra kết luận của mình phân tích câu trả lời của HS chỗ nào đúng, chỗ nào chưa đúng, làm như vậy thì HS mới trở nên mạnh dạn và tích cực tham gia vào công việc học tập

2.5.2 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của người học

Trong DH tích cực, người học là khách thể của hoạt động dạy nhưng là chủ thể của hoạt động học, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo Người học được đặt vào trong các tình huống có vấn đề, tự mình khám phá những tri thức, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề theo suy nghĩ của bản thân, động não tư duy các phương án giải quyết khác nhau trong một thời gian nhất định… thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt

Trang 22

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 13 SVTH: Trần Ngọc Châu

2.5.3 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Là tạo cho người học động cơ hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng, thói quen ý chí tự học

để từ đó khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, tự bản thân người học tìm kiếm,khám phá tri thức thông qua các kênh đa dạng khác nhau từ đó chất lượng và hiệu quả của học tập

sẽ được nâng cao

Ví dụ: GV tăng cường cho bài tập về nhà, phát phiếu học tập trước mỗi bài mới để HS

soạn trước khi đến lớp, tìm kiếm tư liệu cho bài học, khuyến khích HS tự thiết kế những thí nghiệm đơn giản phục vụ cho việc học tập… Chẳng hạn để dạy bài “Dòng điện trong chất khí” ngoài yêu cầu HS chuẩn bị phiếu học tập, đọc trước bài học, GV còn yêu cầu HS tìm hiểu thêm về hiện tượng sét: nguyên nhân gây ra sét, cách phòng chống sét, tìm kiếm một vài hình ảnh về sét mà các em thấy trong thực tế Bugi của các xe có tác dụng gì? Tại sao khi bugi bị ướt thì xe không thể khởi động được hoặc đột ngột tắt máy?

2.5.4 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Theo cách này, lớp học là môi trường giao tiếp giữa thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác

bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Trong môi trường đó HS dễ dàng bộc

lộ những hiểu biết của mình và sẵn sàng tham gia tích cực vào quá trình DH, vì khi đó tâm

lý các em rất thoải mái

Ví dụ: GV cho HS thảo luận nhóm để HS trả lời được câu hỏi nguyên nhân nào gây ra

điện trở của kim loại,…

2.5.5 Kết hợp đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học

Theo PPDHTC, người dạy tổ chức hướng dẫn cho người học phát triển các kỹ năng tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học Người dạy tạo điều kiện thuận lợi để người học được tham gia tương tác, đánh giá lẫn nhau

Ví dụ: GV đặt câu hỏi cho cả lớp thảo luận theo nhóm và yêu cầu một thành viên của

một nhóm bất kỳ trả lời Sau đó, cho các nhóm khác tự nhận xét, đánh giá câu trả lời của bạn

từ đó mỗi nhóm tự bổ sung để câu trả lời được hoàn thiện hơn Trong quá trình các nhóm làm việc với nhau, GV đảm nhiệm làm trọng tài, đánh giá, kết luận lại vấn đề cuối cùng và chốt lại kiến thức

Trang 23

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 14 SVTH: Trần Ngọc Châu

2.5.6 Tạo điều kiện để học sinh có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ đƣợc giao

Vì chúng ta chủ trương thường xuyên đặt HS vào chủ thể hoạt động nhận thức cho nên sự thành công của họ trong việc giải quyết vấn đề học tập có tác dụng rất quan trọng làm cho họ

tự tin, hứng thú, mạnh dạn suy nghĩ để giải quyết những vấn đề ngày càng khó hơn Thực tế,

DH cho biết: nhiều HS tuy không kém thông minh, nhưng vì không có kỹ năng, kỹ xảo cần thiết nên thất bại nhiều lần, không được giúp đỡ kịp thời trở thành tự ti, rụt rè, rối trí mỗi khi được giao nhiệm vụ Để khắc phục tình trạng trên, có thể thực hiện các biện pháp sau đây:

- Lựa chọn một logic nội dung bài học thích hợp: hiện nay chương trình Vật Lí ở trường

phổ thông khá nặng, GV thuyết trình không đủ thời gian mà nếu để cho HS tự lực hoạt động để chiếm lĩnh tri thức thì còn tốn thời gian hơn Do đó, ngoài việc giảm nhẹ chương trình của các cơ quan chủ đạo, làm chương trình của ngành giáo dục thì GV phải biết lựa chọn kỹ lưỡng một số vấn đề vừa sức và xác định mức độ mà HS có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể

Ví dụ: Đối với lớp khá, giỏi thì GV có thể không giảng dạy cụm kiến thức A mà yêu cầu

HS tự thảo luận nhóm và trình bày kết quả, còn với những lớp trung bình, yếu, GV nên đặt câu hỏi dẫn dắt từ dễ đến khó và hướng dẫn từng bước để HS có thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình

- Rèn luyện cho HS kỹ năng thực hiện một số thao tác cơ bản bao gồm thao tác chân tay

và thao tác tư duy: GV hướng dẫn, gợi mở, đưa ra những câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp để HS có thể làm thường xuyên nhiều lần từ đó HS sẽ tích lũy được kinh nghiệm, thực hiện đúng và nhanh những thao tác tương tự Trước mỗi tiết học tư duy của HS đang ở trạng thái nghỉ ngơi Vì vậy, trước hết GV phải TCHHĐNT của HS ngay

từ khâu đề xuất vấn đề học tập nhằm vạch ra trước mắt HS lý do của việc học và giúp các em xác định được nhiệm vụ học tập Đây là bước khởi động tư duy nhằm đưa

HS vào trạng thái sẵn sàng học tập, lôi kéo HS vào không khí DH Khởi động tư duy chỉ là bước mở đầu, điều quan trọng hơn là phải tạo ra và duy trì không khí DH trong suốt giờ học HS càng hứng thú học tập bao nhiêu, thì việc thu nhận kiến thức của các em càng chủ động tích cực bấy nhiêu

Trang 24

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 15 SVTH: Trần Ngọc Châu

Muốn vậy cần phải chú ý đến việc tạo các tình huống có vấn đề nhằm gây sự xung đột tâm lý của HS Điều này rất cần thiết và cũng rất khó khăn, nó đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực và năng lực sư phạm của GV Ngoài ra, cũng cần chú ý tới logic của bài giảng Một bài giảng gồm các mắt xích nối với nhau chặt chẽ, phần trước là tiền đề cho việc nghiên cứu phần sau, phần sau bổ sung làm rõ phần trước Có như vậy thì nhịp độ hoạt động, hứng thú học tập và quá trình nhận thức của HS mới tiến triển theo một mạch liên tục không bị ngắt quãng Khai thác và phối hợp các PPDH một cách có hiệu quả, đặc biệt chú trọng tới các PPDH tích cực Việc TCHHĐNT của HS phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và điều khiển quá trình DH của GV Bởi vậy, trong tiến trình DH, GV cần phải lựa chọn và sử dụng các PPDH hiệu quả, đặc biệt là các PPDH tích cực như: Phương pháp nêu vấn đề, phương pháp phát triển hệ thống câu hỏi, phương pháp thực nghiệm… có như vậy mới khuyến khích tính tích cực sáng tạo của HS trong học tập Cho HS làm quen với các phương pháp nhận thức Vật Lí được sử dụng phổ biến: trong học tập Vật Lí, ngoài việc quan sát các hiện tượng thực tế

HS còn phải thực hiện các phép suy luận, để rút ra các đặc tính bản chất, các mối quan hệ phổ biến khách quan của sự vật hiện tượng Do đó, cần phải trang bị cho HS những phương pháp nhận thức phổ biến, tuy nhiên tùy theo trình độ của HS và các điều kiện cụ thể của nhà trường mà tổ chức cho HS tham gia trực tiếp một số giai đoạn của các phương pháp nhận thức đó

2.6 Sử dụng một số phương pháp đặc thù của bộ môn Vật Lí nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS

2.6.1 Sử dụng phương pháp trực quan và phương tiện trực quan

Phương pháp trực quan: là phương pháp GV nêu vấn đề kết hợp với việc sử dụng các phương tiện trực quan để dẫn dắt HS giải thích các khái niệm, định luật, hiện tượng vật lý

mà HS quan sát được Từ đó HS lĩnh hội kiến thức PPTQ là một PPDH rất quan trọng, góp phần quyết định cho chất lượng lĩnh hội môn Vật Lí

Phương tiện trực quan: bao gồm các dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật được dùng trong quá trình DH làm cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho HS lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo HS có thể tri giác trực tiếp nhờ các giác quan

Vai trò của các phương tiện trực quan:

Trang 25

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 16 SVTH: Trần Ngọc Châu

- Đẩy mạnh và hỗ trợ hoạt động nhận thức của HS: con người nhận thức được thế giới

bên ngoài là nhờ các giác quan Khi HS bắt đầu học môn vật lý, các em đã tích lũy được một

số hiện tượng do quan sát thực tiễn hoặc do học tập, trao đổi mà có Vì vậy, muốn cho HS hiểu bài một cách chính xác và sâu sắc thì phải xây dựng các khái niệm, các thuyết, các định luật từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng Nhưng trong lớp học không phải lúc nào cũng có điều kiện để quan sát thực tiễn, do đó GV phải tạo cho các em quan sát hình ảnh của các hiện tượng đó, tức là phải sử dụng phương pháp trực quan Dựa vào các phương tiện trực quan GV có thể cung cấp cho HS những kiến thức bền vững, chính xác, giúp HS kiểm tra lại tính đúng đắn của lý thuyết từ đó sửa chữa, bổ sung chúng nếu không phù hợp với thực tiễn

- Phát triển kỹ năng thực hành: thí nghiệm của GV với những thao tác chuẩn mực sẽ giúp HS hình thành kỹ năng thí nghiệm một cách chính xác Sau đó, HS tự tay thực hiện các thí nghiệm và trình độ thao tác được nâng dần lên Thí nghiệm còn giúp HS nắm vững kiến thức một cách độc lập để giải thích các hiện tượng và rút ra những kiến thức trên

cơ sở quan sát được, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho HS Trong tiết học, nhiều phương tiện trực quan được sử dụng để kích thích hứng thú học tập của HS, tạo ra động cơ học tập, rèn luyện thái độ học tập tích cực

- Phát triển trí tuệ: khi sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các phương tiện trực quan với những phương pháp và lời dẫn dắt thích hợp của GV sẽ giúp HS phát triển óc quan sát, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh

- Giáo dục nhân cách HS: thông qua việc sử dụng các phương tiện trực quan góp phần hình thành ở HS một hệ thống các khái niệm và nhận thức về thế giới xung quanh trên cơ sở

đó giải thích một cách khoa học các sự vật hiện tượng đã và đang xảy ra trong tự nhiên và xã hội Điều đó củng cố niềm tin của HS vào chân lý khách quan và có tác dụng hướng dẫn hành động

Một số phương tiện trực quan thường được sử dụng:

- Mô hình, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, đồ thị

- Thiết bị, dụng cụ thí nghiệm

- Băng hình, đĩa mềm vi tính, máy chiếu đa năng, phần mềm DH

Trang 26

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 17 SVTH: Trần Ngọc Châu

2.6.2 Sử dụng thí nghiệm Vật Lí để dạy học Vật Lí tích cực

Trong DH Vật Lí, thí nghiệm đóng vai trò hết sức quan trọng Thí nghiệm có thể được sử dụng trong tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình DH, góp phần đơn giản hóa và trực quan hóa trong DH Vật lý, đặc biệt góp phần phát triển nhân cách toàn diện HS: so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá…

Ví dụ: Dựa trên các dụng cụ thí nghiệm, GV giới thiệu dụng cụ, từ đó cho HS thảo luận

nhóm để xây dựng các phương án thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm theo các phương án đã đưa ra Từ đó, HS phân tích, so sánh với thí nghiệm của các nhóm khác xem phương án nào khả thi hơn và rút ra kết luận cuối cùng

2.6.3 Sử dụng công nghệ thông tin góp phần đổi mới phương pháp dạy học Vật Lí

Sử dụng CNTT cụ thể là sử dụng máy vi tính với những thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, hình ảnh sinh động, sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc, âm thanh, văn bản,… sẽ góp phần nâng cao tính trực quan, từ đó tác động tích cực vào các giác quan của HS, tạo cơ sở cho việc phát triển các năng lực tư duy của HS Như vậy, việc sử dụng máy vi tính trong

DH, gây được sự chú ý của HS vào đối tượng cần nghiên cứu, hình thành sự tò mò khám phá tri thức và thúc đẩy HS tham gia một cách tích cực vào tiến trình DH Đây là điều kiện cần thiết để quá trình lĩnh hội kiến thức của HS đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, với một số thí nghiệm GV có thể tiến hành được hoặc HS thực hiện được thì nên tiến hành thí nghiệm thật, không nên sử dụng thí nghiệm trên máy vi tính

2.6.4 Sử dụng phương pháp học tập hợp tác theo nhóm nhỏ

Trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Do đó, cần kết hợp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ để gắn kết sự phối hợp của cá nhân vào tập thể để cùng hoàn thành nhiệm vụ học tập và làm tăng hiệu quả học tập

Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ là hình thức DH trong đó quá trình nhận thức được tiến hành thông qua hoạt động của các HS trong nhóm theo một kế hoạch được GV giao sẵn Cách DH này có thể tiến hành trong lớp hoặc ngoài lớp (nghiên cứu ở nhà)

Trên cơ sở học tập theo nhóm, HS mạnh dạn hơn, tự tin hơn, để đưa ra ý kiến riêng của

cá nhân mình, từ đó HS tích cực hoạt động, tham gia xây dựng bài và kiến thức lúc này mới thực sự là kiến thức của riêng bản thân HS

Trang 27

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 18 SVTH: Trần Ngọc Châu

 Ưu điểm của dạy học theo nhóm nhỏ:

- Giờ học trở nên sôi nổi

- Tăng cường tính tích cực, chủ động của người học

- Tạo điều kiện để HS học hỏi lẫn nhau

- Tạo cơ hội tối đa cho mọi thành viên trong nhóm được bộc lộ hiểu biết và quan điểm của mình Điều này đặc biệt có ích đối với các HS nhút nhát, ít phát biểu trong lớp

- Tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm

- Tạo nhiều cơ hội cho GV có nhiều thông tin phản hồi về người học

 Nhược điểm của dạy học theo nhóm nhỏ:

- Tốn nhiều thời gian

- Có thể đi chệch hướng với chủ đề, các phát biểu thiếu tập trung, tản mạn

- Hiệu quả học tập của nhóm phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần tham gia của các thành viên trong nhóm Nếu trong nhóm chỉ có một vài người tham gia tích cực thì lúc này học theo nhóm trở thành sự độc diễn cá nhân, các thành viên khác trở thành người ngoài cuộc, để mặc cho các thành viên khác dẫn dắt

3 Vai trò của công nghệ thông tin trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của

HS

CNTT bao gồm các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy

vi tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội Sử dụng CNTT (cụ thể là máy vi tính) vào DH là một trong những hướng nhằm đổi mới việc dạy và học hiện nay

 Chức năng, phương tiện dạy học của máy vi tính:

- Tăng cường tính trực quan

- Lưu trữ, truyền dẫn và xử lý thông tin

- Hỗ trợ HS trong ôn tập

- Cải tiến hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, kiến thức của HS

- Một số hình ảnh minh họa nhờ sử dụng máy vi tính GV không mất thời gian vào việc biểu diễn, thể hiện thông tin

Trang 28

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 19 SVTH: Trần Ngọc Châu

Ví dụ: Để mô tả cấu trúc của kim loại GV phải vẽ mô hình lên bảng rất mất thời gian,

đôi khi những hình ảnh này không có tính thẩm mĩ Nếu sử dụng máy vi tính thì chỉ cần một cái click chuột là HS đã có thể quan sát được những hình ảnh này

- Thiết kế các mô hình Vật Lí và tự động hóa thí nghiệm Vật Lí

- Mô hình hóa và mô phỏng: Máy vi tính có thể mô phỏng, minh họa các hiện tượng, quá

trình vật lý không thể quan sát trực tiếp được bằng các giác quan, nhờ có chức năng lưu trữ, xử lý, hiển thị một lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh và âm thanh nên máy vi tính được sử dụng để hỗ trợ GV trong việc minh họa, mô phỏng, mô hình hóa các hiện tượng, các quá trình tự nhiên cần nghiên cứu một cách trực quan, chính xác dưới sự hỗ trợ của nhiều phần mềm (đồ họa, thiết kế,…) tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nhận thức của HS Ngoài khả năng mô phỏng một cách trực quan và chính xác các hiện tượng, quá trình Vật Lí, qua mô phỏng, máy vi tính còn

có thể tạo điều kiện cho người nghiên cứu đi sâu vào và tìm ra các mối quan hệ có tính bản chất của các hiện tượng, quá trình vật lý Sở dĩ thực hiện được điều đó là do các chức năng ưu việt trong việc tính toán và xử lý số liệu của máy vi tính Vai trò của máy

vi tính ở đây là tạo ra các khả năng mới trong tính toán: khả năng rút ngắn thời gian tính toán và đặc biệt là khả năng có thể tìm ra lời giải các bài toán, (nếu không có máy

vi tính thì trong điều kiện ở trường phổ thông, với công cụ toán học còn thiếu và không được bổ sung thì không có khả năng giải được) Nhờ các phần mềm (ví dụ như các chương trình cơ bản như Turbo Pascal… và các chương trình ứng dụng do người nghiên cứu tự viết ra) được cài đặt sẵn trong máy có thể giúp giáo viên và học sinh thực hiện nhanh chóng và tương đối mĩ mãn các tính toán lí thuyết

Ví dụ: Khi dạy về cấu tạo của các nguyên tử hay nguyên tắc hoạt động của động cơ điện,

máy biến thế, lò phản ứng hạt nhân… với cách dạy truyền thống GV dùng lời nói mô tả sẽ gặp nhiều khó khăn Vì HS khó hình dung, không tạo sự hứng thú học tập nơi HS Khi sử dụng máy vi tính HS quan sát trực tiếp các bộ phận của máy điều này làm tăng sự hứng thú học tập nơi HS và HS dễ tiếp thu bài hơn

Không phải các quá trình nào xảy ra trong tự nhiên cũng dễ quan sát Đối với chuyển động của chiếc thuyền, đoàn tàu thì việc quan sát để xác định vị trí của chúng ứng với từng thời điểm hay quãng đường đi ứng với từng khoảng thời gian trôi qua là không khó khăn

Trang 29

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 20 SVTH: Trần Ngọc Châu

Nhưng cũng có những quá trình trong tự nhiên không thể quan sát bằng mắt thường để xác định được các đại lượng cần thiết được vì diễn biến của quá trình xảy ra quá nhanh, hay quá chậm Điều đó gây khó khăn trong việc nghiên cứu tìm ra qui luật của chúng

Ví dụ: chuyển động của các phân tử, chuyển động rơi, chuyển động ném ngang của một

vật, chuyển động của khối tâm và của các điểm của vật rắn, quá trình phân rã hạt nhân, phóng xạ Một trong các giải pháp có thể hỗ trợ cho việc nghiên cứu các quá trình đó

có hiệu quả hơn, là sử dụng máy vi tính để mô phỏng các quá trình đó

có thể dễ dàng phát hiện và dự đoán mối quan hệ có tính quy luật giữa các đại lượng mà mối quan hệ này có thể được biểu diễn bởi các hàm số toán học đã biết, trong nhiều trường hợp phát biểu thành định luật Vật Lí Để có thể vẽ được đồ thị thực nghiệm thì đòi hỏi phải thu thập được một số lượng lớn dữ liệu từ việc đo đạc, tính toán và đòi hỏi rất nhiều thời gian vì vậy mà cho dù có muốn thì cũng không thể thực hiện được trên lớp trong giờ học chính khóa với các dụng cụ thí nghiệm truyền thống Vì vậy, để có thể tạo điều kiện tổ chức cho HS hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức đòi hỏi phải có các phương tiện dạy học giúp HS có thể nhanh chóng thu thập được dữ liệu thực nghiệm, vẽ được đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa các đại lượng làm cơ sở cho hoạt động tư duy như phân tích, so sánh, khái quát hóa và

dự đoán xây dựng giả thuyết

- Các thí nghiệm có sự trợ giúp của máy vi tính được thực hiện một cách chính xác, nhanh chóng với độ tin cậy cao

Ví dụ: Thí nghiệm để xác định suất điện động và điện trở trong của một pin điện hóa, nếu

pin để lâu ngày hay đồng hồ đa năng hiện số sử dụng nhiều lần thì độ nhạy của nó không tốt dẫn đến kết quả thí nghiệm bị sai lệch

Trang 30

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 21 SVTH: Trần Ngọc Châu

 Tổ hợp các phương tiện dạy học hiện đại:

Làm tăng khả năng và chất lượng ghi nhớ kiến thức trong đầu HS:

- Các công trình nghiên cứu của Treichler (1967) về tác động của các giác quan đối với khả năng tiếp thu và ghi nhớ kiến thức của HS đã đưa ra kết luận: Quá trình tiếp thu kiến thức khi học đạt được: 1% qua nếm; 1,5% qua sờ; 3,5% qua ngửi; 11% qua nghe; 83% qua nhìn

- Ông cũng chỉ ra hoạt động cá nhân đối với sự ghi nhớ kiến thức sau khi học: 10% qua những gì nghe được; 30% qua những gì nhìn được; 50% qua những gì nhìn và nghe được; 80% qua những gì nói được; 90% qua những gì nói và làm được Làm tăng tính trực quan, hứng thú và tạo sự chú ý trong học tập của HS ở mức độ cao: với những hình ảnh sinh động

có sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc, âm thanh, văn bản,… góp phần nâng cao tính trực quan

Từ đó, tác động tích cực vào các giác quan của HS, tạo cơ sở cho việc phát triển các năng lực tư duy của HS HS được sự tác động đồng thời của nhiều hình thức: mắt thấy, tai nghe, tay làm, óc nghĩ…

Ví dụ: PPDH truyền thống, HS chỉ nghe và ghi chép thụ động nên dễ nhàm chán, mức độ

tiếp thu chậm và thấp Khi sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để dạy học, các kỹ năng nghe, nhìn, ghi chép cùng được huy động kết hợp do đó hiệu quả tiếp thu sẽ tốt hơn Ngoài ra, với tính ưu việt của mình, máy vi tính và các phần mềm còn có vai trò to lớn trong giai đoạn vận dụng kiến thức mới cũng như hỗ trợ đắc lực trong việc tự học, ôn tập, củng cố, mở rộng, đào sâu, hệ thống hóa kiến thức của HS

 Tác động của tranh ảnh/hình vẽ (images/pictures), phim (film)

Do có khả năng thể hiện thông tin rõ ràng, tranh ảnh và hình vẽ tạo điều kiện tốt nhất để

GV chuyển nội dung bài giảng từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng và ngược lại, từ khái niệm trừu tượng đến các mô hình cụ thể, hoàn thiện và bổ sung khái niệm mới, làm cho HS dễ hiểu và dễ nhớ bài hơn Tranh ảnh và hình vẽ là công cụ để minh họa các vấn

đề GV thuyết giảng bằng lời Chúng có tác dụng thúc đẩy việc học tập của HS, làm tăng thêm sự thích thú khi học bài, lôi cuốn và kéo dài sự chú ý của HS GV có thể chủ động sử dụng các loại tranh, hình và vận dụng các phương pháp DH tích cực nhằm phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của HS, tăng cường nhịp độ truyền thụ kiến thức của GV và khả năng

Trang 31

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 22 SVTH: Trần Ngọc Châu

tiếp thu kiến thức của HS, tiết kiệm thời gian và giảm nhẹ sức lao động của thầy và trò Cụ thể:

- Giúp cụ thể hóa những cái trừu tượng: nguyên tử, hạt nhân nguyên tử, sự chuyển động

của các điện tích,…

- Dùng làm sáng tỏ cấu tạo của dụng cụ và máy móc phức tạp nhất là những chi tiết bên

trong khó thấy rõ: máy phát điện, động cơ điện xoay chiều ba pha,…

- Mô tả ứng dụng của các hiện tượng Vật Lí liên quan đến đời sống (hiện tượng phản xạ

toàn phần, khúc xạ ánh sáng,…)

Tranh ảnh, hình vẽ rất dễ sử dụng, bảo quản và dễ tìm trong các loại sách, báo, tạp chí,… hoặc người dùng có thể tự tạo ra các hình vẽ hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng của mình Tuy nhiên, khi sử dụng tranh ảnh, hình vẽ cần lưu ý những vấn đề sau:

- Nội dung của tranh ảnh phải phù hợp với nội dung chương trình và SGK, làm

sáng tỏ và giải thích rõ ràng những vấn đề cơ bản, chủ yếu của chương trình, SGK Không nên sử dụng tranh ảnh, hình vẽ thiếu chính xác, không đúng với kiến thức trong chương trình và SGK

- Màu sắc, đường nét, bố cục phải được thể hiện đúng như thật, phải làm nổi bật đối

tượng cần truyền đạt đến cho HS

- Chú thích và phụ đề trong tranh, hình phải thích hợp, mang nội dung ngắn gọn, chuẩn

mực, đáp ứng yêu cầu dẫn giải nội dung của tranh, hình

Phim giáo khoa thể hiện các sự vật, hiện tượng bằng hình ảnh động và âm thanh nhằm tác động đồng thời vào thị giác và thính giác của người xem Vì vậy, phim giáo khoa có sức truyền cảm và tác động vào trí nhớ của HS rất tốt Do có khả năng mô hình hóa các quá trình, phim học tập có thể hướng cho HS đến các điểm quan trọng nhất của bài học, loại bỏ những thông tin không quan trọng, mô tả các thí nghiệm trong bài học không thể tiến hành (ví dụ: phản ứng hạt nhân, sự chuyển động của các hạt điện tích,…) Từ đó tạo cho HS

có thói quen quan sát các hiện tượng và các quá trình xảy ra, nhận thấy được tình huống có vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề Phim góp phần phát triển tư duy trừu tượng hơn các phương tiện DH khác Khi xem phim HS có thể quan sát kỹ quá trình trừu tượng, chuyển từ hình ảnh cụ thể sang mô hình, phản ánh hiện thực tương ứng Phim giáo khoa được quay phối hợp bằng nhiều thủ pháp khác nhau: toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh, sử dụng kỹ

Trang 32

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 23 SVTH: Trần Ngọc Châu

thuật hoạt hình, kỹ thuật vi tính,… Do đó, phim có thể giới thiệu rõ ràng chính xác các chi tiết nhỏ hoặc các phần không quan sát được của đối tượng nghiên cứu đến GV và HS Phim còn được sử dụng trong quá trình kiểm tra kiến thức của HS Ngắt phần âm thanh, chỉ cho

HS xem hình để trao đổi, bình luận về những sự kiện trên màn hình

Tuy nhiên, khi lựa chọn phim để dạy học ta cần lưu ý những vấn đề sau:

- Phim phải có nội dung phù hợp với chương trình, SGK, phù hợp với tâm sinh lý lứa

tuổi từng lớp học, cấp học

- Hình ảnh được chiếu trên màn hình phải có độ nét cao, không mờ, bóng, rung Độ

tương phản của hình ảnh vừa phải

- Có những sự kiện, hiện tượng trong phim xảy ra quá nhanh hoặc quá chậm, quá nhỏ

hoặc quá to, do đó GV cần phải tính toán, điều chỉnh cho HS có thể dễ dàng quan sát, đảm bảo cho HS tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi, chắc chắn

- Âm thanh trong phim phải rõ ràng, dễ nghe, bảo đảm đầy đủ nội dung truyền đạt

- Tốc độ trình lời thuyết minh phải đồng bộ với hình ảnh tương ứng, các thao tác trên

phim giúp cho HS tiếp nhận thông tin thuận lợi

4 Mô phỏng và thí nghiệm ảo trong dạy học Vật Lí

4.1 Mô phỏng trong dạy học Vật Lí

4.1.1 Thế nào là mô phỏng?

Chúng ta hiểu đơn giản mô phỏng (Simulation) như sau: Mô: cái mẫu, phỏng: bắt chước làm theo Vậy mô phỏng là bắt chước làm theo một cái mẫu Khi nói đến mô phỏng các nhà giáo dục nước ngoài đều đề cập tới mô phỏng bằng máy tính (Computer Simulation) Rất khó để có thể đưa ra một định nghĩa chính xác mô phỏng là gì để mọi người đều thống nhất Waldrop (1992) quan niệm rằng mô phỏng là hình thái thứ ba của khoa học giữa lý thuyết và thực nghiệm Arthur (1992) cho rằng ngày nay có 3 cách thức để tiến vào khoa học đó là lý thuyết toán học, thực nghiệm và mô phỏng trên máy tính Theo Simson và Thompson (1994) mô phỏng là sự trình bày một cách ngắn gọn, đơn giản những yếu tố mấu chốt, cơbản nhất của một sự kiện, sự vật, hoặc hiện tượng Mô phỏng là sự bắt chước các sự vật hoặc hiện tượng thực Việc mô phỏng đòi hỏi sự tái hiện gần như chính xác những đặc tính hoặc những quy luật cơ bản nhất của hệ thống vật lý đã được lựa chọn hoặc thu gọn lại Việc mô phỏng phải dựa trên những mô hình toán học đã được xác định Với cách hiểu về

Trang 33

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 24 SVTH: Trần Ngọc Châu

mô phỏng như trên thì ta có thể hiểu thí nghiệm mô phỏng là việc trình bày những yếu tố cơ bản nhất của một thí nghiệm Vật Lí tuân theo những quy luật Vật Lí có thể được biểu diễn bằng những mô hình toán học xác định Thí nghiệm mô phỏng trên máy tính cho phép người dùng tương tác với thí nghiệm bằng cách thay đổi các thông số đầu vào của thí nghiệm nhờ các công cụ nhập liệu được thiết kế bởi nhà lập trình Alessi và Trollip (1991) phân mô phỏng thành 4 loại chính như sau:

- Mô phỏng Vật Lí (Physical simulations): Những mô phỏng loại này tạo điều kiện cho

người học điều khiển các sự vật, hiện tượng trên màn hình

- Mô phỏng quá trình (Process simulations): mô phỏng các quá trình diễn ra quá nhanh

hay quá chậm không thể quan sát một cách liên tục và tự nhiên được

- Mô phỏng tiến trình (Procedural simulations): Những mô phỏng loại này hướng dẫn

các bước một cách liên tục, phù hợp để thực hiện một tiến trình cụ thể

- Mô phỏng tình huống (Situational simulations): Những mô phỏng loại này đưa ra cho

người học những tình huống khác nhau và yêu cầu người học thực hiện những hoạt động để giải quyết những tình huống này Với những mô phỏng này, người học có thể làm các thí nghiệm hoặc thiết kế các mô hình

Năm 1988, Collis đưa ra hệ thống phân loại khác gồm 8 loại như sau:

- Trực quan hóa một hệ thống hoặc quá trình với nội dung được mặc định trước

- Trực quan hóa một hệ thống hoặc đối tượng với nội dung được quyết định bởi sự lựa

chọn của người học từ một điểm xuất phát đầu tiên được mặc định trước

- Mô phỏng các bước trong một quy trình hoặc thí nghiệm mà vốn dĩ không thể làm

được nếu không có các thiết bị chuyên dùng đặc biệt

- Thử nghiệm hiệu ứng của một hoặc một số giá trị của biến số trong một công thức cố

định

- Thử nghiệm hiệu ứng của một hoặc một số giá trị của biến số trong một hệ thống phức

tạp

- Cơ hội nhập vai vào môi trường mô phỏng trong đó các quyết định và hệ quả của nó

được quy định trước

- Cơ hội nhập vai nhưng độ thích hợp của quyết định được đánh giá từ bên ngoài, tức là

từ người học

Trang 34

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 25 SVTH: Trần Ngọc Châu

- Cơ hội xây dựng các khuôn mẫu tình huống và các hệ thống tưởng tượng

Cho dù phân loại như thế nào đi nữa thì mô phỏng đều có các đặc trưng là: tạo cái nhìn tổng quan về kiến thức, tiếp cận với vấn đề thực tế, tạo ngữ cảnh, thay đổi các biến số và tuân theo các quy luật tương tác

4.1.2 Vai trò của mô phỏng

Với các hiện tượng, quá trình Vật Lí vi mô, để tạo điều kiện cho HS có thể tham gia vào hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức thì không thể thiếu được sự hỗ trợ của các phần mềm

mô phỏng Tùy vào mục đích sư phạm mà người ta có thể viết phần mềm mô phỏng cho phù hợp với từng giai đoạn hoạt động của HS Ở giai đoạn đầu, phần mềm có thể cho chạy

tự động để minh họa hiện tượng, tạo tình huống có vấn đề nhằm chuyển giao nhiệm vụ cho

HS Với các quá trình có diễn biến nhanh và phức tạp không thể quan sát bằng mắt thường được thì phần mềm mô phỏng giúp HS có được cái nhìn sơ bộ về sự biến đổi của từng đại lượng để từ đó định hướng được cho những hành động tiếp theo nhằm giải quyết vấn đề Sau khi HS đã ý thức được vấn đề, ở pha hoạt động tự chủ, tìm tòi giải quyết vấn đề, phần mềm

mô phỏng có thể được xây dựng để HS nghiên cứu tương tự như tiến hành thí nghiệm thực

và qua đó giúp HS đưa ra giả thuyết Các phần mềm mô phỏng như thế đồng thời cũng có tác dụng hỗ trợ HS trong việc thiết kế các thí nghiệm trong thực tế nhằm kiểm tra giả thuyết

Ví dụ: Hiện tượng sóng dừng trên dây trong trường hợp sóng phản xạ ngược pha với

sóng tới (tại đầu dây cố định) hoặc sóng phản xạ cùng pha với sóng tới (tại đầu dây tự do) quá trình này xảy ra nhanh nên rất khó quan sát Nhờ phần mềm mô phỏng ta có thể giúp HS

“quan sát” quá trình sóng tới truyền đến đầu dây đó và quá trình tạo ra sóng phản xạ Hay chuyển động rơi tự do, chuyển động ném ngang, ném xiên, chuyển động của các phân tử,… quá trình này xảy ra rất nhanh bằng mắt thường không thể quan sát được ta phải nhờ phần mềm mô phỏng để khảo sát tính chất của các quá trình này

Mô phỏng bằng máy vi tính còn có nhiều ưu điểm khác: Khi mô phỏng bằng máy vi tính

GV và HS có thể dừng quá trình lại tại thời điểm bất kì để nghiên cứu, xác định bất kì các đại lượng nào của vật (Ví dụ: tọa độ, vận tốc, gia tốc, quãng đường của chuyển động được mô phỏng)

Trang 35

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 26 SVTH: Trần Ngọc Châu

Mô phỏng các hiện tượng, quá trình Vật Lí để qua đó tìm ra các kiến thức mới bằng con đường nhận thức lí thuyết Ngoài ra, còn có thể đi sâu vào các mối quan hệ có tính bản chất của các hiện tượng, quá trình vật lí nhờ mô phỏng bằng máy vi tính

4.2 Thí nghiệm ảo trong dạy học Vật Lí

Có nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh khái niệm thí nghiệm ảo Tuy nhiên, RuweiYun định nghĩa rằng: “Thí nghiệm ảo là một dạng mô phỏng 3 chiều bằng máy tính của thí nghiệm thực” Mô phỏng tiến trình (Procedural simulation) chú trọng đến các bước thao tác của người dùng và các đối tượng động của thí nghiệm Các thí nghiệm ảo cung cấp hầu hết các chức năng có thể tìm thấy trong thí nghiệm thực

- Phòng thí nghiệm ảo: cung cấp các linh kiện, thiết bị thí nghiệm ảo để người

dùng có thể sử dụng để lắp ráp, thiết kế, xây dựng thí nghiệm

- Các thiết bị hỗ trợ: có thể dưới dạng văn bản (Word), hình ảnh (Images), Video

Clip nhằm giúp người dùng hiểu rõ về mục đích thí nghiệm, những thông tin cơ bản

về thí nghiệm để dễ dàng sử dụng

- Các đối tượng, thiết bị ảo: cung cấp các đối tượng, thiết bị có các thuộc tính, chức năng

cần cho thí nghiệm ảo sẽ tiến hành

- Mối liên hệ giữa các đối tượng: là mối liên hệ bên trong của các đối tượng ảo

- Các mô phỏng: mô phỏng các thao tác, sự tương tác giữa các đối tượng và kết quả thí

nghiệm trong thế giới thực

- Tương tác: chấp nhận những thao tác của người dùng, gửi lại cho họ kết quả mô phỏng

về kết quả thí nghiệm

- Theo dõi - Điều khiển: theo dõi, ghi nhận các bước thao tác của người dùng, các thông

số của thí nghiệm để có kết quả xử lý cuối cùng

- Trợ giúp: cung cấp cho người dùng những hướng dẫn cần thiết khi tiến hành thí

nghiệm

 Một số khả năng của thí nghiệm ảo:

- Mô phỏng các thí nghiệm chứng minh (thí nghiệm biểu diễn) của GV khi dạy trên lớp

- Mô phỏng các bài thí nghiệm thực hành của cá nhân HS hoặc theo nhóm Tạo các máy

đo ảo kết nối với các thiết bị thật Giao tiếp thân thiện với người dùng, không chỉ quan sát một chiều như xem băng video

Trang 36

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 27 SVTH: Trần Ngọc Châu

Thí nghiệm ảo cung cấp cho người dùng một môi trường ảo có tính tương tác, cho phép người dùng tiến hành các thao tác thí nghiệm trên các đối tượng ảo giống như tương tác với thế giới thực Chính vì vậy, các thí nghiệm ảo có thể được sử dụng một cách có hiệu quả trong dạy học Vật Lí

5 Giáo án điện tử (GAĐT)

5.1 Khái niệm GAĐT

GAĐT là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động DH của GV và HS trong giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động DH đó đã được Multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc bài học GAĐT là một sản phẩm của hoạt động thiết

kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài DH được tiến hành GAĐT chính là bản thiết kế của một bài giảng điện tử Xây dựng GAĐT hay thiết kế BGĐT là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được một BGĐT trong quá trình DH tích cực

Sự khác nhau giữa GAĐT và BGĐT:

- GAĐT = Giáo án DH tích cực + các yếu

tố điện tử

- GAĐT là bài soạn của GV, trong đó nêu

được mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái

độ, tiến trình bài giảng, các hoạt động của

GV và HS trong tiết dạy

- GAĐT (phần chuẩn bị) được soạn thảo

bằng máy tính và có thể in ra để thay thế

cho giáo án viết tay

- Giáo án là một sự chuẩn bị của GV cho

một tiết học (chuẩn bị kịch bản cho một

tiết lên lớp) Và GV dạy theo sự chuẩn bị

- BGĐT được trình chiếu ngay tại lớp, tất

cả HS đều được quan sát và học tập toàn

bộ nội dung của bài giảng

Trang 37

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 28 SVTH: Trần Ngọc Châu

5.2 So sánh GAĐT với giáo án truyền thống

GAĐT có thể đạt hiệu quả cao hơn so với GADH truyền thống do GAĐT có tính tương tác cao dựa trên công nghệ Multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, trực quan hóa mọi sự vật hiện tượng GAĐT sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, GAĐT đã và đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của giáo dục

ở các nước trên thế giới Tuy nhiên, GAĐT không phải là một công cụ để thay thế “bảng đen, phấn rắng” cũng không thể thay thế vai trò của giáo viên, mà nó chỉ đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp để biến QTDH thành QTDH tích cực

5.3 Ý nghĩa của việc sử dụng GAĐT

Tạo môi trường học tập mới: môi trường học tập hiện nay có sự tích hợp của GAĐT sẽ mang một cấu trúc mới đầy triển vọng với những đặc trưng sau:

- Hệ thống tổ chức (có định hướng của người thầy) mang tính mở

- Cấu trúc ngang trong DH, không thứ bậc

- Môi trường bình đẳng, dân chủ, tự nguyện

Phát huy vai trò, vị trí của người dạy và người học:

- Trong môi trường học tập mới có sử dụng các công nghệ hiện đại người học thực sự

đứng ở vị trí trung tâm, là người chủ, người khám phá của việc học với đầy đủ các đặc điểm: cá thể hóa, hoạt động tương tác, hợp tác, tính tích hợp và đa dạng về phong cách học tập Trong thực tế, các GAĐT có thể được đóng gói và vận hành trong môi trường Web phục vụ cho các khóa học từ xa hay đào tạo qua mạng

- Để có thể thiết kế được những GAĐT tốt người dạy phải không ngừng nổ lực tìm kiếm

các nguồn tài liệu để bổ sung vào nội dung bài học, lựa chọn phương pháp, hình thức triển khai mới cho bài giảng của mình, người dạy sẽ giữ vai trò điều khiển, định hướng người học vào quá trình tìm kiếm và xử lý thông tin

Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức DH: tích hợp GAĐT vào quá trình DH tích cực hiện nay vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu trong đổi mới PPDH Với ưu thế vượt trội so với giáo án truyền thống, việc áp dụng các GAĐT vào quá trình DH tích cực, buộc GV phải thay đổi cách dạy và HS phải thay đổi cách học Một GAĐT sẽ kích thích sự quan tâm, chú

ý, định hướng một cách rõ ràng cho các vấn đề cần triển khai nếu người dạy biết cách phát

Trang 38

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 29 SVTH: Trần Ngọc Châu

huy, phối hợp các thế mạnh của từng PPDH tích cực trong quá trình DH: DH theo nhóm nhỏ, tranh luận, trình bày, nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, DH dự án…

5.4 Các tiêu chí đánh giá GAĐT

Qua thực tiễn xây dựng và sử dụng GAĐT, theo chúng tôi các tiêu chí để đánh giá chất lượng của một GAĐT gồm có:

- Các tiêu chí về mặt khoa học: Các nội dung trong GAĐT phải được trình bày khoa

học, dễ hiểu, đáp ứng tính đa dạng phong phú, đảm bảo tính chính xác khoa học, phù hợp với chương trình đào tạo, kiến thức và khả năng tiếp thu của HS Các định luật, định lý, định nghĩa… phải chính xác và nhất quán với sách giáo khoa hiện hành, và đặc biệt là phải thực hiện được mục đích DH đã đề ra

- Các tiêu chí về LLDH: GAĐT phải thực hiện được các chức năng LLDH, thực hiện

đầy đủ các giai đoạn của QTDH, từ khâu củng cố trình độ xuất phát, hình thành tri thức mới, ôn tập, hệ thống hoá kiến thức cho đến kiểm tra đánh giá kiến thức của HS

Có sự phối hợp giữa lý thuyết, thực tiễn và các PPDH

- Các tiêu chí về mặt sư phạm: GAĐT phải thể hiện được tính ưu việt về mặt tổ chức

DH so với hình thức lớp - bài truyền thống Tính ưu việt của GAĐT so với các phần mềm DH khác là khai thác triệt để khả năng hỗ trợ, truyền tải thông tin đa dạng, trực quan hóa các hiện tượng, quá trình Vật Lí, kích thích động cơ học tập, tính tích cực

và khả năng sáng tạo của HS Thông qua việc trình bày kiến thức một cách trực quan,

dễ hiểu với các chương trình mô phỏng giúp HS đào sâu nội dung học tập, khắc sâu kiến thức đã lĩnh hội, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mở rộng nội dung kiến thức đã học và đi sâu vào bản chất vấn đề nghiên cứu

- Các tiêu chí về mặt kỹ thuật: Giao diện trên màn hình phải đơn giản, thân thiện, cấu

trúc slide rõ ràng, được sắp xếp một cách hợp lý phù hợp với tiến trình của một giờ học Việc sử dụng các hình ảnh, âm thanh, màu sắc, phải khéo léo, không nên quá lạm dụng sẽ làm phân tán sự tập trung chú ý của HS, làm ảnh hưởng tới chất lượng giờ dạy

Trang 39

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 30 SVTH: Trần Ngọc Châu

5.5 Quy trình thiết kế GAĐT

GAĐT có thể được xây dựng theo quy trình gồm các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài dạy, xác định mục tiêu bài học, xây dựng phiếu

học tập, soạn giáo án

Trong DH hướng tập trung vào HS, mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài HS đạt được cái gì Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập chứ không phải mục tiêu giảng dạy GV cần nghiên cứu kỹ bài qua SGK, SGV kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của mỗi mục Trên cơ sở đó xác định đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kỹ năng, thái độ Đó chính là mục tiêu của bài

Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm

Xây dựng phiếu học tập cho HS: Hiện nay, chương trình SGK có nhiều thay đổi, làm cho việc học tập của HS cũng thay đổi, cụ thể là việc làm của HS được tăng lên, HS tham gia nhiều hơn, tích cực hơn vào bài giảng (trước và trong khi đến lớp) so với trước đây Do đó, nếu GV vẫn áp dụng kiểu dạy học theo phương pháp cũ thì sẽ gặp nhiều khó khăn: quỹ thời gian hạn hẹp sẽ không phát huy hết nhiệm vụ của SGK đề ra, không phát huy được tính tích cực của HS trong học tập Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học hiện nay là xây dựng phiếu học tập Tuy đây là vấn đề không còn mới mẻ nhưng rất ít được áp dụng trong dạy học vì nó tốn khá nhiều thời gian làm việc của GV trước khi đến lớp Tuy nhiên, để việc giảng dạy bằng GAĐT đạt kết quả cao thì đây là việc làm cần thiết Không giống như cách ghi bảng, DH bằng GAĐT chỉ trình bày những nội dung cốt lõi nhất của bài học và không thể lưu lại cho các em đối chiếu, do đó cần có phiếu học tập để HS có sự hình dung tổng quát về bài học giúp các em dễ dàng ghi chép và quan sát bài giảng cũng như tham gia vào quá trình xây dựng kiến thức Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, phiếu học tập chỉ nên là một dàn ý cho HS, HS vẫn phải chủ động trong việc ghi chép và tiếp nhận kiến thức Soạn giáo án theo cấu trúc của giáo án DH tích cực

Bước 2: Viết kịch bản sư phạm cho việc thiết kế giáo án trên máy

GV phải hình dung được toàn bộ nội dung cũng như những hoạt động sư phạm trên lớp

của cả tiết DH và xác định được phần nào, nội dung nào của bài cần sự hỗ trợ của MVT để tiết học đó đạt hiệu quả cao

Tên cảnh (Hoạt động) – Thời gian – Nội dung – Hình ảnh thể hiện trên MVT

Trang 40

GVHD: Vương Tấn Sĩ Trang 31 SVTH: Trần Ngọc Châu

Bước 3: Multimedia hóa kiến thức

Dữ liệu hóa thông tin kiến thức

Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ, đồ họa, ảnh tĩnh, phim,

âm thanh,…

Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng mới nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bài học Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm DH nào đó từ Internet hoặc được xây dựng mới

bằng đồ họa, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay Video,…

Chọn lựa các phần mềm DH có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết

Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh

Bước 4: Xây dựng các thư viện tư liệu

Sau khi có đầy đủ tư liệu cần dùng cho BGĐT, phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tạo được cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, Video Clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa này sang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác

Bước 5: Thể hiện kịch bản trên máy vi tính

Xử lý chuyển các nội dung trên thành các GAĐT trên máy vi tính

Dựa trên một số phần mềm công cụ tiện ích để thể hiện kịch bản đó

Cần phải đảm bảo các yêu cầu phương tiện DH đòi hỏi: tính khoa học, tính sư

Sau khi thiết kế xong, phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra các sai sót, đặc biệt

là các liên kết để tiến hành sửa chữa và hoàn thiện

Chạy thử từng phần và toàn bộ các Slide để điều chỉnh những sai sót về kỹ thuật trên máy tính

Chỉnh sửa và hoàn thiện GAĐT

Dạy thử toàn bộ bài trước GV hoặc cả GV và HS để có thể điều chỉnh nội dung cũng như hình thức thể hiện trước khi dạy chính thức

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm